Thư viện

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG – Chương 2

HỘI NGHỊ LỊCH SỬ

Năm 1972 là năm nhân dân Việt Nam trên cả hai miền giành thắng lợi to lớn, toàn diện, có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về quân sự, chính trị, ngoại giao, sản xuất và bảo vệ sản xuất.

Trải qua một năm chiến đấu anh dũng, kiên cường, quân và dân ta trên tiền tuyến lớn đã loại khỏi vòng chiến đấu gần nửa triệu quân địch, trong đó có tám sư đoàn, 35 trung đoàn, lữ đoàn và chiến đoàn bị tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng. Ta đã phá huỷ và thu một khối lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch, bắn rơi và phá huỷ hàng nghìn máy bay, bắn chìm hàng trăm tàu, thuyền chiến đấu.

Quân ta đã đập tan ba tuyến phòng thủ kiên cố nhất mà Mỹ – nguỵ đã tập trung xây dựng trong nhiều năm ở Quảng Trị, bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, những hướng chiến lược sống còn của chúng ở miền Nam. Lần đầu tiên, nhiều sư đoàn, trung đoàn quân nguỵ, xương sống của chiến lược.”Việt Nam hoá” bị tiêu diệt và tan rã, mặc dù đã được không quân và hải quân Mỹ phối hợp tác chiến. Cơ sở của chiến lược “Việt Nam hoá” là kế hoạch “bình định nông thôn” của địch cũng bị thất bại nghiêm trọng. Liên tục tiến công và nổi dậy, quân và dân miền Nam giáng những đòn quyết liệt vào ách kìm kẹp của địch, giải phóng nhiều quận lỵ, chi khu, quét từng mảng đồn bốt và ấp chiến lược.

Trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, tuy đòn tiến công chính trị ở các thành thị diễn ra không mạnh, hàng triệu quần chúng đã giành được quyền làm chủ. Vùng giải phóng được mở rộng, nối liền căn cứ địa ba nước Đông Dương thành một dải liên hoàn, tạo ra thế chiến lược rất lợi hại cho cả trước mắt và lâu dài. Chính quyền cách mạng được xây dựng và củng cố, lực lượng vũ trang phát triển và đứng chân vững chắc. Khí thế đấu tranh ở Sài Gòn và các thành thị miền Nam cũng có bước phục hồi mới.

Việc vận chuyển chiến lược chi viện chiến trường miền Nam được đẩy mạnh. Mặc dù thời tiết khắc nghiêt đích dùng không quân đánh phá ác hệt, việc vận chuyển vẫn tiếp diễn ngày đêm với khối lượng lớn. Quân và dân ta đã đánh bại chủ trương chiến lược của địch mở lại cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân ở miền Nam và leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đặc biệt, 12 ngày đêm chiến đấu tiêu diệt B52 cuối năm 1972 là một chiến công nổi bật. Lần đầu tiên, ta tổ chức và thực hiện thành công một chiến dịch phòng không quy mô lớn đánh thắng cuộc tập kích của không quân chiến lược Mỹ bằng một trận tiêu diệt chiến giòn giã, gây cho không quân Mỹ những tổn thất nặng nề nhất trong lịch sử của nó.

Miền Bắc vượt qua sự phong toả của Mỹ, đã giữ vững và phát triển giao thông vận tải, bảo vệ và đẩy mạnh sản xuất trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, hai vụ lúa được mùa liền. Nhiều tỉnh trở thành tỉnh 5-6 tấn.

Trong thử, thách của chiến tranh, chế độ xã hội chủ nghĩa nêu cao tính ưu việt. Thủ thách càng quyết liệt, thắng lợi càng oanh liệt, khí thế càng cao.

“Nam Bắc hai miền đều đánh giỏi”. Thắng lợi của năm 1972 đặt cơ sở vũng chắc cho cả nước tiến lên giành thắng lợi mới rực rỡ hơn. Tình hình cách mạng là không thể đảo ngược.

Ngày 12-1-1973, lễ tuyên dương danh hiệu Anh hùng chò các đơn vị và cán bộ, chiến sĩ thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân được tổ chức trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.

Anh Trường Chinh, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, thay mặt Trung ương Đảng và Nhà nước công bố lệnh tặng thưởng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Anh nhiệt liệt khen ngợi bộ đội tên lửa, bộ đội cao xạ, bộ đội không quân và bộ đội rađa đã lập chiến công đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đập tan cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng không quân của đế quốc Mỹ.

Tiếp đó, tôi thay mặt Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chúc mừng 24 đơn vị và 12 cán bộ, chiến si vừa được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Phân tích nguyên nhân thắng lợi tôi nêu rõ: “Chiến thắng vĩ đại của quân và dân ta vừa qua đánh bại bước leo thang chiến tranh mới cực kỳ tàn bạo của chính quyền Níchxơn là thắng lợi rực rỡ của sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng ta. Đó là thắng lợi của ý chí quyết chiến quyết thắng không gì lay chuyển nổi, của sự hy sinh không bờ bến của toàn quân, toàn dân ta trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Đó là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp của các quân chủng, binh chủng, bộ đội chủ lực bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, tạo thành một lưới lửa các tầm, các cỡ, áp đảo và chiến thắng kẻ địch”.

Hướng về miền Nam thân yêu, tôi tỏ lòng “biết ơn đồng bào ruột thịt và các đồng chí Quân giải phóng anh hùng đã lập chiến công oanh liệt trên khắp các chiến trường, phối hợp chiến đấu với quân và dân miền Bắc, cổ vũ mạnh mẽ đồng bào và chiến sĩ ta chiến thắng kẻ thù, hiệp định Paris được ký kết đúng vào dịp Tết Nguyên đán Quý Sửu. Theo Hiệp định, đúng 8 giờ sáng ngày 28-1-1973, lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Nơi ngừng tiếng súng sẽ là tuyến ranh giới giữa hai bên.

Chính trong đêm 27-1, cái đêm “bản lề” ấy, quân nguỵ trắng trợn dùng toàn bộ pháo mặt đất trên hạm đội bắn vào trận địa của quân ta ở Cửa Việt (Quang Trị). Lợi dụng hoả lực pháo binh, chúng cho hơn 200 xe tăng, xe bọc thép và lữ đoàn thuỷ quân lục chiến số 147 từ Mỹ Thuỷ, Gia Đẳng đánh chiếm cảng. Chỉ trong một đêm, chúng đã chiếm một vùng đất mà trong mấy tháng trước đó chúng không sao chiếm lại nổi. Trên thực tế, cảng Cửa Việt đã rơi vào tay địch.

Mất Cửa Việt, Đông Hà, Dốc Miếu, Quán Ngang bị uy hiếp trực tiếp. Tuyến đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn bị đe doạ. Thành quả của chiến dịch Quảng Trị năm 1972 bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Anh Lê Trọng Tấn, lúc này là Tư lệnh chiến dịch, gọi điện cho đồng chí Cường, chỉ huy hướng Cửa Việt:

– Đồng chí có biết cảng Cửa Việt đã bị mất không?

– Báo cáo anh, chúng nó lấn chiếm mất một ít. Chúng tôi đã cho người gặp tên lữ trưởng để phản đối về việc này.

Anh Tấn ra lệnh giọng gay gắt:

– Chúng nó dùng cả một lữ xe tăng và một lữ lính thuỷ đánh bộ đánh chiếm cảng Cửa Việt không phải để nghe anh phản đối đâu. Tôi hạ lệnh cho anh phải lập tức chiếm lại cảng. Rõ chưa?

– Rõ ạ!

– Rõ rồi thì chấp hành ngay. Tại sao anh chỉ lo mình vi phạm mà không thấy phía địch đã thực sự xoá bỏ Hiệp định rồi?

Anh Tấn báo cáo ra xin ý kiến Bộ Tổng tư lệnh điện thoại hữu tuyến. Tôi đồng ý và dặn:

– Anh Tấn ơi! Các anh cho đánh chiếm lại ngay. Cố gắng đưa cho được những đứa con khoẻ mạnh nhất của Đào Huy Vũ sang nhé? Phải lấy lại bằng được.

– Rõ! Nhất định phải như vậy! Tôi sẽ đưa toàn bộ gia đình Huy Vũ qua liên hoan với Đào Dũng và Cường. Xin bảo đảm cuộc liên hoan sẽ rất vui. Anh cứ yên tâm!(1)

Sau đó anh Tấn ra lệnh cho Lữ đoàn xe tăng 203 và pháo binh hiệp đồng tác chiến, đồng thời lệnh cho các sư đoàn tuyển chọn 9 đội súng chống tăng điều khiển bằng hữu tuyến, và phân công các anh Cao Văn Khánh, Doãn Tuế, Phó Tư lệnh trực tiếp chỉ huy.

Mờ sáng hôm sau, 28-1-1973, viện lý do cần thay quân như địch đã làm ngày hôm trước, ta đưa đội hình áp sát các cụm xe địch, rồi bất ngờ nổ súng. Tên lữ trưởng bị chết ngay từ phút đầu tiên. Trận đánh kết thúc vào gần trưa. Địch hoảng hốt tháo chạy, bỏ lại hơn 100 xe và nhiều xác chết.

Tin chiến thắng báo về.

Tôi cầm điện thoại biểu dương chiến công của quân ta và tinh thần kiên quyết, cảnh giác của Bộ Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị.

***

Từ đầu năm 1973, tình hình miền Nam khá sôi động. Mỹ – nguỵ ra sức phá hoại Hiệp định Paris, đẩy mạnh bình định lấn chiếm, tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Lợi dụng điều khoản ngừng bắn, địch mở các cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ”, coi lấn đất, giành dân là “keo cuối cùng”. Chúng ráo riết thực hiện kế hoạch “bình định đặc biệt” chiếm lại các căn cứ “lõm” của ta, nống ra vùng giáp ranh, uy hiếp hành lang vận chuyển, đẩy chủ lực của ta ra xa, đồng thời thực hiện cuộc “cách mạng hành chính” củng cố bộ máy kìm kẹp ấp, xã, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, xuyên tạc Hiệp định Paris, tổ chức các chiến dịch “Phượng hoàng” ráo riết hoạt động tình báo, gián điệp, biệt kích, phá hoại cơ sở của ta ở miền Nam.

Trong giao ban hằng ngày ở Bộ Tổng Tham mưu, tin tức dồn dập báo về: Địch ra sức càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng, trọng điểm là các khu vực then chốt vòng ngoài như tây Trị – Thiên, tây nam Quảng Đà, Quảng Ngãi, bắc Bình Định, tây Kon Tum, khu tiếp giáp vùng giải phóng và khu trung tuyến bắc và tây bắc Sài Gòn, nam bắc đường số 4 Mỹ Tho, Vĩnh Long, Chương Thiện, vùng biên giới thuộc Kiến Tường, Châu Đốc. Chúng sử dụng 2/3 lực lượng chủ lực kết hợp với quân bảo an tổ chức những cuộc hành quân quy mô một – hai trung đoàn lấn chiếm các căn cứ “lõm”, và quy mô cấp sư đoàn trở lên đánh vào Cửa Việt (Quảng Trị), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), bắc Kon Tum, Tây Ninh, Tân Châu, Hồng Ngự, Cai Lậy, Chương Thiện. Mật độ phi pháo so với trước tuy có giảm nhưng vẫn còn ác liệt.

Địch tổ chức những cuộc hành quân gặm dần, dũi dần, đánh phá có tính chất huỷ diệt, ủi trắng nhiều nơi, tiến hành di dân, xáo trộn giữa các địa bàn để phá cơ sở của ta. Với các thủ đoạn tàn bạo, xảo quyệt, địch lấn chiếm được phần lớn vùng giáp ranh và căn cứ “lõm” ở Khu 5, một số vùng sâu ở Khu 8, cải thiện được thế phòng ngự vòng ngoài ở Trị – Thiên, Quảng Đà, Quảng Tín, tây Kon Tum và các tỉnh dọc biên giới Việt Nam – Campuchia, giành thêm đất, thêm dân, gây cho ta nhiều khó khăn. Riêng miền Tây Nam Bộ, do ta kịp thời giáng trả nên địch không lấn chiếm được mà còn bị nhiều tổn thất. Ở Cửa Việt, ta kịp thời đánh quân lấn chiếm, địch bị thất bại và thương vong nặng.

Trong bối cảnh lịch sử lúc này, không phải ai cũng dễ dàng nhận rõ âm mưu thâm độc của Mỹ – nguỵ.

Sau những năm dài chiến tranh ác liệt, gian khổ, muốn có hoà bình là nguyện vọng chính đáng. Thế nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng “. Có ý kiến cho rằng trọng tâm số một lúc này là giữ vững hoà bình, thực hiện hoà hơp dân tộc, tạo thế ổn định trong khoảng 5-10 năm. Nhiều địa phương do sơ hở, mất cảnh giác, đã để mất đất, mất dân. Có nơi chủ trương phân tuyến, phân vùng với địch, để mất thế “da báo”. Có nơi rút các sư đoàn chủ lực về giữ các căn cứ, giao cho bộ đội địa phương chống địch lấn chiếm. Có xu hướng giản đơn cho là lửa chiến tranh chỉ “riu riu”, hoặc đã “tắt lửa chiến trường”, cũng đã có một kế hoạch sử dụng 3,5 tỷ đôla mà phía Mỹ đã hứa bồi thường chiến tranh để làm vốn tích luỹ ban đầu. Ngay ở Tổng hành dinh cũng có ý kiến không muốn đánh trả, e vi phạm Hiệp định Paris.

Nhớ mãi buổi chiều ở Đồ Sơn, khi nghe các đồng chí Lê Hữu Đức và Võ Quang Hồ, Phó cục trưởng Tác chiến báo tin đề nghị phát động chiến tranh du kích đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng chưa được chấp nhận, tôi đã phát biểu: “Các cậu quen làm khoa học quân sự nên sính chữ nghĩa. Sao không nói: “địch càn quét chiếm lại vùng ta mới giải phóng, đóng thêm đồn bốt, vậy ta có đánh lại không hay để mất hết?”. Mọi người mới vỡ lẽ ra!

***

Hoà bình được lập lại.

Thắng lợi lớn nhất lúc này là ở miền Nam, ta có chính quyền, có quân đội, có đất, có dân, được pháp lý quốc tế thừa nhận. Quân Mỹ phải rút đi, còn quân ta thì ở lại.

Bộ Chính trị chủ trương nhanh chóng củng cố các vùng giải phóng. Các nhu cầu trước mắt và lâu dài, về vật chất, kỹ thuật của bộ đội ta ở miền Nam rất lớn.

Tôi làm việc với anh Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Suy nghĩ của tôi lúc này là do Mỹ – nguỵ còn ngoan cố nên có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá các tuyến đường chi viện chiến lược Trường Sơn, hoặc chí ít cũng gây khó khăn cho ta bằng cách yêu cầu đóng các trạm kiểm soát quốc tế ở các đầu mối giao thông quan trọng trên đường vận chuyển chiến lược. Ta cần tranh thủ lúc địch tạm phải ngừng đánh phá, tăng cường vận chuyển vào Nam, ngoài vật chất cho sinh hoạt, cần đưa các loại vũ khí lớn như xe tăng, thiết giáp, pháo cỡ lớn, pháo cao xạ và các khí tài, phương tiện bảo đảm.

Làm việc với anh Đồng Sĩ Nguyên, tôi chỉ thị phải khắc phục khó khăn mở đường Đông Trường Sơn từ Khe Gát (Quảng Bình) vào đến Bù Gia Mập (Nam Bộ) để việc vận chuyển chiến lược được nhanh chóng và thuận lợi. Mấy ngày sau, anh Thiện trình ra Quân uỷ một kế hoạch vận chuyển và bảo đảm hậu cần toàn diện cho miền Nam và đề nghị được dẫn đầu một đoàn khá đông cán bộ vào chiến trường để trực tiếp tổ chức thực hiện.

Tôi hỏi:

– Cậu định làm gì mà mang lắm quân thế?

Anh Thiện trả lời:

– Tôi cần khoảng 100 cán bộ, gồm các ngành hậu cần và cả các binh chủng. Đi đến đâu, tổ chức đến đấy, đẩy mạnh xây dựng vùng giải phóng, xây dựng các căn cứ hậu cần có đầy đủ kho tàng, trạm quân y, các cơ sở kỹ thuật, các đơn vị sản xuất.

Tôi thấy kế hoạch khá đồ sộ, mạnh dạn nhưng hợp lý và cần thiết, nên tán thành ngay.

Kế hoạch của anh Thiện được Quân uỷ thông qua.

Đoàn cán bộ khẩn trương, hăng hái lên đường vào Nam.

Anh Tố Hữu kết hợp cùng đi. Năng động, dám nghĩ dám làm, anh Thiện đã hoàn thành xuất sắc một nhiệm vụ đột xuất nhưng rất quan trọng, góp phần tích cực củng cố vùng giải phóng, cùng Đoàn 559 vận chuyển hàng vạn tấn vật chất, kỹ thuật gồm lương thực, quần áo thuốc men, vũ khí, pháo cỡ lớn, pháo cao xạ, tăng, thiết giáp vào chiến trùờng, bảo đảm cho việc xây dựng, huấn luyện, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và một phần cho nhân dân.

***

Chiến thắng của trận “Điện Biên Phủ trên không” cùng với tám năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân và dân ta nói chung và quân chủng Phòng không – Không quân nói riêng. Tôi dành nhiều thời gian cùng với các đồng chí lãnh đạo, chl huy quân chủng tổng kết những kinh nghiệm quý báu thu được trong những năm qua, sẵn sàng đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của địch.

Tại Đồ Sơn, tôi nghe Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân báo cáo về xây dựng và chiến đấu của từng binh chủng: tên lửa, cao xạ, rađa và không quân. Các báo cáo được chuẩn bị công phu, có hệ thống, có tham khảo nhiều nguồn tin tình báo và tư liệu của các nước Anh, Đức, Nhật. Một bài nghiên cứu về chiến tranh không quân ở Đông Dương của Trường Đại học Cornell (Mỹ) đã kết luận: “Thắng lợi của người Việt Nam là một ví dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc”. Nhiều vấn đề từ tổ chức lực lượng, tác chiến, đào tạo cán bộ, trang bị kỹ thuật được đặt ra, làm sáng tỏ thêm nội dung các chú trương mà Quân uỷ đang thảo luận.

***

Đầu tháng 3-1973, Quân uỷ Trung ương họp. Các anh Văn Tiến Dũng, Song Hào, Lê Quang Đạo, Đinh Đức Thiện, Trần Quý Hai đều có mặt.

Khai mạc hội nghị tôi phát biểu gợi ý, nêu các vấn đề cần trao đổi, thảo luận, nhất là đánh giá cho đúng tình hình miền Nam cả về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao để có chủ trương toàn diện, kịp thời chặn đứng âm mưu, thủ đoạn của địch đang lấn đất, giành dân, đánh phá cơ sở cách mạng.

Sau khi nghe anh Lê Trọng Tấn báo cáo tình hình, với tinh thần trách nhiệm cao, các anh trong Quân uỷ phát biểu rất sôi nổi. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, mỗi người nói rõ những suy nghĩ, kiểm điểm ưu điểm, khuyết điểm trong nhận thức, tư tưởng và sự chỉ đạo công tác trong phạm vi chức trách của mình, phê bình sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh.

Kết thúc cuộc họp, Quân uỷ quyết nghị: trong khi địch dùng biện pháp quân sự để đánh ta, ta cần kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, với pháp lý của Hiệp định Paris, từng bước chuyển sang tiến công chủ yếu bằng chính trị có lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn, nhằm thực hiện ngừng bắn, lập lại hoà bình trên thế có lợi cho ta.

***

Tình hình chiến sự ở miền Nam diễn biến phức tạp, có nhiều điểm cần được xem xét tại chỗ. Tôi tranh thủ vào làm việc trực tiếp với các chiến trường B5 (Quảng Trị), B4 (Trị – Thiên), Bộ Tư lệnh 559 và Quân khu IV.

Thực tiễn nơi tuyến lửa càng cho thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của địch phá hoại Hiệp định Paris, đặt ra nhiều vấn đề phải khẩn trương giải quyết. Làm việc với các anh Lê Trọng Tấn, Song Hào, Cao Văn Khánh, Vũ Xuân Chiếm, Đồng Sĩ Nguyên, Hoàng Thế Thiện, Đàm Quang Trung, Nguyễn Văn Thanh, Phan Văn Đường(2), với Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Bình, chúng tôi bàn cụ thể kế hoạch củng cố thế bố trí lực lượng của quân ta, cách đánh quân nguỵ lấn chiếm, các biện pháp tăng cường lực lượng cho B4, B5, việc làm đường cơ động cho các phương tiện cơ giới, mở đường Đông Trường Sơn, đẩy mạnh vận chuyển chiến lược, kể cả bằng đường hàng không, việc xây dựng căn cứ địa, hậu cần, chuyển thương binh từ chiến trường ra. Chuyến đi thị sát đường Trường Sơn để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc về tinh thần anh dũng chiến đấu, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559, gợi mở khả năng to lớn của con đường chiến lược mang tên Bác cả trong xây dựng đất nước sau này.

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559, tôi căn dặn:

– Muốn đạt được đỉnh cao của toàn thắng, chúng ta cần phải dũng cảm hơn đã dũng cảm, mưu trí sáng tạo hơn đã mưu trí sáng tạo. Con đường Trường Sơn rồi đây không dừng lại như mức hiện nay mà phải mở rộng để xe có thể đi lại hai chiều không giảm tốc độ, đi được cả những tháng đầu mùa mưa lũ.

***

Hiệp định Paris đã có hiệu lực được 60 ngày. Sáng 27-3-1973, Bộ Chính trị họp mở rộng. Sau khi nghe anh Lê Quang Đạo báo cáo tình hình, anh Nguyễn Duy Trinh nêu ý kiến cần tranh thủ tạo thế mạnh cho ta, có đối sách cụ thể với Mỹ, buộc Mỹ phải chấm dứt dính líu, buộc nguỵ phải chấm dứt chiến sự. Anh cũng phản ánh dư luận thế giới ca ngợi thắng lợi của ta.

Tiếp đó, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đề ra nội dung thảo luận, gồm việc phân công giữa Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam trong việc chỉ đạo các phái đoàn của ta ở các hội nghị bốn bên và hai bên, xem xét đối sách của ta với Mỹ, tổng kết 60 ngày thi hành Hiệp định và ra tuyên bố của Chính phủ. Các anh Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, phát biểu đánh giá tình hình, đề nghị phương hướng chính sách đối với Mỹ, cách làm việc và phân công cụ thể giữa Bộ Chính trị và Trung ương Cục.

Kết luận hội nghị, anh Ba đồng ý để Trung ương Cục trực tiếp chỉ đạo các Ban liên hiệp quân sự, Quân uỷ Trung ương chỉ đạo các vấn đề quân sự. Anh khẳng định: Mỹ đã thực sự rút quân, nhưng chưa chấm dứt díu líu, nguỵ còn ngoan cố phá hoại Hiệp định. Ta cần tranh thủ xây dựng lực lượng mọi mặt ở miền Nam, miền Bắc, quy trách nhiệm của Mỹ, buộc đối phương phải thi hành Hiệp định Paris.

Ngày hôm sau, 28-3, triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương thảo luận chủ trương tác chiến. Cuộc họp đi đến kết luận: Tuy quân Mỹ đã rút, nhưng lực lượng quân sự Mỹ vẫn có mặt trong khu vực: Đông bắc Thái Lan, Guam, Phiìíppin và trên Hạm đội 7. Mỹ lại đang chi viện ồ ạt để cho quân nguỵ mạnh lên, hòng đẩy lùi cách mạng, thực hiện miền Nam trở thành một nước phụ thuộc Mỹ, ở đó chỉ có một quân đội, một chính quyền. Đối tượng tác chiến lúc này là quân nguỵ. Phương châm tác chiến ở miền Nam là kết hợp đánh chính quy và đánh du kích, tác chiến với binh vận, chiến đấu với xây dựng lực lượng, tiêu diệt địch gắn với giành dân, xây dựng cơ sở. Hội nghị cũng nêu ra nhiệm vụ quân sự của miền Bắc, kết hợp kinh tế với quốc phòng, tăng cường chi viện miền Nam, và các vấn đề quân sự ở Lào và Campuchia.

Ngay sau cuộc họp, Quân uỷ Trung ương điện cho các chiến trường. Trong bức điện, tôi giải thích rõ tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động tiến công, chủ động phản công, không phòng ngự đơn thuần.

Không những phản công ở địa bàn địch tiến công ta, mà Còn hiệp đồng với các lực lượng chính trị, quân sự, binh vận phản công ở các địa bàn khác, nơi ta có chủ lực mạnh.

Không những phản công bằng bộ binh, bằng hoả lực, mà hết sức chú ý dùng bộ đội đặc công tinh nhuệ đánh vào cơ quan chỉ huy, kho tàng, sân bay, căn cứ, bên sườn và sau lưng địch, đánh vào những nơi chúng sơ hở.

***

Ngày 29-3-1973, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ. Trên đất nước thân yêu, quân xâm lược nước ngoài về cơ bản đã bị quét sạch.

Sau Hiệp định Paris, việc liên lạc giữa hai miền có thêm điều kiện mới khá thuận lợi. Lượng thông tin tăng lên, nhanh hơn, đủ hơn, phong phú hơn, qua các nguồn cung cấp từ chiến trường, từ Ban Liên hiệp quân sự, từ báo chí công khai. Đi lại cũng dễ dàng hơn, kể cả bằng máy bay đến tận sân bay Tân Sơn Nhất.

Tin tức báo về Tổng hành dinh được chọn lọc, phân tích kỹ càng. Cán bộ từ miền Nam ra họp, góp nhiều tình hình và ý kiến xác đáng.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương rất quan tâm đến tình hình địch phá hoại Hiệp định Paris. Với trách nhiệm và chức trách của mình, tôi dành nhiều thời gian suy nghĩ, tranh thủ trao đổi thêm với nhiều đồng chí.

Với các anh từ miền Nam ra, tôi thường mời đến nhà dùng cơm thân mật. Những buổi gặp gỡ trao đổi như vậy thật bổ ích. Tôi trao đổi ý kiến với đồng chí Bí thư thứ nhất. Qua nhiều lần trao đổi, anh Ba hoàn toàn nhất trí với chủ trương kiên quyết tấn công, phản công đánh trả địch. Trong các bức điện gửi Trung ương Cục miền Nam, Khu uỷ V: Khu uỷ Trị – Thiên và Đảng uỷ Tây Nguyên, tư tưởng cách mạng tiến công được truyền đi, bước đầu tạo nên những biến chuyển ở chiến trường.

Tôi cũng dành trọn một ngày nghe anh Tố Hữu nói chuyện về tình hình miền Nam sau chuyến đi “nước non ngàn dặm”. Vừa là nhà chính trị, vừa là nhà thơ, anh thuật lại những điều tai nghe mắt thấy trên các nẻo đường Trường Sơn “đông nắng tây mưa”, nói lên khát vọng của đồng bào và chiến sĩ miền Nam:

Dang tay một với xa gì

Sài Gòn ơi lại phải đi bao ngày.

Tôi thầm nghĩ với tinh thần cách mạng tiến công của Đảng ta, đường tới Sài Gòn nhất định sẽ được co ngắn lại.

Đặc biệt bổ ích là những buổi làm việc trong tháng 4-1973 với các anh lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường miền Nam được Bộ Chính trị Trung ương Đảng triệu tập ra Bắc họp. Đỏàn cán bộ B2(3) do anh Mười Cúc(4), phó Bí thư Trung ương Cục dẫn đầu, gồm các anh Hoàng Văn Thái, Tư lệnh B2, Võ Văn Kiệt, Bí thư Khu uỷ Khu IX, Trần Nam Trung, phụ trách các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Nguyễn Minh Đường, Bí thư Khu uỷ Khu 8.

Đoàn Khu 5, Tây Nguyên có các anh Võ Chí Công, Chu Huy Mân. Ngay sau khi ra tới Hà Nội, ngày 19-4, tại nhà nghỉ Hồ Tây, Đoàn đã sơ bộ báo cáo với

Bộ Chính trị về tình hình cách mạng miền Nam từ năm 1972, đặc biệt sau ngày ký Hiệp định Paris.

Ngày 3-5-1973, Thường vụ Quân uỷ Trung ương làm việc với các đồng chí Quân uỷ Miền: Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà, Trần Lương, Nguyễn Minh Đường, Võ Văn Kiệt. Ngôi nhà quét vôi màu hồng số 28 phố Cùa Đông hôm ấy sôi động khác thường. Thời Pháp, nơi đây là tư dinh của viên tướng thực dân, tổng chỉ huy quân đội Pháp miền Bắc Đông Dương, nay là nhà khách Bộ Quốc phòng.

Các anh Văn Tiến Dũng, Song Hào, Lê Quang Đạo, Trần Quý Hai cùng tôi đón tiếp các anh hết sức nồng nhiệt. Tình cảm đồng chí, đồng đội, tình cảm hậu phương đón bạn chiến đấu từ tiền tuyến trở về thật đậm đà, thân thiết.

Chúng tôi vui mừng thấy các anh khoẻ mạnh. Chúng tôi hỏi thăm sức khoẻ các anh đang ở lại lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu ở miền Nam.

Sau những phút tâm tình, đại bộ phận thời gian dành cho việc trao đổi tình hình Nam Bộ.

Thay mặt Đoàn, anh Hoàng Văn Thái báo cáo về những thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược trên chiến trường B2. Bản báo cáo đã được các anh trong đoàn bàn bạc thống nhất. Về nguyên nhân thắng lợi, anh Thái khẳng định một trong những yếu tố tạo nên thắng lợi là Trung ương, Quân uỷ Trung ương đã hạ quyết tâm sớm, xác định phương hướng tác chiến đúng, nhất là chỉ đạo phương châm, phương thức đánh phá “bình định” của địch.

Tuy nhiên, do tương quan lực lượng giữa địch và ta, những thắng lợi đó còn hạn chế. Địch còn có những mặt mạnh nhất định. Ta cũng còn có những khuyết điểm, nhược điểm chưa khắc phục được ngay! “Kế hoạch thời cơ” (5) của ta tuy bước đầu thu thắng lợi, nhưng chưa vững chắc, địch cũng đã có đề phòng, dân bị kìm kẹp không bung ra được. Địch còn hơn ta cả về quân số và trang bị. Riêng ở B2, so sánh quân số là 1, địch 2,5.

Bản chất phản động và ngoan cố của địch lộ rõ. Do đó khả năng thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần, thực hiện hoà bình, hoà hợp dân tộc là không dễ dàng. Địch đang ra sức thực hiện một kế hoạch “bình định” mang số hiệu AB148 hết sức tàn bạo, thâm độc dưới chiêu bài “tái thiết nông thôn”. Thực chất là nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng, khống chế quần chúng, lấn chiếm vùng giải phóng, “líp” vùng tranh chấp, phá thế “da báo”, khủng bố các gia đình kháng chiến. Một chiến dịch chiến tranh tâm lý được phát động rầm rộ, nói xấu cách mạng, xuyên tạc Hiệp định Paris, phục vụ mưu đồ trên.

Anh Sáu Dân (Võ Văn Kiệt), người lãnh đạo chiến trường Khu IX, tiếp lời anh Thái. Anh nêu rõ sự cần thiết và khả năng có thể giữ vững thế làm chủ mạnh tại những địa bàn trọng điểm của miền Tây Nam Bộ, về những biện pháp và khả năng của Khu IX mở rộng vùng giải phóng theo chỉ tiêu 1,8 triệu dân mà Khu uỷ đã quyết nghị.

Anh Sáu Đường (Nguyễn Minh Đường), báo cáo rõ tình hình Khu 8 và mối quan hệ giữa hai chiến trường Khu IX và Khu 8 trong các hoạt động quân sự, chính trị, binh vận, đánh trả địch, giữ đất, giành dân, phát triển lực lượng cách mạng.

Anh Hoàng Văn Thái cũng báo cáo lại với Quân uỷ nội dung làm việc những ngày vừa qua với đồng chí Bí thư thứ nhất và những ý kiến bước đầu của anh Ba, nhất là dự kiến về những khả năng có thể diễn ra trên chiến trường miền Nam sắp tới. Rõ ràng, từ sau Hiệp định Paris, ở miền Nam chiến tranh không diễn ra như trước, nhưng cũng chưa phải đã có hoà bình. Bởi vậy, phải luôn luôn nắm vững quạn điểm cách mạng bạo lực và tư tưởng chiến lược tiến công, tích cực xây dựng thực lực cách mạng, đẩy mạnh tiến công cả về quân sự, chính trị và pháp lý ngoại giao. Lại phải căn cứ vào đặc điểm và tính chất của từng địa phương mà vận dụng hình thức tiến công nào là chủ yếu, làm thất bại kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch, giữ đất, giành dân, mở rộng quyền làm chủ.

Kết thúc cuộc trao đổi, tôi phát biểu gợi ý một số vấn đề để các anh suy nghĩ chuẩn bị cho hội nghị Bộ Chính trị sẽ họp vào tháng 5. Vấn đề lớn nhất là so sánh lực lượng giữa ta và địch sau khi quân Mỹ rút đi. Nếu như hồi năm 1963-1964, địch 5 ta 1, 1967-1968, địch 4 ta 1, thì hiện nay tương quan ấy là như thế nào? Về vấn đề này nên nghiên cứu cả các mặt số lượng, chất lượng, vật chất, tinh thần, trong nước và quốc tế. Phải chăng hiện giờ ta đã mạnh hơn địch?

Về phương châm, biện pháp đấu tranh, nên phát triển hai chân, ba mũi trong tình hình mới như thế nào? Khi đã có thêm pháp lý của Hiệp định Paris, thì đấu tranh làm sao để đạt kết quả tối ưu? Về xây dựng lực lượng, ngoài sự chi viện của hậu phương lớn, khả năng tại chỗ của B2 phát triển lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích, cần được động viên đê đáp ứng yêu cầu đối phó với mọi tình huống. Trong tình thế giằng co không thể kéo dài, phải có biện pháp mới thích hợp để đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở cả nông thôn và thành thị.

Các cuộc làm việc, trao đổi đều nhằm làm sáng tỏ tình hình, gợi ý về phương hướng chủ trương mà chưa có kết luận. Nhưng về đại thể, đã có sự nhất trí trên nhiều vấn đề thảo luận.

Lúc này, lại có thêm những tình hình sốt dẻo. Gặp anh Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Cộng hoà miền Nam trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên vừa ra Hà Nội, tôi được biết thêm về âm mưu, thái độ, thủ đoạn của đối phương ở chiến trường và trên bàn đàm phán ở Trại David trong sân bay Tân Sơn Nhất. Anh còn cho biết ngay sau ngày ký Hiệp định Paris, chúng đã tráo trở ném bom vào sân bay Thiện Ngôn, đúng vào giờ và địa điểm chúng hẹn đưa trực thăng đến đón đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam vào Sài Gòn làm việc. Nhờ khôn ngoan, cảnh giác, đoàn ta vẫn an toàn. Có thể coi đây là một trận thắng đầu tiên của ta trước sự phản trắc đê hèn của Mỹ – nguỵ.

Mặt giáp mặt với kẻ thù, anh đã có những nhận định sâu sắc về so sánh lực lượng giữa ta và địch. Không thể chỉ thấy một số triệu chứng bề ngoài cùng với những hành động quân sự hung hăng, những âm mưu đen tối của Mỹ – nguỵ mà cho là chúng mạnh hơn trước khi quân Mỹ rút đi.

Với vũ khí, phương tiện chiến tranh Mỹ vừa đổ vào, hoả lực của quân nguỵ được tăng lên. Chúng có thêm xe tăng M48, pháo tầm xa 175mm, máy bay cường kích F5E. Chúng thành lập thêm các liên đoàn bảo an cơ động chiến đấu, nhiều tiểu đoàn cảnh sát dã chiến. Quân bảo an và phòng vệ dân sự cũng tăng nhiều.

Chúng tận lực củng cố nguỵ quyền từ trung ương đến địa phương, ra sức kìm kẹp nhân dân, đánh phá cơ sở cách mạng, lấn chiếm vùng giải phóng.

Đứng sau lưng chúng là lực lượng quân sự cơ động của Mỹ đóng tại Thái Lan và Philíppin, với 4 hàng không mẫu hạm, 855 máy bay chiến thuật và 173 máy bay chiến lược B52.

Về phía ta, lúc này cũng có không ít khó khăn. Sau đợt hoạt động liên tục dài ngày, từ tháng 4-1972 đến đầu năm 1973, đơn vị nào cũng thiếu quân số vì không kịp bổ sung. Lương thực, đạn dược cũng rất thiếu. Sức khoẻ giảm sút. Khó khăn chủ quan có ảnh hưởng không ít đến tư tưởng muốn nghỉ ngơi, ảo tưởng ở thiện chí của địch. Thậm chí có nơi sợ đánh trả địch là vi phạm Hiệp định, đề ra năm cấm: cấm tiến công địch, cấm đánh quân địch lấn chiếm, cấm vây đồn, cấm pháo kích, cấm xây dựng xã chiến đấu.

Mọi biểu hiện hữu khuynh, ảo tưởng đều phải trả giá đắt.

***

Tình hình ngày càng sáng.

Ngày 24-5-1973, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp mở rộng bàn vấn đề miền Nam. Tham dự hội nghị, còn có các anh Mười Cúc, Mười Khang(6), Năm Công(7), Hai Mạnh(8), Trần Lương, Sáu Dân(9), Sáu Đường(10), Trần Hữu Dực, Song Hào, Trần Quý Hai, Lê Trọng Tấn, Hoàng Minh Thảo. Cuộc họp đã được chuẩn bị kỹ từ tháng trước. Báo cáo do Quân uỷ Trung ương và Văn phòng Trung ương Đảng soạn thảo được gửi đến từng đại biều.

Mở đầu cuộc họp, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn nhắc lại quá trình phát triển của cách mạng miền Nam 18 năm qua, phân tích âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ đối với miền Nam trong chiến lược toàn cầu của chúng, vạch rõ hiện nay, mâu thuẫn chủ yếu của thời đại tập trung ở Việt Nam. Nước ta đang ở vị trí tuyến đầu của phong trào giải phóng dân tộc. Linh hoạt, sôi nổi, đồng chí nêu bật thắng lợi to lớn của Hiệp định Paris về Việt Nam, biểu dương chiến công oanh liệt của quân và dân ta ở cả hai miền, khẳng định sự đúng đắn của đường lối cách mạng sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng trong tình hình kẻ địch rất xảo quyệt và tình hình quốc tế phức tạp. Đồng chí nêu lên các khả năng diễn biến tình hình miền Nam, đề ra các nhiệm vụ công tác cần triển khai ngay bao gồm tác chiến chống địch lấn chiếm, giành dân, công tác binh vận, công tác mặt trận, công tác ngoại giao, xây dựng chính quyền, căn cứ địa, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Đồng chí gợi ý hội nghị đi sâu nghiên cứu so sánh lực lượng, chỗ mạnh, chỗ yếu, thế đi lên của ta, thế thất bại, thế đi xuống của địch và khẳng định: “Ta đã có thêm nhiều điều kiện mới rất thuận lợi. Cách mạng nhất thiết phải tiến lên bằng con đường bạo lực. Nhất định ta sẽ thắng”.

Các anh Mười Cúc, Trần Văn Trà phát biểu về tình hình B2, nơi sào huyệt của Mỹ – nguỵ. Anh Năm Công báo cáo về chiến trường Nam Trung Bộ. Các anh Sáu Dân, Sáu Đường nêu rõ tình hình đấu tranh các mặt của Khu IX, Khu 8. Bức tranh toàn cảnh của chiến trường miền Nam hiện lên đầy đủ, chân thực, với những nét chấm phá tinh tế hướng sự chú ý của lãnh đạo vào những góc cạnh cốt tử. Qua phát biểu, các anh ở chiến trường đều biểu thị sự nhất trí cao với những nhận định và chủ trương của Bộ Chính trị. Sự gặp gỡ giữa Bộ thống soái tối cao với lãnh đạo, chỉ huy các mặt trận tạo thêm niềm phấn khởi, tin tưởng trong hội nghị, thắp sáng thêm ngọn đuốc trí tuệ của cơ quan lãnh đạo, soi tỏ con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam.

Các đồng chí trong Bộ Chính trị phát biểu. Anh Trường Chinh nhấn mạnh thắng lợi to lớn và những hạn chế của cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt hồi Tết Mậu Thân (1968). Liên hệ với tình hình hiện nay, cần phải rút kinh nghiệm cũ, phải thật linh hoạt trong chỉ đạo đấu tranh, không cứng nhắc, nhất là khi chiến tranh vẫn còn tiếp diễn phức tạp và gay gắt.

Các anh Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh khẳng định ta đã thắng to, nhưng mới thắng đến chừng đó, phân tích thêm về chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, về âm mưu của Mỹ – nguỵ, khẳng định Mỹ đã yếu hơn trước. Muốn thắng, ta phải dùng sức mạnh, dùng bạo lực Nói quân sự, chính trị song song là đúng, nhưng lúc này phải biết lấy quân sự làm trụ cột, làm chỗ dựa cho đấu tranh chính trị.

Sôi nổi nhất trong các ý kiến thảo luận là vấn đề so sánh lực lượng giữa địch và ta. Lúc này ta mạnh hay địch mạnh? Nói chung thì dễ thống nhất, nhưng đi vào cụ thể từng vùng, từng mặt, so sánh cả về thế và lực, cả số lượng và chất lượng thì ngay cả một số đồng chí trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy ở chiến trường cũng có ý kiến khác nhau.

Tôi nhớ rõ báo cáo của anh Trần Hữu Dực về tình hình chiến trường Trị – Thiên, nơi đầu sóng ngọn gió.

Anh vừa được Trung ương phái vào B4 để nghiên cứu, nắm tình hình. Anh cho biết ở đây đã phân vùng xong, từ đường xe lửa trở ra đến biển là vùng địch, từ đường xe, lửa về phía tây là vùng ta. Bộ đội đã rút về vùng ta để củng cố. Tình hình đã ồn định. Trong cuộc họp, nhiều đồng chí không đồng ý với cách làm nguy hiểm như vậy.

Rõ ràng, đánh giá cho đúng tình hình không phải là đơn giản. Sai một ly, đi một dặm. Tuy nhận thức chân lý phải là một quá trình, nhưng đánh giá sai thực chất tình hình sẽ đưa đến những chủ trương sai lầm, nguy hiểm.

Tôi phát biểu ý kiến, nói thêm về những điểm chủ yếu trong bản báo cáo do Quân uỷ Trung ương và Văn phòng Trung ương soạn thảo, đặc biệt đi sâu vào những âm mưu, thủ đoạn mới của Mỹ – nguỵ về Việt Nam hoá chiến tranh. Căn cứ vào những tài liệu nguyên bản do Cục 2 Tiền phương thu được của địch như kế hoạch bình định cấp tốc từ tháng 3 đến tháng 8-1973, kế hoạch bình định 3 năm (1975-1977), kế hoạch 5 năm xây dựng quân nguỵ (1974-1979), kế hoạch kinh tế 8 năm (1973-1980) nhằm tái thiết miền Nam, tôi nêu rõ: Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, chúng buộc phải dùng nguỵ quân, nguỵ quyền làm chỗ dựa.

Nguỵ mạnh hay yếu sẽ tác động có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ cục diện chiến tranh. Vì vậy, chúng đang cố vực nguỵ quân, nguỵ quyền dậy, ra sức phá hoại Hiệp định, giành thế có lợi cho chúng. Tuy nhiên, đối mặt với quân và dân ta, chúng có những mâu thuẫn, khó khăn không thể khắc phục được.

Trong thời kỳ đầu của học thuyết Níchxơn về Việt Nam hoá chiến tranh, quân nguỵ còn có thể chống đỡ nhờ vào hoả lực của Mỹ.

Nhưng sau thời kỳ này, một khi quân Mỹ rút hết, nếu bị đánh mạnh, chúng sẽ sa sút, tan rã nhanh chóng.

Vấn đề là phải chống ảo tưởng, phải đấu tranh mạnh, phản công mạnh theo kinh nghiệm của Quân khu IX, phá các kế hoạch thâm độc của chúng, không để cho chúng củng cố lực lượng.

Qua một tuần lễ làm việc, đạt tới sự nhất trí cao, hội nghị đã giải đáp vì sao từ đầu năm 1973 địch vẫn giành được quyền chủ động tiến công, ta phải bị động đối phó, có những nơi mất đất, mất dân?

Đó là do ta có khuyết điểm chứ không phải do địch mạnh, do lúc đầu ta không đánh giá hết âm mưu của địch và khả năng của chúng thực hiện âm mưu ấy.

Chúng ta đã không có chủ trương kịp thời, nhất quán từ đầu về vị trí, nội dung của tiến công quân sự. Địch cứ tiến công, lấn chiếm, mà ta thì ngồi im, có nơi còn rút lui. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì tình hình sẽ rất bất lợi.

Trên cơ sở nhận định “tình hình miền Nam còn trải qua một thời gian không ổn định, có thể tương đối dài, thực sự chưa có ngừng bắn, hành động chiến tranh còn tiếp diễn, chưa có hoà bình thực sự nhưng không phải là chiến tranh toàn diện, miền Nam còn ở trong tình trạng vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh”, Hội nghị Bộ Chính trị chủ trương: “Trong khi địch dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng, bước đánh bại mọi hành động vi phạm của địch”.

Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tháng 5-1973 tạo bước chuyển biến mới.

Không ai còn nghĩ đến nghỉ ngơi, hoà hoãn. Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn. Kẻ địch còn “bình định” lấn chiếm, phá hoại hoà bình, ta không thể làm ngơ.

Phải bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được bằng biết bao xương máu. Hơn thế nữa, phải phát huy thế mạnh, thế thắng, huy động sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong điều kiện thuận lợi mới, đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Không thể dừng lạí nửa chừng.

Tôi bàn với anh Văn Tiến Dũng cùng chỉ đạo chuẩn bị kế hoạch chiến lườc quân sự trong giai đoạn mới.

Từ tháng 4-1973, một tổ chức mang tên Tổ trung tâm được lập ra để giúp Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trong việc này, gồm các anh Vũ Lăng, Cục trưởng, Võ Quang Hồ, Lê Hữu Đức, Phó Cục trưởng Tác chiến, do anh Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo(11). Ngoài công việc thường xuyên, mỗi tuần tổ tập trung hai ngày tại phòng làm việc của anh Tấn. Với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, ngày 5-6-1973, Tổ trung tâm hoàn thành bản dự thảo Đề cương kế hoạch chiến lược mang số 305 TG1.

***

Tư tưởng chiến lược của Đảng toả khắp các chiến trường.

Nghị quyết của Bộ thống soái tối cao đã biến thành hành động cách mạng. Sau nửa năm đấu tranh gay go quyết liệt, các cuộc hành quân lấn chiếm, “bình định” của địch bước đầu bị chặn lại. Quân ta hoạt động mạnh.

Thương vong của quân nguỵ đã vượt khỏi con số 100.000. Một số vũ khí Mỹ vừa đổ vào, lọt vào tay Quân giải phóng.

Địch vừa ăn cướp vừa la làng.

Vụ thông tin báo chí Bộ Ngoại giao ta công bố cuốn sách trắng đề ngày 7-5-1973 tố cáo Mỹ và chính quyền Sài Gòn vi phạm có hệ thống Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, vạch rõ Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với tình hình nghiêm trọng này.

Hiệp định Paris bị đe doạ.

Anh Lê Đức Thọ lên đường trở lại bàn đàm phán.

Cái thế của ta ở chiến trường cũng là cái thế của các nhà ngoại giao Việt Nam trước đối phương. Trước khi đi, anh Thọ nhiều lần trao đổi với tôi và anh Dũng.

Qua đồng chí Hồ Quang Hoá, Phó Cục trưởng Cục Tác chiến và là trợ lý giúp anh Thọ về quân sự, Bộ Tổng Tham mưu cung cấp đều đặn tình hình quân sự và những nhận định chiến lược để các nhà ngoại giao của ta tham khảo.

Với trò “ngoại giao con thoi”, Kítxinhgiơ bay đi bay lại giữa Oasinhtơn và Paris, giữa Paris và Sài Gòn tìm cách cứu vãn tình thế. Níchxơn bị ám ảnh bởi vụ bê bối Oatơghết lúc này đã phơi ra ánh sáng. Hình ảnh năm tay chân đắc lực của Đảng Cộng hoà chui vào đặt máy nghe trộm tại trụ sở của Uỷ ban toàn quốc Đảng Dân chủ đóng ở khu nhà Oatơghết bị bắt quả tang tháng 6-1972 làm tắt ngấm hào quang của chiếc ghế tổng thống Hoa Kỳ. Ông ta không còn đầu óc nào mà nghĩ nhiều đến Việt Nam, nhất là khi quân Mỹ đã rút đi, tù binh Mỹ đã về nước. Tuy vậy, ông ta vẫn phải đe nẹt Thiệu, vì y lại phản ứng không chịu chấp nhận bản thông cáo chung đã được phác thảo.

Thư và thông điệp lại bay tới Sài Gòn. Theo các tài liệu tiết lộ năm 1989, lần này, Níchxơn thẳng thừng đe doạ Thiệu: “… Tôi muốn lặp lại rằng mong muốn duy nhất của chúng tôi là tăng cường sự đoàn kết của tôi đối với ngài. Tôi không thể tin được rằng ngài sẽ đặt tôi vào một vị trí buộc tôi phải giải thích với nhân dân Mỹ một lý do của việc sụp đổ các cuộc đàm phán, điều sẽ dẫn đến tức thời việc cắt đứt các ngân sách cho Lào, Campuchia và sau cùng cho Việt Nam”.

Đặc phái viên của tổng thống Sáclơ Oaitơhaoxơ mỗi lần bay tới Sài Gòn, lại mang theo những bức thư với lời lẽ cứng rắn hơn:

“Điều ngài phải quyết định là chỉ thị cho đại diện của ngài ở Paris tham gia với tiến sĩ Kítxinhgiơ trong việc ký kết bản thông cáo với nội dung như hiện nay, bất chấp những nghi ngại thứ yếu mà ngài đã trình bày; bằng ngược lại, nếu ngài từ chối việc ký kết, từ bỏ hiệp ước, ngài sẽ chịu những hậu quả tai hại khôn lường đối với sự ủng hộ của Quốc hội Mỹ”.

Trong bức thư cuối cùng, không còn giữ ý bằng ngôn ngữ ngoại giao, Níchxơn xẵng giọng:

“Đây không còn là vấn đề bàn cãi giữa những người tham gia đàm phán, hoặc giữa các luật sư, các chuyên gia. Bây giờ đây là vấn đề trực điện giữa hai chúng ta.

Sự lựa chọn của ngài tùy thuộc ở ngài. Tiến sĩ Kítxinhgiơ đã được chỉ thị trở về Oasinhtơn vào chiều mai. Bất cứ sự trì hoãn hoặc né tránh nào với bất kỳ lý do gì đều không được chấp nhận”.

Không cần đến củ cà rốt, chỉ cái gậy cũng mang lại kết quả.

Cuối cùng, hai bản thông cáo chung về những biện pháp cần thiết để thi hành triệt để và nghiêm chỉnh Hiệp định Paris về Việt Nam đã được ký kết tại lâu đài La Xen Xanhcơlu trong sự cay đắng của Nguyễn Văn Thiệu.

***

Đã đến thời điểm cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương phải quyết định những vấn đề đường lối chiến lược cơ bản.

Tình hình, đã sáng tỏ thêm nhiều.

Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 vào tháng 6-1973, nhằm khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh. Quân uỷ Trung ương được giao chuẩn bị nội dung của hội nghị.

Nhận lãnh trách nhiệm trước Bộ Chính trị, tập thể Quân uỷ Trung ương dành nhiều tâm lực suy nghĩ, nghiên cứu, đề xuất, trao đổi ý kiến. Một số cán, bộ cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần cũng được huy động, trong điều kiện tuyệt đối bí mật. Tôi tập trung suy nghĩ về các vấn đề chiến lược trong giai đoạn cuối của chiến tranh. Trực tiếp giúp tôi là các đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn và Cao Văn Khánh, hai đồng chí từng chỉ huy đánh lớn, hai đồng đội gắn bó lâu năm trong nhiều chiến dịch, hai người bạn chiến đấu trung thực, chân thành.

Việc đầu tiên tôi nghĩ tới là mời các đồng chí trong đoàn cán bộ B2 đến trao đổi, làm việc.

Cuộc họp được tổ chức ngày 11-6-1973 tại “Nhà con rồng”, nơi làm việc của Quân uỷ Trung ương, trên nền cũ của điện Kính Thiên thời Lê, nguyên là hành cung của các vua nhà Nguyễn khi ra kinh lý Bắc Hà với chín bậc thềm cao và bốn con rồng đá tạo khắc tinh vi còn nguyên vẹn.

Các đồng chí có trách nhiệm trong Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh đến dự đông đủ. Mọi người thảo luận hăng say, quên cả cái nắng đầu mùa.

Với thực tiễn chiến đấu và bề dày kinh nghiệm chiến trường, các anh ở B2 dự đoán sắp tới, trọng điểm bình định của địch sẽ là đồng bằng sông Cửu Long. Nhiệm vụ hàng đầu ở B2 là kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giữ vững vùng giải phóng, vùng tranh chấp và các căn cứ “lõm” trong vùng sâu, mở rộng diện tranh chấp, giành lại dân, mở thêm diện làm chủ, từng bước mở thêm diện giải phóng ở những nơi có điều kiện.

Muốn vậy, phải xây dựng lực lượng mạnh, tăng lực lượng địa phương lên gấp đôi, bảo đảm quân số chiến đấu của bộ đội chủ lực, tăng khả năng cơ động và sức đột phá của bộ đội trong chiến đấu tiến công. Mục tiêu đề ra là đột phá hệ thống phòng ngự của địch cỡ trung đoàn, tiêu diệt chiến đoàn hoặc sư đoàn địch trong tác chiến vận động.

Tôi chăm chú lắng nghe tất cả các ý kiến. Trong đầu đã lóe lên những gì cần suy nghĩ để đề xuất với Trung ương. Cùng với Bộ Tổng Tham mưu và Tổng cục Hậu cần, tôi giải quyết các yêu cầu của chiến trường B2, trước mắt bổ sung ngay 17.000 quân chiến đấu. Đây là một cố gắng rất lớn của hậu phương miền Bắc, của các đảng bộ, chính quyền và cơ quan tổ chức động vìên các cấp vì tôi biết rất rõ, từ năm 1964 đến năm 1973, hậu phương lớn đã chi viện hết mình. Chỉ riêng các tỉnh thuộc Quân khu Tả ngạn sông Hồng, đã chi viện cho các chiến trường miền Nam 560.000 quân. Tuy vậy, trước thời cơ lớn đang xuất hiện, vẫn phải kiên quyết chi viện chiến trường.

Tôi gợi ý nên phổ biến rộng rãi kinh nghiệm của Quân khu IX, tích cực làm công tác tư tưởng chống hoà bình chủ nghĩa, chống ảo tưởng, mơ hồ, nâng cao tinh thần cảnh giác đối với âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù. Cũng phải dần dần huy động lực lượng tại chỗ để bổ sung cho bộ đội chủ lực và ra sức phát triển dân quân du kích. Về cách đánh, ngoài tiến công tiêu diệt cứ điểm, chi khu, quận lỵ, nên chú trọng dùng đặc công đánh vào các sở chỉ huy, sân bay, bến cảng, các căn cứ hậu cần.

***

Sau cuộc họp, tôi tranh thủ nghe báo cáo của các cục thuộc Bộ Tổng Tham mưu, Tổ trung tâm, các đồng chí ở Bộ Ngoại giao, các đồng chí trong Ban liên hợp quân sự bốn bên ra Bắc họp.

Các nguồn tin cho biết: Qua cuộc viếng thăm Sài Gòn của Phó Tổng thống Mỹ Ácniu cuối tháng 1-1973, Mỹ cố xoa dịu Thiệu cho đỡ cơn hốt hoảng. Điều đáng chú ý là Mỹ không hề công khai hoặc úp mở hứa hẹn gì với Thiệu, ngoài hai kế hoạch “Tăng cường” và “Tăng cường cộng” đổ vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam. Sau cuộc viếng thăm Mỹ tháng 3-1973, Thiệu cũng không hy vọng được gì thêm ngoài một lời hứa suông tại Xan Klaimân: “Ngài có thể trông cậy vào chúng tôi”.

Lúc này, vụ Oatơghết đã rộ lên. Níchxơn ở vào thế bị động, lúng túng. Nước Mỹ muốn quên đi cuộc chiến tranh Việt Nam, muốn quên luôn cả nguỵ quyền

Nguyễn Văn Thiệu. Đã có những rạn nứt giữa Kítxinhgiơ và Thiệu, giữa Níchxơn và Thiệu, giữa Quốc hội Mỹ và chế độ Sài Gòn. Thiệu lo lắng thực sự về khả năng sẽ bị Mỹ bỏ rơi.

Tâm trạng người dân Sài Gòn cũng khá phức tạp.

Nguỵ quân, nguỵ quyền và gia đình họ lo lắng, hoang mang khi các sĩ quan và chiến sĩ “Việt cộng” xuất hiện trên đường phố. Có người phỏng đoán “Việt cộng” sẽ đến tiếp quản Sài Gòn một khi người Mỹ đã ra đi!

Quân Mỹ đã rút hết. Phố xá không còn cảnh náo loạn như trước. Sân bay Tân Sơn Nhất bớt ầm ào, không cỏn mấy phi vụ của máy bay quân sự Mỹ. Giới buôn bán nuối tiếc thời làm ăn “hốt bạc” hồi quân Mỹ còn ở đây.

Vợ lính nguỵ không còn đi làm cho Mỹ, đánh giày hoặc bán thuốc lá rong quanh các trại lính Mỹ. Gạo ở lục tỉnh không về Sài Gòn nhiều như trước. Hàng nhập khẩu bị cắt giảm. Nạn thất nghiệp lan tràn. Đồng tiền phá giá rất nhanh. Giá cả tăng vọt. Nạn tham nhũng không trừ ở một cấp nào. Trong quân đội, đó là nạn “lính ma”, “lính kiểng”. Bất cứ ai có chức, có quyền đều tranh thủ vơ vét “chụp giật” để tính chuyện mai sau.

Để tồn tại, nguỵ quyền ra sức bắt lính, đôn quân.

Tình hình ấy càng làm cho người dân hoang mang, lo lắng. Càng đẩy quân đi lấn chiếm, giải toả các đường giao thông, số thương vong của quân nguỵ lại càng cao.

Cái “da báo” trên bản đồ miền Nam Việt Nam là mối đe doạ ngày đêm đối với Nguyễn Văn Thiệu.

Tình hình trên các chiến trường bước đầu có chuyển biến tích cực. Nhiều nơi đã kiên quyết đánh trả địch, tìm ra cách đánh thích hợp, từng bước giành lại thế chủ động. Tuy vậy, chuyển biến còn chưa đều khắp. Những nhận thức, tư tưởng lệch lạc và hành động tiêu cực không dễ khắc phục trong một sớm một chiều.

Về xây dựng lực lượng ở miền Nam, ta còn phải nhanh chóng giải quyết tình trạng mất cân đối giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, giữa lực lượng vũ trang tập trung và dân quân du kích. Số lượng của lực lượng vũ trang quần chúng bị tiêu hao, nhất là ở vùng đồng bằng. Sức chiến đấu của bộ đội chủ lực chưa nâng lên được như đầu năm 1972. Việc triển khai xây dựng cơ sở xây dựng thế đứng của các vùng còn rất chậm; việc xây dựng kinh tế, tăng gia sản xuất chưa giải quyết được khó khăn về lương thực, nhất là ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Khu 5.

Đánh giá tình hình quân nguỵ, có thể thấy chỗ mạnh của chủng là quân số còn đông, lại được Mỹ tiếp tục viện trợ về quân sự, kinh tế; lực lượng địa phương và lực lượng hậu bị được chúng ra sức củng cố, hệ thống phòng ngự và kìm kẹp ở cơ sở gây cho ta tổn thất; chúng còn kiểm soát được những thành thị và địa bàn đông dân, nhiều của, có thể khai thác được nhân, tài, vật lực tại chỗ, còn kiểm soát được nhiều trục đường giao thông quan trọng.

Ngược lại, nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn có những chỗ yếu rất nghiêm trọng. Nội bộ chúng đầy mâu thuẫn.

Phong trào đấu tranh của nhân dân chống Mỹ – nguỵ tăng lên. Sau khi nửa triệu quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ đã rút đi, tinh thần nguỵ quân nguỵ quyền sa sút, rệu rã. Sức chiến đấu của quân nguỵ về thực chất giảm đi rõ rệt. Nếu năm 1971, khi lấn chiếm vùng U Minh, địch chỉ dùng 30 tiểu đoàn đã làm cho ta phải đối phó vất vả, thì năm nay, khi đánh vào tám xã thuộc Chương Thiện (Khu IX), địch tập trung 25 tiểu đoàn, tăng lên 50 tiểu đoàn, rồi 75 tiểu đoàn mà vẫn thất bại.

Nhìn tổng quát, toàn diện, từ sau Hiệp định Paris, ngoại trừ những tổn thất lúc đầu, ta đã mạnh lên nhiều cả về thế và lực. Vấn đề cơ bản đặt ra là phải kiên quyết kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, binh vận, từng bước đánh bại mọi hành động phá hoại Hiệp định Paris, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, buộc địch phải chấp nhận hoà bình và thắng chúng trong hoà bình, đồng thời sẵn sàng đánh thắng chúng nếu chúng gây lại chiến tranh.

Trong quá trình chuẩn bị Hội nghị Trung ương, chúng tôi thảo luận các vấn đề xây dựng lực lượng ở miền Bắc, miền Nam, cách đánh tiêu diệt sinh lực quân nguỵ để làm chuyển biến cục diện chiến trường. Tôi chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu khấn trương lập các quân đoàn, những “quả đấm chủ lực” sẵn sàng sử dụng ở thời điểm quyết định, nghiên cứu phương thức tác chiến theo hướng tiêu diệt chi khu, quận lỵ, chiến đoàn, lữ đoàn địch đi ứng cứu, tiêu diệt sư đoàn địch.

Về chống phá “bình định”, kinh nghiệm của đồng bằng sông Cửu Long, nhất là kinh nghiệm của Khu IX, chứng tỏ quân và dân ta hoàn toàn có khả năng làm thất bại âm mưu chiến lược này của địch. Tôi yêu cầu Bộ Tổng tham mưu tích cực nghiên cứu vấn đề này, đặc biệt chú ý phương châm, phương thức đánh địch, bám đất bám dân, phối hợp các lực lượng chủ động kiên quyết đánh trả địch. Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu đã nghe anh Lê Đức Anh từ chiến trường ra báo cáo tình hình Khu IX và Khu 8. Lập trường kiên quyết cảnh giác của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Khu IX đã mang lại thắng lợi ngay từ đầu. Kinh qua đấu tranh, càng linh hoạt, sáng tạo, thắng lợi càng lớn. Các anh Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn trực tiếp chỉ đạo Cục Tác chiến và Cục Dân quân phối hợp chuẩn bị một hội nghị chuyên đề sẽ triệu tập vào cuối năm.

***

Sự chuẩn bị công phu của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tiến hành khẩn trương, bí mật suốt hai tháng trời. Một bản báo cáo được hoàn thành. Đây là nội dung ý kiến trung tâm trong Hội nghị Trung ương lần thứ 21 khai mạc vào cuối tháng 6-1973.

Hội nghị họp đợt đầu trong một tuần lễ.

Các đồng chí uỷ viên Trung ương về dự khá đông đủ. Báo cáo của Quân uỷ Trung ương phân tích kỹ tình hình địch, ta ở miền Nam, tình hình chiến trường sáu tháng sau khi có Hiệp định Paris, bối cảnh quốc tế phức tạp hồi bấy giờ, âm mưu, thủ đoạn của chính quyền Níchxơn và nguỵ quyền Nguyễn Văn Thiệu, đánh giá so sánh lực lượng trên chiến trường và trong cả nước, chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, của ta, khả năng của Mỹ – nguỵ, và những tình huống chiến lược có thể xảv ra. Bản báo cáo cũng đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương những kiến nghị về phương hướng, chủ trương và kế hoạch hoạt động ở miền Nam trong thời gian tới nhằm đẩy mạnh đấu tranh ở vùng tạm bị chiếm và vùng tranh chấp, xây dựng lực lượng, củng cố vùng giải phóng.

Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn phát biểu ý kiến, nêu rõ quyết định của Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị Trung ương Đang lần này nhằm đánh giá tình hình từ sau Hiệp định Paris, đánh giá so sánh lực lượng, chỗ mạnh chỗ yếu của ta và địch, làm cơ sở xác định phương châm, phương thức đấu tranh, đưa cách mạng đến thắng lợi mới. Với nhãn quan chiến lược sắc sảo anh Ba điểm lại tình hình cuộc đấu tranh của đồng bào và chiến sĩ miền Nam từ khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) đến lúc này, khẳng định thắng lợi của ta có ý nghĩa rất to lớn.

Giọng nói miền Trung của anh thật nhiệt tình, sôi nổi. Anh nêu rõ: Sau Hiệp định Paris, tuy Mỹ vẫn còn dính líu, địch còn có những chỗ mạnh, nhưng những chỗ mạnh đó nằm trong thế thất bại, thế đi xuống. Trước âm mưu của Mỹ – nguỵ công khai, trắng trợn phá hoại Hiệp định, tiếp tục chiến tranh thì cách mạng miền Nam nhất định phải tiến lên bằng con đường bạo lực.

Chiến lược của ta là chiến lược tiến công. Vấn đề quân sự phải đặt lên hàng đầu. Đấu tranh chính trị lúc này phải kết hợp với đấu tranh quân sự, binh vận và pháp lý để giành dân, giành quyền làm chủ. Anh Ba gợi ý một số vấn đề thảo luận và yêu cầu các uỷ viên Trung ương đề cao trách nhiệm đóng góp ý kiến và quyết nghị.

Tôi phát biểu nhấn mạnh sự chuyển biến về so sánh lực lượng ta – địch, kinh nghiệm của trận đánh chiếm lại cảng Cửa Việt (Quảng Trị) và của Quân khu IX, kiên quyết đánh trả địch, kiên quyết chống phá “bình định”, chống ảo tưởng hoà bình. Đi sâu vào bản chất cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, tôi nêu rõ Mỹ “Việt Nam hoá chiến tranh”, buộc phải dùng nguỵ quân, nguỵ quyền làm chỗ dựa. Đây là một sai lầm lớn của Mỹ. Nguỵ mạnh hay yếu sẽ tác động có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ cục diện chiến tranh ở Việt Nam, nhất là sau khi Mỹ đã rút quân. Trong thời kỳ đầu quân nguỵ còn có thể chống đỡ nhờ vào hoả lực của Mỹ. Nhưng càng về sau, bị ta đánh mạnh, chúng sẽ bộc lộ nhiều nhược điểm, khó khăn không thể khắc phục được và sẽ tan rã nhanh chóng.

Các anh Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Hoàng Quốc Việt, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Lê Văn Lương, Tố Hữu… nêu lên những vấn đề có tầm chiến lược về chính trị, quân sự, ngoại giao, trong nước và trên thế giới. Các anh lãnh đạo chl huy các chiến trường: Anh Mười Cúc, anh Trà, anh Năm Công, anh Trần Hữu Dực, anh Sáu Dân, anh Sáu Đường… đóng góp nhiều kinh nghiệm thực tiễn, đề xuất nhiều sáng kiến về phương thức và biện pháp đấu tranh.

Hội nghị Trung ương diễn ra trong nhiều ngày. Tinh thần dân chủ được nêu cao. Các đồng chí uỷ viên Trung ương phát huy tinh thần trách nhiệm, thảo luận kỹ tất cả mọi vấn đề đường lối, chiến lược của cách mạng miền Nam, nhiệm vụ của hậu phương lớn miền Bắc, đường lối quốc tế vấn đề đoàn kết Việt Nam – Lào – Campuchia, công tác xây dựng lục lượng, đấu tranh giành dân, giành quyền làm chủ, công tác binh vận, công tác đô thị, công tác vùng giải phóng, công tác mặt trận, công tác ngoại giao, công tác xây dựng đảng. Các ý kiến đều được trình bày đầy đủ, có hệ thống, tranh luận, phát biểu nhiều lần, không hạn chế thời gian.

Về đánh giá so sánh lực lượng, Hội nghị nhất trí với ý kiến chuẩn bị của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh là thế và lực của cách mạng miền Nam lúc này mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ năm 1954 đến nay. Khi Mỹ đã rút đi, ta càng mạnh. Từ chỗ đánh giá như vậy, Hội nghị chỉ rõ thời cơ chiến lược sẽ đến.

Về các khả năng phát triển của tình hình, Hội nghị dự kiến có thể phát triển theo hai khả năng:

– Một là, ta đấu tranh tích cực, buộc địch phải từng bước thi hành Hiệp định Paris, tình hình miền Nam ổn định, hoà bình được thật sự lập lại. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta tuy còn lâu dài, gian khổ, nhưng sẽ tiến lên mạnh mẽ.

Hai là, Mỹ – nguỵ ngoan cố phá hoại Hiệp định, xung đột quân sự có thể tăng cường độ, chiến tranh quy mô ngày càng lớn. Ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go quyết liệt để giành thắng lợi hoàn toàn.

Khả năng thứ nhất có ít, nhưng cần tranh thủ thực hiện, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai.

Qua thảo luận, mọi người đều nhất trí: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là đoàn kết toàn dân, tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Dù tình hình phát triển theo khả năng nào, cách mạng chỉ có thể thắng lợi bằng con đường bạo lực cách mạng. Bất kỳ trong tình huống nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để giành thắng lợi. Trước mắt, phải nắm vững lực lượng vũ trang, củng cố, phát triển và tăng cường ba thứ quân thật mạnh, khắc phục tình trạng mất cân đối. Bố trí lực lượng phải tạo thế căng kéo địch, không để cho chúng lấn chiếm ở từng khu vực. Phải coi vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới.

Ngày 6-7-1973, đồng chí Bí thư thứ nhất kết luận hội nghị. Đồng chí nêu rõ sự nhất trí cao của Ban Chấp hành Trung ương về quyết tâm giải phóng miền Nam.

Việt Nam sẽ không như Triều Tiên, Đông Đức. Đây là một quyết tâm rất lớn, có ý nghĩa lịch sử và quốc tế. Với đường lối cách mạng đúng đắn, với phương pháp cách mạng kết hợp quân sự, chính trị, ngoại giao… động viên cả nước vì miền Nam ruột thịt, nhất định chúng ta sẽ thực hiện được. Tinh thần cốt lõi của Hội nghị Trung ương lần này là cách mạng miền Nam phai tiếp tục tiến lên bằng con đường bạo lực cách mạng. Chúng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ hoà bình, chính nghĩa, đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris để thắng địch. Nhưng nếu địch ngoan cố tiếp tục chiến tranh thì ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.

Hướng đi lên của cách mạng miền Nam đã rõ ràng.

Nội dung Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 hình thành từ Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tháng 5-1973, tiếp đó từng bước hoàn chỉnh qua nhiều lần thảo luận và khảo nghiệm. Tôi cùng anh Vũ Tuân, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng tổng hợp, chỉnh lý, làm việc suốt mấy tuần liền, cân nhắc từng câu từng chữ. Cuối cùng, Nghị quyết được Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhất trí thông qua ngày 4-10-1973, khẳng định: “Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phài nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công”.

***

Trong thời gian này, theo chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Tổ trung tâm khẩn trương nghiên cứu, chỉnh lý, bổ sung bản dự thảo “Đề cương kế hoạch chiến lược” đầu tiên. Còn biết bao vấn đề đặt ra để suy nghĩ, tìm phương án tối ưu để giành thắng lợi. Dựa vào ý kiến của đồng chí Bí thư thứ nhất trong những ngày chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 21, thường nhấn mạnh khả năng phát động tổng khởi nghĩa kết hợp với tổng công kích, lấy địa bàn chủ yếu là thành thị để giải phóng miền Nam, ngày 16-7-1973, bản dự thảo lần thứ hai với đầu đề “Đề cương nghiên cứu kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở miền Nam” đã được trình lên.

Tuy cụ thể hơn, nhưng đề cương lần này vẫn còn nhiều điểm lớn phải tiếp tục nghiên cứu trao đổi. Tổ trung tâm lại phải tiếp tục làm việc và một tháng sau, ngày 15-8-1973, đã hoàn tất bản dự thảo lần thứ ba nêu lên những đặc điểm của cuộc tổng khởi nghĩa sắp diễn ra, dự kiến tình huống dẫn đến tổng khởi nghĩa và thời cơ tổng khởi nghĩa, đề ra các biện pháp phát huy sức mạnh tổng hợp chính trị – quân sự của ta để tiến hành tổng khởi nghĩa, tổng công kích, lấy phát động quần chúng tổng khởi nghĩa làm khâu chủ yếu nhất, trọng điểm số 1 là Sài Gòn.

Thời cơ đã đến gần. Nhưng giành thắng lợi bằng cách nào, đó là điều không đơn giản.

Tôi chỉ thị Tổ trung tâm sưu tầm, báo cáo kinh nghiệm kết thúc cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô, cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Trung Quốc, và giai đoạn cuối cùng của một số cuộc chiến tranh khác. Tại Quân khu bộ Quân khu III, tôi trực tiếp nghe anh Hoàng Minh Thảo báo cáo về kinh nghiệm Liên Xô. Do quy mô chiến tranh hiện đại, nên từ sau cuộc phản công ở Stalingrát và trận quyết chiến ở vòng cung Cuốcxcơ, quân đội Xô viết cùng quân đội các nước Đồng Minh mở những chiến dịch rộng lớn, nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Tôi cũng nghe đồng chí Hoàng Minh Phương báo cáo về cách đánh của quân đội Trung Quốc trong giai đoạn cuối cùng. Ở đây, Quân giai phóng ít đánh thành phố, thiên về vây thành diệt viện, đánh ở các khu vực xung quanh. Tuy vậy, cũng như ở Liên Xô, Trung Quốc vẫn phải đánh những trận tiêu diệt chiến lớn và đánh vào thành phố. Liên hệ với tình hình miền Nam nước ta, tôi thấy không thể đặt tổng khởi nghĩa lên đầu, mà tất yếu phải có những trận tiến công lớn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của địch, tạo điều kiện đánh vào thành phố, vào sào huyệt chủ yếu của địch kết hợp chặt chẽ với nổi dậy của quần chúng để kết thúc chiến tranh, giành toàn thắng. Nhiều lần, tôi trao đổi vấn đề này với đồng chí Bí thư thứ nhất.

Cuối cùng, anh Ba đồng ý phải phát huy, phối hợp cả ba quả đấm mạnh là nông thôn, thành thị và chủ lực, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi.

Tôi yêu cầu Tổ trung tâm tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh đề cương kế hoạch chiến lược theo phương hướng đó Một lần nữa, những bộ óc tham mưu dạn dày kinh nghiệm lại phải làm việc không kể ngày đêm.

***

Ngày 12-9-1973, nhân dân ta nồng nhiệt đón đồng chí Phiđen Caxtrô, Thủ tướng Chính phủ Cộng hoà Cuba sang thăm Việt Nam. Bộ Tổng tham mưu tổ chức đưa Phiđen vào thăm Quảng Bình, Vĩnh Linh và vùng giải phóng Quảng Trị.

Tôi đã hai lần đến tuyến lửa này đầu năm 1973 trong hai chuyến đi thị sát vùng Cửa Việt, Khe Sanh, Bản Đông, đến Lùm Bùm, sông Tà Lê, qua dốc Phulanhích, đi dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Đường số 9-Nam Lào và đặt kế hoạch củng cố vùng giải phóng. Cảnh tàn phá do bom đạn Mỹ gây ra, cảnh xơ xác, hoang tàn của Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang, đồi 241… khiến Phiđen hết sức xúc động và cảm phục. Nơi đây biết bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã ngã xuống trong các đợt tiến công và phản công chiến lược năm 1971-1972, làm nên những chiến công bất tử diệt Mỹ, diệt nguỵ, tạo thế, tạo lực đưa kháng chiến cứu nước đến thắng lợi.

Lúc này, bóng tối của quân xâm lược đã bị đẩy lùi.

Dưới ánh sáng của cách mạng, mầm mống của cuộc sống mới bắt đầu nảy nở. Trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đặt gần Đông Hà, cạnh đường số 9 với những ngôi nhà gỗ lắp ghép, mái tôn, trần ván, nhưng không kém vẻ khang trang.

Lá cờ nửa đỏ, nửa xanh với năm cánh sao vàng bay hiên ngang trước gió.

Tình hình chưa ổn định. Với tác phong khẩn trương, bí mật như khi xung trận Môncađa năm xưa, vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên đến thăm vùng giải phóng miền Nam với khẩu súng ngắn bên mình. Thoắt ẩn thoắt hiện, Phiđen say sưa thăm hết nơi này đến nơi khác, vượt lên mọi nghi thức ngoại giao; có khi một đêm đổi chỗ ở tới mấy lần, chỉ chợp mắt vài mươi phút trên những chiếc giường dài quá cỡ.

Khi đến thăm thị trấn Đông Hà, con người cách mạng tiêu biểu của châu Mỹ Latinh đã nói lên suy nghĩ của mình: “Tập đoàn cứ điểm này bị đánh trong một thời gian có mấy ngày. Làm được như vậy trong hoàn cảnh phải chịu đựng những cuộc ném bom và sự khống chế trên không của lực lượng không quân Mỹ, thật là một chiến công khó có thể tưởng tượng được”.

Thực tiễn chiến trường chinh phục bao trái tim bầu bạn. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng và nghệ thuật quân sự Việt Nam nhất định sẽ biến nghị quyết của Đảng thành thắng lợi huy hoàng.

***

Sau Hội nghị Trung ương, biết bao vấn đề được đặt ra. Quân uỷ Trung ương làm việc liên tục nhiều ngày bàn việc xây dựng các quân đoàn chủ lực, công tác cán bộ, kế hoạch nâng cao toàn diện chất lượng của lực lượng vũ trang đáp ứng kịp với tình hình. Thấy trước khả năng tác chiến quy mô lớn trong tương lai gần, Quân uỷ quyết định cử một đoàn cán bộ quân sự sang học một lớp bổ túc về tác chiến binh chủng hợp thành tại Học viện Vôrôsilốp ở Mátxcơva. Trưởng đoàn là thiếu tướng Nguyễn Hữu An, phó đoàn là đại tá Lê Hữu Đức.

Tôi tranh thủ gặp anh Nguyễn Côn, anh Đỗ Mười trao đổi về kết hợp kinh tế với quốc phòng, huy động lực lượng, tuyển quân, về quân đội tham gia xây dựng kinh tế ở miền Bắc và ở vùng giải phóng miền Nam. Hội đồng Chính phủ phê chuẩn kế hoạch của Bộ Quốc phòng xây dựng thêm và mở rộng đường Trường Sơn, bao gồm việc củng cố tuyến Tây Trường Sơn và xây dựng mới tuyến Đông Trường Sơn. Lực lượng công binh Đoàn 559 và cả ngành giao thông vận tải của miền Bắc được huy động để làm đường chiến lược.

Ngày 15-11-1973, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn gửi thư cho Trung ương Cục miền Nam, Khu uỷ Khu 5, Khu uỷ Trị – Thiên, đồng gửi Đảng uỷ Tây Nguyên. Bức thư nêu rõ hai khả năng phát triển của tình hình miền Nam, và nhấn mạnh: “Tình hình phát triển theo khả năng nào đều tùy thuộc vào thực lực và sự đối phó của ta, và điều quyết định trước hết là ta phải nhận rõ cách mạng miền Nam chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực, dựa vào sức mạnh chính trị và sức mạnh vũ trang của nhân dân, tận dụng và phát huy những nhân tố mới, thuận lợi mới do Hiệp định Paris đưa lại. Đó là tinh thần cơ bản của Nghị quyết 21″(12).

Theo chỉ thị của Ban Bí thư và Thường trực Quân uỷ Trung ương, Tổng cục Chính trị triển khai quán triệt Nghị quyết 21 trong toàn quân. Một hội nghị cán bộ cấp cao từ Quân khu IV trở ra được triệu tập tại hội trường Tổng cục Chính trị ngay giữa thành Hà Nội.

Tôi dành trọn một ngày để phổ biến tinh thần của ban Nghị quyết lịch sử.

Khái quát tình hình từ lúc bắt đầu đánh Mỹ cho đến lúc ký Hiệp định Paris, tôi nêu rõ thắng lợi to lớn của quân và dân ta lần lượt đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.

Bằng một đòn sấm sét bất ngờ giáng trúng phần lớn các trung tâm đầu não chiến tranh của Mỹ – nguỵ giữa Tết Mậu Thân (1968), chúng ta đã đẩy quân thù vào thế khủng hoang chiến lược hết sức trầm trọng. Chúng không thể tiếp tục leo thang nữa mà bắt đầu phải từng bước xuống thang chiến tranh và phải ngồi vào bàn đàm phán. Chúng phải bị động thay đổi chiến lược, “phi Mỹ hoá chiến tranh” rồi “Việt Nam hoá chiến tranh”, một chiến lược mà ngay từ khi mới xuất hiện đã bộc lộ những yếu tố thất bại, phá sản không thể tránh khỏi.

Những nỗ lực phi thường đầy sự tích anh hùng, sáng tạo của quân và dân cả nước ta đã đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Paris. Sau 18 năm chống Mỹ, cứu nước, ta đã giành được thắng lợi vĩ đại: mấy chục vạn quân Mỹ và quân chư hầu phải rút khỏi miền Nam, còn lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của ta ở miền Nam vẫn tiếp tục duy trì và phát triển. Do đó, so sánh lực lượng địch – ta trên chiến trường thay đổi lớn có lợi cho ta. Nhìn chung trong cả nước, ta đã mạnh hẳn lên cả thế và lực. Đây là nhân tố chủ yếu khẳng định thời cơ lịch sử đã tới gần.

Lần này, Hội nghị Trung ương đã ra nghị quyết khẳng định con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng, tư tưởng chiến lược vẫn là tư tưởng, tiến công, tuyệt đối không thể mơ hồ, ảo tưởng.

Phương hướng hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải ra sức nhanh chóng tạo thế mới, lực mới, quyết tiến lên giành thắng lợi cuối cùng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Kết thúc bài nói, tôi yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương nghiên cứu phương án tác chiến tiêu diệt sư đoàn quân nguỵ, phương án tiến công tiêu diệt tiểu đoàn địch trong công sự kết hợp với lữ đoàn địch chi viện ở đồng bằng, khẩn trương tổ chức huấn luyện ngay các binh đoàn chiến lược, các binh chủng kỹ thuật theo phương án tác chiến mới. Tôi cũng yêu cầu Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật nhanh chóng xây dựng, hoàn chỉnh kế hoạch công tác chuẩn bị và công tác bảo đảm các mặt, đáp ứng kịp thời yêu cầu của chiến tranh.

Như một luồng gió mới, Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 đến với các chiến trường. Đồng bào, chiến sĩ cả nước sôi nổi hưởng ứng. Lãnh đạo và quần chúng chung một ý chí tiến công. Lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng đúc lại thành ánh sáng soi đường, biến thành hành động cách mạng sôi nổi, khẩn trương khắp từ tiền tuyến đến hậu phương, thành sức mạnh vô địch.

Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta chống trả địch quyết liệt, chặn đứng được phần lớn các cuộc “bình định” lấn chiếm của chúng. Ở Trị – Thiên, ta khôi phục lại thế đứng trước ngày ký Hiệp định Paris. Ở Khu 5, ta giành lại các vùng địch lấn chiếm. Ở Tây Nguyên, ta mở thêm được nhiều khu vực ở Trung Nghĩa (Kon Tum) và Chư Nghé (Pleiku). Ở miền Đông Nam Bộ, ta đánh mạnh, giải phóng thêm vùng Kiến Đức – Bù Bông, giải phóng hành lang nối liền Nam Bộ với Tây Nguyên. Ở Khu 8, ta làm chủ một số vùng ở nam, bắc đường số 4. Ở Khu IX ngay từ đầu ta đã kịp thời tiến công và phản công, nên không những giữ vững được hình thái địch – ta trước ngày 27-1-1973, mà còn giải phóng thêm nhiều địa bàn quan trọng.

Hậu phương lớn dốc sức người, sức của ra tiền tuyến, quân số các đơn vị Quân giải phóng được bổ sung.

Nhiều binh chủng kỹ thuật đã tới chiến trường. Đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn được mở rộng, nối dài. Hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, xăng dầu tới tấp vào chiến trường. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân ở miền Nam tăng gấp bội. Thời gian đang ủng hộ chúng ta.

***

Trên mỗi chặng đường của cuộc đấu tranh, tài thao lược của Đảng ta luôn luôn là nhân tố quyết định thắng lợi. Nhờ đánh giá đúng tình hình, dự kiến đúng thời cơ, chủ động và kiên quyết hành động, Đảng đã huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tạo nên thế và lực mới, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu như Nghị quyết 15 (khoá II) năm 1959 vạch ra đường lối cho cách mạng miền Nam, Nghị quyết 12 (khoá III) năm 1966 đã nêu lên phương hướng cơ bản để thực hiện nhiệm vụ lịch sử: “Đánh cho Mỹ cút”, thì Nghị quyết 21 (khoá III) năm 1973 đã chỉ ra con đường đi tới hoàn thành nhiệm vụ lịch sử tiếp theo: “Đánh cho nguỵ nhào”, như Bác Hồ đã sớm chỉ ra một cách hết sức thần tình từ mùa xuân 1969.

Một chặng đường lịch sử đã mở ra. ánh hào quang chiến thắng lấp lánh ở chân trời. Tương lai huy hoàng của dân tộc đang ở phía trước.

Chú thích:

(1) Mật ngữ quy ước dùng trong điện thoại hữu tuyến. Ý nói phải sử dụng bộ đội tăng, thiết giáp hồi đó do đồng chí Đào huy Vũ làm Tư lệnh, “liên hoan” là phối hợp tiến công. “Những đứa con khoẻ mạnh nhất” là xe tăng T54 mà quân nguỵ rất sợ. Đào Dũng là Chỉ huy trưởng lực lượng phòng thủ Cửa Việt.

(2) Lúc này, anh Tấn là Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị, anh Song Hào là Chính uỷ, anh Khánh là Phó Tư lệnh. Anh Đồng Sĩ Nguyên là Tư lệnh, anh Hoàng Thế Thiện là Chính uỷ Đoàn 559. Anh Vũ Xuân Chiếm là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Anh Quang Trung và Phan Văn Đường là Tư lệnh và Phó Chính uỷ Quân khu IV. Anh Thanh (tức Thanh Quảng) là Phó Chính uỷ mặt trận Trị – Thiên.

(3) Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ.

(4) Đồng chí Nguyễn Văn Linh.

(5) Cuối năm 1972 sang đầu năm 1973. Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo các chiến trường miền Nam đánh mạnh: tiêu diệt, bức hàng bức rút hàng trăm đồn bốt, mở thêm nhiều mảng, nhiều vùng, giành quyền làm chú trên nhiều địa bàn quan trọng. Kế hoạch được gọi là “Kế hoạch thời cơ”.

(6) Đồng chí Hoàng Văn Thái.

(7) Đồng chí Võ Chí Công.

(8) Đồng chí Chu Huy Mân.

(9) Đồng chí Võ Văn Kiệt.

(10) Đồng chí Nguyễn Minh Đường.

(11) Từ đầu năm 1974, có anh Hoàng Văn Thái, Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất trực tiếp chỉ đạo.

(12) Lê Duẩn: Thư vào Nam. Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1985, tr. 333-334.

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG – Chương 1

TRẬN “ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

Hà Nội, tháng 12-1972.

Nhiệt độ xuống thấp hơn mọi năm. Cái rét mùa đông cộng vào cái vắng lặng của ba mươi sáu phố phường vừa được lệnh triệt để sơ tán, càng làm cho thời tiết thêm giá buốt.

Cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ở Paris, thủ đô nước Pháp, đang ở bước gay go. Sau những tháng ráo riết vận động bầu cử với trò “ngoại giao con thoi” và lời hứa mang lại hoà bình, Níchxơn ở lại Nhà Trắng nhiệm kỳ hai. Ở Sài Gòn, nguỵ quyền Nguyễn Văn Thiệu run sợ trước những điều khoản bất lợi cho chúng trong thoả thuận giữa ta và Mỹ ngày 18-10-1972, phản ứng quyết hệt với chủ Mỹ.

Các cuộc họp giữa các bên cuối tháng 11 và đầu tháng 12 không đạt kết quả nào. Trong thời gian này, Mỹ cấp tốc vận chuyển cho Thiệu một khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh bằng cả một năm trước đó.

Để xoa dịu Thiệu và mặc cả với ta, Níchxơn trở mặt ngang ngược đòi đòi sửa đổi nhiều điều khoản trong bản dự thảo hiệp định lúc này tưởng chừng sắp được ký kết sau hơn ba năm đàm phán tại Trung tâm Hội nghị quốc tế trên đạl lộ Klebe.

Tất nhiên, ta không chấp nhận.

Tình hình rất khẩn trương. Đã mấy ngày liền, anh Văn Tiến Dũng và tôi thường về nhà muộn, có khi ở lại Tồng hành dinh làm việc đến tận nửa đêm.

Diễn biến trên mặt trận ngoại giao dự báo sẽ có những diễn biến mới trên mặt trận quân sự. Chúng tôi chỉ thị cho các cơ quan quân báo, tác chiến thường xuyên báo cáo tình hình địch, tình hình các chiến trường, và yêu cầu Bộ Ngoại giao thông báo kịp thời những động thái ở Hội nghị Paris. Ghi sâu lời dặn của Bác Hồ đầu năm 1968 khi Người đến thăm Bộ Tù lệnh Phòng không – Không quân: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua”, hướng phán đoán là Mỹ có thể mang máy bay ném bom chiến lược B52, con chủ bài cuối cùng ra mặc cả với ta, đánh sâu vào hậu phương miền Bắc.

Trải qua tám năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ quân và dân ta đã có nhiều chiến công và kinh nghiệm. Nhưng với B52 thì còn quá ít.

Nhớ lại giữa năm 1965. Mỹ bắt đầu dùng B52 đánh phá một số căn cứ của ta ở miền Nam. Ngày 12-4-1966, lần đầu tiên Mỹ dùng B52 đánh ra miền Bắc ở đèo Mụ Giạ (Quảng Bình), trục đường só 12, cửa khẩu Việt – Lào. Ngay khi đó, Bác Hồ đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho anh Đặng Tính, Chính uý Quân chủng Phòng không – Không quân nghiên cứu cách đánh B52. Quyết tâm bắn rơi B52 được đề ra từ đây. Tháng 5-1966, Trung đoàn tên lửa 238 được điều vào Vĩnh Linh để nghiên cứu đánh B52. Tại đây, ngày 17-9-1967, trung đoàn này đã bắn rơi chiếc B52 đầu tiên.

Từ tháng 2-1968, Quân uỷ Trung ương dự đoán Mỹ có thể dùng B52 leo thang đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và đã giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân xây dựng kế hoạch tác chiến. Suốt thời gian sau đó, nhiều đoàn cán bộ Phòng không – Không quân cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích được cử vào nghiên cứu cách đánh B52 trên vùng trời Quân khu IV. Đặc biệt, từ tháng 5-1972, để gây sức ép với ta trên bàn đàm phán, Níchxơn ra lệnh mở chiến dịch không quân Lainơbếchcơ (Tiền vệ) dùng B52 trút hàng trăm ngàn tấn bom xuống tuyến vận chuyển chiến lược Trường Sơn hòng ngăn chặn sự chi viện mạnh mẽ của miền Bắc cho miền Nam. Đây là một dịp để ta nghiên cứu cách đánh loại máy bay chiến lược này của Mỹ.

Việc nghiên cứu chuẩn bị kế hoạch đánh B52 được triển khai gấp rút và đã căn bản hoàn thành vào đầu tháng 9-1972. Dựa vào kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn chiến đấu và những hiểu biết ngày càng nhiều về vũ khí, khí tài và thủ đoạn hoạt động của địch, tài liệu Cách đánh B52 sau nhiều lần bổ sung, hoàn chỉnh, đã góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu của bộ đội. Cũng cần nói thêm rằng, mặc dù sự giúp đỡ của Liên Xô về vũ khí, kỹ thuật là quý báu và có hiệu quả, nhưng từ năm 1969, bạn không viện trợ thêm một quả đạn tên lửa nào. Các bộ khí tài tên lửa, rađa cũng dần dần xuống cấp. Điều đó đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ ta phải ra sức phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu suất chiến đấu của vũ khí, khí tài có trong tay.

Ngày 22-11-1972, Trung đoàn tên lửa 263 ở tây Nghệ An bắn hạ một B52. Chiếc máy bay rơi ở phía tây Nakhomphanom, cách căn cứ Utapao (Thái Lan) 64km. Hãng thông tấn Mỹ UPI buộc phải thú nhận tin này. Tuy không bắn rơi máy bay tại chỗ, nhưng lý thuyết sáng tạo bước đầu đã được thực tiễn kiểm nghiệm.

Các báo cáo của Cục Quần báo trong giao ban hằng ngày ở Bộ Tổng Tham mưu cho thấy địch đang ráo riết chuẩn bị: thành lập Bộ chỉ huy hợp nhất không quân chiến lược chỉ huy cả căn cứ Utapao (Thái Lan) và căn cứ Anđécxơn (Guam); tập trung quá nửa số B52 của không quân Mỹ vào hai căn cứ này; bố trí máy bay tiếp dầu KC135, máy bay trinh sát và gây nhiễu điện tử ở căn cứ Subích (Philíppin).

Cục Tác chiến được lệnh trực ban 24 giờ trên 24 giờ.

Ngày 24-11, anh Văn Tiến Dũng xuống Bộ Tư lệnh quân chủng Phòng không – Không quân duyệt phương án đánh B52 của lực lượng phòng không Hà Nội, và chỉ thị chậm nhất đến ngày 3-12 phải hoàn tất mọi công tác chuẩn bị, các trận địa phòng không của cả ba thứ quân khân trương triển khai sẵn sàng chiến đấu.

Trong buổi giao ban ngày 18-12-1972, Cục 2(2) báo cáo: Hồi 5 giờ sáng, ta bắt được tin của địch từ sân bay hỏi: “Trực thăng hôm nay cấp cứu ở đâu?”. Trưa hôm ấy một máy bay RF4C bay qua Hà Nội báo về căn cứ: “Thời tiết quanh. Hà Nội hoạt động được”. Trên bầu trời Khu IV, hoạt động của không quân địch đột ngột giảm xuống, đặc biệt không có tốp B52 nào. Tất cả các đài rađa của mạng cảnh giới mở máy trực ban đều không có nhiễu tích cực. Đây là những dấu hiệu không bình thường, chỉ một ngày sau khi bộ đội Phòng không – Không quân được lệnh bước vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao.

Chiều ngày 18-12-1972, chiếc chuyên cơ BH-195 (3) đưa anh Lê Đức Thọ về nước đáp xuống sân bay Gia Lâm lúc 16 giờ 45 phút. Cũng khoảng thời gian ấy, Níchxơn gửi công hàm như một tối hậu thư, hạn trong 72 giờ ta phải trở lại bàn đàm phán theo nhũng điều kiện của Mỹ.

19 giờ 10 phút. Trong phòng làm việc của tôi tại Tổng hành dinh, tiếng chuông điện thoại reo vang từ một trong bốn chiếc máy có chế độ ưu tiên số 1.

Tiếng nói của đồng chí trực ban tác chiến nghe rất rõ:

Báo cáo thủ trưởng, B52 đã cất cánh từ Guam.

Utapao, nhiều tốp bay dọc sông Mêkông lên phía bắc.? các lực lượng Phòng không – Không quân đã sẵn sàng, vào cấp 1 xong.

Mấy phút sau, còi báo động rú từng hồi.

19 giờ 45 phút. Có tiếng bom nổ ở phía xa xa. Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân báo cáo: Máy bay địch đang đánh phá sân bay Hoà Lạc. Tiếp theo đó, nhiều tốp B52 vào đánh các sân bay Nội Bài, Gia Lâm. Tiếng ầm ì khô và nặng của động cơ máy bay B52 mỗi lúc một rõ dần. Những vầng lửa loé lên, chớp giật liên hồi. Theo sau là những tràng tiếng nổ long trời. Rồng lửa Thăng Long nối nhau bay vút lẻn không trung, đan những vệt sáng màu da cam giữa màn đêm Hà Nội.

Cơ quan Tổng hành dinh làm việc hối hả.

Tôi yêu cầu Bộ Tổng tham mưư cứ 5 phút báo cáo một lần.

Cục 2 báo cáo: Níchxơn đã ra lệnh bắt đầu chiến dịch Lainơbếchcơ II, dùng máy bay chiến lược B52 từ các căn cứ Mỹ ở Thái Lan, Guam, Philíppin tiến công Hà Nội, trong khi các mấy bay cường kích F111 tiến công các sân bay gẩn đó. Chiến dịch này đã được Níchxơn, Kítxinhgiơ và tướng Hây (Haig) bàn bạc, quyết định tại phòng bầu dục ở Nhà Trắng ngày 14-12. Để thực hiện kế hoạch này, Bộ chỉ huy Sư đoàn không quân chiến lược lâm thời số 57 được thành lập. 50 máy bay KC-135 để tiếp dầu cho B52 được điều thêm sang Philíppin. Trên vịnh Bắc Bộ, năm tàu sân bay đang hoạt động, cục Tác chiến khẩn trương nắm tình hình, liên tiếp chuyển lệnh cho Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân.

20 giờ 20 phút. Chuông điện thoại đổ hồi. Ở đầu dây bên kia là đồng chí Nguyền Quang Bích, Phó Tư lệnh Phòng không – Không quân:

– Báo cáo Đại tướng, hồi 20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn 59, Trung đoàn tên lửa 261 bộ đội phòng không Hà Nội bắn rơi tại chỗ một chiếc B52.

Tôi hỏi:

– Có đúng B52 không?

– Báo cáo, đúng là B52.

Một, lát sau, đồng chí Nguyễn Quang Bích báo cáo cụ thể: Đây là chiếc B52G cất cánh từ Guam. Nó rơi xuống xã Phù Lỗ, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội.

Tin chiến thắng xé toang bầu không khí căng thẳng.

Tổng hành dinh náo nức trong niềm vui được thấy “con ngoáo ộp” B52 không còn là “bất khả xâm phạm” trước những con “rồng lửa Thăng Long”.

Tôi bước ra ngoài Sở chỉ huy. Trời rét đậm và mưa bụi. Nhưng lòng tôi ấm áp lạ thường.

Trong đêm 18 rạng ngày 19-12, địch sử dụng B52 cùng không quân chiến thuật liên tiếp hết đợt này đến đợt khác đánh phá Đông Anh. Yên Viên. Mễ Trì, Gia Lâm, Hoà Mục. Thủ đô chìm trong khói lửa.

4 giờ 39 phút sáng ngày 19-12, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn tên lửa 267 bắn rơi chiếc B52 thứ hai. Máy bay rơi tại chỗ trên cánh đồng xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.

Một sự trùng hợp lịch sử: Hà Nội lại nổi lửa diệt thù đúng vào ngày Thủ đô vùng lên kháng chiến, ngày 19-12-1946, hai mươi sáu năm sau.

Nhớ lại tháng 9-1971, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã nhận định: Năm 1972, hoặc là địch sẽ rút nếu đạt được giải pháp; nếu chưa, địch có thể tập trung không quân đánh phá. Ta cần có biện pháp đề phòng. Ngay ngày hôm sau, nhân danh Bí thư Quân uỷ Trung ương, tôi chỉ thị cho các đảng bộ trong toàn quân: “B52 không chỉ đánh ở miền Nam. Đến mức độ nào đó, cũng có thể đánh vào Thủ đô Hà Nội. Quân chủng Phòng không – Không quân phải nghiên cứu kỹ đối tượng này”. Bộ đội cao xạ, rađa, tên lửa và không quân được lệnh triển khai huấn luyện chiến đấu theo các phương án đã được kết luận. Một số trận địa tên lửa, trận địa cơ động cho pháo cao xạ và sân bay dã chiến được bí mật xây dựng. Dân quân, tự vệ Hà Nội và một số thành phố được bổ sung hoả lực bắn máy bay. Công tác bảo đảm quan sát, thông tin được tăng cường.

Ngày 25-11-1972, trong Chỉ thị: Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, Quân uỷ Trung ương cũng nhắc lại: “Sắp tới, địch có thể ném bom bắn phá trở lại các mục tiêu ngoài vĩ tuyến 20 với mức độ ác liệt hơn trước. Chúng có thể liều lĩnh dùng máy bay B52 đánh phá các trọng điểm Hà Nội, Hải Phòng”.

Ngày 27-11, Bộ Tổng tư lệnh nhận định có nhiều khả năng địch dùng B52 đánh vào Hà Nội và ra lệnh cho các lực lượng vũ trang tăng cường chuẩn bị chiến đấu. Trong bức điện gửi Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tư lệnh B2(4), Quân uỷ Trung ương cũng đã thông báo dự kiến khả năng này. Mặc dù vậy, do quán triệt quyết tâm chưa tốt, suy nghĩ lúc này vẫn nặng về khả năng địch dùng B52 đánh phá từ Thanh Hoá trở vào đến Quảng Trị, nên đầu tháng 12 đã có lệnh điều một Trung đoàn tên lửa vào Khu IV, tiếp đó lại điều thêm hàng trăm quả đạn tên lửa của phòng không Hà Nội vào theo.

***

Sáng 19-12, khi khói lửa còn chưa tan hết, Bộ Chính trị họp tại Tổng hành dinh nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo diễn biến trận đánh B52 trong đêm đầu tiên, khen ngợi chiến công của các lực lượng phòng không và chỉ thị kiên quyết đập tan hành động quân sự điên cuồng, phiêu lưu mới của đế quốc Mỹ.

Buổi chiều, tại Câu lạc bộ quốc tế ở Hà Nội, trước đông đảo phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài, người phát ngôn của Bộ Quốc phòng công bố những hành động tội ác của địch đêm 18-12 và kết quả tiêu diệt B52 của quân và dân ta. Sáu tù binh Mỹ vừa bị bắt cúi đầu thú nhận nỗi kinh hoàng của chúng trước lưới lửa dày đặc của lực lượng phòng không Hà Nội.

Đêm 19-12, quân ta chiến đấu hiệu suất thấp, mặc dù địch đã cho xuất kích 87 lần chiếc B52, chỉ kém đêm hôm trước ba lần chiếc. Nguyên nhân do chưa thực hiện đúng hướng dẫn của quân chủng, lại lo thiếu đạn nên chỉ bắn từng quả một.

Thủ đoạn của địch là cho B52 tập kích vào ban đêm và bay ở độ cao 11km nhằm tránh hoả lực của các loại pháo cao xạ. Ngày cũng như đêm, địch tập trung máy bay tiêm kích và cường kích cùng với các biện pháp gây nhiễu tích cực và tiêu cực chế áp, đánh phá các sân bay và trận địa tên lửa, hy vọng sẽ loại trừ hoàn toàn sự uy hiếp của hai lực lượng chủ yếu có thể đánh được B52 là tên lửa phòng không và máy bay tiêm kích của ta.

Anh Văn Tiến Dũng xuống họp với Bộ Tư lệnh quân chủng Phòng không – Không quân, chỉ thị phải phát huy sức mạnh của các binh chủng, tích cực tạo điều kỉện cho không quân ta đánh B52, phát huy hiệu suất chiến đấu của bộ đội pháo phòng không đê đánh địch ở tầm thấp. Anh còn chỉ đạo cụ thể các mặt bảo đảm chiến đấu để đánh liên tục, dài ngày.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh quân chủng, các tiểu đoàn tên lửa kịp thời rút kinh nghiệm, tìm ra cách đánh có hiệu quả nhất theo sở trường, sở đoản từng đơn vị.

Kết quả đêm 20 rạng ngày 21-12-1972, bộ đội tên lửa đã lập công xuất sắc, phóng 35 quả đạn bắn rơi bảy B52, có năm chiếc rơi tại chỗ. Các lực lượng phòng không ba thứ quân của Hà Nội. Hải Phòng, Bắc Thái cũng hiệp đồng chặt chẽ, bắn rơi bảy máy bay chiến thuật và một máy bay không người lái.

Đòn tiến công trong đêm thứ ba của chiến dịch Lainơbếchcơ II đã bị thất bại nặng nề. Tinh thần của phi công B52 suy sụp nghiêm trọng. Ngày 21-12, tôi chỉ thị cho quân chủng Phòng không – Không quân: Thắng lợi của chúng ta là rất lớn, cần cố gắng phát huy chiến thắng hơn nữa. Địch sẽ tập trung đánh các trận địa tên lửa. Phải tìm mọi cách bảo vệ tên lửa để tiếp tục tiêu diệt B52. Chú ý bảo đảm đạn tên lửa để đánh được liên tục Cố gắng phát huy tác dụng của không quân nhằm B52 mà đánh. Tôi cũng trực tiếp gọi điện xuống các sư đoàn biểu dương: bộ đội phòng không Hà Nội vửa qua đánh tốt. Tôi nói: “Cả nước đang hướng về Hà Nội. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ từng phút. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương theo dõi cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội”.

Sáng 21-12-1972, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra tuyên bố lên án mạnh mẽ hành động chiến tranh điên rồ của chính quyền Níchxơn. Sau khi nhắc lại lập trường trước sau như một của Việt Nam, bản tuyên bố viết: “Nhân dân ta rất thiết tha với hoà bình, nhưng phải là hoà bình trong độc lập tự do thật sự. Chúng ta có đầy đủ thiện chí, đồng thời có đầy đủ quyết tâm và lực lượng để bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản thiêng liêng của mình. Vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, đồng bào và chiến sĩ cả nước hãy nêu cao khí phách anh hùng, đoàn kết một lòng, ra sức thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu trên ba mặt ttận quân sự chính trị và ngoại giao nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới hoà bình, thống nhất nước nhà”.

Ngay ngày hôm ấy, tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được phát đi trên Đài Phát thanh Giải phóng: “Bọn xâm lược Mỹ đụng đến miền Bắc một, thì quân và dân miền Nam quyết giáng trả chúng gấp năm, gấp mười lần!”. Đài cũng truyền đi thư của Sài Gòn gửi Hà Nội: “Lửa miền Bắc khêu lửa miền Nam, lửa Hà Nội giục lửa Sài Gòn”.

Từ ngoài vô trong, từ hậu phương lớn đến tiền tuyến lớn anh hùng đang vang lên tiếng trả lời đanh thép: Đánh!

Một màn hiệp đồng tuyệt đẹp trên các mặt trận quân sự dư luận và ngoại giao, giứa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn. Các mũi giáp công nhằm đúng kẻ thù trong chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Tổng hành dinh làm việc hết sức khẩn trương. Các đồng chí cơ yếu, quân báo, tác chiến, thông tin, mắt hõm sâu qua những đêm thức trắng. Đạn tên lửa thiếu nghiêm trọng. Các dây chuyền lắp ráp đạn tiến hành liên tục ngày đêm, quá sức chịu đựng của con người, mà đạn vẫn không đủ.

Quả đạn vừa lắp xong đã có xe chờ sặn chuyển ngay về trận địa. Tôi thường xuyên gọi điện cho Bộ Tư lệnh Sư đoàn phòng không Hà Nội, biểu dương thành tích bắn rơi B52 của bộ đội tên lửa, kiểm tra, tình hình chiến đấu Tôi, đặc biệt nhấn mạnh phải khẩn trương lắp ráp đạn, tiết kiệm đạn, đạn tên lửa chỉ dùng để đánh B52.

Phòng Thông tấn quân sự thuộc Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị) kịp thời ra các bản tin chiến sự, nóng hổi từng giờ. Đài Tiếng nói Việt Nam nhiều lần dừng các buổi phát thanh thường lệ để phát tin chiến thắng.

***

Sau khi ra lệnh ném bom vào dịp Quốc hội Mỹ đang kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, Níchxơn lánh mặt đi nghỉ ở Kibiscâynơ, bang Florida, tránh các nhà báo và công luận Mỹ.

Thế nhưng “chảy trời không khỏi nắng”. Búa rìu dư luận đã giáng xuống đầu bọn xâm lược, đòi chúng phải chấm dứt ngay “cuộc diệt chủng” ở Việt Nam.

Hành động tàn bạo của Níchxơn trùm bóng đen lên ngày lễ Giáng sinh, khiến lương tâm của cả loài người nổi giận. Chưa bao giờ làn sóng phản đối chiến tranh của đế quốc Mỹ lại bùng lên dữ dội như những ngày này trên khắp hành tinh và ngay tại nước Mỹ. Các nhà lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa ra tuyên bố kịch liệt lên án hành động xâm lược mới của Mỹ, khẳng định sự ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Các đảng cộng sản và công nhân phẫn nộ tố cáo tội ác của Mỹ, kêu gọi nhân dân các nước đấu tranh đòi hoà bình cho Việt Nam. Ở khắp nơi trên thế giới, hàng triệu người xuống đường sôi sục biểu tình lên án mạnh mẽ hành động tội ác ghê tởm của Nhà Trắng. Các nghị, sĩ Quốc hội Mỹ ở cả hai viện chỉ trích gay gắt hành động leo thang mới của Níchxơn đã tiến hành mà không tham khảo ý kiến Quốc hội và nhân dân Mỹ. Tờ Thời báo Niu Yoóc, ngày 2ó-12-1972, cảnh cáo “Mỹ có nguy cơ trở lại một kiểu dã man của thời kỳ đồ đá?”. Duy nhất chỉ có bè lũ Nguyễn Văn Thiệu là hí hừng, vui mừng. Hãng AP (Mỹ) ngày 19-12 đưa tin “một quan chức cao cấp của Nam Việt Nam cho rằng cuộc tiến công trở lại vào vùng trung tâm của Hà Nội và Hải Phòng là để khuyến khích chúng tôi”… rằng “việc này chứng tỏ Mỹ không bao giờ bỏ rơi chúng tôi “, và nhắc lại lời của Thiệu tháng 8-1972 van xin Mỹ “ném bom cho tan nát miền Bắc Việt Nam(!)”. Xấu xa đến mức báo Nhân đạo (L’Humamté) ở Pháp đã bình luận: “Ngay như trước đây, trong hồi Chiến tranh thế giới thứ hai, những tên Pháp gian như Đôriô cũng không dám đề nghị “đồng minh” tàn phá Paris. Thế mà nay Thiệu lại mong muốn Mỹ ném bom tàn phá đất ntiớc mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ!”.

Nhân ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12), anh Phạm Văn Đồng cùng các anh Văn Tiến Dũng, Phùng Thế Tài đến thăm Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không – Không quân. Thủ tướng đã biểu dương chiến công của bộ đội, nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm chiến đấu, kiên quyết đánh bại âm mưu đen tối, tàn bạo của Mỹ, giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân và các đoàn thể quần chúng ở Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương cũng liên tục cử các đoàn đại biểu đến các trận địa phòng không thăm hỏi và tặng quà cho bộ đội.

Lúc này, địch tập trung tiến công các trận địa tên lửa, đối tượng chính gây nguy hiểm cho các loại máy bay Mỹ. Thủ đoạn của chúng là dùng tên lửa Srai bắt sóng rađa của ta để đánh vào trận địa.

Sáng 22-12, tôi đến trận địa Tiểu đoàn 77 tên lửa ở Chèm đang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao. Sau khi nghe báo cáo về chiến công bắn rơi B52 đêm trước, tôi vào trong xe chỉ huy yêu cầu Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn và kíp chiến đấu gồm sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Đức, các trắc thủ phương vị, góc tà, cự ly Mộc, Hà, Tân báo cáo về kỹ thuật và động tác xử trí cụ thể. Những con người dũng cảm, thông minh, kết thành một tập thể ăn ý, cùng một ý chí lập công, chỉ cần một cái nháy mắt cũng đủ hiểu ý định của nhau, đã, có những nhận xét khá tinh tế. Xiết chặt tay từng đồng chí, tôi trao đổi, bàn bạc, động vỉên các chiến sĩ cố gắng tìm thêm cách đánh tối ưu, diệt thêm nhiều B52 của địch.

Ở một tiểu đoàn tên lửa khác, khi tôi đến thăm, anh em báo cáo là đang phải sửa chữa vũ khí, khí tài. Về sau, mới rõ vào thời điểm tôi đến, đơn vị đã có lệnh chuẩn bị chiến đấu. Vì muốn bảo vệ tôi, anh em đã nói dối. Biết vậy, nhưng không nỡ phê bình. Việc này gợi nhớ lại một ngày trước đó, đi thăm một trận địa phòng không thì gặp máy bay địch tới khi xe đang chạy trên đê sông Đáy. Chỉ kịp cho xe dừng lại, tôi và các đồng chí cùng đi nằm ép xuống mặt đường cạnh thân đê. Địch phóng mấy quả tên lửa Srai vào một trận địa tên lửa gần đấy rồi bay thẳng. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường.

Sự việc chỉ có thế thôi mà mấy ngày hôm sau, vài hãng thông tấn phương Tây đưa tin tôi bị tử thương vì bom B52. Mấy nhà báo Pháp đến sứ quán ta ở Paris xin tiểu sử của tôi. Các đồng chí Ba Lan và một số sứ quán ta ở nước ngoài, nửa tin, nửa ngờ, điện về hỏi xem hư thực.

Sau này, tôi còn được biết một số đồng chí ta bị địch giam cầm, khi nghe tin ấy đã bí mật tổ chức truy điệu tôi trong nhà tù. Đài Tiếng nói Việt Nam đã phải cho thu thanh ngay trong hầm chỉ huy của Tổng hành dinh bài diễn văn của tôi nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12) và phát lên để gián tiếp cải chính.

***

Kẻ sát nhân vờ đội lốt con chiên.

Níchxơn ra lệnh ngừng tập kích B52 vào ngày Chúa giáng sinh, “lập lờ đánh lận con đen”, thực chất là để xả hơi, rút kinh nghiệm sau những trận đòn đau.

Cùng lúc này, nêu cao chính sách nhân đạo, cơ quan địch vận cho phép các phi công Mỹ đang bị giam trong các “Khách sạn Hintơn” (5) được mừng ngày Chúa giáng sinh. Các “phi công trong bộ quần áo ngủ”(6) được hướng dẫn làm bích báo, liên hoan ca hát, đón ông già tuyết bên những cây thông Nôen rực rỡ sắc màu, cầu nguyện cho hoà bình và hồi hương. Buổi phát thanh tiếng Anh của Đài Tiếng nói Việt Nam dành cho binh sĩ Mỹ, quen thuộc với lính Mỹ qua giọng nói của “Hà Nội Hana”(7), phát đi tiếng nói của Glen Xécten, đại uý hoa tiêu máy bay B52G vừa bị bắt đêm hôm trước, nhắn tin cho vợ: “Anh vẫn còn sống, được đối xử nhân đạo. Nhân dân Việt Nam không phải là kẻ thù của chúng ta. Mong cuộc chiến tranh chết tiệt này chóng kết thúc. Hôn em và con”.

Cuộc ném bom rải thảm lại tiếp tục ác liệt ngay sau lễ Giáng sinh. Tham vọng ngông cuồng của những kẻ quen ỷ lại vào sức mạnh đưa chúng lao sâu vào con đường thất bại đầy tội ác.

Đêm 26-12, địch huy động hàng trăm lần chiếc B52 đánh phá dã man các khu dân cư ở nội thành Hà Nội.

Đã có lúc căn hầm chỉ huy kiên cố của Tổng hành dinh rung chuyển như động đất. Hồi 22 giờ 47 phút, B52 ném bom rải thảm xuống khu phố Khâm Thiên, một nơi có mật độ dân số đông nhất Thủ đô, gây tổn thất rất lớn về người và của. Cùng với Khâm Thiên, B52 cũng rải bom xuống hơn 100 điểm dân cư trong thành phố, hơn 1.000 người bị thương vong.

Tranh thủ từng giờ từng phút, các chiến sĩ ta khẩn trương thay thế, sửa chữa vũ khí, khí tài, bổ sung đạn dược, sẵn sàng tiếp chiến. Dày dạn qua mấy ngày đêm chiến đấu, người dân Hà Nội thường ra ngoài hầm trú ẩn xem máy bay Mỹ cháy trong những “đêm hội pháo hoa”.

22 giờ 30 phút đêm 26-12, Tiểu đoàn 76 Trung đoàn tên lửa 257 anh hùng, bằng 13 quả đạn, phối hợp cùng với trận địa phòng không biến hai máy bay B52 thành hai khối lửa khổng lồ sáng rực cả một góc trời phía nam thành phố. Một trong hai chiếc rơi ngay vào cửa hàng ăn Tương Mai thuộc quận Hai Bà Trưng, nội thành Hà Nội. Đứng giữa sân Tổng hành dinh, tôi vô cùng xúc động nhìn tận mắt cảnh tượng hào hùng ấy. Trở vào, tôi gọi điện cho Sở Chỉ huy bộ đội phòng không Hà Nội.

Nghe tiếng trả lời quen thuộc của đồng chí Phó Tư lệnh, tôi hỏi:

– Trần Nhẫn đấy à? Khoẻ không?

– Báo cáo Đại tướng, tôi rất khoẻ. Xin chúc sức khoẻ Đại tướng.

Tôi nói:

– Đêm nay đánh như thế là tốt đấy. Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh nhiệt hệt biểu dương các đồng chí! Cần chú ý rút kinh nghiệm và giữ gìn tốt lực lượng tên lửa để đánh lâu dài. Còn vấn đề đạn thì sao?

Đồng chí Trần Nhẫn báo cáo vừa nhận được một số đạn tên lửa từ Khu IV chuyển ra, không còn lo phải “bắn mổ cò”. Tôi cảm thấy nhẹ người.

Trong đêm 26 rạng ngày 27-12, quân và dân Hà Nội sôi sục căm thù, bắn lơi 18 máy bay địch, trong đó có tám B52. Đây là đêm Mỹ bị mất nhiều B52 nhất.

***

Hà Nội anh dũng, đau thương.

Chia xẻ nỗi đau của đồng bào. Bác Tôn và tôi đến ngay khu phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai, ân cần thăm hỏi bà con. Anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Đồng đến thăm bệnh viện Bạch Mai, khu phố Gia Lâm. Giữa đống gạch ngói hoang tàn, đồng bào xúc động đón nhận sự săn sóc của Đảng và Nhà nước. Mọi người đều hứa quyết tâm biến đau thương thành hành động, bắt quân thù phải đền nợ máu.

Dưới bom đạn Mỹ, nhân dân Việt Nam vẫn ngẩng cao đầu át tiếng bom rơi, báo chí, đài phát thanh không ngừng truyền tin chiến thắng. Xã luận báo Nhân dân viết:

“Tổ quốc kêu gọi chúng ta! Loài người kêu gọi chúng ta! Bản tuyên dương công trạng của Quốc hội thúc giục chúng ta thừa thắng xông lên. Chia lửa với miền Nam thân yêu, chia lửa với Khu IV kiên cường, Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và các tỉnh chung quanh Thủ đô quyết tâm hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với tiền tuyến lớn trong bản đại hợp xướng chiến thắng oai hùng” (8)

“Sài Gòn ơi! Hà Nội viết tiếp những trang sách lớn vào cuốn sách mà đồng bào, đồng chí Sài Gòn đã viết, những trang sách lớn về con người Việt Nam chúng ta cao quý”.(9)

Chưa bao giờ, xã luận của báo Đảng lại hào hùng như vậy,

Câu nói bất hủ của Bác Hồ lúc sinh thời vang lên như một lời nguyền: “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn?”(10)

Chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, anh Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng xụống trực tiếp chỉ đạo không quân đánh B52. Đêm 27-12, lúc 22 giờ 20 phút, Phạm Tuân lái máy bay MiG 21 bất ngờ cất cánh từ sân bay Yên Bái, hạ một B52 trên vùng trời Tây Bắc, làm rối loạn đội hình của địch, tạo thêm điều kiện cho lưới lửa phòng không Hà Nội diệt thêm năm B52 nữa.

Thời gian trôi đi, nặng nề, căng thẳng.

Suốt 12 ngày đêm, Mỹ huy động gần 200 máy bay chiến lược B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật các loại đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Hơn 10 vạn tấn bom đạn trút xuống các trường học, bệnh viện, các khu phố đông dân. Tội ác chồng lên tội ác.

Quyết trừng trị quân xâm lược, trả thù cho đồng bào, chiến công của quân và dân ta cũng dày thêm.

Trong những ngày này, mặc dù bận và căng thẳng, tôi không quên chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quânthu thập các thiết bị điện tử và tài liệu trên xác máy bay B52 và F111, kịp thời sử dụng nghiên cứu bổ sung cách đánh. Nhân dân các địa phương cũng có ý thức trong việc này. Một hôm, con trai út của tôi sơ tán ở Hoà Bình mang về một tập tài liệu của Bộ Tư lệnh Tập đoàn không quân Mỹ định vị các vị trí tên lửa và cao xạ của ta cùng các chỉ lệnh ném bom, do dân thu được và nhờ chuyển. Tôi xem kỹ tài liệu này. Trên bìa có dòng chữ: “Tài liệu mật, không được đưa ra khỏi Bộ Quốc phòng”.

Trước khi chuyển tài liệu này cho Bộ Tổng Tham mưu, tôi viết thêm: “Trừ Bộ Quốc phòng Việt Nam”.

8 giờ sáng ngày 28-12, tôi đến Tiểu đoàn 79, Trung đoàn tên lửa 257, tại trận địa Yên Nghĩa, Hà Tây. Các chiến sĩ đón tôi trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, nhưng không kém phần nồng nhiệt, thân tình.

Sắp đến giờ địch hoạt động. Tôi nói ngắn, căn dặn đơn vị không được chủ quan, thoả mãn, chú ý giữ bí mật, nguỵ trang đánh địch nhưng đừng quên bảo vệ mình. Phân tích nguyên nhân thắng lợi, tôi nói:

– Cũng con người đó, cũng vũ khí đó, nhưng lần này các đồng chí đánh có tiến bộ vượt bậc. Đó là vì chúng ta có quyết tâm rất cao, vì chúng ta nắm vững tư tưởng quân sự của Đảng là luôn luôn chủ động tiến công địch, mưu trí, sáng tạo, bí mật, bất ngờ. Binh chủng của các đồng chí là binh chủng hiện đại, càng phải nắm cho được kỹ thuật quân sự hiện đại, có như vậy mới cải tiến được kỹ thuật, mới tổ chức hiệp đồng chiến đấu tất. Có tổ chức chiến đấu tốt, chỉ huy tốt, phát huy tinh thần chủ động tiến công, mưu trí, sáng tạo, đánh thắng địch ban đêm, đánh thắng mọi thủ đoạn gây nhiễu và chống được tên lửa Srai, của chúng, ta càng giành thắng lợi lớn.

Giải thích cho bộ đội rõ thất bại của địch là hết sức nặng nề, tôi nói:

– Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, với kỹ thuật phòng không hồi bấy giờ, không quân thường bị tổn thất 1% ở những nơi hoạt động tương đối mạnh. Trong chiến tranh phá hoại ở Việt Nam, Giônxơn đã thú nhận tổn thất của Mỹ nói chung là 1%, riêng với Hà Nội, Hải Phòng là 2%.

Còn bây giờ bao nhiêu?

Đến hôm nay, 28-12, Mỹ đã mất 31 máy bay B52. Chúng có 200 chiếc, mất 31 chiếc là tổn thất 15%. Nếu tính riêng Hà Nội, Hải Phòng, mỗi lần chúng vào 20, 30 chiếc bị hạ bốn hoặc năm chiếc thì tỷ lệ rất cao! Không quân chiến lược mà tổn thất tỷ lệ 10% đến 15% là rất cao. Thất bại hết sức nặng nề là như vậy đó!

Mấy hôm nay, chính Mỹ phải thú nhận tổn thất là 8%. Tất nhiên chúng không dám nói hết sự thật.

Sau khi chúc tiểu đoàn giành thắng lợi lớn hơn nữa, tôi hỏi:

– Tỷ lệ sắp tới là bao nhiêu?

Có tiếng trả lời:

– 100% ạ.

Tôi nói vui:

– Nên nhớ rằng một quả tên lửa hạ một máy bay, một chiến sĩ đặc công có thể phá một lúc 15 máy bay. Nếu các đồng chí đánh tốt hơn nữa, thì cũng có khả năng đấy.

Sau đó tôi vào thăm Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không – Không quân đặt trong hang đá núi Trầm.

Trong không khí phấn khởi, đồng chí Trần Hanh báo cáo thành tích của không quân ta vừa hạ được một B52 đêm trước. Nghe xong, tôi nói:

– Chúc mừng chiến công của không quân. Nhưng chắc các đồng chí không thoả mãn đấy chứ?

– Báo cáo chưa ạ, còn phải phấn đấu hạ nhiều B52 hơn nữa ạ!

– Nhất định phải như vậy!

Tôi còn được báo cáo về mạng trinh sát của binh chủng rađa vừa tối ưu vừa rất Việt Nam. Đây là một mạng lưới rađa dày đặc, mạnh mẽ, được chỉ huy chặt chẽ, với các đài rađa được bố trí bất ngờ, hiểm hóc, kết hợp giữa hiện đại và thô sơ, giữa rađa tầm xa và hệ thống các vọng quan sát bằng mắt bao quanh Hà Nội, kiểm soát chặt chẽ cả bốn tầng không: cao, trung, thấp và thật thấp, có “đánh vỗ mặt, đánh tạt sườn, đánh tập hậu” theo chỉ thị của Tổng Tham mưu phó Vương Thừà Vũ trong buổi kiểm tra Sở chỉ huy Phòng không – Không quân tháng 6-1972. Chính nhờ thế mà trong đêm đầu tiên và trong các ngày sau, mặc dù các đài rađa ở đồng bằng bị nhiễu nặng, các đài khác ở Tây Bắc, Đông Bắc, Vĩnh Linh, Đô Lương, Diễn Châu và cả Cánh Đồng Chum vẫn phát hiện được rõ ràng những đội hình lớn của B52 cách xa Hà Nội hàng nghìn kilômét.

Nói chuyện với cán bộ tại Sở chỉ huy, tôi kể chuyện vừa gặp một phụ nữ khi đến xem xác chiếc máy bay B52 bị bắn rơi tại làng Ngọc Hà. Chị nắm tay tôi, giọng xúc động:

– Lần đầu tiên được gặp Đại tướng. Chúng tôi không sợ chúng nó! Chúng tôi nhất định không sợ? Phải diệt cho hết chúng nó đi.

Phụ nữ Việt Nam là như thế. Dân tộc Việt Nam càng như thế!

Sau khi khen ngợi chiến công của bộ đội tên lửa, bộ đội rađa, bộ đội cao xạ, bộ đội không quân, tôi phân tích để mọi người hiểu thêm ý nghĩa của thắng lợi:

– Chiến công của các đồng chí là xuất sắc. Tổn thất của địch là vô cùng nặng nề. Đây là tổn thất về không quân chiến lược. Khi mất một chiếc B52 thì các hãng tin phương Tây đã nói tới tổn thất về uy tín của không quân chiến lược Mỹ. Thế mà bây giờ chúng đã mất tới 32 chiếc. Thêm vào đó, một lô giặc lái vừa bị bắt là phi công B52, F111, là những loại mà cả nước Mỹ cũng không có nhiều. Cần thấy rõ điều đó để phấn khởi, tin tưởng, để đánh thắng to hơn.

Thay mặt toàn quân chủng, Đại tá Tư lệnh Lê Văn Tri hứa thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị vằ Quân uỷ Trung ương, ra sức nâng cao chất lượng chiến đấu, nâng cao sức chiến đấu tổng hợp, cùng các lực lượng vũ trang khác bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống nhiều giặc lái hơn nữa.

***

Quân xâm lược đã ngấm đòn.

Ngày 22-12, Mỹ gửi công hàm đề nghị ta họp lại theo nội dung đã thoả thuận hồi tháng 10-1972.

Hãng thông tấn Mỹ AP ngày 25-12-1972, cay đắng thú nhận: “Thiệt hại của Mỹ là nặng nhất kể từ khi Mỹ bắt đầu ném bom Bắc Việt Nam tháng 9-1964”.

Đêm 30-12-1972, tôi duyệt bản thông cáo chiến thắng do Cục Tuyên huấn dự thảo. Trời về khuya, nhiệt độ xuống thấp. Nhưng trước chiến công oanh liệt với những con số đầy ý nghĩa, ai cũng thấy ấm lòng.

“… Chỉ trong 12 ngày đêm, quân và dân ta đã:

1. Bắn rơi 77 máy bay hiện đại thuộc không quân chiến lược và không quân chiến thuật Mỹ, phần lớn rơi tại chỗ, trong đó có:

– 33 máy bay chiến lược B52, phần lớn thuộc loại B52D và B52G, tức loại máy bay chiến lược có trang bị điện tử tối tân của Mỹ.

– 5 máy bay F111.

– 24 máy bay phản lực hiện đại của hải quân Mỹ.

– 3 máy bay trinh sát và 1 máy bay lên thẳng.

2. Tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ, trong đó có đủ sĩ quan các cấp từ cấp trung tá trở xuống.

3. Bắn cháy 8 tàu chiến Mỹ”.(11)

Phấn khởi, xúc động, tôi ghi tiếp vào bản thông cáo, nhiệt liệt khen ngợi và tuyên dương công trạng các quân chủng, binh chủng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ và đồng bào các địa phương trên miền Bắc đã đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, đánh rất giỏi, thắng rất to. Tôi cũng không quên kêu gọi đồng bào, chiến sĩ “nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chủ động kiên quyết tiến công địch, đem hết sức mạnh của mình giáng tiếp cho không quân và hải quân Mỹ những đòn quyết liệt hơn nữa”.

Bản thông cáo, đồng thời cũng là một lời cảnh cáo.

Mặc dù đã nửa đêm, thông cáo được chuyển ngay cho Thông tấn xã Việt Nam. Sáng hôm sau, toàn văn thông cáo chiến thắng được các báo đăng trên trang nhất và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam ngay đầu bản tin thời sự. Xã luận báo Quân đội nhân dân ca ngợi chiến công vĩ đại này là “trận Điện Biên Phủ trên không”, một cái tên đầy ý nghĩa do chính báo chí phương Tây đã thừa nhận.

***

Cả nước nức lòng.

Uy thế không lực Hoa Kỳ sụp đổ. Hy vọng thương lượng trên thế mạnh của Mỹ cũng sụp đổ theo.

Sau này sách báo phương Tây tiết lộ: Níchxơn thúc ép Nguyễn Văn Thiệu phải ký Hiệp định bằng bất cứ giá nào. Thiệu hầu như tuyệt vọng khi đọc đi đọc lại bức thư của Níchxơn do tướng Hây (12) chuyển tới:

“Cho tôi nhấn mạnh để kết thúc rằng tướng Hây không đến Sài Gòn để đàm phán với ngài. Tôi tin chắc sự từ chối của ngài hợp tác với chúng tôi sẽ đưa đến thảm hoạ, mất tất cả những gì mà chúng ta đã chiến đấu bên nhau để giành được trong thập kỷ qua. Nó sẽ là không tha thứ được vì chúng tôi sẽ mất đi một giải pháp vinh dự và công bằng..”

Ngày 17-1-1973, sáu ngày trước khi Hiệp định Paris, được ký kết, Níchxơn lại gửi thư cho Thiệu, lời lẽ không khác một tối hậu thư:

“… Đã nhiều lần tôi trả lời với ngài, vấn đề then chốt ở đây không phải là tính chất đặc biệt của Hiệp định và qua đó là hứa hẹn hợp tác lâu dài của hai nước và sự viện trợ từ phía chúng tôi. Rõ ràng chính sự viện trợ này mà tôi đã và đang hành động. Nếu các ngài từ chối không ký Hiệp định thì các ngài đừng trông mong gì vào khả năng giúp đỡ của chúng tôi. Ý kiến trong Quốc hội và công luận không cho phép tôi làm khác”(13)

Vẫn củ cà rốt và cái gậy. Vung cái này không được lại giở đến cái kia. Và tất nhiên là Thiệu phải đầu hàng.

Mưu sĩ Kítxinhgiơ trở lại bàn hội nghị, không kiếm chác được gì hơn. Trưa ngày 23-1-1973, trong cơn mưa lất phất và cái lạnh cắt da, ông ta đành phải đến đại lộ Klebe đặt bút ký tắt vào bản Hiệp định bằng hai chữ cái HK dính vào nhau. Bốn ngày sau đó, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được chính thức ký kết.

Giôn Nêgrôpôn (John Negroponte), chuyên viên của Kítxinhgiơ về Việt Nam, cay đắng thốt lên: “Chúng ta ném bom Bắc Việt Nam để rồi chính chúng ta lại chấp nhận nhượng bộ”(14).

Đế quốc Mỹ đã thua trong ván bài cuối cùng, đúng như lời tiên đoán của Bác Hồ: “Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã huỷ diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”(15).

Chú thích:

(1) Hồ Chí Minh: Biên niên những sự kiện và tài liệu về quân sự. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1990, tr. 204.

(2) Cục Quân báo.

(3) Đây là chiếc chuyên cơ trước đó dành riêng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên được mang ký hiệu BH (Bác Hồ) và ngày sinh của Người (19-5).

(4) Nam Bộ.

(5) Báo chí phương Tây mỉa mai gọi các trại giam phi công Mỹ ở miền Bắc Việt Nam là “Khách sạn Hintơn”, loại khách sạn năm sao nổi tiếng của Mỹ.

(6) Tù binh Mỹ mặc quần áo sọc giống như quần áo ngủ. Một bộ phim của Cộng hoà dân chủ Đức về phi công Mỹ bị bắt, đã lấy tên này (Pilotes en pyjama)

(7) Nữ phát thanh viên Thu Hương của buổi phát thanh dành cho binh sĩ Mỹ, được lính Mỹ đặt tên là Hà Nội Hana (Hanoi Hana).

(8) (9) Xã luận báo Nhân dân ngày 25 và 26-12-1972.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1996, t.12, tr.108

(11) Theo Thông cáo của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 28-12-1972

(12) Haig

(13) Nguyễn Tiến Hưng và Jérold L. Schecter: Từ Toà Bạch ốc đến dinh Độc Lập, Nhà xuất bản. Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr. 214.

(14) Hồ Chí Minh: Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội: 1990, tr. 203.

(15) Nguyễn Tiến Hưng và Jérold L. Schecter: Từ Toà Bạch Ốc đến dinh Độc Lập, Nhà xuất bản. Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr. 213.

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG – Lời nói đầu

Thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một mốc son chói lọi.

Với thắng lợi vĩ đại ấy, quân và dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ: kết thúc cuộc kháng chiến 30 năm thắng hai “đế quốc to”, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất nước nhà. Đây là cuộc kháng chiến lâu dài nhất, quyết liệt nhất. oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi ấy đã chấm dứt ách thống trị của thực dân – đế quốc hơn 100 năm trên đất nước ta. Tổ quốc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi lịch sử ấy bắt nguồn từ đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tinh thần đoàn kết chiến đấu. anh dũng bất khuất của toàn dân, toàn quân, gắn liền với sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của Bộ thống soái tối cao: Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương: Bộ Tổng tư lệnh trong quá trình kháng chiến.

Mùa Xuân 1975, tại Tổng hành dinh trong thành cổ Hà Nội, Bộ thống soái tối cao đã làm việc khẩn trương: liên tục, tập trung trí tuệ, tài năng ra những quyết định, kế hoạch chiến lược, chiến dịch, những mệnh lệnh, chỉ thị cho quân và dân cả nước biến các Nghị quyết của Đảng thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trên các mặt trận. Cũng tại đây, các cơ quan của Tổng hành dinh: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật đã phát huy năng lực và kinh nghiệm theo chức năng, nhiệm vụ, cùng với các cơ quan của Đảng và Nhà nước giúp Bộ thống soái tối cao, góp phần vào thắng lợi chung.

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng (30-4-1975-30-4-2005), cuốn Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng muốn nói lên nhãn quan chiến lược, sự sáng suốt và nhạy bén, tinh thần quyết đoán của Bộ thống soái tối cao, đặc biệt trong những thời cơ lớn, cũng như tinh thần làm việc toàn tâm, toàn ý, mưu trí, sáng tạo của các cơ quan Tồng hành dinh.

Mong rằng những trang hồi ức này sẽ làm rõ thêm vai trò chiến lược có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Bộ thống soái tối cao trong mùa Xuân lịch sử.

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006

Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 (4/3 – 3/4/1975)

Tình hình chung

– Hình thức: Chiến dịch tiến công

– Không gian tác chiến chủ yếu: Vùng Tây Nguyên, bao gồm các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Đức.

– Không gian phát triển tiến công: Duyên hải Trung Trung Bộ, gồm các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.

– Thời gian: Từ 4-3 đến 3-4-1975

– Lực lượng tham chiến:

+ Ta: 4 sư đoàn bộ binh 10, 320, 316, 968; 4 trung đoàn bộ binh 25, 95a, 95b, 271; Trung đoàn đặc công 198; Trung đoàn tăng – thiết giáp 273 và một số đơn vị binh chủng chuyên môn, kỹ thuật.

+ Địch: Sư đoàn bộ binh 23; Lữ đoàn dù số 3; Trung đoàn bộ binh 40 (giai đoạn phát triển); 8 binh đoàn (trung đoàn) biệt động quân 4, 6, 7, 21, 22, 23, 24, 25; Lữ đoàn tăng – thiết giáp 2 (gồm 4 thiết đoàn); 30 tiểu đoàn bảo an và các đơn vị binh chủng chuyên môn, kỹ thuật khác.

– Kết quả: Ta tiêu diệt Sư đoàn 23, Lữ đoàn 8, Lữ đoàn thiết giáp 2, Trung đoàn 40, 8 liên đoàn biệt động quân và các tiểu đoàn bảo an, tổng cộng gần 30.000 tên; giải phóng toàn bộ vùng Tây Nguyên và góp phần quan trọng giải phóng Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.

Diễn biến chính

Bước vào mùa Xuân năm 1975, ta chọn Nam Tây Nguyên làm hướng đột phá chiến lược cho cuộc tổng tiến công. Chiến dịch được mở ra với ý định ban đầu là giải phóng vùng Nam Tây Nguyên, trước hết là thị xã có ý nghĩa chiến lược Buôn Ma Thuột.

Sau các hoạt động nghi binh tích cực thu hút địch lên hướng bắc, từ ngày 4-3-1975, bộ đội ta bước vào tác chiến tạo thế, chặt đứt giao thông địch trên trục đường 19 và 21, chia cắt chiến lược các tập đoàn địch ở Tây Nguyên và đồng bằng. Ngày 8-3, Sư đoàn 302 diệt cứ điểm Cẩm Ga, chiếm giữ đường 14 ở khu vực này, chia cắt chiến dịch quân địch ở Bắc và Nam Tây Nguyên. Từ 9 đến 10-3, chính thức bước vào tác chiến chiến dịch, Sư đoàn 10 tiêu diệt căn cứ Đức Lập.

Ngày 10-3, Sư đoàn 316, Trung đoàn 95b, Trung đoàn 198 đặc công đồng loạt mở 5 mũi tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là trận đánh then chốt chủ yếu. Sau hơn một ngày chiến đấu quyết liệt, trưa 11-3, ta giải phóng thị xã.

Từ 14 đến 18-3, Sư đoàn 10, Trung đoàn 25 tiến công lực lượng địch đổ bộ trực thăng trên đường 21, Đông Bắc thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt Sư đoàn 23 và Liên đoàn biệt động quân 21, đập tan ý đồ phản kích của địch.

Bị thất bại nhanh chóng và nặng nề, trước tình huống không còn lực lượng cơ động ứng cứu, ngụy quyền Sài Gòn buộc phải ra lệnh rút bỏ Bắc Tây Nguyên để bảo toàn lực lượng còn lại của Quân đoàn 2. Khoét sâu sai lầm của địch, ta tung Sư đoàn 320 vào truy kích, tập kích tập đoàn địch rút chạy trên đường 7, từ 17 đến 23-3, tiêu diệt hầu hết lực lượng này gồm 1 trung đoàn bộ binh, 5 liên đoàn biệt động quân, 3 thiết đoàn và các đơn vị khác, giải phóng Cheo Reo, Củng Sơn.

Đồng thời, từ 18 đến 24-3, Sư đoàn 968, Trung đoàn 95a, và Trung đoàn 271 tiến vào giải phóng các thị xã Kon Tum, Plâyku, Gia Nghĩa.

Phát triển thắng lợi, từ 2-3 đến 3-4, các sư đoàn Tây Nguyên tiến xuống duyên Hải Trung Trung Bộ, tiêu diệt Lữ đoàn dù 3, Trung đoàn 40, Liên đoàn 24, cùng bộ đội bạn giải phóng Bình Khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh, kết thúc dòn dã Chiến dịch Tây Nguyên.

Những phát triển của nghệ thuật quân sự

Bày mưu kế, lập thế trận và lựa chọn mục tiêu (hướng) là những phát triển nổi bật của nghệ thuật quân sự trong chiến dịch này. Ta chọn mục tiêu chủ yếu (Buôn Ma Thuật) vào đúng nơi hiểm nhưng yếu của địch. Để mục tiêu này càng “yếu” hơn, ta đã nghi binh điều địch lên hướng bắc, đồng thời bí mật cơ động lực lượng lớn về hướng nam, nhờ vậy ta đã tập trung ưu thế áp đảo ở nơi cần thiết, tạo yếu tố bất ngờ. Ta bố trí thế trận hiểm, chia cắt chiến lược và chiến dịch địch, khiến các cụm quân của chúng bị cô lập. Từ đó buộc địch phải chấp nhận các tình huống ta đã dự kiến (thí dụ: do thế trận của ta, địch chỉ còn một khả năng duy nhất là đổ bộ trực thăng xuống đường 21 sau khi mất Buôn Ma Thuật. Tại đây, ta đã bố trí sẵn sàng Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25. Có nghĩa là địch đã rơi vào đúng kế, đúng định của ta). Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 còn nổi bật ở nghệ thuật phát triển tiến công. Nắm thời cơ có địch rút chạy, ta đã kịp thời và kiên quyết truy kích tiêu diệt chúng, đưa địch đến thất bại chưa từng có, nó đã làm rung chuyển chiến lược của địch, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ vào bước ngoặt quyết định./.

(Theo “Almanach”)
Quyết Thắng (st)

Chiến dịch Xuân Lộc mở “cánh cửa thép”

Kỷ niệm 37 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2012)

QĐND – Với sức tiến công mạnh mẽ của các binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược của Quân giải phóng miền Nam và sự nổi dậy phối hợp kịp thời của nhân dân địa phương, trong mùa Xuân 1975, chúng ta đã lần lượt xóa sổ Quân khu 2 – Quân đoàn 2, Quân khu 1 – Quân đoàn 1 của Chính quyền Việt Nam cộng hòa, giải phóng hoàn toàn địa bàn Tây Nguyên và miền Trung, trong đó có hai tập đoàn phòng ngự mạnh của địch là Huế và Đà Nẵng, đẩy chính quyền và quân đội Sài Gòn vào tình trạng bị động đối phó.

Để ngăn chặn, đẩy lùi, làm chậm tốc độ hành tiến của binh đoàn chủ lực Quân giải phóng, tạo thêm thời gian cho việc điều nghiên, bố trí lực lượng và thế trận phản công giành lại thế chủ động trên chiến trường, dưới sự chỉ đạo của cố vấn Mỹ, quân lực Việt Nam cộng hòa huy động hầu hết lực lượng còn lại kết hợp với các đơn vị thu dung quân thất trận từ Tây Nguyên và miền Trung chạy vào, nhanh chóng thiết lập nên tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn – Gia Định, kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó, Xuân Lộc được xác định là điểm trọng yếu – “cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn.

Xuân Lộc là một vị trí chiến lược trọng yếu trên chiến trường Bà Rịa – Long Khánh, cách Sài Gòn 80km theo hướng Đông, án ngữ Quốc lộ 1 và 20 – những tuyến cơ động chủ yếu vào Sài Gòn. Chính diện tuyến phòng ngự Xuân Lộc khoảng 40km, kéo dài từ Túc Trưng qua Dầu Giây, thị xã Long Khánh đến ngã ba Tân Phong. Nơi đây có nhiều núi cao, rừng già che phủ, địa thế rất hiểm yếu cho hoạt động quân sự: “Tiến có thế công, thoái có thế thủ”. Cũng cần nhớ thêm rằng, tại khu vực Xuân Lộc – Long Khánh, dưới thời Pháp thuộc, cùng với việc đầu tư vốn vào các đồn điền cao su để thu lợi, chúng đã thiết lập một hệ thống đồn bốt phòng thủ rất vững chắc không chỉ để bảo vệ nguồn lợi tại chỗ mà còn nhằm để bảo vệ hậu cứ chiến lược Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định từ xa.

Quân giải phóng phát triển tiến công đánh chiếm Sở chỉ huy sư đoàn 18 ngụy trong Chiến dịch Xuân Lộc tháng 4-1975. Ảnh tư liệu.

Với lực lượng gồm sư đoàn 18 bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp (100 xe), 1 liên đoàn biệt động quân, 9 tiểu đoàn bảo an, 2 tiểu đoàn pháo binh (42 khẩu), 3 đại đội biệt lập, 4 trung đội pháo và các lực lượng cảnh sát, dân vệ, nghĩa quân tại chỗ (tương đương 2 sư đoàn bộ binh)…, theo chỉ đạo trực tiếp của tướng Uây-en – Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và tướng Cao Văn Viên – Tổng Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam cộng hòa, một thế trận phòng thủ đã được nhanh chóng thiết lập.

Tất thảy những diễn biến tư tưởng của những người đang đứng bên kia chiến tuyến đều đặt hy vọng cuối cùng vào Xuân Lộc. Bởi, giá trị của Xuân Lộc không chỉ đơn thuần là ở địa thế chiến lược đối với phần đất còn lại của chính quyền Việt Nam cộng hòa, mà quan trọng nữa chính là sư đoàn 18 – một biểu tượng sức mạnh còn lại – con “át chủ bài” canh giữ cửa “cấm thành” Sài Gòn – Gia định của chúng. Và với ta, Xuân Lộc đã thực sự là vấn đề chiến lược liên quan trực tiếp đến thời gian, tốc độ của những chiến dịch kế tiếp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà trực tiếp nhất là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Nhạy bén nắm bắt diễn biến mau lẹ của tình hình chiến trường, quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: “… Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng, thần tốc, mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động, không chờ đợi lực lượng đông đủ mới làm ăn”, Bộ tư lệnh Miền quyết định sử dụng Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long), mở chiến dịch tiến công Xuân Lộc, nhằm: Tiêu diệt sư đoàn 18, phá thế phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa của quân đội Sài Gòn; cắt giao thông, tạo thế và mở đường cho chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Quân đoàn 4 là đơn vị chủ lực của chính đất miền Đông Nam Bộ, nên sau khi nhận được mệnh lệnh chiến đấu, việc tập kết lực lượng và triển khai thế trận tiến công diễn ra thuận lợi; duy chỉ có kế hoạch cơ động pháo vào gần để bắn thẳng chi viện trực tiếp cho bộ binh xung phong là rất khó khăn, bởi hầu hết các điểm cao khống chế khu vực địa bàn chiến dịch đã hoàn toàn do địch chiếm giữ. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc, bàn thảo, Bộ tư lệnh chiến dịch vẫn quyết định chọn phương án tiến công chính diện vào đội hình phòng ngự của địch ở thị xã Long Khánh.

Đúng như kế hoạch hiệp đồng, sáng 9 tháng 4, với đợt hỏa lực chuẩn bị bắn cấp tập vào những mục tiêu trọng yếu trong thị xã, chiến dịch tiến công Xuân Lộc chính thức mở màn. Tuy bị địch dồn sức chống trả quyết liệt các hướng, mũi tiến công và gây cho ta những tổn thất nhất định, nhưng kết thúc ngày đầu chiến dịch, ta đã đánh chiếm được toàn bộ khu hành chính, cơ bản làm chủ được một nửa thị xã, đưa được 3 tiểu đoàn vào ém sát các mục tiêu trong lòng địch.

Chiến sự ở Xuân Lộc – Long Khánh diễn ra ngày càng thêm ác liệt và đã gây tổn thất lớn cho cả ta và địch. Quyết “tử thủ” Xuân Lộc, ngày 12-4, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn quyết định tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho Xuân Lộc: Đổ lữ đoàn 1 dù xuống chốt tại ngã ba Tân Phong; đồng thời, nhanh chóng bố trí lại thế trận phòng thủ ở thị xã: Đưa lữ đoàn 3 thủy quân lục chiến, chiến đoàn 318 biệt động quân đến chốt giữ Trảng Bom, chiến đoàn 322 biệt động quân đến chốt ở Bàu Cá và điểm cao 122; đưa trung đoàn 8, sư đoàn 5 từ Lai Khê sang tăng cường cho Bàu Cá; lệnh cho các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất tập trung 80 lần chiếc máy bay chiến đấu mỗi ngày trực tiếp chi viện cho các mũi phản kích. Chỉ sau thời gian ngắn, lực lượng địch ở Xuân Lộc – Long Khánh đã gia tăng đột biến: Chiếm 50% bộ binh, 60% pháo binh, hầu hết số lượng xe tăng thiết giáp của Quân đoàn 3 – Quân khu 3 và lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn.

Vậy là, tương quan lực lượng giữa ta và địch ở Xuân Lộc đã thay đổi lớn, đẩy cuộc chiến vào tình thế hết sức cam go, ác liệt. Tuy đã chiếm được một số mục tiêu quan trọng, tiêu hao được một phần lực lượng và phương tiện chiến tranh của địch, giữ được địa bàn đứng chân trong lòng địch, nhưng ta cũng bị tổn thất rất nghiêm trọng. Phương án tiến công chính diện đã không mang lại kết quả như mong muốn, ngày 13-4, Bộ chỉ huy chiến dịch buộc phải tạm thời ngừng tiến công, lệnh cho mỗi sư đoàn chỉ để một bộ phận lực lượng ở lại kiềm chế, nghi binh địch, còn đại bộ phận nhanh chóng rút về tuyến sau để củng cố lực lượng, chuẩn bị thực hiện phương án tác chiến mới.

Thấy bộ đội ta rút khỏi thị xã, chỉ huy quân địch cho rằng, sức mạnh và ý chí tiến công của “Việt Cộng” đã bị đè bẹp, sức chiến đấu của chúng đã được phục hồi, niềm hy vọng vào khả năng giữ được chế độ lại chợt “lóe” lên trong tâm tưởng của giới cầm quyền chóp bu chính phủ và quân đội Sài Gòn. Nhưng rồi chỉ 2 ngày sau đó – rạng sáng 15-4, khi hỏa lực pháo binh chiến dịch tiến hành tập kích mãnh liệt vào sân bay Biên Hòa, Sư đoàn 6 có sự tăng cường của Trung đoàn 95B đã tiến công diệt chiến đoàn 52, 1 tiểu đoàn pháo, 1 chi đoàn thiết giáp, chiếm giữ chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây, cắt đứt Quốc lộ 1 (đoạn Xuân Lộc đến Bàu Cá) và đường 20 (đoạn Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây), tạo thế bao vây, cô lập hoàn toàn thị xã Long Khánh – khu vực trọng yếu trên tuyến phòng thủ Xuân Lộc của địch.

Trước hiểm họa tồn vong của chế độ như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, từ ngày 16-4, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn khẩn cấp đưa lữ đoàn 3 thiết giáp, trung đoàn 8, Sư đoàn 5; huy động hơn 100 khẩu pháo cỡ lớn ở các căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An và 125 lần chiếc máy bay chiến đấu chi viện mỗi ngày, mở cuộc phản kích quy mô lớn, quyết chiếm lại Dầu Giây. Và, Dầu Giây bỗng chốc trở thành điểm quyết chiến khốc liệt nhất trong cuộc đọ sức giữa ta và địch tại Xuân Lộc. Tổn thất của cả hai bên tiếp tục tăng lên mỗi ngày, song bộ đội ta vẫn kiên cường chiến đấu giữ vững mục tiêu. Cùng thời gian này, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 tiếp tục tiến công, đánh bại các chiến đoàn 43 và 48, tiêu hao nặng lữ đoàn 1 dù của địch; Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tiến công Hưng Nghĩa và điểm cao 122, đẩy quân địch xuống Bàu Cá. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực, bộ đội địa phương và du kích nhanh chóng tiêu diệt, bức hàng, bức rút hệ thống đồn bốt địch ở dọc các trục giao thông bao quanh thị xã.

Khi chiến sự ở Xuân Lộc còn đang diễn ra trong thế giằng co, thì Cánh quân duyên hải, nòng cốt là Binh đoàn Hương Giang sau khi đập tan “lá chắn Phan Rang”, giải phóng Phan Thiết, Hàm Tân đã tiến vào khu vực Rừng Lá. Sức mạnh của một binh đoàn chiến lược thọc sâu vừa đánh tan những tập đoàn cứ điểm phòng thủ mạnh nhất của quân đội Sài Gòn ở Huế, Đà Nẵng, rồi Phan Rang như được nhân lên gấp bội, không chỉ góp phần cô lập trực tiếp đối với quân địch ở Xuân Lộc, mà còn tạo sức ép mạnh đối với toàn bộ quân địch còn lại ở miền Nam. Nhận thấy không thể đủ sức giành lại Dầu Giây – chiếc “then” của “cánh cửa thép” không còn, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn xuống lệnh rút khỏi Xuân Lộc để bảo toàn lực lượng. Theo đó, vào lúc 22 giờ ngày 20-4, lợi dụng lúc trời mưa lớn, theo tỉnh lộ 2, toàn bộ quân địch ở Xuân Lộc đã tháo chạy về hướng Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhưng do chủ quan, mất cảnh giác, chậm phát hiện được hành động của địch, nên ta chỉ kịp chặn đánh được bộ phận rút quân sau cùng của chúng.

Ngày 21-4-1975, Chiến dịch tiến công Xuân Lộc kết thúc thắng lợi, thị xã Long Khánh được hoàn toàn giải phóng. “Cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn – Gia Định đã mở toang. Thừa thắng, quân và dân các địa phương đã tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Long Khánh.

Sự kiện Xuân Lộc diễn ra cách nay đã 37 năm và đã có nhiều cuốn sách và công trình khoa học nghiên cứu, giải trình dưới những góc độ, cách nhìn nhận khác nhau; song điều khẳng định là, việc chọn địa bàn và thời điểm mở chiến dịch tiến công Xuân Lộc – Long Khánh là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và rất kịp thời trong thời điểm lịch sử chuyển biến hết sức mau lẹ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Giá trị của chiến thắng Xuân Lộc không chỉ dừng lại ở chỗ mở thông cửa ngõ phía Đông cho các binh đoàn cơ động chiến lược Quân giải phóng miền Nam tiến vào Sài Gòn, tạo chấn động mạnh đến cả hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp bao quanh cơ quan đầu não của chính quyền và quân đội Sài Gòn cũng như những phần đất còn lại của chúng; mà hơn thế, thắng lợi này đã tạo nên một địa bàn hội quân, tập kết lực lượng – bàn đạp xuất phát tiến công của Cánh quân hướng Đông – một trong 5 mũi chủ lực cơ động của đội hình chiến dịch mang tên Bác Hồ kính yêu tiến vào giải phóng Sài Gòn – Gia Định. Cần phải nói thêm rằng, chiến công cùng những tổn thất xương máu cần thiết, những bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành công được rút ra từ Xuân Lộc thực sự cũng là động lực hối thúc toàn thể cán bộ, chiến sĩ Cánh quân hướng Đông có thêm sức mạnh và ý chí quyết chiến quyết thắng khi bước vào cuộc tiến công chiến lược cuối cùng, giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định. Chỉ với những nét khái quát như vậy cũng đủ khẳng định rằng: Chiến dịch tiến công Xuân Lộc (từ 9 đến 21-4-1975) thực sự là bước đà trực tiếp, hữu hiệu cho Cánh quân hướng Đông nói riêng, cho Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26 đến 30-4-1975), giải phóng Sài Gòn – Gia Định, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam nói chung.

Đại tá Nguyễn Huy Thục
qdnd.vn

Chiến dịch Thượng Lào – Một biểu tượng của liên minh chiến đấu Việt – Lào (Bài 2)

Nhân Năm hữu nghị Việt-Lào

QĐND – Trên hướng đường số 7, ngày 17-4, một bộ phận lực lượng Đoàn 81 quân tình nguyện và Đội vũ trang Pat Chay Lào phối hợp với hai Trung đoàn 66 và 9 (Đại đoàn 304) tiến công tiêu diệt đồn Noọng Hét, tiếp đó đánh địch ở Bản Ban, buộc chúng phải rút chạy về phía Khang Khay. Được tin, một bộ phận lực lượng Đại đoàn 304 đánh chặn địch ở gần Bản Sao, gây cho chúng một số thiệt hại, bọn địch còn lại buộc phải rút về Cánh Đồng Chum. Tỉnh Hủa Phăn và vùng lân cận được hoàn toàn giải phóng.

Nhân dân Lào thăm hỏi và tặng quà bộ đội tình nguyện Việt Nam sau chiến thắng Thượng Lào năm 1953. Ảnh tư liệu

Ở hướng nam đường số 7, hai tiểu đoàn thuộc Đại đoàn 312 phối hợp với một đơn vị Bạn truy kích địch về Sầm Tớ. Hoảng sợ trước sức tiến công của Liên quân Việt-Lào, quân địch đóng giữ ở Mường Sồi, Bản Phiềng và Sầm Tớ lần lượt rút chạy. Ngày 18-4, các đơn vị thuộc Đoàn 81 và bộ đội địa phương Mường Mộc, du kích Xảm Chè phối hợp với Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) vượt qua Then Phun tiến áp sát thị xã Xiêng Khoảng. Trước khí thế tiến công của Liên quân Việt-Lào, lực lượng địch ở đây hoảng sợ rút chạy về co cụm ở Cánh Đồng Chum. Quân địch đóng ở các vị trí Mường Ngạ, Mường Ngạn hoảng sợ cũng lần lượt rút chạy về Tha Thơm, Tha Viêng. Phát huy thắng lợi, một đơn vị Bạn do đồng chí Thao Tu chỉ huy tiến về phía đường số 7, kiểm soát đoạn đường dài từ biên giới Việt-Lào đến Xiêng Khoảng.

Trước nguy cơ Cánh Đồng Chum bị Liên quân Việt-Lào tiến công, Bộ chỉ huy Pháp vội điều động một số tiểu đoàn từ Nà Sản, kể cả lực lượng từ đồng bằng Bắc Bộ (Việt Nam) sang hỗ trợ, xây dựng Cánh Đồng Chum thành tập đoàn cứ điểm mạnh, cố giữ bằng được vị trí chiến lược quan trọng này.

Như vậy, sau hơn một tuần thực hiện cuộc truy kích quân địch rút chạy trên chặng đường 270km, từ Sầm Nưa về Cánh Đồng Chum, Liên quân Việt-Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.500 tên địch, diệt và bức rút hàng loạt cứ điểm dọc đường từ Mường Pơn, Hủa Mường…, chỉ có hàng trăm tên địch chạy thoát về Cánh Đồng Chum.

Phát huy thắng lợi trên hướng Sầm Nưa – đường số 7 – Xiêng Khoảng, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị trên hướng sông Nậm U (hướng phối hợp) tích cực đánh địch. Ngày 21-4, Trung đoàn 148, Đoàn 82 quân tình nguyện phối hợp với đơn vị Quân đội Pa-thét Lào và du kích đẩy mạnh hoạt động, trong đó diệt một đại đội địch ở Mường Ngòi, thu nhiều vũ khí. Quân địch đóng ở Nậm Bạc hoảng sợ bỏ chạy về Pạc U. Ngày 26-4, Trung đoàn 98 và 148 tổ chức lực lượng tiến công cứ điểm Pắc Seng, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên địch, thu một số vũ khí, quân trang, quân dụng. Tiếp đó, một bộ phận chủ lực và quân tình nguyện tiến công diệt địch ở Bản Vẽ.

Cuối tháng 4 năm 1953, các đại đoàn chủ lực cùng quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Bạn tiếp tục truy kích đánh địch rút chạy từ khu vực sông Nậm U về Luông Phra-băng, uy hiếp kinh đô nước Lào. Phát hiện Liên quân Việt-Lào tiến xuống Luông Phra-băng, tướng Xa-lăng gấp rút điều động hai tiểu đoàn cơ động thuộc binh đoàn cơ động số 1 (GM1) từ Nà Sản sang, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm bảo vệ Luông Phra-băng. Cuộc truy kích quân địch rút chạy và tiến công các vị trí địch của Liên quân Việt-Lào kéo dài đến ngày 18-5-1953 thì kết thúc với trận tiến công cụm cứ điểm Mường Khoa, diệt và bắt gần 300 tên địch. Kết quả toàn chiến dịch, Liên quân Việt-Lào đã diệt và bắt gần 2.800 tên địch, giải phóng tỉnh Hủa Phăn, phần lớn tỉnh Xiêng Khoảng và một số huyện của tỉnh Phông-xa-lỳ với 30 vạn dân, mở rộng căn cứ kháng chiến Lào, nối liền với vùng Tây Bắc Việt Nam.

Đây là chiến dịch Liên quân Việt-Lào thực hành vận động truy kích quân địch rút chạy dài ngày lớn nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thành công của chiến dịch là ta và Bạn chủ động và kịp thời tạo yếu tố thắng lợi từ quá trình chuẩn bị đến khi thực hành chiến dịch. Trên hướng Sầm Nưa (hướng chủ yếu), bộ đội ta và Bạn đã hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch trong điều kiện chưa được chuẩn bị đầy đủ trước, lúc đầu mục tiêu chủ yếu là đánh tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa, song khi ta tiếp cận mục tiêu thì địch vội rút quân để tránh đòn tiến công lớn của ta và Bạn. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch đã kịp chuyển từ cách đánh công kiên sang đánh vận động truy kích địch đường dài (270km) trên chiến trường rừng núi hiểm trở, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đồng thời, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt các đồn, bốt và vị trí địch trên hướng Xiêng Khoảng (hướng thứ yếu) và hướng sông Nậm Hu (hướng phối hợp) giành thắng lợi.

Đánh giá về thắng lợi của sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội hai nước trong chiến dịch Thượng Lào, tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Thượng Lào (2 đến 3-5-1953), Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu rõ: “Thắng lợi này là thắng lợi đầu tiên của quân đội nhân dân ta, của bộ đội chủ lực ta trong quá trình phối hợp chiến đấu với quân đội và nhân dân nước bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, của nhân dân ta đối với cách mạng Pa-thét Lào. Đó cũng là thắng lợi lớn nhất của nhân dân và quân đội Pa-thét Lào kể từ ngày bắt đầu kháng chiến đến nay”(1). Trong diễn văn đọc tại lễ mừng chiến thắng Thượng Lào tổ chức tại thị xã Sầm Nưa (19-5-1953), Hoàng thân Xu-pha-nu-vông khen ngợi: “Bộ đội chủ lực và Quân tình nguyện Việt Nam sát cánh với Quân đội Lào Ít-xa-la, đã chiến đấu dũng cảm, có kỷ luật rất nghiêm và tinh thần quốc tế cao… Thay mặt Chính phủ và nhân dân Lào, xin tỏ lòng hoan nghênh và biết ơn sự giúp đỡ to lớn của nhân dân và quân đội Việt Nam đối với công cuộc giải phóng Lào”(2).

Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào đánh dấu bước phát triển mới của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Việt-Lào. Lần đầu tiên sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội hai nước trong một chiến dịch lớn đã giành thắng lợi vẻ vang, tạo tiền đề cho sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước ngày càng chặt chẽ và giành thắng lợi to lớn hơn. Với thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào, quân và dân Lào có điều kiện thuận lợi xây dựng, phát triển Sầm Nưa trở thành trung tâm căn cứ địa Trung ương, hậu phương kháng chiến của cả nước Lào, nối thông với nhiều vùng tự do của Việt Nam. Thế phối hợp tác chiến giữa quân đội hai nước trên chiến trường Thượng Lào và Bắc Đông Dương có điều kiện phát triển thuận lợi, góp phần đưa cuộc kháng chiến của quân và dân hai nước giành thắng lợi to lớn trong Chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, tiến tới kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương.

Đại tá, TS Dương Đình Lập
qdnd.vn


1. Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam (1930-2007), Nxb CTQG, H, 2011, tr.260.

2. Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Lào (1945-1954), Nxb QĐND, H, 2002, tr.283-284.

Chiến dịch Thượng Lào – Một biểu tượng của liên minh chiến đấu Việt – Lào (Bài 1)

Nhân Năm hữu nghị Việt-Lào

QĐND – Trong lúc các Đại đoàn chủ lực 308, 312, 316, 304 và Trung đoàn bộ binh 148 chuẩn bị hành quân sang chiến trường Thượng Lào, ngày 3-4-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Bác căn dặn: “Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước Bạn. Mà giúp nhân dân nước Bạn tức là mình tự giúp mình”(1).

Thấm nhuần lời căn dặn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 8-4-1953, các đại đoàn chủ lực Việt Nam nhận lệnh hành quân sang chiến trường Thượng Lào theo ba cánh: Cánh chủ yếu gồm các Đại đoàn bộ binh 308, 312 (2 trung đoàn), 316 (1 trung đoàn), từ Mộc Châu theo đường 6 hành quân lên biên giới Việt-Lào sang Sầm Nưa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng đi với các đại đoàn ở cánh chủ yếu sang Lào. Cánh thứ hai gồm Đại đoàn Bộ binh 304, từ Nghệ An theo đường số 7 tiến sang Xiêng Khoảng. Cùng đi theo cánh này về phía Lào có đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít. Cánh thứ ba gồm Trung đoàn bộ binh 148, từ Điện Biên tiến vào lưu vực sông Nậm U. Trên cơ sở phương án tác chiến chiến dịch, các đơn vị của Việt Nam và Lào tham gia chiến dịch được giao nhiệm vụ tiến công theo ba hướng:

Lễ kết nghĩa bộ đội Việt Nam và bộ đội Pa-thét Lào trong Chiến dịch Thượng Lào năm 1953. Ảnh tư liệu.

Trên hướng Sầm Nưa (hướng chủ yếu), phía Việt Nam có các Đại đoàn bộ binh 308, 312 (2 trung đoàn), 316 (1 trung đoàn), có nhiệm vụ đánh tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa và Đoàn 80 quân tình nguyện Việt Nam (2 đại đội tập trung, 4 đại đội độc lập, 4 trung đội vũ trang tuyên truyền). Phía Lào có khoảng 500 bộ đội địa phương, trong đó có một đại đội tập trung của tỉnh Hủa Phăn và lực lượng dân quân du kích các huyện Xiềng Khọ, Mường Xon.

Trên hướng Xiêng Khoảng (hướng thứ yếu), phía Việt Nam có Đại đoàn bộ binh 304, có nhiệm vụ đánh vào thị xã Xiêng Khoảng và Đoàn 81 quân tình nguyện Việt Nam (gồm 1 đại đội tập trung, 4 đại đội độc lập, 1 trung đội vũ trang tuyên truyền). Phía Lào có khoảng 400 bộ đội địa phương và 1.400 dân quân du kích Mường Mộc và Bản Thín.

Trên hướng khu vực sông Nậm U thuộc tỉnh Luổng Phạ-bang (hướng phối hợp), có Trung đoàn bộ binh 148 (Quân khu Tây Bắc) và Đoàn 82 quân tình nguyện Việt Nam (4 đại đội độc lập). Phía Lào có 1 đại đội tập trung, 5 trung đội bộ đội địa phương và 300 du kích huyện Mường Ngòi.

Trong quá trình các đại đoàn chủ lực Việt Nam chia làm ba cánh hành quân từ Việt Nam sang chiến trường Thượng Lào, địch phát hiện lực lượng ta từ các ngả đang tiến về phía Sầm Nưa. Ngay sau khi nhận được báo cáo của Trung tá Man-phát-tơ, chỉ huy Phân khu Sầm Nưa, trưa 12-4-1953, Tướng Xa-lăng liền ra lệnh rút toàn bộ lực lượng khỏi Sầm Nưa hòng tránh bị tiêu diệt khi ta tiến công. Đêm 12-4, toàn bộ lực lượng địch gồm khoảng 1.900 quân lần lượt rút khỏi thị xã Sầm Nưa và đến trưa 13-4 thì rút hết về phía Mường Hàm.

Như vậy, tình huống chiến dịch đã thay đổi. Ta dự định tổ chức đánh quân địch trong công sự vững chắc ở Sầm Nưa, nhưng địch đã rút chạy trước khi ta đến. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Tinh thần địch mệt mỏi, sút kém, đường rút lui dài, chúng lại thoát ly khỏi công sự nên ta có điều kiện tiêu diệt. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm là phải truy kích thật nhanh, tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy.

Không bỏ lỡ thời cơ, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đại đoàn chuyển sang truy kích quân địch rút chạy. Cuộc truy kích địch bắt đầu từ ngày 13-4 và diễn ra trên chặng đường dài, từ Sầm Nưa đến đường số 7, Bản Ban và Lát Bua. Mặc dù vừa trải qua chặng đường hành quân hơn 300km còn mệt, nhưng khi nhận được mệnh lệnh, các Đại đoàn 308, 312, 316 nhanh chóng tổ chức 4 tiểu đoàn (888, 23, 79, 166) và hai đại đội trang bị gọn nhẹ bám đuổi, truy kích địch. Những đơn vị còn lại của các đại đoàn cùng Bạn tiến vào chiếm thị xã Sầm Nưa và các vị trí xung quanh, đồng thời chuẩn bị lực lượng truy kích địch trên các hướng. Do công tác tổ chức chậm, một số đơn vị ta xuất phát truy kích chậm hơn bộ phận rút lui cuối cùng của địch 8 giờ. Đêm 13-4, Tiểu đoàn 888 (Đại đoàn 316) và quân tình nguyện truy kích kịp địch ở Mường Hàm, cách Sầm Nưa 30km. Tiểu đoàn triển khai chiến đấu, bắt toàn bộ ngụy quyền tỉnh Hủa Phăn và 40 lính dõng. Đây là trận đánh giành thắng lợi đầu tiên của bộ đội ta trong chiến dịch này.

Ngày 15-4, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) tổ chức truy kích gặp cơ quan chỉ huy Phân khu Sầm Nưa, một đơn vị lính lê dương và tàn quân của tiểu đoàn biệt kích ngụy Lào thứ 8 ở Nà Noọng. Bằng cách tiến công dồn dập từ ba hướng, bộ đội ta đã diệt và bắt hơn 200 tên địch. Bọn địch còn lại khoảng 200 tên rút chạy về khu vực Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng. Trong khi đó, Đại đội 216 (Đoàn 81) quân tình nguyện hoạt động ở phía bắc thị trấn Bản Ban (thuộc huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng), tuy chưa biết tin địch bỏ chạy khỏi Sầm Nưa, nhưng thấy chúng hoảng hốt chạy qua, đã tập hợp đơn vị nổ súng tiến công địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên; sau đó bao vây một toán địch khác, gọi hàng hơn 100 tên, thu 70 súng các loại.

Cuộc truy kích quân địch rút chạy của Liên quân Việt-Lào tiếp tục diễn ra khẩn trương, quyết liệt. Ngày 17-4, Tiểu đoàn 79 và một bộ phận của Tiểu đoàn 66 thuộc Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) truy đuổi kịp địch khi chúng vừa rời khỏi Húa Mường khoảng 5km về phía Mường Lạp. Lập tức, quân ta tổ chức lực lượng bao vây, chia cắt, nổ súng mãnh liệt vào đội hình chốt chặn của địch, bắt một số sĩ quan Pháp, diệt nhiều địch, trong đó có cả lính Âu-Phi. Bọn địch còn lại khoảng 200 tên rút chạy về Mường Lạp, Tam La (cách Sầm Nưa 135km), sau đó chúng rút về khu vực Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng cố thủ.

Quân địch ở Sầm Nưa rút chạy đến đâu kéo theo binh lính địch trấn giữ ở các đồn, bốt và hệ thống chính quyền do chúng dựng lên ở các địa phương hoang mang, dao động. Tại các khu vực Sầm Tớ, Mường Xôi, Hứa Mường thuộc tỉnh Hủa Phăn, quân địch hoảng sợ rút chạy. Chớp thời cơ, Đoàn 80 quân tình nguyện phối hợp với bộ đội địa phương và du kích Bạn truy kích, gây cho địch thiệt hại nặng. (Còn nữa).

Đại tá, TS Dương Đình Lập
qdnd.vn

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H, 1996, tr.64.

Cửa biển Lộc An- điểm hẹn đường Hồ Chí Minh trên biển

QĐND Online – Cửa biển Lộc An thuộc địa phận hai xã Lộc An, huyện Long Đất và Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Trước 1945, vùng đất này thuộc tổng Phước Hưng Hạ, Phủ Phước Tuy, tỉnh Bà Rịa.

Hoàng hôn trên biển Lộc An. Những giá trị cổ điển thì không bao giờ lỗi thời… Ảnh Internet

Di tích lịch sử cách mạng cửa biển Lộc An trải dài 15km thuộc hạ lưu sông Ray, con sông bắt nguồn từ suối Gia Liên. Dọc hai bên sông Ray là màu xanh bạt ngàn của khu rừng nguyên sinh nhiệt đới ngập mặn. Rừng có khoảng 200 loài thực vật thuộc 60 họ, trong đó có nhiều loại gỗ quí: cẩm lai, căm xe, gõ, bằng lăng,… ngoài ra còn có các loài thú sinh sống, trong đó có cả những loài thú quí hiếm nằm trong sách Đỏ.

Với vị trí chiến lược quan trọng, ngay từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, cửa biển Lộc An đã trở thành tuyến giao thông nối liền giữa miền Bắc và miền Đông Nam Bộ. Vào tháng 9/1946 tại cửa biển Hồ Tràm, xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, cách Lộc An 5km về phía bắc, chuyến hàng của Trung ương chở vũ khí đã cập bến an toàn góp phần quan trọng giúp quân và dân tỉnh Bà Rịa gây dựng, phát triển lực lượng vũ trang đánh thực dân Pháp. Từ 1952 vùng biển này là địa bàn hoạt động của tiểu đoàn 230 – tiểu đoàn vận chuyển hàng chiến lược cho miền Đông Nam Bộ.

Đầu 1961, Trung ương Cục miền Nam, sau khi nghiên cứu địa hình đã quyết định chọn cửa biển Lộc An làm điểm đón tàu vận chuyển vũ khí của “Đường Hồ Chí Minh trên biển” từ miền Bắc vào.

Chuyến tàu đầu tiên do đồng chí Lê Văn Một làm thuyền trưởng được khởi hành đêm23/9/1963 từ đảo Cát Bà (Hải Phòng) chạy ngược về phía đảo Hải Nam (Trung Quốc) rồi quay mũi tàu theo hải phận quốc tế để tới phía Nam. Đêm 3/11/1963 tàu cập bến Lộc An. Con tàu dài 30m, rộng 5,8m, trọng tải 20 tấn. Khi con nước cường đang lên mạnh, thuyền trưởng Lê Văn Một cho nổ máy tăng ga hết tốc lực để chạy đua với con nước vì trời đã sắp sáng. Gần tới bến thì một cồn cát ngầm nhô lên chặn mũi con tàu lại. Trời sáng dần. Ban chỉ huy đoàn vận chuyển đã huy động lực lượng chuyển toàn bộ số vũ khí về địa điểm đã qui định; đến 10 giờ trưa thì số hàng trên tàu đã giải tỏa an toàn. Lúc này, chiếc máy bay trinh sát của địch quần đảo nhiều lần, nhưng chúng chỉ thấy chiếc ghe mắc cạn và mấy ngư dân ở trần đang phơi lưới!

Toàn bộ số vũ khí của chuyến tàu này đã bổ sung kịp thời cho các đơn vị vũ trang của tỉnh Bà Rịa-Long Khánh mở rộng vùng giải phóng và góp phần giành thắng lợi trong chiến dịch Bình Giã 1964-1965, đòn tiến công quan trọng đánh bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-ngụy trên chiến trường miền Nam.

Kế tiếp thắng lợi của chuyến tàu này, vào hồi 22 giờ đêm 22/12/1964, một chuyến tàu khác dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Lê Quốc Thắng đã cập an toàn vào cửa biển Lộc An chuyển 75 tấn hàng lên Bến Tranh an toàn, kịp thời cung cấp vũ khí cho các đơn vị lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, góp phần lập nên những chiến công vang dội: Dầu Tiếng, Đồng Xoài, Bầu Bàng, Phước long… mùa hè năm 1965.

Trở lại cửa biển Lộc An thăm di tích lịch sử, nơi đã từng ghi dấu những chiến công thầm lặng mà oanh liệt của quân và dân ta trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, lòng mỗi chúng ta không khỏi bồi hồi, xúc động. Mỗi địa danh Cồn Cửa, Bến Tranh, Rạch Ông Sao, Sông Sau… chỉ cần nhắc tên cũng gợi lại biết bao sự tích anh hùng, mãi mãi làm nức lòng các thế hệ mai sau.

Vinh Quang
qdnd.vn

Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) – Nơi vang vọng tiếng gọi lương tâm

QĐND Online – Xã Sơn Mỹ (Tịnh Khê), thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nằm cách thị xã khoảng 12km về phía đông, có 4 thôn: Tư Cung, Mỹ Lai, Trường Định và Cổ Lũy. Thôn Cổ Lũy nằm sát biển, phía trước là bờ biển dài trên 7 km với bãi cát vàng óng ả, một bãi biển đẹp của duyên hải miền Trung Nam Bộ. Phía sau là con sông Kinh- một nhánh của sông Trà Khúc chảy ra biển Đông qua cửa Sa Kỳ. Trước biển, sau sông như một ốc đảo, là một trong 12 cảnh đẹp của tỉnh Quảng Ngãi, có mỹ danh “Cổ Lũy cô thôn”. Xóm Khê Hội (Mỹ Lai 2) là xóm nhỏ đầu thôn Cổ Lũy. Thôn Tư Cung nằm phía tây xã, án ngữ con đường tỉnh lộ 24B từ thị xã Quảng Ngãi xuống. Nơi đây, ruộng nước xen lẫn với xóm làng; các xóm dân cư ngăn cách bởi các cánh đồng. Quanh thôn có lũy tre bao bọc, đầu thôn có cây to bóng mát, đường vào thôn từ xóm này qua xóm khác chỉ có một, lỗ chỗ vết chân trâu … Hai thôn Mỹ Lai và Trường Định nằm giữa xã, đất rừng pha cát, cao ráo và bằng phẳng, thuận tiện cho việc đi lại, kể cả cơ giới. Thời miền Nam còn nằm dưới ách thống trị của Mỹ- ngụy, trên bản đồ tác chiến của quân đội Mỹ, chúng lấy địa danh một vị trí trung tâm (Mỹ Lai), sau đó thêm các con số để chỉ các vùng lân cận. Do đó, hai thôn Mỹ Lai và Trường Định còn có tên Mỹ Lai 2, Mỹ Lai 3, Mỹ Lai 5, Mỹ Lai 6.

Cách đây 41 năm, chỉ trong buổi sáng ngày 16-3-1968, tại hai xóm Khê Hội (Mỹ Lai 2) và Thuận Yến (Mỹ Lai 4) thuộc xã Sơn Mỹ, quân xâm lược Mỹ đã gây ra một tội ác tày trời làm nhức nhối lương tâm nhân loại, thảm sát 504 đồng bào ta, trong đó có 182 phụ nữ (17 người đang mang thai), 173 trẻ em (có 56 em dưới 5 tháng tuổi), 60 cụ già trên 60 tuổi, 89 trung niên, cùng 247 ngôi nhà bị thiêu hủy, hàng ngàn trâu bò, gia súc bị giết.

Sáng ấy, như lệ thường, nhân dân Sơn Mỹ dậy sớm, chuẩn bị cho một ngày lao động mới, bỗng đâu những loạt đạn pháo từ các trận địa ở núi Răm (Bình Liên, Bình Sơn), chi khu Sơn Tịnh, tiểu khu Quảng Ngãi cấp tập bắn vào Sơn Mỹ. Pháo nổ rung chuyển trời đất, khói lửa mù mịt như xé nát không gian, bầu trời, muốn chôn vùi tất cả: nhà cửa, sinh vật, đến từng ngọn cỏ, lá cây… Hơn 30 phút bắn pháo vừa dứt thì đến lượt trực thăng vũ trang oanh kích. Cuộc oanh kích của pháo binh và trực thăng kéo dài hơn một tiếng đồng hồ thì đến lượt từng toán trực thăng chở quân (mỗi toán từ 9 đến 11 chiếc) từ hướng Chu Lai bay vào đổ quân xuống vạt ruộng phía tây thôn Tư Cung và bãi đất trống trên rừng bà Chín Cựu, gần xóm Khê Hội, thôn Cổ Lũy. Lính Mỹ vừa chạm chân xuống đất liền triển khai ngay đội hình chiến đấu, bao vây hai xóm nhỏ (đã chấm dấu đỏ sẵn trên bản đồ) là Mỹ Lai 2 (xóm Khê Hội) và Mỹ Lai 4 (xóm Thuận Yên). Những người ẩn nấp trong các căn hầm tránh pháo ở ngoài đồng tưởng chỉ là một cuộc càn quét bình thường như mọi khi, ai dè… Một cảnh tượng khủng khiếp đã diễn ra ở hai xóm Khê Hội và Thuận Yên: Cây cối đổ nát, nhà cháy, người chết la liệt. Hầm trú ẩn nào cũng bị bọn lính bộ binh Mỹ dùng mìn đánh sập giết những người trong hầm, ai còn sống hay bị thương chạy lên thì bị chúng dùng lê đâm hoặc dùng tiểu liên bắn chết ngay tại chỗ. Nhà nào cũng có người chết, toàn người già, đàn bà, trẻ em. Chết dưới hầm, chết trên miệng hầm, chết trong nhà… Xác chết nằm la liệt.

Tuy nhiên, cuộc “xạ kích’ vào Mỹ Lai 2 cũng chỉ là thứ yếu, mũi chủ yếu vẫn là Mỹ Lai 4. Ở đây, chúng sử dụng lực lượng 2 đại đội, một làm nhiệm vụ bao vây, một dùng để tàn sát. Và cuộc tàn sát theo kiểu phát xít Hít-le của chúng diễn ra ở đây rất bài bản, chính quy: Dùng trực thăng và lính bộ binh bao vây không cho một người dân nào chạy ra khỏi làng. Hễ trông thấy một vật di động nào là ngay lập tức phóng rốc- két, dùng đại liên và tiểu liên của bộ binh đặt trên máy bay tiêu diệt ngay. Khi đã bao vây chặt ngôi làng, lính Mỹ “như một bầy thú hung hăng xông thẳng vào thôn xóm bắn giết. Chúng chia nhau làm ba tốp: một tốp giết người, một tốp giết súc vật, tàn phá hoa màu và tốp còn lại đi đốt nhà. Chúng đi tới đâu là gây cảnh người chết, nhà cháy, cây cối xơ xác, tiêu điều đến đó” (Thông báo ngày 28-3-1968 của Ủy ban Dân tộc giải phóng tỉnh Quảng Ngãi). Thây người chồng chất, máu chảy ngập đồng, chỉ trên một đoạn mương chưa đầy 30m đã có 170 dân thường bị sát hại dưới họng súng của tên trung úy Mỹ Calley và binh lính của hắn. Nhiều người bị thương rên la còn cựa quậy, chúng liền dùng tiểu liên điểm xạ từng người một để kết liễu đời họ.

Chỉ một năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được một năm (năm 1976), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã cho xây dựng Khu chứng tích Sơn Mỹ để tưởng nhớ đến những người dân thường bị lính Mỹ sát hại dã man trong chiến tranh. Quần thể Khu chứng tích nằm trên phần đất từng xảy ra vụ thảm sát, từ cổng Khu đi vào, ở cuối con đường là tượng đài chính, nghi ngút khói hương. Trên bệ là nhóm tượng các nạn nhân với vẻ mặt đau đớn tột cùng. Hai bên lối vào còn nhiều tượng cỡ nhỏ miêu tả tư thế của các nạn nhân xấu số. Nhà chứng tích nằm bên trái lối vào. Đó đây và phía trước hai bên lối vào là những cây xén tỉa hình các nấm mồ. Các vật trưng bày trong Nhà chứng tích là những tư liệu ảnh, vật dụng minh chứng về vụ thảm sát. Ngoài khuôn viên Nhà chứng tích còn có con mương là nơi 170 người bị thảm sát tập thể; 11 nền nhà với 11 tấm bia trong số 24 gia đình không còn người nào sống sót, trên mỗi tấm bia đều ghi tên tuổi những thành viên trong gia đình; nấm mồ chôn chung 11 người, giếng nước cụ Hương Thơ bị lính Mỹ đẩy xuống… Đi qua nơi đây, không ai cầm được nước mắt. Khu Chứng tích Sơn Mỹ không phải là nơi khơi gợi sự thù hận mà là nơi vang vọng tiếng gọi lương tâm nhân loại đang khao khát cuộc sống hòa bình./.

TRANG THU
qdnd.vn

Tân Kỳ (Nghệ An) – Nơi khởi đầu Đường Hồ Chí Minh huyền thoại

QĐND Online – Mặc dù Tân Kỳ là huyện ra đời muộn nhất trong các huyện của tỉnh Nghệ An (tháng 4-1963), nhưng đất này đã có từ lâu đời, từng là địa bàn chiến lược quan trọng qua các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đời Trần, đây là đất phên dậu. Vua tôi nhà Trần đã dựa vào đất này để giữ yên bờ cõi phía tây của đất nước. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược (thế kỷ XV), đất này từng là “đất đứng chân” của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Lê Lợi. Hào khí “Trúc chẻ, tro bay” của cuộc khởi nghĩa, sau phát triển thành chiến tranh giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh cũng bắt đầu từ đây. Thế kỷ XVIII, vùng này là nơi dấy binh của nghĩa quân Lê Duy Mật chống lại chúa Trịnh. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, nơi đây là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ, Lang Văn Thiết.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tân Kỳ là một bộ phận của miền hậu phương Khu 4, đồng bào các dân tộc trong huyện đã tích cực đóng góp máu xương và của cải vào cuộc kháng chiến, đặc biệt góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy non sông, chấn động địa cầu”. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nơi đây là trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ do địa bàn huyện nằm trên tuyến đường chiến lược 15 và là nơi khởi đầu của đường chiến lược Hồ Chí Minh lịch sử. Dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù, nhân dân các dân tộc trong huyện đã ra sức thi đua chiến đấu và phục vụ chiến đấu, chi viện sức người sức của cho tiền tuyến với khẩu hiệu: “mỗi xóm, mỗi thôn là một trận địa bắn máy bay”, “thóc thừa cân, quân thừa người”. Trên các tuyến đường chiến lược, nhân dân và các lực lượng vũ trang của Tân Kỳ xác định rõ “xe chưa qua, nhà không tiếc”, hăng hái tham gia phá bom nổ chậm, bom từ trường, san lấp, sửa chữa hơn 100 km đường qua địa bàn huyện luôn thông suốt để đêm đêm từng đoàn xe yên tâm lăn bánh chi viện cho tiền tuyến. Những Phà Sen, Khe Thiềm, Trại Lạt trở thành những địa danh nổi tiếng do chiến công bắn máy bay Mỹ và đảm bảo an toàn giao thông; trở thành địa danh thân thuộc, tin cậy của những chiến sĩ lái xe mỗi lần qua đây. Tân Kỳ còn là hậu cứ quan trọng của Quân khu 4, nơi các binh đoàn chủ lực tập kết, huấn luyện để tăng cường cho các chiến trường B, C, K.

Đặc biệt, trong 6 năm (1968-1973), Đảng bộ, nhân dân Tân Kỳ đã đón nhận, đùm bọc hơn 3 vạn đồng bào tuyến lửa thuộc các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam lộ (Quảng Trị) sơ tán chiến tranh. Vừa phải đối phó với chiến tranh phá hoại leo thang của Mỹ, vừa phải đảm bảo đời sống cho nhân dân huyện nhà, đóng góp nuôi quân, Tân Kỳ còn phải lo cho 3 vạn đồng bào sơ tán có cái ăn, chỗ ở, nơi học tập, đất sản xuất… Nhân dân Tân Kỳ đã nêu cao nghĩa đồng bào, tình thân ái chia sẻ ngọt bùi, nóng lạnh cùng Quảng Trị những ngày đồng bào đi sơ tán chiến tranh khiến nhiều người coi đây là quê hương thứ hai của mình.

Trong cuộc chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Tân Kỳ đã hăng hái sản xuất, đóng góp hang vạn tấn lương thực, thực phẩm cung cấp cho các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong đóng quân trên địa bàn. Có tới 17.300 nam nữ thanh niên Tân Kỳ nhập ngũ trực tiếp đánh giặc, đi thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến phục vụ các chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đánh giá cao công lao đóng góp của nhân dân các dân tộc trong huyện Tân Kỳ vào cuộc kháng chiến Mỹ, cứu nước, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho Lực lượng vũ trang Huyện và các xã: Kỳ Sơn, Nghĩa Hợp, Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình, Tiên Kỳ, Giai Xuân.

Ngày nay, cơ hội để huyện Tân Kỳ bứt phá nhanh trên bước đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH đã bắt đầu. Con đường Hồ Chí Minh thời bình đi qua 8 xã và thị trấn mở hướng phát triển cho dịch vụ thương mại và du lịch. Các cơ sở công nghiệp của Trung ương, của tỉnh như đường, bột giấy, chế biến sữa, chế biến bột sắn, sản xuất nước dứa cô đặc sẽ đưa Tân Kỳ vào vùng nguyên liệu tạo cho nhân dân khai thác hiệu quả hơn mọi tiềm năng mà thiên nhiên ưu đãi cho miền đất lịch sử này.

TRANG THU
qdnd.vn

Phà Bến Thuỷ trong cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước

QĐND Online- Phà Bến Thủy qua dòng sông Lam (còn gọi sông Cả) ở đoạn cuối địa phận phía nam tỉnh Nghệ An. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phà Bến Thủy vượt sông Lam là một trong những điểm trung chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ.

Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ chính thức gây cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Trong ngày này, máy bay Mỹ đã bắn phá phà Bến Thủy, làm 2 công nhân-tự vệ phà hy sinh. Từ tháng 4-1965 trở đi, máy bay Mỹ đánh phá phà Bến Thủy liên tục. Trong trận chiến đấu quyết liệt với máy bay Mỹ ngày 8-4-1965, một phà sắt và một ca nô bị địch đánh chìm. Từ ngày 15 đến ngày 18-4-1965, cứ mỗi ngày địch dùng từ 5 đến 10 lần tốp máy bay đánh phá vào thành phố Vinh và khu vực phà Bến Thủy. Địch kéo dài lối đánh bất ngờ, đánh tập kích nhiều hướng, không ngày nào, tháng nào trong năm 1965, phà Bến Thủy không bị đánh phá. Năm 1966, địch đánh nhiều trận ác liệt hơn, điển hình là ngày 30-6-1966, địch dùng 162 lần máy bay đánh phá suốt ngày đêm, khống chế mọi hoạt động của ta trên bến, trên sông. Ngày 24-7-1967, địch cho 27 lần tốp máy bay đánh liên tục bến phà. Trận này tiếp trận kia, vùng trời phà Bến Thủy nóng bỏng trong đạn bom và nắng gió Lào. Hầu hết trong các trận chiến dấu với không quân và hải quân Mỹ, để bảo vệ bến phà thông xe, thông tuyến, các chiến sĩ tự vệ ta đều phải chịu thương vong, có trận thương vong đến 7-8 người… Cứ thế trong suốt 8 năm (1964-1972) chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Đội công nhân – tự vệ phà Bến Thủy đã lập nên kỳ tích trên mặt trận giao thông vận tải. Họ đã chiến đấu bảo vệ và bảo đảm thông phà, thông tuyến. Trong điều kiện cực kỳ khó khăn, 100 cán bộ, công nhân-tự vệ phà Bến Thủy đã biết phối hợp toàn diện, trong ngoài, trên dưới, đặc biệt phối hợp cùng bộ đội hải quân và các đơn vị pháo cao xạ vừa tổ chức đánh máy bay địch, vừa tổ chức vượt sông nên dù tình huống phức tạp đến đâu họ đều vượt qua.

Trải 8 năm chiến đấu qua hai cuộc chiến tranh phá hoại, mỗi cán bộ, chiến sĩ phà Bến Thủy phải chịu 150 quả bom và đạn các loại. 26 cán bộ, chiến sĩ bến phà hy sinh, 92 người bị thương, đã có lúc số hy sinh và thương vong lên tới 75% quân số, nhưng bến phà vẫn thông suốt. Điều đó khẳng định sức mạnh chân lý thời đại Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân do Đảng lãnh đạo, sức mạnh của một tập thể luôn biết phát huy khả năng của mọi thứ vũ khí, trang bị có trong tay, luôn luôn chủ động, kiên quyết, triệt để, bền bỉ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đoàn kết gắn bó, chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh vô điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ. Tập thể cán bộ, chiến sĩ phà Bến Thủy xứng đáng được Nhà nước hai lần tuyên dương Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Nguyễn Trọng Tường, Nguyễn Hữu Tùng vinh dự được phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Phà Bến Thủy là một hiện tượng lịch sử của mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu 4 thời chống Mỹ, cứu nước.

HÀ THÀNH
qdnd.vn

Xuân Lộc- Địa danh làm rung chuyển Nhà Trắng mùa Xuân 1975

Thị xã Xuân Lộc (trước 30 – 4- 1975) thuộc tỉnh Long Khánh, nằm cách Sài Gòn 60 km về phía Đông Bắc, án ngữ trên nhiều trục giao thông quan trọng như: quốc lộ 1, quốc lộ 20, tỉnh lộ 3 và tuyến đường sắt Bắc-Nam. Trong thị xã gồm 6 ấp, 1 khu gia đình binh sĩ với 28.000 dân, đa số là gia đình những ngụy quân của Pháp, người miền Bắc di cư sau năm 1954; số này được bố trí ngay ở những vùng ven, tạo thành vành đai ngăn chặn sự xâm nhập của ta từ xa. Xác định đây là địa bàn phòng thủ trọng yếu, án ngữ trước cửa ngõ Sài Gòn, nên ngay từ khi nhảy vào xâm lược miền Nam, Mỹ đã xây dựng thị xã này thành một căn cứ quân sự lớn, với nhiều căn cứ như: sư đoàn 18 ngụy, bộ chỉ huy khu 33 chiến thuật, căn cứ thiết giáp, căn cứ pháo binh Hoàng Diệu, sân bay Cáp Rang, cơ quan cố vấn Mỹ…

Để cơ động phòng thủ, chúng xây dựng các đường hành lang trải nhựa chạy quanh thị xã tiếp giáp các ấp vùng ven. Đặc biệt, sau khi thành phố Đà Nẵng bị quân ta đánh chiếm và làm chủ, tướng Uây-oen, tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã trực tiếp đôn đốc quân ngụy tổ chức một tuyến phòng thủ mới, kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó Xuân Lộc là điểm trọng tâm, nhằm ngăn chặn bước tiến quân của ta theo đường số 1 và đường số 20 đánh vào Biên Hòa-Sài Gòn. Uây-oen chỉ thị cho Nguyễn Văn Thiệu và các tướng ngụy: phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn. Vì vậy, Nguyễn Văn Thiệu đã dốc lực lượng và phương tiện “tử thủ” ở Xuân Lộc với mong muốn tạo được một thắng lợi để củng cố lại tinh thần cho quân ngụy và hối thúc viện trợ của Mỹ, đợi mùa mưa tới chuyển sang phản công giành lại những vùng đã bị mất. Từ dự tính như vậy, quân ngụy đã tập trung một lực lượng lớn phòng thủ Xuân Lộc gồm: sư đoàn 18 (còn đủ ba chiến đoàn), trung đoàn 5 thiết giáp, 8 tiểu đoàn bảo an, 20 đại đội địa phương quân, hàng nghìn cảnh sát và phòng vệ dân sự cùng lực lượng pháo binh, không quân chi viện tối đa. Lực lượng ứng cứu trực tiếp có lữ đoàn thiết giáp 3 ở Biên Hòa, lữ dù 1 ở Sài Gòn…

Về ta, Quân đoàn 4 được giao nhiệm vụ tiến công Xuân Lộc trong điều kiện thời gian chuẩn bị chiến đấu ngắn, một số đơn vị bị thương vong chưa được củng cố bổ sung kịp thời, đạn pháo và phương tiện vận chuyển thiếu, đường cơ động xa, sức khỏe của bộ đội chưa được hồi phục sau đợt chiến đấu liên tục, dài ngày, lại phải đột phá vào nơi phòng thủ mạnh của địch ở địa hình không thuận lợi. Nhưng trước tình hình địch đang hoang mang, dao động, để chớp thời cơ, giành quyền chủ động ngay từ đầu, Quân đoàn chủ trương vừa “đánh chắc, tiến chắc”, vừa “khẩn trương, táo bạo” sử dụng tập trung bộ binh, xe tăng, pháo binh tiến công thẳng vào sở chỉ huy tiểu khu và sư đoàn 18 ngụy. Theo phương án tác chiến, ta sử dụng Sư đoàn 7 tiến công hướng chủ yếu, từ phía đông đánh chiếm căn cứ sư đoàn 18 ngụy. Sư đoàn 341 đảm nhận hướng thứ yếu, từ phía Bắc đánh xuống, chiếm tiểu khu Long Khánh và các mục tiêu trong thị xã…

5 giờ 40 phút ngày 9-4, quân ta từ hai hướng đồng loạt tiến công Xuân Lộc. Trên hướng bắc, Trung đoàn 226 (Sư đoàn 341) thọc sâu đánh chiếm khu thông tin, khu cố vấn Mỹ, khu cảnh sát; nhưng ngay sau đó, địch đã tập trung lực lượng phản kích quyết liệt, ta phải dừng lại bên ngoài sở chỉ huy tiểu khu. Trên hướng đông, Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) có xe tăng dẫn đầu tiến công vào căn cứ sư đoàn 18 ngụy, nhưng chỉ chiếm được một phần hậu cứ chiến đoàn 52 ngụy. Tại vòng ngoài, các Trung đoàn 270, Trung đoàn 209 đánh bại hai tiểu đoàn, diệt 7 xe tăng của chiến đoàn 43 và 48 ngụy từ Tân Phong và Núi Thị vào cứu viện cho thị xã, giải phóng ấp Bảo Toàn. Sư đoàn 6 diệt 5 chốt trên đường 1, thu 2 khẩu pháo 105 ly, buộc chiến đoàn 52 ngụy phải bỏ Túc Trưng kéo về ngã ba Dầu Giây.

Những ngày tiếp sau, tình hình chiến đấu trở nên căng thẳng, ta sử dụng lực lượng dự bị vào chiến đấu và gây cho địch nhiều thiệt hại nhưng chúng vẫn ngoan cố dựa vào công sự và được chi viện cả về binh lực và hỏa lực, tiếp tục chống trả ta một cách điên cuồng. Máy bay địch đánh phá ác liệt vào đội hình ta và hủy diệt các mục tiêu của chúng đã mất. Thương vong của các đơn vị ta tăng cao, 9 xe tăng ta sử dụng vào trận đánh đã bị bắn cháy và hỏng 6 chiếc, pháo 85 và 57 hỏng gần hết vì bom, pháo địch… Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức đánh giá lại tình hình, thay đổi cách đánh mới, ngừng tiến công các vị trí địch trong thị xã, tổ chức giữ vững bàn đạp, duy trì áp lực thường xuyên, thực hiện các biện pháp nghi binh, làm cho địch tưởng rằng ta đang chuẩn bị đánh tiếp. Đồng thời, sử dụng Sư đoàn 6 cùng Trung đoàn 95B đánh chiếm Dầu Giây, tạo thế cô lập hoàn toàn Xuân Lộc. Trong khi Nguyễn Văn Thiệu tuyên truyền rùm beng về “chiến trắng Xuân Lộc”, về “khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hòa đã được phục hồi” thì quân ta đã tiến công làm chủ ngã ba Dầu Giây, giải phóng toàn bộ đường 20. Đường số 1 từ Xuân Lộc tới Bàu Cá bị cắt, Biên Hòa trở thành điểm tiền tiêu nhưng địch không còn mấy lực lượng để phòng thủ, chúng buộc phải bỏ Xuân Lộc tháo chạy về Biên Hòa… Thị xã Xuân Lộc được hoàn toàn giải phóng.

“Cánh cửa thép” Xuân Lộc ở cửa ngõ Sài Gòn bị đổ vỡ không chỉ làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở xung quanh Sài Gòn, làm suy sụp thêm tinh thần chiến đấu của quân ngụy, mà còn làm rung chuyển cả Nhà trắng và Lầu năm góc. Ngay sau khi được tin Xuân Lộc thất thủ, Uây-oen – tác giả của công trình lập tuyến phòng thủ Xuân Lộc đã phải thốt lên “Thế là hết! Tình hình quân sự là tuyệt vọng”. Còn Tổng thống Pho đã ngậm ngùi nói: “Chiến tranh đã kết thúc với Mỹ, không thể giúp Sài Gòn được nữa, họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang đợi họ”./.

Tạ Quang
qdnd.vn