Thư viện

Mùa xuân là Tết trồng cây

Hằng năm, cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về, người người, nhà nhà, các cơ quan, đơn vị khắp nơi lại cùng nhau tham gia phong trào trồng cây, gây rừng, thực hiện lời Bác dạy năm xưa “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Từ hải đảo xa xôi nơi đầu sóng ngọn gió, các chiến sĩ cùng người dân huyện đảo Trường Sa nô nức thực hiện “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”. Phong trào trồng cây phủ xanh đảo cát đã được quân dân huyện đảo duy trì đều đặn hằng năm. Từng đơn vị, cụm dân cư và người dân đều có nghĩa vụ phải trồng và chăm sóc cây theo chỉ tiêu được phân bổ.

Còn tại tỉnh miền núi Lào Cai, dân làng Khẩu Cồ, xã Bản Cầm, huyện Bảo Thắng lại tưng bừng lễ hội ăn thề bảo vệ rừng. Đồng bào Tày xã Tả Chải ở Bắc Hà cũng vậy, năm nào cũng tổ chức lễ cúng rừng vào dịp năm mới. Mọi người cùng nhau thắp hương cùng thề bảo vệ rừng, trồng rừng và bàn về các quy định bảo vệ rừng. Các lễ hội này của đồng bào miền núi mang ý nghĩa khuyến khích phong trào trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc và động viên bà con dân tộc không đốt rừng làm nương rẫy.

Tại miền xuôi, học sinh các trường học, rồi các cụ già, thanh niên… đều phát động phong trào trồng cây xanh nhân dịp đầu Xuân năm mới. Nhiều nơi vẫn duy trì phong trào chăm sóc, bảo vệ và trồng mới vườn cây, ao cá Bác Hồ.

Trước thực trạng môi trường sống và môi trường thiên nhiên bị ô nhiễm nghiêm trọng dẫn tới hiện tượng thay đổi khí hậu đe dọa cuộc sống của con người, chúng ta càng thấm thía lời Bác kêu gọi: “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây” để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người. Đồng bào miền Trung sẽ bớt được nỗi lo mỗi mùa bão lũ nếu rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ không bị chặt phá một cách bừa bãi. Phong trào trồng cây, gây rừng được phát động rộng rãi và mọi người đều có ý thức chăm sóc và bảo vệ cây xanh, là biện pháp hiệu quả để giảm nhẹ hậu quả của các thảm họa thiên tai như bão lũ. Sinh thời, Người từng kêu gọi nhân dân ta phải bảo vệ rừng như bảo vệ ngôi nhà của chính mình vậy.

Những lần đi thăm nước bạn hoặc tiếp đón các vị nguyên thủ quốc gia tới Việt Nam, Bác đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Người đã trồng cây đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở Nga và Người gọi đó là “những cây hữu nghị”. Cây lớn lên theo thời gian, không chỉ thể hiện tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với bạn bè thế giới mà còn thể hiện ý thức bảo vệ môi trường.

Trồng cây còn có giá trị kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân, theo lời Bác Hồ dạy. Trong Di chúc, Bác cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi, ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”.Trong bài viết cuối cùng của mình về “Tết trồng cây” đề ngày 5-2-1969, Bác nhắc tới “ích lợi to lớn cho kinh tế, quốc phòng” của việc trồng cây gây rừng, “đồng bào các địa phương phải biến đồi trọc thành vườn cây”.

Đẹp và ý nghĩa biết bao, nét văn hóa trồng cây ngày Xuân được Người khởi xướng và được cả nước ý thức giữ gìn, ngày một nhân rộng cho đến tận ngày nay và cả mãi mãi sau này.

Mai Xuân

bqllang.gov.vn

Những ngày Tết đáng nhớ của Bác Hồ

(Chinhphu.vn) – Trong 79 mùa xuân sôi nổi hào hùng của Bác, có những ngày Tết không thể nào quên đối với nhân dân ta.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc Tết đồng bào và bộ đội, Tết Đinh Mùi (2-1967).

Trước hết là ngày Tết năm Canh Ngọ (1930). Tại một địa điểm xa tổ quốc, trên bán đảo Cửu Long (Hồng Kông), Bác đã chủ trì một cuộc họp bí mật với đại biểu các tổ chức cộng sản đầu tiên ở trong nước, đặt ra yêu cầu cùng đoàn kết hợp nhất 3 tổ chức đầu tiên ở Bắc-Nam-Trung xây dựng thành một Đảng thống nhất cho cả nước: Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng ra đời kết thúc một giai đoạn khủng hoảng trong đường lối cứu nước, trở thành một tổ chức Đảng tiên phong, đi đầu mở lối cho một phong trào cách mạng của quần chúng được lãnh đạo trong một tổ chức chặt chẽ, có lý thuyết cách mạng tiên tiến soi đường, có chiến lược, sách lược thích hợp với bối cảnh lịch sử trong và ngoài nước.

Mười một năm sau ngày lịch sử ấy, nhân dân ta và đặc biệt là đồng bào Cao Bằng, đã có niềm vinh hạnh đón Bác sau 30 năm bôn ba đi khắp 5 châu 4 biển tìm đường cứu nước, đã bí mật trở về xúc động ôm trong tay hòn đất của tổ tiên ở cột mốc 108 nơi địa đầu biên giới, giữa bà con dân tộc thiểu số đang đón Tết năm Tân Tỵ (1941).

Bác về ở Pác Bó ngày mồng 2 Tết để chuẩn bị triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, điều chỉnh chiến lược và sách lược đấu tranh cách mạng cho phù hợp với hoàn cảnh khách quan của tình hình thế giới và trong nước. Bác chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Trên cơ sở phân tích như vậy, dưới sự chỉ đạo của Bác, Hội nghị đã nhất trí xác định lại nhiệm vụ chiến lược và tính chất của cách mạng Việt Nam: “Không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền (cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề phản đế với điền địa), mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp: dân tộc giải phóng. Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”.

Mặt trận Việt Minh thành lập năm 1941 công bố Tuyên ngôn, chương trình với Điều lệ, trong đó nhấn mạnh rằng: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”.

Bác giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng và phát triển lực lượng mạnh mẽ ở một số khu vực đầu tiên tại miền núi Việt Bắc cho các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng.

Đến mùa xuân năm sau (1942) nhiều “tổng hoàn toàn” và “châu hoàn toàn” theo Việt Minh đã xuất hiện ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn. Phong trào được lực lượng vũ trang của Tuyên truyền giải phóng quân cổ vũ và ủng hộ đã nhanh chóng tiến nhanh đến thời kỳ tiền khởi nghĩa và giành được thắng lợi hoàn toàn trong Tổng Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành được chính quyền độc lập trên cả nước khi Đảng mới 15 tuổi.

Mùa xuân năm Bính Tuất (1946) trong không khí hồ hởi của toàn dân đón mừng ngày Tết năm Độc lập đầu tiên, đêm 30, Bác ra Bờ Hồ Hoàn Kiếm, hòa trong dòng người hào hứng đón xuân ở Đền Ngọc Sơn, rồi bảo các đồng chí tùy tùng đến thăm mấy phố nhỏ, ngõ nhỏ gần hồ Hoàn Kiếm.

Bác rảo bước đến ngõ Phất Lộc, dừng chân trước một căn nhà lụp xụp trống tênh trống toàng, thì vừa gặp người chủ nhà là một phụ nữ đi gánh nước về nhà. Chị ngạc nhiên nhìn mấy vị khách lạ. Được hỏi vì sao đến gần giao thừa còn đi kiếm nước, chị đã trả lời chị đi gánh nước thuê cho những nhà khấm khá muốn có chum nước đầy ngày Tết để ra giêng có tiền của nhiều như nước. Bác xúc động nhìn chị chủ nhà với đàn con rách rưới, cả nhà không có gì là Tết. Người mẹ nghèo lúng túng nhìn khách đến không có chỗ ngồi. Sau phút ngơ ngác, chị định thần nhìn ra ông cụ cao tuổi trong đoàn đúng là Bác Hồ như trong ảnh.

Chị bàng hoàng ấp úng: Bác Hồ! Thưa Bác, sao Bác lại đến nhà cháu?

Bác cũng xúc động và nói: Không đến nhà cháu thì Bác đến nhà ai?

Bác nhìn mấy mẹ con chị, rồi nói với đồng chí Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng: Chú có thêm nhiệm vụ!

Và rồi một tháng sau, chị phụ nữ nghèo ấy được Ủy ban gọi cho đi làm một chân tạp vụ ở sở công trình thị chính Hà Nội.

Chị nhớ mãi cái đêm giao thừa được gặp Bác năm ấy.

Tết năm sau, những ngày hòa bình đã sớm chấm dứt, giặc Pháp gây hấn tiến hành cuộc xâm lược nước ta một lần nữa. Cuộc toàn quốc kháng chiến bắt buộc phải bắt đầu. Tết kháng chiến đầu tiên, năm Đinh Hợi (1947), ai cũng tưởng Bác đã lên chiến khu Việt Bắc, an toàn khu. Không ai biết, ngày Tết kháng chiến ấy, Bác đã lặn lội vào Thanh Hóa, với mục đích sâu xa: củng cố cho Thanh Hóa trở thành một hậu phương quan trọng, làm thế ỷ giốc cho Việt Bắc và đồng bằng, trung du Bắc Bộ. Muốn thế, vấn đề con người, vấn đề cán bộ là vấn đề phải lo đầu tiên. Củng cố và nâng cao phẩm chất cán bộ để được lòng tin của nhân dân thì việc đầu tiên phải làm là phòng tránh và khắc phục ngay những bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, là việc cần thực hiện kiên quyết, không khoan nhượng. Hồ sơ còn lưu của Ban lịch sử Đảng tỉnh ủy Thanh Hóa còn ghi chép đầy đủ bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ chủ chốt toàn tỉnh Thanh hóa. Bác dặn dò:

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy- nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ, máy cũng bị tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được. Vậy cán bộ phải có đức tính như thế nào?

1. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tực túc. Đừng kiêu ngạo, phải học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng, tiết kiệm.

2- Đối với đồng chí mình phải như thế nào? Phải thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay, sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ganh ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị. Thí dụ, một anh nói giỏi, một anh không, khi ra quần chúng anh nói kém sợ anh nói giỏi lên sẽ được công chúng vỗ tay hoan nghênh lấn át ảnh hưởng mình đi, nên không cho anh nói giỏi lên nói.

3- Đối với công việc, phải thế nào? Trước hết, phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi, nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế, phải tránh.

4 – Đối với nhân dân: Phải nhớ đoàn thể (Đảng) làm việc cho dân, đoàn thể (Đảng) mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Phải hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng có những việc dân không muốn mà phải làm, như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ.

Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục, phải được dân tin, muốn cho dân tin, phải thanh khiết (tức trong sạch, liêm khiết).

5 – Đối với Đoàn thể: Trước lúc mình vào đoàn thể nào, phải hiểu đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Mỗi đoàn thể phải vì dân, vì nước. Khi bình thời phải hết sức làm việc. Khi nguy hiểm, phải hy sinh vì đoàn thể. Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của đoàn thể. Muốn giữ danh giá của đoàn thể, phải giữ danh giá của mình. Không được báo cáo láo như: làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi.

Sau Hội nghị ngày Tết ấy, Bác còn gửi thư chung cho toàn thể các đồng chí Trung bộ, yêu cầu phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm: địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, cô độc, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, ích kỷ, kiêu ngạo,v.v…

Bác đặc biệt lưu ý: “Thậm chí có nơi có những đồng chí còn giữ óc địa vị, cố tranh làm cho được chức ủy viên này, chủ tịch kia. Còn những đồng chí lo ăn ngon mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của công thành của tư, đạo đức cách mạng thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc. Có nơi các đồng chí chẳng những không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau, tha thứ cho nhau, giấu cả đoàn thể. Thành thử càng này càng hủ hóa, càng hỏng việc”.

Những lời Bác khuyên nhủ cặn kẽ như trên, khi thấm vào gan ruột từng người, đã khiến cho Thanh Hóa rèn luyện được một đội ngũ cán bộ cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, được lòng dân nên đi đến thắng lợi trong mọi việc.

Lời Bác dạy trong Tết năm Đinh Hợi (1947) nay còn được in trong cuốn Hồ Chí Minh Toàn tập (tập I) để làm bài học luôn luôn mới, soi sáng đường cho chúng ta đi.

Trần Thái Bình

VGPNews

Đã hơn nửa thế kỷ có “Tết trồng cây”

– “Tết trồng cây” đầu tiên được ghi nhận vào mùa Xuân năm 1960, gắn liền với phong trào thi đua kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (khi đó còn lấy ngày 6/1). Nhưng phải nói cho đúng hơn nó được khởi xướng bằng một bài báo ngắn đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 28/11/1959 của Bác Hồ.

Tên của bài báo gồm 3 chữ được đặt trong ngoặc kép “Tết trồng cây”, đặt vấn đề bên cạnh các hình thức hoạt động đã có thường được phát động để lấy thành tích chào mừng ngày thành lập Đảng, “chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”.

Rồi tác giả bài báo phân tích một cách rạch ròi, dễ hiểu: “Miền Bắc ta có độ 14 triệu, trong số đó có 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây… Như vậy mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây…

Từ 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, vừa cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong 10 năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần cải thiện đời sống của nhân dân ta. Đó cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng, đều có thể hăng hái tham gia”.

Ảnh Bác Hồ trồng câyẢnh Bác Hồ trồng cây

Bài báo viết cực kỳ đơn giản mà đầy tính thuyết phục và cùng với thời gian, chúng ta càng thấy giá trị sâu sắc của nó khi cả nhân loại đang đứng trước những thử thách của sự suy thoái môi trường mà việc trồng cây, gây rừng vẫn luôn là một giải pháp quan trọng hàng đầu. Nhưng Bác Hồ cũng hiểu rằng một cuộc vận động quần chúng là vô cùng gian khổ trong đó vai trò tổ chức và quản lý của nhà nước và các tổ chức xã hội là vô cùng quan trọng.

Có thể nói kể từ đó, Bác không chỉ là người phát động mà còn theo sát từng bước đi, không chỉ khuyến khích cổ vũ mà còn chăm chút chỉ bảo, phê bình và tìm tòi những biện pháp để cuộc vận động không chỉ mang lại kết quả thiết thực mà còn mong muốn biến nó thành một tập quán tốt đẹp của xã hội mới.

Vào Mùa Xuân năm Kỷ Dậu, Bác Hồ viết bài báo cuối cùng cổ vũ “Tết trồng cây” năm 1969, trong đó  đưa ra nhận định rằng “Tết trồng cây đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta” và tổng kết thực tiễn cho rằng: mọi người đều nên tham gia trồng cây nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực. Bác Hồ còn nhắc đến một nhận thức mới là “Chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa”

Đến nay, nhiều cây Bác trồng đã trở thành những di tích lịch sử lâu bền làm tấm gương cho các đời sau về mẫu mực của con người hiện đại: thân thiện và bảo vệ môi trường sinh thái.

Và Tết trồng cây tiếp tục được duy trì và được phát động mỗi một Mùa Xuân sang, như một tập quán văn minh của dân tộc ta. Hiểu theo một nghĩa nào đó thì “Tết trồng cây” đã đi trước thời đại và ngày càng phù hợp đối với mối quan tâm của thế giới hiện đại trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

“Người là bậc thánh nhân”

– Đêm 14/2/1961 là giao thừa Tết Tân Sửu, đã thành nếp, Bác đi thăm và chúc Tết một gia đình công nhân Nhà máy gỗ Cầu Đuống, gia đình một Việt kiều mới về nước, một xã viên hợp tác xã người Hoa và gia đình các bác sĩ Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng.

Thăm hỏi nhau nhân ngày Tết vốn là tập quán dân ta từ xưa. Nhưng người đứng đầu quốc gia đêm giao thừa thăm dân gian là điều không phải đời nào cũng có. Đêm 30 tháng Chạp Năm Ất Dậu (1945) để đón Tết Độc lập đầu tiên (Bính Tuất, 1946), Bác và cùng một nhà báo Mỹ hoà lẫn vào dòng người vào Đền Ngọc Sơn thắp hương trước phút giao thừa.

14-2-1961, CTHCM chúc tết gia đình đc Nguyễn Phú Lộc, cán bộ công đoàn Nhà máy cơ khí Hà Nội.jpgNgày 14/2/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết gia đình đc Nguyễn Phú Lộc, cán bộ công đoàn Nhà máy cơ khí Hà Nội.

Sau đó, lặng lẽ (chứ không trống dong cờ mở) rủ ông thị trưởng Trần Duy Hưng đến chúc Tết gia đình ông Từ Lâm, bán sách cũ ở Cửa Nam, một gia đình nghèo ở phố Hàng Đũa (nay là ngõ Lương Sử), một gia đình buôn bán ở Phố Phúc Kiến (nay là phố Lãn ông), một gia đình công chức ở phố Hàng Lọng (nay là đường Lê Duẩn). Chiều hôm đó, nhận được bức trướng thêu bài thơ “Kính tặng các bậc anh hùng dân tộc” của thi sĩ Ngân Giang, Bác làm thơ đáp lại: “Gửi lời cảm tạ Ngân Giang/ Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”.

Từ Tết năm 1955, trở về Thủ đô hoà bình, giao thừa hàng năm Bác lại tiếp tục thăm dân. Chuẩn bị đón Tết Kỷ Dậu (1969) cũng là cái tết cuối cùng của Bác, thư ký Vũ Kỳ kể rằng, giáp ngày giao thừa Bác lại nhắc chuẩn bị chương trình thăm hỏi nhân dân.

Nhiều người có trách nhiệm muốn Bác hạn chế đi lại vì lo lắng cho sức khoẻ của Bác lúc này đã rất kém. Đêm giao thừa năm đó Bác ở nhà nhưng không quên gửi lẵng hoa chúc Tết cho một số cơ quan, trong đó có khối 30 khu phố Đống Đa, phân đội  Đoàn Công an vũ trang bảo vệ Thủ đô.

Tuy nhiên, sáng 1 Tết Bác vẫn lên đường đến thăm và chúc Tết Quân chủng Phòng không – Không quân tại sân bay Bạch Mai (Hà Nội), thăm hỏi nhân dân và trồng cây ở Vật Lại (Hat Tây) nhân 10 năm phát động “Tết trồng cây” .

Còn trong đêm giao thừa Tết Tân Sửu 1961, việc Bác đến thăm gia đình 2 trí thức lớn, lại đều xuất thần từ những tầng lớp trên trong xã hội cũ đã một lòng đi theo cách mạng và có nhiều đóng góp lớn lao đã mang lại những cảm xúc lớn  không chỉ cho những gia đình Bác đến thăm mà còn là những động viên to lớn cho khối đại đoàn kết toàn dân,

Bà nội của Bác sĩ Hồ Đắc Di là cháu nội của Tùng Thiện Vương. Bác sĩ được đào tạo tại Pháp và trở thành bác sĩ phẫu thuật và người Việt Nam đầu tiên đứng trên bục giảng Đại học ở Pháp. Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã quyết định một lựa chọn quan trọng trong cuộc đời của nhà trí thức lớn này, điều mà Cụ Hồ Đắc Di đã tâm sự trong hồi ký của mình: “Đối với tôi, một trí thức thuộc tầng lớp trên, thì Hồ Chủ tịch… đã quyết định sự lựa chọn con đường đi của tôi suốt mấy chục năm nay…

Càng sống lâu, càng suy ngẫm, càng hiểu biết, càng nhìn thấu kim cổ Đông Tây, ta càng thấy Bác Hồ của chúng ta quả là bậc vĩ nhân… Người là bậc thánh nhân xuât chúng nhưng lại không xa rời nhân dân đại chúng, là nhân vật thần thoại truyền kỳ nhưng lại gần gũi biết bao đối với những con người bình thường, nhỏ bé và bất hạnh. Người có ảnh hưởng sâu xa đến tâm tư, tình cảm của mỗi chúng ta, trẻ cũng như già”.

X&N
bee.net.vn

Mùng 1 Tết cách nay 49 năm

– Ngày 6/2/1951 là mồng 1 Tết Tân Mão, trên báo “Cứu Quốc” của Mặt trận Liên Việt ra trước đó 1 ngày đã đăng “Thư chúc Tết” của Bác Hồ mang tinh thần phấn khởi sau chiến thắng của Chiến dịch Biên giới, cuộc kháng chiến bắt đầu có được nguồn lực của bè bạn quốc tế:

“Xuân này kháng chiến đã 5 xuân/ Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công/ Toàn dân hăng hái một lòng/ Thi đua chuẩn bị Tổng phản công kịp thời”.

Bác đến dự liên hoan tại Câu Lạc bộ thiếu nhi đêm giao thừa Nhâm Dần tháng 2/1962Bác đến dự liên hoan tại Câu Lạc bộ thiếu nhi đêm giao thừa Nhâm Dần tháng 2/1962

Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại ngày Tết kháng chiến thứ 5 của Bác: “Mùng Một Tết Tân Mão. Vừa sáng, Hồ Chủ tịch đã dậy và đến phòng các vị bộ trưởng, thứ trưởng bắt tay và chúc Tết từng người một. Riêng Bộ Tài chính, Cụ chúc năm mới “phát tài”. Mọi người đều vui mừng và bắt tay Cụ trong phòng ngủ.

Một vài vị ngủ trưa (dạy muộn) bị Cụ “đột kích” chồm dậy mắt nhắm mắt mở nhảy xuống bắt tay Cụ và bập bẹ một câu nửa mê nửa tỉnh làm ai nấy cười rộ. Ăn sáng xong, Hội đồng Chính phủ họp…”.

Đây là cái Tết thứ hai các thành viên chính phủ ăn Tết chung, lần trước là Tết Đinh Hợi (1947) họp tại Quốc Oai (thuộc tỉnh Hà Đông, gần Hà Nội) lần này trên chiến khu Việt Bắc, lần trước đang đối phó với sự tấn công của giặc, lần này đã khai thông biên giới chuẩn bị Tổng phản công.

Tại kỳ họp Chính phủ này sau khi nghe chúc Tết của đại diện Quốc Hội (cụ linh mục Phạm Bá Trực), đại diện Chính phủ (cụ Phan Kế Toại, bộ trưởng cao niên nhất) và của Quân đội (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), “Đến lượt Hồ Chủ tịch cám ơn và chúc mọi người. Cụ cho mang vào một mâm cam và biếu mỗi vị một quả với câu “khổ tận cam lại” (khổ mãi rồi cái sướng sẽ đến)… Cụ lại dặn các vị có gia đình thì đem về làm quà cho gia đình…” Cuộc họp kéo dài đến tối.

Tối hôm đó “Hồ Chủ tịch và các vị bộ trưởng, thứ trưởng chơi lửa trại. Hồ Chủ tịch bắt mỗi người đều có một trò chơi, hoặc làm thơ, hoặc nói chuyện hoặc hát. Bắt đầu là Hồ Chủ tịch rồi đến các vị khác theo thứ tự ABC…”. Ngày hôm sau Chính phủ tiếp tục họp cho đến 1 giờ chiều và mọi người lên đường tới địa điểm chuẩn bị cho cuộc họp trù bị Đại hội lần thứ Hai của Đảng diễn ra vài ngày sau đó.

Cùng trong ngày mùng Một Tết Tân Mão, Bác còn viết nhiều lá thư chúc Tết các đơn vị quân đội và đồng bào miền Trung Du vừa dành thắng lợi trong trên chiến trường và ký vài sắc lệnh liên quan đến việc giúp vốn cho người nghèo tăng gia sản xuất và giảm án tử hình cho một phạm nhân…

Ngày 6/2/1969, 10 giờ 15 phút, tại Phủ Chủ tịch, Bác làm việc với Đài phát thanh để ghi lời chúc mừng năm mới để phát vào phút giao thừa bước sang Xuân Kỷ Dậu, mùa Xuân cuối cùng với câu thơ kết thúc bằng một viễn cảnh tươi sáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: “Bắc Nam xum họp Xuân nào vui hơn!”.

X&N
bee.net.vn

Hai bài thơ chúc Tết thời kháng chiến

 Ngày 29/1 ứng với 2 ngày mùng 1 Tết Nguyên đán của năm Kỷ Sửu (1949) và Mậu Thân (1968).

Tết Kỷ Sửu vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã vượt qua thách thức của thời kỳ cầm cự, bài “Thơ chúc Tết” của Bác Hồ, người đứng đầu lực lượng kháng chiến mang đầy tinh thần khích lệ và lạc quan: “Kháng chiến lại thêm một năm mới/ Thi đua yêu nước thêm tiến tới/ Động viên lực lượng và tinh thần/ Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi/ Người người thi đua/ Ngành ngành thi đua/ Ngày ngày thi đua/ Ta nhất định thắng!/ Địch nhất định thua!”.

