Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến – lời hịch của non sông

Đã 66 năm trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 – 19/12/2012), nhưng âm hưởng hào hùng của lời kêu gọi bất hủ ấy vẫn mãi trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam, mãi là lời hịch của non sông, một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự có giá trị lịch sử trong mọi thời đại, thể hiện ý thức sâu sắc giá trị của độc lập dân tộc và niềm tin vững bền về con đường cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

loi keu goi toan quoc kc.1Lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, toàn thể quốc dân đồng bào đã nhất tề đứng dậy chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi đất nước trước lời hiệu triệu sục sôi hào khí “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo”, khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất Tổ quốc với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Kế thừa hào khí chống giặc, giữ nước trong lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh “nghìn cân treo sợi tóc” bằng một quyết định quan trọng, một quyết định thể hiện sự lựa chọn của lịch sử vào ngày 19/12/1946 – Ngày toàn quốc kháng chiến.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân; nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc mình. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, tình thế cách mạng lúc này mong manh như “trứng để đầu gậy” phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc: Giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm.

Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người đã ký với đại diện chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, Người qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Phông-ten-nơ-blô. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. “Còn nước còn tát”, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14-9-1946. Ngày 16-9-1946, Người rời cảng Tu-lông (Pháp) trở về nước. Ngày 16-10, Người gặp Đắc-giăng-li-ơ ở vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14-9 không được thực hiện ở Nam Bộ. Tại Bắc Bộ, cuối tháng 11 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Tại Hà Nội, quân đội thực dân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn vào nhiều nơi ở Hà Nội trong các ngày 15, 16-12-1946 như đốt nhà thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Ngày 17-12-1946, quân Pháp cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đặc biệt, chúng đã gây ra vụ tàn sát nhiều đồng bào ta ở phố Hàng Bún và Yên Ninh, gây xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông. Ngày 18-12-1946, tướng Moóc-li-e gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏ mọi công sự chướng ngại trên các đường phố, giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô  Hà Nội cho chúng. Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20-12-1946 quân Pháp sẽ hành động.

Trước tình hình đó, ngày 18 và 19-12-1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc.

Vào hồi 20 giờ ngày 19/12/1946, quân dân thủ đô Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

loi keu goi toan quoc kc 2Phát lệnh toàn quốc kháng chiến. Ảnh internet

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào,

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu tổ quốc, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm ! kháng chiến thắng lợi muôn năm.

Hà Nội ngày 19/12/1946.

 Hồ Chí Minh”

Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, không còn con đường nào khác ngoài việc dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng Khi đã buộc phải kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”

Đúng như dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau chín năm vào năm 1954 – “Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã chứng tỏ sức mạnh của lòng yêu nước phi thường của quân và dân ta, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc gian khổ chiến đấu và hy sinh dành lại một nửa Việt Nam hòa bình làm tiền đề cho một Việt Nam độc lập và thống nhất. Ba mươi năm sau vào mùa Xuân 30/4/1975, đội quân bách chiến bách thắng của Người đã cắm cờ chiến thắng lên nóc Đinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đem lại độc lập tự do cho dân tộc, Bắc – Nam thống nhất, sum họp một nhà.

Có thể nói, ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 đã thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm và sáng tạo.

66 năm đã trôi qua nhưng khí thế hào hùng của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã trở thành ngày lịch sử, là dấu son chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, nhưng giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ, hiệu triệu quốc dân đồng bào kề vai sát cánh, chung sức đồng lòng, đoàn kết nhất trí đánh giặc, giữ nước, giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc. Ngày nay, Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác vẫn mãi giữ nguyên tính thời sự, đó là giá trị của niềm tin tất thắng, là ý thức sâu sắc giá trị độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Sự nghiệp xây dựng CNXH còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhất định chúng ta sẽ thành công, nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh sẽ ngày càng khẳng định thế và lực quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Kỷ niệm 66 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đây là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ôn lại những bài học sâu sắc của lịch sử, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đồng sức chung lòng tạo nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhanh chóng đưa đất nước bước ra khỏi tình trạng tham nhũng, lãng phí, nghèo nàn lạc hậu, phát triển bền vững, hội nhập sâu rộng và toàn diện với nền kinh tế thế giới, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Triển lãm tranh “Hà Nội 12 ngày đêm-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Ngày 9-10, tại Nhà triển lãm 93 Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội, đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm tranh mỹ thuật với chủ đề “Hà Nội 12 ngày đêm-Điện Biên Phủ trên không”. Triển lãm giới thiệu 268 tác phẩm gồm cả hội họa và điêu khắc với chất liệu và phương pháp thể hiện phong phú như: Lụa, sơn mài, sơn dầu, composit, đá, gỗ…

Tác phẩm “Bài ca chiến thắng” (Đỗ Trung Kiên) đoạt giải A của triển lãm mỹ thuật Thủ đô.

Hội đồng nghệ thuật đã tặng thưởng cho các giả có tác phẩm xuất sắc. 1 giải A: Đỗ Trung Kiên-tác phẩm “Bài ca chiến thắng”; 2 giải B: Phạm Quốc Anh-tác phẩm “Sức sống”, Trịnh Bá Quát-tác phẩm “Hà Nội tháng Chạp 1972”; 3 giải C và 10 giải khuyến khích.

Triển lãm mở cửa đến 18-10.

Tin, ảnh Anh Lê
qdnd.vn

Chủ động nghiên cứu, hoàn chỉnh các phương án tác chiến

Hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12-1972/12-2012)

QĐND – Sau khi Không quân Mỹ sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 trên chiến trường miền Nam (tháng 6-1965), chấp hành sự chỉ đạo của Đảng, Bác Hồ, Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ) nghiên cứu cách đánh máy bay B-52, với quyết tâm bắn rơi “siêu pháo đài bay” của giặc.

Để chuẩn bị và đánh thắng máy bay B-52 của Mỹ, một mặt điều động Trung đoàn Tên lửa 238 vào chiến trường Khu 4 nghiên cứu cách đánh, mặt khác Quân ủy Trung ương dự đoán Mỹ có thể dùng máy bay B-52 leo thang đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và giao cho Quân chủng PK-KQ xây dựng kế hoạch tác chiến. Suốt thời gian sau đó, nhiều đoàn cán bộ PK-KQ cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích được cử vào nghiên cứu cách đánh máy bay B-52 trên vùng trời Khu 4.

Tháng 4-1972, Mỹ huy động không quân, hải quân mở Chiến dịch Lai-nơ-bêch-cơ I (Linebacker I) đánh phá trở lại miền Bắc, sử dụng máy bay B-52 đánh phá thành phố Vinh, Hải Phòng, đồng thời thả thủy lôi phong tỏa các cảng ven biển và các cửa sông miền Bắc. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về nâng cao cảnh giác, tiếp tục chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống; chủ động đối phó với khả năng Mỹ sử dụng B-52 đánh phá Thủ đô Hà Nội, ngày 6-7-1972, Bộ Tổng tham mưu tổ chức Hội nghị chuyên đề tìm cách đánh máy bay B-52. Hội nghị đã phân tích tình hình, đặc tính kỹ thuật, chiến thuật của máy bay B-52, các phương án tác chiến và kinh nghiệm đánh máy bay B-52 từ thực tế trên chiến trường, trên cơ sở đó thống nhất cao về cách đánh và chuẩn bị chu đáo về con người và vũ khí trang bị kỹ thuật.

Tư lệnh Binh chủng Không quân báo cáo kế hoạch tác chiến chống máy bay B-52 bảo vệ bầu trời miền Bắc. Ảnh tư liệu.

