Thư viện

Bác Hồ với thế hệ trẻ

Hỏi chuyện đồng chí Vũ Kỳ

– Làm thư ký cho Bác đã hai mươi bốn năm, có bao giờ anh thấy Bác tự cho mình là một “ông già” không? Và Bác đã làm gì để chống lại tâm lý “ông già” ấy? 

Như tất cả các cụ già Việt Nam, Bác cũng muốn có cái thú vui bình dị của tuổi già như Bác đã thể hiện trong thơ: Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau. Nhưng ở Bác, tôi không bao giờ thấy bộc lộ tâm lý mệt mỏi của một “ông già”. Chắc đồng chí còn nhớ bài thơ của Bác: 

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm, 
Vẫn vững hai vai việc nước nhà. 
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn, 
Tiến bước, ta cùng con em ta!

Việt Nam - Hồ Chí MinhXuất xứ của bài thơ là thế này. Sáng 20 tháng 5 năm 1968, Bác dậy sớm hơn để chuẩn bị 6 giờ 15 tới dự kỳ họp khai mạc của Quốc hội. Vào hội trường, với tư thế trẻ trung và hóm hỉnh, Bác nói: Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi như trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy tôi có bài thơ này: “Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm…”. Cả hội trường sôi động hẳn lên. Các đại biểu Quốc hội ai cũng cảm thấy cùng trẻ lại với Bác.

Từ khi bước chân vào hoạt động cách mạng cho đến lúc từ giã cuộc đời, Bác luôn luôn quan tâm đến thế hệ trẻ. Năm 1925, Bác đã lo đào tạo nhân tài trẻ bằng cách gửi Lê Hồng Phong, Trương Văn Lễnh sang học trường quân sự Hoàng Phố, gửi Trần Phú và một số thanh niên khác sang học trường đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va. Các cháu thiếu niên, nhi đồng, Bác cũng chú ý nhiều. Đó là những cháu ở Trung Kỳ phải sống lưu lạc vì bố mẹ bị thực dân Pháp bắt bớ, tù đày, được Bác đưa từ Phi Chít (Thái Lan) sang Quảng Châu để tổ chức thành nhóm “Thiếu niên tiền phong Việt Nam”. Năm 1926, Bác đưa một số cháu sang học ở Liên Xô kèm theo bức thư gửi Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Lê-nin: “… Khi chúng tôi nói cho các em nghe về Lênin, về các bạn, những học trò nhỏ Nga của Lê-nin, các em rất thích và muốn đến nước các bạn để gặp các bạn, sống với các bạn, học tập các bạn, và thật sự trở thành những học trò của Lê-nin như các bạn… Chúng tôi hy vọng rằng các đồng chí không từ chối nhận ba hoặc bốn đồng chí nhỏ tuổi Việt Nam chứ?” Thật là cảm động, Bác lo cho các cháu những điều rất nhỏ, được viết trong lá thư: “… Vào tháng mấy thì ở Mát-xcơ-va bắt đầu lạnh (vì các em thiếu niên này từ một nước nóng bức tới, phải chọn lúc thời tiết thích hợp cho các em đi)… Đến Mát-xcơ-va, các em tới địa chỉ nào?…” 

Khởi đầu lịch sử Đảng ta cũng là do lực lượng thanh niên được Bác dìu dắt. Hồi đó, Bác đã tổ chức “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” và tự tay Bác soạn thảo cuốn “Đường kách mệnh” để giảng dạy. 

Năm 1961, trong Đại hội lần thứ ba của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Bác vui mừng nói: “Từ chỗ chỉ có một Lý Tự Trọng đến ngày nay chúng ta có 78 vạn đoàn viên Đoàn thanh niên lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Tiến bộ đó làm cho Bác rất vui sướng và trẻ lại. Nó làm cho lòng Bác phơi phới như hoa nở trong mùa xuân”. 

– Theo anh, trong tất cả các tổ chức của tuổi trẻ, Bác chú ý đến tổ chức nào nhất? 

Tất cả các hình thức tổ chức để tập hợp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng nhằm phụng sự Tổ quốc, Bác đều chú ý, quan tâm giáo dục để tổ chức đó ngày càng vững mạnh. Trong đó tổ chức thanh niên xung phong được Bác đặc biệt quan tâm. Bài hát truyền thống của Thanh niên xung phong cũng là bài ca chính thức của Đoàn thanh niên bây giờ, được nhạc sĩ Hoàng Hà phổ nhạc bốn câu thơ của Bác: 

Không có việc gì khó 
Chỉ sợ lòng không bền, 
Đào núi và lấp biển 
Quyết chí ắt làm nên!

Trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một lán trại thanh niên xung phong làm đường, Bác trò chuyện thân mật rồi hỏi “Các cháu có thích nghe thơ không?”. Tất cả đồng thanh: “Chúng cháu thích nghe thơ ạ”. Thế là Bác ứng khẩu đọc bốn câu thơ này. Ngay sau đó, nhiều thanh niên xung phong và cả bộ đội Vệ quốc đoàn đều truyền cho nhau và học thuộc trong chiến dịch Biên giới. 

Về tổ chức thanh niên xung phong, Bác nói với tôi: “qúy hồ tinh, bất quý hồ đa, lựa tuyển cẩn thận để thanh niên xung phong thật sự là một trường đào tạo thanh niên bằng những công việc thiết thực”. Bác trực tiếp xem và sửa chữa bản điều lệ về nhiệm vụ và bổn phận của Đoàn thanh niên xung phong. 

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bác theo dõi rất sát các hoạt động của thanh niên xung phong, kịp thời viết bài, nêu gương những điển hình tốt và gửi thư khen các đơn vị thanh niên xung phong có nhiều thành tích trong xây dựng và chiến đấu. 

Tháng 5 – 1968, trong phần viết thêm vào Di chúc, có đoạn: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. 

Như vậy, Bác xem tổ chức Thanh niên xung phong không chỉ để làm những việc cụ thể như đắp đường, xây cầu, khai hoang…, mà còn là một trường học để rèn luyện và đào tạo cán bộ tốt cho đất nước. Nếu không nhận thức đầy đủ như vậy tức là chưa thấu hiểu được lời dạy của Bác đối với thanh niên xung phong. 

– Là người được thường xuyên gần gũi Bác, chắc anh thấy rất rõ sự quan tâm bồi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ được thể hiện trong công việc và sinh hoạt thường ngày của Bác? 

Một lần, Bác đi công tác xa hơn một tháng, lúc trở về, Bác lại ngồi bên cầu ao vỗ tay gọi cá đến để cho ăn. Hôm ấy Bác không thấy con cá gáy vây đỏ đến ăn. Bác hỏi tôi. Tôi không biết trả lời thế nào. Tối, tôi hỏi anh em, được biết không ai câu cả. Khoảng mười ngày sau, ngồi bên Bác cho cá ăn, Bác bảo: “Kìa, chú coi, con cá gáy vây đỏ miệng đỏ đã đến rồi đấy”. Rồi Bác nói thêm: “Các chú ở nhà chắc không cho cá ăn đều và đúng giờ cho nên nó mới phải đi kiếm ăn lăng băng như thế”. Bác hạ giọng như tự nói với mình: “Đối với con người cũng thế, nhất là tuổi thanh niên, không quan tâm giữ nếp sống tốt thì cũng như thế”. Tôi nghe mà thấm thía sâu sắc làm sao! 