Ngày 29/1/1960, Bác Hồ thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam.Ngày 29/1/1960, Bác Hồ thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam.

Cũng nhân ngày Tết Nguyên đán, từ chiến khu Việt Bắc, Bác gửi “Thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm thời bị địch chiếm”. Bằng những lời lẽ thống thiết, thư viết: “… Trong ngày xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào…

Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào tạm lâm vào hoàn cảnh ấy vì lũ thực dân hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân…

Nhân dịp năm mới, tôi trịnh trọng tuyên bố với đồng bào rằng: Chính phủ và quân đội ta kiên quyết kháng chiến đến cùng, để tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để mau mau giải phóng đồng bào ra khỏi lầm than…”.

19 năm sau, ngày 29/1/1968 chính là ngày “Tết Mậu Thân” ngày nay đã trở thành một thuật ngữ sử học gắn liền với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn bộ chiến trường miền Nam. Theo người thư ký thân cận là ông Vũ Kỳ thì vào thời điểm giao thừa này Bác không có mặt ở trong nước.

Ông viết: “Tối nay từ Bắc Kinh xa xôi, hai bác cháu lại ngồi im lặng bên nhau nghe tin tức, ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Chắc Bác đang nhớ về đất nước, nhớ chiến sĩ và đồng bào, nhớ các cháu thiếu nhi… Chỉ có mùa Xuân này Bác phải xa Tổ quốc…

Có tiếng pháo nổ ran tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Cùng lúc, từ chiếc đài bán dẫn, lời chúc Tết của Bác Hồ vang lên sang sảng: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng lợi tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta”. Trong căn phòng chỉ có 2 người… khi đài phát xong câu cuối của bài thơ, tôi bỗng nghe Bác nói khẽ “Giờ này, miền Nam đang nổ súng…”.

Giờ đây nhìn lại trận quyết chiến chiến lược này, lịch sử nói đến những hy sinh to lớn và cuộc chiến đấu còn gian khổ phải thêm 7 năm nữa mới tới ngày toàn thắng (1975), nhưng điều có thể khẳng định rằng nó đã tạo nên một bước ngoặt căn bản đánh bại ý chí xâm lược và buộc Mỹ phải bước vào cuộc hội đàm ở Paris.

X&N

bee.net.vn

“Một năm khởi đầu bằng mùa Xuân”

– Nhật ký của Vũ Kỳ, người thư ký gần gũi của Bác Hồ viết:

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

“Ngày 20/1/1946: Dân Hà Nội năm nay có lẽ nghỉ Tết sớm hơn mọi năm, Tết Bính Tuất sắp tới là Tết Độc lập đầu tiên của cả nước và của từng nhà, còn hơn một tuần nữa mới tới ngày tiễn Ông Táo lên trời mà nhiều nhà đã sửa soạn cả rồi. Bác Hồ đã nghĩ sớm đến Tết, nhưng Bác chẳng có gì để chuẩn bị và cơ quan cũng chưa chuẩn bị gì cả. Công việc ngày càng bận rộn.

Ngay đầu giờ làm việc sáng nay, Bác viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến. Chẳng là tối qua, Bác hỏi còn mấy ngày thì tới 23 tháng Chạp. Thư ngắn gọn và cứ tưởng Bác đang nói chuyện với mọi người. Chắc đêm qua Bác nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ .

Thư mở đầu bằng câu: “Dân ta là một dân tộc giàu lòng bác ái…” và kết thúc bằng câu : “…sao cho mọi người đều được hưởng cái thú vui vẻ Tết xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập” (hết nhật ký).

Đọc toàn văn bức thư này trong “Hồ Chí Minh toàn tập” còn có đoạn:

“Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”. Đời sống mới là: – Hăng hái kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ – Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm – Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ – Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”.

X&N
bee.net.vn

Có nên bỏ hết tiền ra mua sắm Tết?

 10 ngày trước Tết Canh Tý, ngày 18/1/1960, trên báo “Nhân Dân”, với bút danh T.L, Bác viết bài “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” đặt vấn đề có nên biến ngày Xuân thành dịp tiêu pha “có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù” hay không?

Bác cho rằng “thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân! Nên nhớ rằng hiện nay chúng ta phải cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội. Không nên vì một cớ gì mà quên nhiệm vụ ấy”.

Tháng 1/1960, Bác thăm thị xã Kíên An đang nhận những bó hoa của các cháu thiếu nhiTháng 1/1960, Bác thăm thị xã Kiến An, đang nhận những bó hoa của các cháu thiếu nhi

Bài báo kết luận: “Các đồng chí cán bộ ta cần phải hướng dẫn đồng bào làm cho Tết Canh Tý thành một cái Tết vui vẻ và tưng bừng, đồng thời là một Tết tiết kiệm và thắng lợi.