Ngay sau hội nghị, Bộ Tổng tham mưu (BTTM) chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị thực hiện gấp việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52. Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trì biên soạn lý luận chiến thuật đánh B-52; nhanh chóng bổ sung ý kiến chỉ đạo của Bộ để hoàn chỉnh kế hoạch và phương án tác chiến, kết hợp một cách hợp lý việc điều chỉnh bố trí lực lượng đánh B-52, biên soạn tài liệu huấn luyện và tiến hành tập huấn đánh B-52 trong các tình huống phức tạp. Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ chỉ thị cho cơ quan tham mưu cùng các binh chủng khẩn trương hoàn chỉnh phương án đánh B-52 bảo vệ miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng. Tổ nghiên cứu, biên soạn tài liệu “Cách đánh B-52″ được gấp rút thành lập và làm việc không kể ngày đêm để sớm có tài liệu huấn luyện. Phương án đánh B-52 được nhanh chóng hoàn thành theo đúng kế hoạch gọi là “Phương án tháng bảy”. Các đơn vị tên lửa, ra-đa, pháo 100mm mở đợt huấn luyện đột kích với nội dung và mục tiêu chủ yếu là đánh B-52. Bộ đội Không quân tích cực luyện tập theo phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà Nội, gọi là “Phương án năm cánh sao”. Phương án này được kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của các binh chủng bạn, cả vòng trong và vòng ngoài, kết hợp cơ động và yếu địa, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất.

Toàn quân tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp quy luật hoạt động của không quân địch, xác minh tính năng kỹ thuật, chiến thuật của B-52 đối với các loại vũ khí của ta, Bộ Tổng tham mưu giao cho Cục Tình báo chủ trì cùng với Quân chủng PK-KQ, Viện Kỹ thuật Quân sự khai thác thông tin từ giặc lái Mỹ. Cục Tình báo cung cấp kịp thời những tin tức, tư liệu liên quan đến B-52 địch, phục vụ cho yêu cầu tác chiến của lực lượng PK-KQ. Quân chủng PK-KQ tiến hành nghiên cứu cải tiến VKTBKT, sử dụng cả ra-đa cũ kết hợp khí tài quang học với khí tài điện tử, điều chỉnh độ nhạy của đầu đạn tên lửa để có thể bắn rơi tại chỗ B-52. Cục Tình báo, Cục Quân lực, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc cùng Quân chủng PK-KQ giải quyết các vấn đề bảo đảm trinh sát kỹ thuật, bảo đảm sức kéo, thông tin, quân số để lập đài quan sát. Quân chủng PK-KQ hiệp đồng với Bộ tư lệnh Hải quân tổ chức quan sát, cung cấp tin tức về địch và kế hoạch cứu phi công của ta ngoài biển…

Việc nghiên cứu chuẩn bị kế hoạch đánh máy bay B-52 được triển khai gấp rút và đã căn bản hoàn thành vào đầu tháng 9-1972. Dựa vào kinh nghiệm đã rút ra từ thực tiễn chiến đấu và những hiểu biết ngày càng nhiều về vũ khí, khí tài và thủ đoạn hoạt động của địch, tài liệu “Cách đánh B-52” sau nhiều lần bổ sung hoàn chỉnh đã góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, chiến đấu của bộ đội. Tháng 9-1972, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo Quân chủng PK-KQ bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B-52, được gọi là “Phương án tháng 9”; xác định những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không như phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng và cách đánh của ta; đồng thời chỉ đạo Quân chủng khẩn trương xây dựng thế trận, điều chỉnh lực lượng, nhanh chóng hoàn thành mạng lưới phòng không ba thứ quân nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều hướng, có trọng điểm vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

Nhờ nắm vững thực tế chiến trường, nghiên cứu đề ra phương án tác chiến đúng, điều chỉnh kịp thời, ta đã chủ động trong chiến dịch phòng không Hà Nội – Hải Phòng tháng 12-1972 và giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam tháng 1-1973, rút hết quân Mỹ về nước.

Đại tá, TS Nguyễn Thành Hữu
qdnd.vn

10 kíp chiến đấu tên lửa tiếp tục làm rõ 25 trận bắn rơi B-52

QĐND Online – Sáng 8-10, tại Hà Nội, Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng không-Không quân) đã tổ chức Hội nghị thống nhất kỷ yếu 25 trận đánh, bắn rơi B-52 trong 12 ngày đêm tháng 12-1972. Tham gia hội nghị có thành phần của 10 kíp chiến đấu, đã tham gia 25 trận đánh nói trên và lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 361.

Thành phần kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn 361

Đại tá Đặng Đình Tuấn, Chính ủy Sư đoàn 361 cho biết, việc tổ chức Hội nghị lần này nhằm hoàn thiện Kỷ yếu 25 trận đánh bắn rơi B-52 của Sư đoàn. Đây là một trong những hoạt động của đơn vị hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

“Siêu pháo đài bay” B-52 của Mỹ đã bị hạ gục bởi những con người và vũ khí này.

Tại Hội nghị, thành phần của 10 kíp chiến đấu đã phát biểu làm rõ những nội dung liên quan đến 25 trận đánh, như: thành phần kíp chiến đấu, trận địa, diễn biến trận đấu…

Quang cảnh Hội nghị

Trong các ngày từ 18 đến 29-12-1972, 9 tiểu đoàn (57, 59, 72, 77, 78, 79, 86, 93, 94) của 3 trung đoàn (261, 257, 274), thuộc Sư đoàn 361, đã bắn rơi 29 máy bay Mỹ, trong đó 25 máy bay B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ).

Tin, ảnh: Hà Phong Thủy
qdnd.vn

Bảo đảm dẫn đường trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Đại tá Tạ Quốc Hưng

QĐND Online – Để thực hiện bài viết này, người đầu tiên tôi tìm gặp là Đại tá Nguyễn Văn Chuyên. Ông là người trực tiếp tham gia dẫn đường cho máy bay tiêm kích đánh địch và góp công vào nhiều trận bắn hạ máy bay Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Đã bước sang tuổi ngoại bát tuần, nhưng trông ông còn rất tráng kiện và minh mẫn. Được hỏi về những năm tháng hào hùng, sôi động khi quân và dân cả nước làm nên chiến thắng 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972, đôi mắt người lính già ánh lên niềm tự hào:

– Hà Nội “Điện Biên Phủ trên không” thật sự là một mốc son chói lọi. Để đánh được B-52, chúng ta phải mất 3 năm, 3 tháng nghiên cứu cách đánh ở Quảng Bình. 3 tháng tập trung cao điểm nhất là tháng 8, 9, 10 với những sĩ quan dẫn đường “gạo cội” có kinh nghiệm dẫn bay, có độ nhạy cảm và tinh thần dám chịu trách nhiệm. Điển hình là các đồng chí: Lê Thành Chơn, Tạ Quốc Hưng, Lê Thiết Hùng, Hoàng Kế Thiện, Phạm Văn Khả, Hà Đăng Khoa, Trần Quang Kính, Đào Ngọc Ngư, Phạm Minh Cậy…Những đồng chí này có mặt ở tất cả các sở chỉ huy cả vòng trong lẫn vòng ngoài, sát cánh cùng phi công truy kích địch. Đêm mở đầu chiến dịch, tôi đang ở sở chỉ huy tiền phương Đô Lương. Sáng 19-12, thì được lệnh ra Hà Nội. Trên đường đi, do địch đánh phá ác liệt nên bị kẹt lại mãi đến trưa 22-12 mới về đến chùa Trầm. Đêm 24-12, tôi trực tiếp trực sở chỉ huy Quân chủng với cương vị Phó Ban dẫn đường. Nhưng vai trò của tôi lúc ấy là theo dõi, tham mưu chứ không trực tiếp dẫn bay.

Nói rồi ông đưa cho tôi địa chỉ người trực tiếp tham gia dẫn đường bay trong chiến dịch 12 ngày đêm. Đó là Đại tá Tạ Quốc Hưng. Trao đổi với chúng tôi tại nhà riêng nằm trên đường Tân Mai, TP Hà Nội, Đại tá Tạ Quốc Hưng cho biết:

– Một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là công tác bảo đảm, trong đó có bảo đảm dẫn đường cho phi công truy kích địch.

Đến thời điểm bước vào chiến dịch 12 ngày đêm, ta đã có 8 năm kinh nghiệm chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ. Thế nhưng, khi vào cuộc chúng ta cũng gặp rất nhiều khó khăn. Ở chiến trường phía Bắc, chúng ta luôn có ưu thế về dẫn đường trực tiếp cho phi công. Khi vào chiến trường khu 4, chúng ta mới gặp dẫn đường đối kháng. Vì lúc này Mỹ đã đưa các tàu dẫn đường vào biển Đông, nên đã gây cho ta rất nhiều khó khăn. Từ đó, những trận không chiến trở nên vô cùng ác liệt. Mọi hoạt động của không quân ta ở đây đều bị địch theo dõi giám sát rất chặt chẽ. Khi máy bay của ta bay lên độ cao 2000 – 3000m, ngay lập tức tiêm kích địch từ các hướng cơ động đến, vây chặt. Trong khi đó, chúng ta thường hoạt động chiến đấu ban đêm là chủ yếu, nên phi công thiếu sự chỉ huy, dẫn đường trực tiếp từ mặt đất, dẫn đến mất đi những yếu tố chiến thuật có lợi ban đầu. Thêm vào đó, phi công ta thường phải hoạt động đơn lẻ nên dễ bị địch tập trung lực lượng tiêm kích đánh chặn, không cho tiếp cận B-52. Mục tiêu trọng yếu của chiến dịch là thành phố Hà Nội và Hải Phòng… trong khi đó hầu hết các sở chỉ huy cơ bản của các trung đoàn không quân lại nằm ở phía trong, nên bị nhiễu rất nặng. Dó đó không thể chỉ huy kịp thời và liên tục cho phi công vì thiếu các dữ liệu về địch. Chúng ta chỉ có duy nhất một sở chỉ huy vòng ngoài ở phía Tây Nam Hà Nội, nhưng do bị đánh phá thường xuyên nên cũng ảnh hưởng rất nhiều.

Để bảo đảm dẫn đường cho không quân đánh chặn đúng đối tượng B-52 thì vấn đề bảo đảm tình báo đủ và liên tục của ra đa là vô cùng quan trọng. Thông thường trên mỗi sân bay cơ bản có một đơn vị ra đa bảo đảm dẫn đường cho không quân chiến đấu và huấn luyện, nhưng khi chiến dịch tập kích đường không diễn ra, tất cả các sân bay đều bị đánh phá không chỉ một lần. Vì vậy, ta phải trực chiến ở những sân bay cơ động, không có ra đa bảo đảm cho dẫn đường. Cất cánh chiến đấu ban đêm, phi công phụ thuộc rất nhiều vào các thông báo của dẫn đường, nhất là các số liệu về địch. Thiếu các thông tin này, phi công sẽ rơi vào thế bị động. Mà trong không chiến, bị động thì khó giành được thắng lợi.

Kinh nghiệm được đúc rút từ chính những lần dẫn đường cho phi công đánh chặn vào các tốp B-52 giả. Và ngay sau chiến thắng vang dội của Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng tôi đã nhận thấy: Từ cuộc tập kích đường không tháng 12-1972, các loại trang bị, vũ khí kỹ thuật cao đã được sử dụng phổ biến hơn nhiều. Một số trang bị, vũ khí mới xuất hiện như máy bay tàng hình, hệ thống cảnh giới báo động sớm AWACS, tên lửa hành trình, các thiết bị tác chiến điện tử… có thể sẽ làm thay đổi cơ bản nghệ thuật tác chiến của không quân. Điều đó đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác bảo đảm dẫn đường. Để đáp ứng được với chiến tranh tương lai, chúng ta cần giải quyết tốt 4 vấn đề cơ bản như: Bảo đảm thông tin tình báo kịp thời, chính xác; tổ chức hệ thống sân bay, sở chỉ huy vòng ngoài trên những hướng trọng điểm một các hoàn chỉnh; hiện đại hóa các phương tiện chỉ huy, tiến tới tự động hóa từng phần công tác chỉ huy; tăng cường huấn luyện diễn tập đối kháng.

– Báo đảm dẫn đường không chỉ là vấn đề đầu tư trang thiết bị mà là cả một nghệ thuật cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Trong đó con người là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất, Ông kết thúc cuộc trò chuyện bằng những lời thật giản dị mà sâu sắc.

Bài, ảnh: Quỳnh Vân
qdnd.vn

Chủ động, sáng tạo xây dựng thế trận phòng không chiến dịch

Hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” 12-1972/12-2012

QĐND – Chiến dịch phòng không Hà Nội-Hải Phòng diễn ra từ ngày 18 đến ngày 30-12-1972, do các đơn vị của Quân chủng Phòng không – Không quân kết hợp với các lực lượng phòng không ba thứ quân tiến hành đã đánh thắng cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, bắn rơi 81 máy bay (có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111), bắt sống nhiều phi công, buộc Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 20 trở ra và nối lại cuộc đàm phán tại Pa-ri.

Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược to lớn, dư luận thế giới gọi đây là “trận Điện Biên Phủ trên không”. Kinh nghiệm đánh máy bay B52 làm phong phú thêm nghệ thuật tác chiến phòng không Việt Nam.

Một trong những yếu tố có tác động trực tiếp và quyết định đến thành công của chiến dịch là ta đã xây dựng được một thế trận phòng không hết sức sáng tạo và độc đáo.

Thế trận là một yếu tố cấu thành nghệ thuật tác chiến phòng không, là một nét độc đáo làm nên trường phái của học thuyết quân sự Việt Nam.

Thế trận sâu hiểm thì tác dụng của lực càng mạnh; thế trận càng phức tạp thì tình huống diễn ra càng đơn giản. Thế trận cài xen kẽ là thế trận hiểm hóc của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Trước khi bước vào chiến dịch phòng không tháng 12-1972, trên chiến trường miền Nam, thế và lực giữa ta và địch đã có sự thay đổi đột biến về chất, ta đang thắng lớn. Hội nghị Pa-ri đang đến giai đoạn cuối, dự thảo Hiệp định có lợi cho ta. Đứng trước tình thế bất lợi đó, đế quốc Mỹ mưu toan lật lại tình hình bằng các phản ứng trên toàn bộ chiến trường Việt Nam. Nhằm lật lại thế cờ ở Hội nghị Pa-ri, đế quốc Mỹ âm mưu dùng không quân và hải quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, nhằm cắt đứt đường chuyển quân và vận chuyển binh khí kỹ thuật, hậu cần từ miền Bắc vào miền Nam, đánh hủy diệt tiềm lực kinh tế – quốc phòng của hậu phương miền Bắc. Đồng thời Mỹ dùng thủ đoạn chính trị, ngoại giao, hạn chế sự chi viện của Liên Xô (trước đây), Trung Quốc và bạn bè quốc tế đối với nước ta.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các tướng lĩnh Quân chủng Phòng không-Không quân thảo luận kế hoạch đánh máy bay B52 tháng 10-1972. Ảnh tư liệu.

