Thư viện

Tư tưởng “Vì con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 40 năm di chúc của Bác Hồ:

Bác Hồ đã đi xa 40 năm song giá trị tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Người luôn đau đáu vì nền độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc ấm no của mỗi con người. Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần tư tưởng lớn, vĩ đại bậc nhất của Bác: Vì con người.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đến mọi tầng lớp xã hội, trong đó Người đặc biệt quan tâm đến nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác không có gì xa lạ. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người: Chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người bôn ba chân trời góc biển vì nền độc lập của dân tộc, để “người cày có ruộng”, để “ruộng đất về tay dân cày”, để “mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ái cũng được học hành”. Trong con đường đi đến hạnh phúc ấm no, người nông dân Việt Nam luôn có Bác đi cùng.

Trước khi đi xa, người để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng chí, đồng bào. Bản di chúc kết tinh tư tưởng, tình cảm vì con người của Người ngắn gọn, súc tích nhưng dung dị, chứa đựng tình cảm bao la như trời biển. Bản di chúc được Người viết, bổ sung, sửa chữa nhiều lần, lần nào cũng có những dòng, những đoạn dành cho nông dân. Trong phần bổ sung Di chúc được Bác viết tháng 05/1968, Bác dành một đoạn nói về giai cấp nông dân Việt Nam.

Người dùng từ “đồng bào nông dân” rất gần gũi, rất riêng để tuyên dương công lao to lớn và lòng trung thành vô hạn đối với Đảng và Chính phủ trong kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ. Người căn dặn miễn thuế nông nghiệp cho nông dân. Người viết: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các HTX nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Người đã nhìn đến tận cùng gốc rễ sâu xa của kế sách an dân sâu rễ bền gốc mà ông cha ta ngàn năm trước vẫn dùng. Đó là sau chiến tranh phải chú ý chính sách vỗ về, an dân để nông dân từng đóng góp nhiều sức người, sức của cho kháng chiến, chịu nhiều thiệt thòi, mất mát trong chiến tranh có cơ thoát khỏi cơ hàn mà thêm hỉ hả, trung thành với chế độ.

Thực hiện theo di chúc của Người, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 đã ra Nghị quyết “Thực hiện miễn thuế nông nghiệp theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Miễn giảm thuế nông nghiệp tiến tới hạn chế và xoá bỏ dần những đóng góp ở khu vực nông thôn để người nông dân có điều kiện tái đầu tư sản xuất chính là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thực hiện theo đúng tinh thần và mong muốn của Người.

Bác Hồ luôn coi trọng mặt trận sản xuất nông nghiệp. Ngay trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng mong muốn mọi người khi đến thăm viếng đều có ý thức trồng cây, gây rừng để có lợi cho sản xuất nông nghiệp. Người từng nói: “Nông dân ta giàu, thì nước ta giàu – Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”. Thực tế càng khẳng định vai trò của sản xuất nông nghiệp, nhất là trong thời điểm khủng hoảng kinh tế như hiện nay, thì sản xuất nông nghiệp chính là giá đỡ của nền kinh tế. Ngôi nhà kinh tế của đất nước sẽ nghiêng ngả khi nền móng sản xuất nông nghiệp không vững chắc.

Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần tư tưởng lớn, vĩ đại bậc nhất của Bác. Bác lập luận một cách nôm na, dễ hiểu: “ Dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời”. Chính vì vậy, Người yêu cầu và chỉ rõ trách nhiệm của Đảng và Chính Phủ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào sức mạnh, vị trí của nông dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Người cho đây là cuộc Cách mạng nông dân và sản xuất nông nghiệp là một mặt trận. Thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp chính là thắng lợi của Cách mạng. Từ đây, vấn đề an ninh lương thực lại càng trở nên quan trọng.

Thực hiện di chúc của Bác, làm theo lời Bác, vấn đề nông nghiệp-nông thôn-nông dân đã được đặt lên bàn nghị sự và ngày 5/8/2008, Nghị quyết số 26- NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 10 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ra đời, đã xác định rõ “Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển”. Theo đó, một loạt vấn đề về nông nghiệp-nông thôn-nông dân trở thành những vấn đề thời sự, nóng hổi của đất nước.

Mới đây, Nghị định 69/CP về quy hoạch sử dụng đất, đền bù, hỗ trợ người dân sau thu hồi đất đã có nhiều quy định có lợi cho nông dân và nhiều chính sách như kích cầu cho khu vực nông thôn, bảo hiểm lúa gạo cho bà con nông dân ĐBSCL… Đó là những tin vui liên tiếp đến với nhà nông vào dịp kỷ niệm 64 năm Quốc khánh đất nước và kỷ niệm 40 năm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đúng như mong muốn của Người, để làm sao: “Người nghèo thì đủ ăn; người đủ ăn thì khá, giàu; người khá, giàu thì giàu thêm”./.

Tuyết Yến

phunu.hochiminhcity.gov.vn

Trọng dân và phát huy quyền làm chủ của dân

Bác Hồ với các anh hùng, chiến sĩ thi đua quân giải phóng miền Nam

Trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội hiện nay, thật hiếm có con người nào được tôn vinh như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác được toàn dân yêu mến bởi Người luôn luôn tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hòa với dân thành một khối thống nhất, chăm lo lợi ích cho dân, thương yêu và giáo dục đạo đức mới cho nhân dân.

Khi có chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo xây dựng mối quan hệ giữa Ðảng với nhân dân. Năm 1947, Bác đã viết tác phẩm “Dân vận”, nêu bật vai trò quyết định của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng và Người đã chỉ ra rằng, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công. Theo đó, công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác. Từ lòng yêu nước, thương dân mà Bác bất chấp mọi nguy nan, gian khổ tìm đường cứu nước, cứu dân. Tình yêu thương quý trọng con người của Bác dành cho giai cấp cần lao, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc bị áp bức, bóc lột dưới chế độ thực dân, phong kiến.

Yêu nước, thương dân là phẩm chất cao đẹp nhất của người cách mạng và Người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân, đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Yêu nước thương dân, thương nhân loại bị áp bức, bóc lột thì đạo đức lớn nhất là làm cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.

Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và khéo dùng khái niệm “trung với nước, hiếu với dân” thể hiện một tư tưởng đạo đức cơ bản: yêu nước thương dân của người cách mạng.

Nội dung và yêu cầu của “trung với nước, hiếu với dân” trong điều kiện Ðảng cầm quyền có nhiều vấn đề mới do Ðảng và nhân dân có chính quyền làm công cụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, nâng cao đời sống nhân dân. Song, như Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo, ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập năm 1945, Ðảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên dễ mắc vào quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, nhân dân; thoái hóa, biến chất, độc đoán, chuyên quyền, tham ô, lãng phí… vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Và để chống các bệnh ấy, Bác đã chỉ rõ rằng: Ðảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Ðảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai.

Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước. Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm.

Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Ðó là đạo đức của người Cộng sản. (Xem Hồ Chí Minh: Về Ðảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 1993, tr.144)
Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân hiện nay không chỉ là bảo đảm quyền làm chủ về chính trị mà cần tạo điều kiện để mọi người dân làm chủ về kinh tế, không chỉ đáp ứng nhu cầu giải phóng tư tưởng mà còn là nhu cầu giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng tiềm năng của mọi người.

Sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước mở ra những cơ hội mới, cơ hội lớn cho mọi người dân vươn lên làm chủ về kinh tế, làm giàu, sớm thoát khỏi tình trạng nước nghèo, trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại đến 2020 và thực hiện những quyền, khát vọng của dân tộc, “sánh vai với các cường quốc năm châu” trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập với thế giới.

Sự nghiệp đó đòi hỏi người cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị phải sâu sát với cuộc sống của nhân dân, thật sự phát huy quyền làm chủ của dân, tôn trọng ý kiến và quyền lợi chính đáng của nhân dân. Nói thì phải làm và làm nhiều việc ích nước, lợi dân. Ðặc biệt là đối với bộ máy Nhà nước, các cơ quan dân cử cần thấm nhuần lời dạy của Bác mà đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt bỏ những thủ tục phiền hà đối với nhân dân, thật sự phát huy vai trò người đại biểu của dân trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Vì dân, tận tụy phục vụ nhân dân là mục đích cao đẹp của đạo đức cách mạng mà Bác Hồ nhiều lần căn dặn cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu nhất về đạo đức cách mạng, suốt đời tận tụy lo cho dân, “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”.

Trong Di chúc, Người viết: “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cốt lõi trong đạo đức mà người cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần và thực hành, rèn luyện suốt đời, không ngừng, không nghỉ là cần, kiệm, liêm, chính. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví bốn đức đó của con người như bốn phương của đất, bốn mùa của trời để khẳng định, thiếu một đức thì không thành người để nói lên ý nghĩa và quan hệ của cần, kiệm, liêm, chính trong đạo đức cách mạng.

Và, cùng với cần, kiệm, liêm, chính, đạo đức của người cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện Ðảng cầm quyền thì chí công vô tư là yêu cầu, phẩm chất hàng đầu. Người đã từng chỉ rõ, giặc nội xâm, kẻ thù bên trong của Ðảng, Nhà nước, ở trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chính là quan liêu, tham ô, lãng phí. Nguyên nhân của tệ quan liêu, nạn tham ô, lãng phí, cái làm cho cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân.

Do đó, người cán bộ, đảng viên thật sự chí công vô tư thì phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải rèn luyện để trở thành tấm gương về đạo đức cách mạng. Song, Bác Hồ cũng nói rõ, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân” mà phải chăm lo những lợi ích cá nhân chính đáng, chăm lo cho cuộc sống của cán bộ, đảng viên và gia đình họ.

Ðiều có ý nghĩa sâu sắc đối với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là thực hiện những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng. Ðó là xây đi đôi với chống; tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời; nói đi đôi với làm, nêu gương sáng về đạo đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta noi theo, cho nên Người tự nêu gương về đạo đức cách mạng và lấy gương đảng viên, cán bộ dám xả thân vì Ðảng, vì dân, vì cách mạng mà hy sinh, chịu đựng gian khổ, dũng cảm chiến đấu, hăng say lao động, công tác, “người tốt, việc tốt” để giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu gương về đạo đức là phẩm chất rất cơ bản của người đảng viên, cán bộ. Ðó cũng là yêu cầu hàng đầu đối với cán bộ, đảng viên hiện nay. Nêu gương đạo đức của đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và lời dạy của Người thì người đảng viên đối với mình tuyệt nhiên không tự cao, tự đại mà luôn học hỏi cầu tiến bộ, thật thà tự phê bình để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, cái hay, cái tốt của bản thân.

