Vĩnh Yên trong Cách mạng Tháng tám, kháng chiến chống thực dân Pháp

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, để lãnh đạo phong trào cách mạng ở Thị xã lên một bước cao hơn đòi hỏi phải có một tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo.

Trước yêu cầu đó, Ban cán sự Đảng Thị xã Vĩnh Yên được thành lập vào tháng 4/1941. Ban cán sự gồm có 3 đồng chí, do đồng chí Đỗ Đạc làm Bí thư.

Ban cán sự có nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng ở Thị xã, tập hợp những thanh niên, học sinh, dân nghèo và tổ chức phản đế tiến hành những cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật.

Từ năm 1940 trở đi phong trào cách mạng diễn ra liên tục rộng khắp. Đến tháng 6/1945 phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ ở Tích Sơn, Khai Quang, Định Trung… không khí chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền ở Thị xã đã sục sôi.

* Cách mạng tháng Tám và cuộc đấu tranh chống quân Tưởng, tay sai (8/1945 – 8/1946).

Ngày 31/8/1945 hàng vạn quần chúng trong đó có hàng ngàn tự vệ và du kích đã giương cao cờ đỏ sao vàng từ nhiều hướng tiến về Thị xã giành chính quyền nhưng khởi nghĩa không thành công do thời cơ khởi nghĩa không đúng, quân Tưởng đã kéo vào Thị xã. Do đó Vĩnh Yên phải kiên trì, anh dũng chiến đấu chống quân Tưởng và tay sai phản động, sau đó đã giành được chính quyền về tay nhân dân vào 31/8/1946.

Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng ngay chính quyền dân chủ nhân dân bằng cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ngày 23/12/1945 nhân dân Thị xã Vĩnh Yên đã nô nức tham gia bầu cử. Chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập thông qua bầu cử của nhân dân. Đó là cơ sở chính trị để chúng ta bước vào giai đoạn cách mạng mới, bảo vệ thành quả cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội, nhân dân đã tiến hành bầu cử HĐND và UB hành chính từ cấp tỉnh đến cấp xã. Tháng 4/1946 các đơn vị cơ sở đã bầu cử HĐND và UB hành chính.

Sau hơn 1 năm đấu tranh gian khổ, khó khăn, nhân dân Vĩnh Yên đã quét sạch quân Tưởng và tay sai, đập tan âm mưu của kẻ thù, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên của Thị xã. Vĩnh Yên bước vào thời kỳ củng cố và xây dựng lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
* Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1947 – 1954).

Thực hiện Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch, nhân dân Vĩnh Yên đã tích cực tăng gia sản xuất, giải quyết nạn đói, quyên góp tiền vàng, ủng hộ kháng chiến, xoá nạn mù chữ. Đồng thời tiếp tục củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.
Tháng 4/1949 cử tri Vĩnh Yên đã hăng hái đi bầu cử HĐND cấp xã khoá II, nâng cao một bước hiệu lực của chính quyền dân chủ nhân dân.

Ngày 18/8/1949 thực dân Pháp đánh chiếm thị xã Vĩnh Yên, nhân dân Vĩnh Yên bước vào cuộc kháng chiến bảo vệ quê hương.

Quân và dân Vĩnh Yên đã tích cực chủ động kết hợp với bộ đội chủ lực đánh địch nhiều trận.

Từ ngày 26/12/1950 – 17/1/1951 Bộ đội chủ lực mở chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo) địa bàn chủ yếu nằm trên đất Vĩnh Phúc. Quân và dân Vĩnh Yên đã tham gia cùng bộ đội chủ lực đánh một số trận nổi tiếng.

Ngày 15/1/1951 tiến hành phục kích đánh địch ở Mậu Thông (Khai Quang). Đặc biệt là trận đánh tiêu diệt địch ở núi Đinh đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như một chiến công vang dội.

Những trận đánh vang dội của quân và dân Vĩnh Yên đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng lớn của chiến dịch Trung du, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, giải phóng 9 xã, 3 thôn, mở rộng cơ sở kháng chiến ở 353 thôn khác trong tỉnh.

Từ cuối năm 1951 đến năm 1954, quân và dân Vĩnh Yên đã tổ chức nhiều đợt tấn công địch cả về chính trị, quân sự và binh vận.
Ngày 7/5/1954 tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp bị tiêu diệt, đây là thời cơ thuận lợi để toàn quân và dân ta trên khắp đất nước đứng lên đánh đuổi quân Pháp.

Đến giữa tháng 7, quân địch ở Vĩnh Yên hoang mang, dao động cao độ, chúng rút dần lực lượng về Hà Nội để tránh bị bộ đội ta tấn công tiêu diệt.
9h30 phút ngày 31/7/1954 tên lính Thực dân Pháp cuối cùng đã phải rút khỏi Thị xã. Thị xã đã tổ chức mít tinh rầm rộ chào mừng thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp.

5 năm trực tiếp kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Vĩnh Yên đã tổ chức đánh địch trên 30 trận lớn nhỏ, trong đó có những trận đánh nổi tiếng đi vào lịch sử quân đội như trận đánh ở núi Đinh, trận phục kích địch ở xã Hạnh Phúc (phường Khai Quang ngày nay).

Trong kháng chiến Vĩnh Yên đã tiễn đưa 480 thanh niên lên đường nhập ngũ, huy động 1400 người tham gia dân công hoả tuyến, trong đó có nhiều chiến sỹ đã lập công lớn. Tiêu biểu là chiến sỹ Hoàng Cầm ở xã Tam Đảo là người phát minh ra bếp Hoàng Cầm cho quân đội ta và được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc. Vĩnh Yên có 205 liệt sỹ, 78 thương binh, 8 gia đình có công với nước, 34 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đảng bộ và nhân dân thị xã đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba. Ngày 10/4/2001 Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Thị xã Vĩnh Yên vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp xâm lược.

Theo vinhyen.vinhphuc.gov.vn
dostquangtri.gov.vn

Lễ báo công dâng Bác của cán bộ Công đoàn cơ sở giỏi Công ty VinaPhone

Sáng ngày 25/8/2012, trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Đoàn đại biểu cán bộ công đoàn cơ sở giỏi giai đoạn 2008-2012 của Công ty VinaPhone đại diện cho 2.365 cán bộ, công nhân viên công ty đã tổ chức lễ báo công dâng Bác những thành tích đã đạt được.