7 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm ấy, tức là trước ngày Thiếu nhi quốc tế 1-6, Bác gọi chị Thu Trà đến. Hồi đó chị Thu Trà làm chủ tịch Uỷ ban thiếu niên – nhi đồng. Bác hỏi về tình hình một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, Bác nói: ba má các cháu gửi các cháu ra miền Bắc để yên tâm công tác với niềm tin là được dạy dỗ tốt. Tại sao có tình trạng này? Lỗi các cháu một phần thì trách nhiệm của các cô các chú gấp mười phần… Bác căn dặn: vì các cháu xa nhà, thiếu tình cảm gia đình, cho nên phân trách nhiệm cho một số gia đình cán bộ chăm sóc các cháu như con em trong nhà. Bác cũng nhận chăm sóc con của đồng chí Nguyễn Hữu Thọ một cháu trai, hai cháu gái. 

Ngày 23 tháng 5 năm 1969, Bác tiếp ông Chủ tịch Thượng nghị viện Chi-lê X. Agienđê, sau này là Tổng thống. Sau đó, Agienđê đã ghi lại những ý nghĩ chân tình của mình trong một bài báo: “Chúng tôi ngồi quanh một cái bàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở chiếc phong bì lấy ra một tấm ảnh và nói với chúng tôi: “Đây là một kỷ niệm”. Chủ tịch lần lượt giới thiệu với chúng tôi những em thiếu nhi anh hùng miền Nam có nét mặt ngây thơ đang ngồi quây quần quanh Chủ tịch trong tấm ảnh. Chủ tịch nói: “Tôi rất vui lòng về các cháu thiếu nhi ngày nay… Hồi còn nhỏ, tôi không làm được những việc mà các cháu đã làm. Thiếu nhi thời tôi cũng vậy”. Sau đó, Chủ tịch mở một quyển vở cũ và với giọng dịu hiền, Chủ tịch đọc những con số chỉ rõ những thanh niên, thiếu nhi đã đạt được thành tích xuất sắc trong học tập, lao động và trong những việc làm anh hùng. Con số này ngày một tăng, nói lên sự nỗ lực của thanh niên”. Agienđê kết luận: “Chưa bao giờ một người khi nói với chúng tôi về các em nhỏ lại giáo dục chúng tôi nhiều như vậy”. 

Sự quan tâm và niềm tin của Bác Hồ đối với các thế hệ trẻ, người chủ của tương lai, một phần quan trọng đã được thể nghiệm trong chính thời thanh niên của Bác. Với hai bàn tay trắng, chàng trai xứ Nghệ Nguyễn Tất Thành 21 tuổi đã quyết tâm đi khắp năm châu bốn biển, tự kiếm sống, tự học tập để tìm đường cứu nước. Quyết tâm ấy, niềm tin ấy, Bác dồn tất cả cho các thế hệ trẻ, mùa xuân của xã hội.

Võ Văn Trực thực hiện

Tạp chí Tia sáng, số 5/2000

thanhdoanquynhon.org.

“Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”

Sinh thời, trái tim người con vĩ đại của dân tộc – Chủ tịch Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của mọi tầng lớp nhân dân mà ngược lại luôn tỏa sáng ấm áp, bình dị mà vô cùng cao quý. Con người ấy, tình yêu ấy được hun đúc từ chính bản sắc, tình yêu quê hương đất nước và sự gắn bó với cuộc sống của chính nhân dân mình, luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà người ấy gửi gắm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Tình yêu ấy còn là niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh lớn lao, sức sáng tạo vô cùng của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hơn ai hết, Người khẳng định mọi nguồn lực cách mạng là ở nơi quần chúng, sức mạnh kiến thiết cũng là nơi quần chúng, trong đó có thế hệ trẻ. Người luôn dành muôn vàn tình thương yêu và gửi gắm niềm tin khi đặt trọn tương lai của cách mạng, của dân tộc vào họ.

tuoitre1Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Bác của chúng ta là con người sống có lí tưởng cao cả, giàu tình nhân ái, ân nghĩa, sống khiêm tốn, giản dị và quên mình. Tình yêu bao la đó trong trái tim một con người vĩ đại không chỉ dành riêng cho các tầng lớp nhân dân Việt Nam, thế hệ trẻ Việt Nam mà còn là tình hữu nghị quốc tế trong sáng dành cho bạn bè bốn biển năm châu bởi “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Và như một lẽ tất nhiên, trong đó tình cảm dành cho thế hệ trẻ các nước luôn trong nhịp đập trái tim bao la tình thương yêu của Hồ Chí Minh và để lại cho thanh niên Việt Nam, thanh niên thế giới những tình cảm quí báu và những lời dạy thiết thực.

Tháng 3 năm 1961, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam – nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bác đã đến thăm và nói chuyện. Bác nói:

“ Nhà thơ Pháp, Vay-ăng Cu-tu-ri-ê viết: “ Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của loài người”

Nhà thơ Xô-viết, Mai-a-cốp-xki viết: “Chủ nghĩa cộng sản là tuổi trẻ của thế giới do những người trẻ tuổi xây dựng nên”.

Bác thì nói một cách mộc mạc: Thanh niên Việt Nam, thanh niên thế giới! Hãy hăng hái tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa cộng sản!”

tuoi tre 2Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Tát-gi-ki-xtan, ngày 27/7/1959

Lới nói “mộc mạc” ấy chính là lới kêu gọi nóng bỏng từ tấm lòng của một nhà hoạt động quốc tế sôi nổi, suốt đời phấn đấu không chỉ vì nền độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của dân tộc mình mà còn vì tương lai tươi sáng của toàn nhân loại. Bởi vậy, trải qua bao gian khổ, mất mắt và hy sinh, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời đã đánh dấu chặng đường mới của đất nước, dân tộc ta. Cũng ngay sau đó là 30 năm gian khổ “Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ/Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Tuy nhiên, trong bối cảnh kháng chiến chống Pháp, Mỹ và các thế lực tay sai, Người lại có những cuộc hành trình đầy tình hữu nghị tại nhiều nước anh em, bầu bạn, từng gắn bó với bao nhiêu con người thuộc mọi chủng tộc, màu da, tôn giáo, lứa tuổi với tư tưởng nhân văn“Giang sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em”. Các bạn quốc tế cũng thân mật gọi Người là Cha, là Bác, là Anh. Năm 1946, khi sang thăm Pháp trên cương vị thượng khách của Chính phủ nước này, Bác có nhiều dịp tiếp xúc với đủ các giới chính khách, báo chí, văn nghệ, đảng phái, đoàn thể, quần chúng. Trên đất Pháp, Người đã trải qua cả một thời tuổi trẻ và kết bạn với nhiều chiến sĩ cách mạng cùng lứa tuổi. Sau này, chính Người tự nhận: “Tôi đã nhiều năm từng là dân Pa-ri”.

Bac ho voi thieu nhi bulgaryjpgChủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi Bungari trong dịp
Người 
 sang thăm Bungari năm 1957.