“Trăm năm trong cõi người ta
Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan
Mừng Xuân, Xuân cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân”

Nhắc lại ngay Tết Độc lập đầu tiên (1946) trên báo “Cứu Quốc” vị Chủ tịch của nước Việt Nam mới cũng viết bài báo có nhan đề “Tết” nêu rõ: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái.

Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với: Những chiến sĩ oanh liệt trước mặt trận. Những gia quyến các chiến sĩ. Những đồng bào nghèo nàn. Sao cho mọi người đều được hưởng thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập”.

Cũng Tết năm đó, Bác còn viết bài “Gương sáng suốt của Đời sống mới ”biểu dương“ các vị kỳ lão Đình Bảng và làng Xuân Tảo đã đem số tiền mừng thọ… ủng hộ vào Quỹ Cứu quốc và ủng hộ chiến sĩ. Các vị ở xã Đông Hội, Gia Khánh, Ninh Bình đem ba phần tư tiền tế Thành hoàng… để giúp chiến sĩ người mặt trận. Họ Nguyễn Thượng của làng Thượng Phúc.. giảm ăn uống cúng giỗ để quyên vào Quỹ chiến sĩ…”.

Bài báo kết luận: “Ba việc đó chẳng những đã tỏ lòng vàng ngọc của đồng bào các làng xã kể trên, đồng thời cũng là một gương sáng trong sự thực hành Đời sống mới cho đồng bào cả nước”.

X&N
bee.net.vn

“Đánh kẻng còn hơn gẩy đàn”

– Ngày 17/1/1926, lúc này Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Lý Thuỵ đang hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc) nhằm tập hợp các thanh niên từ trong nước mới sang. Trên báo “Thanh Niên” do Nguyễn Ái Quốc sáng lập đăng bài “Báo chí bình dân” nhằm đưa ra một quan niệm về báo chí cách mạng. 

Bài báo viết: “Các bạn chúng ta phàn nàn nhiều lần rằng các bài báo của ta thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng. Chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngựơc lại, chúng tôi gắng sức vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Ngày 17/1/1967, Bác Hồ tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở VNNgày 17/1/1967, Bác Hồ tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở VN

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2. khích lệ dân tộc An Nam liên kết lại, 3. làm cho họ thấy đuợc nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm thế nào để tránh được những điều đó nên bản báo của chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động … Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng, những trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn!

Có nhiều cách làm rung động lòng người. Khóc lóc, than vãn, đọc Kiều hay Tam Quốc đều khiến ta mủi lòng. Nhưng đó chỉ là những cảm xúc thoáng qua và hời hợt mà chúng tôi không muốn gợi lên trong lòng độc giả chúng tôi. Ngược lại, chúng tôi muốn rằng văn của chúng tôi gây được cho họ ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài.

Ví dụ, nếu gặp một nông dân An Nam quần áo tả tơi, chúng tôi sẽ bằng một giọng đầy thương cảm, nhưng che giấu đi niềm xúc động và nuốt nước mắt mà nói rằng: Than ôi! Sao mà số phận anh khốn khổ thế này. Anh mua giống hết 2 đồng, mua phân 4 đồng, thuê thợ 5 đồng và nộp thuế 1 đồng. Tiền anh chi đã lên đến 15 đồng, anh bán thóc được 18 đồng. Nhưng vì anh đã phải nộp thuế chợ 1 đồng, nên thực ra anh chỉ được 2 đồng, mà tiền ấy, anh cũng bị Pháp cướp mất. Vì thế tôi mới bảo rằng anh khốn khổ.

Anh nông dân của chúng ta sẽ không khóc, không than. Nhưng anh ta suy nghĩ, hiểu ra và cuối cùng sẽ vùng lên và làm cái việc tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc. Còn những ai yêu thơ thì họ cứ tự do đắm chìm mà đọc Cung Oán hay Nhị Độ Mai.”

X&N
bee.net.vn

“Kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”

 Ngày 16/1/1947, hơn một năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, sau khi chủ trì một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình các mặt trận trên cả nước, thảo luận về việc tổ chức tản cư nhân dân ra khỏi các vùng chiến sự, vấn đề xây dựng nền giáo dục kháng chiến và chăm sóc thương binh…, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”.

Bác Hồ đọc Thơ Chúc Tết tháng 1/1967

Bác Hồ đọc Thơ Chúc Tết tháng 1/1967

Sau “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” ngày 20/12/1946 thì đây là một văn kiện quan trọng của người đứng đầu Nhà nước kêu gọi dân chúng tiếp tục cuộc kháng chiến bằng những việc làm cụ thể và thiết thực.

Văn kiện viết: “Vì sao ta phải kháng chiến? Vì không kháng chiến, thì Pháp sẽ cướp nước ta lần nữa. Chúng sẽ bắt dân ta làm nô lệ lần nữa. Vì ta không chịu làm trâu ngựa cho Pháp, vì ta phải gìn giữ non sông đất nước ta, cho nên ta phải đánh bọn thực dân Pháp. Đánh thì phải phá hoại. Ta không phá thì Pháp cũng phá…

Vì vậy ta phải phá trước, cho Pháp không dùng được. Bây giờ chúng ta phá đi, để chặn Pháp lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng, ta vì nước hy sinh chịu khổ một lúc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, ta sẽ cùng nhau kiến thiết sửa sang lại nào có khó gì.

Vậy tôi thiết tha kêu gọi toàn thể đồng bào ở đây, mọi người đều ra sức giúp phá. Phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc của đồng bào cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy.

Tôi lại trân trọng hứa với đồng bào rằng: kháng chiến thắng lợi rồi, tôi sẽ ra sức cùng đồng bào sửa sang tu bổ lại hết. Chúng ta sẽ làm những đường sá, cầu cống khéo hơn, những nhà cửa tốt hơn, và xứng đáng một dân tộc tự do, độc lập hơn.”

Cuộc “tiêu thổ kháng chiến” được lịch sử ghi nhận như một “tấn bi kịch lạc quan”. Đó là sự mất mát rất to lớn những di sản vật chất nhưng lai biểu dương một nghĩa khí anh hùng.

Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đánh ra miền Bắc, cái tinh thần này tiếp tục được thể hiện trong ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được nêu lên trong lời kêu gọi ngày 17/7/1966 của Bác Hồ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và môt số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn!”.

X&N
bee.net.vn

Một kỳ họp trên Chiến khu

 Ngày 15/1/1948, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng. Nhật ký của Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến thuật lại hội nghị này.

“Ngày 14/8:.. Hôm nay cùng anh em trung uỷ (tức Uỷ viên Trung ương Đảng- X&N) ăn cơm tại nhà Cụ. Bữa cơm vui vẻ quá. Cụ khôi hài tợn.

Cụ cho một cái áo ấm của đồng bào các nơi biếu Cụ nhưng vì sẵn có áo ấm rồi nên Cụ để tặng lại người khác thiếu thốn hơn. Đêm ngủ tại đây, bên cạnh một đống lửa hồng ấm áp quá”.

Bác Hồ đọc thơ chúc Tết tháng 1/1969Bác Hồ đọc thơ chúc Tết tháng 1/1967

Ngày 15/1/1948: Buổi sáng Cụ cặm cụi chế cà phê và cho mỗi người một cốc. Ấm bụng rồi Cụ và các anh em đi đến địa điểm hội nghị. Trong một khoảng rừng khác, một ngôi nhà rộng rãi của đồng bào Mán đã chật cả người. Ai nấy đều ra đón chào Cụ. Anh em gặp nhau sau những ngày vất  vả vì cuộc tấn công của địch (trận tập kích của Pháp lên Bắc Kạn-X&N), vui mừng quá.

Cụ bắt tay mọi người rồi câu chuyện thân mật đậm đà kéo dài chung quanh Cụ trong lúc gió trong rừng hắt vào lạnh thấu xương. Cuộc hội nghị bắt đầu từ 8h30, sau khi làm lễ chào cờ, mặc niệm chiến sĩ vong trận và lễ giới thiệu các trung uỷ và các cán bộ có mặt. Lễ này long trọng quá, trên đỉnh đồi cao và kín…Hội nghị đến tối mò mới nghỉ…”.

Sau Hội nghị Trung ương, Hội đồng Chính phủ họp tiếp dưới sự chủ tọa của Bác cho đến ngày 19/1 bàn nhiều vấn đề quan trọng trong đó có việc phong hàm cấp tướng đầu tiên cho một số cán bộ quân đội và việc phát hành tiền tài chính…

Cũng trong ngày Bác còn viết thư thăm hỏi và động viên một vị quan lang có uy tín của dân tộc Mường là cụ Đinh Công Phủ, trong thư bày tỏ xin biếu một tấm áo trấn thủ do nhân dân gửi biếu nay tặng lại.

X&N
bee.net.vn

Những lời chúc đầu năm

– Về nước từ đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị Trung ương, thành lập Mặt trận Việt Minh (5/1941).

LTS: Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác Hồ, Bee giới thiệu mục “Mỗi ngày nhớ một điều”,  điểm lại những sự kiện liên quan tới Người trong từng ngày của năm.

Nhận thấy cơ hội cứu nước đang đến gần, bước sang năm mới, Bác làm bài thơ “Chúc năm mới” đầu tiên đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” với những lời cổ vũ : “… Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !/Chúc cho Việt Minh càng tấn tới ! / Chúc toàn quốc ta trong năm này / Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!/ Năm nay là năm rất vẻ vang/ Cách mệnh thành công khắp thế giới /.

Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lênh ban bố Hiến pháp sửa đổi vừa đuợc Quốc hội thông qua.

Kể từ năm ấy, hàng năm Bác Hồ thường có thơ chúc Tết với một ý nghĩa khiêm nhường: “Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi ,vừa là mừng Xuân”…cho đến mùa Xuân Kỷ Dậu (1969) là bài thơ chúc Tết cuối cùng vạch ra cho đồng bào và chiến sĩ con đường đi đến toàn thắng:“… Vì độc lập, vì tự do / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào / Tiến lên ! Chiến sĩ, đồng bào / Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn”.

XN
cpv.org.vn