Vinaphone1Lễ báo công dâng Bác của
cán bộ Công đoàn cơ sở giỏi Công ty VinaPhone

Từ năm 1996, mạng di động VinaPhone thuộc Tập đoàn VNPT (khi đó là Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam – VNPT) ra đời với một sứ mệnh to lớn là xã hội hóa, phổ cập hóa các dịch vụ thông tin di động. Thực hiện sứ mệnh này, năm 1999 VinaPhone là mạng tiên phong phủ sóng trên 100% các tỉnh, thành phố. Sau đó 7 năm, tháng 6 năm 2006, VinaPhone lại một lần nữa là mạng di động đầu tiên thực hiện phủ sóng 100% số huyện trên địa bàn cả nước kể cả các huyện miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Nỗ lực đầu tư, mở rộng vùng phủ sóng của VinaPhone không chỉ đem lại ý nghĩa lớn trong việc góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước, mà còn giúp cho người dân trên khắp mọi miền đất nước, đặc biệt là bà con ở các vùng xa xôi hẻo lánh được tiếp cận với các dịch vụ thông tin liên lạc di động tiện ích và thiết thực.

Dựa trên tiềm lực và chiến lược phát triển đúng đắn của Tập đoàn VNPT, mạng di động VinaPhone được đầu tư và phát triển đi thẳng vào công nghệ hiện đại nhất. Những mốc phát triển của VinaPhone luôn gắn với các dấu mốc phát triển của cả ngành thông tin di động Việt Nam. Năm 1999, VinaPhone là mạng đầu tiên triển khai dịch vụ chuyển vùng quốc tế, cho phép các thuê bao Việt Nam ra nước ngoài vẫn sử dụng được số điện thoại trong nước để nghe gọi và nhắn tin. Luôn dẫn đầu trong các xu hướng công nghệ mới, VinaPhone là mạng đầu tiên nâng cấp từ công nghệ 2G lên 2,5G và đến tháng 10/2009 VinaPhone là mạng di động đầu tiên triển khai công nghệ 3G băng thông rộng, tốc độ cao ở Việt Nam.

Vinaphone2Đồng chí Hồ Đức Thắng, Uỷ viên BCH Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam,
Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn Công ty VinaPhone trao Bằng khen cho các đại biểu

Nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng, VinaPhone đang cung cấp hơn 50 dịch vụ gia tăng trên mạng di động và đang trở thành mạng cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích nhất cho khách hàng. Trên nền công nghệ mạng hiện đại, các dịch vụ tiện ích của VinaPhone độc đáo và đa dạng. Đến nay VinaPhone có hơn 22.000 trạm thu phát sóng, hơn 7.000 trạm thu phát sóng 3G, bảo đảm thuê bao của VinaPhone đi bất kỳ đâu đều sử dụng được dịch vụ với chất lượng tốt nhất. Về công nghệ, VinaPhone là mạng có công nghệ tiến tiến và hiện đại nhất, đó là điều kiện để VinaPhone phát triển các dịch vụ gia tăng mới đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của các khách hàng. Với ý thức là một doanh nghiệp của xã hội, trong suốt 16 năm qua, VinaPhone thường xuyên tổ chức các hoạt động xã hội từ thiện như tặng nhà tình nghĩa, nuôi dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, cứu trợ đồng bào gặp thiên tai bão lũ… Gần đây, VinaPhone cùng khách hàng đã quyên góp gần 2 tỷ đồng cho chương trình Góp đá xây Trường Sa…

Có được những kết quả như trên là công lao đóng góp của toàn thể cán bộ trong Công ty, trong đó có những cán bộ công đoàn giỏi luôn đồng hành cùng chuyên môn trong việc xây dựng và phát triển Công ty. Ghi nhận những thành tích đã đạt được của Công ty liên tục nhiều năm Vinaphone đã được nhận Cờ thi đua của Chính phủ và năm 2009 Vinaphone đã vinh dự đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và nhà nước Huân chương Lao động hạng Nhì; tổ chức công đoàn liên tục các năm được nhận Cờ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và nhiều hình thức khen thưởng khác trên các mặt công tác và phong trào công đoàn. Đặc biệt, VinaPhone tự hào được nhận hai giải thưởng xuất sắc nhất: Giải thưởng Doanh nghiệp viễn thông di động cung cấp dịch vụ trả sau xuất sắc nhất và Giải thưởng Doanh nghiệp viễn thông di động cung cấp dịch vụ mới xuất sắc nhất trong Giải thưởng Công nghệ thông tin – Truyền thông Việt Nam 2009.

Thấm nhuần lời dạy của Bác “Cán bộ là gốc của mọi công việc’’, những cán bộ công đoàn giỏi Công ty VinaPhone xin hứa với Bác luôn gương mẫu tu dưỡng rèn luyện, là những tấm gương cho đoàn viên công đoàn noi theo, góp phần giữ vững thương hiệu của VinaPhone, tiếp tục vươn xa, đồng hành với sự phát triển của kinh tế – xã hội và gắn kết với khách hàng trên khắp mọi miền đất nước.

Trong giờ phút thiêng liêng tại lễ báo công, bằng tất cả tình cảm biết ơn sâu sắc nhất, các đại biểu xin kính cẩn dâng lên Bác những bông hoa tươi thắm tượng trưng cho các việc làm tốt của cán bộ, công nhân viên Công ty VinaPhone trong thời gian qua.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Cách mạng Tháng tám mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc

Từ giữa thế kỷ XIX, Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm lược và thống trị. Mất nước, nhân dân Việt Nam mất hết quyền tự do. Với ý chí độc lập và khát vọng tự do, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đứng lên đấu tranh, song do thiếu một hệ tư tưởng và đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, nên con đường cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của dân tộc Việt Nam rơi vào bế tắc, “như trong đêm tối không có đường ra”. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc. Thực hiện trọng trách lịch sử của mình, ngày 3-2-1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam. Thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Người soạn thảo.

Dựa trên cơ sở tư tưởng vì độc lập, tự do sáng tạo của Hồ Chí Minh, những chính sách cụ thể, hợp lòng dân của Việt Minh đã quy tụ toàn dân dưới ngọn cờ của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một Đảng mới được 15 tuổi đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng thần thánh chưa từng có trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta từ một người nô lệ đã trở thành người chủ đất nước, người chủ bản thân. Đó là cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chấn động địa cầu.

Ngày 2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và ngày 2-9-1945 trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới vô cùng rực rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám lật đổ chế độ phong kiến nhiều thế kỷ đã lỗi thời, đập tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, giành chính quyền về tay nhân dân. Từ đây, lịch sử dân tộc ta đã bước sang trang sử mới, chấm dứt thời kỳ đen tối trong đêm trường nô lệ; từ đây dân tộc ta đã có Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; từ đây sự nghiệp cách mạng Việt Nam sẽ vững bước tiến lên trường tồn cùng dân tộc.

Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, một nhà nước kiểu mới – nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Sự kiện trọng đại này mở ra thời kỳ mới cho nhân dân Việt Nam và cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX, bắt đầu một quá trình sụp đổ không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần và quyết tâm của nhân dân các dân tộc bị áp bức đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ thắng lợi to lớn đó, đã cổ vũ nhân dân ta kiên cường đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 lịch sử. Đất nước hoàn toàn độc lập, người dân được hoàn toàn tự do.

Thắng lợi vĩ đại này là một minh chứng hùng hồn về ý chí độc lập và khát vọng tự do, tinh thần bất khuất, trí tuệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam, một dân tộc được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Những giá trị độc lập, tự do chỉ có thực sự khi được dưới sự lãnh đạo của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, con đường độc lập, tự do của dân tộc đã đi đến bờ thắng lợi. Ý nguyện cao cả của Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước rồi “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” đã thành hiện thực bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

 

Qua 67 năm cho thấy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam qua nhiều thập kỷ khảo nghiệm, tìm con đường cứu nước; là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau ngày thành lập Đảng và để lại nhiều bài học lịch sử vô cùng quý giá cho cách mạng Việt Nam.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, khó khăn chồng chất, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Đảng, Nhà nước cùng toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu: Thực hiện thắng lợi Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương; mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; xây dựng nền kinh tế mới, nền văn hóa mới…

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập. Quyết tâm đoàn kết dân tộc để xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đưa dân tộc ta sánh vai cùng với các nước trên thế giới. Một dân tộc đã làm nên những chiến công hiển hách, mang tầm vóc lịch sử; một dân tộc với tinh thần quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Theo baoanhdatmui.vn
dostquangtri.gov.vn

Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện tại

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Từ cuối thế kỷ 19, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.Khi phát-xít Nhật xâm lăng Ðông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu hai tầng áp bức: quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào bị chết đói.

Tiếp nối truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao bậc trung nghĩa đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin – lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại – đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân chủ lực công – nông làm nòng cốt; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cùng nhiều bài học khác.

65 năm qua, tiếp nối truyền thống và phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại những thắng lợi đã qua, chúng ta càng thấy tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi suốt 65 năm qua. Tiếp bước con đường của Cách mạng Tháng Tám, trước yêu cầu phát triển đất nước và trước những thời cơ và nguy cơ, Ðảng ta và nhân dân ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhiệm vụ trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, ngăn ngừa mọi sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HÐH được Ðảng xác định là nhiệm vụ trung tâm.

Phát huy bản sắc truyền thống “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc, Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật khởi của cả dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm đại đoàn kết dân tộc của Cách mạng Tháng Tám, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài, hướng sức mạnh đó vào mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 820/QÐ-TTg ngày 7-6-2010 phê duyệt Ðề án Tổ chức kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám (19-8-1945 – 19-8-2010) và Quốc khánh (2-9-1945 – 2-9-2010).Lễ Kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 được tổ chức tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ðài Liệt sĩ và Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Ðình, Hà Nội vào ngày 1-9. Ðây là hoạt động nhằm khẳng định vị trí, tầm vóc vĩ đại, giá trị lịch sử to lớn của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc; khẳng định vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Ðảng. Thông qua các hoạt động tuyên truyền nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng hòa bình của dân tộc; đề cao tinh thần đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đã hy sinh xương máu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; cổ vũ toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Ðảng, thi đua lập thành tích chào mừng Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng. Ðồng thời, đây cũng là hoạt động nêu cao tinh thần tự hào dân tộc, khẳng định ý chí quyết tâm của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước trong thời kỳ mới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; giới thiệu đến mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước, bạn bè quốc tế, đồng bào Việt Nam sống xa Tổ quốc những thành quả của công cuộc xây dựng đất nước trong 65 năm qua dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Đình Khánh
congdoanbinhdinh.org.vn

Ủy ban An toàn giao thông quốc gia và Bộ giao thông vận tải tổ chức lễ báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 25/8/2012, 200 đại biểu đến từ mọi miền đất nước được vinh dự tham gia Hội nghị biểu dương những tấm gương quần chúng tiêu biểu tham gia xây dựng giao thông và bảo đảm trật tự an toàn giao thông có mặt tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình báo công lên Bác những kết quả và thành tích trong việc tham gia xây dựng, bảo vệ công trình giao thông, giữ gìn trật tự an toàn giao thông – một trong những công việc quan trọng mà Bác luôn căn dặn toàn Đảng, toàn dân luôn phải cố gắng thực hiện.

Giao thong van tai 1
Đồng chí Đinh La Thăng – Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải dẫn đầu Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh 

Tham dự lễ báo công, hầu hết là những người dân lao động, những thanh niên tình nguyện, những chiến sỹ trong lực lượng công an và công nhân ngành đường sắt được lựa chọn trong hàng vạn cá nhân đã âm thầm xả thân trên mỗi con đường, mỗi góc phố, mỗi bản làng, không tính toán thiệt hơn khi quyết định hành động. Hay là những cựu chiến binh cao tuổi nhưng vẫn kiên trì tham gia đội tự quản an toàn giao thông; những thanh niên trẻ làm nghề tự do dù cuộc sống vất vả vẫn lặng lẽ đi nhặt từng chiếc đinh trên đường hay trở thành những hiệp sĩ bắt cướp, trừ gian trên đường phố; những cụ ông, cụ bà ở các miền quê nhiều lần hiến đất làm đường hoặc bỏ tiền tích luỹ cá nhân xây cầu vượt sông; những cảnh sát giao thông, chiến sỹ công an nhân dân từ chối nhận hối lộ, kiên quyết xử lý người vi phạm, dũng cảm cứu người, ngăn chặn hậu quả hoặc làm giảm nhẹ thiệt hại do tai nạn giao thông; những thanh niên tình nguyện áo xanh tham gia tích cực hướng dẫn giao thông trên các ngã tư đường phố; có những công nhân ngành đường sắt, đường bộ nêu cao trách nhiệm, dũng cảm ngăn chặn và hạn chế thiệt hại của tai nạn giao thông và còn rất nhiều những việc làm thiết thực mà không nói hết tại buổi lễ ngày hôm nay.

Giao thong van tai 2
Đồng chí Nguyễn Thị Nhàn thay mặt cho các đại biểu báo công dâng Bác

Trong buổi lễ trang nghiêm và xúc động này, đồng chí Nguyễn Thị Nhàn là đại biểu xuất sắc trong công tác xây dựng giao thông, dũng cảm cứu một em bé trước mũi tàu hỏa trong lúc chị đang mang thai 6 tháng. Hành động dũng cảm cứu người của chị đã gây xúc động tới mọi tầng lớp nhân dân.Thay mặt cho các đại biểu có mặt tại lễ báo công dâng Bác, chị đã cảm động bày tỏ lòng biết ơn tới Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nguyện tiếp tục học tập làm theo lời dạy của Người “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”.

Sau lễ báo công, đồng chí Đinh La Thăng – Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải làm Trưởng đoàn đã dẫn đầu đoàn đại biểu dự Hội nghị biểu dương những quần chúng tiêu biểu trong công tác xây dựng giao thông và bảo đảm trật tự an toàn giao thông đã kính cẩn đặt vòng hoa vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

                                                                                          Trần Tiên Long

Sách lược vắn tắt của Đảng (1930)

1. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng.

2. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến.

3. Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia.

4. Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới (1) làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ.

5. Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp, trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp.

————————

Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Chương trình tóm tắt của Đảng (1930)

1. Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ nǎng lực lãnh đạo quần chúng.

2. Đảng tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến.

3. Đảng giải phóng công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư bản.

4. Đảng lôi kéo tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản; Đảng tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư bản bậc trung, đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, v.v..

5. Không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác.

Đảng phổ biến khẩu hiệu “Việt Nam tự do” và đồng thời Đảng liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới nhất là với quần chúng vô sản Pháp.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1930

————————-

In trong sách Vǎn kiện Đảng, (từ 27-10-1929 đến 7-4-1935).
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1964, tr.15.
cpv.org.vn

Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930)

I- Tên: Đảng Cộng sản Việt Nam.

II- Tôn chỉ: Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản.

III- Lệ vào Đảng: Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản, hǎng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng. Thợ vào Đảng thời phải có một đảng viên giới thiệu và phải dự bị 3 tháng, thủ công nghiệp nghèo, dân cày và lính phải có hai đảng viên giới thiệu và dự bị 6 tháng, học sinh, các giai cấp khác và người đảng phái khác phải có hai đảng viên giới thiệu và phải dự bị 9 tháng.

Người dưới 21 tuổi phải vào thanh niên cộng sản đoàn.

IV- Hệ thống tổ chức:

Chi bộ gồm tất cả đảng viên trong một nhà máy, một công xưởng, một hầm mỏ, một sở xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đường phố, v.v..

Huyện bộ, thị bộ hay là khu bộ:

Huyện bộ gồm tất cả các chi bộ trong một huyện.

Thị bộ gồm tất cả các chi bộ trong một châu thành nhỏ.

Khu bộ gồm tất cả các chi bộ trong khu của một thành phố lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải Phòng, Hà Nội hay của một sản nghiệp lớn như mỏ Hòn Gai.

Tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ:

Tỉnh bộ gồm các huyện bộ, thị bộ trong một tỉnh.

Thành bộ gồm tất cả các khu bộ trong một thành phố. Đặc biệt bộ gồm tất cả khu bộ trong một sản nghiệp lớn.

Trung ương

V- Trách nhiệm của đảng viên:

a) Tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng.

b) Tham gia mọi sự tranh đấu về chính trị và kinh tế của công nông.

c) Phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản.

d) Điều tra các việc.

e) Kiếm và huấn luyện đảng viên mới.

VI- Quyền lợi đảng viên:

Trong các cuộc hội nghị của chi bộ, đảng viên dự bị có quyền tham gia và phát biểu ý kiến, song không có quyền biểu quyết, ứng cử và tuyển cử.

VII- Các cấp đảng chấp hành uỷ viên:

a) Một cấp đảng bộ có hội chấp hành uỷ viên để giám đốc và chỉ huy cho mọi đảng viên làm việc.

b) Mỗi chấp hành uỷ viên phải thường báo cáo cho đảng viên biết.

VIII- Kinh phí:

a) Kinh phí của Đảng do nguyệt phí và đặc biệt quyên mà ra.

b) Nguyệt phí do các cấp đảng bộ tuỳ kinh phí mỗi đảng viên mà định.

c) Người không việc hoặc ốm thì khỏi phải góp nguyệt phí.

IX- Kỷ luật:

a) Đảng viên ở nơi này đi nơi khác phải xin phép Đảng và theo cơ quan nơi đó để làm việc.

b) Bất cứ về vấn đề nào đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả đảng viên phải phục tùng mà thi hành.

c) Cách xử phạt người có lỗi trong đảng viên: Cách xử phạt người có lỗi trong Đảng do hội chấp hành uỷ viên trong cấp Đảng hay đại biểu đại hội định.

—————————-

Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi (1930)

Hỡi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em 1 bị áp bức, bóc lột!

Anh chị em! Các đồng chí!

Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có trách nhiệm phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này.

Mâu thuẫn gay gắt về kinh tế giữa các nước đế quốc chủ nghĩa đã gây ra Chiến tranh thế giới 1914-1918. Sau cuộc chém giết đẫm máu đó, thế giới chia ra làm hai mặt trận: mặt trận cách mạng gồm các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản bị bóc lột trên toàn thế giới mà đội tiên phong là nước Nga Xôviết, và mặt trận của chủ nghĩa đế quốc mà tổng hành dinh là Hội quốc liên.

Cuộc chiến tranh đế quốc ấy đã làm cho thế giới bị thiệt hại nặng nề về người và của, đặc biệt là đế quốc Pháp bị thiệt hại nhiều hơn các đế quốc khác. Hiện nay, để tổ chức lại nền kinh tế ở Pháp, đế quốc Pháp ra sức khai thác tài nguyên “của chúng” ở Đông Dương. Chúng xây dựng thêm nhà máy để bóc lột công nhân và buộc họ phải chịu đói rét. Chúng chiếm ruộng đất của nông dân để lập đồn điền, làm cho nông dân mất hết ruộng đất và lâm vào cảnh tuyệt vọng. Chúng tìm mọi cách để bóp nặn nhân dân ta; chúng thu thuế ngày càng nặng, bắt mua “quốc trái” ngày càng nhiều, làm cho đồng bào ta ngày thêm nghèo khổ.

Càng ngày chúng càng tǎng cường quân đội: một là để giết hại cách mạng An Nam, hai là để chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc nữa ở Thái Bình Dương nhằm chiếm thêm thuộc địa, ba là để phá cách mạng Trung Quốc, bốn là để chống lại nước Nga Xôviết, vì nước này đang giúp đỡ các dân tộc bị áp bức và các giai cấp bị bóc lột trên thế giới đứng lên đánh đổ bọn thống trị. Cuộc chiến tranh đế quốc thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra, thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác. Nếu chúng ta để cho chúng chuẩn bị chiến tranh, nếu chúng ta để cho chúng chống lại cách mạng Trung Quốc và nước Nga Xôviết, nếu chúng ta để cho chúng tiêu diệt cách mạng An Nam thì khác nào chúng ta để cho chúng dìm giống nòi An Nam ta xuống Thái Bình Dương.

Sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy mà phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh: công nhân bãi công, học sinh bãi khoá, nông dân đòi ruộng đất, nhà buôn nhỏ đóng cửa hàng, nhân dân cả nước đang vùng dậy chống bọn đế quốc.

Phong trào cách mạng An Nam làm cho đế quốc Pháp phải run sợ. Cho nên, một mặt chúng dùng bọn phong kiến An Nam, bọn đại tư sản phản cách mạng và bọn địa chủ để áp bức, bóc lột nhân dân An Nam. Mặt khác, chúng khám xét nhà cửa, bắt bớ, giam cầm và giết hại những người cách mạng An Nam; chúng hy vọng dùng khủng bố trắng tiêu diệt cách mạng An Nam.

Nếu đế quốc Pháp tưởng có thể dùng khủng bố trắng hòng tiêu diệt cách mạng An Nam thì chúng đã lầm to! Một là, cách mạng An Nam không bị cô lập, trái lại nó được giai cấp vô sản thế giới nói chung và giai cấp cần lao Pháp nói riêng ủng hộ. Hai là, giữa lúc các cuộc khủng bố trắng lên đến đỉnh cao thì những người cộng sản An Nam trước kia chưa có tổ chức, đang thống nhất lại thành một đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam, để lãnh đạo toàn thể anh chị em bị áp bức chúng ta làm cách mạng.

Hỡi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh! Anh chị em bị áp bức, bóc lột!

Đảng Cộng sản Việt Nam 1 đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để:

1) Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng.

2) Làm cho nước An Nam được độc lập.

3) Thành lập Chính phủ công nông binh.

4) Tịch thu tất cả các nhà bǎng và cơ sở sản xuất của đế quốc trao cho Chính phủ công nông binh.

5) Quốc hữu hoá toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quốc và địa chủ phản cách mạng An Nam chia cho nông dân nghèo.

6) Thực hiện ngày làm 8 giờ.

7) Huỷ bỏ mọi thứ quốc trái và thuế thân, miễn các thứ thuế cho nông dân nghèo.

8) Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân.

9) Thực hành giáo dục toàn dân.

10) Thực hiện nam nữ bình quyền.

Thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————

Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (18-2-1930)

A. 1) Nhận được chỉ thị của Quốc tế Cộng sản về công tác ở Đông Dương, tôi từ giã nước Đức vào tháng 6 và đến Xiêm vào tháng 7-1928. Tôi đã làm việc với một số người An Nam di cư ở đấy tới tháng 11-1929.

2) Những điều kiện ở Xiêm (đúng hơn là cả ở Lào).

(a) Dân cư rất phân tán, hầu hết theo đạo Phật, một số ít theo đạo Thiên chúa.

(b) Chừng 10 hay 15 nghìn người An Nam di cư ở Xiêm và ở Lào. Hơn một nửa trong số họ đã nhiều thế hệ theo đạo Thiên chúa.

(c) Kinh tế – không có công nghiệp, nông nghiệp tự nhiên và lạc hậu, điều đó dẫn đến chỗ đồng ruộng bỏ hoang; người ta có thể sử dụng bao nhiêu đất tùy ý, không hạn chế, không đánh thuế. Thương nghiệp ở trong tay người Trung Quốc.

(d) Thiên nhiên – nửa nǎm nóng, nửa nǎm lạnh, và ở mùa này, tất cả mọi thứ giao thông liên lạc đều không thực hiện được.

B. Công tác của tôi ở Lào.

1) Do những điều kiện của người An Nam (nông dân tự do, thợ thủ công, tiểu thương), họ chỉ có thể được tổ chức vào “Hội ái hữu” với tư tưởng yêu nước và chống đế quốc. Trước đây, họ có hơn 1000 người. Nhưng hiện nay ít hơn vì những người An Nam theo đạoThiên chúa bị các giám mục người Pháp đe doạ rút phép thông công nên họ đã rút ra khỏi Hội ái hữu.

2) Ba trường học đã được tổ chức. Một trường khác sắp được tổ chức nhưng phải hoãn lại, vì:

(a) Địa điểm gần người Pháp.

(b) Tỉnh trưởng người Xiêm theo đạo Thiên chúa.

(c) Có một nhà thờ do người Pháp làm cố đạo, dĩ nhiên là ông ta chống lại chúng tôi.

3) Một tờ báo, tờ “Thân ái” sắp được xuất bản.

C. Đi về An Nam.

Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam “Quốc dân đảng”.

D. Tới Trung Quốc.

Tôi đã cố gắng đi lần thứ ba khi một đồng chí từ Hồng Công tới Xiêm và tin cho tôi biết tình hình Hội An Nam Thanh niên Cách mạng[1]bị tan rã; những người cộng sản chia thành nhiều phái v.v..

Lập tức tôi đi Trung Quốc, tới đó vào ngày 23-12. Sau đó, tôi triệu tập các đại biểu của 2 nhóm (Đông Dương và An Nam). Chúng tôi họp vào ngày mồng 6-1.

Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ phải làm gì. Họ đồng ý thống nhất vào một đảng.

Chúng tôi cùng nhau xác định cương lĩnh và chiến lược theo đường lối của Quốc tế Cộng sản.

Các đại biểu phải tổ chức một Trung ương lâm thời gồm 7 uỷ viên chính thức và 7 uỷ viên dự khuyết. Các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2.

E. Công tác của Trung ương mới.

1) Ngoài công tác hàng ngày, họ phải tổ chức ngay:

a. Đoàn thanh niên cộng sản.

b. Hội tương tế.

c. Hội phản đế.

Họ cũng phải làm những việc tốt nhất của họ để mở rộng ảnh hưởng của Xôviết Quảng Tây.

2) Để tạo cho quần chúng cách mạng, đặc biệt là giai cấp cần lao, biết rằng họ được Quốc tế Cộng sản dìu dắt và giai cấp công nhân thế giới ủng hộ, rằng họ phải bảo vệ Liên Xô và cách mạng Trung Quốc, rằng họ phải đấu tranh chống việc chuẩn bị chiến tranh thế giới mới – tôi đã viết Lời kêu gọi để phân phát khi Trung ương được tổ chức xong (khoảng ngày 20-3).

F. Những lực lượng của chúng tôi

Có 5 tổ chức chính trị ở Đông Dương:

a) Đảng Lập hiến được lập nên bởi một số tư sản An Nam – ở Nam Kỳ – hợp tác với đế quốc.

b) Đảng Tân Việt được lập nên bởi tầng lớp trí thức đã một thời có ảnh hưởng nhưng bắt đầu suy yếu từ khi có khủng bố trắng.

c) An Nam Quốc dân đảng cũng được tổ chức bởi trí thức và giai cấp tiểu tư sản. Từ khi bị khủng bố trắng, lực lượng chủ yếu của họ bị tiêu diệt và số còn lại thì phân hóa thành nhiều phe phái: cánh tả thì quan hệ chặt chẽ với chúng tôi, cánh hữu thì đang trở thành như những người manh động.

d) Hội An Nam Thanh niên Cách mạng do chúng tôi tổ chức từ nǎm 1925. Có thể nói rằng, nó là quả trứng, mà từ đó, nở ra con chim non cộng sản (Đảng Cộng sản). Con chim ra đời, cái vỏ bị phá huỷ gần hết do chính sách sai lầm của những người cộng sản. Phần còn lại của nó chịu ảnh hưởng và chịu sự lãnh đạo của chúng tôi trong công tác vận động quần chúng. Từ nay, với chính sách đúng và với sự thống nhất, chúng tôi có thể chắc rằng Đảng Cộng sản sẽ tiến bộ nhanh chóng.

e) Mặc dù non trẻ và nhỏ bé, Đảng Cộng sản được tổ chức tốt nhất và hoạt động mạnh nhất trong tất cả các lực lượng. Chúng tôi có:

Xiêm: 40 đảng viên chính thức và dự bị.

Bắc Kỳ: 204 “

Nam Kỳ: 51 “

Trung Quốc và nơi khác: 15.

(Trung Kỳ thì ghép vào Bắc Kỳ và Nam Kỳ).

Các tổ chức quần chúng:

Bắc Kỳ: 2.747 hội viên

Nam Kỳ: 327 “

Xiêm: 500 “

Hồng Công: 14 “

Thượng Hải: “

Nên nhớ rằng, từ khi Hội An Nam Thanh niên Cách mạng tan rã, hai nhóm cộng sản sử dụng nhiều – nếu không nói là tất cả – nghị lực và thời gian trong cuộc đấu tranh nội bộ và bè phái.

g) Tình hình kinh tế và chính trị nói chung sẽ được báo cáo sau vì lúc này không có tài liệu.

G. Phong trào đình công

Tên địa phương Tháng Nghề nghiệp
Hà Nội 6-1929 Công nhân cơ khí
Sài Gòn 6
Đà Nẵng 6
Hải Phòng 6 Công nhân thuỷ tinh
Nam Định 6 Công nhân điện
Hải Phòng 7 Công nhân dệt lụa
Rạch Giá 8 Công nhân kéo xe
Thủ Dầu Một 8 Công nhân đồn điền
Sài Gòn 9 Công nhân khách sạn
Chợ Lớn 9 Công nhân nhà in Trung Quốc
Bắc Ninh 9 Công nhân làm gạch
Hải Phòng 9 Công nhân hãng dầu lửa
Cần Thơ 9 Công nhân kéo xe
Bến Tre 9
Mai Mot 9 Phu đồn điền
Trà Vinh 10
Rạch Giá 10
Kiến An 11 Công nhân kéo xe
Châu Đốc 11
Nam Định 12 Công nhân xây dựng
Hải Phòng 12 Công nhân xi mǎng

(Bản Thống kê này không đầy đủ, mà chỉ là điều tôi biết vào thời gian hiện giờ).

H. Khủng bố trắng

Bị bắt giữ, kết án từ 2 nǎm đến 20 nǎm, lưu đày, tống giam vào nhà ngục:

407 đàn ông

14 con gái và đàn bà

Bị kết án chung thân: 7

Xử tử theo luật hình: 4 (tôi là một trong số họ)

Chết trong tù: 3

Bị bắn chết: 1

I. Những kiến nghị

1) Singapo. Đảng bộ Singapo đã viết thư cho chúng tôi nói rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ ở dưới sự chỉ dẫn của Singapo. Nhưng xét về hoàn cảnh địa lý (Nga – Trung Quốc – An Nam) cũng như hoàn cảnh chính trị (Đảng mạnh hơn, công nghiệp phát triển ở Bắc Kỳ hơn ở Nam Kỳ), tôi kiến nghị rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ được sự chỉ dẫn từ Thượng Hải qua Hồng Công.

Tuy nhiên Đảng Cộng sản Việt Nam phải quan hệ thật chặt chẽ với Singapo. Vì lẽ đó, tôi đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi một bức thư giới thiệu để chúng tôi có thể phái một đồng chí An Nam làm việc với Singapo.

2) Xiêm. Tôi yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi một bức thư khác và địa chỉ của đồng chí lãnh đạo nào đó (Trung Quốc) tại Xiêm để các đồng chí An Nam ở nước này có thể làm việc với các đồng chí Trung Quốc.

3) Sài Gòn. Trong chừng mực tôi biết thì có khoảng 200 đồng chí Trung Quốc ở đó. Nhưng họ hoạt động rất ít vì họ không có người lãnh đạo có nǎng lực.

Tôi đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc:

(a) Phái một số đồng chí lãnh đạo đến đó.

(b) Các đảng bộ Trung Quốc và An Nam ở đó, mỗi Đảng sẽ có 1 đại biểu hoặc nhiều hơn để thành lập một vǎn phòng. Vǎn phòng này phải:

(1) Phối hợp công tác của họ với nhau nhằm giải quyết quyền lợi của cả người Trung Quốc và An Nam.

(2) Làm tốt nhất việc xếp đặt các đồng chí Trung Quốc hay An Nam làm công dưới tàu thuỷ đi Singapo, Sài Gòn, Hải Phòng, Hồng Công, Thượng Hải để giải quyết tốt hơn giao thông liên lạc của chúng ta.

(3) Bất cứ khi nào một đồng chí Trung Quốc bị cảnh sát làm khó khǎn[2], các đồng chí An Nam phải bảo vệ họ, và “ngược lại”.

4) Bắc Kỳ. Có một số lớn công nhân Trung Quốc ở Bắc Kỳ, đặc biệt là ở Hải Phòng và Hà Nội. Hơn nữa, hai thành phố này và các vùng miền ngược là đường duy nhất dễ dàng cho sự thông thương với Quảng Tây và Vân Nam, tôi kiến nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc phái một số đồng chí có khả nǎng đến công tác ở những thành phố đó.

5) Vân Nam. Có chừng 2.000 người Trung Quốc và nhiều hơn một chút là công nhân An Nam ở ngành đường sắt Vân Nam . Tôi nghe nói có các đồng chí Trung Quốc ở đó.

Tôi hỏi địa chỉ của vài người trong số các đồng chí đó để chúng tôi có thể phái một số đồng chí An Nam đến phối hợp với họ.

6) Quảng Tây. Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn và những tỉnh khác của An Nam ở vùng đó rất quan trọng về chiến lược đối với Quảng Tây. Trước đây, chúng tôi đã có nǎm đồng chí làm việc ở đó. Mới đây tất cả họ đều đã bị bắt. Tôi kiến nghị phái những người khác đến. Nhưng chúng tôi phải bàn xem thực hiện việc đó như thế nào.

7) Hồng Công. Sự hiểu biết về lý luận và chính trị của các đồng chí An Nam rất thấp, việc học tập và đọc sách báo ở thuộc địa gần như không có được. Thượng Hải thì quá xa. Do đó, tôi đề nghị tổ chức một lớp học ở Hồng Công. Chúng tôi phải thảo luận xem nên tổ chức lớp học đó thế nào.

8) Thượng Hải. Có binh lính An Nam ở đây. Chúng tôi phải bàn xem nên làm việc với họ như thế nào.

K. Những vấn đề như phái những đồng chí An Nam đến học ở trường Đại học, vấn đề kinh tế, cương vị công tác của tôi, v.v.. Tôi nghĩ là tôi sẽ nói với các đồng chí khi chúng ta gặp nhau thì tốt hơn.

Một lần nữa tôi đề nghị gặp các đồng chí, càng sớm càng tốt, vì các đồng chí của tôi có thể cần tôi ở Hồng Công đúng vào lúc này.

L. Tôi rời Hồng Công vào ngày 13-2. Cho tới khi đó tôi không nhận được tin tức gì từ Pháp và hai đồng chí An Nam. Tôi rất lo lắng về họ.

Lời kêu gọi[3]

Tái bút: Đồng chí thân mến, tôi mong được gặp đồng chí càng sớm càng tốt. 1- Vì báo cáo này viết đã được hai ngày mà vẫn chưa đến tay đồng chí. Như vậy quá chậm trễ. 2- Chúng ta có thể giải quyết tất cả những vấn đề này trong vòng vài giờ nhưng tôi đã mất tám ngày rồi. 3- Tôi buộc lòng phải đợi, không biết làm gì cả, trong khi đó công việc khác đang chờ tôi.

N.A.Q

[1]) Nguyên bản tiếng Anh là The Annam Young Revolutionary Association.

[2]) Nguyên vǎn: Whenever a Chinese comrade is “out” by Police.

[3]) Lời kêu gọi viết dưới báo cáo trên đã đưa ở trang 8 – 10.

—————————–

Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi đại diện Tổng Công hội thống nhất Pháp ở Quốc tế Công hội (27-2-1930)

Đồng chí thân mến,

Đề nghị đồng chí hỏi Đảng bộ về việc gửi các báo và tạp chí của Đảng cho chúng tôi để chúng tôi dịch đǎng báo của chúng tôi. Đầu đề và tên báo, tạp chí nên gấp vào phía trong. Đồng thời gửi cho chúng tôi một tờ báo tư sản của nước các đồng chí để cãi với cảnh sát nếu chúng phát hiện chúng tôi nhận báo chí cộng sản.

Lời chào cộng sản
Ngày 27 tháng 2 nǎm 1930
Thay mặt Đảng Cộng sản
Đông Dương[4]

NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ của tôi:
Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo,
Số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Công.

—————————-

Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
[4]) Trong nguyên bản, viết For the C.P. of Indochina.
cpv.org.vn

Bức ảnh lịch sử ngày 19-8-1945

THỜI NAY-NDĐT- Bức ảnh “Chiếm Phủ Khâm sai” trong dịp Tổng khởi nghĩa 19-8-1945 tại Hà Nội cho thấy không khí cách mạng sôi sục của nhân dân Thủ đô. Lần giở lại lịch sử để hiểu thêm về những con người và sự kiện của 67 năm về trước.

Bức ảnh lịch sử “Chiếm Phủ Khâm sai”

Chớp thời cơ khởi nghĩa

Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội 19-8-1945 ở Hà Nội gồm năm người: Chủ tịch Nguyễn Khang (ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ phụ trách Hà Nội); ông Nguyễn Quyết, Bí thư Thành ủy, ủy viên quân sự; ông Lê Trọng Nghĩa, đại diện cho nhân sĩ, trí thức (Bí thư Đảng đoàn Dân chủ Đảng), ông Trần Quang Huy, phụ trách công vận và ông Nguyễn Duy Thân, phụ trách tư sản, tiểu thương. Cố vấn của Ủy ban là ông Trần Đình Long, từng học ở Đại học Phương Đông Moscow. Trực cơ quan Xứ ủy tại Vạn Phúc, Hà Đông là Thường vụ Xứ ủy Trần Tử Bình, phụ trách khởi nghĩa ở các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ.

Trong một cuộc gặp với đại tá Nguyễn Duy Thành, con thứ của ông Nguyễn Duy Thân vào năm 2009, tôi đã thăm bà Phan Thị Sáng, mẹ của ông Thành. Đã 90 tuổi nhưng bà cụ vẫn minh mẫn. Giở cho xem bức ảnh lịch sử “Chiếm Phủ Khâm sai” trong chồng ảnh tư liệu, bà chậm rãi nói: “Đây là báu vật của gia đình. Tác giả là ông Vũ Năng An. Ông ấy mất cách đây mấy năm. Còn ông Thân nhà tôi mất chỉ sau khi bức ảnh này được chụp có bảy năm”.

Quê ông Nguyễn Duy Thân ở làng Đình Bảng, Bắc Ninh, vùng quê Kinh Bắc giàu có với truyền thống sản xuất, thương mại. Năm 1934, nhờ nhà có điều kiện, ông được ra Thủ đô Hà Nội ăn học, thi đỗ vào trường Bưởi. Tại đây, ông được giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào thanh niên, học sinh tại trường. Năm 1937, bị mật thám Pháp theo dõi, ông được tổ chức cho thoát ly về dạy học ở xã Trung Mầu, ven đê sông Đuống. Năm 1940, ông về quê tham gia thành lập “chi bộ ghép” thuộc huyện Từ Sơn. Về tới xã, ông tuyên truyền vận động giác ngộ quần chúng cùng anh em, họ hàng thành lập chi bộ đầu tiên ở xã Đình Bảng. Ông Lê Quang Đạo (sau này là Trung tướng, rồi Chủ tịch QH), cháu gọi ông Thân là cậu ruột, được ông giới thiệu kết nạp và là Bí thư đầu tiên của xã. Vừa tham gia sinh hoạt tại chi bộ xã, ông Thân vừa tham gia hoạt động tại Hà Nội.

Tới năm 1941, ông bị lộ, bị bắt và đày lên Sơn La. Những tháng năm giam cầm ở nhà tù Sơn La, vì giỏi tiếng Pháp, khi bị tra tấn, ông lý luận với quản giáo: “Nghe nói nước Pháp dân chủ, văn minh. Vậy cớ sao ở đây các ông lại hành hạ, đánh đập tù chính trị? Như vậy có dân chủ, văn minh hay không?”. Đuối lý, kẻ địch phải cho ông – một trong số ít tù chính trị – không phải mặc quần áo tù. Đầu năm 1945, ông cùng một số tù chính trị ở Sơn La – lợi dụng tình hình Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương – tổ chức vượt ngục thành công. Ngay sau đó, ông về Đan Thượng, Phú Thọ xây dựng “chi bộ ghép” đầu tiên, sau này phát triển sang cả Yên Bái. Ít lâu sau, ông được cử về tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng ở Hà Nội. Bà con buôn bán ở Hà Nội, nhất là Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bồ có nhiều doanh nhân tư sản gốc Đình Bảng, Bắc Ninh. Họ có quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Ông đã tranh thủ tình đồng hương và khơi dậy tinh thần yêu nước của bà con, vận động ủng hộ Việt Minh.

Đầu tháng 8-1945, cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Xứ ủy Bắc kỳ đều lên Tân Trào dự Quốc dân đại hội. Chiều 15-8, nghe tin trên đài biết Nhật đầu hàng Đồng minh, Thường vụ Xứ ủy quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội, giao cho ông Nguyễn Khang làm Chủ tịch, ông Trần Đình Long là cố vấn và ông Nguyễn Duy Thân là ủy viên phụ trách “giới công thương” cùng các ông Nguyễn Quyết, Lê Trọng Nghĩa, Trần Quang Huy. Ngày 17-8-1945, chứng kiến quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Việt Minh biến cuộc mít-tinh của công chức ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật bảo hộ thành cuộc tuần hành thị uy cách mạng. Ngày 18-8, Ủy ban Quân sự cách mạng chuyển vào số nhà 101 Gambette (nay là 101 Trần Hưng Đạo, trụ sở Viện Khoa học Giáo dục) làm việc. Không khí tấp nập lạ thường.

Sáng 19-8, bà con từ khắp các cửa ô kéo về Bờ Hồ rồi tập trung ở Quảng trường Nhà hát Lớn. Sau mit-tinh, hàng vạn quần chúng cách mạng từ quảng trường chia làm hai cánh: Cánh thứ nhất do ông Khang, ông Bình dẫn đầu tiến công vào Phủ Khâm sai, cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn, sau đó đánh tiếp ra Sở Bưu điện, Nhà băng Đông Dương…; cánh thứ hai do ông Nguyễn Quyết chỉ huy tiến công vào Trại Bảo an binh (đối diện rạp chiếu phim Majestic – nay là rạp Tháng Tám). Ông Thân theo cánh thứ nhất. Ai cũng phấn khích khi thấy quần chúng cách mạng ào ào tiến tới Phủ. Ông Trần Tử Bình chỉ thị qua điện thoại, buộc chính quyền các tỉnh phải bàn giao ấn tín và trụ sở cho Việt Minh. Ông Thân được phân công tiếp nhận và quản lý công việc hành chính của Phủ Khâm sai.

Bức ảnh lịch sử

Bức ảnh mà cụ Phan Thị Sáng có được, người bấm máy là ông Vũ Năng An, vốn là tay chụp ảnh có hạng ở Hà Nội. Sinh năm 1916 tại Nam Định, năm 20 tuổi ông An rời Nam Định vào nam lập thân. Khởi đầu xin học nghề ảnh tại Studio Géo Thơm ở Sài Gòn, rồi ông là một trong những người vận động thành lập Hội điện ảnh An Nam vào năm 1937-38. Với sự nhạy cảm của người cầm máy, ông cố gắng chụp cho được càng nhiều “pô” ảnh ghi lại những sự kiện thời sự trọng đại càng tốt. Sáng 19-8-1945, ngay tại Quảng trường Nhà hát Lớn, ông đã chụp được bức ảnh toàn cảnh vô giá về khí thế hừng hực của quần chúng nhân dân.

Khi về nhà tráng phim, in ảnh xong, giơ bức ảnh lên xem thì thấy rõ hình ảnh của ông Nguyễn Duy Thân, mặc áo vét, đầu đội mũ phớt, đang chạy về phía cổng. Đứng ngay trước ông là người để đầu trần, theo sau ông là người đội mũ cối… Ông An xúc động, thầm nghĩ sẽ tìm cách tặng cho người ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội bức ảnh này…

Còn bà về Phan Thị Sáng, trước ngày 19-8 bà đã tham gia vận động quần chúng, chuẩn bị khởi nghĩa ở Bắc Ninh. Sau này trò chuyện về Tổng khởi nghĩa, ông Lê Trọng Nghĩa thường nhắc: “Tôi cứ nhớ mãi cái hình ảnh bà Sáng súng buộc ngang lưng, dõng dạc đứng lên trong hội nghị của Hà Nội chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, nói lại kinh nghiệm của Bắc Ninh: “Các đồng chí khi cướp được công sở nhớ cử người mang súng cảnh giới, nếu không chỉ cần có tiếng súng nổ đẹt của mấy tay lính khố xanh, khố đỏ cũng làm bà con hốt hoảng mà tan rã”. Đầu tháng 8, bà được cùng đoàn đại biểu Bắc Ninh và Hà Nội (có ông Nguyễn Văn Trân, Trần Quốc Hoàn) đi dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào. Trước ngày khai mạc Đại hội, bà là đại biểu phụ nữ đặc cách dự Hội nghị Trung ương mở rộng. Sau đó bà trở về Bắc Ninh xây dựng chính quyền nhân dân.

Bà kể: “Cuối năm 1945, đầu 1946, quân Tàu Tưởng vào giải giáp quân Nhật, đóng ở bốt Đáp Cầu và rất hay nhũng nhiễu nhân dân. Khi tỉnh ủy bàn phải đánh thì bà đề nghị phải tiêu diệt gọn. Sau trận đánh, không ngờ có tên thoát chết, chạy thoát thân về Hà Nội. Quân Tàu Tưởng hay tin đã kiện Chính phủ ta. Dân thị xã Bắc Ninh ngày đó còn thêu dệt: Bà Vũ Thị Khôi (bí danh của bà) chỉ huy trận đánh bốt Đáp Cầu, sau đó lấy ngựa hồng của chỉ huy Tàu chạy khắp thị xã. Vì có “kiện tụng”, ông Thân được cử lên Bắc Ninh thanh tra. Tới nơi ông yêu cầu gặp người bị kiện. Đứng trước ông không phải một nam nhi râu hùm hàm én mà lại là một cô gái trẻ đẹp, mặc áo dài the, đầu chít khăn mỏ quạ, có “súng sáu” giắt lưng. Ông lặng người thầm nghĩ: tại sao người con gái nhỏ bé, xinh xắn thế này lại có thể làm cái việc động trời như vậy? Ngay sau đó ông tìm hiểu rồi nhờ ông Xuân Thủy mai mối. Thấy ông tài giỏi, đẹp trai lại vào sinh ra tử, cùng chung lý tưởng nên bà nhanh chóng chấp nhận. Vậy là họ nên vợ nên chồng.

Hai ông bà cùng là đại biểu Khóa I của QH lập hiến 1946, tham gia xây dựng những bộ luật đầu tiên của nước Việt Nam mới. Ngày 14-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số 175, cử ông Nguyễn Khang làm Chủ tịch và ông Nguyễn Duy Thân làm Phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính và Thường vụ Liên khu một (Việt Bắc). Đến cuối năm 1951, ông Thân được cử đi học tại Trường Đại học Mác – Lê-nin của Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với một số cán bộ. Sau đó, ông Thân lâm bệnh rồi qua đời ở Bắc Kinh, Trung Quốc.

Ngày 15-5-2010, bà Phan Thị Sáng ra đi ở tuổi 91 khi chưa kịp chứng kiến dịp kỷ niệm lần thứ 65 Cách mạng Tháng Tám 1945 – ngày mà cả dân tộc trong đó có gia đình bà vùng đứng lên Tổng khởi nghĩa đưa lịch sử của dân tộc lật sang trang mới.

TRẦN KIẾN QUỐC
nhandan.com.vn