Có lẽ, mỗi chúng ta đa từng được nghe câu nói nổi tiếng của Người “Tất cả trẻ em trên thế giới là con tôi!”. Đó là câu nói của Người khi tiếp bố mẹ của cô bé Irina Đimitơriépna Đênia,là con của nhà báo X. Côlôxốp (X. Côlôxốp từng là phóng viên của Thông tấn xã Liên Xô APN) và vợ là bác sĩ Anna Xtaxia Vaxilépna, ở thành phố Giucốpxki, ngoại ô Mátxcơva được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu. Cuộc gặp gỡ ấy diễn ra vào tháng 11 năm 1960, Irasơca và bố mẹ đã được gặp Bác Hồ tại một ngôi nhà trên phố Alếchxây Tônxtôi, nhân dịp Người cùng Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang Mátxcơva dự lễ kỷ niệm lần thứ 43 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất tình cảm và thân mật. Bác mời gia đình Irasơca cùng ăn trưa với Người. Trước đó, em bé có tên là Êlidabét, con gái ông Raymông Ôbrắc – cựu Ủy viên Cộng hoà ở Mácxây, nghị sĩ Quốc hội Pháp, được Bác Hồ đã đến bệnh viện thăm, tặng quà và nhận làm con đỡ đầu. Vào những dịp sinh nhật Êlidabét, Người thường gửi thư và quà tới và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để may áo cưới. Hay em bé Knuth Wolfgang Walther Hartmann ở miền Nam nước Đức thì lại có vinh dự được làm con đỡ đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19 tháng 5 năm 1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Walter R. Harlmann, cha mẹ của Knuth, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Knuth Wolfgang Walther Hartmann làm con đỡ đầu. Việc Bác Hồ nhận những cháu bé người Pháp, Đức và Liên Xô làm con đỡ đầu đã thể hiện tấm lòng nhân ái và sự quan tâm của Bác dành cho thiếu nhi quốc tế, và cũng qua đó càng làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, nhân dân Cộng hoà dân chủ Đức và nhân dân Liên Xô anh em.

Bac ho voi thieu nhi rumaniCác cháu thiếu nhi Ru-ma-ni vui mừng chào đón Bác Hồ sang thăm hữu nghị, 
ngày 17/8/1957

Còn ở Trung Quốc, khi nói chuyện với nhân dân Trung Quốc qua Đài Phát thanh Bắc Kinh, Người bộc lộ: “Tính tôi rất yêu trẻ con cho nên vừa đến Bắc Kinh, tôi vội đi thăm nhà giữ trẻ và Trường Tiểu học, thấy cháu nào cũng ngoan, cũng xinh đẹp, vui vẻ, mạnh khỏe, tôi rất sung sướng và thầm nghĩ rằng các cháu ấy sẽ là những công dân của xã hội cộng sản mà chúng ta đang phấn đấu để xây dựng cho tương lai”.

Bac ho voi thieu nhi trung quocBác Hồ với các cháu thiếu nhi tỉnh Giang Tô, CHND Trung Hoa, ngày 19/5/1961

Đi thăm các nước ở Châu Âu cũng vậy. Đến trại hè “Hen-nút Giút”, tới thành phố Ai-den-huýt-then-xlát, thăm thành phố cảng Rô-xtốc, vào vườn thú Béc-lin,..Bác đã vui cười nắm tay và dạo chơi cùng các cháu thanh niên, nhi đồng. Ở Nam Tư (cũ), Bác đã mời nhiều cháu nhỏ vào thăm nơi Bác ở, cho ăn bánh và uống sữa. Một cháu bé lên 3 được Bác xúc bánh cho. Các phóng viên ảnh đi theo, chụp hình ảnh ấy gửi đăng báo đã gây xúc động trong lòng nhân dân Nam Tư và các nước Châu Âu. Năm 1959, trong một chuyến đi nghỉ ở Liên Xô (cũ), Người đã vượt ngót trăm cây số xe hơi đến dự cuộc liên hoan của trại hè thiếu nhi Lếch-cút. Có nhà báo cùng đi trong đêm ấy đã tả lại: “Giữa trời đêm, vầng trăng tha thẩn soi bong trên mặt hồ Bai-can cách không xa ngọn lửa trại rực hồng. Chung quanh đó, các em thiếu nhi đàn, hát, múa và biểu diễn vở ba-lê “Hồ Thiên Nga”. Các em ríu rít, quấn quít bên Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người cha hiền từ giản dị như môt ông tiên đem lại cho các em muôn vàn tình thân yêu…”

Có lẽ không có nhà hoạt động chính trị nào trên thế giới này đã đi hầu khắp thế giới như Bác kính yêu của chúng ta. Và ở đâu Người cùng chiến đấu cho nhân dân lao động, cũng yêu quý thế hệ trẻ như chính nhân dân và thanh, thiếu niên nước mình. Và, Người tiếp xúc, chuyện trò với mọi tầng lớp nhân dân ở những nơi Người có mặt, nhất là với thanh niên và thiếu niên, nhi đồng – những người đặc biệt kính yêu Bác và được Bác dành cho sự trìu mến vô bờ bến. Người vui mừng trước các thành tựu của tuổi trẻ các nước, luôn nêu những tấm gương sáng trong chiến đấu và xây dựng đất nước của họ để tuổi trẻ Việt Nam noi theo, từ chị thợ dệt Nga Gaganôva, người thiếu niên dũng cảm Trung Quốc Lưu Hồ Lan đến những thanh niên Pháp anh hùng, như Hăngri Máctanh, Rây mông Điêng, những anh hùng vũ trụ trẻ tuổi Liên Xô như Gagarin, Titốp… Người xúc động trước những đau thương, mất mát do chiến tranh, thiên tai, áp bức gây ra cho các dân tộc và thanh niên ở một nơi nào đó trên trái đất.

Và như thế, Bác của chúng ta đã suốt đời mưu cầu hạnh phúc cho tất cả các dân tộc trên trái đất, và vì thế Người càng yêu quí thế hệ trẻ của mọi đất nước, lớp người giàu sức sống, giàu niền tin trong sự nghiệp xây dựng tương lai của đất nước họ, cùng vun đắp cho tình hữu nghị trên toàn thế giới cho đến khi Người đi về cõi vĩnh hằng./.

Tâm Trang
chinhphu.vn

Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế nào?

Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch. Sau khi phục vụ chiến dịch Biên giới, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng – Bắc Kạn – Thái Nguyên.

Đội đã tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải quân dọc tuyến đường và nhận nhiệm vụ bám trụ những nơi hiểm yếu. Liên phân đội thanh niên xung phong 321 của chúng tôi được nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù (thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn), nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Kạn đi Cao Bằng. Cầu Nà Cù lúc này không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Trung tuần tháng 9 năm 1950, chúng tôi được tin báo có đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần) sẽ đến thăm đơn vị. Đêm hôm đó, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu để đón khách. Vừa trông thấy ánh đèn pin thấp thoáng từ ngoài cửa rừng đi vào, đoán là khách đã đến, tôi cho anh chị em vỗ tay hoan hô: “Hoan hô đồng chí Trần Đăng Ninh”. Khách vào tới nơi, định thần nhìn lại, tất cả chúng tôi đều sững sờ trước niềm vinh hạnh phúc thật bất ngờ: Bác Hồ đến thăm. Hàng ngũ của chúng tôi trở nên xáo động…, nhưng do việc giữ bí mật đã ăn sâu vào ý thức từng người nên trong hàng ngũ cũng chỉ truyền đi những tiếng reo khe khẽ: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Rõ ràng Bác đang ở trước mắt mà chúng tôi cứ ngỡ như một giấc chiêm bao! Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh.

Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu:

– Các cháu ngồi cả xuống.

Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống.

Những câu đầu tiên Bác hỏi chúng tôi là những lời hỏi thăm ân cần về tình hình đời sống của đơn vị.

Bác hỏi:

– Các cháu ăn uống có đủ no không?

– Thưa Bác có ạ!

– Các cháu có đủ muối ăn không?

– Thưa Bác đủ ạ!

– Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?

– Thưa Bác đủ ạ!

Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn thiếu thốn. Bác lại hỏi:

– Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không?

– Thưa Bác có ạ!

– Sau đó Bác lại hỏi tiếp:

– Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào?

Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng.

Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:

– Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt.

Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp:

– Đào núi có khó không?

Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, người sợ nói khó bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó.

Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm. Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi:

– Có ai dám đào núi không?

Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa:

– Thưa Bác có ạ! Thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ! (Hồi bấy giờ chúng tôi đào núi bằng cuốc, xẻng, không được cơ giới hoá như bây giờ). Nghe xong, Bác cười:

– Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì?

Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao” có người “cần kiên gan bền chí”, “cần vượt khó vượt khổ”, có người “cần xung phong dũng cảm”, toàn là những khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.

Bác động viên chúng tôi:

– Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày lên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ:

Không có việc gì khó

                                            Chỉ sợ lòng không bền

                                            Đào núi và lấp biển

                                           Quyết chí ắt làm lên.

Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào.

Giữa rừng đêm khuya, dưới ánh lửa bập bùng, Bác cùng chúng tôi hoà nhịp theo bài ca “Nhạc tuổi xanh”. Chúng tôi hát hào hứng, say mê. Đến khi bài hát được hát lại lần thứ hai, nhìn lại thì không thấy Bác đâu nữa! Bác xuất hiện và ra đi như một ông tiên trong chuyện cổ tích huyền thoại. Đám thanh niên chúng tôi ngẩn ngơ nuối tiếc hồi lâu.

Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong  chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc. Sau này mỗi khi gặp khó khăn, hình ảnh của Bác Hồ và bốn câu thơ của Bác lại được tái hiện trong lòng chúng tôi, tiếp cho chúng tôi thêm sức mạnh để vượt qua.

(Trích trong “Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

Theo www.baclieu.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác sống mãi trong lý tưởng thanh niên

Thế kỷ XX đầy giông bão mà vĩ đại này đã sản sinh ra những con người vĩ đại. Có một con người mà tiểu sử giống như những trang huyền thoại lung linh ánh sáng, thu hút tình cảm ngưỡng mộ, kính yêu của hàng triệu, hàng triệu trái tim của nhân loại tiến bộ bằng cuộc sống hào hùng, hoạt động phong phú và sự nghiệp to lớn của mình. Có một con người mà với tài năng và đức độ đã trở thành một biểu tượng hoàn thiện tuyệt vời về cả sức mạnh chiến thắng lẫn lòng nhân ái mênh mông mà ngay cả kẻ thù cũng không thể không tỏ lòng khâm phục. Người đó ai cũng biết đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

BH
Ảnh Tư liệu

Nếu trong tâm lý học, lý tưởng được định nghĩa như là một mục tiêu cao cả, đẹp đẽ được phản ánh vào đầu óc con người dưới hình thức một hình tượng hoàn chỉnh, mẫu mực về một con người, một sự vật nào đó và có tác dụng lôi cuốn toàn bộ cuộc sống cá nhân vào hoạt động để vươn tới trong một thời gian lâu dài, thì Bác Hồ của chúng ta là một hình tượng như thế – một đối tượng của lý tưởng về con người.

Thật vậy, Bác Hồ đã trở thành con người lý tưởng, một mục tiêu cao đẹp lôi cuốn sự phấn đấu vươn tới của mấy thế hệ từ Cách mạng Tháng Tám đến nay những thế hệ Hồ Chí Minh.

Đặt vấn đề như trên cốt để khẳng định một điều là việc giáo dục toàn dân đặc biệt là thanh niên học tập tu dưỡng theo gương Bác được xem như một quá trình, một nội dung giáo dục xuyên suốt mọi hoạt động giáo dục, được các lực lượng giáo dục phối hợp tiến hành một cách lâu dài, có kế hoạch và phải tuân theo những quy luật nghiêm ngặt, phức tạp của khoa học tâm lý. Đó là công tác giáo dục lý tưởng về con người – con người cộng sản. Không nên và cũng không được phép xem nó đơn giản như là một khẩu hiệu kêu, một lời hô hào hấp dẫn hay một cái tên làm đẹp cho một phong trào, một đợt hoạt động đột xuất.

Lý tưởng của cá nhân là sự phản ánh hiện thực khách quan trong đầu óc con người. Nó là một hiện tượng tâm lý mà trong đó có sự hòa hợp cao độ của nhận thức sâu sắc, tình cảm mạnh mẽ và ý chí vững vàng. Thông qua quan sát, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu biết bao nhiêu con người khác nhau trong cuộc đời thực, trong lý luận sách vở và nhiều khi cả trong tiểu thuyết nữa, cá nhân rút ra những đặc điểm được coi là tốt đẹp, ưu việt để rồi tưởng tượng, khái quát nên hình tượng về con người lý tưởng của riêng mình.

Cá nhân cũng có thể xây dựng con người lý tưởng của mình từ một con người cụ thể nào đó đã hoặc đang tồn tại trong hiện thực với tất cả những đặc điểm tốt đẹp, ưu việt mà xã hội đã lý khẳng định và ngợi ca. Trong quá trình xây dựng lý tưởng, cá nhân cũng tự phân tích, đánh giá bản thân mình và cân nhắc những điều kiện khách quan, những khả năng thực hiện để điều chỉnh cho phù hợp. Quá trình hình thành lý tưởng của cá nhân bao giờ cũng là một quá trình nhận thức căng thẳng, một quá trình suy tư trăn trở, nhiều khi còn dẫn tới sự khủng hoảng tinh thần.

Nói tới tính chất cao cả, đẹp đẽ của lý tưởng cũng như sự hoàn chỉnh, mẫu mực của hình tượng được cá nhân và coi là lý tưởng cũng là nói tới yếu tố tình cảm trong lý tưởng. Lý tưởng của cá nhân bao giờ cũng là một mục tiêu luôn luôn vẫy gọi ở phía trước, đòi hỏi cá nhân sự nỗ lực vươn cao hơn bản thân mình, luôn luôn là một cái gì thuộc về một tương lai đầy hứa hẹn và chắc chắn là tốt đẹp hơn cái đang có trong hiện tại. Trong quá trình xây dựng lý tưởng, cùng với tư duy, tưởng tượng, cá nhân lại tô điểm thêm cho hình tượng tưởng của mình những sắc mầu tươi thắm xuất phát từ những tình cảm yêu mến thiết tha, những ước mơ ấp ủ, những hy vọng sâu xa. Khi đã xác định được lý tưởng của mình, cá nhân thấy cuộc sống đầy ý nghĩa, thấy tương lai hiện ra sáng rạng và dâng lên trong lòng một niềm lạc quan phấn khởi.

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim”

                                (Tố Hữu)

Chính là tâm trạng của một con người đã tìm thấy lý tưởng của đời mình. Nhận thức sâu sắc, tình cảm mạnh mẽ là hai yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng lý tưởng. Tuy nhiên, lý tưởng chỉ có thể trở nên đích thực mà không dừng lại ở mơ ước suông, hy vọng hão huyền và thực sự có ý nghĩa đối với đời sống và sự phát triển của cá nhân cũng như của xã hội khi nhận thức sâu sắc ấy, tình cảm mạnh mẽ ấy thúc đẩy con người hoạt động để vươn tới nó. Hoạt động chính là khâu quyết định để biến lý tưởng từ cái được phản ánh trong đầu óc con người thành cái đạt được trong hiện thực. Cũng chính trong quá trình hoạt động cá nhân thể hiện được bản thân mình tự điều chỉnh, tự cải tạo và để rồi tự sản sinh ra chính bản thân mình như C.Mác đã nói. Trong quá trình này, nhận thức về đối tượng của lý tưởng ngày càng sáng tỏ và trở nên chính xác, tình cảm ngày càng ổn định và được củng cố.

Cũng trong quá trình hoạt động để thực hiện lý tưởng, cá nhân tất yếu gặp phải những khó khăn trở ngại. Càng tiến gần tới mục tiêu, khó khăn càng nhiều, càng lớn. Ý chí luôn luôn được thử thách và ngày càng trở nên vững vàng. Lý tưởng càng lớn ý chí càng phải cao, như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng tâm niệm và chứng tỏ:

“Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần ắt phải cao”

(Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù)

Quan niệm việc giáo dục các đối tượng noi gương Bác Hồ như là một quá trình giáo dục lý tưởng và tìm hiểu các yếu tố tâm lý tạo nên lý tưởng như trên là để từ đó đề ra được những biện pháp giáo dục sinh động, phù hợp với quy luật, đạt được hiệu quả cao, xứng với tầm vĩ đại của Bác. Đó là một quá trình tác động tổng hợp và đồng thời lên đối tượng về cả ba mặt: nhận thức, tình cảm và ý chí hành động. Quá trình tác động ấy cũng còn phải tính đến cả những đặc điểm tâm lý của đối tượng nữa.

Riêng với thanh niên, lứa tuổi cần được giáo dục lý tưởng và cũng có nhu cầu xác định lý tưởng, nhà trường, Đoàn thanh niên, các lực lượng giáo dục khác cần phải quan tâm hơn nữa.

Là lứa tuổi đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, thanh niên luôn luôn có một nhu cầu bức thiết là xác định hướng đi cả cuộc đời mình, tìm hướng phát triển của bản thân trong tương lai. Có một trình độ văn hóa và phát triển trí tuệ nhất định, họ thường xây dựng lý tưởng để đeo đuổi, xác định mục tiêu để vươn tới, bằng lý trí, thông qua sự tìm hiểu thực tiễn cũng như thông qua sách vở.

Về mặt này, thanh niên ngày nay có cái may mắn là được sinh ra trong chế độ mới, lớn lên trong một hiện thực cách mạng lớn lao và sôi động được soi mình vào bao tấm gương sáng chói của biết bao anh hùng, chiến sĩ mà ngay từ buổi thanh xuân của cuộc đời đã hết lòng vì nền độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, tạo nên những hình tượng cao quý, đẹp đẽ, thu hút sự khâm phục, chiêm ngưỡng và noi theo của tất cả mọi người. Tấm gương sáng chói nhất, cao đẹp nhất là Bác Hồ của chúng ta. Họ cũng có cái may mắn là được hưởng sự giáo dục của nhà trường, của Đoàn, của Đảng một cách có hệ thống liên tục từ thuở còn ấu thơ. Tuyệt đại đa số trong họ nhận thức được những yêu cầu của xã hội đối với thanh niên và hiểu được ý nghĩa của những yêu cầu ấy đối với sự phát triển của xã hội cũng như bản thân. Nhận thức đó đã cảm giúp họ sớm định hướng được con đường họ phải đi, cái đích họ phải tới, con người họ phải trở thành… tránh được những trăn trở của suy tư, những dằn vặt bế tắc mà nhiều thế hệ cách mạng đã phải trải qua. Bác Hồ cũng đã nhận xét về điểm này trong Đại hội đại biểu toàn quốc “Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam” họp ngày 15/6/1956: “Nếu so với thanh niên lớp trước, trong đó có cả Bác, thì thanh niên ngày nay tiến bộ hơn, sung sướng hơn nhiều. Đó cũng là thành tích đáng tự hào của công tác giáo dục thanh niên”.

Tuy nhiên, để giáo dục thanh niên noi gương Bác, cần phải làm cho thanh niên hiểu sâu hơn nữa về Bác. Nhà trường, Đoàn Thanh niên cũng như sách báo, phát thanh, truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng khác nay phải có kế hoạch giới thiệu một cách có hệ thống, sinh động cuộc đời hoạt động và những cống hiến to lớn của Bác đối với Đảng với dân tộc để họ hiểu rằng Bác đã chiến đấu hy sinh như thế nào để trở thành một con người tuyệt vời như thế. Phải làm sao để đối với họ – những người được sinh ra khi Bác đã đi xa Người vẫn như còn sống mãi với đời, vẫn là người dẫn dắt họ trong mỗi bước đi, chỉ bảo họ trong mỗi việc làm, khích lệ họ vượt qua những thử thách gian nan. Những người lớn tuổi cũng phải làm sao cho thanh niên thấy được ở mỗi người một phần nhỏ nhoi nào đó thừa kế được ở Bác, chứng tỏ rằng người lớn tuổi giáo dục thanh niên như thế nào thì họ cũng đã sống như thế.

Tuy nhiên, như trên đã trình bày, lý tưởng không dừng lại ở mức độ nhận thức sâu sắc được mục tiêu, xây dựng được một hình tượng lý tưởng, cũng không dừng lại ở chỗ khâm phục, chiêm ngưỡng hay tôn sùng hình tượng ấy mà phải là một quá trình hoạt động tích cực, kiên trì để từng bước, từng bước thực hiện được lý tưởng. Nhận thức sâu sắc là để hành động cho đúng, tình cảm mạnh mẽ cũng là để thúc đẩy hành động cho tích cực. Bởi thế, tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho đối tượng là một khâu được coi là chủ yếu trong toàn bộ công tác giáo dục lý tưởng cũng như công tác giáo dục nói chung.

Chỉ tác động vào nhận thức và tình cảm không thôi là “đánh trống bỏ dùi” không thể đạt đến kết quả cuối cùng của công việc. Lênin cũng đã từng phê phán kịch liệt lối giáo đục chỉ lý thuyết suông rằng: “giáo dục thanh niên cộng sản không phải là nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay là những phép tắc đạo đức. Không phải cái đó là giáo dục”.

Người chỉ ra rằng muốn giáo dục cộng sản cho thanh niên phải gắn liền việc học tập, rèn luyện của họ với cuộc đấu tranh chung của xã hội. Người nói: “Đoàn Thanh niên cộng sản chỉ xứng đáng với danh hiệu của nó là đoàn thể của thế hệ cộng sản trẻ tuổi, nếu biết gắn từng bước học tập, giáo dục và rèn luyện của mình với việc tham gia cuộc đấu tranh chung của những người lao động chống lại bọn bóc lột”.

Cũng với quan điểm ấy, Bác Hồ đã dạy: “Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội”.

Tuổi trẻ là tuổi giàu mơ ước, đầy khát vọng vươn lên và luôn luôn muốn tự khẳng định mình. Đồng thời tuổi trẻ cũng là tuổi tràn trề sinh lực, có nhu cầu hoạt động cao, coi thường khó khăn gian khổ, đúng như lời Bác đã đánh giá trong di chúc của Người: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Giáo dục lý tưởng cho thanh niên, phải biết giúp đỡ họ nuôi dưỡng những ước mơ đẹp đẽ, đáp ứng những khát vọng chính đáng của họ bằng cách tạo nên những môi trường hoạt động phong phú, tập hợp họ lại trong một tổ chức chặt chẽ, đặt mỗi người vào một vị trí nhất định trong sự nghiệp cách mạng chung của toàn xã hội, tạo những điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để họ có thể đứng vững trên vị trí ấy mà xây dựng, củng cố và thực hiện lý tưởng.

Không có một môi trường để hoạt động, không có một chỗ đứng trong guồng máy học tập, sản xuất hay chiến đấu của xã hội thì không thể nói đến thực hiện lý tưởng, không thể nói đến noi gương Bác Hồ được. Trong cuộc đấu tranh cách mạng trước đây, trong các cuộc kháng chiến chống giặc giữ nước vừa qua, chúng ta đã chẳng từng có biết bao nhiêu thanh niên đã sống xứng đáng với tấm gương của Bác, với lý tưởng của mình đó sao?

Không nắm lấy thanh niên, không tạo được môi trường hoạt động cho thanh niên, không thu hút được thanh niên vào những hoạt động bổ ích, có tổ chức, có lãnh đạo không những không khai thác được nguồn sinh lực dồi dào của đất nước, không giúp được họ phát triển con người một cách đúng đắn mà còn dẫn đến những vấn đề xã hội hết sức phức tạp…

Chắc ai cũng phải lấy làm buồn khi thấy còn nhiều thanh niên chưa có việc làm, còn nhiều thanh niên đang sống không xứng đáng với tuổi trẻ đẹp đẽ của họ và thật là đau lòng khi thấy tình hình thanh niên sa vào các tệ nạn xã hội và phạm pháp đang gia tăng cả về số lượng và mức độ.

Có biết bao người trong số họ cách đây không bao nhiêu lâu đã từng là những cậu học sinh phơi phới yêu đời, là những đoàn viên Đoàn Thanh niên mang tên Bác, là những anh bộ đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Tất cả đã từng có nguyện vọng, có mơ ước trở nên người hữu ích. Những nhà giáo dục không thể không suy nghĩ, những người có trách nhiệm quản lý xã hội không thể không tự hỏi mình đã làm gì để giúp thế hệ trẻ có việc làm, có những điều kiện cần thiết để họ có thể phấn đấu cho lý tưởng mà hàng ngày mình khuyên dạy, giáo dục.

Tóm lại, giáo dục thanh niên học tập gương Bác Hồ là một quá trình giáo dục lý tưởng – lý tưởng về một con người. Đó là một quá trình rèn luyện gian khổ của bản thân thanh niên. Đó là một quá trình giáo dục lâu dài phức tạp và có những quy luật của nó, đòi hỏi những nhà giáo dục phải hiểu biết để vận dụng cho đúng, cho tốt. Đó là một sự nghiệp to lớn của cách mạng cần phải quan tâm đặc biệt và cần phải đầu tư thích đáng.

Theo Tinhdoannghean.vn
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Vì thế hệ tương lai

Sinh thời, Bác Hồ luôn dành những tình cảm đặc biệt, yêu thương cho các cháu thiếu nhi. Đặc biệt, Người luôn quan tâm chăm lo cho việc giáo dục các cháu trở thành con ngoan, trò giỏi.

Mỗi dịp khai trường hay Tết Trung thu, Tết Thiếu nhi Bác thường có thư gửi các cháu rất ân cần, trìu mến. Người luôn nhắc các cháu thiếu nhi phải đoàn kết, thi đua học tập, lao động, rèn luyện đạo đức, rèn luyện sức khỏe. Người cũng căn dặn người lớn phải quan tâm chăm sóc, giáo dục các em. Người nhắc nhở người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo…) phải luôn nhớ nhiệm vụ của mình đối với việc chăm sóc thiếu nhi, phải là tấm gương cho trẻ em noi theo, phải “khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành người công dân có tài, có đức”. Người yêu cầu “đừng dạy các em thành những ông cụ non… Phải làm sao cho trẻ có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ hoạt bát chứ không phải khúm núm đặt đâu ngồi đấy”. Người dạy “Vì lợi ích mười năm trồng cây, Vì lợi ích trăm năm trồng người”…

Bác coi thiếu nhi là người chủ tương lai của nước nhà, cho nên cần phải sớm rèn luyện đạo đức cách mạng. Nhiều lời dạy của Bác đối với thiếu nhi đã được các thế hệ thiếu niên, nhi đồng Việt Nam khắc cốt ghi tâm. Nổi bật là 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào /Học tập tốt, lao động tốt /Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt /Giữ gìn vệ sinh thật tốt /Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

Ba tháng trước lúc đi xa, nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1.6.1969, Bác viết bài trên báo Nhân Dân khẳng định “chăm sóc và giáo dục các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”, và kêu gọi “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc, giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Đặc biệt, trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người nhấn mạnh: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những lời dạy của Người đối với công tác chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng là cẩm nang quý báu vô giá mà mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải luôn ghi nhớ và thực hiện cho thật tốt. Đó chính là cách vun đắp cho tương lai của đất nước, của dân tộc phát triển bền vững đến muôn đời.

Lê Lan
baobinhdinh.com.vn

Đặt niềm tin vào thế hệ trẻ

Nhận rõ vai trò to lớn của thế hệ trẻ, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong ngày khai trường đầu tiên, Bác đã gửi gắm niềm tin yêu của mình vào thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Ngày 17.8.1947, trong “Thư gửi các bạn thanh niên”, Bác viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị tương lai đó”. Đến thăm đơn vị thanh niên xung phong làm đường trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác đã khuyên thanh niên: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”.

Để giáo dục thanh niên, Bác đã lấy những tấm gương tiêu biểu hy sinh vì nước, vì dân để thanh niên học tập. Bác viết: “Đồng chí Lý Tự Trọng đã nêu gương chân chính cách mạng cho chúng ta noi theo. Ngày nay được Đảng giáo dục, có Đoàn dìu dắt, thanh niên chúng ta phải xung phong gương mẫu trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong học tập, trong chiến đấu phải thực hiện “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”. Như thế, chúng ta mới xứng đáng là thế hệ thanh niên xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”.

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, muốn xứng đáng vai trò làm chủ thì phải học tập. Vì vậy, Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ của thanh niên. Bác chỉ rõ: “Nhiệm vụ chính của thanh niên, học sinh là học. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người làm chủ nước nhà”. Và, “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà, phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”. Bác luôn chăm lo bồi dưỡng đội ngũ thanh niên trí thức. Bác căn dặn: “Đối với thanh niên trí thức cần phải đặt câu hỏi: Học để làm gì? Học để phụng sự ai?”.

Minh Anh
baobinhdinh.com.vn

Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội

Trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946, Bác Hồ viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

Khi bắt đầu truyền bá tư tưởng cách mạng cho dân tộc, Bác đã chọn thanh niên là đối tượng đầu tiên – lực lượng trẻ đầy lòng yêu nước và sẵn sàng hy sinh cho cách mạng. Tháng 6.1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã thành lập “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, xuất bản tờ báo Thanh Niên. Năm 1926-1927, Bác trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo hơn 200 thanh niên Việt Nam yêu nước, rồi đưa trở về nước xây dựng phát triển phong trào cách mạng. Bác đã lựa chọn giới thiệu nhiều thanh niên ưu tú đến học tại Trường Đại học Phương Đông, trong số đó nhiều người sau này đã trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta.

Nhận rõ vai trò to lớn của thế hệ trẻ, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong ngày khai trường đầu tiên, Bác đã gửi gắm niềm tin yêu của mình vào thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Ngày 17.8.1947, trong “Thư gửi các bạn thanh niên”, Bác viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị tương lai đó”. Đến thăm đơn vị thanh niên xung phong làm đường trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác đã khuyên thanh niên: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”.

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, muốn xứng đáng vai trò làm chủ thì phải học tập. Vì vậy, Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ của thanh niên. Bác chỉ rõ: “Nhiệm vụ chính của thanh niên, học sinh là học. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người làm chủ nước nhà”. Và, “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà, phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”.

Trước lúc đi xa, Bác đã căn dặn: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Hà Nhiên
baobinhdinh.com.vn

Sửa đổi lối làm việc với dân

“Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947. Theo nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu “Có thể coi “Sửa đổi lối làm việc” là sự tiếp bước nối dài nhằm hiện thực hóa những mục tiêu, nguyện vọng được đề cập trong “Tuyên ngôn độc lập” ”.

“Sửa đổi lối làm việc” thực chất là sửa đổi lề lối quan hệ với nhân dân. Chính vì vậy, tư tưởng “dân là gốc”, dân làm chủ toát lên từ mọi khía cạnh, mọi nội dung được đề cập trong “Sửa đổi lối làm việc”. Trong tác phẩm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nhân dân là đối tượng trọng tâm của việc sửa đổi lối làm việc. Với năm nội dung chủ yếu như sau:

Cán bộ, đảng viên trước hết phải có lòng tin vào quần chúng nhân dân. Người căn dặn “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”, và phải biết dựa vào ý kiến của dân chúng để chỉnh sửa cán bộ và tổ chức, từ đó không ngừng nâng cao năng lực phục vụ nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải học quần chúng. Người cho rằng, “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng” nên chúng ta phải học, phải hỏi, phải hiểu dân chúng. Người cảnh báo: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng…”

Cán bộ, đảng viên phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với dân. Người nhấn mạnh. “Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình,… còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình”. Có dân chủ, mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến, tạo không khí hăng hái thi đua rộng khắp.

Cán bộ, đảng viên nói và làm gì nội dung cũng phải thiết thực với dân, xuất phát từ lợi ích của dân. Người căn dặn: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng… Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”.

Cán bộ, đảng viên đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của quần chúng song tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Người chỉ rõ “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiên tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”. Cán bộ, đảng viên lắng nghe ý kiến của quần chúng, song không phải dân nói gì cũng nhắm mắt nghe theo, mà phải biết chọn lựa, vận dụng những ý kiến tích cực, tiến bộ vào công việc, để phục vụ dân tốt hơn.

“Sửa đổi lối làm việc” thực sự là một cuốn cẩm nang quý báu, về phong cách, lối làm việc của toàn bộ hệ thống chính quyền và mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hiện thật tốt các lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta sẽ xây dựng được Đảng trong sạch, vững mạnh.

Lê Tùng
baobinhdinh.com.vn

Thương yêu, chăm sóc thiếu nhi

Sinh thời, cứ vào những ngày kỷ niệm Quốc tế thiếu nhi 1.6, Tết Trung thu, Ngày khai trường hoặc mỗi khi các cháu thiếu niên nhi đồng làm được những việc tốt, đạt thành tích xuất sắc, Bác Hồ thường có thư khen ngợi, tặng quà, tặng danh hiệu Cháu ngoan Bác Hồ. Khi sắp đi xa, trong Di chúc  Người “để lại muôn vàn tình thân yêu cho các cháu thanh niên và nhi đồng”…

Thương yêu thiếu niên, nhi đồng là tình cảm thường trực trong Bác. Bác đặt niềm tin, ân cần khuyên nhủ, nhẹ nhàng chỉ bảo “tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Tùy theo sức của mình”; biểu dương, khen ngợi kịp thời khi các cháu đạt thành tích xuất sắc, một hình thức giáo dục nêu gương, một cách nhân điển hình hiệu quả nhất. Bác chăm lo, dạy dỗ các cháu từ việc nhỏ đến việc lớn “việc gì có ích cho kháng chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Tuổi các cháu còn nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to”… Năm điều Bác Hồ dạy đã trở thành tiêu chuẩn đạo đức của trẻ em Việt Namphấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện để trở thành cháu ngoan Bác Hồ.

Bác khuyên người lớn và các nhà giáo dục trẻ em phải nắm được tâm lý trẻ em, những điều cần dạy và cách dạy trẻ em “cách dạy phải nhẹ nhàng, đừng dạy các em trở thành những ông cụ non. Đối với trẻ em phải giáo dục như thế nào cho các cháu biết đoàn kết, ham học, ham làm, nhưng phải làm sao cho trẻ có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ hoạt bát chứ không phải khúm núm đặt đâu ngồi đấy”. Bác đặc biệt nhấn mạnh, điều quan trọng nhất là người giáo dục trẻ em phải là tấm gương sáng cho các em noi theo: “Trẻ em hay bắt chước cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách phải gương mẫu, từ lời nói đến việc làm. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”. Bác chỉ thị công việc giáo dục trẻ em là công việc không phải chỉ một số người trực tiếp giáo dục trẻ em mà phải là công việc của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội.

Bác dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác thực sự gương mẫu thực hiện hai lợi ích trồng cây và trồng người. Mỗi khi các cháu đạt thành tích xuất sắc, dù bận trăm công nghìn việc của cách mạng, của Đảng, của Nhà nước, Bác vẫn không quên biểu dương, khen ngợi các cháu kịp thời. Để giáo dục và khích lệ các cháu, Bác thường nêu những tấm gương điển hình của thiếu nhi trong lịch sử và trong đời sống cụ thể hàng ngày.

Bác Hồ với một tình thương yêu bao la, một tầm nhìn sâu rộng, là người đầu tiên phát hiện và chỉ ra vai trò của thiếu nhi trong sự nghiệp cứu nước và xây dựng đất nước và cũng là lần đầu tiên khẳng định thiếu nhi là lực lượng cách mạng trong công cuộc giải phóng đất nước, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

  • Vũ Minh Quân

baobinhdinh.com.vn

Bồi dưỡng thanh niên vừa “hồng”, vừa “chuyên”

Trong “Thư gửi các bạn thanh niên” ngày 17.8.1947, Bác Hồ viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị tương lai đó”.

Đến thăm và nói chuyện tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam (20.12.1961),Bác nói: “Bác rất yêu quý thanh niên:

– Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng.

– Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc”.

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, muốn xứng đáng vai trò làm chủ thì phải học tập. Vì vậy, Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ của thanh niên. Bác chỉ rõ: “Nhiệm vụ chính của thanh niên, học sinh là học. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người làm chủ nước nhà”. Và, “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà, phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”. Bác luôn chăm lo bồi dưỡng đội ngũ thanh niên trí thức. Bác căn dặn: “Đối với thanh niên trí thức cần phải đặt câu hỏi: “Học để làm gì? Học để phụng sự ai?”.

Trước lúc đi xa, Bác đã căn dặn: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

  • Thuận Việt

baobinhdinh.com.vn

Thanh niên làm chủ nước nhà

Nói về thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Ngày nay, thanh niên là công dân của nước Việt Nam độc lập, tự do, có Đảng, có Đoàn của mình, có chính quyền, có Mặt trận, có quân đội của mình, là người chủ tương lai của nước nhà mình. Chính vì là người chủ tương lai, cho nên toàn thể thanh niên ta phải đoàn kết chặt chẽ, phấn đấu anh dũng, vượt mọi khó khăn, thi đua giúp sức vào sự nghiệp xây dựng một nước nhà tốt đẹp – một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh – để mình làm chủ mai sau”.

Trong việc giáo dục và rèn luyện lớp trẻ, Người chỉ rõ “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”. Chính vì vậy mà “Thanh niên cần phải có chí tự động, tự cường, tự lập. Phải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vị. Phải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được. Phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp”.

Theo Bác, “Nói chung thanh niên phải chuẩn bị làm người chủ nước nhà. Muốn thế phải ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa, trước hết phải rèn luyện và thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, gột rửa cá nhân chủ nghĩa; muốn thế Đoàn thanh niên phải củng cố và phát triển hơn nữa”. Người đặc biệt nhấn mạnh “Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng”.

Bởi lẽ:

“Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà,
Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”.

  • Vũ Thanh

baobinhdinh.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thanh niên

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho thế hệ trẻ sự quan tâm đặc biệt. Sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn, bức thư đầu tiên gửi về trong nước là bức thư gửi thanh niên Việt Nam (năm 1925). Từ đó cho đến khi về với Thế giới Người hiền, Bác đã để lại một di sản tinh thần hết sức lớn lao với hàng trăm bài nói, bài viết về thanh niên và công tác thanh niên.

Thanh niên luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Trần Quốc Toản, Trần Nhật Duật, Lê Lợi, Nguyễn Huệ,… đều là những người chí lớn, tài cao, lập công khi đang ở tuổi thanh niên. Hồ Chí Minh đã khái quát truyền thống đó trong cuốn “Lịch sử nước ta”:

“Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời”.

Những năm tháng tuổi trẻ, được hòa mình vào cuộc sống lao động, đấu tranh của nhân dân nhiều nước trên thế giới, Hồ Chí Minh có điều kiện tìm hiểu thêm về vai trò của thanh niên trong sự phát triển của lịch sử nhân loại. Nhờ có phương pháp luận mác xít và những hiểu biết thực tiễn phong phú, Người càng phát hiện tiềm năng to lớn của lực lượng này trong cuộc đấu tranh cách mạng và sự phát triển xã hội. Người nhận thấy thanh niên có những ưu điểm nổi trội: trẻ, khỏe, chiếm số đông trong xã hội, hăng hái, nhiệt tình, nhanh nhạy tiếp thu cái mới, giàu ước mơ … Đó là lứa tuổi ham hiểu biết, giàu niềm tin, tự thể nghiệm mình, có khả năng tiềm ẩn trong việc thực hiện lý tưởng, mục tiêu cao quý… Do vậy, nếu biết định hướng, động viên đúng thì thanh niên sẽ say sưa với lý tưởng sống cao đẹp, phát huy tài năng, tính sáng tạo, sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa.

Nhìn thấy rõ vai trò rất to lớn của thanh niên trong cách mạng văn hóa, Hồ Chí Minh  cho rằng muốn vận động nhân dân đứng lên làm cách mạng, trước hết phải làm cho tầng lớp thanh niên của dân tộc giác ngộ. Nếu họ không được giác ngộ, không đủ nghị lực, không còn sức sống, chỉ chạy theo “rượu cồn và thuốc phiện” thì dân tộc có nguy cơ diệt vong. Thanh niên phải khẳng định vai trò của mình trước vận mệnh của dân tộc. Và chính Hồ Chí Minh đã thức tỉnh được lực lượng quan trọng này. Khi thanh niên Việt Nam có lý tưởng cách mạng soi đường, họ đã hăng hái tham gia các phong trào đấu tranh, sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, cùng với Đảng, với dân tộc làm nên thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945. Chỉ trong vòng 15 năm ấy đã có hàng nghìn thanh niên trở thành cán bộ trung kiên của Đảng như Lý Tự Trọng, Trần Phú, Châu Văn Liêm, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai…

Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước độc lập, tiền đồ rạng rỡ của dân tộc được mở ra trước mắt thế hệ trẻ. Trong điều kiện mới, Hồ Chí Minh khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Khi miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người đã nhìn thấy thanh niên là lực lượng nòng cốt để xây dựng xã hội mới, bởi:

– Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ cách mạng đi trước đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thiếu niên nhi đồng – thế hệ thanh niên tương lai.

– Thanh niên là người xung phong vươn lên phía trước trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội;

– Thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và quân dân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự, trị an, bảo vệ Tổ quốc;

– Trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu: Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm.

Hồ Chí Minh khẳng định: thanh niên có sứ mạng lịch sử vẻ vang đối với cách mạng nước mình và cách mạng thế giới, đó là thanh niên trong giai cấp công nhân, giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất trong lịch sử, là người xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Người cho rằng: Thanh niên các nước đoàn kết với nhau, tin tưởng vào khả năng đấu tranh của mình để giữ gìn hòa bình thế giới, thực hiện hợp tác cùng nhau để xây dựng đời sống hạnh phúc tươi vui.

Bên cạnh việc khẳng định những ưu điểm của thanh niên, Hồ Chí Minh cũng luôn chỉ ra những mặt yếu, những nhược điểm của họ, đó là sự thiếu từng trải trong cuộc sống, một số chưa chịu khó học tập, mắc bệnh hình thức, bệnh cá nhân, tự cao, tự đại… Hồ Chí Minh chỉ rõ: phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu là con đường để tự hoàn thiện nhân cách của thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải không ngừng rèn luyện tinh thần và lực lượng cho mình, phải làm những việc chuẩn bị cái tương lai đó.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thanh niên, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên. Nghị quyết khẳng định: “Đảng ta tiếp tục đề cao vai trò, vị trí quan trọng của thanh niên; xác định thanh niên là lực lượng xung kích trong giai đoạn cách mạng mới”; “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người”. Đồng thời nêu rõ “thanh niên nước ta đang đứng trước những cơ hội, thuận lợi lớn, nhưng cũng phải đương đầu với những khó khăn, thách thức không nhỏ…”.

Chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng, vừa chuyên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng đề ra đường lối, chủ trương định hướng cho thanh niên hành động, xác định các chuẩn mực cho thanh niên phấn đấu; xây dựng các tấm gương điển hình tiêu biểu cho thanh niên học tập và noi theo. Bên cạnh đó, sự nỗ lực học tập, rèn luyện và phấn đấu không ngừng của thanh niên theo tấm gương Hồ Chí Minh là yếu tố quan trọng để xây dựng thế hệ thanh niên thời kỳ mới.

Lê Văn Điện
Trường Chính trị thành phố Cần Thơ

xaydungdang.org.vn