Ðối với người thì chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thân ái, không a dua, nịnh trên, nạt dưới, dối trá, lọc lừa. Ðối với việc công, việc nước, việc của dân thì có quyết tâm làm cho tốt, không sợ khó khăn, không nề gian khổ, ham làm việc thiện, tránh việc ác, mỗi ngày đều cố gắng làm việc lợi nước, ích dân “việc gì hại cho dân thì phải tránh, việc có ích cho dân thì gắng sức làm”.

Nêu gương đạo đức của người đảng viên hiện nay còn là gương mẫu từ lời nói đến việc làm. Ðáng kể nhất là gương mẫu chấp hành Nghị quyết của Ðảng và pháp luật của Nhà nước, chăm lo xây dựng gia đình văn hóa. Vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng của việc nêu gương đạo đức của người đảng viên là tính tự giác, tính chủ động. Muốn làm tốt điều đó người đảng viên cần chú ý tự tu dưỡng, tự mình học tập nâng cao kiến thức, năng lực làm việc, tự mình rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức của người đảng viên.

Nêu gương đạo đức của người đảng viên hiện nay còn là lấy chất lượng cuộc sống của nhân dân, tinh thần và thái độ của dân đối với Ðảng, đối với nhà nước và cán bộ, đảng viên, công chức để đánh giá vai trò, hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Nêu gương tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức ngăn ngừa suy thoái về đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, lãng phí.

Người đảng viên không chỉ nói không với tiêu cực, tham nhũng mà từ trong suy nghĩ, việc làm phải kiên quyết, chống lại những tệ nạn này từ ngay bản thân mình và đồng chí, những người trong cơ quan, đơn vị mình có biểu hiện, dấu hiệu vi phạm.

Theo đó, tự phê bình và phê bình của người cán bộ, đảng viên, của cấp ủy và chính quyền các cấp cần được tiến hành thường xuyên như “rửa mặt hằng ngày” với tinh thần xây dựng, có tình thương yêu đồng chí, đoàn kết thật sự, nghiêm khắc sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, nâng cao được năng lực và sức chiến đấu, làm cho Ðảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Báo Nhân Dân

dalat.gov.vn

Quê hương Nghệ An trong lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Congannghean.vn)Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người đã lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bão tố thác ghềnh, đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Người được tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hơn 42 năm Người đã đi xa nhưng tư tưởng, tình cảm của Bác Hồ luôn sống mãi với Đảng bộ và nhân dân Nghệ An.

Quê hương – Cội nguồn tư tưởng Hồ Chí Minh

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nguồn gốc là nông dân, thân phụ của Người – cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho yêu nước thương dân, thân mẫu của Người – cụ Hoàng Thị Loan là một người phụ nữ đảm đang hội tụ các đức tính công, dung, ngôn, hạnh. Thân mẫu và thân phụ ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng yêu nước thương dân, ảnh hưởng sâu sắc đến tình cảm, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nghệ An – quê hương của Người có nhiều anh hùng nổi tiếng trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm như Mai Thúc Loan, Phan Bội Châu… mảnh đất có truyền thống hiếu học đã hun đúc nên tư tưởng nhân văn cao cả Hồ Chí Minh. Từ nhỏ Người đã hiểu nỗi nhục mất nước, chứng kiến bao tội ác của bọn thực dân Pháp đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước.

Ngày 05/6/1911, Người đã lên tàu La-tút-sơ Tê-rê-vin bôn ba hải ngoại, đi nhiều nơi, ở nhiều nước, làm nhiều nghề nhưng trong lòng của Người luôn đau đáu về quê hương đất nước, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Bác Hồ với quê hương

Dù bận trăm công nghìn việc, Người chưa về thăm quê được, nhưng Người luôn viết thư thăm hỏi động viên tỉnh nhà, xã nhà và mỗi khi có các đồng chí lãnh đạo tỉnh, cán bộ ở quê ra công tác ở Hà Nội, Người gặp gỡ ân cần, hỏi thăm về quê hương.

Ngày 14/6/1957, Người mới về thăm quê hương với nỗi niềm xúc động: “Người ta về thăm quê thì mừng mừng tủi tủi. Tôi về thăm quê thì chỉ thấy mừng mừng!’, “Là vì: bây giờ nước ta được độc lập tự do, nhân dân được sống cuộc sống hạnh phúc, ai cũng có cơm ăn áo mặc, các cháu được học hành”. Nhân dịp này Người đọc hai câu thơ thật xúc động:

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”

Các nơi Người đến thăm, Người đều ân cần căn dặn, phải đoàn kết xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền đoàn thể và ra sức tăng gia sản xuất, thực hành cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Người chỉ ra nhiệm vụ trước mắt và phương hướng hoạt động lâu dài để quê hương giành nhiều thắng lợi.

Người căn dặn và nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Nghệ An, Người khẳng định: “Nghệ An có truyền thống cách mạng…” và Người dặn dò: “Hôm nay Bác giao cho các cô, các chú có những nhiệm vụ khó khăn nhưng các cô, các chú quyết tâm sẽ làm được…”, “Tất cả cái gì thuộc về quốc kế dân sinh ở Nghệ An là các cô, các chú phụ trách. Muốn làm như thế phải nắm vững nguyên tắc gì? Một là nguyên tắc đoàn kết nội bộ. Hai là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Như vậy là phải dân chủ nội bộ, muốn dân chủ nội bộ thì cần gì nữa, phải phê bình và tự phê bình”.

Bác khen ngợi những thành tích đã đạt được và nhắc nhở đồng bào và cán bộ phải ra sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, các ngành nghề khác. Bác căn dặn bộ đội, công an, dân quân tự vệ, cán bộ, công nhân, thanh niên, phụ nữ.

Đối với công nhân Bác căn dặn thêm: “Công nhân là giai cấp lãnh đạo góp phần xây dựng XHCN ở miền Bắc, là cơ sở cho việc đấu tranh thống nhất nước nhà. Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo phải làm thế nào cho xứng đáng, lãnh đạo để mọi người tin cậy”.

Bác về thăm quê Làng Sen ngày 09/12/1961, Người không quên lối cũ vườn xưa, nhớ cụ Thuyên bạn học đi câu cá thuở còn nhỏ, nhớ từng kỷ vật thiêng liêng của gia đình, nhớ về thầy giáo, bà con láng giềng.

Bác giành tình cảm đặc biệt cho quê hương, khen ngợi những tiến bộ của xã nhà, huyện nhà, tỉnh nhà. Chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm, nguyên nhân cần khắc phục như “củng cố và phát triển hợp tác xã cho tốt, làm ngày công cho nhiều, xã viên thu nhập cao, văn hóa tốt, trật tự trị an tốt” và “tốt ở đây không phải là làm nhà khách cho tốt, nước trà cho nhiều mà khi có khách các chú đưa họ đến xem cái tốt”.

Tấm lòng của Bác đối với Nghệ An thật là sâu nặng. Trong các bức thư, các bài viết, bài nói chuyện hay những bức điện gửi về cho quê hương đã nói lên tấm lòng sâu nặng của Người đối với quê hương. Người chỉ mong muốn, “đồng bào cán bộ cần phải có quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh ta thành một trong những tỉnh khá nhất của miền Bắc”. Bác Hồ đã đi xa, nhưng những lời căn dặn của Bác vẫn còn vang vọng.

“Còn non, còn nước, còn người
Đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Người đã giành muôn vàn tình thân yêu cho đồng bào đồng chí, riêng tỉnh Nghệ An, Bác đã giành những lời tâm huyết trong bức thư gửi về cho Đảng bộ Nghệ An ngày 21/7/1969.

Nghệ An đã đạt được những thành tựu quan trọng. Hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo và thực hiện mong ước của Người trước lúc đi xa “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Kỷ niệm 50 năm Bác Hồ về thăm quê lần thứ 2 (ngày 09/12/2011), Đảng bộ và nhân dân Nghệ An luôn khắc ghi lời căn dặn của Người và nguyện nỗ lực phấn đấu xây dựng tỉnh Nghệ An thành một trong những tỉnh khá nhất như Bác hằng mong muốn.

Nguyễn Bá Hòe

congannghean.vn

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

(DVHNN) 1. Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân quên mình, chăm lo đến lợi ích của dân, dân chủ với dân, thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội là một tư tưởng lớn, mang tính văn hóa, nhân văn, nhân đạo cao cả và tính cách mạng, tính nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người tận tâm suốt đời với sự nghiệp đấu tranh để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Chưa thấy ai nói lên được đầy đủ nỗi khổ của nhân dân, phản ánh chân thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và cũng chưa thấy ai bênh vực quyền lợi cho nhân dân như Hồ Chí Minh.

Ngay từ những năm, tháng gian nan vất vả đi tìm đường cứu nước, Người đã nói rõ mục đích của mình là để giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ ở Việt Nam. Dân tộc là đấu tranh để giải phóng dân tộc, dân chủ là giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. Tư tưởng dân chủ của Người được phát triển từng bước, khi Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Một nước dân chủ, theo quan điểm của Người là tất cả lợi ích, quyền hạn, quyền hành, trách nhiệm đều quy về nơi dân, đều ở nơi dân. “Nhân dân”, hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên trong lòng Người, cũng là tiếng chuông rung lên trong hàng triệu, hàng triệu trái tim của nhân dân Việt Nam. Ngay từ năm 1907, 1908, Người đã chứng kiến sức quật khởi vùng lên của nhân dân trong phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ. Từ “đồng bào” (chung một bọc) được Người dùng từ đây và trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Người lấy đức, lấy tình thương yêu thật sự để cảm hóa dân.

Tư tưởng trọng dân được thể hiện không chỉ ở những trang sách lý luận bàn về dân, dân làm chủ, mà điểm chính yếu là người ta đã tìm thấy trong hoạt động thực tiễn của Người. Trọng dân, Người đến với dân. Trọng dân, Người gần gũi với các cụ già, trẻ thơ, thăm hỏi ân cần những người dân lương thiện, lao động cần cù, một nắng hai sương, an ủi họ, tạo mọi điều kiện để họ có cơ hội sống tốt, sống khỏe, sống vì mình, vì người, vì cộng đồng của 54 dân tộc anh em.

Tư tưởng dân chủ là tư tưởng tiến bộ nhất của phương Tây thời cận, hiện đại. Hồ Chí Minh xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện tiếng nói của dân tộc là tiếng nói chung của nhân dân, các quyền của nhân dân, chính quyền thật sự của nhân dân.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến lòng tin của người dân với Ðảng và Nhà nước, cụ thể là với những người lãnh đạo, quản lý. Người cho rằng, muốn được dân tin Ðảng, tin Nhà nước của mình, thì người lãnh đạo và quản lý, trước hết, phải dân chủ với dân, tôn trọng dân như tôn trọng chính bản thân mình. Không tôn trọng dân, không dân chủ với dân sẽ làm khoảng cách giữa Ðảng, Nhà nước với dân ngày một xa, làm cho lãnh đạo và người dân cách biệt nhau, xa rời nhau. Người chỉ ra: Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra. Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nói ra, cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù dập. Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Ðảng im tiếng, ngoài Ðảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ cần phải nâng cao, mở rộng dân chủ, để cho người dân được “mở mồm”, động viên mọi người suy nghĩ để làm những việc ích lợi cho dân.  Người nói: Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: Dân rất tốt. Theo Người: Mỗi công việc của Ðảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, đó là trọng dân.

Hồ Chí Minh đã thường xuyên giáo dục cán bộ phải làm tốt công tác vận động nhân dân. Dân vận là vận động từng người dân, góp thành lực lượng toàn dân để chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ đất nước. Ðiều quan trọng là kiên trì giải thích cho dân hiểu trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích của mình. Người lãnh đạo chân chính bao giờ và bất cứ việc gì cũng phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, sao cho phù hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, lòng ham ý muốn của dân. Xét cho cùng, mọi cái đều từ dân mà ra và trở về nơi dân. Ðể cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là trọng dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề quan trọng bậc nhất là vấn đề lợi ích của người dân. Nếu lãnh đạo mang lại lợi ích thiết thực cho dân, sẽ làm cho dân tin Ðảng, tin chế độ. Nguyên tắc chung của chính sách với dân là tạo sự hài hòa giữa ba lợi ích: Lợi ích công dân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, trong đó, phải hết sức coi trọng lợi ích của người lao động chân chính. Ðiều tiết thu nhập hợp lý và phân chia công bằng lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân là việc làm có ý nghĩa nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào Ðảng và Nhà nước. Muốn mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, trước hết, phải có chính sách đúng.  Quan điểm của Hồ Chí Minh là, tất cả đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước đều có ảnh hưởng trực tiếp đến dân, đều phải hướng vào dân và nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Trong Di chúc, Người viết: Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân (Người gạch dưới nhấn mạnh cụm từ “nâng cao đời sống của nhân dân”). Mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, là trọng dân.

2. Hồ Chí Minh là người có phong cách rất đặc biệt để gần dân. Ðó là phong cách cao thượng đến giản dị. Tiết kiệm và giản dị là phong cách nổi trội của Hồ Chí Minh. Vì vậy, dân được đến với Người, được đứng bên người, được trò chuyện với Người, như được trò chuyện với người hiền, người cha, người thân yêu nhất của mình. Ðến với nông dân, Người mặc quần nâu, áo vải, khăn mặt vắt vai, đầu đội mũ cát. Ðến với công nhân, Người mặc bộ quần áo xanh đã bạc mầu, đi đôi dép cao-su. Ðến với trí thức, Người mặc bộ quần áo ka-ki mầu vàng, đi đôi giày vải, thể hiện sự hòa đồng rất tự nhiên với nhân dân lao động nói chung.

Sự tiết kiệm đến mẫu mực, thể hiện phong cách cao thượng  của  Hồ Chí Minh.

Tham ô (mà ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng) và lãng phí, dựa vào tiền “chùa” để ăn chơi vung phí, cái mà Người ghét cay, ghét đắng, thường xuyên lên án. Người nói: Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân. Lãng phí tuy khác với tham ô ở chỗ người gây ra lãng phí không trực tiếp trộm cắp của công làm của riêng. Nhưng kết quả thì làm tổn hại nghiêm trọng cho Nhà nước, cho nhân dân.

Tiết kiệm thời giờ là một trong những phong cách đặc sắc, thể hiện đạo đức cao quý của Hồ Chí Minh. C.Mác có lần đã nói: Tiết kiệm thời gian chính là một trong những nguồn gốc để tạo nên giá trị và giá trị sử dụng. Với Hồ Chí Minh, vấn đề tiết kiệm thời gian được xem như “thì giờ là vàng ngọc”, cho nên phải tiết kiệm thì giờ đi đôi với tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nó phải được xem như là một yếu tố kinh tế – xã hội, là vấn đề mang tính quy luật của quá trình vận động xã hội. Người là hiện thân và mẫu mực của việc sử dụng thời gian hợp lý trong mọi công việc. Trong hồi ký của một vị lão thành cách mạng kể rằng, khi còn là người đi lao động làm thuê ở nước ngoài trong lộ trình đi tìm đường cứu nước, đã chiếm hết thời gian trong mỗi ngày của Bác, nhưng khi rảnh rỗi, nhất là về đêm, Bác lại tranh thủ học tập, nghiên cứu. Khi trở về Tổ quốc thân yêu để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Bác đã dành hết thời gian để chăm lo, xây dựng lực lượng cách mạng, phát động quần chúng, tiến lên giành thắng lợi trong tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong những ngày hòa bình lập lại ở miền bắc, Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ và nhân dân phải tranh thủ mọi thời gian để lo vào việc sản xuất và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền bắc, ủng hộ đồng bào miền nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiết kiệm thời gian sẽ góp phần đẩy nhanh tới thống nhất đất nước.

Phong cách gần dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở những công việc giản dị, đơn sơ hằng ngày khi tiếp xúc với dân, ở cách cư xử đầy tính nhân văn của tình người, tình làng, nghĩa xóm. Trong Hồi ký: Con đường theo Bác, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã kể lại, trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hồi ở núi rừng Việt Bắc, Ðảng, Chính phủ và Bác đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, nông dân, trường học, các lực lượng vũ trang như phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm. Bản thân tôi thuộc loại “chân yếu” (1), nhưng chiều nào cũng vác cuốc đi tăng gia. Có hôm cuốc đất tới lúc trời tối hẳn mới về. Sự cố gắng được đền bù bằng những luống rau xanh, bí, ngô, khoai. Tôi trồng được một vườn bí sai quả. Khi bí to, tôi hái vài quả, nhờ đồng chí thư ký mang sang biếu Bác. Bác nhận bí, rồi gửi lại đồng chí thư ký chuyển cho tôi bức thư. Trong thư, Bác đề vẻn vẹn có hai câu thơ:

“Ăn quả nhớ người trồng cây

Cảm ơn chú Việt. Bí này còn non”.

Câu thơ của Bác nhắc nhở tôi đừng vội hái quả non, mọi cái phải đạt tới “độ chín” mới có giá trị. Cách nhắc nhở nhẹ nhàng của Bác làm tôi thấm sâu. Ðặc điểm trong phong độ của Bác bao giờ cũng tế nhị, nhưng sâu sắc, chính vì thế mà Bác cảm hóa được nhiều người.

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là điểm hội tụ hợp thành đạo đức Hồ Chí Minh. Người là hiện thân của đạo đức, tình cảm, lương tâm, danh dự vì nhân dân.

Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là việc làm đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Tiếc rằng, trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên còn không ít những người xa dân, lên mặt với dân. Miệng nói phục vụ nhân dân, nhưng trong lòng lại chỉ muốn nhân dân phục vụ mình. Miệng nói nguyện làm đầy tớ của dân, nhưng việc làm lại bắt dân làm đầy tớ cho mình, còn mình thì chễm trệ ngồi trên ghế ông chủ. Miệng nói mang lại lợi ích cho dân, nhưng trong lòng lại chỉ lo thu vén cho mình. Trên bục giảng, có người thao thao bất tuyệt về học tập đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng khi về đến nhà lại đánh nhau với người hàng xóm. Thật trớ trêu! Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải rất nghiêm túc trong việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Người, mỗi người chúng ta phải phấn đấu, rèn luyện rất gian khổ, thì mới có thể thấm nhuần tư tưởng đạo đức trọng dân và phong cách gần dân của Người.

Chúng ta hãy thực hiện điều mong ước của Người: Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Ðược như thế thì trong Ðảng sẽ không có bệnh mà Ðảng sẽ mạnh khỏe vô cùng.

(1) Bản thân đồng chí Hoàng Quốc Việt, trong thời gian hoạt động bí mật của những ngày đầu thành lập Ðảng, bị mật thám Pháp bắt, đánh đến tàn phế, què chân, suốt đời phải đi “cà nhắc”, cho nên đồng chí đó thường nói vui: Tôi thuộc loại chân yếu, tay mềm.

PGS. TS ÐỨC VƯỢNG
Nguồn tin: THEO NHÂN DÂN ĐIỆN TỬ

dvhnn.org.vn

Trọng dân – Một tư tưởng lớn của Bác Hồ

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng ngày 11-2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng”. Người chỉ rõ sự cần thiết phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng: Không có quần chúng thì không có lực lượng. Không có Đảng thì không có người lãnh đạo, hướng dẫn, chỉ đường. Người nhấn mạnh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng”. “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn”.

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi mới nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Theo Bác Hồ, Đảng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Còn các tầng lớp của nhân dân phải tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức. Nhân dân là nguồn bổ sung vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân. Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao những phần tử ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Chủ tịch nước – Người trả lời các nhà báo: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận” (1). Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó “là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta. Người dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”(2). Trước lúc đi xa Bác Hồ đã căn dặn toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên rằng: Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc.

Bác Hồ từng nói: Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất theo triết học phương Đông như Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng…”, “Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân…” là một tư tưởng lớn của Bác Hồ về trọng dân xuyên suốt từ ngày thành lập Đảng đến nay. Tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng dân, suốt đời vì cách mạng, vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không ham danh lợi, với một lối sống chân thực, giản dị, khiêm nhường của Bác Hồ là tấm gương đạo đức vô cùng trong sáng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chúng ta học tập và noi theo.

Tô Phương

haugiang.gov.vn

Tác phẩm “Đời sống mới” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng nông thôn mới hiện nay

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đời sống mới từ 64 năm trước đã tạo nên động lực to lớn thúc đẩy kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, lời dạy ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng; trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế toàn diện và chuyển đổi kinh tế toàn cầu.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Xây dựng đời sống mới”. Ngày 3/4/1946, Ủy ban vận động đời sống mới Trung ương được thành lập. Một năm sau (20/3/1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đời sống mới” với bút danh là Tân Sinh để chỉ đạo và động viên phong trào. Ngày nay, tác phẩm Đời sống mới của Người vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng.

Trong lời tựa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa của Tác phẩm là giúp nhân dân ta thực hành đời sống mới để cứu quốc và kiến quốc: “Trong lúc kháng chiến cứu quốc chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc. Anh Tân Sinh viết quyển “ Đời sống mới” một cách vắn tắt, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu. Đó là một quyển sách nhỏ, chỉ rõ bước đường đời sống mới. Tôi mong đồng bào ta mỗi người có một quyển Đời sống mới để xem, để hiểu, để thực hành đời sống mới. Như thế, chúng ta nhất định sẽ tiến bộ hơn”.

Theo Người, thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Người giải thích: “Chính trong lúc này càng phải thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Quân đội phải siêng tập, siêng đánh. Nhân dân tăng gia sản xuất, phải siêng làm, thì kháng chiến chắc chắn thắng lợi, thế cho nên phải Cần. Binh sĩ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn một tên thù. Cho nên phải Kiệm. Mọi người đều trong sạch, không tham lam, không đem của công dùng vào việc tư, thì mọi việc mới chạy. Cho nên ai cũng phải Liêm. Mỗi người quốc dân đều phải vì nước quên nhà, hăng hái ủng hộ kháng chiến, ra sức tăng gia sản xuất, trừ diệt bọn bán nước hại dân quyết làm cho Tổ quốc thống nhất độc lập. Thế là Chính”. Người cũng giải thích rằng, đạo đức mới không phải là gạt bỏ mọi cái cũ mà phải phát huy những tinh hoa về truyền thống yêu nước, cần cù lao động, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách,….Người viết: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước. Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp. Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của đời sống mới”.

Đời sống mới bao gồm đời sống mới riêng cho từng người và đời sống mới chung cho cộng đồng, tập thể như các gia đình, làng xã, các bộ đội, các nhà máy, trường học, các công sở,…Về tinh thần, đời sống mới phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính; nếu không làm được như vậy, thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân. Phải yêu tổ quốc, quan tâm đến lợi ích chung, không kiêu căng, không nịnh hót, không tham lam, không bủn xỉn. Phải ham học, một người không biết chữ, biết tính thì như nửa mù nửa sáng, biết rồi thì học thêm nữa. Về hành động để thực hành đời sống mới không ngoài năm việc là ăn, mặc, ở, đi lại, làm. Đời sống mới không tách rời tăng gia sản xuất. Người giải thích: “ Việc tăng gia sản xuất cũng như mọi việc khác, đều rất quan hệ với đời sống mới. Tăng gia sản xuất tức là một bộ phận của đời sống mới. Có tinh thần của đời sống mới, thì tăng gia sản xuất mới chóng thành công. Mà tăng gia sản xuất có thành công, thì đời sống mới dễ thực hiện. Muốn tăng gia sản xuất, mọi người phải Cần, phải Kiệm. Không Cần, thì phí thời giờ nhiều mà sản xuất được ít. Không Kiệm thì làm được bao nhiêu, dùng hết bấy nhiêu, rút cục cũng như sản xuất được ít. Tăng gia sản xuất ích riêng cho mình mà cũng ích chung cho cả nước. Nếu không có tinh thần Liêm và Chính, nếu tham lam ích kỷ, thì không thể phát đạt việc tăng gia sản xuất. Vì vậy, tăng gia sản xuất và đời sống mới phải đi đôi với nhau, không thể lìa nhau”.

Thực hành đời sống mới là công việc của mọi người dân, bắt đầu từ cội nguồn là mỗi người, gia đình, làng xã. Người viết: “ Do nhiều người nhóm lại mà thành Làng, do nhiều Làng nhóm lại mà thành Nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành Làng xấu, Nước hèn; nếu mỗi người cá nhân tốt, thì Làng tốt, Nước mạnh. Người là gốc của Làng, Nước, nếu mỗi người cố gắng làm đúng đời sống mới thì Dân tộc nhất định phú cường”. Đối với mỗi người, Người yêu cầu: Việc gì có lợi cho Nước phải ra sức làm, việc gì hại cho Nước phải hết sức tránh; bất cứ việc to, việc nhỏ, có ích chung thì phải hăng hái làm. Đối với làng xã, việc thực hiện đời sống mới, theo Người, cần phải làm những việc sau: Về văn hóa phải làm cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân. Về phong tục, phải cấm hẳn say sưa cờ bạc, hút sách, trộm cắp, đĩ điếm. Tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau. Làm cho làng mình trở thành một làng “thuần phong mỹ tục”. Trong Tác phẩm, Người dành một phần để nói về văn hóa gia đình. Trong gia đình, thực hiện đời sống mới về quan hệ thì trên thuận, dưới hòa, bình đẵng, tôn trọng, tin cậy lẫn nhau, không thiên tư, thiên ái; về vật chất từ ăn mặc, đến việc làm đều tiêu pha có kế hoạch, ngăn nắp; cưới hỏi giỗ tết nên đơn giản tiết kiệm; quan tâm tới con cái, đến việc tu dưỡng học hành, kỷ cương nề nếp; giải phóng phụ nữ và thực hiện nam nữ bình đẳng.

Để nhân dân nhận thức đúng và thực hành tốt đời sống mới, theo Người, cần coi trọng công tác thông tin tuyên truyền: “Trước hết, phải tuyên truyền, giải thích và làm gương. Phỉ chịu khó nói rõ cho mọi người hiểu đời sống mới có ích thế nào, cách thi hành đời sống mới thế nào. Nói một lần họ chưa hiểu thì nói nhiều lần. Nói đi, nói lại, bao giờ người ta hiểu, người ta làm mới thôi. Nói thì phải nói một cách đơn giản, thiết thực với hoàn cảnh mỗi người; nói sao cho người ta nghe rồi làm được ngay. Việc dễ, việc nhỏ làm được rồi, sẽ nói đến việc to, việc khó….Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới, Đảng và Nhà nước ta đã khởi xướng và tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới là xây dựng đời sống mới, lối sống mới, là thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính bằng chương trình mục tiêu quốc gia; nhằm CNH, HĐH nông thôn, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong 19 tiêu chí nông thôn mới do Chính phủ đặt ra, có tiêu chí về văn hóa. 11 nội dung xây dựng nông thôn mới cũng chính là thực hành đời sống mới Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thực tiễn xây dựng nông thôn mới thời gian qua cho thấy, có 4 chương trình mục tiêu cơ bản, trọng tâm cầm tập trung chỉ đạo và thực hiện là: Quy hoạch, phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đời sống văn hóa. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, 11 nội dung chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới, nhất là phát triển sản xuất hàng hóa luôn đi đôi, gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa; phải lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Xây dựng đời sống văn hóa của nông thôn mới cần gắn với cội nguồn, nhân tố trung tâm là con người – cá nhân và cộng đồng trong các gia đình, làng xã. Trong nhân cách mỗi người, văn hóa gia đình, văn hóa làng xã cần khắc sâu các giá trị tinh thần Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; lòng yêu nước thương dân, tất cả vì lợi ích chung như Bác dạy. Nếu trong làng xã, hệ thống chính trị còn có một số không nhỏ cán bộ, đảng viên chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân ích kỷ, tệ hại; thì còn lâu mới có nông thôn mới. Thực tiễn xây dựng nông thôn mới cũng cho thấy, trong xây dựng nông thôn mới, con người, mỗi người cá nhân, gia đình, làng xã, cả hệ thống chính trị, nhất là nông dân là chủ thể tư duy năng động, sáng tạo. Người nông dân chỉ thực sự là chủ thể của xây dựng nông thôn mới khi họ thực hành đời sống mới Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Bên cạnh xây dựng đời sống đạo đức mới- đạo đức cách mạng – cái gốc của văn hóa mới cho nông dân, chúng ta cần phát huy truyền thống tâm lý tốt đẹp như đức tính cần cù, lòng yêu nước, tính trung thực, lối sống có tình có nghĩa, và xóa bỏ tâm lý tiểu nông hạn hẹp ở họ. Muốn xây dựng thành công nông thôn mới, trước hết, chúng ta cần coi trọng công tác thông tin tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho mọi người dân về nông thôn mới, nhất là về đời sống mới- thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Như vậy, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đời sống mới từ 64 năm trước đã tạo nên động lực to lớn thúc đẩy kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, lời dạy ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng; trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế toàn diện và chuyển đổi kinh tế toàn cầu.

Theo TS Nguyễn Liên Châu
Báo Hà Tĩnh online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến lược xây dựng xã hội học tập

Vấn đề “Xã hội học tập” mà ngày nay các quốc gia coi là tiêu điểm của chính sách phát triển đã được Bác Hồ khai sáng trong tư duy và chiến lược hành động cho nước ta ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng.

index.jpgBác Hồ thăm lớp bình dân học vụ. Ảnh: Tuấn Anh

Xã hội học tập chỉ thành hình và phát triển khi người quản  lý thúc đẩy được mọi người dân có nhu cầu học tập, có khát vọng học tập. Nhu cầu này gắn liền với việc quản lý hỗ trợ cho nhân dân nâng cao năng lực tiếp nhận sự học tập và mở rộng cơ hội học tập cho nhân dân.

Quản lý phải làm sao cho bộ ba “Nhu cầu – Năng lực – Cơ hội” gắn bó chặt chẽ với nhau.

Không tạo ra nhu cầu đích thực thì dù có ra sức nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội đến đâu cũng không thể hiện thực được mục tiêu về xã hội học tập.

Song khi đã tạo ra nhu cầu – Người dân có tha thiết học mà người quản lý không giúp người dân có năng lực để “Học được” và cơ hội “Được học” thì cũng không thể hình thành xã hội học tập.

Nhu cầu càng lớn thì năng lực và cơ hội càng phải được nâng cao và mở rộng và ngược lại càng nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội học tập thì càng phải thúc đẩy nhu cầu.

Để cho ba nhân tố này rời rạc với nhau thì không thể nói đến xã hội học tập. Xã hội học tập hội tụ và làm phát triển ba nguồn vốn: vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội, nó là nhân tố đưa quốc gia tăng trưởng có chất lượng và phát triển bền vững.

Hiện nay có quan niệm xã hội phải tiến tới “Kinh tế tri thức”, đạt “Kinh tế tri thức”, mới có thể xây dựng xã hội học tập. Không ai phủ nhận tầm quan trọng của kinh tế tri thức tạo ra nhu cầu rộng lớn và điều kiện thuận lợi về học tập để có một xã hội học tập đích thực và bền vững.

Tuy nhiên cứ phải chờ có “Kinh tế tri thức” mới xây dựng được xã hội học tập thì những nước nghèo, những nước chậm phát triển và đang phát triển sẽ mất bao nhiêu năm (?) mới đi tới xã hội học tập.

Thực tế của Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8/1945 và suốt năm 1946 đã chứng minh cho một điều khác hẳn. Khi bắt đầu xây dựng chính quyền cách mạng (2/9/1945) 95% nhân dân còn mù chữ, nạn đói đã làm kiệt quệ nền kinh tế; giặc ngoại xâm với những kẻ thù hung bạo xảo quyệt nhất can thiệp vào nước ta.

Bác Hồ người chèo lái con thuyền cách mạng trong lúc đất nước còn nguy nan đã chấn hưng dân khí, khai sáng cho dân tộc ý chí quyết tâm đẩy lùi cái dốt của bản thân, cái dốt của cộng đồng, của đất nước. Bác đã lãnh đạo, tạo cho toàn dân có nhu cầu trở thành một dân tộc thông thái làm cho mọi người giác ngộ “Dân cường nước thịnh”, “Dân mạnh nước giàu” và trên cơ sở này Người tổ chức cho chính quyền cách mạng dù còn trứng nước có các phương án quản lý hiệu quả nâng cao năng lực học tập của mọi người và mở rộng cơ hội học tập cho  mọi người.

Ngày 2/9/1945 tiếp theo bản Tuyên ngôn độc lập mà vị Chủ tịch nước long trọng đọc trước quốc dân đồng bào, tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước thế giới, Chính phủ đã nêu ra chương trình, nội dung chính của chính sách phát triển đất nước. Mục tiêu của giáo dục trong chương trình này đã được khẳng định: “Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cấp bách. Trong thời hạn rất ngắn sẽ thi hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đến triệt để. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết mà ngay trong hoàn cảnh eo hẹp này chúng ta phải kiên quyết tiến hành. (Đ/c Võ Nguyên Giáp được Hồ chủ tịch giao cho việc trình bày chính sách nội chính của Chính phủ. Tư liệu: Những sự kiện giáo dục phổ thông 1945 – 1985. Viện Khoa học Giáo dục 1985, tr2)”.

Ngày 3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Người nêu nhiệm vụ giáo dục – chống giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới.

Tháng 10/1945, Người ra lời kêu gọi chống nạn thất học như một mệnh lệnh hội tụ toàn dân tộc đưa đất nước vào công cuộc đại nghĩa mở ra kỷ nguyên mới của đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Bác chỉ có 4 tháng của năm 1945 hệ thống giáo dục quốc dân với các thiết chế: Nha bình dân học vụ, Nha giáo dục phổ thông, Hội đồng cố vấn học chính đã hình thành. Trong hoàn cảnh lúc đó hệ thống này đã tạo ra những cơ hội cho nhân dân xoá được nạn thất học, hé mở những cánh cửa cho nhân dân phát triển sự tiến hoá.

Bước sang năm 1946, dù còn biết bao sự bộn bề của các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự của đất nước, Bác Hồ vẫn dành cho sự nghiệp giáo dục sự chăm lo tỉ mỉ chu đáo.

Kiên trì quốc sách của một đất nước dưới chính thể mới là làm cho ba lĩnh vực: kinh tế giáo dục quốc phòng phải luôn luôn gắn bó với nhau, Bác đã chỉ đạo cho chính quyền mới coi giáo dục là then chốt của sự kết hợp này.

Chỉ trong năm 1946 Bác đã viết hàng chục bài báo, thực hiện hàng chục lần tiếp xúc với nhân dân để khích lệ mọi người ham học, ham dạy. Gây ngạc nhiên cho thế hệ ngày nay là tại thời điểm này (1946) Người đã có thông điệp “Học suốt đời” (nói chuyện với đ/c Nguyễn Thị Định), “Phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái” (có hàm ý như các yêu cầu xây dựng kinh tế tri thức – Nói chuyện với đồng bào Hải Phòng khi đi Pháp về 10/1946).

Vị Chủ tịch nước coi lĩnh vực giáo dục bình dân là tiêu điểm cho sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân (ngày nay chính là giáo dục cộng đồng); Người nói với anh chị em giáo viên bình dân học vụ: “Anh chị em yêu quí! Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho đồng bào cả nước ai cũng có ăn, có mặc, có học

Trước khi bước lên máy bay đi Pháp (4/5/1946) , Người còn căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng, lúc đó là Quyền Chủ tịch nước “Chú ý đến công việc bình dân học vụ”.

Ngay sau khi đi Pháp về Bác tổ chức kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 1 thành lập Chính phủ mới (từ 3/11/1946). Dù có rất nhiều công việc khẩn trương của thời gian nóng bỏng này (Thực dân Pháp tạo ra những gây chiến khiêu khích ngay trong lòng Hà Nội), Bác vẫn quan tâm đến sự nghiệp bình dân học vụ. Ngày 5/11/1946 Người viết văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” chỉ ra nhiệm vụ và phương hướng kháng chiến toàn quốc. Tối cùng ngày Bác đến thăm các lớp bình dân ở Trường Hàng Than và khu phố Hàng Bún (Hà Nội) sát nơi đóng quân của quân đội Pháp. Vào từng lớp học Bác ân cần hỏi học viên làm những nghề gì, học viên trả lời người thì kéo xe, người đi ở, người đi bán kẹo rong, người làm nội trợ, Bác khen thầy trò Trường Hàng Than “Thầy siêng dạy, trò siêng học thế là tốt lắm”.

Ngày 24/11/1946 (trước toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 gần một tháng) Bác đọc diễn văn khai mạc Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất, Bác kêu gọi các nhà văn hoá Việt Nam xây dựng nền văn hoá mới sửa đổi được “Tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai ai cũng có lý tưởng tự chủ độc lập”. Bác kêu gọi các nhà văn hoá chú ý đến việc học tập của nhi đồng, giáo dục cho nhân dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ.

Từ tháng 3/1947 khi cuộc kháng chiến chống Phap vừa bắt đầu và bước vào giai đoạn gian khó nhất, về công tác tại Thanh Hoá, Bác Hồ đã giao cho lãnh đạo Thanh Hoá qua các ông Lê Thước, Đặng Thai Mai xây dựng Thanh Hoá có các “Gia đình học hiệu”, người dân Thanh Hoá thành “Tiểu giáo viên”. Ngày nay đề cập vấn đề xã hội học tập, UNESCO nêu ra vấn đề “Gia đình học hiệu” (learning family). Tự hào tham ý tưởng của thời đại đã được Bác cảm nhận từ trước đó hàng mấy thập niên khi đất nước còn vô vàn khó khăn và Người đã truyền tâm ý cho đ.c, cho nhân dân hiện thực được ý tưởng này dù trong nước bất cứ hoàn cảnh nào kể cả lúc khó khăn.

Những sự kiện của Bác Hồ với ngành giáo dục thời kỳ đầu chính quyền cách mạng 9/1945 – 12/197 càng chứng tỏ vai trò của công tác quản lý khi nắm chắc 3 khâu cơ bản: Thúc đẩy nhu cầu – Nâng cao năng lực – Mở rộng cơ hội của người dân trong lĩnh vực giáo dục và biết gắn bó ba khâu này vào với nhau thì đó là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và phát triển xã hội học tập.

Sau 6 thập niên phát triển nền giáo dục cách mạng nước ta ngày nay trong những năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới đã có mặt bằng giáo dục với số người lớn biết chữ 90,3%, tỷ lệ thanh thiếu niên 6 – 24 tuổi được học tại các nhà trường là 64%, chỉ số phát triển giáo dục là 0,82 (Báo cáo Phát triển con người 2005).

Nếu tính trong số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ có mặt trong Báo cáo Phát triển con người thì giáo dục nước ta có thứ hạng 93.

Giá trị và thứ hạng này cho phép chúng ta có thể khẳng định: những tiền đề xây dựng xã hội học tập ở nước ta đã có dù rằng mặt bằng kinh tế của nước ta còn khá thấp trong tương quan chung (chỉ số kinh tế mới đạt 0,572 xếp thứ 122/177 nước).

Xây dựng xã hội học tập của nước ta dù có những tín hiệu tốt song còn đó những thách thức. Dù số người biết chữ có tỷ lệ cao dù nhiều trường học mở ra, số thanh thiếu niên được đi học đông, song để có một nền học vấn thiết thực từ nhu cầu không phù phiếm tạo cho công dân có kỹ năng đời sống phát triển cộng đồng bền vững thì vấn đề lại còn nhiều nỗi băn khoăn.

Nước ta đang thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người (Education for All – EFA), các chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, những dự án mở rộng trung học phổ thông, những ý tưởng đưa đại học tinh hoa thành đại học đại chúng nhằm tạo ra nền móng của “xã hội học tập”. Có thể khẳng định rằng các chương trình này chỉ có ý nghĩa nếu ta quán triệt được các ý tưởng giáo dục nhân văn và thân dân của Bác Hồ kính yêu.

(Theo báo Giáo dục & Đào tạo)

hochiminhhoc.com

Đi làm ruộng với nông dân

Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò, Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân.

Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội Nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người Nga, một dân tộc đi đầu tiên phong, biến người nông dân lao động “thành người tự do”, nhưng nay họ chưa đi đến nơi đã tạm dừng. Còn người nông dân Việt Nam chúng ta luôn có Bác Hồ cùng đi bởi không chỉ tư tưởng Bác soi đường mà hình ảnh Bác dung dị bên người nông dân mãi mãi là chỗ dựa tinh thần để tự hào, tin tưởng và làm theo lời Người.

Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.

Thay mặt “Ban Đời sống mới”, nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, dân chủ và khoa học. Nghe xong, Bác liền nói: “Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này”, vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, “phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của “Ban Đời sống mới” cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con “lá lành đùm lá rách”, tǎng gia sản xuất, cứu đói”. Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình… để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai… Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân di thực vi thiên”, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”, Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên” người xưa dạy “dân lấy cái ǎn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục Sinh nói với Hán Cao Tổ “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời”. Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cửa, trường học, bệnh xá bị đổ bao nhiêu. Khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân.

Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hoà vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tǎng thêm sức mạnh cho mọi người hǎng say quên mình trong không khí vui vẻ. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”. Bác ǎn mặc quần áo như một lão nông thực sự. Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng. Cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc “cách mạng” cho “các quan” trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: “Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được”. Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: “Các chú có biết nấu nướng không?”. Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này – Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này – Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được “cô ấy” có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nữa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình.

Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy” nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: “Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ”.

Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị “Bàn về sản xuất, nông nghiệp”. Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi to: “Chú nào gánh bùn đổ cho hai sào lúa có đây không?”, không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự Hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự Hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: “Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cũng đội ạ”, Bác dặn: “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài”.

Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân. Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi: “Tết vừa qua gia đình đón, Tết có vui không?”. Có cụ già hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn Tết không vui. Bác hỏi: “Vì sao?”. Cụ kể lại: Gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn Tết không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui, Bác bảo: Làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: “Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú làm như Bác là ông quan thời xưa”. Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: “Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?”.

