Thư viện

Ứng cử viên Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nông dân (từ sách Ánh sáng từ sông Hồng, 1955 - của nhà báo Đức Franz Faber)

TTCT – Ngày 10-12-1945, danh sách ứng cử viên khu vực Hà Nội được niêm yết rộng rãi. Trong danh sách, Bác đứng thứ hai sau cụ Nguyễn Văn Tố. Tất cả 74 ứng cử viên, chọn lấy sáu đại biểu.

>>Vị Chủ tịch với người bạn cũ
>>Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá
>>Hai bộ sưu tập tranh độc đáo về Bác Hồ
>>Chuyên trang mới trên Tuổi Trẻ Online: Theo gương Bác

Một điều bất ngờ với Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày tổng tuyển cử là: tại thủ đô Hà Nội, 118 chủ tịch các UBND và tất cả đại biểu làng xã tại Hà Nội đã nhất trí công khai một bản kiến nghị.

Nội dung bản kiến nghị là: Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đáp lại nguyện vọng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đồng bào ngoại thành Hà Nội:

“Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khắc cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của cuộc tổng tuyển cử đã định.

Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa.

Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Mặc dù tất cả ứng cử viên đã được đăng tiểu sử kèm theo ảnh trên báo, nhưng cử tri còn muốn được trực tiếp nghe các ứng cử viên nói rõ chương trình hành động của mình. Đó là những cuộc tiếp xúc rộng rãi, diễn ra hết sức sôi nổi ở khắp mọi nơi, trong một khung cảnh thật sự tự do và dân chủ.

Chiều 5-1-1946, Bác đến Khu học xá (nay là Trường đại học Bách Khoa, Hà Nội) cùng các ứng cử viên gặp gỡ cử tri.

Hôm ấy, trước đông đảo quần chúng có mặt, Bác đã nói với các ứng cử viên:

“… Vừa rồi đây, ta vừa giành được độc lập. Một số ít người, chỉ một số ít thôi, đã quên cái công khó nhọc của dân chúng. Ta đã phải hi sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó. Cụ Phan Đình Phùng, cụ Hoàng Hoa Thám đã khó nhọc vì cái quyền dân chủ ấy lắm. Biết bao người đã bị bắn, bị chém, đã đeo cái tên chính trị phạm và bị nhốt đầy các nhà tù Sơn La, Côn Đảo, Ban Mê Thuật mới đòi được cái quyền dân chủ ngày nay…”.

Bác Hồ còn quay sang phía các ứng cử viên nhắc nhở:

“Làm việc nước bây giờ là hi sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung…”.

Rồi hướng về các cử tri, Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy…”.

Sáng 5-1-1946, lời kêu gọi quốc dân đi bầu cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các báo đều đăng:

“Ngày mai, mồng 6 tháng Giêng năm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ:

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mặt quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thành thực câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng…”.

Đúng 7g sáng 6-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng hàng vạn cử tri thủ đô đi làm nghĩa vụ công dân.

Tư liệu TTXVN

Bác Hồ với Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II

Bác Hồ phát biểu trong một cuộc họp Quốc hội - Ảnh tư liệu

Đại hội Đảng lần thứ II diễn ra từ ngày 11-19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Ngày 3/2/1930 tại Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản đã chủ trì hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, mở đầu trang sử quan trọng của cách mạng ba nước Ðông Dương. Nhưng trong điều kiện phức tạp thời đó, phải năm năm sau vào tháng 3/1935, Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ I mới được chính thức triệu tập tại một địa điểm thuộc Ma Cao (Trung Quốc) và đổi tên thành Ðảng Cộng sản Ðông Dương.

Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta đã đoàn kết, hy sinh chiến đấu với kẻ thù tàn ác đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lật đổ ách thống trị của chế độ phong kiến, song ngay lập tức lại phải đứng lên kháng chiến trường kỳ chống lại thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

Thắng lợi lớn ban đầu của kháng chiến (cuối năm 1950) giải phóng các tỉnh biên giới phía bắc, phá thế bao vây của địch, thời cơ mới đã mở ra đòi hỏi sự tăng cường lãnh đạo của Ðảng phù hợp thực tế khách quan đang đặt ra và điều kiện tiến hành Ðại hội Ðảng lần thứ II đã chín muồi.

Ðầu xuân Tân Mão (1951) Bác Hồ đã có thơ tặng đồng bào cả nước:

“Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công
Toàn dân hăng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Vào thời điểm bước ngoặt lịch sử quan trọng đó, đầu năm 1951, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, Trung ương Ðảng đã quyết định khẩn trương triệu tập Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II tại trung tâm căn cứ địa kháng chiến tại Việt Bắc.

Ðồng thời là Ðại hội Ðảng toàn quốc lần đầu được tổ chức ở trong nước với quy mô lớn chưa từng thấy trước đó. Mặc dầu khi đó chiến tranh cứu nước đang diễn ra ác liệt, thế mà có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho toàn Ðảng đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại về dự Ðại hội.

Các đại biểu đều phấn khởi được gặp các đồng chí mới, cũ từ khắp các chiến trường Ðông Dương về hội tụ để nhận nhiệm vụ trọng đại của lịch sử, của Ðảng. Nhiều đồng chí lần đầu tiên có được vinh dự dự Ðại hội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ.

Những ngày này Bác hoạt động như không biết mệt mỏi, chỉ đạo sâu sát từ việc lớn đến việc nhỏ về mọi mặt. Bác thật sự là linh hồn của Ðại hội. Ðó là nhân tố quyết định thành công rực rỡ của sự kiện chính trị trọng đại này của dân tộc.

Trước Ðại hội một tháng, Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Ðảng đã tiến hành nhiều cuộc họp quan trọng ở bản Pèo, xã Khuổi Trang, huyện Chợ Ðồn, Bắc Cạn, và tại làng Mạ, xã Kiên Quyết (nay là Kiên Ðài), huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang để chuẩn bị mọi mặt, từ văn kiện, nhân sự đến tổ chức Ðại hội.

Hai ngày trước khi khai mạc Ðại hội, Bác Hồ đã đến địa điểm họp. Người trực tiếp quan tâm kiểm tra và tổ chức xem xét bếp ăn đến nhà nghỉ của đại biểu, hội trường, đài tưởng niệm liệt sĩ. Người đã gặp riêng anh chị em phục vụ hậu cần và thăm hỏi gia đình họ.

Bộ phận này do đồng chí Lê Tất Ðắc phụ trách (sau này đồng chí là Thứ trưởng Bộ Nội vụ). Bác cũng gặp lực lượng vũ trang bảo vệ Ðại hội để căn dặn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thành công cho Ðại hội.

Tại các phiên họp Ðại hội, Bác Hồ cùng các đồng chí Thường vụ T.Ư Ðảng chủ trì trong không khí trang nghiêm, biểu thị quyết tâm cao của những người cộng sản trước vận mệnh sống còn của quốc gia, dân tộc. Bác Hồ còn tham gia dự thảo luận ở các đoàn. Ở đâu Người cũng nhấn mạnh với các đại biểu về hai nhiệm vụ quan trọng lúc này là phải quyết tâm kháng chiến thành công và Ðảng ra công khai lấy tên là Ðảng Lao động Việt Nam.

Người nhấn mạnh Ðảng đổi tên nhưng bản chất không thay đổi, phải tiếp tục phát huy truyền thống Ðảng Cộng sản trong điều kiện mới. Báo cáo Chính trị do Hồ Chủ tịch trình bày trước Ðại hội có đoạn như sau: “Chúng ta phải có một Ðảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh đến thắng lợi, Ðảng đó lấy tên Ðảng Lao động Việt Nam”.

“Mục đích trước mắt, Ðảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Ngoài giờ họp chính thức, Bác Hồ có chương trình thăm hỏi động viên từng đoàn đại biểu, đặc biệt là đoàn đại biểu Nam Bộ, Lào, Cam-pu-chia. Bác như có sức hấp dẫn kỳ diệu, người đi đến đâu là ở đó có tiếng cười rộn ràng, giữa Người và các đại biểu không có sự ngăn cách tình cảm, Bác không phân biệt tuổi tác.

Khi tạm biệt mọi người đều tỏ luyến tiếc vỗ tay không ngớt, lúc chụp ảnh ai cũng muốn ngồi gần Bác. Bác thường ưu tiên cho nữ. Ðoàn Nam Bộ có ba nghệ sĩ tháp tùng (họa sĩ Diệp Minh Châu, họa sĩ Nguyễn Minh Hiền, nhiếp ảnh kiêm quay phim Nguyễn Thế Ðoàn) được Bác đặc cách cho phép theo về cơ quan tại Khâu Lấu, Tân Trào ba tháng sau Ðại hội để sáng tác theo yêu cầu của đồng bào miền nam.

Bác Hồ rất quan tâm đến hoạt động văn nghệ phục vụ Ðại hội. Người đã nhiều lần tham gia múa tập thể “Son lá son” rất sôi nổi hào hứng cùng các đại biểu. Các nhà quay phim, nhiếp ảnh chớp thời cơ hiếm có để ghi hình các hoạt động quan trọng của Ðại hội từ khai mạc đến bế mạc, đặc biệt là các hình ảnh về Bác Hồ. Nay Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi lưu giữ nhiều nhất các tư liệu quý về Bác Hồ ở Ðại hội II.

Tôi rất xúc động khi xem lại ảnh Bác Hồ chụp chung với các đồng chí lãnh đạo Ðảng trước hội trường. Trong số đó nay duy nhất chỉ còn lại đồng chí Nguyễn Văn Trân đã 95 tuổi, sau khi nhận được ảnh này, đồng chí đã cho phóng to cỡ 70×80 cm treo trang trọng tại phòng riêng ở Hà Nội.

Là cán bộ được tháp tùng Bác Hồ tại Ðại hội, tôi xin ghi lại đôi dòng theo hồi ức để bày tỏ nhiệt liệt hoan nghênh Kỷ niệm 60 năm sự kiện lịch sử trọng đại đang diễn ra ở Tuyên Quang và nhiều nơi trong cả nước. Mong rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các bài học tại Ðại hội II sẽ được nghiên cứu nâng cao để vận dụng vào thực tiễn hiện nay mà Ðại hội Ðảng lần thứ XI là sự nối tiếp lịch sử đang hướng về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Xuân Tân Mão, 2/2011

Nhiều hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II

Tại cuộc giao ban báo chí tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giới thiệu một số hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II (11-19/2/1951).

Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang vinh dự là Thủ đô khu giải phóng, nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ đã ở và làm việc, lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công. Với vị thế là Thủ đô kháng chiến, Tuyên Quang đã được chọn là nơi tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng – sự kiện đặc biệt quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan cho biết nhân kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang- Thủ đô kháng chiến” vào ngày 18/2/2011 với sự tham dự của các nhân chứng lịch sử, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, đại biểu các cơ quan Trung ương đã ở và làm việc tại Tuyên Quang trong Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược…

Lễ mít tinh kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II sẽ được tổ chức ngày 19/2/2011 tại Quảng trường Khu Di tích Đại hội II của Đảng ở xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa.

Trong dịp này, tỉnh Tuyên Quang tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, triển lãm trong toàn tỉnh và tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa (nguồn:

Chinhphu.vn).

Theo Tạ Quang Chiến
Báo Đảng Cộng sản/Nhân Dân

dantri.com.vn

Bác trả lời chất vấn của các ĐBQH

 Chính tại kỳ họp này trong phiên chất vấn Chính phủ, một số đại biểu của các đảng đối lập đưa ra yêu cầu xem xét lại quốc kỳ và đòi thay đổi, người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên tiếng một cách đanh thép.

“Ông Nguyễn Văn Tạo, đại biểu Quốc hội tỉnh Rạch Giá  vừa ở Nam Bộ mới ra phát biểu ý kiến. Sau khi trình bày tình hình kháng chiến ở Nam Bộ, ông kêu gọi:

“Đồng bào Nam Bộ đoàn kết, sẵn sàng tin tưởng vào vị Cha già thì một ngày mai lá cờ đỏ sao vàng sẽ trở lại phất phới toàn cõi Nam Bộ”. Khi ông Tạo ở diễn đàn bước xuống, Hồ Chủ tịch bắt tay rồi ôm lấy ông hôn, nước mắt của Hồ Chủ tịch lăn trên gò má, nhiều người bùi ngùi ứa lệ”.

Đó là mô tả phiên họp ngày 28/10/1946 của kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I, với sự bổ sung của 70 đại biểu của các tổ chức đảng phái chống đối Việt Minh như VN Quốc dân đảng, Đại Việt, Việt Nam Cách mạng Đảng…

 Chủ tịch Hồ Chí Minh bên lá cờ tổ quốc, ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946Chủ tịch Hồ Chí Minh bên lá cờ tổ quốc, ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946

Chính tại kỳ họp này trong phiên chất vấn Chính phủ, một số đại biểu của các đảng đối lập đưa ra yêu cầu xem xét lại quốc kỳ và đòi thay đổi, người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên tiếng một cách đanh thép:

“Chính phủ không bao giờ dám thay đổi quốc kỳ, chỉ vì một vài người trong Chính phủ  đề nghị viêc ấy lên, nên Chính phủ phải để qua Ban Thường trực Quốc hội xem xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ sao vàng đó nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đã đi từ Âu sang Á, tới đâu cũng đuợc chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà thay đổi nó”.

Nhận xét chung về những vấn đề các đại biểu chất vấn, Chủ tịch Hồ Chi Minh phát biểu: “Chính phủ hiện thời mới thành lập được hơn một năm  hãy còn thanh niên. Quốc hội bầu ra được hơn 8 tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà Quốc hội đã đặt những câu hỏi thật già dặn, sắc mắc khó trả lời, đề cập tới tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập?”.

“Không được xem nhẹ chính sách giá cả và ổn định giá cả, phải đẩy mạnh việc chống  tham ô, lãng phí, phải củng cố các chi bộ cơ sở, công tác xây dựng kế hoạch tài chính phải dựa trên nguồn vốn tự có trong ngân sách, không thể làm tuỳ tiện và phải chú ý thực hành tiết kiệm ở tất cả các ngành” – Ý kiến của Bác tại cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 28/10/1958, bàn về vấn đề kinh tế và tài chính

Ngày 28/10/1963, dự khai mạc kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khoá II và đón tiếp Đoàn đại biểu Hội Lao động giải phóng miền Nam Viêt Nam, Bác bày tỏ tình cảm đối với miền Nam ruột thịt khi tặng hoa và ôm hôn thắm thiết Trưởng đoàn Trần Văn Thành sau khi phát biểu tại diễn đàn Quốc hội.

X&N
bee.net.vn

Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hai phiên họp đầu tiên của Quốc hội (QH) khóa đầu tiên đều nóng bỏng, căng thẳng. Phiên họp thứ nhất đứng trước nguy cơ bị tẩy chay, còn phiên họp thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trả lời chất vấn trước QH.

Ngày 6/1/2011, Quốc hội Việt Nam sẽ kỷ niệm 65 năm kỳ họp đầu tiên. Bee xin đăng lai bài tư liệu trên website Quốc hội về kỳ họp đầu tiên năm 1946.

Kỳ họp căng thẳng

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2/3/1946 - Ảnh: Tư liệu TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2/3/1946 - Ảnh: Tư liệu TTXVN

Để chuẩn bị về nội dung, địa điểm và thời gian cho kỳ họp đầu tiên của QH, nhiều cuộc họp liên tịch đã được tiến hành từ hạ tuần tháng 2/1946 giữa một bên là đại biểu của Chính phủ và các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, một bên là đại biểu của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Theo sự thỏa thuận giữa hai bên thì QH sẽ bắt đầu họp vào 7h sáng ngày 3/3 tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội và sau đó tiếp tục họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Chính phủ đã căn cứ vào sự thỏa thuận đó mà báo tin cho các đại biểu QH biết và gửi giấy mời phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài tham dự buổi họp khai mạc.

Nhưng đột nhiên chiều 1/3 ở nhiều nơi trong thành phố Hà Nội xuất hiện truyền đơn do Nguyễn Hải Thần ký tên kêu gọi nhân dân “tẩy chay QH”. Hành động này bộc lộ ý đồ phá hoại kỳ họp đầu tiên của QH.

Để đề phòng, ngay tối hôm đó Chính phủ đã báo tin cho các đại biểu QH biết là QH sẽ khai mạc vào 7h sáng 2/3 (trước ngày đã định một ngày) tại Nhà hát lớn Hà Nội và đề nghị các đại biểu chỉ có mặt đúng giờ họp rồi đi thẳng vào phòng họp mà không nên tập trung trước cửa Nhà hát lớn.

Theo đúng ngày giờ qui định, các đại biểu QH đã đến họp trước sự bất ngờ của bọn phá hoại và những bộ mặt ngơ ngác của bọn hiến binh Tưởng Giới Thạch đang tuần tiễu trên các ngả đường xung quanh Nhà hát lớn.

Ngồi trong phòng họp, các đại biểu QH rất nóng lòng chờ đợi khai mạc, vì đã quá 8h rồi mà vẫn chưa thấy Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ đến. Mọi người đều nghĩ đến vụ rải truyền đơn chiều hôm qua của bọn phản động nên không khỏi băn khoăn, lo lắng về những biến cố có thể xảy ra.

Vì thay đổi ngày họp nên từ 5h sáng 2/3, Hồ Chủ tịch cùng hai đồng chí tự vệ không vũ trang đến tận sào huyệt của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội ở phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), nơi mà anh em cán bộ Việt Minh và những người dân lương thiện phải tránh xa, báo cho họ biết là QH họp ngày 2/3 để họ cử đại biểu đến dự.

Khi Hồ Chủ tịch đến, họ chưa ngủ dậy. Bị đột ngột, bất ngờ, họ không nghĩ kịp cách đối phó mà chỉ tranh nhau đi dự QH. Hồ Chủ tịch phải đứng dàn xếp bảo ai đi, ai ở nhà.

Gần 9h, việc dàn xếp ở phố Ôn Như Hầu mới xong, Hồ Chủ tịch lên xe đi đến hội trường, các “đại biểu QH” do VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội cử đi dự họp QH ăn mặc quần áo sang trọng kéo theo sau vào ngồi đứng lô nhô ở phòng chờ của Nhà hát lớn. Họ phải chờ sự ưng thuận của QH mới được phép vào phòng họp. Đây chính là những người đến tận ngày hôm qua vẫn tiếp tục gây rối loạn khắp nơi.

Vẫn với bộ quần áo kaki bạc màu, đôi giày vải cũ thường ngày, Hồ Chủ tịch bước vào hội trường, theo sau là ông Vĩnh Thụy và các vị trong Chính phủ.

Hơn 300 đại biểu, cùng với nhiều khách và các nhà báo trong nước và nước ngoài đứng dậy hoan hô không ngớt khi thấy Hồ Chủ tịch. Mấy trăm cặp mắt đều đổ dồn vào Người. Tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô chỉ dứt khi ban âm nhạc vệ quốc đoàn mặc đồng phục trắng bắt đầu cử quốc ca.

Hồ Chủ tịch bước tới máy phóng thanh, đứng im lặng một lát đưa cặp mắt trìu mến nhìn các đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân cả nước về họp QH. Bằng một giọng xúc động, Người tuyên bố khai mạc đại hội, và bắt đầu đọc báo cáo về kết quả cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946. Sau đó, Hồ Chủ tịch chuyển đề nghị của Chính phủ với đại hội xin mở rộng thêm 70 đại biểu nữa trong QH và số ghế này sẽ dành cho VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Toàn thể các đại biểu QH giơ tay biểu quyết và đồng thanh hô to “tán thành”.

Cuộc chất vấn đầu tiên tại Quốc hội

Để QH nghe các báo cáo và nhận định về các hoạt động của Hồ Chủ tịch và các phái đoàn QH và Chính phủ trong thời gian qua, giải quyết những vấn đề quan trọng do tình hình mới đề ra và thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, Ban Thường trực QH triệu tập QH họp kỳ thứ hai vào ngày 28/10/1946 tại Hà Nội.

Hồ Chủ tịch năm 1946

Hồ Chủ tịch năm 1946

Tại kỳ họp này cụ Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực QH, trả lời các câu hỏi chất vấn về công tác của Ban thường trực QH. Hồ Chủ tịch và các bộ trưởng trả lời các câu hỏi và chất vấn về công tác của Chính phủ.

Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm, đề cập đến những vấn đề mà nhân dân ta rất quan tâm trong tình thế đất nước lúc bấy giờ.

Sau đây là những câu trả lời chất vấn của Hồ Chủ tịch:

* Về ông Phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam và ông Phó chủ tịch quân sự, Uỷ viên hội Vũ Hồng Khanh?

Những người bỏ việc đi kia họ không muốn gánh việc nước nhà, hoặc họ không đủ năng lực mà gánh nổi, nay chúng ta không có họ ở đây. Chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại, dối không nổi với lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về thì chúng ta vẫn hoan nghênh.

Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần tự xưng là tổng tư lệnh hải, lục, không quân VN? VN không có hải, lục, không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc mà làm tổng tư lệnh. Nhưng nếu ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải, lục, không quân cho VN thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh.

* Về ông Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế:

Các báo Pháp có đăng vài tin (ông Chu Bá Phượng – đại biểu VN Quốc dân đảng, thành viên của phái đoàn Chính phủ đi dự hội nghị đàm phán ở Fontainebleau, khi sang Pháp có mang vàng theo để buôn lậu, bị nhà chức trách Pháp khám phá và làm khó dễ. Các báo Pháp đều có đăng tin và ông Phượng vẫn có mặt tại kỳ họp QH này) nhưng tin ấy có thật hay không thì đã qua rồi, vả lại cũng chẳng có ảnh hưởng gì lớn, xin thôi đừng nhắc đến.

Nếu trong Chính phủ còn có những người khác làm lỗi, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

* Về tạm ước ngày 14/9?

Tạm ước ngày 14/9 có ảnh hưởng đến các hiệp ước kỳ sau này không? Trong xã hội loài người, cái gì mà chẳng có ảnh hưởng đến cái khác? Tuy vậy những sự điều đình sau này không bị ràng buộc được. Bản tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ thúc đẩy cho những điều đình sau chóng tới kết quả một cách dễ dàng.

Còn nói rằng “tạm ước 14/9 là bất bình đẳng?” thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản tạm ước ấy, mỗi bên nhân nhượng một ít, ta bảo đảm cho Pháp những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở đây, thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị họ bắt bớ.

Còn nói Pháp không thành thật thi hành tạm ước, thì ta nói vơ đũa cả nắm. Pháp cũng có người tốt, người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng nhân dân Pháp bây giờ đại đa số tán thành ta độc lập và thống nhất lãnh thổ.

* Vì sao Chính phủ đã đề nghị thay đổi quốc kỳ?

Chính phủ không bao giờ dám đề nghị thay đổi quốc kỳ, chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải đề qua Ban Thường trực QH xét.

Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều. Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ VN ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó. (Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to lên, và dằn mạnh từng tiếng một, trái hẳn với vẻ điềm đạm lúc thường).

* Về Chính phủ liêm khiết?

Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban là đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết.

… Sau khi trả lời và nghe cụ Nguyễn Văn Tố và các vị bộ trưởng trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu QH, Hồ Chủ tịch phát biểu:

“Chính phủ hiện thời mới thành lập hơn một năm hãy còn thanh niên. QH bầu ra được hơn tám tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà QH đã đặt những câu hỏi thật già dặn, sắc nét, khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập?”.

Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước Quốc hội (*)

Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. VN chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài.

Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một Đảng, Đảng VN.

Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà.

Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho.

(*): Đọc tại phiên họp ngày 31/10/1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2000)


Lâm Quang Thự (đại biểu Quốc hội khóa I)

(Theo Báo Tuổi Trẻ TP.HCM)
bee.net.vn