Thư viện

Bác Hồ đốt lửa trại

– Ngày 26/1/1949 cũng là ngày 28 Tết Canh Thìn, kết thúc kỳ họp của Chính phủ, Bác tham dự đêm lửa trại trước khi chia tay.

Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến thuật lại: “Đêm nay, một bữa tiệc nhỏ long trọng để đưa tiễn các đại biểu Nam Bộ, đồng thời là bữa “ăn Tết” của chánh phủ. Bữa tiệc vừa vui vừa cảm động.

Sau bữa tiệc có buổi lửa trại. Nhiều trò vui đã được diễn và Hồ Chủ tịch đã có lúc phải cười nhiều nhưng vừa cười vừa chảy nước mắt. Anh em diễn ngày kháng chiến thắng lợi Hồ Chủ tịch vào thăm “Thành phố Hồ Chí Minh” (Sài Gòn) và trước máy truyền thanh chào mừng đồng bào Nam Bộ”.

26/1/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy cao su, xà phòng và thuốc lá Hà Nội. Người xem suất ăn  bồi dưỡng giữa ca của công nhân.Ngày 26/1/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy cao su, xà phòng và thuốc lá Hà Nội. Người xem suất ăn bồi dưỡng giữa ca của công nhân.

Cũng cần nói thêm rằng Đoàn đại biểu Nam Bộ lặn lội từ chiến trường miền Nam đi suốt dọc đất nước đang trong máu lửa để ra Chiến khu gặp Trung ương và Bác.

Ngày 3/10/1948, Đoàn đến gặp Hội đồng Chính phủ lúc này đang họp dưới sự chủ tọa của Bác và Đoàn đã chuyển tặng “bức họa hình Hồ Chủ tịch và 3 em thiếu nhi tượng trưng Trung Nam Bắc, 3 em vây xung quanh Cụ, một em nắm râu Cụ với bao vẻ mến yêu. Bức họa này của một họa sĩ đã lấy máu mình mà vẽ ra, vừa đẹp và chứa đầy ý nghĩa”…( Đó chính là bức tranh của Họa sĩ Diệp Minh Châu).

Cũng thuật lại đêm lửa trại tiễn đưa Đoàn Nam Bộ, Cụ Hoàng Đạo Thuý, từng là Cục trưởng Cục thông tin của Bộ Tổng Tham mưu, lúc này được Bác điều về làm công tác vận động thi đua có thuật lại cụ thể trong hồi ức của mình: “(Chiều hôm đó) Cụ tìm tôi và bảo: Tối nay, Cụ tổ chức lửa trại nhé? Thưa Cụ, chỉ có mấy ông cụ già với mấy ông bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui được lắm – Cứ vui chứ!

Bỗng tôi nẩy ra một  ý  nghĩ tinh nghịch: Nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy! Nhất định thế! Cụ trả lời tủm tỉm cười, chắc Cụ hiểu ý tôi .

Lửa bùng lên. Ngồi quanh có Cụ Hồ, Cụ Tôn, Cụ Phan Kế Toại, Cụ Phạm Bá Trực và mười ông bộ trưởng. Tôi chắp tay:  Xin Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại.

Chẳng ngần ngừ gì cả, Cụ vừa bước quanh lửa, lên tiếng hát: “Anh hùng xưa, nhớ hồi là  hồi niên thiếu. Dấy binh làm cờ…”. Ai cũng thấy lạ, sao Cụ biết bài hát ấy? – Bọn Hướng đạo nó dạy tôi đấy!

Một lần khác, ông Trần Duy Hưng được Cụ đề bạt làm trùm lửa. Hưng cũng trêu Cụ, trêu một cách kính mến thôi, chứ Cụ có bí bao giờ đâu. Hai người ngồi bên Cụ, giang tay làm tàu bay, mồm kêu “ù, ù”. Hưng gọi loa: “A lô, A lô, đồng bào thành phố Hồ Chí Minh (tên này có từ sau Ngày Độc lập) Cụ Chủ tịch vào thăm đồng bào, Cụ có huấn thị…”.

Cụ đứng nhổm ngay dậy: “A lô, đồng bào. Tôi vào thăm đồng bào. Đi tàu bay mệt quá, xin để Bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi”. Đến lượt Hưng ta cuống.

Cụ Hoàng Đạo Thuý còn kể: “Năm ấy, Đoàn đại biểu miền Nam lần thứ nhất ra thăm Chính phủ. Đó là đoàn trong đó có ông Trần Bửu Kiếm và một ông cố đạo (tức linh mục Phạm Bá Trực)”. Bày biện đâu đấy cả, có tin Đoàn sắp đến nơi. Đi tìm Cụ thì không ai thấy.

Khi Đoàn bước vào, thì bằng một cửa bên Cụ đã đến ngồi ghế Chủ tịch, bắt tay chào vui vẻ, cảm động. Nhưng quái, làm sao đại biểu cứ ngẩn ngơ thế nào ấy? Thì ra thế này: Cụ được tin Đoàn sắp đến, là Cụ ra rừng. Đoàn đi qua, Cụ ôm hôn từng người, thắm thiết. Đoàn cảm động, không biết là ông Cụ nào thế! Bây giờ được chào Cụ Chủ tịch kính mến và mong đợi, thì không biết có phải là ông cụ lúc nãy không?”.

Đó là hồi ức của những nhân chứng lịch sử về Chính phủ của Cụ Hồ trong những ngày kháng chiến gian khổ!

X&N
bee.net.vn

“Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc”

– Ngày 23/1/1947, trong bối cảnh chiến tranh đã mở rộng ra cả nước, khối đoàn kết toàn dân trong đó có các tôn giáo cần được huy động vào việc phụng sự nền độc lập của Tổ quốc đồng thời đấu tranh chống lại những âm lưu lợi dụng tôn giáo của thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư và giao cho người thân tín của mình là Vũ Đình Huỳnh mang vào Phát Diệm trao tận tay cho Giám mục Lê Hữu Từ, người có vai trò trong giáo hội Thiên Chúa giáo và cũng là người đã nhận làm cố vấn cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thư viết bằng những lời lẽ chân thành:

“Đã lâu không được gặp cụ, tôi nhớ lắm. Từ ngày thực dân Pháp bội ước gây hấn, toàn thể đồng bào ta phải đồng tâm nhất trí, kháng chiến cứu quốc… Vì công việc còn bận, tôi chưa có thể gặp cụ để trực tiếp cảm ơn cụ, tôi xin phái người thân tín là ông Huỳnh thay mặt tôi đến hỏi thăm và chúc cụ mạnh khoẻ”

Bác đề nghị giám mục tiếp tục ủng hộ chính phủ trong kháng chiến cũng như đã từng giúp trong các thuơng thảo ngoại giao và bức thư kết thúc: “Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc và xin cụ nhận lời chào thân ái của tôi”.

Tháng 1/1960 Bác gặp các cháu học sinh Trường Phan Chu Trinh tại Văn MiếuTháng 1/1960 Bác gặp các cháu học sinh Trường Phan Chu Trinh tại Văn Miếu

Thời điểm này đang xảy ra một vài xích mích giữa đồng bào lương và giáo mấy hôm sau (1/2/1947), Bác lại viết thư gửi Giám mục để kiên trì giải thích: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo thì sẽ bị phạt.

Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết rằng Việt Nam Độc lập Đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo.

Mà tôi cũng không bao giờ nghi rằng đồng bào công giáo chống Việt Minh, vì hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do; và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc…

Những sự xích mích nhỏ giữa một số đồng bào, tuy là đáng tiếc, vì đạo đức giáo hoá chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta… triệt để hoàn thành đại đoàn kết, để toàn dân không phân lương – giáo, chỉ một tâm lo chống ngoại xâm. Nhờ cụ cầu Chúa ban phúc cho nước nhà mau đi đến kháng chiến thắng lợi.”

Sau đó, Bác lại viết thư tiếp (10/3) vừa động viên Giám mục Lê Hữu Từ vừa mềm mỏng giải quyết một số vấn đề nẩy sinh trong quan hệ lương – giáo ở địa phương. Thư cũng nhờ Giám mục vận động đồng bào Phát Diệm phá cầu để đề phòng quân Pháp tiến chiếm.

Đây cũng là lúc thực dân Pháp đang tìm mọi thủ đoạn chia rẽ lương – giáo và lôi kéo nhân vật này để rồi sau đó không lâu, Giám mục Lê Hữu Từ đã từ bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc Pháp …

X&N
bee.net.vn

Kết thúc “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”

– Ngày 12/1/1933 Nguyễn Ái Quốc lúc này mang bí danh là Tống Văn Sơ lên tàu đi Singapore sau khi Toà án Anh ở Hồng Kông đã ra lệnh thả. Nhà cách mạng Việt Nam quyết định đi Anh, nhưng tàu vừa cập bến cảng Singapore thì chính quyền sở tại theo yêu cầu của nhà cầm quyền ở Hồng Kông ra lệnh cho nhà cách mạng Việt Nam không được nhập cảnh và phải quay lại nơi xuất phát.

Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp của các luật sư tiến bộ, chính quyền Hồng Kông buộc phải trả tự do để sau đó, trong vai một thương gia khá giả, Nguyễn Ái Quốc lên tàu tới Hạ Môn để rồi từ đó đi Thượng Hải và trở lại nước Nga, kết thúc “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”.

12-1-1967 HCM thăm đại hội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nướcNgày 12/1/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Đại hội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước

Ngày 6/6/1931, từ việc bắt một số cán bộ cộng sản ở Sài Gòn và Singapore, địa chỉ của Nguyễn Ái Quốc khi đó đang trú tại Hồng Kông bị lộ, cảnh sát Anh đã bắt được nhà hoạt động cách mạng đã từng bị chính quyền ở Đông Dương kết án tử hình. Lúc này mang bí danh là Tống Văn Sơ, Nguyễn Ái Quốc bị giam tại Sở cảnh sát rồi nhà tù Victoria.

Ngày 24/6/1931, được một đồng chí người Việt Nam nhờ can thiệp, Luật sư Lôdơbi tiếp cận thân chủ của mình. Sau nhiều lần ra văn bản “lệnh bắt giam” và thẩm vấn, ngày 31/7/1931 Toà án tối cao xét xử ra lệnh trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương có nghĩa là để thụ án tử hình.

Với sự giúp đỡ của ông Lôdơbi và một số luật sư tiến bộ khác, sau 9 phiên xét xử, Toà án Hồng Kông đồng ý cho kháng án lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh. Ngày 21/7/1932, phán quyết của Vua Anh và Hội đồng Cơ mật cho phép Tống Văn Sơ đến Anh, nhưng chính quyền Hồng Kông tìm cách gây trắc trở cho đến ngày 28/2/1933 mới được tự do…

Ngay sau khi được tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, chính quyền thực dân Pháp đã tìm mọi cách can thiệp với chính quyền Hồng Kông để bắt giữ và Bộ thuộc địa Pháp đã cảnh báo “Việc trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương mà các Sở an ninh Đông Dương đều biết là ông ta đã tập trung tất cả trí thông minh, quyền lực và sự nổi tiếng của mình”. Và sau hơn 2 tháng Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hồng Kông, chính quyền thực dân Pháp mới phát lệnh truy nã thì nhà cách mạng Việt Nam đã trở lại với nước Nga.

Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời gia đình Luật sư Lôdơbi đến Hà Nội để tạ ơn xưa, và vị luật sư người Anh này đã đáp lại rằng: “Ngài nói rằng tôi đã cứu sống Ngài, điều đó có thể đúng. Nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm và đó mãi mãi là một việc làm sáng suốt!”.

X&N
bee.net.vn

“Lenin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”

– Ngày 22/1/1924, Nguyễn Ái Quốc đang học và làm việc tại Liên Xô thì nhận được tin V.I.Lenin đã từ trần vào đêm hôm trước (21/1/1924).

Nguyễn Ái Quốc đã tới trụ sở Quốc tế Nông dân ở Matxcova để dự phiên họp bất thường.

Tháng 1 /1960, Bác Hồ giành nhiều thời gian cho kiều bào Thái Lan

Tháng 1 /1960, Bác Hồ giành nhiều thời gian thăm hỏi bà con kiều bào Thái Lan về nước

Tại đây, Nguyễn Ái Quốc được phân công cùng một số đồng chí khác viết “Lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân”.

Văn kiện kêu gọi: “Nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta là thực hiện những lời khuyên quan trọng nhất của Lenin. Điểm quan trọng nhất trong di huấn chính trị của Người là thực hiện liên minh công nông, củng cố khối đoàn kết nông dân ở nông thôn và công nhân ở thành thị…

Hãy cất lên thật to, thật mạnh giữa quần chúng nông dân lời kêu gọi: Nông dân và công nhân ở tất cả các nước hãy đoàn kết lại!”

Sau đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết một bài bày tỏ cảm xúc trước sự kiện này và được đăng trên tờ “Pravda” (Sự Thật). Bài báo có nhan đề “Lenin và các dân tộc thuộc địa” mở đầu bằng câu: “Lenin đã mất! Tin này đến với mọi người như sét đánh ngang tai, truyền đi khắp các bình nguyên châu Phi và các cánh đồng xanh tươi ở châu Á..

Lenin đã mất rồi thì chúng ta biết làm thế nào? Liệu có những người dũng cảm và rộng lượng như Lenin để không quản thời gian và sức lực chăm lo đến sự nghiệp giải phóng của chúng ta không? Đó là những điều mà quần chúng nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa băn khoăn tự hỏi…

Còn chúng tôi những người cộng sản, những người sinh ra ở các thuộc địa, chúng tôi vô cùng đau đớn… Song chúng tôi tin tưởng rằng Quốc tế Cộng sản và các phân bộ của nó, trong đó có các chi bộ ở các nước thuộc địa sẽ thực hiện được những bài học và những lời giáo huấn mà vị lãnh tụ để lại cho chúng ta…

Khi còn sống Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Lenin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc”

– Ngày 21/1/1946, báo Cứu Quốc đăng toàn văn câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nhà báo nước ngoài sau khi cuộc Tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp và quốc dân đang chờ đợi những thay đổi trong đời sống chính trị nước nhà. Câu trả lời của Bác đầy tính triết lý và tính chiến đấu tự như một tuyên ngôn về lẽ sống của mình: 

“Nhân dịp các bạn tân văn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ nước ngoài đều biết:

1. Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy…

Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi..

2. Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng Dân tộc Việt Nam. Đảng đó chỉ có một mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Rất mong nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước rõ cho” .

Chỉ một năm sau, ngày 21/1/1947 ứng với ngày 30 Tết Đinh Hợi, Bác đến Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, lúc đó đang sơ tán tại Chùa Trầm, để đọc “Lời kêu gọi nhân Tết nguyên đán” và đọc lời thơ chúc Tết Xuân Đinh Hợi:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió/Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông/Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/Chí  ta đã quyết, lòng ta đã đồng/Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào/Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi /Thống nhất, độc lập nhất định thành công”.

X&N
bee.net.vn

“Một năm khởi đầu bằng mùa Xuân”

– Nhật ký của Vũ Kỳ, người thư ký gần gũi của Bác Hồ viết:

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

“Ngày 20/1/1946: Dân Hà Nội năm nay có lẽ nghỉ Tết sớm hơn mọi năm, Tết Bính Tuất sắp tới là Tết Độc lập đầu tiên của cả nước và của từng nhà, còn hơn một tuần nữa mới tới ngày tiễn Ông Táo lên trời mà nhiều nhà đã sửa soạn cả rồi. Bác Hồ đã nghĩ sớm đến Tết, nhưng Bác chẳng có gì để chuẩn bị và cơ quan cũng chưa chuẩn bị gì cả. Công việc ngày càng bận rộn.

Ngay đầu giờ làm việc sáng nay, Bác viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến. Chẳng là tối qua, Bác hỏi còn mấy ngày thì tới 23 tháng Chạp. Thư ngắn gọn và cứ tưởng Bác đang nói chuyện với mọi người. Chắc đêm qua Bác nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ .

Thư mở đầu bằng câu: “Dân ta là một dân tộc giàu lòng bác ái…” và kết thúc bằng câu : “…sao cho mọi người đều được hưởng cái thú vui vẻ Tết xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập” (hết nhật ký).

Đọc toàn văn bức thư này trong “Hồ Chí Minh toàn tập” còn có đoạn:

“Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”. Đời sống mới là: – Hăng hái kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ – Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm – Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ – Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”.

X&N
bee.net.vn

Việc gì khó có thanh niên!

– Ngày 19/1/1959, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh nên Lao động Việt Nam, Bác Hồ đã đưa ra khẩu hiệu: “Việc gì khó có thanh niên! Ở đâu khó có thanh niên!” và căn dặn: “Trong mọi việc thanh niên phải làm đầu tàu, xung phong guơng mẫu. Thanh niên hăng hái là tốt, những chớ xa rời quần chúng, xa rời thì không làm được đầu tàu, đầu tàu mà rời toa tàu thì vô dụng”.

Ngày 19/1/1965, bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch nhà nước năm 1965.

Tháng 1-1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.Tháng 1/1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.

Bác đề cập tới một số tư tưởng quan trọng trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch: “Đặt kế hoạch thật tốt và thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu, Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể là 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần.

Có như thế mới chắc chắn hoàn thành kế hoạch. Khi đặt kế hoạch thì phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào làm công việc gì là chính. Phải thấy rộng. Có thấy rộng thì mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo thật sát với mỗi cơ sở. Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch”.

Ngày 19/1/1959, nhân chuyến thăm của Đoàn đại biểu Chính phủ CHDC Đức do Thủ tướng Otto Grothewohl dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã mời phu nhân thủ tuớng đến thăm khu nhà sàn trong phủ Chủ tịch.

Trong câu chuyện trao đổi với khách, Bác đã nói : “Cô biết đấy, chúng tôi đã chiến thắng vì trước hết, có một dân tộc yêu nước nồng nàn như vậy. Dân tộc đó sẵn sàng hy sinh tất cả đẻ giành độc lập và tự do!”.

Trả lời câu hỏi thân tình của khách về cuộc sống riêng tư, Bác nói: “Tôi không còn thì giờ để nghĩ đến chuyện riêng nữa. Tôi phải sống vì dân tộc. Cả đất nước Việt Nam này là gia đình tôi”.

X&N
bee.net.vn

Có nên bỏ hết tiền ra mua sắm Tết?

 10 ngày trước Tết Canh Tý, ngày 18/1/1960, trên báo “Nhân Dân”, với bút danh T.L, Bác viết bài “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” đặt vấn đề có nên biến ngày Xuân thành dịp tiêu pha “có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù” hay không?

Bác cho rằng “thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân! Nên nhớ rằng hiện nay chúng ta phải cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội. Không nên vì một cớ gì mà quên nhiệm vụ ấy”.

Tháng 1/1960, Bác thăm thị xã Kíên An đang nhận những bó hoa của các cháu thiếu nhiTháng 1/1960, Bác thăm thị xã Kiến An, đang nhận những bó hoa của các cháu thiếu nhi

Bài báo kết luận: “Các đồng chí cán bộ ta cần phải hướng dẫn đồng bào làm cho Tết Canh Tý thành một cái Tết vui vẻ và tưng bừng, đồng thời là một Tết tiết kiệm và thắng lợi.

“Trăm năm trong cõi người ta
Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan
Mừng Xuân, Xuân cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân”

Nhắc lại ngay Tết Độc lập đầu tiên (1946) trên báo “Cứu Quốc” vị Chủ tịch của nước Việt Nam mới cũng viết bài báo có nhan đề “Tết” nêu rõ: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái.

Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với: Những chiến sĩ oanh liệt trước mặt trận. Những gia quyến các chiến sĩ. Những đồng bào nghèo nàn. Sao cho mọi người đều được hưởng thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập”.

Cũng Tết năm đó, Bác còn viết bài “Gương sáng suốt của Đời sống mới ”biểu dương“ các vị kỳ lão Đình Bảng và làng Xuân Tảo đã đem số tiền mừng thọ… ủng hộ vào Quỹ Cứu quốc và ủng hộ chiến sĩ. Các vị ở xã Đông Hội, Gia Khánh, Ninh Bình đem ba phần tư tiền tế Thành hoàng… để giúp chiến sĩ người mặt trận. Họ Nguyễn Thượng của làng Thượng Phúc.. giảm ăn uống cúng giỗ để quyên vào Quỹ chiến sĩ…”.

Bài báo kết luận: “Ba việc đó chẳng những đã tỏ lòng vàng ngọc của đồng bào các làng xã kể trên, đồng thời cũng là một gương sáng trong sự thực hành Đời sống mới cho đồng bào cả nước”.

X&N
bee.net.vn

“Đánh kẻng còn hơn gẩy đàn”

– Ngày 17/1/1926, lúc này Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Lý Thuỵ đang hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc) nhằm tập hợp các thanh niên từ trong nước mới sang. Trên báo “Thanh Niên” do Nguyễn Ái Quốc sáng lập đăng bài “Báo chí bình dân” nhằm đưa ra một quan niệm về báo chí cách mạng. 

Bài báo viết: “Các bạn chúng ta phàn nàn nhiều lần rằng các bài báo của ta thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng. Chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngựơc lại, chúng tôi gắng sức vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Ngày 17/1/1967, Bác Hồ tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở VNNgày 17/1/1967, Bác Hồ tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở VN

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2. khích lệ dân tộc An Nam liên kết lại, 3. làm cho họ thấy đuợc nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm thế nào để tránh được những điều đó nên bản báo của chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động … Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng, những trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn!

Có nhiều cách làm rung động lòng người. Khóc lóc, than vãn, đọc Kiều hay Tam Quốc đều khiến ta mủi lòng. Nhưng đó chỉ là những cảm xúc thoáng qua và hời hợt mà chúng tôi không muốn gợi lên trong lòng độc giả chúng tôi. Ngược lại, chúng tôi muốn rằng văn của chúng tôi gây được cho họ ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài.

Ví dụ, nếu gặp một nông dân An Nam quần áo tả tơi, chúng tôi sẽ bằng một giọng đầy thương cảm, nhưng che giấu đi niềm xúc động và nuốt nước mắt mà nói rằng: Than ôi! Sao mà số phận anh khốn khổ thế này. Anh mua giống hết 2 đồng, mua phân 4 đồng, thuê thợ 5 đồng và nộp thuế 1 đồng. Tiền anh chi đã lên đến 15 đồng, anh bán thóc được 18 đồng. Nhưng vì anh đã phải nộp thuế chợ 1 đồng, nên thực ra anh chỉ được 2 đồng, mà tiền ấy, anh cũng bị Pháp cướp mất. Vì thế tôi mới bảo rằng anh khốn khổ.

Anh nông dân của chúng ta sẽ không khóc, không than. Nhưng anh ta suy nghĩ, hiểu ra và cuối cùng sẽ vùng lên và làm cái việc tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc. Còn những ai yêu thơ thì họ cứ tự do đắm chìm mà đọc Cung Oán hay Nhị Độ Mai.”

X&N
bee.net.vn

Hai bức công hàm thiết lập quan hệ Việt – Trung

– Ngày 1/10/1949, tại Quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh), trước hơn một triệu quần chúng, Chủ tịch Mao Trạch Đông long trọng tuyên bố với thế giới việc thành lập Nước CHND Trung Hoa. Tháng 1/1950, Chính phủ Việt Nam DCCH và CHND Trung Hoa thiệt lập quan hệ ngoại giao.

Hai bức công hàm lịch sử

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Việt Nam DCCH Hoàng Minh Giám

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Việt Nam DCCH Hoàng Minh Giám

Ngày 15/1/1950, Bộ trưởng Bộ Ngọai giao Nước Việt Nam DCCH Hoàng Minh Giám gửi công hàm đến Bộ trưởng Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa Chu Ân Lai với nội dung như sau:

Chính phủ và nhân dân Nước Việt Nam DCCH căn cứ vào bản tuyên bố ngày 1/10/1949 của Chính phủ nhân dân Trung Quốc, tuyên bố công nhận Chính phủ nhân dân Trung Quốc do Chủ tịch Mao Trạch Đông lãnh đạo.

Để tăng cường tình hữu nghị và sự hợp tác giữ a hai dân tộc Trung Hoa và Việt Nam, Chính phủ Việt Nam DCCH quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức và trao đổi Đại sứ với Chính phủ nhân dân Trung Quốc.

Ngày 15/1/1950

Thay mặt Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngọai giao Nước Việt Nam DCCH – Hoàng Minh Giám.

Ngày 18/1/1950, Bộ trưởng Ngọai giao CHND Trung Hoa Chu Ân Lai đã gửi công hàm phúc đáp thông điệp. Toàn văn như sau:

Kính gửi Ông Hoàng Minh Giám,

Bộ trưởng Bô Ngọai giao Chính phủ Việt Nam DCCH.

Tôi rất hân hạnh nhận được điện báo yêu cầu kiến lập mối quan hệ ngoại giao với Nước CHND Trung Hoa của Quý Bộ trưởng, ngày 15/1/1950. Nay tôi xin thông tri để Quý Bộ trưởng rõ: Chính phủ nhân dân Trung ương của Nước CHND Trung Hoa nhận thấy Chính phủ của Nước Việt Nam DCCH là Chính phủ hợp pháp đại biểu cho ý chí của nhân dân Việt Nam.

Chính phủ Trung ương của Nước CHND Trung Hoa nguyện ý kiến lập mối quan hệ ngọai giao với Chính phủ Việt Nam DCCH và trao đổi Đại sứ để củng cố bang giao giữa hai nước, tăng cường sự hợp tác hữu hảo của hai nước. Đặc biệt về việc này xin phúc điện ngài và mong ngài sắc chiểu thì chúng tôi hân hạnh vô cùng.

Ngày 18/1/1950

Chu Ân Lai – Bộ trưởng Bộ Ngọai giao Chính phủ nhân dân Trung ương Nước CHND Trung Hoa”.

Và vị Đại sứ đầu tiên ở Việt Nam

La Quý Ba là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương. Ông sinh năm 1907 tại chấn Đàm Khẩu, huyện Nam Khang, tỉnh Giang Tây.

Năm 1925, khi còn là sinh viên Sư phạm Nam Khang, ông đã tham gia hoạt động, năm 1927 là đảng viên và năm 1928 lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nông dân Nam Khang.

1Đại sứ La Quý Ba trình Quốc thư

Những năm 1928 – 1934, tham gia Hồng quân Công nông; từ 1934 – 1936 tham gia Vạn lý Trường chinh. Thời gian 1937 – 1945 là cán bộ sư đoàn và thời kì Nội chiến cách mạng 1946 – 1949 là Chính uỷ Quân đoàn số 7.

Tháng 10/1949 là Chánh Văn phòng Quân uỷ Trung ương. Trước khi sang Việt Nam, ông có nhiều buổi làm việc với ông Lý Ban, liên lạc viên của Đảng ta từ Chiến khu Việt Bắc, vượt qua vòng vây, lên tới Bắc Kinh vào cuối năm đó.

Tháng 1/1950, ông đã có mặt tại Chiến khu Việt Bắc trên cương vị đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 6/1950, ông được Đảng và Chính phủ Trung Quốc cử làm Trưởng Đoàn cố vấn Trung Quốc bên cạnh Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam.

Ông cùng cùng Đoàn cố vấn Trung Quốc đồng cam, cộng khổ với quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp và có nhiều đóng góp quý báu cho cách mạng Việt Nam.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình được lập lại trên tòan cõi Đông Dương. Ngày 18/8/1954, Chính phủ Nước CHND Trung Hoa cử ông La Quý Ba làm Đại sứ tại nước ta.

Ngày 1/9/1954, tại một địa điểm thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên đã long trọng tổ chức lễ trình Quốc thư đầu tiên ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận Quốc thư số 1 do Đại sứ nước ngoài đầu tiên La Quý Ba kính trình.

Do những công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà ông La Quý Ba được Nhà nước ta trao tặng tấm huân chương cao quý nhất. Chính Cụ Hồ là người gắn tấm huân chương này lên ngực ông La Quý Ba.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

“Kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”

 Ngày 16/1/1947, hơn một năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, sau khi chủ trì một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình các mặt trận trên cả nước, thảo luận về việc tổ chức tản cư nhân dân ra khỏi các vùng chiến sự, vấn đề xây dựng nền giáo dục kháng chiến và chăm sóc thương binh…, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”.

Bác Hồ đọc Thơ Chúc Tết tháng 1/1967

Bác Hồ đọc Thơ Chúc Tết tháng 1/1967

Sau “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” ngày 20/12/1946 thì đây là một văn kiện quan trọng của người đứng đầu Nhà nước kêu gọi dân chúng tiếp tục cuộc kháng chiến bằng những việc làm cụ thể và thiết thực.

Văn kiện viết: “Vì sao ta phải kháng chiến? Vì không kháng chiến, thì Pháp sẽ cướp nước ta lần nữa. Chúng sẽ bắt dân ta làm nô lệ lần nữa. Vì ta không chịu làm trâu ngựa cho Pháp, vì ta phải gìn giữ non sông đất nước ta, cho nên ta phải đánh bọn thực dân Pháp. Đánh thì phải phá hoại. Ta không phá thì Pháp cũng phá…

Vì vậy ta phải phá trước, cho Pháp không dùng được. Bây giờ chúng ta phá đi, để chặn Pháp lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng, ta vì nước hy sinh chịu khổ một lúc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, ta sẽ cùng nhau kiến thiết sửa sang lại nào có khó gì.

Vậy tôi thiết tha kêu gọi toàn thể đồng bào ở đây, mọi người đều ra sức giúp phá. Phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc của đồng bào cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy.

Tôi lại trân trọng hứa với đồng bào rằng: kháng chiến thắng lợi rồi, tôi sẽ ra sức cùng đồng bào sửa sang tu bổ lại hết. Chúng ta sẽ làm những đường sá, cầu cống khéo hơn, những nhà cửa tốt hơn, và xứng đáng một dân tộc tự do, độc lập hơn.”

Cuộc “tiêu thổ kháng chiến” được lịch sử ghi nhận như một “tấn bi kịch lạc quan”. Đó là sự mất mát rất to lớn những di sản vật chất nhưng lai biểu dương một nghĩa khí anh hùng.

Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đánh ra miền Bắc, cái tinh thần này tiếp tục được thể hiện trong ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được nêu lên trong lời kêu gọi ngày 17/7/1966 của Bác Hồ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và môt số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn!”.

X&N
bee.net.vn

Một kỳ họp trên Chiến khu

 Ngày 15/1/1948, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng. Nhật ký của Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến thuật lại hội nghị này.

“Ngày 14/8:.. Hôm nay cùng anh em trung uỷ (tức Uỷ viên Trung ương Đảng- X&N) ăn cơm tại nhà Cụ. Bữa cơm vui vẻ quá. Cụ khôi hài tợn.

Cụ cho một cái áo ấm của đồng bào các nơi biếu Cụ nhưng vì sẵn có áo ấm rồi nên Cụ để tặng lại người khác thiếu thốn hơn. Đêm ngủ tại đây, bên cạnh một đống lửa hồng ấm áp quá”.

Bác Hồ đọc thơ chúc Tết tháng 1/1969Bác Hồ đọc thơ chúc Tết tháng 1/1967

Ngày 15/1/1948: Buổi sáng Cụ cặm cụi chế cà phê và cho mỗi người một cốc. Ấm bụng rồi Cụ và các anh em đi đến địa điểm hội nghị. Trong một khoảng rừng khác, một ngôi nhà rộng rãi của đồng bào Mán đã chật cả người. Ai nấy đều ra đón chào Cụ. Anh em gặp nhau sau những ngày vất  vả vì cuộc tấn công của địch (trận tập kích của Pháp lên Bắc Kạn-X&N), vui mừng quá.

Cụ bắt tay mọi người rồi câu chuyện thân mật đậm đà kéo dài chung quanh Cụ trong lúc gió trong rừng hắt vào lạnh thấu xương. Cuộc hội nghị bắt đầu từ 8h30, sau khi làm lễ chào cờ, mặc niệm chiến sĩ vong trận và lễ giới thiệu các trung uỷ và các cán bộ có mặt. Lễ này long trọng quá, trên đỉnh đồi cao và kín…Hội nghị đến tối mò mới nghỉ…”.

Sau Hội nghị Trung ương, Hội đồng Chính phủ họp tiếp dưới sự chủ tọa của Bác cho đến ngày 19/1 bàn nhiều vấn đề quan trọng trong đó có việc phong hàm cấp tướng đầu tiên cho một số cán bộ quân đội và việc phát hành tiền tài chính…

Cũng trong ngày Bác còn viết thư thăm hỏi và động viên một vị quan lang có uy tín của dân tộc Mường là cụ Đinh Công Phủ, trong thư bày tỏ xin biếu một tấm áo trấn thủ do nhân dân gửi biếu nay tặng lại.

X&N
bee.net.vn