Trong di sản tư tưởng của Bác, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí quan trọng. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tiếp cận với nhiều xu hướng chính trị của loài người, Bác phân tích lựa chọn tiếp thu những gì tinh túy phù hợp với hoàn cảnh đất nước và vận dụng một cách sáng tạo những tinh hoa đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà. Người đi đến kết luận vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực nhưng cũng là đối tượng của cách mạng. Cho nên Bác dành nhiều trí tuệ, công sức và thời gian cho vấn đề nông dân. Từ tấm bé, xuất phát từ trực quan sinh động, trước cảnh người nông dân làng quê khổ cực vì bị áp bức, bóc lột mà nghèo đói, từ đó mới có nhận thức do mất nước, không có tự do và động cơ ra đi tìm đường cứu nước một phần cũng được xuất phát từ vấn đề nông dân. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác nói nhiều viết nhiều; đấu tranh không mệt mỏi cho vấn đề giải phóng dân tộc, cho quyền lợi người nông dân. Bác bênh vực, xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm về vấn đề nông dân trong hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bác đứng về nông dân, bênh vực quyền lợi của nông dân nhưng không sa vào nông dân chủ nghĩa, không quá tả, không xô bồ khi phân tích mặt tốt, mặt phải hoàn thiện của nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã. Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích luỹ để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích luỹ 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo./.

Theo Camau.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông nghiệp- nông dân – nông thôn

Từ thủa lọt lòng vào mùa hè năm Dần (1890) ở vùng quê Xứ Nghệ, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã sống trong cảnh làng quê với cây đa, giếng nước, luỹ tre xanh… 5 tuổi, bé Cung theo cha mẹ vào Huế, khi cả nhà nghỉ chân trên đỉnh Đèo Ngang, Cung nhìn ra biển thấy những thuyền buồm chạy theo chiều gió, Cung cho đó là những con bò đi trên ao lớn…(1).

Theo cha vào Huế lần thứ 2, đầu thời vua Duy Tân, Nguyễn Tất Thành học ở Quốc học Huế. Khi này tại Kinh đô thường xảy ra nhiều cuộc biểu tình của nông dân tỉnh Thừa Thiên chống sưu, chống thuế, Nguyễn Tất Thành và bạn đồng môn đã làm thông ngôn(2) giúp bà con nói rõ yêu sách với bọn thống trị, bị cảnh sát săn lùng, Nguyễn Tất Thành phải vào học tiếp chương trình tiểu học Pháp – Việt ở Quy Nhơn. Nghe lời cha, Nguyễn Tất Thành đi dần vào phương nam, tháng 6-1911 đã xuất dương tìm đường cứu nước.

Bốn tháng sau khi từ Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân (giữa tháng l0-1923), đã đọc bài tham luận nói lên tình cảnh nông dân Đông Dương đang bị thực dân Pháp bóc lột. Người nói:

“Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế khi không những nông dân ở Phương Tây, mà cả nông dân ở Phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị áp bức và bóc lột nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế của các đồng chí. Nếu đem so sánh người nông dân Nga với người nông dân Việt Nam, người ta có ấn tượng rằng: Khi nông dân Nga đang ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành, thì trong lúc đó, người nông dân Việt Nam đang bị treo ngược đầu xuống đất (?!)”(3).

Người đã dịch “Tuyên ngôn của Hội nghị Quốc tế Nông dân” (tháng 4-1924) ra tiếng Việt để gửi về nước.

Trong bài “Tổ chức dân cày” ở cuốn “Đường cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc viết: “Vì sao phải tổ chức dân cày?… Tây đồn điền choán ruộng thế nào?… Chính phủ Pháp đãi dân cày An Nam thế nào?… Muốn thoát khỏi vòng vây cay đắng ấy thì phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng… Có ích cho dân cày, có lợi cho nòi giống”(4).

Sau khi trở về Tổ quốc năm 1941, Bác viết bài thơ lục bát “Dân cày” đăng trên báo Cứu quốc (1-8-1941), lời thơ thống thiết, kêu gọi “Dân cày phải kiếm Việt Minh mà vào… Mai sau thực hiện chương trình: Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền” (nghĩa là theo chương trình Việt Minh, nông dân ai cũng có ruộng cày)(5).

Ngày 3-9-1945 tại cuộc họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã đề nghị phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất để diệt giặc đói do phát xít Nhật, thực dân Pháp gây nên.

Năm 1949, cuộc kháng chiến chống giặc Pháp đã chuyển sang giai đoạn mới, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh giảm tô 25% để bồi dưỡng sức của nông dân tá điền. Cũng năm đó, trong bài “Dân vận”, Người viết: “Cán bộ canh nông thì hợp tác mật thiết với cán bộ địa phương, đi sát với dân (số đông là nông dân – VAP) thiết thực bày vẽ cho dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cách chọn giống, ủ phân, làm cỏ”(6)… để phát triển sản xuất nông nghiệp. Đã có 2 lão nông chi điền được Đảng, Chính phủ và Bác Hồ phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động tại Đại hội “Liên hoan chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc” giữa năm 1952 tại chiến khu Việt Bắc. Từ năm 1953 đến 1956 cuộc phát động giảm tô và cải cách ruộng đất được tiến hành từ Liên khu 4 trở ra, khẩu hiệu “Người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực.

Không chỉ trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp Người mới tổ chức tăng gia sản xuất, có đất ta trồng, có bãi ta chơi, thuận đường sang Bộ Tổng, tiện lối tới Trung ương mà khi về Thủ đô, bên cạnh nhà sàn, Bác cho làm một ao cá lớn, Người nuôi rất nhiều cá, đã có thời gian các địa phương đến đây nhận cá giống về nuôi trong các ao cá Bác Hồ.

Sinh thời, ngay cả khi tuổi đã cao, Hồ Chủ tịch thường xuống nông thôn, gặp gỡ bà con trên đồng ruộng, động viên bà con tích cực tăng gia, chăn nuôi. Bác đã tát nước gầu sòng, đạp guồng đưa nước vào ruộng, hoàn toàn không có sự cách biệt giữa Chủ tịch nước với bà con nông dân địa phương.
Trong những năm chống Mỹ ác liệt, Người đã viết thư khen nhiều xã viên, hợp tác xã nông nghiệp làm ăn giỏi. Người rất quan tâm đến thời vụ sản xuất. Báo Nhân Dân ngày 15-1-1967 đã đăng bài của T.L (Bác Hồ). “Phải cấy chiêm xong trước tết”. Người thưởng huy hiệu cho những nông dân xuất sắc, đồng thời Người cũng phê bình trên báo một số bộ, ngành, một số xã, HTX làm ăn kém cỏi, đùn đẩy trách nhiệm, gây nên hệ quả là “dân cần quan không vội”!

Tại Hội nghị cán bộ nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 12 (khoá 3) ngày 16-1-1966, Người nói: “Bác lên thăm nhà máy chè Phú Thọ, các đồng chí chuyên gia nói rất sẵn sàng dạy cho ta 20 cán bộ để làm thí điểm cách trồng chè cho tốt, nhà máy chè nghe như thế rất mừng. Nhà máy gửi báo cáo lên Bộ Nông Lâm. Ông Bộ Nông Lâm nói việc dạy học phải hỏi Bộ Giáo dục, chúng tôi không giải quyết. Lên Bộ Giáo dục, thì Bộ Giáo dục nói đây là việc trồng chè, chúng tôi không giải quyết được. Gần 2 năm không giải quyết. Khi Bác lên thăm tình cờ các chuyên gia nói lại. Khi về Bác gặp ông nông lâm, Bác nói nhất định phải cho 20 cán bộ học cái này; ông nông lâm giải quyết. Thế là học được”(7).

Cuối năm 1959 Bác viết bài “Tết trồng cây” kêu gọi toàn dân hưởng ứng. 10 năm sau trên báo Nhân Dân, 5-2-1969 lại đăng bài “Tết trồng cây” của T.L (Bác Hồ). Người biểu dương thành tích 10 năm nhân dân ta từ miền núi đến đồng bằng, ven biển đã trồng được hàng vạn hecta cây các loại; xã Đô Lương (Lạng Sơn) trong 5 năm (1964-1969) đã trồng được 270 ha rừng, đã bán cho Nhà nước và thị trường 2.000 m3 gỗ và củi. Nhờ có trồng cây, nên thuỷ lợi cũng tiến bộ, hơn 100ha ruộng trước kia bỏ hoá nay đã trở thành ruộng 5 tấn, hai năm 1967-1968 đóng góp nghĩa vụ lương thực được 271 tấn thóc, thu nhập của hợp tác xã năm 1965 được 16.250 đồng, năm 1967 đạt đến 50.240 đồng… Các địa phương phải học tập và thi đua với nơi có phong trào trồng cây khá. Bác còn nhắc chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa.

Câu nói: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây” của Bác Hồ đã trở thành mục tiêu, phương châm hành động của cả nước.

Ngày 15-5-1965, nhân dịp mừng 75 tuổi, Bác Hồ đã viết xong bản thảo Di chúc đầu tiên, trong đó có đoạn: “Nhân dân lao động ta (chủ yếu là nông dân – VAP chú thích) ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ… Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân…

Sau khi tôi qua đời… tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi… Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn… Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm… Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”(8).

Tháng 5-1968, Bác lại viết tiếp vào dự thảo bản Di chúc:

“Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta… Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi đẩy mạnh sản xuất”(9).

Lời Di chúc sâu sắc, đầy ý nghĩa với tam nông, nhưng Người rất tôn trọng nguyên tắc, chỉ có ý đề nghị, còn phần quyết định thuộc về Trung ương Đảng và Chính phủ sau này.

Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng khoá 10 năm 2008 đã ra nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó xác định:

“Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước…”.

Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tinh thần của nghị quyết này, nông nghiệp Việt Nam sẽ phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, liên minh công nhân, nông dân, trí thức vững mạnh tạo nền tảng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vững mạnh.

_____________________

(1) Theo Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng. (2) Hồ Chí Minh – Cuộc đời và sự nghiệp, NXB Nghệ An 2003, tr.16. (3) Việt Nam-Những sự kiện lịch sử 1919-1945 tr.60, NXB Giáo dục 2-2002. (4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.308-311. (5) Sđd, tập 3, tr.201. (6) Sđd, tập 5, tr.699. (7) Sđd, tập 12, tr.21. (8, 9) Sđd, tập 12, tr.498-504.
Vừ A Páo

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Bình dân học vụ

Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”.

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(1)

Đó là lời nói thể hiện hoài bão lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời cho việc thực hiện hoài bão ấy. Ngay sau khi tuyên bố nước nhà được độc lập, một trong những nhiệm vụ cấp bách mà Người chỉ ra là “diệt giặc dốt” và Người đã phát động phong trào Bình dân học vụ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu  những chỉ đạo cùng với sự quan tâm của Người với phong trào Bình dân học vụ qua tài liệu lưu trữ.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hiếu học. Nhưng hơn tám mươi năm Pháp thuộc, thực dân Pháp đã câu kết với bè lũ phong kiến, địa chủ kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt để đàn áp và bóc lột. Nạn mù chữ và thất học trầm trọng: 95% dân số không biết đọc, không biết viết.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Trong bản Tuyên ngôn, Người đã lên án và tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp với việc “chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” trên đất nước ta. Theo thống kê cứ 3245 trẻ em mới có một trường học mà cứ 1000 dân thì có một nhà tù(2).

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà. Một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất, thiết thực nhất mà chính quyền Cách mạng vừa mới ra đời phải giải quyết trong hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn đó là “nạn dốt”. Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” (3).

Hồ Chủ tịch nói chuyện với các học viên nhân buổi khai mạc lớp huấn luyện Bình dân học vụ khóa Hồ Chí Minh năm 1945.

Chiến dịch chống nạn mù chữ chính thức dược phát động từ ngày 8 tháng 9 năm 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt nam; Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối; Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền. Để phục vụ chiến dịch xoá mù chữ, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1945. Khoá huấn luyện cán bộ bình dân học vụ đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh mở tại Hà Nội. Ngày 4 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi “Chống nạn thất học” gửi tới toàn thể quốc dân đồng bào: “…Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi” (4)

Theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, phong trào Bình dân học vụ được nhóm lên, lan rộng, ăn sâu vào các thôn xóm. Bình dân học vụ trở thành một phong trào nhân dân thực sự với những hình thức tổ chức hết sức linh động, thích nghi với điều kiện sinh hoạt của nhân dân lao động. Người học là những em bé, những cụ già, đặc biệt rất nhiều chị em phụ nữ. Giáo viên là các thầy giáo dạy ở các trường học, là cán bộ các ngành, là học sinh, bộ đội, từ mọi tầng lớp nhân dân, từ những người vừa thoát nạn mù chữ, ai đọc thông viết thạo đều có thể trở thành giáo viên bình dân học vụ. Lớp học là trụ sở của các trường phổ thông, các cơ quan chính quyền, doanh trại quân đội, nhà của tư nhân, đình, chùa …Nhiều nơi lá chuối, mo nang được đem dùng thay cho giấy; gạch non, sắn khô thay cho phấn viết; mặt đất, tường nhà, vách đá, lưng trâu … thay cho bảng đen. Mọi bước đi của phong trào Bình dân học vụ đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, theo dõi, chỉ đạo và động viên. Người tới thăm rất nhiều lớp bình dân học vụ, mỗi một thành tích lớn nhỏ của bình dân học vụ đều được Người gửi thư khen ngợi. Người thường xuyên gửi thư động viên anh chị em giáo viên bình dân học vụ. Trong thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ ngày 1 tháng 5 năm 1946 Người viết: “ Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu để mở mang trí thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc. Anh chị em làm việc mà không lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “ vô danh anh hùng”. Tôi mong rằng trong một thời gian ngắn, lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả rất vẻ vang; Đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng.” (5)  Không chỉ động viên, khen ngợi, Người còn nhắc nhở anh chị em giáo viên vừa dạy, vừa học để nâng cao trình độ.

Diễu hành cổ động phong trào Bình dân học vụ năm 1946.
(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh Phông Bộ Ngoại giao,KH: 3373, 3379)

Chỉ một năm sau ngày phát động phong trào đã tổ chức được 75.000 lớp học với trên 95.000 giáo viên; trên 2.500.000 người biết đọc, biết viết.(6)  Mỗi khi phong trào bước sang một giai đoạn mới, Người lại gửi thư chỉ rõ cho cán bộ và giáo viên bình dân học vụ những công việc cần phải làm. Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến, bình dân học vụ nhận thêm nhiệm vụ mới là trừ nạn mù chữ để đẩy mạnh kháng chiến với khẩu hiệu “Mỗi lớp học bình dân là một ổ tuyên truyền kháng chiến”. Trong thư gửi cho cán bộ và giáo viên bình dân học vụ khu III, Người chỉ rõ: “ Các lớp bình dân học vụ chẳng những dạy cho đồng bào học chữ, làm tính mà lại dạy thêm về công cuộc kháng chiến cứu nước, tăng gia sản xuất, giúp mùa đông binh sĩ, giúp đồng bào tản cư”(7)

Năm 1948 với phong trào thi đua yêu nước mà Người đề ra, bình dân học vụ chuyển sang một giai đoạn mới. Trong thư gửi cho anh chị em bình dân học vụ nhân dịp phát động phong trào thi đua ái quốc và kỷ niệm ngày Độc lập 2 tháng 9 năm 1948, Người chỉ rõ hướng đi tiếp theo của bình dân học vụ: “Trong phong trào thi đua ái quốc tôi mong các bạn cũng hăng hái xung phong. Vùng nào còn sót nạn mù chữ thì các bạn cố gắng thi đua diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng. Vùng nào đã hết nạn mù chữ, thì các bạn thi đua để tiến lên một bước nữa, bằng cách dạy cho đồng bào:

1-      Thường thức vệ sinh, để dân bớt ốm đau.
2-      Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm.
3-      Bốn phép tính để làm ăn quen ngăn nắp.
4-      Lịch sử và địa dư nước ta (vắn tắt bằng thơ hoặc ca) để nâng cao lòng yêu nước.
5-      Đạo đức của công dân, để trở thành người công dân đứng đắn.” (8)

Như vậy bình dân học vụ không chỉ dạy cho dân biết đọc, biết viết mà còn phải dạy cho đồng bào kiến thức khoa học thường thức, nâng cao dần trình độ dân trí.

Người còn nhắc nhở mọi người, mọi đoàn thể phải đoàn kết, đồng tâm hiệp lực thì mục tiêu “Tất cả đồng bào Việt Nam từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc, biết viết” sẽ hoàn thành thắng lợi.

Phong trào Bình dân học vụ được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính Phủ ngày càng phát triển. Từ 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ năm 1946 tới năm 1948 là 6 triệu người và đến năm 1952 là 10 triệu người, chiến dịch xoá nạn mù chữ cơ bản được hoàn thành. Đi đôi với việc diệt giặc dốt, việc bổ túc văn hoá để củng cố sự đọc thông, viết thạo của những người đã thoát nạn mù chữ được tổ chức và đẩy mạnh, trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân lao động cũng được nâng lên.

Đã hơn sáu mươi năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào Bình dân học vụ, nền giáo dục Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc. Từ chỗ 95% dân số mù chữ, đến nay cả nước đã cơ bản phổ cập giáo dục, mỗi năm có hơn 20 triệu học sinh, sinh viên các cấp học đến trường, đội ngũ giáo viên các cấp học cũng ngày càng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng. Thấm nhuần tư tưởng của Người về phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, từ những kinh nghiệm của phong trào Bình dân học vụ, chúng ta hy vọng ngành giáo dục Việt Nam sẽ thực hiện thành công mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đề ra: ” Phấn đấu xây dựng một nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân, vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(9)./.

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, NXBCTQG.H 1995, tập 4, tr.161
2. Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III, Phông Bộ Giáo dục, hồ sơ 146.
3.  Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG. H 1995, tập 4, trang 8.
4. Sdd, trang 36
5. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2663
6. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 146
7. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2663
8. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, hồ sơ 2663.
9. Văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X, NXBCTQG, Hà nội 2006

Phạm Hải Yến –Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III

archives.gov.vn

Bác Hồ với trí thức

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trí thức yêu nước uyên bác. Người đã có quan điểm khoa học, toàn diện, xuyên suốt về trí thức và đã sớm khẳng định vai trò quan trọng của trí thức trong sự nghiệp cách mạng.

>> Di chúc của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng
>> Tài chiêu hiền đãi sĩ của Bác Hồ 

Sinh thời, Người đã nhận định, trí thức Việt Nam là tầng lớp có học thức, kiến thức, hiểu biết và có tinh thần yêu nước nồng nàn và ý thức dân tộc cao. Trí thức Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong lực lượng cách mạng. Người nói: “Không có những trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều. Bởi vì để hoàn thành nhiệm vụ kháng chiến, ngoài việc quân sự, ắt phải phát triển kinh tế, cho nên cần có những người chuyên môn thông thạo về công nghệ và nông nghiệp. Cần phát triển giao thông vận tải cho nên cần có những kỹ sư thông thạo việc đắp đường, bắc cầu. Cần giữ gìn sức khỏe của nhân dân, cho nên cần có thầy thuốc. Cần đào tạo cán bộ cho mọi ngành, cho nên cần có thầy giáo… Vì lẽ đó, trí thức có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Hồ Chí Minh còn khẳng định, trí thức không những là một bộ phận trong lực lượng cách mạng mà “trí thức còn là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế…”. Không có trí thức hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam mới sẽ không hoàn thành được. Người nói: “Trí thức không bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi”. Trí thức phục vụ nhân dân bao giờ cũng cần, “kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên chủ nghĩa xã hội càng cần, tiến lên chủ nghĩa cộng sản lại càng cần”.

Bác Hồ với thiếu nhi vùng cao. (Ảnh minh họa: Tư liệu)

Chỉ vài tháng sau khi đất nước giành được độc lập, với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi Nhân tài và kiến quốc, và một năm sau, Người lại ra chỉ thị Tìm người tài đức, trong đó, Người nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức”. Người cũng nhận khuyết điểm là không thấy được hết các bậc hiền tài, khiến họ không thể hiến thân phụng sự dân tộc và Người yêu cầu các địa phương phải lập tức điều tra, tìm kiếm “những kẻ hiền năng” “người tài đức” có thể làm những việc ích nước lợi dân để báo cáo Chính phủ.

Trong bối cảnh Chính phủ gặp muôn vàn khó khăn vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh đã tin tưởng, trao những cương vị quan trọng trong Chính phủ cho trí thức, cả những trí thức đã từng làm việc cho chính quyền cũ và họ đã thực sự bị thuyết phục, bởi lòng yêu thương con người, sự hy sinh vô bờ bến của Người vì một mục đích cao cả là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” .

