Ba bài học lớn từ Cách mạng Tháng Tám

Đúng ngày này, cách đây tròn 67 năm – ngày 19-8-1945 – dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn thể nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Đánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, trong Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Cách mạng Tháng Tám là một sự kiện vĩ đại, mở ra một bước ngoặt lớn và ghi thêm vào lịch sử dân tộc những trang chói lọi.

Quân và dân Hà Nội chiếm Phủ Khâm sai ngày 19-8-1945. Ảnh: tư liệu

65 năm đã trôi qua, nhưng những bài học quý báu của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng, phát triển Thủ đô và đất nước hôm nay. Đó là bài học chớp thời cơ. Ngay trong đêm 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1. Bác Hồ đã khẳng định: “Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Lịch sử đã chứng minh rằng, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, không thể lấy thời điểm nào khác ngoài thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chọn.

Đó là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong những ngày Tháng Tám sục sôi cách mạng, trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình trong nước và thế giới có lợi cho cách mạng Việt Nam, đứng trước thời cơ ngàn năm có một để giành chính quyền, Đảng ta đã có những quyết định quan trọng: Triệu tập Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng từ ngày 13 đến 15-8-1945 và Đại hội quốc dân ngày 16-8-1945 tại Tân Trào; phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa! Nghe theo tiếng gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng chục triệu đồng bào trong cả nước đã nhất tề đứng dậy tiến hành các cuộc biểu tình, mít tinh, vũ trang thị uy, chiếm công sở của địch, xóa bỏ hệ thống cai trị của chế độ cũ, khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng. Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng tuyệt vời của sức mạnh Việt Nam, của tinh thần, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.

Đó là bài học về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng niềm tin cho quần chúng vào sự thắng lợi tất yếu của cách mạng. Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Đảng ta chỉ có khoảng 5.000 đảng viên, thế nhưng mỗi chi, đảng bộ, mỗi cán bộ, đảng viên đã dũng cảm đi đầu làm gương để quần chúng noi theo. Bí quyết của thành công chính là ở chỗ Đảng tạo được niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mọi đảng viên đều tạo được niềm tin về sự hy sinh, đạo đức trong sáng của mình đối với quần chúng – không có niềm tin đó thì cách mạng không thể thành công.

Năm nay, kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám thành công cũng là dịp Hà Nội cùng các địa phương khác trong cả nước đang nỗ lực thi đua hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của giai đoạn 2005 – 2010. Nhìn lại chặng đường 5 năm qua, vượt lên bao khó khăn, thử thách, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thống nhất, hăng hái trong lao động, sản xuất và đã đạt được các thành tựu rất quan trọng. Các cấp, ngành của thành phố đã tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khóa X), Nghị quyết số 15 của Quốc hội (khóa XII) và 9 chương trình công tác lớn của Thành ủy; 5 nhiệm vụ trọng tâm và 2 khâu đột phá của thành phố, đạt và vượt chỉ tiêu Đại hội XIV của Đảng bộ đề ra. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá (trên 10,4%/năm); đời sống của cán bộ công chức và người dân được cải thiện; văn hóa – xã hội có chuyển biến tiến bộ; công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được tăng cường, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quan hệ hợp tác, đối ngoại của Thủ đô được mở rộng…

Từ nay đến Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội thời gian không còn nhiều, công việc trước mắt còn bộn bề, thế nhưng nếu biết phát huy và vận dụng có hiệu quả giá trị vô cùng to lớn từ những bài học của Cách mạng Tháng Tám: Bài học về chớp thời cơ; bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; bài học về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, chắc chắn Hà Nội sẽ đẩy nhanh được tiến độ thi công các công trình, dự án trọng điểm, bảo đảm hoàn thành đúng kế hoạch và có chất lượng, thiết thực phục vụ phát triển KT-XH và đời sống nhân dân Thủ đô; tổ chức thành công Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, để lại ấn tượng sâu sắc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín Thủ đô Hà Nội trong lòng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.

Hànộimới
hanoimoi.com.vn

Thư gửi Vǎn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức ở Quốc tế Cộng sản (27-2-1930)

Các đồng chí thân mến,

Trong hoàn cảnh tôi sống không hợp pháp, tôi cần có một nghề để nói với người khác. Tôi đóng vai phóng viên báo chí. Nhưng cần phải chứng thực được danh nghĩa đó của tôi. Trong số tất cả các báo của các đảng chúng ta, tôi thấy chỉ có mỗi một tờ báo không mang cái tên “có tính chất lật đổ” và có thể cấp cho tôi một giấy chứng nhận thuận tiện, đó là báo Thế giới.

Tôi đề nghị các đồng chí xin cho tôi một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế giới. Tên của tôi sẽ là L.M.Vương. Nếu các đồng chí cần biết những điều gì thêm về tôi, các đồng chí cứ hỏi các đồng chí Pháp.

Lời chào cộng sản thân ái
Ngày 27 tháng 2 nǎm 1930

NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ của tôi (chỉ dùng để gửi giấy chứng nhận cho tôi thôi):

Ông TIẾT NGUYỆT LÂM

Hoa Phong công ty, số nhà 136, đường Wan Chai, Hồng Công.

—————————-

Bút tích tiếng Pháp,bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi đại diện Đảng Cộng sản Phápở Quốc tế Cộng sản (27-2-1930)

Các đồng chí thân mến,

1. Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Về vấn đề tổ chức, tôi đã gửi báo cáo cho Ban phương Đông. Do đó, tôi thấy không cần nhắc lại ở đây, các đồng chí sẽ xem báo cáo đó ở Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

2. Tôi có mấy yêu cầu và câu hỏi sau đây với các đồng chí. Cần giáo dục các đồng chí An Nam chúng tôi, vì trình độ tư tưởng, lý luận và kinh nghiệm chính trị của các đồng chí đó còn rất thấp. Tôi yêu cầu các đồng chí: (a) cho chúng tôi một tủ sách các tác phẩm của Mác và Lênin, và các sách khác cần cho việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa; (b) gửi cho chúng tôi báo L’Humanité và tạp chí Inprekorr và cả Điều lệ, Cương lĩnh của Đảng và Đoàn thanh niên cộng sản.

3. Cách gửi: sách thì đóng vào những gói nhỏ, báo và tài liệu thì cho vào phong bì, giấu vào trong các đầu đề: Điều lệ và Cương lĩnh.

4. Cho tôi vài địa chỉ chắc chắn ở Pari để chúng tôi có thể viết thư cho các đồng chí.

Cho chúng tôi biết tên những con tàu chạy đường Pháp – Viễn Đông trên đó có các đồng chí Pháp làm việc và cho chúng tôi biết tên các đồng chí đó để chúng tôi có thể bắt liên lạc với họ (chúng tôi ở đây buộc phải thay đổi chỗ ở luôn cho nên không thể cho biết địa chỉ được).

5. Chúng tôi sẽ làm cách nào để sự hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Pháp thực sự có hiệu quả.

6. Tôi được biết có những đồng chí Việt Nam ở Pari lợi dụng danh nghĩa đảng viên để nhận (nói đúng hơn là bòn rút) tiền của các công nhân An Nam. Tôi đề nghị các đồng chí kiểm soát họ để tránh gây ấn tượng xấu trong công nhân. (B)[5]Hoàng là một người tốt nhưng không biết gì về chính trị. Anh ta đã gửi những người phản cách mạng đến Trường đại học các dân tộc phương Đông (những người nhiệt tình theo phái Nguyễn Thế Truyền) và đã cử những đại biểu (đến Đại hội lần thứ sáu) đánh lẫn nhau và gây những chuyện tai tiếng. Tôi yêu cầu từ nay Trường không nhận các đại biểu hoặc học sinh An Nam nào không có sự giới thiệu của Đảng Cộng sản Việt Nam.

7. Coi như bước đầu của sự hợp tác, tôi đề nghị Đảng Cộng sản Pháp công bố một bức thư góp ý kiến với Đảng Cộng sản Việt Nam và ra lời kêu gọi lính Pháp ở Đông Dương. Thư và lời kêu gọi đó phải ngắn gọn để chúng tôi có thể dịch và phân phát dưới hình thức truyền đơn (do chúng tôi phải in theo lối cổ sơ). Tôi đề nghị các đồng chí gửi cho tôi bản gốc những tài liệu đó.

8. Địa chỉ gửi cho tôi: Về thư (Gửi cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề trên phong bì: Ông Vícto Lơbông, 123, đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp). Về sách báo: Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, 53, phố Uynhêm, Hồng Công.

9. Lúc này tôi chưa biết rõ vị trí của tôi. Tôi hiện là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp hay Đảng Cộng sản Việt Nam ? Cho đến khi có lệnh mới, tôi vẫn phải chỉ đạo công việc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng với danh nghĩa gì? Tôi không tham gia Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vì tôi chưa trở về Đông Dương được, nhất là lúc này, chúng đã ban cho tôi một cái án tử hình vắng mặt. Sự uỷ nhiệm công tác của Quốc tế Cộng sản cho tôi đã hết hạn chưa? Nếu chưa, tôi vẫn tham gia Ban phương Đông ở đây? Tôi đề nghị các đồng chí nhắc Ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản cho quyết định về việc này.

10. Sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam có lời kêu gọi sẽ được phân phát trong cả nước vào khoảng ngày 20-3.

Trước đây tôi có nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản dàn xếp (?) các vấn đề về cách mạng ở Đông Dương, nay nhiệm vụ đã hoàn thành, tôi nghĩ có bổn phận gửi cho các bạn và các đồng chí Lời kêu gọi này.

(Nguyên vǎn Lời kêu gọi)[6].

Tôi đề nghị các đồng chí:

a) Công bố trên báo L’Humanité và tạp chí Inprekorr Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

b) Chuyển những thư kèm theo.

c) Và trả lời cho tôi biết.

Lời chào cộng sản thân ái
Ngày 27 tháng 2 nǎm 1930

NGUYỄN ÁI QUỐC

———————————-

Bút tích tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

[5]) Nguyên vǎn có chữ (B) chưa rõ ý nghĩa.
[6]) Xem Lời kêu gọi ở tr.8-10.

 

 

 

Thư gửi Vǎn phòng đại diện Đảng Cộng sản Mỹ (27-2-1930)

Ngày 27-2-1930

Các đồng chí thân mến,

Tôi đề nghị các đồng chí hỏi Đảng bộ về việc gửi cho chúng tôi báo và tạp chí của Đảng để chúng tôi có thể dịch đǎng báo của chúng tôi. Đầu đề và tên báo, tạp chí thì nên gấp vào phía trong. Đồng thời gửi cho chúng tôi một tờ báo tư sản để cãi với cảnh sát nếu chúng phát hiện chúng tôi nhận báo Đảng.

Lời chào cộng sản
Thay mặt Đảng Cộng sản Đông Dương

NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ của tôi:
Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo,
Số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Công.

——————–

Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng chí Sôta Liên đoàn chống đế quốc – Béclin (27-2-1930)

Ngày 27-2-1930

Các đồng chí thân mến,

Tôi đang ở Trung Quốc. Khó có thể viết dài cho đồng chí lúc này. Chỉ vắn tắt mấy chữ.

a) Đảng đã được thành lập ở Đông Dương.

b) Có thể hai tuần nữa tôi sẽ viết cho đồng chí dài hơn. Hai tháng nữa sẽ có những tin vui cho Liên đoàn.

c) Đồng chí có nhận được tất cả thư từ tôi gửi cho đồng chí không?

d) Gửi cho tôi những Điều lệ, Cương lĩnh, tài liệu của Liên đoàn, bỏ vào phong bì của một hiệu buôn và gửi đến địa chỉ sau đây:

Ông TIẾT NGUYỆT LÂM

Hoa Phong công ty,

136, đường Wan Chai, Hồng Công.

e) Gửi cho tôi cả báo ảnh của Cứu tế công nhân. Đây chỉ là “màn khói” để nhận các báo khác.

Đồng chí gửi báo đó cho tôi theo địa chỉ:

Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo,

53 phố Uynhêm, Hồng Công.

f) Cho tôi địa chỉ của một tờ báo ấn Độ tốt nhất.

g) ít lâu nữa, tôi sẽ gửi cho đồng chí những phong bì để đề nghị đồng chí chuyển đến những địa chỉ khác nhau, ngoài phong bì ghi các ký hiệu sau đây:

G là để gửi cho báo Tiếng còi (Mátxcơva)

P là để gửi cho báo Sự thật (Mátxcơva)

I là để gửi cho tạp chí Thư tín quốc tế (Béclin)

Gửi tới đồng chí và Anna những kỷ niệm cách mạng thân mến.

PÔN

—————————-

Bút tích tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi các đồng chí Liên Xô (28-2-1930)

Ngày 28-2-1930

Các đồng chí thân mến,

Người An Nam, nhất là những người lao động, muốn biết nước Nga. Nhưng các sách báo cách mạng đều bị pháp luật hà khắc của đế quốc Pháp nghiêm cấm. Hơn nữa, công nhân và nông dân An Nam phần lớn không biết chữ. Những người có học chút ít không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng An Nam. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải nói với họ về Tổ quốc đó của giai cấp vô sản như thế nào. Để làm việc này tôi có ý định viết một quyển sách, – bằng tiếng An Nam, đương nhiên – dưới hình thức: “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi”. Tôi mong rằng nó sẽ sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện. Đây là Đề cương của tôi về cuốn sách đó.

I. TRƯỚC CÁCH MẠNG

1. Điều kiện sống của công nhân và nông dân.

2. Các tổ chức cách mạng, công tác và sự hy sinh của các tổ chức đó.

3. Sự chuẩn bị cho cuộc cách mạng.

4. Công tác bí mật của R.K.P.

II. TRONG CUỘC CÁCH MẠNG

1. Cách mạng bắt đầu.

2. Đảng và các công đoàn.

3. Nông dân, sinh viên, phụ nữ, nhi đồng tham gia cách mạng.

4. Những khó khǎn do bọn đế quốc gây ra, bọn phản cách mạng Nga, nạn thiếu đói, và sự anh dũng cách mạng.

5. Sự phát triển dần dần của đất nước Xôviết.

6. Chủ nghĩa cộng sản thời chiến 2 (đời sống thực).

III. NGÀY NAY

1. Tổ chức Chính phủ Xôviết.

2. Điều kiện sống của công nhân, nông dân, binh lính, phụ nữ, sinh viên, nhi đồng, phụ lão, v.v.. Đại học công nhân, trường Đảng, v.v..

3. Đời sống trong các nhà máy, trại lính, trường học (giáo dục, giải trí, nghỉ hè, v.v.).

4. Hôn nhân và nhà ở.

5. Các hợp tác xã.

6. Phú nông và con buôn.

7. Vấn đề ruộng đất.

8. Kết quả của chính sách kinh tế mới 3 và của kế hoạch 5 nǎm.

9. Quốc tế cộng sản 4 , Quốc tế Công hội 5 , Quốc tế Nông dân 6 (số hội viên và các nước tham gia).

10. Rạp hát, bệnh viện, nhà trẻ, v.v..

11. Số liệu so sánh (1914-1930) về:

a) số tổ chức công nhân và nông dân, thành viên của các tổ chức này;

b) về số trường học và số học sinh;

c) về bệnh viện và các cơ quan xã hội khác;

d) số công nhân và nông dân biết chữ;

e) sản xuất trong nước.

v.v., v.v..

Bây giờ có hai vấn đề được đặt ra:

1. Tài liệu: Tôi không có gì cả. Tôi đề nghị các đồng chí cung cấp cho tôi tài liệu bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh. Gửi đến cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đề ngoài bì: Gửi ông Vícto Lơbông, 123 – Đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp, với câu ghi: “Nhờ chuyển ngay tức khắc”.

2. Việc in: ở đây chúng tôi chỉ có poly-copie nên chỉ có thể in nhiều nhất là một trǎm bản. Chữ cái Việt Nam giống như chữ cái Latinh với một số dấu phụ, ví dụ: a à á â ạ ã, v.v., khi viết xong cuốn sách, chúng tôi có thể in ở nơi các đồng chí được không?

Tôi tin tưởng ở đồng chí về mặt tài liệu cũng như về những lời khuyên cần thiết. Hãy trả lời cho tôi theo địa chỉ trên.

Lời chào cộng sản anh em

NGUYỄN ÁI QUỐC

——————————

Bút tích tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi Vǎn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh ở Quốc tế Cộng sản (28-2-1930)

Đồng chí thân mến,

Tôi đề nghị đồng chí gửi cho chúng tôi báo La Vie Ouvrière và tạp chí của Quốc tế Công hội đỏ. Các báo chí đó sẽ dán tem Pháp và tên các báo phải giấu kín. Đồng thời gửi cho chúng tôi bất kỳ một tờ báo tư sản nào (nhận ở báo La Vie Ouvrière). Điều này là để chối cãi nếu cảnh sát thấy rằng chúng tôi nhận các báo chí “lật đổ”.

Lời chào cộng sản thân ái
Ngày 28 tháng 2 nǎm 1930
Thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam (Đông Dương)

NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ của tôi:
Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo,
số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Công.

—————————–

Bút tích tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam (5-3-1930)

Từ khi đế quốc Pháp xâm chiếm An Nam, trong nước, luôn luôn có phong trào quốc gia. Nhưng trước nǎm 1905, đó là một sự hỗn hợp giữa chủ nghĩa phản đế, chống công giáo và Cần Vương 7 . Tuy vậy, lúc đó không có phong trào quần chúng, không có một tổ chức nào như một đảng. Ngọn cờ dân tộc do Hoàng Hoa Thám nắm, cùng với một số ít người có tinh thần kiên quyết và được sự giúp đỡ của nông dân, đã đánh chiếm Yên Thế và tiến hành các cuộc chiến đấu chớp nhoáng chống nhà cầm quyền Pháp. Bọn Pháp không thể tiêu diệt được Hoàng Hoa Thám, do đó nhân dân tin rằng Hoàng Hoa Thám là thần thánh, biết trước được mọi việc. Nǎm 1911, bọn Pháp thuê một tên phản bội đầu độc Hoàng Hoa Thám.

Nǎm 1905, thắng lợi của Nhật đối với Nga đã có tiếng vang to lớn ở An Nam. Nhân dân nói rằng: “Người da vàng không còn kém người da trắng”. Họ cho Nhật là kẻ vô địch của tự do ở các nước châu á. Thêm vào tinh thần đó, nền vǎn học cải lương Trung Hoa của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi đã đưa tinh thần dân tộc An Nam lên độ cao. Sau đó bắt đầu có cuộc đi ra nước ngoài của tầng lớp trí thức sang Nhật Bản. Những người đi ra nước ngoài đó có tổ chức một đảng, có một hoàng thân làm chủ tịch và một nhà vǎn hào nổi tiếng (Phan Bội Châu) làm tổng thư ký. Đảng này cũng như hy vọng vào sự giúp đỡ của Nhật Bản đã không kéo dài được lâu. Nhật Bản lợi dụng phong trào đó để doạ Pháp và buộc Pháp phải ký một hiệp ước (1907) cho Nhật có quyền đưa quân đội sang An Nam khi xứ thuộc địa này có triệu chứng náo động, chúng trục xuất sinh viên An Nam ra khỏi nước Nhật. Một số những người xuất dương trở về An Nam bị giam một thời gian, hoặc quay lại làm gián điệp cho chính phủ thực dân. Một số sang Trung Quốc. Còn hoàng thân làm chủ tịch đảng vẫn còn ở Nhật sống dưới sự khoản đãi của bọn quý tộc Nhật Bản, bọn này cấp cho mỗi tháng 50 yên. Đảng Quang phục hoặc Đảng Quốc dân đến đây chấm dứt.

Nǎm 1908, một cuộc bãi công của nông dân nổ ra trong toàn quốc, những người bãi công ở mỗi huyện tập hợp lại bắt một số bọn thu thuế chợ bỏ vào bao và ném xuống sông, bắt các quan lại ở huyện đưa lên tỉnh và trao trả lại cho chính quyền Pháp, giết một số cảnh sát và phá một vài trạm cảnh sát. Ngoài ra những người bãi công tỏ ra ôn hoà và họ không có vũ khí. Đặc điểm của cuộc bãi công là lòng cǎm thù đặc biệt hướng vào quan lại An Nam làm công cụ tối đắc lực cho chính quyền và là những kẻ gây ra khổ cực. Những người bãi công đòi một cách ôn hoà bọn Pháp phải rút những quan lại đó đi và phải giảm thuế điền thổ. Để biểu thị sự đoàn kết, mọi người bãi công đều cắt tóc ngắn (người An Nam quen để tóc dài như người Sik ở ấn Độ) và gọi nhau là anh em. Cuộc bãi công kéo dài ba bốn ngày và cuối cùng bị đàn áp bằng nhiều cuộc chém giết đẫm máu. Bọn Pháp gọi cuộc bãi công đó là “cuộc bạo động của những anh em tóc ngắn”. Sau đó là giai đoạn khủng bố trắng. Tất cả những người cắt tóc ngắn đều bị bắt. Tất cả những người trí thức nào có đôi chút tiếng tǎm đều bị đưa đi đày. Tất cả các trường tư thục đều bị đóng cửa và tất cả các sách báo nước ngoài đều bị cấm. Tất cả những người lãnh đạo hoặc bị coi là người lãnh đạo – khoảng 200 – đều bị chặt đầu. Thuế má tǎng.

Nǎm 1910, binh sĩ An Nam ở Hà Nội có tổ chức một cuộc đầu độc 8 tất cả người Pháp ở trong thành phố. Binh lính và sĩ quan Pháp đang ǎn cơm tối như thường lệ, một số đã thấy buồn ngủ. Người đội An Nam đã có mặt ở đồn và sẵn sàng ra lệnh khởi nghĩa. Bất chợt một đại uý Pháp đến trại, ngừng bữa cơm tối và cho báo động. Các binh sĩ cách mạng bị một tên đầy tớ của tên đại uý phản bội. Cuộc đầu độc bị đàn áp rất tàn nhẫn. Những người lãnh đạo bị bắt ngồi trên mũi lưỡi lê và dùng kìm nguội rứt từng miếng thịt một. Cha mẹ họ phải chứng kiến cuộc tàn sát và lễ chặt đầu. Đầu của phạm nhân bị cắm vào đầu gậy tre đặt ở những đường phố đông người trong nhiều ngày. Những người tham gia vụ đầu độc tỏ ra rất dũng cảm. Khi bọn quan lại hỏi, họ chỉ trả lời rằng: “Chính chúng tôi mới là người xử các anh, chứ không phải các anh là người xử chúng tôi”. Trên đoạn đầu đài, họ nói với người An Nam rằng: “Nếu các bạn tiếp tục công việc của chúng tôi và thành công trong công việc mà chúng tôi đã thất bại thì chúng tôi chết cũng vui”.

Nǎm 1911, có một vụ khác nữa. Một trái bom nổ ở sân một tiệm cà phê Pháp giết chết nhiều sĩ quan và thường dân Pháp. Những người ném bom trốn thoát, nhưng dân chúng Pháp ở Hà Nội muốn yêu cầu nhà cầm quyền “cho một bài học”. Do đó nhiều người An Nam bị bắt và bị bắn chết. Luật giới nghiêm được công bố và tiếp theo sau là khủng bố trắng.

Nǎm 1915 nhà cách mạng Lương Ngọc Quyến bị bắt giam ở tỉnh Thái Nguyên. Trong khi ở nhà lao, ông có tổ chức một cuộc bạo động. Cuộc bạo động bắt đầu ở trong nhà lao sau lan ra thành phố. Nhiều người Pháp bị giết, nhiều người khác phải bỏ chạy. Những người cách mạng chiếm giữ thành phố trong nhiều tuần. Bọn Pháp phá hết lúa má trong tỉnh và tổ chức phong toả. Phong trào bị thiếu lương thực nên đã thất bại.

Nǎm 1916 lại chứng kiến một cuộc khởi nghĩa khác. Lần này là nhà vua An Nam trẻ tuổi khởi đầu phong trào. Bọn Pháp bắt hàng ngàn thanh niên An Nam sang chiến trường Pháp và Bancǎng. Nhà vua có liên lạc bí mật với binh lính An Nam và chuẩn bị cuộc khởi nghĩa. Nhưng vì bị một tên quan phản bội nên nhà vua bị bắt vài giờ trước thời gian định nổ ra cuộc khởi nghĩa. Những người giúp việc bị chặt đầu và nhà vua bị đưa đi đày ở đảo Rêuyniông ở châu Phi.

Nǎm 1919, nhân dân thuộc địa chưa biết cuộc cách mạng Nga, biết được một ít thì lại bị tuyên truyền của đế quốc xuyên tạc thành một việc rất dã man: “một người lông lá cắn con dao giữa hai hàm rǎng, máu me từ trên con dao nhỏ giọt xuống”… Do đó tất cả đều bị bài hát tự do của tổng thống Uynxơn mê hoặc. Cũng như dân tộc Triều Tiên, Ai Cập, Xyri và các dân tộc bị áp bức khác, một số những người quốc gia Việt Nam trẻ tuổi gửi một bản yêu cầu cho Hội nghị hoà bình ở Vécxây 9 . Họ nhận được những bức thư rất hay của các phái đoàn hứa sẽ “chú ý xem xét”. Thế là hết. Tuy thế những tờ giấy ngây thơ đó lại đã gây ra những tiếng sủa điên cuồng trên báo chí thực dân Pháp, binh sĩ An Nam ở Pháp bị lục soát và “quản chế” nghiêm ngặt.

Từ nǎm 1920 trở đi, một hội tập hợp tất cả những phần tử quốc gia của các thuộc địa được tổ chức ở Pari. Họ ra một tờ báo và làm dư luận bàn tán sôi nổi 10 . Tất nhiên, người An Nam là trung tâm của tổ chức ấy. Kết quả của tất cả những cái đó đều rất được bọn cảnh sát của “chính quốc” Pháp quan tâm. Chúng thuê hơn một ngàn lính mật thám mới để theo dõi nhóm người “bônsêvích” thuộc địa. Nhưng rất đúng là do hay chửi rủa những người “bônsêvích” đó mà bọn Pháp ở các thuộc địa đã làm cho quần chúng phải suy nghĩ. Quần chúng không biết chủ nghĩa bônsêvích thực ra là gì, nhưng họ nói với nhau rằng: “được, dù đó là cái gì đi nữa, nhưng vì nó không tốt đối với Pháp, thì phải là tốt đối với chúng ta”. Vì vậy bọn đế quốc Pháp đã làm việc tuyên truyền cộng sản nhiều hơn Quốc tế thứ ba mong muốn.

Nǎm 1924, tên toàn quyền Pháp từ Nhật Bản trở về đến Sa Diện (Quảng Châu), một người An Nam ném một quả bom vào tên đó 11 . Nhiều người Pháp cùng đi với hắn đã bị chết, còn chính hắn thì không việc gì. Sự việc đó gây ra một sự rắc rối giữa chính quyền ở Quảng Châu và người Pháp. Vì việc lại xảy ra ở Trung Quốc nên bọn Pháp ngǎn ngừa hết sức cẩn thận và khôn khéo để tiếng vang không đến tai quần chúng An Nam.

Nǎm 1925, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội được thành lập ở Quảng Châu 12 . Hội rất tích cực tổ chức các lớp huấn luyện, đưa thanh niên từ An Nam sang học rồi sau khi huấn luyện cẩn thận lại gửi họ về nước. Nhiều người gọi là sinh viên đỏ đã bị bắt ở biên giới và bị kết án tù dài hạn. Nhưng nhà trường vẫn tiếp tục công việc rất có kết quả. Điều đó, cộng thêm với việc thống nhất tỉnh Quảng Đông của Quốc dân Đảng Trung Quốc – lúc đó làm rất triệt để – đã khiến cho đế quốc Pháp ở Đông Dương khiếp sợ. Trong tư tưởng của những người đứng ra tổ chức thì Hội này sẽ là cơ sở cho một đảng lớn hơn và tương lai đã chứng minh điều đó.

Nǎm 1926, có một sự thức tỉnh trong toàn quốc tiếp theo sau cái chết của một nhà quốc gia chủ nghĩa già – Phan Chu Trinh. Khắp trong nước đều có tổ chức lễ truy điệu. Chữ “Chủ nghĩa quốc gia” từ đó được nói và viết một cách công khai. Những giáo viên Pháp tìm cách ngǎn cấm học sinh tham gia các cuộc mít tinh đó. Nam nữ học sinh ở nhiều trường, đặc biệt là ở Sài Gòn là nơi tổ chức đám tang, đã tuyên bố bãi khoá. 20.000 người đi theo linh cữu mang biểu ngữ viết những khẩu hiệu có tính chất quốc gia chủ nghĩa. Người An Nam chưa hề được chứng kiến một việc to lớn như vậy bao giờ trong lịch sử.

Cũng trong khoảng thời gian đó, việc bắt một nhà cách mạng lão thành khác – Phan Bội Châu – lại là một dịp mới để bùng nổ ý thức quốc gia. Trước kia, viết tên Phan Bội Châu đã là phạm tội. Đến nay, mọi người nói đến một cách mến phục vì Phan Bội Châu là tiêu biểu cho chủ nghĩa quốc gia. Nhiều tổ chức gửi kiến nghị yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thả ông ra. Đặc biệt, sinh viên đã tỏ ra rất tích cực. Khi toàn quyền Varen (đảng viên Đảng Xã hội Pháp) đến, họ tổ chức các cuộc biểu tình mang khẩu hiệu “Nhà xã hội Varen muôn nǎm!”; “Thả Phan Bội Châu!”; “Đả đảo chủ nghĩa thực dân tàn ác!”. Phong trào lên cao đến nỗi toà án đặc biệt Pháp trước đây đã kết án tử hình nay lại phải thả Phan Bội Châu ra.

Bên cạnh Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội còn có ba nhóm chính trị: nhóm Thanh niên ở Nam Kỳ, Tân Việt ở Trung Kỳ và An Nam Quốc dân đảng ở Bắc Kỳ. Nhóm thứ nhất gồm phần lớn là thanh niên sinh viên; nhóm thứ hai là trí thức; nhóm thứ ba là tiểu tư sản. Nhóm cuối cùng tích cực hơn nên về số lượng và về chính trị mạnh hơn hai nhóm trên. Nhóm đó gồm chủ yếu những nhân viên trong chính quyền Pháp: giáo viên, phiên dịch, công chức nhỏ, v.v.. Nhóm đó có chi nhánh khắp trong nước. Tuy nhiên, từ đầu đến cuối, những tổ chức này không thấy có hoạt động chính trị gì, họ không có đủ thì giờ.

Nǎm 1929, đế quốc Pháp bắt đầu tiến công các tổ chức đó. Cuộc tấn công bắt đầu bằng khoảng 300 vụ bắt bớ ở Nam Kỳ để đàn áp nhóm Thanh niên. Tiếp đó là ở Bắc Kỳ có hơn 800 vụ bắt bớ. Hầu hết An Nam Quốc dân đảng bị lọt vào lưới. Sau đó cuộc tấn công hướng vào Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và Tân Việt ở Trung Kỳ với hơn 400 vụ bắt bớ. Tất cả nạn nhân của cuộc khủng bố trắng, hội viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, nếu bị phát hiện (đúng hoặc sai) là cộng sản thì đều bị tra tấn nặng nề hơn những người khác; đối với những người đó chỉ có tử hình và tù chung thân. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội – nhờ phương pháp tổ chức – nên bị thiệt hại ít hơn các nhóm khác về số lượng.

Quốc dân đảng trở nên manh động đã tổ chức vụ bạo động quân sự vừa rồi ở Bắc Kỳ (10-2-1930). Nếu báo chí nói đúng thì 13 đảng viên, trong đó có cả lãnh tụ Quốc dân đảng đã bị bắn chết. Sau trận đàn áp đó, đảng này rất khó phục hồi 13 .

Khoảng tháng 5 nǎm 1929, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội họp Hội nghị toàn quốc. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức ngay một đảng cộng sản. Các đại biểu khác đề nghị sau này hãy tổ chức. Nhóm Bắc Kỳ bỏ hội nghị ra về và tổ chức một đảng (Đông Dương). Một số khác, sau đó đã tổ chức một đảng khác (An Nam). Đó là mối bất hoà đầu tiên. Nhóm Bắc Kỳ tìm hết cách để phá hoại Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội vì họ cho rằng: Hội đó quá đông và cơ hội chủ nghĩa nên nó có thể làm lu mờ ảnh hưởng và công tác của Đảng cộng sản trong quần chúng. Nhóm An Nam ra sức giữ cho Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tiếp tục hoạt động vì họ cho rằng: Hội có thể lợi dụng để tập họp tầng lớp trí thức và giai cấp tiểu tư sản. Đó là mối bất hoà thứ hai. Cả hai đều cố thống nhất nhau lại, nhưng càng cố gắng bao nhiêu thì càng hiểu lầm nhau bấy nhiêu và hố sâu ngǎn cách ngày càng rộng bấy nhiêu.

Một mặt họ công kích lẫn nhau, tuy nhiên mặt khác cả hai lại đều công tác trong công nhân, nông dân và sinh viên, tổ chức các cuộc đình công, rải truyền đơn, v.v.. Nhiều thì giờ và sức lực đã bị lãng phí vì sự rối ren chia rẽ đó, đảng viên của mỗi bên đều bị thiệt hại, chỉ trích lẫn nhau là không bônsêvích, v.v.. Mặc dầu hoàn cảnh bất hợp pháp và những khó khǎn về chính trị và tài chính, họ đã xuất bản ít nhất là 11 tờ báo. Họ cũng còn mắc nhiều khuyết điểm nữa. Thí dụ khi một cuộc đình công nổ ra, họ phát ngay ra những truyền đơn có in dấu xôviết. Có khi, với một nhóm người đình công, họ cũng định tổ chức xôviết. Hoặc họ biết bắt đầu tổ chức một cuộc đình công như thế nào nhưng không biết làm thế nào để thu được kết quả tốt. Hoặc họ vô sản hoá trí thức bằng cách bắt những người trí thức kéo xe và, v.v..

Đặc điểm nổi bật các hoạt động của họ được thấy rõ trong dịp lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Trong dịp này, bọn Pháp đã huy động tất cả cảnh sát, hiến binh, dân vệ và một bộ phận quân đội. Luật giới nghiêm được công bố và cảnh vệ vũ trang đi tuần tiễu trong các thành phố cũng như các làng mạc. Chúng sợ một cuộc khởi nghĩa. Mặc dầu có sự kiểm soát nghiêm ngặt, những người cộng sản đã thực hiện thắng lợi công việc của mình. Truyền đơn rải khắp nơi, biểu ngữ đỏ chǎng qua các đường phố, khẩu hiệu dán trên tường, cờ đỏ treo trên cây hoặc trên nóc nhà và trên dây điện. Một vài người làm công tác tuyên truyền đã bị bắt khi đang ở trên cành cây. Cuộc tổ chức lễ đó đã tác động rất mạnh đến quần chúng.

Ngày nay các nhóm cộng sản đã thống nhất vào một đảng, hoạt động nhất định sẽ tốt hơn trước nhiều. Nhưng bọn đế quốc Pháp cũng không khác trước. Bất kỳ ai đến một khách sạn cũng đều phải đưa thẻ cǎn cước có ảnh cho cảnh sát, giấy tờ đó chỉ được trả lại khi nào đi nơi khác. ở các làng, đàn ông từ 18 đến 60 tuổi phải đi canh gác. Suốt ngày đêm đều có người canh gác ở cửa nhà ga, cổng làng và bến sông. Một giáo viên nông thôn không được đi ra khỏi nhà quá 5 kilômét. Một người (đàn ông cũng như đàn bà) đi từ làng mình sang làng bên cạnh cũng phải trình thẻ cǎn cước và ảnh. ở đâu cũng có mật thám và đủ các loại mật thám: một số do bọn Pháp thuê, một số khác do quan lại trong tỉnh, một số khác nữa vẫn do tỉnh trưởng hoặc phó tỉnh trưởng thuê, v.v.. Gần đây (tháng 12 nǎm 1929), hai làng đã bị triệt hạ và tất cả dân cư đều bị bắt vì cảnh sát thấy có hai người cách mạng trốn ở đó mà không bắt được!

Chúng ta có thể tin tưởng chắc chắn rằng với kinh nghiệm và lòng hy sinh, với quần chúng ở bên cạnh, những người cộng sản nhất định sẽ chiến thắng.

Ngày 5 tháng 3 nǎm 1930

——————————

Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi đồng chí Zao và các học sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô (5-4-1930)

Đồng chí,

1. Trong nước bây giờ đã có đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa.

2. Đến kỳ hội Quốc tế lao động sẽ có anh em công nhân qua đại biểu, vậy đồng chí Zao phải phụ trách phần dịch cho các đại biểu đó. Trách nhiệm đại khái như sau này:

A. Bàn với đại biểu làm báo cáo, rồi dịch ra tiếng Nga, để khi khai hội mà báo cáo.

B. Trong khi diễn thuyết giữa hội, hoặc nói khác, anh em công nhân không quen nói, thì mình phải tuỳ đó mà thêm thắt vào cho có thể thống.

C. Phải chú ý các việc, các báo cáo trong đại hội, để mà phiên dịch và giải thích kỹ càng cho anh em đại biểu hiểu.

D. Khi đại hội rồi, phải dọn sắp tài liệu để cho đại biểu đem về báo cáo trong nước.

E. Đi ra ngoài, gặp những việc tốt, thì phải báo cho anh em đại biểu chú ý, để so sánh với tình cảnh trong nước mình. Gặp những sự không vẻ vang, như lang thang, cơ nhỡ , vân vân, phải hết sức giải thích cho anh em hiểu, chớ để họ có ấn tượng không tốt .

Nói tóm lại là làm sao cho anh em đại biểu hiểu, hǎng hái, và yêu mến Xô-Nga, lại có cảm tình với anh em lao động các nước.

3. Tất cả anh em học sinh, nhất là người phụ trách, đối với đại biểu lao động phải tỏ tình rất thân mật. Chớ để người ta trông thấy sự phân biệt trí thức và vô sản 1 .

4. Khi đại hội rồi, đại biểu đã trở về, thì đồng chí Zao phải gởi thơ về báo cáo và phê bình các đại biểu đó. Thơ ấy đem lên Bostosny Odel 2 , nói gởi cho M.Victor Lebon ở Đông Phương bộ Thượng Hải.

5. Nếu đồng chí Zao không ở Kuvt 3 nữa, thì anh em cũng cử một đồng chí khác phụ trách thế.

6. Tài liệu báo cáo, chúng tôi sẽ gởi qua.

Chúc các đồng chí gắng sức!
5-4-30

Thay mặt ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

———————–

Bút tích tiếng Việt, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám mở ra thời đại Hồ Chí Minh

(HNM) – Cách mạng tháng Tám năm 1945 – Một mốc son trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thành quả Cách mạng tháng Tám năm 1945 tạo ra những biến đổi lớn về chính trị, xã hội, mang tầm bao quát rộng lớn về chiều hướng phát triển đất nước và chứa đựng những yếu tố cơ bản sự vận động phù hợp với sự phát triển nội tại của đất nước trong xu thế phát triển chung của nhân loại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là nhà cách mạng tài ba Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám đặt nền móng cho một thời đại mới ở Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám chấm dứt vĩnh viễn chế độ quân chủ phong kiến hàng ngàn năm, xóa bỏ chế độ thực dân, mở ra một thời đại mới. Chế độ phong kiến kéo dài hơn ngàn năm ở nước ta mang bản chất quân chủ phong kiến. Quyền lực của vua là tối thượng, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều ở nơi vua. Giang sơn đất nước là của vua, dân là phương tiện bảo vệ, hy sinh cho quyền lực và lợi ích ấy. Vua là đấng minh quân, quan là bậc trung quân, ái quốc, biết nhìn ra sức dân, biết dựa vào hiền tài để chấn hưng đất nước thì dân được nhờ, đất nước vững mạnh. Vua và quan lại mà sa đọa, tham lam, bè cánh trục lợi về quyền lực và vật chất thì dân khổ, nước suy, họa mất ngai vàng và mất nước là nguy cơ khôn lường.

Trong cảnh lầm than của nhân dân một nước phong kiến – thuộc địa, đầu thế kỷ XX, người thanh niên yêu nước Văn Ba ra nước ngoài và mang tên Nguyễn Ái Quốc, rồi trở về với tên gọi Hồ Chí Minh, đã khởi xướng cuộc biến đổi to lớn cho đất nước, cho nhân dân. Cách mạng tháng Tám thắng lợi vừa đánh dấu chấm hết vĩnh viễn chế độ quân chủ phong kiến từng tồn tại hàng ngàn năm và phá tan xiềng xích thực dân gần trăm năm trên đất nước ta, làm thay đổi căn bản chế độ chính trị trong xã hội Việt Nam, vừa là khởi đầu cho một thời đại mới, thời đại mà người dân từ vị thế bị áp bức, bóc lột, trở thành người làm chủ bản thân, làm chủ đất nước thông qua chế độ dân chủ.

Thời đại dân là chủ, dân làm chủ bắt đầu. Sau khi đã trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”(1), ngay ngày hôm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rằng, chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Người đề nghị sớm tổ chức cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Ngày 6-1-1946, sau vài tháng chuẩn bị, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc đã diễn ra. Tất cả công dân trai gái từ 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống… Đó “là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(2), điều mà ngàn năm trước đó không có. Hiến pháp dân chủ khẳng định vị thế chủ nhân đất nước là nhân dân. Mọi quyền lực, quyền lợi đều thuộc nơi dân. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và khu vực Đông – Nam Châu Á xuất hiện một hình thái nhà nước mới – nhà nước dân chủ, nhân dân.

Nếu như tính dân tộc là đặc trưng truyền thống, xuyên suốt lịch sử dân tộc thì tính dân chủ là đặc trưng mới bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Hơn một phần tư thế kỷ đổi mới, thực hành dân chủ từng bước được chú trọng. Hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức trong nhiều lĩnh vực hoạt động của hệ thống chính trị đang dần được khắc phục, điều rõ nhất là Quốc hội mấy khóa gần đây đã, đang từng bước phát huy dân chủ trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân. Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh thực hành dân chủ trên thực tế. Dân chủ là một đặc trưng rất cơ bản, một tất yếu lịch sử trong thời đại Hồ Chí Minh.

Triết lý độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH) là đặc trưng xuyên suốt thời đại Hồ Chí Minh ở nước ta. Trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên hết, vì có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được độc lập cho dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Người từng tuyên bố “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do, độc lập”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Vừa giành chính quyền, nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kế tiếp là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Giang sơn đất nước vừa mới thu về một mối thì phải đương đầu với chiến tranh xâm lược trên tuyến biên giới phía Bắc và biên giới Tây – Nam. Gần nửa thế kỷ, đất nước ta phải chịu đựng biết bao hy sinh, mất mát để bảo toàn độc lập. Thế mới biết giá trị độc lập trên đất nước này thiêng liêng như thế nào, thế mới thấu lòng Dân, ý Đảng khi ấy hòa quyện sâu đậm như thế nào.

Trước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(3). Đây vừa là tư tưởng, ý chí, tình cảm, vừa là ngọn cờ cách mạng của nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng CNXH.

Mục tiêu độc lập, hòa bình, thống nhất đã đạt được. Nhưng mục tiêu giàu mạnh, dân chủ vẫn còn là khát vọng cháy bỏng của Đảng ta và nhân dân ta. Hơn 25 năm kể từ Đại hội VI, 20 năm kể từ Đại hội VII đến nay mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đã được xác định trong Cương lĩnh sửa đổi và phát triển 2011. Mục tiêu đó cũng là nội hàm xây dựng CNXH.

Như chỉ đạo của Bộ Chính trị, vũ khí chỉnh đốn Đảng thiết thực, hiệu quả nhất lúc này là tự phê chân thành, phê bình thẳng thắn và xây dựng. Cả hai mặt đều quan trọng, có mối quan hệ biện chứng, nhưng tự phê chân thành là tiền đề thúc đẩy phê bình thẳng thắn và tạo môi trường giúp đỡ lẫn nhau trong tình đồng chí. Sự chuẩn bị của Bộ Chính trị rất nghiêm túc, chu đáo để bộ phận đầu não này thực thi và hướng dẫn toàn Đảng thực hiện. Bộ Chính trị là người đề xướng và tổ chức thực hiện, hơn nữa lại thực hiện trước, vì thế, có cơ sở để tin tưởng rằng, sự khởi đầu từ “nóc nhà” sẽ có kết quả mang tính nêu gương và có sức lan tỏa. Chỉ có thế Đảng ta mới kiên định được độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Đạo đức Hồ Chí Minh có giá trị xuyên thời đại mang tên Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Người để lại một di sản quý giá cho Đảng, cho dân, đó là Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức là nền tảng tư chất của người cách mạng, nó giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Theo Bác, việc tu dưỡng đạo đức suốt đời giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Đạo đức Hồ Chí Minh gắn chặt với tình yêu thương con người, thấu hiểu giá trị làm người. Khát vọng của Người: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người lại nói: “ Nước độc lập, mà dân không có tự do, thì độc lập ấy chẳng có ý nghĩa gì”. Người đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Không phải ngẫu nhiên, khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước của dân ra đời, người đặt Quốc hiệu là “Việt Nam dân chủ, công hòa; Độc lập, tự do, hạnh phúc”. Độc lập, tự do, hạnh phúc là khát vọng của Người, cũng là tuyên ngôn phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam từ 67 năm trước.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức mỗi người không tách rời đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên, đặc biệt là “một bộ phận không nhỏ” phải siêng năng, không lười biếng; phải biết tiết kiệm tiền của, công sức của dân, của nước, của bản thân mình; phải có đôi bàn tay sạch, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không tham lam quyền lực và vật chất; phải thẳng thắn, đứng đắn, nói đi đôi với làm, khiêm tốn, đoàn kết thật thà; phải để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không phai nhạt lý tưởng, không lợi dụng chức quyền để tùy tiện, vô nguyên tắc.

Thực hiện di huấn của Người làm nên thời đại ở Việt Nam và để xứng đáng với sứ mệnh là người tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, toàn Đảng đang triển khai thực hiện Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng”. Nếu những biểu hiện suy thoái (chính là chủ nghĩa cá nhân) của “một bộ phận không nhỏ” từng bước được quét sạch, thì đạo đức cách mạng mới được nâng cao. Lúc đó, lòng Dân, ý Đảng sẽ sắt son như những tháng năm hy sinh trước bom đạn vì độc lập dân tộc.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức của Người luôn là nguồn sáng để mỗi đảng viên, mỗi người dân tự soi mình để vươn tới tầm tư tưởng nhân văn ấy. Đồng thời, tấm gương đạo đức của Người đang là, phải là chuẩn mực để loại bỏ những con người cố tình làm băng hoại nền tảng đạo đức xã hội, làm giảm uy tín của Đảng trước nhân dân.

Thời đại Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc đến với nhân loại. Hồ Chí Minh đặt nền móng xây dựng tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là, tình đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước. Theo Người, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện ở lòng chân thành, giản dị, suốt đời hy sinh vì nhân quần, nhân ái. Người không đứng ngoài hay ở trên nhân dân, mà sống cùng nhân dân. Người không phân biệt màu da, sắc tộc, mà gần gũi với tất cả nhân dân lao động bốn phương. Người đã đưa dân tộc ta đến với nhân loại và sống cùng thời đại.

Cách mạng tháng Tám đã đưa dân tộc ta đứng ngang hàng và bình đẳng cùng phát triển với các dân tộc khác trên thế giới. Ngoại giao Hồ Chí Minh đã mở rộng quy mô cuộc đấu tranh giành và giữ vững nền độc lập dân tộc trên phạm vi thế giới. Phương châm này đã được Đảng ta khái quát thành chủ trương Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Tư tưởng ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh đã và đang đưa nhân dân ta đến với thế giới và đưa nhân dân thế giới đến với Việt Nam. Bác nói: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đang chung đúc cái chiêng Việt Nam bền đẹp đủ sức cất tiếng ngang tầm thời đại trong thế giới hôm nay.
*             *
Tầm vóc và vị thế của Việt Nam hôm nay có nguồn gốc bắt đầu từ sự biến đổi vĩ đại là Cách mạng tháng Tám năm 1945. Dấu ấn Hồ Chí Minh đậm nét trên chặng đường sinh ra những biến đổi mang tính cách mạng sâu sắc ấy và là nền tảng tạo ra những bước phát triển mới trên đất nước ta. Thời đại sau Cách mạng tháng Tám gắn liền với tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mang tên thời đại Hồ Chí Minh. Gọi thế, vừa là để khẳng định tư tưởng của Người thực sự đã và đang là ngọn đuốc soi đường cho đất nước phát triển, vừa là để ghi ơn người con của dân tộc vì “chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”(4).

Thời đại Hồ Chí Minh còn rất dài và mãi mãi đồng hành cùng dân tộc.

(1) Tuyên ngôn Độc lập.
(2) Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu của Hồ Chủ tịch (công bố ngày 5-1-1946).
(3) Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
(4) Điếu văn Hồ Chủ tịch của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc tại tang lễ được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 tại Quảng trường Ba Đình.

PGS.TS Phạm Xuân Hằng
hanoimoi.com.vn

Tin liên quan:

Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc

(HNM) – Hôm qua 31-8, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2010). Hơn 40 nhà khoa học đến từ các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học trên cả nước đã tham dự.

Trong 63 bài tham luận, các nhà khoa học đã tập trung làm rõ thêm nguyên nhân, ý nghĩa và những bài học quý báu từ Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như một số giai đoạn lịch sử sau này. Nhiều tham luận có tính phát hiện về chủ trương, chính sách của Đảng ta ngay từ thời kỳ đầu thành lập nước mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị như về chính sách dân tộc, dân chủ hay các chính sách về tôn giáo… qua đó khẳng định Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chất chứa rất nhiều bài học thực tiễn quý báu về độc lập, tự chủ, đoàn kết, đối nội, đối ngoại, về thời cơ và chớp thời cơ.

* Sáng 31-8, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Đến dự có đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên BCT, Bí thư Thành ủy; Chủ tịch HĐND TP Phạm Phương Thảo; Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân cùng các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, đại diện các ban, ngành, đoàn thể, các nhân sĩ, trí thức, lực lượng vũ trang…

Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân đã ôn lại quá trình đấu tranh hào hùng của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng loạt khởi nghĩa giành chính quyền. Tự hào và phát huy thành quả ấy, Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định – TP Hồ Chí Minh trong 65 năm qua luôn nêu cao truyền thống đấu tranh kiên cường, cùng quân dân cả nước đoàn kết làm nên những thắng lợi quan trọng. Trong hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, TP đã đạt được những thành tựu to lớn, xứng đáng kế tục sự nghiệp cách mạng của các thế hệ đi trước, tạo nền tảng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong dịp này, TP đã tổ chức trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho 18 tập thể và cá nhân đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

* Nhân kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, 80 năm Ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam, sáng 31-8, Hội LHPN TP Hà Nội phối hợp với Ban Liên lạc phụ nữ kháng chiến và tiếp quản Thủ đô tổ chức buổi giao lưu với 85 cán bộ nữ lão thành. Tại buổi giao lưu, lãnh đạo Hội LHPN TP đã thăm hỏi, động viên, nữ cán bộ lão thành tiếp tục phát huy truyền thống, là tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo, tích cực tham gia giáo dục thế hệ trẻ.

* Cùng ngày, các quận Ba Đình, Hoàng Mai đã tổ chức trao tặng Huy hiệu Đảng cho các đảng viên có tuổi Đảng từ 30 năm trở lên. 483 đảng viên của quận Ba Đình đã vinh dự được nhận Huy hiệu Đảng đợt này. Trong đó, có một đảng viên nhận Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng; 81 đảng viên nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, 171 đảng viên nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; 230 đảng viên nhận Huy hiệu 40 năm và 30 năm tuổi Đảng. Quận ủy Hoàng Mai tổ chức lễ trao tặng huy hiệu 60, 50, 40 và 30 năm tuổi Đảng đợt 2-9 cho 365 đảng viên thuộc đảng bộ các phường trên địa bàn.

* Ngày 31-8, Hội Cựu chiến binh (CCB) Thủ đô công bố Quyết định số 1223 ngày 19-8-2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc thành lập Báo CCB Thủ đô.

Báo CCB Thủ đô ra đời thay thế Bản tin CCB Thủ đô (trực thuộc Hội CCB Thủ đô). Báo gồm 8 trang, xuất bản một kỳ vào thứ năm hằng tuần.

Nhóm PV Nội Chính và Bình Minh
hanoimoi.com.vn

Phong trào cách mạng ở Đông Dương (20-9-1930)

Cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân Đông Dương chống đế quốc Pháp ngày càng trở nên quyết liệt hơn. Chúng tôi phân tích từ sự khởi điểm của phong trào, bắt đầu từ tháng 5 đến chi tiết các sự kiện trong các cuộc đấu tranh gần đây.

Ngày tháng

Tính chất đấu tranh

Địa điểm

1-5

Bãi công của thợ điện

Thanh Hoá

(Trung Kỳ)

1-5

Bãi công của 250 thợ điện

Chợ Lớn (Nam Kỳ)

1-5

Bãi công của 400 công nhân đường sắt

Zi-an (Trung Kỳ)

1-5

Bãi công của 90 công nhân đường sắt

Tháp Chàm

(Trung Kỳ)

1-5

Biểu tình của 250 nông dân

Thái Bình (Bắc Kỳ)

1-5

Biểu tình của 100 nông dân

Nghi Xuân

(Trung Kỳ)

1-5

Biểu tình của 800 nông dân

Bến Thuỷ (Trung Kỳ)

1-5

Biểu tình của 2000 nông dân

Thanh Chương

(Trung Kỳ)

1-5

Biểu tình của 1500 nông dân

Sa Đéc – Cao Lãnh (Nam Kỳ)

1-5

Biểu tình của 800 nông dân

Chợ Mới (Nam Kỳ)

Các huyện Nghi Xuân, Bến Thuỷ, Thanh Chương thuộc tỉnh Nghệ An, cần phải đặc biệt chú ý đến Thanh Chương, bởi thứ nhất là địa phương này trong cuộc biểu tình ngày 1-5 có 20 người bị bọn đế quốc giết chết và khoảng từng ấy người bị thương. Thứ hai, trong những ngày gần đây, Thanh Chương là trung tâm đấu tranh nhất của phong trào nông dân đấu tranh.

ở Thái Bình, trong cuộc biểu tình ngày 1-5 cũng có 1 người chết và 5 người bị thương. ở Nghi Xuân, có 5 người chết và 15 người bị thương. Số người bị bắt nhiều vô kể.

Từ đó, cuộc đấu tranh của nông dân vẫn tiếp diễn:

Ngày 5-5 có cuộc biểu tình của 1500 nông dân Long Xuyên (Nam Kỳ).

Ngày 13-5 có cuộc biểu tình của 3000 nông dân Sa Đéc (Nam Kỳ).

Ngày 13-5 có cuộc biểu tình của 4000 nông dân Cần Thơ (Nam Kỳ).

Ngày 17-5 có cuộc biểu tình của nông dân Bến Thuỷ (Trung Kỳ).

Ngày 28-5 có cuộc biểu tình của 500 nông dân Cần Thơ (Nam Kỳ).

Ngày 28-5 có cuộc biểu tình của 1500 nông dân Long Xuyên (Nam Kỳ).

Ngày 28-5 có cuộc biểu tình của 1000 nông dân (Nam Kỳ).

Ngày 29-5 có cuộc biểu tình của 1000 nông dân Chợ Lớn (Nam Kỳ).

Ngày 29-5 có cuộc biểu tình của 1300 nông dân Hóc Môn (Nam Kỳ).

Ngày 31-5 có cuộc biểu tình của 500 nông dân Cầu Kè (Nam Kỳ).

Trong các cuộc biểu tình này (không tính cuộc biểu tình ngày 1-5) có 10 nông dân bị chết và 20 người bị thương nặng.

Ngày 1-6 lại có cuộc biểu tình của 500 nông dân Vĩnh Long (Nam Kỳ).

Ngày 3-6 có cuộc biểu tình của 2.500 nông dân Thanh Chương (Trung Kỳ).

Ngày 4-6 có cuộc biểu tình của 2.000 nông dân Đức Hoà (Nam Kỳ).

Ngày 4-6 có cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Bình Chánh (Nam Kỳ).

Ngày 4-6 có cuộc biểu tình của 1.500 nông dân Hóc Môn (Nam Kỳ).

Ngày 4-6 có cuộc biểu tình của 300 nông dân Bà Điểm (Nam Kỳ).

Ngày 11-6 có cuộc biểu tình của 4.000 nông dân Anh Sơn (Trung Kỳ).

Ngày 11-6 có cuộc biểu tình của 600 nông dân Nam Đàn (Trung Kỳ).

Ngày 14-6 có cuộc biểu tình của 200 nông dân Tân An (Nam Kỳ).

Ngày 26-6 có cuộc biểu tình của 300 nông dân Nghi Lộc (Trung Kỳ).

Ngày 28-6 có cuộc biểu tình của 400 nông dân Chợ Mới (Nam Kỳ).

Ngày 30-6 có cuộc biểu tình của 100 nông dân Bà Quẹo (Nam Kỳ).

Trong các cuộc biểu tình của tháng 6 có 10 nông dân bị chết, 26 người bị thương nặng. Trong thời gian này, chỉ có một cuộc bãi công ở Nhà máy Diêm, Vinh – Nghệ An (Trung Kỳ).

Ngày 2-7 có cuộc biểu tình của 1.000 nông dân Ninh Hoà (Khánh Hoà – Trung Kỳ).

Ngày 13-7 có cuộc biểu tình của 300 nông dân Quỳnh Lưu (Trung Kỳ).

Ngày 20-7 có cuộc bãi công của 300 công nhân Công ty dầu lửa á Đông – Sài Gòn.

Ngày 20-7 có cuộc biểu tình của 300 nông dân Tân Thuận, Sa Đéc (Nam Kỳ).

Ngày 20-7 có cuộc biểu tình của 500 nông dân Cao Lãnh (Nam Kỳ).

Ngày 24-7 có cuộc biểu tình của 100 nông dân Long Xuyên (Nam Kỳ).

Trong các cuộc biểu tình nói trên, có 2 cuộc biểu tình được tổ chức dưới dạng phản đối việc cử hành ngày lễ dân tộc của Pháp trên đất Việt.

ở tháng 7, cuộc biểu tình của nông dân Cao Lãnh có 3 nông dân bị giết. Ngày 25-7, những người thợ điện của thành phố Huế (Trung Kỳ) đã bãi công.

Ngày 1-8, các đường dây điện báo giữa các tỉnh Hải Phòng và Hà Đông với Hà Nội (Bắc Kỳ), giữa Long Xuyên và Trà Vinh (Nam Kỳ) bị cắt đứt. Nói đến việc nổi dậy của công nhân, phải chú ý đến các cuộc đấu tranh sau:

– Cuộc bãi công của công nhân Bến Thuỷ (Nghệ An – Trung Kỳ).

– Cuộc bãi công của 600 công nhân Nhà máy rượu ở Chợ Lớn (Nam Kỳ).

– Cuộc bãi công của 800 công nhân Công ty dầu lửa ở Sài Gòn.

– Cuộc biểu tình của 400 nông dân Đô Lương (Nghệ An – Trung Kỳ).

– Cuộc biểu tình của 300 nông dân Can Lộc (Hà Tĩnh – Trung Kỳ).

– Cuộc biểu tình của 3000 nông dân Hóc Môn (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Trà Vinh (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Tân Thuận (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Đức Hoà (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Trà Vinh (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Bà Điểm (Nam Kỳ).

Trong thời gian của cuộc biểu tình ở Trà Vinh, bọn đế quốc đã giết chết 3 và làm bị thương một số nông dân khác. Các sở kiểm duyệt ở nhiều nơi không đưa ra những thông tin về số lượng người tham gia đấu tranh hoặc những thông tin đó được công bố với số lượng ít hơn thực tế.

Ngày 9-8, lại có cuộc biểu tình của nông dân ở Bà Điểm (Nam Kỳ).

Ngày 18-8 có cuộc bãi công của nông dân Can Lộc (Trung Kỳ).

Ngày 22-8 có cuộc bãi công của 1.300 công nhân ở Vinh – Nghệ An (Trung Kỳ).

Ngày 22-8, 1.500 nông dân ở Cao Lãnh – Sa Đéc (Nam Kỳ) cũng biểu tình.

Ngày 23-8 có cuộc biểu tình của nông dân Hóc Môn và Bà Điểm (Nam Kỳ).

Hai cuộc biểu tình cuối để tưởng nhớ tới Xắccô và Vanxetti.

Ngày 29-8 có cuộc biểu tình của 1.000 nông dân Can Lộc (Hà Tĩnh – Trung Kỳ).

Ngày 29-8 có cuộc biểu tình của 500 nông dân Nội Lộc (Hà Tĩnh- Trung Kỳ).

Ngày 30-8 có cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Nam Đàn (Nghệ An- Trung Kỳ).

Ngày 31-8 có cuộc biểu tình của 1.000 nông dân Hưng Nguyên (Trung Kỳ).

Ngày 1-9 có cuộc biểu tình của 2.000 nông dân Thanh Chương (Trung Kỳ).

Ngày 7-9 có cuộc biểu tình của nông dân Đồng Hới (Trung Kỳ).

Cùng ngày 7-9 có cuộc biểu tình của 1.000 nông dân Can Lộc (Hà Tĩnh – Trung Kỳ).

Ngày 7-9 còn có cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Anh Sơn (Nghệ An – Trung Kỳ).

Ngày 8-9 vẫn có biểu tình của 1.000 nông dân Can Lộc.

Cùng 8-9 có cuộc bãi công của thợ dệt ở Nam Định (Bắc Kỳ).

Từ ngày 9-8 đến ngày 31-8, trong các cuộc biểu tình, có 2 người nông dân bị giết.

Từ ngày 1-5 đến ngày 8 tháng … (ngày viết bản báo cáo này) không ngày nào không diễn ra việc tuyên truyền các tài liệu cách mạng và treo cờ đỏ búa liềm.

Phong trào công nhân, cũng như phong trào nông dân ở Nam Kỳ mạnh hơn nhiều so với phong trào ở Bắc Kỳ. Mà ở Nam Kỳ có nhiều xí nghiệp công nghiệp hơn ở Trung Kỳ – điều này đã không làm cản trở việc ở Trung Kỳ có nhiều cuộc bãi công hơn ở Nam Kỳ.

Địa danh

Số cuộc bãi công

Số cuộc biểu tình của nông dân

Bắc Kỳ

1

1

Trung Kỳ

7

20

Nam Kỳ

5

34

Số lượng các cuộc biểu tình của nông dân được phân bố như sau:

ở tỉnh Nghệ An: 11

Gia Định: 10

Hà Tĩnh: 8

Sa Đéc: 6

Chợ Lớn: 6

Long Xuyên: 5

Cần Thơ: 2

Trà Vinh: 2

Vĩnh Long: 1

Tân An: 1

Khánh Hoà: 1

Quảng Bình: 1

Thái Bình: 1

Khánh Hoà và Quảng Bình là 2 tỉnh ở xa nhau. Nghệ An và Hà Tĩnh là 2 tỉnh nằm kề nhau. Các tỉnh còn lại ở Nam Kỳ đều nằm kế tiếp nhau.

Nhìn lên bản đồ, ta thấy ngay rằng nơi có phong trào nông dân mạnh là những địa hạt cách nhau không xa.

Ví dụ: tỉnh Nghệ An, các địa hạt Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc là các địa hạt nối liền nhau, còn Can Lộc là một huyện của tỉnh Hà Tĩnh nhưng cũng nằm sát tỉnh Nghệ An.

Tính riêng ở Nam Kỳ, tổ chức được 137 nghìn nông dân. ở Trung Kỳ, tổ chức được gần 10 nghìn nông dân, nhưng phải lưu ý rằng, trên phương diện địa hình, tổ chức được nông dân là rất khó khǎn. Khủng bố trắng và các ngǎn trở khác làm cho không thể tổ chức tập trung được – điều kiện như vậy nên phải có các Hội nông dân.

Hiện nay, trận đấu giữa nông dân Đông Dương và đế quốc Pháp đang tập trung ở địa hạt Thanh Chương. Động lực của nó là cuộc bãi công của công nhân thành phố Vinh ngày 22-8. Khi cuộc bãi công vừa nổ ra, những người cộng sản đã tuyên truyền, vận động quảng đại nông dân, kêu gọi họ ủng hộ những người bãi công. Bắt đầu từ ngày 29-8, nông dân ở vùng Can Lộc, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương đã tiến hành hàng loạt các cuộc biểu tình. Nhờ vào sự giúp đỡ của anh em này mà những người bãi công đã chiến thắng. Họ đưa ra những yêu sách sau:

1. Đuổi 2 người thợ cả đã đánh đập công nhân.

2. Nhận lại 2 công nhân đã bị đuổi khỏi Nhà máy diêm vào làm việc.

3. Trao cho công nhân quyền lựa chọn thợ cả.

4. Không được đuổi việc công nhân vì họ tham gia bãi công và biểu tình.

5. Thả ngay 2 người bãi công đang bị giam giữ.

6. Tự do bãi công, biểu tình và tổ chức.

7. Giải tán các đội tuần tra.

8. Chấm dứt ngay trên thực tế việc cử các đội quân đàn áp những người biểu tình và làm thoả đáng các yêu sách của nông dân biểu tình.

9. Tǎng lương và ngày làm 8 giờ.

Trong lúc biểu tình, 3.000 nông dân Nam Đàn đã vây chặt vǎn phòng viên quan huyện, phá nhà tù và giải thoát tù nhân.

ở Thanh Chương, 20.000 người đã tham gia vào cuộc biểu tình của nông dân. Trước khi biểu tình, đội vũ trang nông dân đã bắt giữ tất cả các đảng viên của Đảng “Loài người và lương tri” (một tổ chức phát xít). Đập phá trụ sở của tổ chức này và bắt giữ 11 tên vệ binh phátxít, giải bêu trước dân chúng khắp vùng. Nông dân hǎng hái mang 200 cờ đỏ búa liềm, hàng ngũ chỉnh tề kéo về huyện lỵ, vây hãm vǎn phòng quan huyện, đập phá phòng riêng của quan huyện. Những người biểu tình đã phá cửa nhà tù, giải phóng tù nhân và kiểm soát tất cả nhà tù. Một sĩ quan Pháp có mặt tại đó đã chỉ huy một vài lính bản xứ chống lại, nhưng khi thấy một lực lượng nhỏ nông dân vừa tới thì vội vàng bỏ trốn.

Khi đoàn biểu tình đi ngang qua trại lính thì không thấy mặt một sĩ quan Pháp nào, nhưng những người lính bản xứ thì đã sẵn sàng nhả đạn. Lúc đó 2 thanh nữ nông dân bước lên trước đoàn biểu tình, hướng thẳng vào những người lính đó và nói rằng, nếu như họ cố tình bắn vào những người nông dân, trước hết hãy bắn họ (2 cô gái) đã. Những người lính dao động và trở thành thân thiện với những người biểu tình. Cuộc diễu hành lại tiếp tục.

Nông dân đã đưa ra những yêu sách sau:

1. Thả tự do cho những người bãi công ở Vinh đã bị bắt.

2. Không được đưa lính ra chống lại những người bãi công và nông dân.

3. Không được cho lính đàn áp các phong trào ở nông thôn.

4. Không được phá huỷ làng mạc.

5. Bỏ chế độ tuần canh trong xóm làng.

6. Bãi bỏ chế độ thuế.

7. Cấp phát gạo cho những người nông dân đang bị đói.

8. Chia đất (một diện tích rộng) cho bần cố nông.

9. Huỷ bỏ toà án đặc biệt (toà án khẩn cấp).

10. Bãi bỏ án tử hình.

11. Tự do bãi công, biểu tình và liên hiệp.

12. Trả tiền bồi thường cho gia đình những người bị chết trong các vụ đàn áp.

13. Trả tự do cho tất cả tù chính trị, trong đó có cả 12 người mới bị kết án tử hình.

Theo tư liệu chúng tôi hiện có, nông dân ở Nam Đàn và Thanh Chương cương quyết không nộp thuế mà không một ai làm gì được họ. Họ đã lấy tài sản của bọn địa chủ chia cho dân nghèo, huỷ bỏ tất cả mọi mệnh lệnh, quy định của quan lại bản xứ và bọn đế quốc Pháp. (Họ tổ chức ra Xôviết nông thôn, hoặc các cơ quan gần như Xôviết nông thôn). Nông dân tuyên bố công khai: “Tất cả chúng tôi đều là cộng sản!”.

Chính quyền Pháp ở Đông Dương đang chuẩn bị ráo riết một chiến dịch khủng bố nông dân Nghệ An nói chung và nông dân Thanh Chương nói riêng. Một mặt, chúng yêu cầu chính quyền Pari nới rộng quyền hành của chúng và chúng đã được chính quyền Pari cho phép. Cùng với súng đại liên, xe tǎng và máy bay, chúng đang cày nát gương mặt của hàng loạt các xóm làng, giống như chúng đã làm tại làng “Cổ Am”, sau cuộc khởi nghĩa tháng Hai ở Bắc Kỳ. Mặt khác, chúng đang mưu toan một trận đánh lớn, huy động những đội quân khát máu nhất – lính lê dương – để đối phó với nông dân tỉnh này. Hiện nay, hằng ngày máy bay xuất hiện trên các làng mạc, ném bom giết chết những người đang biểu tình và đốt phá nhà ở của nông dân. Chúng muốn huỷ diệt hoàn toàn Nghệ An hòng đe doạ nông dân các tỉnh khác.

Ngoài ra, đế quốc Pháp viện cớ là buộc phải đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân, chúng đang tǎng thêm quân vào Đông Dương, chuẩn bị tấn công Liên Xô, tấn công cách mạng Trung Quốc và chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc trên Thái Bình Dương.

Hỡi những người công nhân và nông dân toàn thế giới! Những người anh em! Hãy giúp đỡ công nhân và nông dân Đông Dương, những người đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Pháp!.

20-9-1930
N.A.Q

—————————-

Tài liệu tiếng Nga, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn