Thư viện

Cần và kiệm

Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Biên Giới. Nơi ở của Người di chuyển theo các trận đánh, có khi chỉ là túp lều cỏ dựng tạm vài hôm (1950)

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải luôn luôn nhắc nhủ mình trước hết phải cần kiệm để xây dựng quê hương, đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta phải “Cần, kiệm liêm, chính” Trước hết là phải cần và kiệm.

Cần là cần cù chịu khó. Trên đời này, bất cứ một người nào, bất cứ làm một việc gì – muốn tốt – trước hết phải cần cù chịu khó. Bất cứ một người nào, bất cứ làm một việc gì – muốn tốt cũng đều phải mất nhiều thời gian và công sức.

Người nông dân nhiều đời phải chân lấm tay bùn, phải hai sương một nắng, phải dậy sớm thức khuya, phải đầu tắt mặt tối mới mong có được những vụ lúa chín vàng. Thợ thuyền nhiều đời phải cần mẫn tay búa, tay choòng, tay vô lăng, bánh lái mới mong có được những mẻ quặng, mẻ dầu thô, những mẻ thép, xi-măng, những mẻ “vàng đen”, những con đường, những cây cầu, những toà nhà làm đẹp cho quê hương, làm giàu cho đất nước.

Không phải chỉ cần cù chịu khó, mà hơn thế nữa, người lao động phải lao động hết mình, lao động sáng tạo, phải vận dụng hết những kinh nghiệm và kỹ năng lao động của mình, đồng thời phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất vào sản xuất. Có như thế, lao động mới có năng suất cao, hiệu quả kinh tế cao, chất lượng tốt.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”, lại có câu “Năng nhặt chặt bị”. Cha ông ta đã truyền dặn cho con cháu phải cần cù chịu khó. “Có công mài sắt” thì “có ngày nên kim”. Cứ cần cù chịu khó ắt sẽ có ngày no ấm.

Sau ngày hoà bình thống nhất ở nước ta, hết thời bao cấp chuyển sang thời kỳ cơ chế thị trường, nhiều công ty, xí nghiệp, nhà máy phải giải thể. Vào những năm ấy, hàng vạn người lao động phải nghỉ việc, về mất sức, về hưu non với những đồng lương hết sức ít ỏi. Tìm được việc làm lúc ấy rất khó. Bởi thế, bóc lạc gia công cho công ty ngoại thương dù chỉ là thời vụ, thu nhập không đáng là bao người ta cũng cho là hết ý. “Thứ nhất đi Đức, thứ nhì đi Nga, thứ ba bóc lạc”. Bóc lạc thôi, nhưng cứ có việc mà làm, cứ cần cù chịu khó thì cũng tạm ổn.

Nhưng, cần cù chịu khó chưa đủ. Cần cù chịu khó phải đi đôi với tiết kiệm, không được lãng phí. Trước hết là tiết kiệm của cải vật chất trong kinh doanh, sản xuất. Đối với các đơn vị quốc doanh, ngoài quốc doanh và gia đình phải có kế hoạch và thực hiện tốt các kế hoạch về lao động, về vốn, về cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà xưởng, về nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, kế hoạch sản xuất, bảo quản, vận chuyển một cách hợp lý. Phải bảo đảm tránh được ít nhất tình trạng kém phẩm chất, rơi vãi, thất thoát tiền vốn và nguyên, nhiên, vật liệu trong tất cả các khâu của quá trình kinh doanh sản xuất.

Tiết kiệm của cải vật chất trong tiêu dùng là ăn, mặc, ở, đi lại, chơi bời giải trí như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, với điều kiện kinh tế của đất nước mình, đơn vị mình, gia đình mình. Đó chính là tiết kiệm của cải vật chất cho gia đình mình, đơn vị mình, cho quê hương đất nước.Đất đai cũng là một dạng của cải vật chất đặc biệt. Bỏ phí đất đai chính là lãng phí của cải vật chất. Các cụ xưa đã dạy: “Tấc đất tấc vàng” và nhắc nhở con cháu: “Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang/Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn đồng bào và chiến sỹ ta phải “ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”. Tăng gia sản xuất trước hết là cấy lúa, trồng khoai, là quảng canh, chuyên canh, thâm canh, xen canh gối vụ, tăng năng suất. Nhiều địa phương ở nước ta hiện nay đang thực hiện “dồn điền đổi thửa”, “chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi”, áp dụng những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, xây dựng nhiều cánh đồng 50 triệu đồng/héc-ta/năm. Đó chính là tiết kiệm đất đai, phát huy tiềm năng cao nhất của đất nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dạy đồng bào và chiến sĩ ta phải “trồng cây gây rừng”. Vâng theo lời Người, trẻ, già, trai, gái, các ngành, các cấp, cả nước thi đua trồng cây gây rừng, trồng cây phủ xanh đồi trọc, trồng cây lấn biển, trồng cây làm “lá phổi xanh” cho thành phố.

Đất đai không chỉ là của cải vật chất đặc biệt để tăng gia sản xuất. Đất đai còn là của cải vật chất khi trở thành nguyên liệu sản xuất nữa. Từ đất, con người đã làm ra gạch ngói, gốm sứ và nhiều vật liệu xây dựng, mặt hàng mỹ nghệ cao cấp khác.

Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đất đai còn là nơi để xây dựng những khu công nghiệp lớn, những công trình lớn phục vụ quốc kế dân sinh cho đất nước.

Đáng buồn thay, trong quá trình đô thị hoá đất nước hiện nay, do việc lập kế hoạch và thực thi xây dựng các công trình không đồng bộ đã để nhiều héc-ta, nhiều trăm héc-ta đất bị hoang hoá hàng năm, hàng vài ba bốn năm. Hoặc do không có kế hoạch và biện pháp xử lý nước thải và rác đồng bộ đã dẫn đến nhiều cánh đồng, nhiều vùng đất bị ô nhiễm nặng ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, đời sống của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến các vùng sản xuất nông nghiệp lân cận. Tình trạng ấy chính là biểu hiện của sự lãng phí đất đai – tài sản vật chất đặc biệt của quốc gia, của đất nước.

Thời gian cũng là một loại của cải vật chất đặc biệt. Tiết kiệm thời gian chính là làm sao để cho thời gian sống và làm việc của mỗi một con người chúng ta ngày càng có ý nghĩa hơn. Trước hết là làm sao trong mỗi đơn vị thời gian của người lao động có số lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế cao nhất. Làm sao trong mỗi đơn vị thời gian của một phường, một xã, một cơ quan, doanh nghiệp, một tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… có ngày càng nhiều người tốt, việc tốt, việc thiện, nét đẹp văn hoá.

Tổ chức nào bè phái, mất đoàn kết, họp hành kéo dài, đề ra và bàn những việc không thiết thực, phải họp hành kéo dài nhưng kết quả lại ít, đó chính là lãng phí thời gian, lãng phí của cải vật chất.

Những con người lười biếng, không chịu học tập, tu dưỡng, rèn luyện, không chịu lao động cống hiến hết mình cho gia đình, cho xã hội, chỉ tìm cách ăn chơi đua đòi, hưởng thụ, lao vào những trò chơi không lành mạnh vô bổ, thậm chí lao vào những “trò chơi giết người” như chích hút ma tuý, sa vào các quán đèn mờ mại dâm, HIV/AIDS, động lắc… Những con người ấy đã lãng phí thời gian của mình, đánh mất tuổi xuân của mình.

Tục ngữ có câu “Miệng ăn núi lở”. Đúng là vậy. Dù con người ta ăn rất ít, mỗi bữa bất quá là ba bốn bát cơm, một khúc cá kho, một vài quả cà… thậm chí chỉ bát cháo cầm hơi… Nhưng bữa nào cũng phải ăn, ngày nào cũng phải ăn, năm nào cũng phải ăn. Sáu mươi, bảy mươi, tám mươi, chín mươi xuân đằng đẵng phải ăn… Cho nên, nếu con người không làm mà chỉ ăn thì quả thật “núi cũng phải lở”.

Các cụ xưa lại có câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Có làm mới có ăn. Có cống hiến mới có hưởng thụ. Huống chi là không làm! Huống chi là “ăn tàn, phá hại”.

Của cải vật chất ở trên đời này không phải bỗng dưng mà có. Lại càng không phải là vô tận. Vì thế mỗi một con người sống trên cõi đời này phải lao động, lao động và lao động cật lực, lao động hết mình, lao động đến “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mới mong có được của cải vật chất. Có được của cải vật chất cho ngày hôm nay rồi nhưng phải nghĩ đến của cải cho ngày mai, cho những ngày yếu đau hoạn nạn, cho những người láng giềng và cộng đồng khi họ gặp bất hạnh mà mình cần chia sẻ. Rồi phải nghĩ cho bố mẹ già, cho con, cho cháu, cho chắt nữa… Bởi thế con người phải lo của cải vật chất cho hôm nay, còn phải lo “của để dành” nữa.

Vì thế, lao động hết mình vẫn chưa đủ. Còn phải tiết kiệm, không bao giờ được hoang phí.

Tuy nhiên, những năm qua, ở đâu đó trên khắp cả nước, vẫn còn tình trạng những cỗ máy, dàn máy bị bỏ chơ vơ mưa nắng giữa trời, nhiều công trình, nhiều cây cầu, nhiều toà nhà xây dựng dang dở, giơ gọng sắt lên trời nhiều ngày nhiều tháng, thậm chí nhiều năm không ai ngó ngàng tới, nhiều công trình bị “rút ruột” hoặc vì thiếu trách nhiệm dẫn đến chết yểu… Tất cả tình trạng đó là lãng phí, gây tổn hại hàng tỷ đồng, nhiều tỷ đồng cho Nhà nước, tổn hại bao nhiêu sức người, sức của của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đức tính cần kiệm. Vâng lời Người, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải luôn luôn nhắc nhủ mình trước hết phải cần kiệm để xây dựng quê hương, đất nước.

Theo PHẠM MINH GIANG
Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lối sống giản dị, tiết kiệm đạo đức truyền thống của dân tộc ta

Một trong những đức tính hình thành nên nhân cách vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lối sống giản dị, tiết kiệm. Sinh thời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét về đức tính tiết kiệm của Bác Hồ: Bác tiết kiệm vì Bác không nỡ phụ người, không đành phụ của. Bác tiết kiệm không phải chỉ vì lý do kinh tế, mà chính bởi tại lòng Nhân!

Trong bài “Tư cách một người cách mệnh”, bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) năm 1927, đức tính đầu tiên Người nêu lên là “Tự mình phải: Cần kiệm” (1). Trong bài “Thế nào là kiệm” đăng Báo Cứu quốc số ra ngày 31-5-1949,  Người cho rằng kiệm “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” và “người yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm” .

Ngày 2-9-1947, trên báo Sự Thật, Bác viết: “Một hạt gạo, một đồng tiền, tức là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác!”(2). Bác phân tích: “Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen, chợ đỏ, thụt két, buôn lậu”(3). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãng phí không những tiêu tốn tiền của, mồ hôi nước mắt của nhân dân, mà nguy hiểm hơn, từ hoang phí xa xỉ sẽ dẫn đến tham ô, nhũng nhiễu, mất tư cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Bác nói: “…Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành 4 điều đó, mà muốn được lòng dân thì cũng như bắc dây leo trời!”(4).

Một lần nói chuyện với các giám đốc và chủ tịch các uỷ ban nhân dân, Bác nói: “Phải biết tiết kiệm những đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các cơ quan. Rút bớt hết những việc gì không cần thiết, chớ hao phí giấy má, tiền bạc và các thứ của công. Hao phí những thứ đó tức là hao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những thứ cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người tiết kiệm như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ bớt được một số tiền đáng kể lấy ở mồ hôi, nước mắt dân nghèo mà ra…”(5).

Theo Bác thì kiệm không chỉ có nghĩa là không hoang phí, không xa xỉ, mà còn phải biết tổ chức, quản lý, tiết kiệm thời gian. “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những quan tâm giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, mà chính Người là một tấm gương ngời sáng về lối sống giản dị, tiết kiệm. Trong kháng chiến chống Pháp, ở Việt Bắc có lần Bác đi công tác về muộn, thấy Bác mệt, đồng chí bảo vệ nói với một cán bộ văn phòng: “Bác mệt, không ăn cơm được, cô nấu cho Bác một bát cháo”. Đang nằm nghỉ, Bác liền nhỏm dậy bảo: “Cô nấu cho Bác bằng cơm nguội ấy, vừa chóng chín, vừa tiết kiệm được gạo, khỏi bỏ phí cơm thừa”. Từ giữa tháng 8 năm 1969, sức khỏe của Bác yếu dần. Có hôm, Người gượng ngồi dậy, ăn vài củ khoai tây hầm. Tay run, củ khoai rớt xuống mặt bàn, Bác nhặt lên, lấy khăn định lau sạch để ăn; nhưng bác sĩ ngăn lại. Người nói: “Ngoài kia dông bão ngập trời, củ khoai do người nông dân một nắng hai sương làm ra mà vẫn không đủ ăn, sao ta nỡ bỏ đi ?”.

Bác thường tận dụng mặt sau bản tin Thông tấn xã Việt Nam để viết nháp, mặc bộ bà ba nhuộm màu nâu, đi đôi dép cao su đã mòn vẹt đế. Thấy quần áo Bác mặc hơi cũ, anh em phục vụ mang bộ mới thay vào,  Bác thường không bằng lòng. Cổ áo bị sờn rách, mọi người đề nghị thay áo khác, Bác nói: “Cả cái áo chỉ sờn ở cổ mà vứt đi thì không được, chú chịu khó lộn ra ngoài, may lại vẫn lành như mới”. Có lần một đồng chí lãnh đạo thưa thật với Bác rằng Bác là Chủ tịch nước, Bác mặc áo sờn rách như thế thì không phù hợp. Bác nói: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá thế này là cái phúc của dân đấy! Đừng bỏ cái phúc ấy đi !”

Một lần, thấy lớp nhựa ở vòng tay lái chiếc ô tô đã cũ toả ra mùi khó chịu, đồng chí lái xe lấy nước hoa vẩy vào trong xe. Khi lên ô tô, thấy mùi nước hoa Bác tỏ vẻ không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa. Nhưng nhân dân mình còn nghèo, vị chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành!

Những ứng xử nhân bản trong cuộc sống hàng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh phản ánh đức tính cao đẹp của Người, kết tinh truyền thống quý báu của dân tộc ta. Trong tiến trình hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, những lời dạy của Bác về thực hành tiết kiệm vẫn mang tính thời sự nóng hổi. Học tập và làm theo lối sống giản dị, tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng và phát huy đạo đức truyền thống của dân tộc đồng thời là đòi hỏi thiết thực, cụ thể thường xuyên đối với mọi cán bộ, đảng viên.

Hồng Minh

1- Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, 2002, tập 2, tr.260.
2,3,4-: Sđd, tập 5, tr.208-209.
5- Báo Cứu quốc số 146, ngày 19-1-1946.
6- Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, tr.189.

baobacninh.com.vn

Hiểu thêm về bài viết “Cần – kiệm – liêm – chính” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao và thực hiện nghiêm minh những đức tính cần kiệm liêm chính. Người xem đây là nguyên tắc, là phẩm chất cơ bản có liên quan mật thiết với các nhiệm vụ và công tác hoạt động cách mạng khác nhau và thiếu chúng thì khó dẫn đến thành công một cách trọn vẹn, triệt để.

Bác Hồ cuốc đất trồng rau trong vườn Phủ Chủ tịch. Ảnh: Tư liệu

Trong bài viết “Cần, kiệm, liêm, chính” đăng trên báo Cứu Quốc số ngày 30-5, 31-5, 1-6 và 2-6 năm 1949, ngay ở phần mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những vấn đề trên trong tương quan với các quy luật của tự nhiên và xã hội bằng 6 câu thơ như sau:
“Trời có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông,

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người”.

Qua đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao 4 đức tính trên như điều kiện cần đối với mỗi người trong đời sống và hoạt động xã hội. Nếu là người tham gia hoạt động cách mạng trực tiếp, 4 đức tính ấy lại càng phải quán triệt và hành động triệt để hơn, có hiệu quả hơn, nghiêm minh hơn.

Nội dung của 4 đức tính trên thật giản dị, dễ hiểu, dễ thuộc. Theo Bác, Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, bền bỉ trong công việc cụ thể của mình. Cần phải gắn với kế hoạch, nếu không thì mọi việc sẽ rối tung, kém hiệu quả. Cần phải đi với chuyên, cần cù mà dốt nát thì hiệu quả thấp, có khi trở thành phá hoại. Điều này đến nay vẫn còn nguyên giá trị nhận thức và thực tiễn. Về nội dung chữ Kiệm, Bác viết: Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, bừa bãi. Lãng phí là kẻ thù của tiết kiệm. Hiện tại, không ít người lãng phí và lợi dụng của công để làm việc riêng, thiếu tinh thần chí công vô tư. Đó là điều đáng trách, nếu không muốn nói là nhỏ nhen, tầm thường, dẫn đến tham ô, lãng phí. Liêm, theo Bác, đó là trong sạch, không tham lam. Chữ Liêm, theo Bác, còn phải hiểu theo nghĩa rộng là trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Có như thế, thì không bao giờ vụ lợi. Tất cả vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Chữ Liêm theo tinh thần, đạo đức của người cách mạng cao cả là thế!

Nội dung của Chính, theo Bác là “không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn. Điều gì không đúng đắn, thẳng thắn, tức là tà”. Hiểu rộng ra là phải làm theo chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; không làm sai, không vì lợi ích cá nhân để ngày càng phát huy điều chính, giảm và tiêu diệt điều tà.

Quan niệm về nội dung của cần, kiệm, liêm, chính của Bác Hồ thật rõ ràng, giản dị mà sâu sắc, có giá trị lớn trong việc vận dụng vào học tập, rèn luyện một cách sáng tạo, cụ thể của từng người, từng cơ quan, đoàn thể trong từng hoàn cảnh khác nhau. Những nội dung trên đã thành phẩm chất cơ bản trong tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. Bác luôn xem 4 đức tính trên là “chính sách lớn, đạo đức lớn”. Từng cá nhân, cơ quan, tập thể, từng ngành nghề căn cứ vào từng nhiệm vụ, từng giai đoạn, từng yêu cầu mà phải hiểu đúng và có sáng tạo 4 đức tính ấy một cách linh hoạt, đa dạng, tránh cứng nhắc. Bác thường nhấn mạnh và đề cao 4 loại tiết kiệm: đó là tiết kiệm tiền, tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu, tiết kiệm thời giờ. Một yêu cầu sinh tử của Bác là kiệm phải đi liền với cần “như hai chân của con người”. Cần không phải chỉ thuần tuý là cần cù làm việc mà quan trọng hơn là phải có chất lượng, có hiệu quả, có năng suất cao. Cả cuộc đời của Bác Hồ là tấm gương sáng cho những đức tính cao đẹp nói trên. Mỗi việc làm, mỗi suy nghĩ và hiệu quả công việc cách mạng của Bác là một bài học cụ thể, sinh động của 4 đức tính cần, kiệm, liêm, chính mà không giấy mực nào ghi lại hết được.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thiết nghĩ, chúng ta phải hiểu bản chất và nội dung cụ thể của cuộc vận động lớn này. Nếu không, dễ rơi vào hình thức chủ nghĩa, phản tác dụng. Mà muốn hiểu và làm đúng, thì chỉ soi vào từng ý kiến, từng bài viết và từng việc làm của Bác sẽ liên hệ thấy rõ mình làm đến đâu, hiểu đến mức nào và làm sai, vi phạm đến mức nào. Có như thế, cuộc vận động mới đi vào chiều sâu, đúng bản chất. Những hiện tượng tiêu cực, sai phạm của các cơ quan, cá nhân mà hàng ngày báo chí nêu là có thật, là tiếng chuông báo động về tình trạng xuống cấp đạo đức, có nguy cơ suy đồi, băng hoại về nhân cách trong xã hội hiện nay. Đảng và Nhà nước ta nhận thấy và dự cảm được điều này nên đã kịp thời chấn chỉnh và có biện pháp, chính sách lớn trong việc chống tham ô, lãng phí, chống tiêu cực – đặc biệt là trong cán bộ có chức, có quyền. Đó là động thái đúng đắn và tích cực nhằm thanh lọc và giáo dục, xử phạt nghiêm minh để đưa xã hội tiến lên, đem lại lòng tin cho mọi người đối với một xã hội tốt đẹp, công bằng, dân chủ và văn minh. Muốn vậy, phải hướng vào những mục tiêu vừa diện, vừa điểm; vừa trước mắt, vừa lâu dài; vừa vĩ mô, vừa vi mô… mới mong đạt được hiệu quả thiết thực và triệt để. Trong muôn vàn bài học đạo đức của Hồ Chí Minh, bài học về cần, kiệm, liêm, chính có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta hiện nay.

Để kết luận cho bài viết sơ lược này, xin dẫn ý kiến của một sử gia người Mỹ – bà Stenson – nhận định về Hồ Chí Minh: “Một số đông người đã bị tha hoá chạy theo đời sống vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức, coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống thì nhân loại lại tìm về tấm gương sáng ngời nhân cách Hồ Chí Minh – một tấm gương cho mọi thế hệ tiếp theo”. Đó chính là nền tảng, là đạo đức thuộc về thì quá khứ, hiện tại và tương lai – Đạo đức Hồ Chí Minh./.

Hồ Thế Hà

baonamdinh.com.vn

Vài nét về bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực hành về tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”

Tại kỳ họp thứ II, Quốc hội khoá XII khai mạc ngày 22.10.2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trình bày Báo cáo về tình hình kinh tế, xã hội năm 2007 và nhiệm vụ năm 2008, nội dung phần 7 của Báo cáo là “Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công tác phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. Thiết nghĩ, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” nhân dịp có phong trào sản xuất và tiết kiệm năm 1952, là một tài liệu tham khảo quan trọng và có ý nghĩa to lớn và vẫn mang tính thời sự.

Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm 14 trang, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, (Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 1351), do Người tự đánh máy trên nền giấy khổ 20cm x 26cm và có bút tích sửa chữa.

Bài nói chuyện chia thành 3 phần rõ rệt:

Phần đầu với gần 3 trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về “tiết kiệm”. Sau khi định nghĩa “Tiết kiệm là gì?”, “Vì sao phải tiết kiệm?”. Người chỉ rõ rằng “Tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta”. “Chúng ta phải tiết kiệm sức lao động”, “chúng ta phải tiết kiệm thời giờ”, “chúng ta phải tiết kiệm tiền của”, “chúng ta phải tìm cách tổ chức sắp đặt cho hợp lý, để một người có thể làm việc như hai người, một ngày có thể làm việc của hai ngày, một đồng có thể dùng bằng hai đồng”. Người khẳng định: “Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm… ai cũng có thể và cũng nên tiết kiệm”.

Phần hai của bài nói chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về những biểu hiện của nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu, mối quan hệ giữa chúng. Đồng thời, Người chỉ rõ rằng phải chống nạn tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu.

Người ví nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu giống như một loại cỏ: “Muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch. Nếu không, thì dù cày bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi”. Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu”.

Người nêu những biểu hiện của bệnh tham ô, là “ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung để làm quỹ riêng… khai gian lậu thuế”, biểu hiện của lãng phí, như “lãng phí sức lao dộng”, “lãng phí thời giờ”, “lãng phí tiền của”.

Người nói tiếp “có nạn tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu”, “bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước phải tẩy cho sạch bệnh quan liêu”.

Người kết luận “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Không chỉ thế, nó còn là “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của chúng ta, để làm hỏng công việc của ta”. Người nói, “tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”. Người coi “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng, chính trị”.

Bằng sự phân tích, chứng minh, và với lối nói giản dị, dễ hiểu, lôi cuốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện của tư tưởng không lành mạnh trong các tầng lớp nhân dân và cán bộ, đồng thời Người cũng đã vạch ra cách tổ chức đấu tranh với những tư tưởng đó. Theo Người có 3 bước để đấu tranh: bước 1, đánh thông tư tưởng; bước 2, chia thành nhiều tổ để nghiên cứu những tài liệu như lời dạy của Lênin, Staline, Mao Trạch Đông về tiết kiệm và chống tham ô, lãng phí, quan liêu… Bước thứ 3 là tiến hành kiểm thảo để giải quyết các vấn đề, giải thích các thắc mắc, sửa chữa những khuyết điểm trong phong trào kiểm thảo.

Người nói, “Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ, nghĩa là:

– Ai kiểm thảo đúng những người khác, sẽ được khen thưởng,

– Ai có lỗi mà thật thà tự kiểm thảo thì lỗi nhẹ sẽ được tha thứ, lỗi nặng sẽ được xử nhẹ hoặc lấy công chuộc tội (Trừ những tội lỗi đặc biệt nặng).

– Ai có lỗi mà không thật thà nói ra, sẽ bị kỷ luật

– Ai ngăn cản đe dọa những người không kiểm thảo mình, sẽ bị kỷ luật”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh một cách biện chứng: “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu “là cách mạng”… “là dân chủ”. Người đề ra nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Người khẳng định, “tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng… Người gọi đó là “giặc nội xâm”.

Phần ba của bài nói chuyện gồm 6 trang, Người lược dịch những bài nói về tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và chống bệnh quan liêu của Lênin, Staline, Mao Trạch Đông để mọi người nghiên cứu.

Bài nói chuyện không chỉ có ý nghĩa trong thời điểm lịch sử lúc bấy giờ mà còn có giá trị to lớn đối vối hôm nay, khi cuộc vân động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang phát triển mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân và đặc biệt là cán bộ công nhân viên chức cả nước.

Lê Thị Lý
Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III

archives.gov.vn

Bác tiết kiệm chính bởi tại lòng nhân

“Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính…”.

Năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, phần mở đầu nói về tư cách của người cách mạng, Bác Hồ viết: “Tự mình phải cần, kiệm”. Cần, kiệm theo Bác phải là đức tính đầu tiên, tư cách đầu tiên của người cách mạng.

Ngày 3-9-1945, một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 vấn đề cấp bách. Sau nhiệm vụ chống giặc đói, giặc dốt, chuẩn bị Tổng tuyển cử, nhiệm vụ thứ tư Bác Hồ nói: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn để hòng hủ hoá dân tộc ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.

Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện “cần kiệm liêm chính”.

Ngày 2-9-1947, trên báo Sự Thật, Bác viết: “Một hạt gạo, một đồng tiền, tức là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác!”. Bác phân tích: “Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen, chợ đỏ, thụt két, buôn lậu.

Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính…”. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãng phí không phải chỉ là tiêu tốn tiền của, mồ hôi nước mắt của nhân dân, mà nguy hiểm hơn, từ hoang phí xa xỉ sẽ dẫn đến tham ô, nhũng nhiễu, mất tư cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên.
Bác chỉ rõ, nhiều cán bộ đã thực hiện đúng cần, kiệm, liêm, chính, “Nhưng còn một số… ăn uống xa xỉ. Thậm chí cờ bạc, rượn chè. Họ còn “các quan” lắm!”.

Bác nói: “…Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành 4 điều đó, mà muốn được lòng dân thì cũng như bắc giây leo trời!”.

Một lần nói chuyện với các giám đốc và chủ tịch các uỷ ban nhân dân, Bác nói: “Phải biết tiết kiệm những đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các cơ quan. Rút bớt hết những việc gì không cần thiết, chớ hao phí giấy má, tiền bạc và các thứ của công. Hao phí những thứ đó tức là hao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những thứ cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người tiết kiệm như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ bớt được một số tiền đáng kể lấy ở mồ hôi, nước mắt dân nghèo mà ra…”.

Thật là cảm động khi trong một đoạn ngắn nói về tiết kiệm này, Bác đã hai lần nhắc đến mồ hôi, nước mắt của dân nghèo!

Bác Hồ rất nhiều lần nhắc đến phải tiết kiệm thời giờ: “Một phút của hàng triệu người cộng lại thành rất nhiều ngày và làm được rất nhiều công việc… Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập. Đó là vì chưa biết quý trọng thời giờ, sắp đặt thời giờ cho hợp lý, còn lãng phí nhiều thời giờ. Muốn tiết kiệm thời giờ, thì mọi công việc đều phải chuẩn bị sẵn sàng đầy đủ…”.

Thực ra, tiết kiệm không phải là vấn đề mới. Ông cha ta tự bao đời đã truyền dạy con cháu: Làm dưng ăn hoang, mỏ vàng cũng cạn. Cũng không phải chỉ vì nước ta nghèo mới cần tiết kiệm, mà loài người từ lâu cũng đã tìm thấy bài học ấy trong cuộc sống của mình. Biết bao câu danh ngôn đã được truyền tụng: Nếu bạn muốn giàu có, thì chẳng những phải học cách làm ra tiền, mà còn phải biết cách sử dụng đồng tiền. Lười nhác và hoang phí, đó là hai cái vực thẳm!.

Bác Hồ kính yêu của chúng ta không chỉ dạy cán bộ, đảng viên và nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, mà chính Bác còn là một tấm gương lớn về lối sống giản dị, tiết kiệm. Giữa Thủ đô Hà Nội phồn hoa, Bác vẫn tiết kiệm từng mẩu xà phòng, chiếc áo cũ, viết báo bằng mặt sau của bản tin Thông tấn xã Việt Nam, đi chiếc xe ô tô đã cũ. Khi ăn không để rơi một hạt cơm!

Một lần, thấy lớp nhựa ở vòng tay lái chiếc ô tô đã cũ toả ra mùi khó chịu, đồng chí lái xe lấy nước hoa vẩy vào trong xe. Khi lên ô tô, thấy mùi nước hoa Bác tỏ vẻ không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa. Nhưng nhân dân mình còn nghèo, vị chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành!

Theo Bác, tiết kiệm khác keo kiệt, bủn xỉn. Trong bài “Cần, kiệm, liêm, chính” Bác đã viết: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”.
Ngược lại với tiết kiệm là hoang phí, xa xỉ.

Với Bác, xa xỉ là hao phí thời giờ, hao phí vật liệu, ăn không ngồi rồi, ăn ngon, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn nghèo khổ. Và Bác nhấn mạnh: “Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào”.

Theo Bác thì kiệm không chỉ có nghĩa là không hoang phí, không xa xỉ, mà còn phải biết tổ chức, quản lý:

“Tiết kiệm nghĩa là:
Một giờ làm xong công việc của hai, ba giờ.
Một người làm việc bằng hai, ba người.
Một đồng dùng bằng giá trị hai, ba đồng.
Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt thì phải khéo tổ chức… Không biết tổ chức là không biết tiết kiệm”.

Cụm từ “tiết kiệm là một quốc sách” đã được nêu lên không ít lần trong diễn đàn Quốc hội, được ghi trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, nhưng chúng ta không khỏi đau lòng khi thấy còn nhiều cán bộ, đảng viên sống xa hoa, lãng phí, cách quá xa đời sống của nhân dân. Hàng trăm triệu đồng cho một bữa tiệc, hàng tỷ đồng cho một lễ kỷ niệm và khá nhiều những chiếc xe con sang trọng, quá mức cần thiết, không đúng quy định.

Những công sở xây quá lớn với thừa thãi tiện nghi, trong khi trẻ em còn thiếu trường học, bệnh viện vẫn hai ba người một giường… Chưa nói đến sự lãng phí tiền của, mà hãy nói đến những phương tiện sống xa hoa ấy đã chứng tỏ nhiều cán bộ xa rời quần chúng nhân dân. Đã có những cán bộ vì lối sống xa hoa, lãng phí mà dẫn đến tham nhũng, hối lộ, lập quỹ đen… làm tổn hại đến niềm tin của nhân dân với Đảng.

Một lần gặp gỡ cán bộ quân đội, Bác nói: “Bọn phong kiến xưa cũng nêu ra cần kiệm liêm chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân noi theo để lợi cho nước, cho dân”.

Trước đây, Nhà nước ta cũng đã đề ra Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và nay lại được nâng lên thành Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Song vấn đề quan trọng là phải thực thi luật đó. Đã có không ít những cán bộ chỉ kêu gọi người ta tiết kiệm, còn mình thì không gương mẫu thực hiện. Trình độ dân trí ngày càng cao, nhân dân phân biệt rất rõ những người chỉ nói suông, nói một đàng làm một nẻo và trong mắt của nhân dân những người đó đã trở thành “những ông quan cách mạng”. Nói đúng và gương mẫu làm đúng những điều mình nói, chính là đạo đức cách mạng. Trong vấn đề thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nếu cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, thì làm sao có thể vận động đông đảo nhân dân thực hiện tốt được. Mọi công việc đều thế, việc vận động tiết kiệm, chống lãng phí càng phải thế.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Bác rất tiết kiệm vì nước ta còn nghèo. Nhưng tôi nghĩ, hai mươi năm sau, khi nước ta đã giàu lên rồi và Bác còn ở với chúng ta, tôi dám chắc rằng Bác vẫn tiết kiệm như bây giờ. Theo tôi hiểu, Bác tiết kiệm vì Bác không nỡ phụ người, không đành phụ của. Bác tiết kiệm không phải chỉ vì lý do kinh tế, mà chính bởi tại lòng Nhân!.

Sống giản dị, tiết kiệm là lối sống của Bác, là đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Nhà báo Mỹ Đa-vít Han-bớt A-ten đã viết: Đó là sức mạnh của ông Hồ, vì ông là một người Việt Nam của quần chúng. Địa vị càng cao ông càng giản dị, trong sáng hơn. Hình như ông luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

cpv.org.vn

Tấm gương Bác Hồ về cần kiệm liêm chính chí công vô tư

Rèn luyện và tu dưỡng đạo đức là vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời, Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”.

Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người trình bày sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, trong đó có vấn đề thứ tư cần phải giải quyết lúc bấy giờ là “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.

Để giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều tác phẩm viết về vấn đề này. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, chương đầu tiên của cuốn sách là Tư cách một người cách mệnh và tiêu chuẩn đầu tiên trong tư cách một người cách mệnh chính là: Cần kiệm. Sau này là các tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), “ Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” (1952). “Đạo đức cách mạng” (12-1958) và các bài báo như “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm liêm chính”, “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ nghĩa cá nhân”… Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Người nhắc “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…” và “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói một cách ngắn gọn, giản dị, cụ thể, dễ hiểu và dễ làm theo. CẦN tức là “Siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai” và nếu đã cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được. Người chỉ ra cách thực hiện CẦN sao cho có kết quả. Đó là làm việc phải có kế hoạch, dù công việc gì, to hay nhỏ, lớn hay bé, đều phải sắp xếp khoa học và tính toán cẩn thận. Phân công công việc theo năng lực của từng người, như vậy sẽ không bị mất thời gian và hiệu quả công việc cao. Cần phải đi đôi với chuyên. Nếu không chuyên thì cũng vô ích. Cần không phải là xổi. Phải biết nuôi dưỡng sức khoẻ, tinh thần và lực lượng để làm việc lâu dài. Một người lười biếng sẽ làm chậm và ảnh hưởng đến công việc của rất nhiều người khác. Cần là nâng cao năng suất lao động.

KIỆM là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Cần với kiệm đi đối với nhau như hai chân của một người. Cần mà không kiệm “thì làm chừng nào xào chừng ấy”, cũng như một cái thùng không đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm, không phát triển được.

Bác cho rằng cần phải tiết kiệm cả của cải, thời gian và sức lực, bởi của cải nếu hết còn có thể làm ra được, còn thời gian đã qua đi, không bao giờ quay trở lại. Muốn tiết kiệm thời gian, bất kỳ việc gì, nghề cũng phải chăm chỉ, làm nhanh, không nên lần nữa. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ của người khác. Theo Bác “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn”. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm”.

Để thực hành tiết kiệm phải kiên quyết với những việc làm xa xỉ, như kéo dài thời gian lao động không cần thiết, làm hao phí vật liệu trong sản xuất, luôn tìm cách ăn ngon, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn khó khăn, thiếu thốn, v.v… Phải biết cách tổ chức thì tiết kiệm mới có hiệu quả.

LIÊM là “trong sạch, không tham lam”; “không tham địa vị”. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

Liêm phải đi đôi với kiệm, bởi có kiệm mới liêm được. Tham lam là một điều rất xấu hổ. Những hành động bất liêm đều phải dùng pháp luật để trừng trị, dù đó là người nào, giữ cương vị gì, làm nghề gì. “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Và như cụ Mạnh Tử đã nói “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”.

Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn”. Một người phải cần, kiệm, liêm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Chính đối với mình là không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, phát triển điều hay và sửa chữa khuyết điểm của mình. Đối với người, phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới. Phải để việc nước, việc công lên trên việc tư, việc nhà. Công việc dù to hay nhỏ đều phải cố gắng hoàn thành. Phải luôn luôn nhớ “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.

Về CHÍ CÔNG VÔ TƯ, Bác nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”, “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người giải thích “…Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp là ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vụ án Trần Dụ Châu những năm 50 là một bài học đắt giá cho những cán bộ, đảng viên không thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, không thực hành cần kiệm liêm chính, dẫn đến hành động tham ô, hủ hoá, suy thoái về đạo đức. Lời nói phải đi đôi với việc làm, nói được, làm được sẽ mang lại thành công, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Nếu nói răng phải cần kiệm liêm chính, mà bản thân mình lại lười lao động, lười học tập, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang phí, xa hoa, luôn tìm cách tham ô, bòn rút tiền của Nhà nước và nhân dân, tâm không trong sáng… thì sẽ không hiệu quả và không có tính thuyết phục. Thực hành tốt cần kiệm liêm chính, chí công vô tư sẽ rèn luyện, làm cho con người có những phẩm chất tốt, như “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Chính nhờ thực hành cần kiệm liêm chính mà trong những năm đầu mới giành được độc lập nhân dân ta đã thu được nhiều thắng lợi, chiến thắng giặc lụt, giặc đói và giặc ngoại xâm. Trong những năm hoà bình xây dựng đất nước, từng bước đời sống nhân dân đã được nâng cao cả về vật chất và tinh thần. Trong đạo đức thì việc nêu gương là vô cùng cần thiết, vì “…Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

Bác rất quan tâm đến việc rèn luyện tư cách đạo đức, tác phong cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, từ lời nói đến việc làm. Bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để chúng ta học tập và noi theo.

Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, phong cách làm việc, từ cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần. Bác mặc rất giản dị và tiết kiệm. Quần áo Bác mặc chỉ có vài bộ, may cùng kiểu. Có cái áo của Bác rách, vá đi vá lại, thay cổ mà Bác vẫn không cho đổi. Có lần Bác nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng một cách chân tình: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”.

Đôi dép cao su của Bác, bộ quần áo ka-ki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay, Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo. Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của Việt Nam Thông tấn xã. Chiếc ô tô Bác đi công tác hay đi thăm đồng bào và chiến sĩ trong cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường. Bác không dùng chiếc điều hoà nhiệt độ do các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở nước ngoài biếu, mà đề nghị chuyển chiếc điều hoà ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại trại điều dưỡng hoặc quân y viện, mặc dù lúc đó Bác đang ở trong ngôi nhà của người thợ điện (nhà 54) rất nóng. Những bữa ăn thanh đạm của Người “thường là dưa cà, đôi khi có thịt”. Những lần đi thăm các địa phương, Bác thường không báo trước và mang theo cơm nắm để tránh sự đón rước linh đình, gây phiền hà và tốn kém tiền của nhân dân.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên chiến khu Việt Bắc, Bác ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị thì đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô, Bác chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của người thợ điện, sau đó chuyển sang nhà sàn, chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước ta.

Sự tiết kiệm của Bác còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ tịch Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác chỉ là tổ công tác ít người kiêm nhiều việc. Cách mạng tháng Tám thành công, trở về Thủ đô, các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những lần đi công tác xa, không cần nhiều cán bộ cùng đi, Bác cho những anh em còn lại về thăm gia đình. Bác dặn “Các chú tranh thủ về thăm nhà, nhưng nhớ đúng hẹn lên đón Bác”. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Bác đối với con người và cũng là một hình thức tiết kiệm thời gian.

Những lời nói của Bác về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt là tấm gương của Bác về thực hành cần kiệm liêm chính vẫn mãi mãi để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta noi theo. Trong kháng chiến cũng như trong xây dựng đất nước đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Họ là những người luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong lao động sản xuất, chiến đấu và học tập. Tuy nhiên còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác. Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền… ngày càng nhiều. Các vụ án PMU18 ở Bộ Giao thông vận tải, vụ chạy cô-ta ở Bộ thương mại hay vụ án Mạc Kim Tôn ở Thái Bình, v.v… cho thấy đó là những cán bộ, đảng viên bị sa sút về tư tưởng, chính trị, đạo đức và tha hoá về lối sống. Họ đã làm giảm sút lòng tin, uy tín của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thực hành tốt những lời dạy của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là chúng ta đã góp phần làm giàu cho đất nước, làm tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Như vậy là chúng ta cũng đã góp phần thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí M

___________________

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5; tr631
2. Sdd, t.4, tr.8-9
3. Sdd, t.5, tr.637
4. Sdd, t.5, tr.252
5. Sdd, t.5, tr.642
6. Sdd, t.5, tr.641
7. Sdd, t.5, tr.645
8. Sdd, t.5, tr.641
9. Sdd, t.1, tr.263
10. Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb. Thông tấn H, 2003, tr.115

Theo Tiến Linh
Baotanghochiminh.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.

– Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng Việt Nam gồm những đặc điểm sau:

Một là, trung với nước hiếu với dân

Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ khái niệm cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.

Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.

Hai là, yêu thương con người.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột. Người viết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,ai cũng được học hành”.

Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái… không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.

Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”.

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người

Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi“, không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân“; phải trong sạch, không tham lam; “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa”. Chính, nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc“. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ“.

Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.

Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề “bốn phương vô sản đều là anh em“; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc; là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, vì những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản để định hướng sự lãnh đạo của Đảng và việc rèn luyện của mỗi người.

– Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.

Cán bộ đảng viên phải đầu tầu gương mẫu “miệng nói tay làm”, phải nêu tấm gương đạo đức cách mạng trước quần chúng; cán bộ, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Sống theo phương châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Cổ vũ “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiêu biểu.

– Xây đi đôi với chống.

Xây dựng nền đạo đức cách mạng, giáo dục chuẩn mực đạo đức mới, khơi dậy ý thức tự giác, đạo đức lành mạnh ở mọi người, hướng mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch, lành mạnh về đạo đức. Nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân – nguồn gốc của mọi thứ tệ nạn, thứ giặc “nội xâm” phá từ trong ra.

– Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Người cũng khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người mà đạo đức là do con người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện trong môi trường sống và trong cuộc đấu tranh cách mạng. Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên tắc xây dựng đạo đức mà Người đã nêu ra.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức luôn luôn gắn liền với kinh tế. Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời hy sinh cho cách mạng để giành lấy độc lập và tự do là nhằm xoá bỏ áp bức, bóc lột, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cho mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển mọi mặt của xã hội; phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, đạo đức, con người. Tinh thần này đã được thể hiện trong câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa“.

Học tập tư tưởng trong đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào “người tốt việc tốt”, nêu gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, bên cạnh việc xây dựng những phẩm chất đạo đức. Trung với nước, hiếu với dân, thương người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần quốc tế trong sáng nêu trong di sản của Người, chúng ta còn phải đấu tranh quyết liệt chống các tệ nạn xã hội nảy sinh trong nền kinh tế thị trường đang làm phương hại đến nền đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã sớm nhận ra sự nguy hiểm của bệnh “cá nhân”, đó là nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ.

Ngay từ năm 1952, Người đã nêu rõ những tệ nạn cần phải chống gồm ba loại hình là tham ô, lãng phí, quan liêu. Người coi những tệ nạn đó là tội ác, là kẻ thù khá nguy hiểm của nhân dân, là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến, là thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” phá từ trong phá ra. Người đã chỉ rõ tội lỗi của những kẻ tham ô, lãng phí quan liêu cũng nặng như tội lỗi “Việt gian, mật thám”. Người cho rằng: “Việc tranh đấu với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”.

Cuộc sống đang đòi hỏi phải làm trong sạch Đảng và làm lành mạnh đời sống đạo đức của xã hội. Hai mặt đó phải tiến hành song song. Phải khắc phục các nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực; càng phải khắc phục nguyên nhân đã để cho các tệ nạn tiêu cực phát triển. Trong cuộc đấu tranh này, phải lấy việc xây dựng Đảng làm nhiệm vụ then chốt, như đã được nêu ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng.

Chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn còn giữ nguyên tính thời sự, soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp vẻ vang, xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

Theo Báo Bắc Kạn

bqllang.gov.v