Nhiều trí thức chỉ gặp Hồ Chí Minh đã bị “chinh phục” hoàn toàn bởi phong thái con người của Bác. Cụ Vũ Đình Hòe đã viết trong Hồi ký :”tôi đã từng nghe bạn bè nói đến Nguyễn Ái Quốc một cách cung kính, nhưng mãi đến Cách mạng tháng Tám thành công mới được giáp mặt với Người tức thì bị chinh phục ngay bởi đôi mắt Hồ Chí Minh”. Viện sĩ Trần Đại Nghĩa nói: “Bác Hồ luôn luôn chăm sóc và hướng dẫn tôi trong hai cuộc kháng chiến, Bác đã cho tôi cái cương vị để có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách có hiệu quả nhất. Bác luôn là hình ảnh thiêng liêng rất gần gũi với tôi. Trong tâm khảm tôi, một bên là ba má và anh chị tôi, còn một bên là Bác Hồ”. Giáo sư Tôn Thất Tùng cũng đã viết những dòng rất xúc động về Bác Hồ: “Công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là người cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”…

Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc, trí thức Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho Đảng, cho cách mạng. Có thể kể ra những trí thức làm cách mạng chuyên nghiệp như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai… Những trí thức trong chế độ phong kiến như Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe; và nhiều trí thức yêu nước khác như: Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Lương Đình Của, Hoàng Xuân Hãn… Hình ảnh cao đẹp của Hồ Chí Minh đã thực sự lôi cuốn và cảm hóa bất cứ nhà trí thức, nhân sĩ có tâm nào.

Xuất phát điểm của Người chính là lòng yêu nước, là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. Bởi Hồ Chí Minh cho rằng, hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, vấn đề là biết khơi gợi khuyến khích được lòng yêu nước trong mỗi con người, để họ tự nguyện đóng góp tài sức của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Dung (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng)

baodatviet.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với Thủ đô Hà Nội

Hình ảnh Bác Hồ vẫy chào đoàn quân chiến thắng trở về Thủ đô Hà Nội ngày 10-10-1954 (Ảnh: Tuấn Anh)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tấm lòng trân trọng, mối quan tâm sâu sắc giàu tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội. Kể từ Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn bó với mảnh đất Hà Nội. Ngày 26/8/1945, Người từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tại căn nhà 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam).

Cách mạng Tháng Tám thành công đập tan gông xiềng của thực dân phong kiến, nhân dân ta bắt đầu thực sự được làm chủ cuộc đời.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào. Sau đó không lâu, thực dân Pháp bội ước, nhân dân Việt Nam không còn cách nào khác phải đứng lên làm cuộc kháng chiến trường kỳ hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Người.

Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhân dân ta vừa bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc và tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà thì đế quốc Mỹ leo thang ném bom phá hoại miền Bắc XHCN ngày càng ác liệt, nhằm ngăn cản sự chi viện của tiền tuyến lớn miền Bắc cho hậu phương lớn miền Nam.

Ngày 17/7/1966, từ Thủ đô Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi vang vọng “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước của Hồ Chủ tịch”, trong đó có đoạn: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Cũng từ đó, câu nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người đã trở thành chân lý của thời đại.

Ngay trong những tháng năm chiến tranh ác liệt dưới bom đạn Mỹ, Bác Hồ kính yêu vẫn hàng ngày chăm cá, chăm cây, vui với đàn cháu nhỏ và bàn việc nước bên ngôi nhà sàn giản dị trong vườn cây trái xum xuê ở giữa lòng Thủ đô yêu dấu… Rồi cũng ở Hà Nội, Bác Hồ đã viết những dòng Di chúc trước lúc đi xa, để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho dân tộc Việt Nam. Những ngày đầu tháng 9/1969 trời Hà Nội mưa tầm tã như hòa cùng nỗi đau của người dân Việt Nam từ nay vắng hình bóng Bác…

Như vậy, có thể nói, tư tưởng và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu hết được thể hiện ở mảnh đất kinh đô ngàn năm văn vật. Và không chỉ có vậy, Bác Hồ còn thể hiện tấm lòng trân trọng biết ơn, mối quan tâm sâu sắc đầy tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội.

Kể từ khi giữ cương vị Chủ tịch nước, Người đã có 73 bài viết riêng về Hà Nội, về nhân dân Hà Nội (theo sách Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội – NXB Chính trị quốc gia, 2004. Các trích dẫn dưới đây đều ở cuốn sách này).

Nhà thơ Tố Hữu đã nói rất đúng về cách ứng xử rất mực tình người của Bác Hồ: “Giọng của Người không phải sấm trên cao/ Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước”. Thật vậy, suốt cuộc đời cách mạng, Bác Hồ đã luôn thể hiện là vị “công bộc” tận tụy của dân. Mọi việc làm, từ lời nói đến hành động ở Người đều thể hiện là “người đầy tớ thật trung thành” của nhân dân. Điều ấy thể hiện trước hết ở tấm lòng biết ơn dân.

Ngày 2/9/1945, Hố Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

Ngay ở kỳ Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam mới (năm 1946), với sự tín nhiệm tuyệt đối của cử tri, một số đồng bào ta đề nghị Hồ Chí Minh không phải ứng cử. Người đã viết thư cảm ơn: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi, mà quyết nghị tôi không phải ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử sắp tới”. Sau 9 năm kháng chiến, chúng ta về lại Hà Nội, Người đã có lời cảm ơn thật chí tình: “Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn đồng bào Thủ đô và bộ đội hôm nay long trọng và thân mật chào mừng Chính phủ”. Trong lần Tổng tuyển cử Quốc hội khóa II, Người cũng viết thư cảm ơn đồng bào Thủ đô đã đề nghị Người ứng cử ở khu vực Hà Nội.

Ở một lá thư khác, Người viết: “Thưa đồng bào thân mến. Sáng nay, một đồng chí cán bộ mời tôi đi “ra mắt cử tri”. Tôi trả lời: Đã bao nhiêu năm lòng tôi luôn luôn ở cạnh đồng bào và tôi tin rằng lòng đồng bào cũng luôn ở cạnh tôi. Xa lạ gì mà phải ra mắt? Nói thế này mới đúng: Tôi đến đây để cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu tôi và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khóa II ở Thủ đô yêu quý của chúng ta”. Có lẽ không cần bình luận gì thêm mà mượn một ý của cổ nhân khi nói về thơ hay để nói về những dòng chữ đầy ân tình này của Bác: Thơ (văn) hay là thứ thơ (văn) mà khi đọc lên người ta không còn thấy câu chữ mà chỉ thấy tình người. Chủ tịch Hồ Chí Minh có mối quan tâm đặc biệt với nhân dân Hà Nội. Người thường xuyên gửi thư tới các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, tới nông dân, công nhân, trí thức… Nhưng Người đặc biệt quan tâm tới tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng Hà Nội.

Khi Hà Nội mới được giải phóng, những tàn dư văn hóa thực dân còn rơi rớt lại thì Người đã ân cần chỉ ra khuyết điểm của số ít thanh niên Hà Nội: “thanh niên Hà Thành vốn giữ tính kiêu căng, biệt phái…” và chỉ ra cách khắc phục: “Phải làm sao cho tổ chức thanh niên Hà Nội phải thành một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc”. Trong 10 lá thư, bài viết, bài phát biểu về thanh niên, thiếu niên, sinh viên Hà Nội, Bác Hồ đều khuyên thanh thiếu niên Thủ đô đoàn kết thân ái và chăm chỉ học tập phát huy sáng kiến để thanh thiếu niên cả nước học tập, Người nói: “thanh niên Thủ đô phải làm gương mẫu cho thanh niên cả nước”. Về mối quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhân dân Hà Nội, có một điều đặc biệt là Bác Hồ rất chú ý tới nhân dân ngoại thành Hà Nội. Người đã có 4 bức thư, bài viết riêng về nhân dân khu vực ngoại thành:

– Gửi đồng bào ngoại thành Hà Nội.

– Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ làm công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở ngoại thành Hà Nội.

– Bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm.

– Bài phát biểu tại Hội nghị sơ kết cuộc vận động xây dựng chi bộ, Đảng bộ “bốn tốt” ở khu vực ngoại thành Hà Nội.

Có thể là khi đó người dân ngoại thành Hà Nội còn vất vả nên Người dành mối quan tâm sâu sắc hơn. Người động viên: “Ngoại thành cũng là Thủ đô. Mà “thủ” là đầu, phải đi đầu…” và mong muốn: “Các đảng bộ, chi bộ ở ngoại thành cần lãnh đạo đưa phong trào ngoại thành tiến lên mạnh mẽ hơn nữa, làm cho ngoại thành thật sự trở thành vành đai đỏ của Thủ đô xã hội chủ nghĩa”.

Người xác định vị trí “đầu tàu”, “gương mẫu” của Hà Nội mà “cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta” nên Người mong muốn làm sao để cho Hà Nội “thành một Thủ đô bình yên tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”. Hồi mới giải phóng, Người xác định nhiệm vụ trung tâm cho Hà Nội là “giữ gìn trật tự an ninh”, là “ổn định sinh hoạt”, là “vệ sinh sạch sẽ” là “phòng bệnh”. Muốn thế mọi người dân Thủ đô phải đoàn kết, tăng năng suất công tác, phải học tập, phải giữ vững và phát triển thuần phong mỹ tục.

Sau này, trong những lời phát biểu, những bài nói chuyện tại các kỳ Hội nghị Đảng bộ Hà Nội, các đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội…, Người rất chú ý tới vấn đề xây dựng và phát triển Thủ đô vững mạnh toàn diện, mà trước hết là phát triển Đảng: “Hà Nội cần phải củng cố và phát triển Đảng, Đoàn Thanh niên Lao động và công đoàn. Đảng bộ Hà Nội cần phát triển thêm thành phần công nhân, nông dân, lao động trí óc và phụ nữ vào Đảng”. Người căn dặn Đảng bộ Hà Nội phải luôn “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”.

Đó cũng là một biểu hiện tư tưởng vì con người hết sức cao đẹp của Bác Hồ kính yêu.

Hà Nội hôm nay ngày càng đổi mới, phát triển để xứng đáng là trái tim của cả nước thì càng phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Thành phố Hà Nội phải làm thế nào để trở thành một thủ đô xã hội chủ nghĩa. Muốn như thế thì mỗi một xí nghiệp, mỗi một đơn vị bộ đội, mỗi một trường học, mỗi một đường phố, mỗi một cơ quan và mỗi một nông thôn ở ngoại thành phải thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội”.

Lời dạy và cũng là mong muốn của Bác Hồ sẽ mãi mãi là động lực thôi thúc nhân dân Hà Nội sát cánh cùng cả nước xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước giàu mạnh trong thời đại mới./.

Theo Báo Văn nghệ quân đội
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn