Thư viện

Không quân đã đánh là thắng

– Ngày 9/2/1967 là mồng 1 Tết Đinh Mùi, kết thúc “Thư chúc mừng năm mới” Bác lại dành viết mấy vần thơ: “Xuân về xin có một bài ca/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta/ Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi/ Tin mừng thắng trận nở như hoa”.

Buổi sáng hôm ấy, Bác đến thăm đơn vị không quân tiêm kích thuộc Đoàn Sao Đỏ mang phiên hiệu 921.

Trước đó không đầy 3 năm, chỉ một ngày sau khi đế quốc Mỹ quyết định phát động cuộc Chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân trên miền Bắc nước ta (6/8/1964), những chiếc máy bay tiêm kích MIG 17 đầu tiên đã hạ cánh xuống các sân bay của chúng ta.

Ngày 9/2/1967, Bác Hồ thăm bộ đội Không quân nhân dân Việt NamNgày 9/2/1967, Bác Hồ thăm bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam

Đến ngày 9/11/1964 thì toàn bộ Trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên đã về nước và sẵn sàng chiến đấu và trực tiếp nhận nhiệm vụ khi Bác đến thăm đơn vị và căn dặn: “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, biển như Bạch Đằng, Hàm Tử…, trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiêm ấy trước hết là của các chú”.

Ngày 3 và 4/4/1965, các biên đội đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam xuất kích bảo vệ bầu trời Cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá) và lập những chiến công đầu. Bác Hồi đã gửi thư khen (5/4/1965): “Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện khẩu hiệu đã đánh là thắng”…

Cho đến đầu năm 1967 đã có hai đại đội không quân thuộc các đoàn 921 và 923 cùng 3 phi công (Trần Hanh, Nguyễn Văn Bảy và Lâm Văn Lích) được phong tặng Anh hùng. Vào thời điểm ngày Tết, Mỹ đang tạm dừng ném bom…

Về chuyến thăm của Bác, hồi ký của Thiếu tướng Phan Khắc Hy , nguyên chính uỷ Binh chủng Không quân kể lại:

“Sáng mồng một Tết này trời ấm áp, không mưa… Đúng 7 giờ 30 phút, đoàn xe của Hồ Chủ tịch đến. Bác xuống xe, cùng đi có đồng chí Thượng tướng Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng và Nhà thơ Tố Hữu, Bí thư Trung ương Đảng. Đồng chí Tư lệnh báo cáo với Hồ Chủ tịch.

Bác vẫy chào bộ đội, mọi người đồng thanh hô to “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Bác đi duyệt hàng quân. Dừng lại trước một chiến sĩ trẻ, sờ vào áo trấn thủ của anh, Bác hỏi: “Cháu mặc có ấm không ?”. Chiến sĩ trẻ trả lời: “Dạ, có ạ”.

Đi hết lựợt hàng quân Bác đến trước chiếc bàn đã để sẵn quà của Bác tặng bộ đội, Bác nói: “Bác cùng các chú Văn Tiến Dũng, Tố Hữu thay mặt Đảng và Chính phủ đến chúc Tết các chú. Trước hết, chú Tố Hữu sẽ đọc thơ Xuân mừng các chú”.

Đồng chí Tố Hữu đọc cho bộ đội nghe bài thơ “Chào Xuân 1967” vừa sáng tác. Đoạn cuối lời thơ như thúc dục mọi người xung trận: “Ôi sáng xuân nay, như lưỡi gươm trần sáng quắc/ Rạo rực lòng ta, trống trận Quang Trung/ Tổ quốc dục cả hai miền Nam, Bắc/ Hãy xung phong! Hỡi mùa Xuân 1967 anh hùng!”

9-2-1967 là mông 1 Tết Đinh Mùi Bác Hồ thăm và nói chuyện với thiếu nhiax Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnNgày 9/2/1967 là mồng 1 Tết Đinh Mùi, Bác Hồ thăm và nói chuyện với thiếu nhi xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc

Tiếng vỗ tay của bộ đội hoan hô đồng chí Tố Hữu vừa dứt, Bác chỉ tay vào gói quà giữa bàn và nói: “Bác có cái này, ngọt hơn thơ Tố Hữu, tặng các chú… Bác chúc Không quân Nhân dân “Đoàn kết, học tập tiến bộ, đánh giỏi, đạt nhiều thắng lợi mới”… Chỉ vài ngày sau, cuộc chiếu đấu chống trả máy bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội vô cùng quyết liệt…

Cùng ngày 9/2/1967, Bác còn đến thăm đồng bào xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn ( Hà Bắc) và căn dặn: “Chúng ta phải loại trừ cái tệ thiếu dân chủ, loại trừ cái thói quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí”.

X&N
bee.net.vn

Nguồn gốc của tên suối Lê Nin, hang Pác Bó

 Ngày 8/2/1941, Bác Hồ đã trở về nước sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Hồi ký của Lê Quảng Ba viết: “Năm anh em chúng tôi gồm các đồng chí Phùng Chí Kiên, Thế An, Cáp, Lộc và tôi được theo Bác từ Nậm Quang về nước…

Vượt lên một đoạn dốc ngắn rồi xuống một núi dài lởm chởm đá. Tôi nhận ra cây si mọc không xa cột mốc 108. Mốc đá như một tấm bia. Bác dừng lại, cúi đọc chữ Hán và chữ Pháp khắc sâu ở cả hai mặt đá… Người nhìn sâu vào khoảng đất trời Tổ quốc biết bao đẹp đẽ nhưng đầy đau thương…”.

NCayxỏn PhômvihảnNgày 8/2/1966, Bác Hồ tiếp ông Cayxỏn Phômvihản

Được nhân dân địa phương hướng dẫn, ngày 8/2/1941, Bác chọn hang Cốc Bó (tiếng địa phương nghĩa là “đầu nguồn”, còn gọi Pác Bó là tên làng) từ hang có con đường dẫn sang bên kia biên giới và phía dưới chân núi có một con suối chảy ngang…

Nhìn dòng suối, Bác nói với mọi người: “Mình vừa nẩy ra cái ý hay, dòng suối này của ta đẹp quá, trong xanh như ngọc, lại bắt nguồn từ đây, nên đặt tên là suối Lê Nin. Còn ngọn núi hùng vĩ phía sau, bên phải kia, chúng ta gọi là núi Các Mác…”.

Ra đi từ một cửa biển cực Nam của đất nước với “hai bàn tay trắng” vào mùa Hè năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành mới rời bục giảng để bước vào cuộc đời thợ thuyền chưa được bao lâu đã phải đứng trước một câu hỏi: “Lấy tiền đâu để mà đi?”. Đó là câu hỏi của người bạn đã nhận lời cùng đi nhưng rồi bỏ cuộc. Chìa hai bàn tay trắng và câu trả lời là: “Bằng hai bàn tay này, ta sẽ làm tất cả mọi việc, để đi, để học hỏi và để trở về…”.

Và đúng 30 năm sau, vào mùa Xuân năm 1941 Bác trở về tại một điểm cực Bắc của Tổ quốc nhưng với một niềm tin mãnh liệt như bài thơ viết tại Cốc Bó trong đó nhắc đến hai bàn tay của mình: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lê Nin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà”.

Chính tại Pác Bó, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (5/1941) để đưa ra Cương lĩnh của Mặt trân Việt Minh làm ngọn cờ Đại đoàn kết toàn dân để thực hiện thắng lợi mục tiêu giải phóng dân tộc.

X&N
bee.net.vn

Bức điện cuối cùng của Bác Hồ gửi Quốc trưởng Campuchia

 – Ngày 7/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Quốc trưởng Vương quốc Campuchia Norodom Sihanouk để cảm ơn sự ủng hộ đối với lập trường của Việt Nam tại cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris. Đây cũng là văn kiện cuối cùng trong mối giao tiếp hữu nghị với người đứng đầu Vương quốc láng giềng.

Chỉ hơn nửa năm sau, ngày 2/9/1969 nhà lãnh đạo Việt Nam qua đời. Ngày 9/9/1969, Quốc trưởng Sihanouk đã có mặt tại Hà Nội để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và sau rất nhiều biến cố lịch sử, trong hồi ký “Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơ me Đỏ” viết sau này, Cựu vương Sihanouk đã bày tỏ:

“Từ buổi dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi được vinh dự đứng túc trực bên cạnh linh cữu. Tôi sực nhớ đến câu nói của Người mà tôi cho rằng không gì đúng hơn . Đó là câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh(2/1965)Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh (2/1965)

Cụ Hồ là một bậc cách mạng lão thành, xuất thân từ tầng lớp bình dân. Tôi là một nhà quý tộc thuộc dòng dõi quân chủ lâu đời nhất ở Campuchia. Cụ với tôi không chung thế hệ, bởi vì Cụ hơn tôi tới ba chục tuổi. Nhưng Cụ và tôi đều cùng chung nguyện vọng muốn cho nước nhà độc lập. Để đạt mục đích này, Cụ đã chọn con đuờng cách mạng gay go ác liệt. Còn tôi, một con người trẻ tuổi lại rất sợ đổ máu. Nhưng cuối cùng chính Cụ đã dạy cho chúng tôi bài học là tất cả các thế lực đế quốc chỉ cho các dân tộc bị chúng áp bức một con đường duy nhất để giành lại tự do. Đó là con đưòng đấu tranh vũ trang mà Hồ Chí Minh đã xác định”.

Cũng trong tập hồi ký này, Norodom Sihanouk còn viết : “Từ lâu tôi đã rất ngưỡng mộ Bác Hồ. Người không chỉ thuộc về nhân dân Việt Nam mà là cả Đông Dương, cả châu Á và có thể là cả thế giới, bởi vì Người luôn luôn bảo vệ những quyền lợi của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa cũng như quyền lợi của những người da đen ở Mỹ.

Đối với riêng tôi, Người cũng là “đồng chí”. Người đã gửi cho tôi những bức thư trìu mến và tôi cũng luôn mong được gặp Người, nhất là trong những năm gần đây tôi thường đề nghị có cơ hội đi thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Nhưng các bạn Việt Nam nói Mỹ đang ném bom miền Bắc Việt Nam, một chuyến đi thăm như vậy là rất nguy hiểm đối với tôi.

Tôi đáp lại: “Thì đây chính là dịp để tôi biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam”. Các bạn Việt Nam vẫn khẳng định: ”Ngài là Quốc trưởng Campuchia và cũng là người bạn lớn của Việt Nam. Chúng tôi phải chịu trách nhiệm trước nhân dân nước Ngài vì những trận ném bom của Mỹ”.

Và thế là mãi mãi tôi không bao giờ được gặp Chủ tịch Hồ nữa… Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

X&N
bee.net.vn

Mùng 1 Tết cách nay 49 năm

– Ngày 6/2/1951 là mồng 1 Tết Tân Mão, trên báo “Cứu Quốc” của Mặt trận Liên Việt ra trước đó 1 ngày đã đăng “Thư chúc Tết” của Bác Hồ mang tinh thần phấn khởi sau chiến thắng của Chiến dịch Biên giới, cuộc kháng chiến bắt đầu có được nguồn lực của bè bạn quốc tế:

“Xuân này kháng chiến đã 5 xuân/ Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công/ Toàn dân hăng hái một lòng/ Thi đua chuẩn bị Tổng phản công kịp thời”.

Bác đến dự liên hoan tại Câu Lạc bộ thiếu nhi đêm giao thừa Nhâm Dần tháng 2/1962Bác đến dự liên hoan tại Câu Lạc bộ thiếu nhi đêm giao thừa Nhâm Dần tháng 2/1962

Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại ngày Tết kháng chiến thứ 5 của Bác: “Mùng Một Tết Tân Mão. Vừa sáng, Hồ Chủ tịch đã dậy và đến phòng các vị bộ trưởng, thứ trưởng bắt tay và chúc Tết từng người một. Riêng Bộ Tài chính, Cụ chúc năm mới “phát tài”. Mọi người đều vui mừng và bắt tay Cụ trong phòng ngủ.

Một vài vị ngủ trưa (dạy muộn) bị Cụ “đột kích” chồm dậy mắt nhắm mắt mở nhảy xuống bắt tay Cụ và bập bẹ một câu nửa mê nửa tỉnh làm ai nấy cười rộ. Ăn sáng xong, Hội đồng Chính phủ họp…”.

Đây là cái Tết thứ hai các thành viên chính phủ ăn Tết chung, lần trước là Tết Đinh Hợi (1947) họp tại Quốc Oai (thuộc tỉnh Hà Đông, gần Hà Nội) lần này trên chiến khu Việt Bắc, lần trước đang đối phó với sự tấn công của giặc, lần này đã khai thông biên giới chuẩn bị Tổng phản công.

Tại kỳ họp Chính phủ này sau khi nghe chúc Tết của đại diện Quốc Hội (cụ linh mục Phạm Bá Trực), đại diện Chính phủ (cụ Phan Kế Toại, bộ trưởng cao niên nhất) và của Quân đội (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), “Đến lượt Hồ Chủ tịch cám ơn và chúc mọi người. Cụ cho mang vào một mâm cam và biếu mỗi vị một quả với câu “khổ tận cam lại” (khổ mãi rồi cái sướng sẽ đến)… Cụ lại dặn các vị có gia đình thì đem về làm quà cho gia đình…” Cuộc họp kéo dài đến tối.

Tối hôm đó “Hồ Chủ tịch và các vị bộ trưởng, thứ trưởng chơi lửa trại. Hồ Chủ tịch bắt mỗi người đều có một trò chơi, hoặc làm thơ, hoặc nói chuyện hoặc hát. Bắt đầu là Hồ Chủ tịch rồi đến các vị khác theo thứ tự ABC…”. Ngày hôm sau Chính phủ tiếp tục họp cho đến 1 giờ chiều và mọi người lên đường tới địa điểm chuẩn bị cho cuộc họp trù bị Đại hội lần thứ Hai của Đảng diễn ra vài ngày sau đó.

Cùng trong ngày mùng Một Tết Tân Mão, Bác còn viết nhiều lá thư chúc Tết các đơn vị quân đội và đồng bào miền Trung Du vừa dành thắng lợi trong trên chiến trường và ký vài sắc lệnh liên quan đến việc giúp vốn cho người nghèo tăng gia sản xuất và giảm án tử hình cho một phạm nhân…

Ngày 6/2/1969, 10 giờ 15 phút, tại Phủ Chủ tịch, Bác làm việc với Đài phát thanh để ghi lời chúc mừng năm mới để phát vào phút giao thừa bước sang Xuân Kỷ Dậu, mùa Xuân cuối cùng với câu thơ kết thúc bằng một viễn cảnh tươi sáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: “Bắc Nam xum họp Xuân nào vui hơn!”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ làm thơ phân tích tình hình thế giới

– Ngày 5/2/1943 ứng với ngày 1 Tết Quý Mùi (1943), bài thơ “Mừng năm mới” vốn được đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” số đầu năm dương lịch, đã đến với nhân dân trong không khí đang sục sôi cách mạng.

Bài thơ là một bản phân tích tình hình thế giới và đón chờ cơ hội: “Một nghìn chín trăm bốn mươi ba/ Năm mới tình hình hẳn mới/ Đông Á chắc rồi Tàu thắng Nhật/ Tây Âu nhất định Đức thua Nga/ Nhân dân các nước đều bùng dậy/ Cách mệnh nhiều nơi sẽ nổ ra/ Đức, Nhật chết, rồi Tây cũng chết/ Ấy là cơ hội tốt cho ta/ Ấy là cơ hội tốt cho ta/ Cơ hội này ta chớ bỏ qua/ Phấn đấu hy sinh đừng quản ngại/ Tuyên truyền tổ chức phải xông pha/ Đồng tâm một triệu người như một/ Khởi nghĩa ba kỳ giậy cả ba/ Năm mới quyết làm cho nước mới/ Non sông Hồng Lạc gấm thêm hoa”.

5-2-1966 HCM và Thủ tướng PVĐồng thăm đơn vị bộ đội công binh đang diễn tập bắc cầu phao vượt sNgày 5/2/1966 Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm đơn vị bộ đội công binh đang diễn tập bắc cầu phao vượt sông.

Chỉ 3 năm sau, lời thơ Chúc Tết năm Quý Mùi đã trở thành hiện thực và Tết Bính Tuất 1946 đã trở thành Tết Độc lập đầu tiên dân tộc Việt Nam.

Ngay trong ngày mùng một Tết Bác đã viết thư gửi Hội nghị Nông vận và Dân vận toàn quốc, một lần nữa xác định “Nông dân lao động là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân”

Ngày 5/2/1962, lại ứng với mồng 1 Tết Nhâm Dần giữa lúc đất nước Việt Nam đang thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, bài “thơ mừng năm mới” của Bác là một lời chúc: “Năm Dần, mừng Xuân thế giới/ Cả năm châu phấp phới cờ hồng/ Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi/ Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong/ Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới/ Sức triệu người hơn sóng Biển Đông/ Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi/ Hoà bình thống nhất quyết thành công”.

Trong ngày, Bác thăm và chúc Tết tại công trường xây dựng Nhà máy bê tông đúc sẵn Chèm và buổi chiều đến dự buổi sinh hoạt ngâm thơ mừng Xuân của phụ lão Hà Nội. Bác góp một vần thơ: “Tuổi già nhưng chí không già/ Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”.

X&N
bee.net.vn

Chuyến xuất ngoại đầu tiên ngoài “phe” XHCN

– Ngày 4/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu phái đoàn của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lên đường đi thăm chính thức Cộng hoà Ấn Độ và Liên bang Miến Điện (nay gọi là Myanmar).

Đây là chuyến xuất ngoại đầu tiên của Bác cùng đoàn chính phủ ta sang thăm chính thức những quốc gia châu Á nằm ngoài “phe” xã hội chủ nghĩa và là những nước có vai trò quan trọng ở lục địa này.

Bối cảnh khi đó là nguy cơ Hiệp định Generve bị vô hiệu hoá do sự phá hoại của Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà Ấn Độ đang là Chủ tịch của Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam.

4-2-1958 HCM thăm cộng hòa Ấn Độ, nhân dân thủ đô Đêli nhiệt liệt chào mừng.jpgNgày 4/2/1958, Bác thăm cộng hòa Ấn Độ, nhân dân thủ đô Dêli nhiệt liệt chào mừng.

Hơn thế, chuyến đi này cũng nhằm đáp lại thịnh tình của Thủ tướng Ấn Độ J.Nerhu đã đến thăm Hà Nội, ngay sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1954). Đây cũng là nguyên thủ quốc gia đầu tiên sang thăm chính thức nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kể từ khi nước Việt Nam độc lập (1945).

Trước khi rời Hà Nội, Bác nêu rõ mục đích của chuyến đi nhằm “thắt chặt hơn nữa tình hữu nghị giữa Việt Nam, Ấn Độ và Miến Điện, đồng thời để tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc Á – Phi, do đó thêm lực lượng giữ gìn hoà bình thế giới”. Bác nhấn mạnh vai trò của Ấn Độ “là một nước rất to và nhân dân Ấn Độ rất anh dũng”. 23 giờ đêm máy bay mới tới thành phố Calcuta của Ấn Độ.

Cũng cần nói thêm rằng Calcuta là thành phố mà Bác đã dừng chân trên hành trình sang Pháp năm 1946, nhưng lúc đó Ấn Độ vẫn còn là thuộc địa của đế quốc Anh. Với đất nước và nhân dân Ấn Độ, Bác còn có mối thâm tình với một nhà lãnh đạo phong trào dân tộc nổi tiếng của quốc gia đông dân hàng thứ 2 ở châu Á và thế giới nay là Mahatma Gandhi (dân gian gọi là Thánh Cam Địa). Bác đã gặp cụ thân sinh ra M.Gandhi tại Hội nghị của Liên đoàn Quốc tế chống chiến tranh tranh họp tại Brussels (Bỉ).

Tháng 11/1942, trong lúc bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa giam cầm, Nguyễn Ái Quốc  đã viết bài thơ “Gửi Nê-ru” cho thấy tình cảm của nhà cách mạng Việt Nam với người đồng chí Ấn Độ (bản dịch từ chữ Hán): “Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động/ Anh phải vào lao, tôi ở tù/ Muôn dặm xa với chưa gặp mặt/ Không lời mà vẫn cảm thông nhau/ Đôi ta cảnh ngộ vốn không khác/ Cảnh ngộ giờ đây khác bội phần/ Tôi chốn lao tù người bạn hữu/ Anh trong gông xích bọn cừu nhân”.

Tháng 9/1946, trên đuờng từ Pháp trở về nước bằng đường thuỷ, khi tàu đi ngang Ấn Độ Dương, nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Bác có gửi điện tới  J.Nerhu lúc này đã trở thành Thủ tướng Chính phủ tại New Delhi “để gửi lời chào anh em tới Ngài và nhân dân của dân tộc Ấn Độ vĩ đại” và bức điện gửi Mahatma Gandhi gửi lời “chúc mừng nồng nhiệt nhất nhân kỷ niệm lần thứ 77 ngày sinh của Ngài và chúc Ngài trường thọ 2 lần 77 tuổi”…

Trong lần đến thăm chính thức này, ngay trong ngày đầu tiên (5/2), Bác đã đến viếng mộ của Mahatma Gandhi và trồng một cây địa mang từ Việt Nam sang làm kỷ niệm. Còn khi đón tiếp Bác, Thủ tướng Ấn Độ J.Nerhu đã phát biểu:

“Hỡi nhà chính trị vĩ đại của nhân dân! Cũng như người cha vĩ đại cuả dân tộc chúng tôi là Thánh Grandhi. Ngài là biểu hiện của một đời sống đơn giản, thanh cao và khắc khổ. Chúng tôi hết lòng cầu với thượng đế rằng cuộc viếng thăm lịch sử của Ngài đến đất nước này sẽ đúc nên những giây chuyền vàng bằng hữu nghị để thắt chặt hai dân tộc chúng ta trong tình nghĩa anh em chói lọi. Tình hữu nghị vĩ đại giữa Ấn Độ và Việt Nam sẽ tiêu diệt những tội ác như chiến tranh, thù oán, tham lam và chủ nghĩa thực dân độc ác…”.

X&N
bee.net.vn

“Quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

– Ngày 3/2/1964, nhân kỷ niệm 34 năm thành lập Đảng, trên báo Nhân Dân, Bác đăng bài “Mừng Đảng ta 34 tuổi”. Bài viết được mở đầu bằng 2 vần thơ: “Công đức Đảng ta như biển rộng, như trời cao/ Băm tư năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Và 5 năm sau, ngày 3/2/1969, báo Nhân Dân đăng bài viết cuối cùng của Bác (với bút danh T.L), nhân kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng với nhan đề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký riêng cho biết: Bài viết này được Bác tâm niệm muốn viết từ lâu và lúc đầu, tên bài viết, Bác đặt vấn đề “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” lên trên yêu cầu “nâng cao đạo đức cách mạng”. Nhưng sau đó theo yêu cầu của Ban biên tập báo Đảng, đầu đề mới được sửa lại như trên.

Bài viết hoàn thành ngày 1/2, được đăng vào số đặc biệt kỷ niệm thành lập Đảng như một vấn đề quan trọng mà Bác thấy cần đuợc quan tâm và coi như một nhiệm vụ cấp bách.

Bài báo viết: “Nhân dân ta thường nói: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta. Sau khi nêu lên những đảng viên gương mẫu thuộc nhiều thế hệ đã tham gia chiến đấu hy sinh làm nên những thắng lợi của cách mạng mà Bác coi: “Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”.

Bài báo đã đề cập tới một thực tế là: “Còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ ham danh trục lợi, thích địa vị, quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời thực tế, mắc bênh quan liêu mệnh lệnh…” và nhiều biểu hiện khác …

Bài báo phân tích những biện pháp khắc phuc là “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ… Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng…”.

Đây cũng là lần cuối cùng Bác viết bài nhân kỷ niệm thành lập Đảng nên cũng được coi là những di ngôn của người sáng lập và lãnh đạo một chặng đường dài cách mạng nước ta đối với tổ chức cách mạng của mình.

X&N
bee.net.vn

“Dân ta phải biết sử ta”

– Ngày 1/2/1942, trên báo “Việt Nam Độc lập” phát hành tại chiến khu, Bác viết bài “Nên học sử ta”. Bài báo mở đầu bằng 2 câu thơ: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” cũng là câu mở đầu của tập diễn ca “Lịch sử nước ta” được “Việt Minh Tuyên truyền Bộ” xuất bản vào cùng tháng 2/1942.

Bài báo viết: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những truyền thống vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời …

Ngày 1/2/1959, trong dịp thăm Liên Xô, Bác nói chuyện với sinh viên Việt Nam tại hội trường Đại học Lomonoxop

Ngày 1/2/1959, trong dịp thăm Liên Xô, Bác nói chuyện với sinh viên Việt Nam tại hội trường Đại học Lomonoxop.

Đời nào cũng có người anh hùng mưu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nước. Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.

Người già như ông Lý Thường Kiệt, quá 70 tuổi mà vẫn đánh Đông dẹp Bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân…. Thiếu niên như Phù Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi. Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên. Phụ nữ thì có Bà Trưng, Bà Triệu ra tay khôi phục giang san.

Những vị anh hùng cứu nước ấy, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị anh hùng dân tộc ấy mà nước ta được tự do, độc lập, lừng lẫy ở Á Đông.

Sau khi lên án Vua Gia Long “đem nước ta bán cho Tây” và biểu dương những người đánh Tây như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, bài báo kết thúc bằng một lời tổng kết:

“Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do/ Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” và kêu gọi: “Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây – Nhật, khôi phục lại độc lập, tư do”.

27 năm sau, ngày 1/2/1969, khi làm việc với Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp để trao đổi về bài “Tết trồng cây” mà năm nào Bác cũng viết để cổ vũ phong trào, Bác Hồ đã nhắc nhở việc giữ gìn tiếng Việt: “Tiếng nói và chữ viết của dân tộc ta giàu, đẹp, nếu thiếu thật mới đi mượn chữ nước ngoài”.

X&N
bee.net.vn

Thử thách mới sau khi thoát khỏi nhà tù thực dân

– Ngày 31/1/1933, Thống đốc Hồng Kông Uyliam Pin đã gửi văn bản tới Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh báo cáo lại toàn bộ những giải pháp mà chính quyền “buộc phải giúp đỡ để đưa” Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) trở về với nước Nga vào hơn một tuần trước đó (22/1), sau khi Toà án Hoàng gia đã phán quyết phải trả tự do cho nhân vật mà bộ máy mật thám của Pháp đang truy nã.

Đây được coi là văn kiện cuối cùng liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”. Nó cho thấy sự khôn ngoan của nhà cách mạng Việt Nam cũng như những thủ thuật mà những người Anh có cảm tình với Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc đồng thời là danh xưng chính thức trong vụ án) đã “lách luật” để không đẩy nhân vật này vào tay nhà cầm quyền Pháp đang giăng bẫy và gây sức ép với Chính phủ Anh.

Ngày 31-01-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm gia đình cụ Công Thị Tý, (xã Phú Thượng nay là phườngNgày 31/01/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm gia đình cụ Công Thị Tý, xã Phú Thượng

Văn bản của Thống đốc Anh cho biết: “Các luật sư của Nguyễn Ái Quốc ở đây được thông tin về câu giải thích sai bức điện ngày 8/10 (1932) của Ngài (Bộ trưởng Thuộc địa Anh Phililip Lister) rằng việc cho phép Nguyễn Ái Quốc đến Anh không bị từ chối”. Văn bản còn cho biết Nguyễn một mực yêu cầu chỉ rời Hương Cảng bằng các tàu biển Xô Viết nhưng do không có tuyến đường này nên đã phải xuống tàu đi Singapore. Ngay sau đó chính quyền sở tại sợ rắc rối với Pháp nên buộc Nguyễn Ái Quốc phải quay trở lại Hồng Kông và bị bắt lại.

Tuy nhiên, do Toà án Hoàng gia đã có quyết định thả tự do nên các luật sư đã thông báo cho nhà cầm quyền Hồng Kông biết rằng thân chủ của họ sẽ rời Hồng Kông bằng tàu “An Huy” trên hành trình đến Thượng Hải (vào hồi 5 giờ chiều ngày 22/1/1933).

Viên thống đốc đã giúp đỡ bằng cách kiếm một chiếc tàu không phải của chính quyền để Nguyễn Ái Quốc tự lựa chọn cách tiếp cận tàu “An Huy” và tự tìm cách rời khỏi Hồng Kông. Cuối cùng, Nguyễn đã tìm được cách trở về với nước Nga.

Đến tận ngày 25/3/1933, bộ máy cảnh sát của Pháp và các thuộc địa mới phát lệnh truy nã trong đó viết: “Tin tình báo: Nguyễn Ái Quốc bị bắt lần đầu tiên tại Hồng Kông ngày 6/6/1931 đã được nhà cầm quyền Anh phóng thích và trục xuất khỏi Hồng Kông”.

Trong bản báo cáo “tuyệt mật” của Trưởng phòng Đông Dương của Quốc tế Cộng sản gửi Ban Thư ký Phương Đông và Ban Chấp hành QTCS cho biết: “…Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã trải qua 2 năm ở nhà tù… Sau một thời gian trong tù, có tin về cái chết của Quốc. Năm 1932 lại xuất hiện tin mới là Ái Quốc không chết, đã ra tù và biến mất… Tháng 6/1934, Ái Quốc đến Matxcơva… Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ đồng chí Vaillant Couturier (lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp) trong thời gian ở Trung Quốc. “

Sau đó Nguyễn Ái Quốc được chuyển tới Trường nghiên cứu Lenin để tiếp tục công việc học tập lý luận… Và những thử thách tiếp tục cho đến khi nhà cách mạng Việt Nam tìm được cách đi qua Trung Quốc (1938) rồi trở về Việt Nam (1941) trực tiếp chỉ đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trên quê hương của mình (1945).

X&N
bee.net.vn

“Những yêu sách của nhân dân An Nam”

 Ngày 30/1/1919, Văn phòng Tổng giám đốc Sở An ninh Pháp viết một bản báo cáo về phong trào đòi độc lập của người Đông Dương đang cư ngụ ở Pháp. Bản báo cáo cho biết: Nguyễn Ái Quốc dùng tiền riêng của mình thuê in 6000 bản “Những yêu sách của nhân dân An Nam” (Les Revendications du Peuple d’ Annam) để phân phát trong các cuộc mít tinh ở Paris và một số thành phố khác.

Đây là văn bản của “Nhóm những người yêu nước An Nam” ở Pháp bao gồm 5 nhân vật chủ chốt được đồng bào tôn là “Ngũ Long” (5 con rồng) bao gồm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành. Bản yêu sách đòi hỏi với việc nước Pháp chiến thắng trong cuộc Đại chiến I nên: “Một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với những dân thuộc địa”, đồng thời đưa ra 8 yêu sách cụ thể là:

30-1-1965 HCM dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Đảng Lao động VN.jpg 43K   Xem   Tải xuống   Ngày 30/1/1965, Bác Hồ dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam.

1.“Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hòn toàn các tờ án đặc biệt làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và hội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ”.

Cuối văn kiện này kêu gọi nước Pháp sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình với một nước Pháp văn minh và đối với nhân loại.

Văn bản này được ký bằng cái tên chung là: “Nguyễn Ái Quốc”. Tuy nhiên, kể từ khi Bộ trưởng Thuộc địa, vốn là Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut yêu cầu tác giả “Nguyễn Ái Quốc” lên gặp tại văn phòng thì chỉ có Nguyễn Tất Thành đến và kể từ đó tên gọi này đã trở thành một biệt danh đầy tính chiến đấu và kiên cường cách mạng của nhân vật sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Và gần nửa năm sau, ngày 18/6/1919, Văn bản này đã được Nguyễn Ái Quốc gửi tới Tổng thống Hoa Kỳ Wilson lúc này đang có mặt tại Paris để tham dự Hội nghị Versailles, nơi các nước thắng trận phân chia quyền lực kẻ bại trận và thế giới.

Mặc dầu những nội dung của bản yêu sách này mới đề cập tới những đòi hỏi còn thấp so với quyền độc lập tự do, những trong bối cảnh lúc đó, văn bản này thực sự là một dấu hiệu mang tính chất một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và kể từ đó trên vũ đài chính trị quốc tế và trong lịch sử hiện đại Viêt Nam xuất hiện tên tuổi “Nguyễn Ái Quốc” như biểu tượng của cuộc sự nghiệp Cách mạng giải phóng dân tộc xuyên suốt nửa đầu thế kỷ XX.

X&N
bee.net.vn

Hai bài thơ chúc Tết thời kháng chiến

 Ngày 29/1 ứng với 2 ngày mùng 1 Tết Nguyên đán của năm Kỷ Sửu (1949) và Mậu Thân (1968).

Tết Kỷ Sửu vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã vượt qua thách thức của thời kỳ cầm cự, bài “Thơ chúc Tết” của Bác Hồ, người đứng đầu lực lượng kháng chiến mang đầy tinh thần khích lệ và lạc quan: “Kháng chiến lại thêm một năm mới/ Thi đua yêu nước thêm tiến tới/ Động viên lực lượng và tinh thần/ Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi/ Người người thi đua/ Ngành ngành thi đua/ Ngày ngày thi đua/ Ta nhất định thắng!/ Địch nhất định thua!”.

Ngày 29/1/1960, Bác Hồ thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam.Ngày 29/1/1960, Bác Hồ thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam.

Cũng nhân ngày Tết Nguyên đán, từ chiến khu Việt Bắc, Bác gửi “Thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm thời bị địch chiếm”. Bằng những lời lẽ thống thiết, thư viết: “… Trong ngày xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào…

Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào tạm lâm vào hoàn cảnh ấy vì lũ thực dân hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân…

Nhân dịp năm mới, tôi trịnh trọng tuyên bố với đồng bào rằng: Chính phủ và quân đội ta kiên quyết kháng chiến đến cùng, để tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để mau mau giải phóng đồng bào ra khỏi lầm than…”.

19 năm sau, ngày 29/1/1968 chính là ngày “Tết Mậu Thân” ngày nay đã trở thành một thuật ngữ sử học gắn liền với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn bộ chiến trường miền Nam. Theo người thư ký thân cận là ông Vũ Kỳ thì vào thời điểm giao thừa này Bác không có mặt ở trong nước.

Ông viết: “Tối nay từ Bắc Kinh xa xôi, hai bác cháu lại ngồi im lặng bên nhau nghe tin tức, ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Chắc Bác đang nhớ về đất nước, nhớ chiến sĩ và đồng bào, nhớ các cháu thiếu nhi… Chỉ có mùa Xuân này Bác phải xa Tổ quốc…

Có tiếng pháo nổ ran tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Cùng lúc, từ chiếc đài bán dẫn, lời chúc Tết của Bác Hồ vang lên sang sảng: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng lợi tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta”. Trong căn phòng chỉ có 2 người… khi đài phát xong câu cuối của bài thơ, tôi bỗng nghe Bác nói khẽ “Giờ này, miền Nam đang nổ súng…”.

Giờ đây nhìn lại trận quyết chiến chiến lược này, lịch sử nói đến những hy sinh to lớn và cuộc chiến đấu còn gian khổ phải thêm 7 năm nữa mới tới ngày toàn thắng (1975), nhưng điều có thể khẳng định rằng nó đã tạo nên một bước ngoặt căn bản đánh bại ý chí xâm lược và buộc Mỹ phải bước vào cuộc hội đàm ở Paris.

X&N

bee.net.vn

“Người đời không phải là thánh thần”

– Ngày 28/1/1946, trên báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên dưới một văn kiện có tựa đề là “Tự phê bình”.

Đó là một văn bản kiểm điểm lại tình hình đất nước kể từ sau cuộc Cách mạng giành chính quyền thành công với 4 tháng phấn đấu không biết mệt mỏi của nhân dân và Chính phủ. Trên từng lĩnh vực chính trị, xây dựng thể chế, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, chăm lo đời sống nhân dân… tuy đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng trong văn kiện này, người đứng đầu chính phủ vẫn “tự phê bình”:

Bác Hồ và Tổng bí thư Trường Chinh tháng 1/1955.Bác Hồ và Tổng bí thư Trường Chinh tháng 1/1955.

“Vì yêu mến và tin cậy tôi mà đồng bào giao vận mệnh nuớc nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bến bờ hạnh phúc của nhân dân. Nhờ sức đoàn kết của toàn dân mà chúng ta tranh được độc lập. Nhưng Chính phủ vừa ra đời thì liền gặp những hoàn cảnh khó khăn…

Trước hoàn cảnh khó khăn đó, đồng bào đã cố gắng, người giúp sức, kẻ giúp tiền. Còn tôi thì lo lắng làm tròn nhiệm vụ của mình sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn, đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào… Chính phủ do tôi đứng đầu chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân ”.

Phân tích tình hình đất nước, vị Chủ tịch Chính phủ thẳng thắn đánh giá: “Có thể nói rằng: Những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này lẽ khác. Nhưng không, tôi phải nói thật: Những thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi.

Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi. Từ nay, tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ. Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Có thể nói đây là một thông điệp rất minh bạch của người đứng đầu Nhà nước quan niệm về một thể chế dân chủ và ứng xử của những người có trách nhiệm đối với nhân dân của mình.

X&N
bee.net.vn