Để đánh thắng âm mưu hiểm độc của Mỹ, kế sách sáng suốt của ta là đẩy mạnh tiến công địch trên chiến trường miền Nam; kiên quyết đánh thắng không quân địch cả trên ba địa bàn chiến lược bằng cách phát động chiến tranh nhân dân trên mặt trận đối không, lấy lực lượng phòng không ba thứ quân làm nòng cốt, thực hiện ba nhiệm vụ phòng không chiến lược: Bảo vệ hậu phương miền Bắc, bảo vệ giao thông vận chuyển và chi viện phòng không cho tác chiến quân binh chủng hợp thành trên chiến trường miền Nam mà chủ yếu là khu vực Quảng Trị – Thừa Thiên – Huế.

Cuối năm 1972, trên toàn bộ chiến trường cả nước đã hình thành thế trận phòng không chiến lược, bao gồm: Thế trận phòng không rộng khắp trên cả nước làm nền tảng bảo đảm cho cách đánh tại chỗ, phân tán và thường xuyên của tất cả các lực lượng phòng không ba thứ quân và các khu vực phòng không bảo đảm cách đánh tập trung (chiến dịch) của các binh đoàn phòng không chủ lực. Với thế trận như vậy, tuy lực lượng phòng không của ta còn ít, khả năng cơ động hạn chế nhưng vẫn bảo đảm chủ động thực hiện ba nhiệm vụ phòng không chiến lược, chống được bất ngờ, hạn chế sở trường cơ động nhanh của không quân địch, chủ động đánh địch bất cứ lúc nào, bất cứ đâu dù chúng có “leo thang” ra miền Bắc hay “xuống thang” về khu vực miền Trung.

Để đánh thắng các đòn tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B52, Bộ chỉ huy chiến dịch đã rất sáng tạo, bố trí thế trận chiến dịch phòng không Hà Nội-Hải Phòng theo nguyên tắc tập trung hỏa lực rất lợi hại. Thực tế đã hình thành ba cụm phòng không chiến dịch ôm sát ba khu vực mục tiêu bảo vệ: Cụm phòng không Hà Nội, cụm phòng không Hải Phòng, cụm phòng không phía Bắc đường 1, Thái Nguyên. Ba cụm phòng không này tạo ra thế “chân vạc” liên kết hỗ trợ lẫn nhau, trong đó cụm phòng không Hà Nội là trọng điểm. Để tăng cường cho cụm Hà Nội từ hướng Đông, Đông Bắc, ta bố trí cụm Hải Phòng và cụm Bắc đường 1 che chắn; từ hướng Tây, Tây Bắc và Tây Nam, ta sử dụng không quân tiêm kích đánh từ xa.

Thế trận như vậy đã bảo đảm cho cách đánh tập trung của các lực lượng phòng không rất có hiệu quả, giành quyền chủ động từ đầu, bắn rơi nhiều máy bay B52 của địch, giữ vững mục tiêu bảo vệ.

Trong quá trình chiến dịch, ta đã chủ động chuyển hóa thế trận. Khi sang đợt 2 ta điều 2 tiểu đoàn tên lửa phòng không 71, 72 của Hải Phòng cho Hà Nội và đưa cả 3 tiểu đoàn của Trung đoàn tên lửa 274 vào chiến đấu, nên trận đêm 26-12-1972, ta thắng giòn giã, bắn rơi 8 máy bay B52. Đồng thời, thay đổi sân bay cất cánh cho không quân ta đánh từ xa, gây bất ngờ lớn cho địch.

Thế trận chiến dịch sâu hiểm như trên đã tạo nên yếu tố trực tiếp và quyết định thắng lợi của chiến dịch phòng không Hà Nội-Hải Phòng.

Trần Trọng Ái
qdnd.vn

Trung Quốc có biệt thự mang tên Hồ Chí Minh

Biệt thự Hồ Chí Minh tại Khách sạn Lư Sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Theo http://www.goxly.com

Đó là một biệt thự siêu sao: Biệt thự danh nhân, trong khách sạn Lư Sơn, tại số nhà 394, đường Trung Cửu, thành phố Lư Sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc.

Đây là một trong những biệt thự cao cấp ở thành phố Lư Sơn, xây dựng từ năm 1915, rất xinh đẹp, rất đặc biệt, rất lãng mạn, thể hiện phong cách dáng điệu nhàn tản, nhẹ nhàng.

Biệt thự nhìn theo hướng tây, một tầng xây bằng đá, mặt tiền chính hình ê-ke, bên trái hơi cong, với những nét uyển chuyển mềm mại. Mặt tiền và hai bên trái phải đều có hành lang rộng, hình dạng hành lang không giống nhau, trở thành những đường nối liền giữa trong và ngoài hành lang, tạo hiệu ứng liên thông hoàn chỉnh. Công năng thực dụng đã chiến thắng quy phạm, nghiêm cẩn. Cột hành lang gồm trụ đá cạnh vuông với  hòn đấu đá, vì kèo đá mài nhẵn bóng. Đoạn trên cột đá có mấy đường hoa văn cao thấp nhấp nhô xen kẽ nhau. Lan can phía dưới có nhiều hình vẽ đẹp, trên trần là những hình chữ nhật và hình thoi xen kẽ, trông rất đơn giản thanh khiết mà sinh động. Tường biệt thự xây bằng những phiến đá xếp thành hình một tấm “gương soi”, nóc nhà  có mấy máng thoát nước hình chữ nhân, rất sinh động.

Biệt thự tọa lạc trên một doi đất cao bên bờ đông sông Trường Xung, dựa vào núi Hầu Tử Lĩnh, hình giống con khỉ. Nghỉ ngơi ở thung lũng sông Trường Xung này có thể nói là cởi mở tấm lòng, thư thái tâm hồn.

Ngày 26-7-1959, đồng chí Dương Thượng Côn, khi ấy là Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng chí Uông Đông Hưng, khi ấy là Phó chủ tịch tỉnh Giang Tây đã đến sân bay Thập Lý Phố, tại Cửu Giang đón đồng chí Hồ Chí Minh sang thăm, sau đó cùng lên xe hơi chạy thẳng lên núi Lư Sơn.

Xe con dừng bánh trước ngôi biệt thự, đồng chí Hồ Chí Minh từ từ xuống xe, bắt tay thân mật những người đón tiếp phục vụ, chào hỏi nói chuyện với họ bằng tiếng Trung Quốc rất lưu loát và hết lời ca ngợi ngôi biệt thự hiện ra trước mắt.

Hôm Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị rời Lư Sơn, đồng chí Lâu Thiệu Minh, Bí thư Đảng ủy Cục Quản lý Lư Sơn đến đưa tiễn, đồng thời mời Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lưu niệm cho Biệt thự Lư Sơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vui vẻ đồng ý. Người đứng trước bàn, rồi cầm bút lông đã được chuẩn bị sẵn lên, xoay xoay trong tay một lát, có lẽ cảm thấy bút lông hơi bé một chút. Thế là, Người dùng ngón tay trỏ nhúng vào mực viết lên tờ giấy Tuyên Chỉ ba chữ lớn “Lư Sơn hảo”. Sau khi rửa tay, Người lại dùng bút lông viết thêm đề từ  và ký tên: Tháng 8 năm 1959, Hồ Chí Minh.

Tình cảm và bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Lư Sơn những kỷ niệm mãi mãi không thể nào quên! Và địa danh đặc biệt thân thiện và gần gũi “Biệt thự Hồ Chí Minh” đã ra đời!

VŨ PHONG TẠO
giới thiệu và dịch
qdnd.vn

Hà Nội – 12 ngày đêm dưới mưa bom – Kỳ cuối

Không điều gì bị lãng quên

TT – Trích Nhật ký Nguyễn Đức Soát ngày 29-12-1972

Hai tháng sau ngày Mỹ ngưng ném bom miền Bắc (tháng 3-1973), những cô gái cật lực dọn dẹp đống đổ nát trên quê hương mình – Ảnh: Werner Schulze

Mình đã giao ban buổi tối ở đại đội xong. Đoàn trưởng lại gọi sang gặp. Sau khi hỏi về việc chuẩn bị chiến đấu cho bộ đội ngày mai xong, đoàn trưởng thông báo: trên chính thức công nhận đêm qua Thiều hạ được một B-52. Rađa C-26 ở Cẩm Thủy dẫn Thiều cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy – tên mật: XB-90 – lên đánh vào một tốp B-52 bay vào đánh Hà Nội. Thiều gặp địch ở Sơn La, trong điều kiện không thuận lợi. Ở H-10km, mà góc vào 90 độ, cự ly chỉ 4km (nó nhìn bằng đèn vì không dám bật rađa).Thiều vào công kích. Một phút sau, chỉ huy sở mất liên lạc với Thiều. Không biết tin Thiều có nhảy dù được hay đã hi sinh. Sợ nó đâm vào B-52. Hiện nay bọn Mỹ đang đi cứu giặc lái ở Sơn La.

Đồng thời anh Nghị còn bảo: Hùng hôm qua hạ hai máy bay. Người ta bắt thêm hai thiếu tá Mỹ. Nó khai bị Mig bắn rơi. Hùng đã hi sinh.

Thiều là bạn thân của mình. Nó thông minh, sống chân tình và rất mực đức độ. Trong chuyện riêng nhiều lần mình đã tìm đến Thiều. Mới đây, trung đoàn giao cả trung đội bay đêm về cho đại đội mình. Thiều là B trưởng.

Thật là đáng tiếc bị mất những đồng chí rất tốt trước ngày thắng lợi.

Thật tự hào có những người lính không tiếc cả cuộc sống của mình trong giờ phút thử thách quyết liệt của dân tộc, đã mang về những chiến công hiển hách.

Máu đổ cho ngày hòa bình

Ngày 29-12-1972, máy bay Mỹ vẫn đánh phá các trận địa tên lửa, sân bay, các đầu mối giao thông quan trọng và cầu, phà quanh Hà Nội.Đêm 29, máy bay Mỹ hoạt động ít hơn những ngày trước.

Ngày và đêm hôm đó hai máy bay Mỹ, trong đó có một chiếc B-52 bị hạ. Đây là chiếc B-52 cuối cùng bị bắn rơi trong 12 ngày đêm.

Sáng 30-12-1972, Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 20 trở ra, kết thúc cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng mang tên Linebacker II.

Tổn thất của ngày và đêm 28-12 không chỉ đau đớn với những người lính bay. Những người lính tên lửa cũng chịu chung một cái tang lớn: cả một trận địa tên lửa của tiểu đoàn 94, trung đoàn 261 ở Từ Sơn bị bom B-52 rải thảm. Nhiều người dân thường cũng hi sinh cùng các chiến sĩ tên lửa.

Ông Vương Đình Cường, trắc thủ cự ly, vẫn còn ứa nước mắt khi nhắc lại thời điểm đau thương ấy: “Đúng 10 giờ rưỡi đêm, loạt bom đầu rải ngoài đồng, loạt sau nó ném đúng trận địa, loạt 3 ngay sau trận địa. Chúng tôi ngồi trong xe điều khiển, không việc gì nhưng không mở được cửa xe, chắc hơi bom ép mạnh quá. Chúng tôi hè nhau đạp cửa mới thoát ra được, mở cửa thì thấy miệng hố bom B-52 cách có 3m. Cấp trên ra lệnh đi cứu đạn. Tôi nghe giọng đồng chí chỉ huy: “Đảng viên chạy trước, đoàn viên thanh niên ưu tú chạy sau”. Nhưng lửa to quá, đạn nổ hết mất rồi, không cứu kịp quả nào.

Cuộc thu dọn chiến trường lúc mờ sáng ám ảnh những người lính tên lửa suốt đời, ông Cường dấm dứt: “Nhiều anh em hi sinh, ruột bắn cả lên cây, có người hi sinh trong tư thế nằm, phải xẻ quần áo để thay. Có một anh người Hà Tây, khi chết bị bay xuống ao, cụt một chân, anh em đi tìm không thấy, hôm sau ông bố ở Sơn Tây xuống hỏi đơn vị, đơn vị nói dối anh đi công tác. Cụ bảo: “Đừng giấu tôi, tôi biết con tôi chết rồi, mà chết rét”.Thế là anh em xuống ao mò, tìm được xác đồng đội”.

Anh em hi sinh, chỉ có một anh bên quân nhu là nằm thẳng, tất cả đều nằm co vì bó gối trong hầm chữ A. Quan tài để ngoài đường, tất cả nhờ dân hết, dân mang xe bò, xe cải tiến đến chở mỗi anh em một xe, đi mai táng. Các bà mẹ nhận liệt sĩ làm con nuôi, mỗi mẹ nhận một người, chôn cất rồi chăm lo phần mộ”.

Nếu mình không về….

Sáng 14-12-2012, gia đình phi công Hoàng Tam Hùng có một cuộc gặp gỡ nho nhỏ với anh em đồng đội cùng chiến đấu với anh. Chàng sinh viên bách khoa, con trai duy nhất của một vị phó thủ tướng, đã tình nguyện nhập ngũ và hi sinh khi mới 23 tuổi đời, sau một trận đánh oanh liệt trên bầu trời, bắn rơi một lúc hai máy bay địch. Anh chết quá trẻ. Nhưng đồng đội thì không ai quên. Ngày ấy tháng ấy, bao giờ bàn thờ người lính trẻ cũng có hoa trắng của bạn bè.

Cũng tháng 12 này, trong cái lạnh tê tái của miền sơn cước, dưới mái thiền viện mới dựng sơ sài, đại đức Thích Chánh Tuệ – ngày nào là đại đội trưởng rađa Đinh Hữu Thuần – ngồi bâng khuâng: “Thầy đã quyết đi theo Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông, đất nước hết binh đao là buông tay gác kiếm, ăn chay niệm Phật. Nhưng chẳng thể nào hết lo: sao dân mình cứ nghèo mãi…”.Vị tu hành đang băn khoăn giữa việc tu hành với việc về Hà Nội dự lễ kỷ niệm Nhà nước 40 năm chiến thắng B-52: “Không muốn xuất hiện ở chốn đông người, không muốn nhắc lại những chuyện đã qua, nhất là nhớ đến những cái chết đau thương của anh em. Nhưng lại vẫn nhớ. Nhớ những đồng đội cùng đại đội với mình, nhớ những giọng nói của các anh phi công ngày nào cũng dẫn đường mà chưa hề thấy mặt. Thầy nhớ nhất giọng nói anh Vũ Đình Rạng. Thầy đã dẫn đường cho anh Rạng đánh bao nhiêu trận. Chưa gặp bao giờ, nhưng chỉ cần nghe giọng nói là nhận ra ngay. Dù hơn 40 năm rồi. Cái giọng nói của những người cùng chiến đấu với nhau nó lạ lắm, ăn vào tim óc”.

Tháng 12, chuẩn bị tết, trong một con ngõ nhỏ trên phố Khâm Thiên, nhà quay phim Trần Hùng – người đã nổi tiếng với những thước phim tuyệt đẹp trong các bộ phim Thời xa vắng và Chuyện của Pao – đang chuẩn bị kế hoạch lên Mộc Châu kiếm một cành đào phai về chơi tết. Năm nào anh cũng rong ruổi đi kiếm đào tết về để biếu nhà văn Nguyên Ngọc một cành và cho căn gác nhỏ xíu trong hẻm phố Khâm Thiên của mình một cành.

Căn gác nhỏ đã tan tành sau trận bom B-52 đêm 26-12-1972, cậu bé Trần Hùng năm đó 14 tuổi từ nơi sơ tán về đã sững sờ trước dãy phố Khâm Thiên đổ nát và tổ ấm của gia đình mình tan hoang. Nhưng thời gian đã làm tròn nhiệm vụ của nó, Trần Hùng vẫn ở lại phố Khâm Thiên, nhặt từng viên gạch xây lại tổ ấm. Và giờ đây, con anh lớn lên trên phố Khâm Thiên, chỉ biết về những trận bom B-52 qua câu chuyện của bố. Trần Hùng vẫn mơ ước được quay một bộ phim về Khâm Thiên – Hà Nội – B-52. Nhưng có lẽ trong thời buổi điện ảnh thị trường này điều đó hơi xa vời.

Và một buổi chiều mùa đông xám lạnh cũng tháng 12 này, trên nghĩa trang liệt sĩ Hà Nội, nơi có ngôi mộ bé nhỏ của liệt sĩ Vũ Xuân Thiều, có hai người lặng lẽ đến thắp một nén hương. Họ luôn bày tỏ lòng thương tiếc và biết ơn tận đáy lòng mà chỉ có những người trong cuộc hiểu được. Đó là tướng Nguyễn Đức Soát và vợ ông, bà Lê Hoàng Hoa. Bà Hoa là người yêu của anh hùng Vũ Xuân Thiều. Mối tình thơ mộng của cô nữ sinh Hà Nội xinh đẹp và anh phi công hào hoa đã tràn ngập qua những bức thư tình mà Vũ Xuân Thiều gửi gắm cho Nguyễn Đức Soát trước giờ ra trận: “Mình không về, Soát đưa cái này cho mẹ mình, còn cái này tìm đưa cho Hoa”.

Vũ Xuân Thiều không về. Và hơn một năm sau Nguyễn Đức Soát mới gặp Lê Hoàng Hoa, khi cô đang du học ở Liên Xô. Tình yêu giữa đôi trai tài gái sắc và tình yêu chung với người đã khuất đã kéo dài gần 40 năm. Nhìn họ, người ta hiểu hạnh phúc là có thật. Và máu xương của những người như Vũ Xuân Thiều đổ xuống đã không tan vào hư vô.

THU HÀ
tuoitre.vn

———————————–

* Tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: “Cuộc đón tiếp lịch sự” bắt đầu!
>> Kỳ 2: Khi SAM-2 lên tiếng
>> Kỳ 3: B-52 liên tiếp… rụng
>> Kỳ 4: Đêm dài nhất ở Bệnh viện Bạch Mai
>> Kỳ 5: Giáng sinh trong đổ nát
>> Kỳ 6: Joan Baez hát dưới mưa bom
>> Kỳ 7: Ngày ác liệt nhất
>> Kỳ 8: Đêm của Phạm Tuân
>> Kỳ 9: Những cánh bay cảm tử

Hà Nội – 12 ngày đêm dưới mưa bom – Kỳ 9

Những cánh bay cảm tử

TT – Nhật ký Nguyễn Đức Soát, tối 28-12

Tướng Nguyễn Đức Soát và những hồi ức 12 ngày đêm không quên. Ông là một phi công Mig xuất sắc và đã bắn hạ sáu máy bay Mỹ – Ảnh: Trần Việt Văn

Định ra chỉ huy cho bọn ở đại đội bay rút lên. Lân không bay, Dân ứng cử. Sau này phải sắp xếp cẩn thận, kẻo thì hết người đánh nhau.

Đêm nào bọn F.111 cũng đánh sân bay mình. Nó bay thấp, qua cửa hầm, nghe rất chối tai… Đường băng bị ba dải bom B-52 đã cơ bản chữa xong. Tuy thế chúng mình vẫn cất hạ cánh bằng đường lăn.

Lúc 11g trưa nay Kiền và Hùng xuất kích lên đánh bọn máy bay của hải quân. Họ cất cánh được ba phút đã gặp địch. Năm phút sau Hùng báo bắn cháy một chiếc. Sau đó chỉ có Kiền hạ cánh. Chúng đánh ngay ở phía nam Hà Nội – ngay trên quê mình. Do chỉ huy sở phán đoán địch muộn, dẫn vào…, lại ở giữa đội hình địch nên mỗi đứa quần với một tốp. Kiền không bắn được địch. Thoát ly xuống dưới mây về.

Chưa có tin gì về Hùng. Lo rằng nó đã hi sinh. Hôm xếp Kiền – Hùng mình đã đắn đo mãi. Kiền linh hoạt. Nó chưa bắn rơi máy bay song ai cũng tin ở khả năng phát triển của nó. Hùng bay chắc, thông minh. Trong số năm người chuyển loại từ Mig-17 lên, mình tin Hùng và Bồng hơn cả. Hôm xưa sau khi Quý nhảy dù, chính ủy và đoàn trưởng đã nhắc mình phải nắm chắc trình độ của từng người trong đơn vị.

Hùng là người đầu tiên trong lớp năm người hạ máy bay như thế cũng hay. Nhưng mình không nghĩ thêm được là hai anh chàng có thể cay cú vì cùng xốc nổi và hăng quá. Vừa gặp địch, Hùng đã lao vào ngay mà không kịp nhìn xung quanh.

Mỗi tổn thất về vũ khí, nhất là máu xương của đồng chí lúc này, mình đều phải chịu trách nhiệm rất nặng. Phải làm thế nào để mọi người cùng bắn rơi được máy bay Mỹ mà tổn thất ít nhất là vấn đề trọng tâm bắt mình suy nghĩ lúc này.

Hãy lăn lưng vào rút kinh nghiệm.

Hãy dẫn họ đi đánh mới được.

Hùng ơi! Mình sẽ trả thù cho Hùng!

Anh hùng Vũ Xuân Thiều. Ở Hà Nội nay đã có một con đường mang tên anh Ảnh tư liệu

Con trai phó thủ tướng: “Tôi không sợ…”.

Hoàng Tam Hùng là cậu em thông minh và dễ thương mà đại đội trưởng Nguyễn Đức Soát yêu quý. Ít ai biết đại đội anh hùng của Nguyễn Đức Soát, chàng phi công cao lớn xuất thân con nhà nông dân, tập hợp rất nhiều phi công trẻ con nhà “quý tộc”.

Họ là con cháu của nhiều vị lãnh đạo cấp cao. Phi công Hoàng Tam Hùng là con trai của Bí thư T.Ư Đảng, Phó thủ tướng Hoàng Anh. Phi công Lê Thanh Quý là cháu ruột của ủy viên Bộ Chính trị Lê Thanh Nghị, rồi con trai của ông Hoàng Quốc Việt, ông Nguyễn Duy Trinh đều xung phong vào bộ đội, làm phi công chiến đấu. Lê Thanh Quý suýt chết đêm 22, phải nhảy dù tránh quả tên lửa bắn ra từ bọn F4 chuyên “săn Mig”. Còn Hoàng Tam Hùng, ngày 28-12-1972, anh đã có một trận đánh mà những người lính bay gọi là “mẫu mực và cảm tử”.

Đại tá Bùi Xuân Cơ, lúc đó là đại đội trưởng đại đội thợ máy của trung đoàn không quân 927, vẫn rơm rớm nước mắt khi nhắc đến tên người phi công bay chiếc máy bay có số “đen” 5013 ngày hôm ấy: “Ai cũng sợ bay chiếc máy bay ấy, chuyên gia Liên Xô cũng sợ, nhưng Hùng vẫn bảo tôi: em chẳng sợ đâu, anh cứ chuẩn bị tốt cho em bay”.

Sáng ấy Hùng bay với anh Kiền. Địch đông quá, chỉ huy cho phép giải tán. Anh Kiền thoát ly nhanh theo lệnh, còn Hùng bị cả bầy nó vây. Hùng bắn rụng một chiếc RA 5C, bắn xong lại gặp nguyên bầy F4, cậu ấy bám đuôi và bắn cháy luôn một chiếc nữa. Tôi ngồi hầm chỉ huy (máy bay của tôi bay thì tôi bao giờ cũng ngồi hầm theo dõi anh em đánh) nghe rõ giọng cậu ấy hô: “Cháy rồi”. Nhưng cậu cũng trúng tên lửa của nó. Cậu ấy hi sinh anh dũng quá, mà trẻ măng, thư sinh, ngoan ngoãn. Chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ cậu ấy là con ông phó thủ tướng”.

Huyền thoại Vũ Xuân Thiều

Ngày đau đớn nhất chưa hết với đại đội trưởng Nguyễn Đức Soát. Đêm ấy, anh mất tiếp người bạn thân nhất: trung đội trưởng trung đội bay đêm Vũ Xuân Thiều.

Sáng 28-12, Bộ Tổng tham mưu thông báo: trước những tổn thất nặng, Mỹ có thể kết thúc cuộc tập kích. Tổng thống Nixon đã gửi công hàm cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị nối lại Hội nghị Paris để bàn việc ký kết.Tuy nhiên, ngày 28 Mỹ vẫn huy động trên 100 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá các mục tiêu: tổng kho Văn Điển, ga Giáp Bát, Nhà máy dệt 8-3, cảng Vĩnh Tuy, cầu Đuống, các trận địa tên lửa ở Chèm, Đại Đồng (Hà Nội), một số mục tiêu ở Thường Tín, Thanh Mai, Chúc Sơn, Gốt, Mỹ Đức, Miếu Môn (Hà Tây), Chợ Bến (Hòa Bình), Tam Đảo (Vĩnh Phú)…

Đã có bao nhiêu sách báo ca ngợi chiến công đêm hôm ấy của người phi công cảm tử. Nhưng chỉ gặp lại những người bay của ngày ấy mới hiểu họ yêu mến, khâm phục và tự hào về anh đến nhường nào

Ông Vũ Xuân Đãi, thợ máy là người bảo đảm bay cho Vũ Xuân Thiều. Buổi tối hôm ấy đã báo động hai lần và đều thủ tiêu báo động, không cất cánh. Lần thứ ba lúc 20g, kíp thợ máy nhớ như in câu nói của chàng phi công Vũ Xuân Thiều khi ngồi vào buồng lái: “Bây giờ quá tam ba bận, mặt đất có cho tôi cất cánh hay không tôi cũng cất cánh, không thể chần chừ được nữa”. Thiều xin cất cánh ba lần mới được lệnh đồng ý. 30 rồi 40 phút im lặng, hơn một tiếng sau, đồng đội anh nhận tin máy bay B-52 rơi ở Sơn La. Và anh cũng hi sinh.

Tướng Trần Hanh – lúc đó là phó tư lệnh Quân chủng không quân, trực tiếp chỉ huy trận đánh đặc biệt của Vũ Xuân Thiều. Ông kể về trận đánh này “là thứ bao nhiêu không nhớ, tôi thuộc lòng từng chi tiết vì không thể quên được, và vì tôi đã nhắc lại rất nhiều lần”: “Thiều được đưa đến sân bay bí mật ở Cẩm Thủy, Thanh Hóa, vì các sân bay của ta đều đã bị đánh bom tan nát. Khi bọn F4 xuất hiện dày đặc để quét Mig thì chúng tôi cho Thiều cất cánh”.

Phương án đã vạch ra là bay thấp hơn mục tiêu 150-200m và chỉ có một khẩu lệnh cực ngắn. Thiều bay một mình lên Sơn La. Dẫn bay là đài Mộc Châu, thuộc trung đoàn 292. Radar của ta đã quen quy luật nhiễu của B-52, bắt rất tuyệt vời. Khi toàn bộ đội hình B-52 xuất hiện trên màn hình, mới có lệnh cho Thiều kéo lên. Thiều đã phát hiện thấy B-52. Đội hình địch dày đặc, bay sít vào nhau. Chỉ huy nhắc: “Mây đen ba cây, hai cây rưỡi, uống cả hai chai (tức bắn luôn hai tên lửa). Thoát ly về phía đông nam!”.

Sau khi bắn cả hai quả, không thấy Thiều báo cáo gì. Có khả năng anh ấy ham quá, sợ không chắc ăn nên bắn gần. Trong các phương án, không có phương án cho máy bay lao cảm tử vào B-52, nhưng chúng tôi biết cánh phi công trẻ vẫn ngầm quyết tâm với nhau như thế. Hôm sau, đã chắc chắn máy bay địch rơi, và Thiều bặt tin. Anh ấy đã hi sinh sau khi cảm tử hạ B-52

…Nguyễn Đức Soát không biết hút thuốc lá. Đêm ấy anh đang nằm ở giường trong hầm trực chiến. Chiến sĩ liên lạc vào bảo trung đoàn trưởng (Nguyễn Hồng Nhị) gọi ra hầm sở chỉ huy. Mặc quần áo đi ra, có ôtô chờ ở chân hầm, ra đến nơi thì Thiều cất cánh rồi, đã mất liên lạc. Hai anh em mở lại băng ghi âm để nghe dẫn đường tả lại nơi mà Thiều chiến đấu. Trời rét, cả hai mặc áo bông, thủ trưởng Nhị để lên bàn hộp thuốc, Soát hút một hơi ho sặc sụa… Ngồi đến 5g sáng, không ai nói với ai câu gì. Sau đó Nguyễn Hồng Nhị bảo cấp dưới đi về để triển khai đánh tiếp ngày hôm nay. Nguyễn Đức Soát hút thuốc lá từ đêm 28. Chỉ trong một ngày đêm đại đội anh mất một lúc hai máy bay, hai phi công cảm tử.

THU HÀ – HỮU LONG – TUỆ HUYỀN
tuoitre.vn

————————————

* Tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: “Cuộc đón tiếp lịch sự” bắt đầu!
>> Kỳ 2: Khi SAM-2 lên tiếng
>> Kỳ 3: B-52 liên tiếp… rụng
>> Kỳ 4: Đêm dài nhất ở Bệnh viện Bạch Mai
>> Kỳ 5: Giáng sinh trong đổ nát
>> Kỳ 6: Joan Baez hát dưới mưa bom
>> Kỳ 7: Ngày ác liệt nhất
>> Kỳ 8: Đêm của Phạm Tuân

________________

Kỳ tới:  Không điều gì bị lãng quên

Hà Nội – 12 ngày đêm dưới mưa bom – Kỳ 8

Đêm của Phạm Tuân

TT – Sáng 28-12-1972
Tin thằng Tuân đêm qua bắn rơi một chiếc B-52 như một làn sóng vui sà đến đâu làm mọi người phấn chấn đến đấy. Mấy cô chị nuôi cũng bảo: có cả công của chúng em.

Phi công Phạm Tuân năm 1972 - Ảnh: LÊ MINH HUỆ

Các đồng chí cán bộ bảo: bước đầu ta đã trả được món nợ với Trung ương Đảng. Nhớ hôm Thủ tướng đến thăm quân chủng, Thủ tướng bảo: tôi đến, thay mặt BCT, khen ngợi và cảm ơn các đồng chí. Các đồng chí đánh tốt lắm. Khi biết không quân đánh có khó khăn, Thủ tướng bảo: Mong các đồng chí bắn rơi dù chỉ một chiếc B-52 cũng tốt. Hơn lúc nào hết, bây giờ ta rất cần chiến thắng.

Từ dạo mình về đây (đã gần năm năm) năm nào ta cũng lùng B-52 để đánh. Các sân bay Đồng Hới, Vinh, Anh Sơn phải sửa mấy chục lần để máy bay ta cất cánh đi đánh. Nhiều đồng chí hi sinh vì việc này.

Trong chiến tranh, những bất ngờ thường vượt quá trí tưởng tượng của con người. Đến sáng nay, 31 chiếc B-52 đã bỏ mạng. Mà 30 chiếc lại do tên lửa bắn rơi.

Chiếc của Tuân bắn rơi ngay ở gần Phú Thọ. Nó phát hiện bằng mắt vì bọn B-52 phải bật đèn để lũ F.4 bay theo yểm hộ. Rađa thông báo cự ly đến mục tiêu. Bọn F.4 nhìn theo luồng lửa của chiếc MIG tăng lực bắn với theo. Nhưng không kịp rồi. Cả khối sắt thép nặng đến 220 tấn ấy đã cháy bùng và cắm xuống miền núi phía tây của Tổ quốc (?) bởi hai quả tên lửa nhiệt P-3C chỉ nặng 160kg.

Cảm ơn Tuân vô cùng. Mày đã nhấc hộ bọn tao gánh nặng mà lịch sử sẽ mãi mãi treo lên đầu cả lũ lái máy bay tiêm kích.

(Trích Nhật ký Nguyễn Đức Soát)

Chiếc MIG-21 mang số hiệu 5121, do Phạm Tuân lái, đã bắn rơi pháo đài bay B-52 đêm 27-12-1972. Chiếc máy bay này vừa được công nhận là một trong những báu vật quốc gia- Ảnh tư liệu

Phạm Tuân hạ B-52 thế nào?

Khoảng 4-5 giờ chiều 27, tôi cất cánh lên trực tại sân bay Yên Bái. Trước đó, đêm nào địch cũng đánh bom sân bay Yên Bái nhưng đêm 27 không biết vì sao mà nó không đánh, chỉ thấy thỉnh thoảng F-4 vù qua đầu. Khoảng 21g, tôi được lệnh mở máy xuất kích.

Trên ra lệnh là cơ động tránh F mà đi, sau đó thông báo là B-52 cách 200 cây, 150 cây rồi 100 cây. Máy bay MIG-21 cứ một phút là 40, 50 cây nên cách 200 cây thì chỉ mấy phút là tôi tiếp cận mục tiêu. Đến độ cao khoảng 6 cây, tôi xin phép ném thùng dầu phụ và kéo lên cao.

Sáng 27-12, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến thăm, chia sẻ với nhân dân đang khắc phục hậu quả ở Khâm Thiên. Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh đến thăm Bệnh viện Bạch Mai và khu lao động An Dương.Từ 13g30 ngày 27-12, Mỹ vẫn tiếp tục cho trên 50 lần chiếc máy bay chiến thuật vào Hà Nội và Hải Phòng.

Đêm 27-12, phi công Phạm Tuân bắn rơi một máy bay B-52 trên vùng trời tỉnh Sơn La. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị không quân ta bắn rơi kể từ đầu chiến dịch.

Chỉ tính riêng ngày và đêm 27-12 có 13 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có năm chiếc B-52 (hai chiếc B-52 rơi tại chỗ). Trong hai chiếc B-52 bị hạ tại chỗ thì một chiếc rơi trên đường Hoàng Hoa Thám và hồ Hữu Tiệp. Đây là chiếc B-52 duy nhất bị bắn rơi tại chỗ khi nó chưa kịp cắt bom.

Đang vòng thì tôi phát hiện thấy một tốp B-52, hai dãy đèn. Tôi nói: “Phát hiện hai chiếc”. Ở dưới nói: “Phía trước 10 cây”, tôi nói: “Nghe tốt”, và tôi bắt đầu bám vào sau B-52. Ba sở chỉ huy chính ở Hà Nội, Thọ Xuân, Mộc Châu và một đài phụ trợ nữa ở Yên Phong đều thông báo là mục tiêu phía trước. Số hiệu của tôi là 361, thế là cứ thay nhau: “361, mục tiêu đằng trước mấy cây”…

Về sau anh Trần Hanh phải nói tất cả các sở chỉ huy dừng không liên lạc, để sở chỉ huy quân chủng dẫn dắt. Lúc đó tôi cách địch khoảng 8-9 cây. Lần đầu tiên phi công chúng ta tiếp cận trong điều kiện như vậy nên các anh nhắc: nào là bật tên lửa ở vị trí hai quả, rồi thì mở nút phóng tên lửa quan sát…

Đến cự ly khoảng 4-5 cây, sở chỉ huy lại tiếp tục nhắc, tôi nói: “Các anh cứ yên trí, tôi nhất quyết bắn rơi máy bay”. Sau các anh mới thôi, không nói nữa. Sau, tôi thấy hô: “4 cây”, anh Hanh lệnh: “361 bắn, thoát ly bên trái”.

Tôi trông thấy nó còn xa xa đèn chưa rõ lắm, nên bảo là chờ tí. Khẩu lệnh thứ hai, anh Hanh lại hạ lệnh: “Bắn, thoát ly ngay bên trái”. Ông ấy sợ mình ham quá đâm vào nó. Tôi bảo chờ tí. Đến khẩu lệnh thứ ba: “361 bắn, thoát ly ngay”.

Thế thì tôi mới kéo máy bay lên, chỉnh điểm ngắm, thấy tín hiệu tên lửa tốt rồi, tôi phóng hai quả tên lửa, đạn bay ra, sáng lòe trước mặt. Lần đầu tiên mình bắn tên lửa ban đêm, thấy một vạch đi trước, quả thứ hai lao vút đi sau, tạo thành một đường sáng rực.

Tôi kéo máy bay và lật ngửa lại thì nhìn thấy nó nổ, điểm nổ rất to trước mặt, nhưng đồng thời lúc bấy giờ cũng là lúc máy bay tôi vượt qua điểm nổ, tốc độ một nghìn tư. Tôi nói: “Cháy rồi”.

Đến sáng thì được quân chủng thông báo là đã xác định bắn rơi một B-52 và đồng chí Võ Nguyên Giáp gửi điện khen Không quân nhân dân Việt Nam. Tôi chính thức được công nhận bắn rơi chiếc B-52 trận đêm 27-12-1972.

Thiếu đạn, tên lửa vẫn hạ B-52 rơi ngay trên phố Hà Nội

Tuy đã huy động tất cả các tiểu đoàn lắp ráp tên lửa hoạt động 24/24 giờ, và điều động đạn trong kho dự trữ ở Lạng Sơn về các trận địa bảo vệ bầu trời thủ đô, đạn cho tên lửa vẫn là vũ khí chiến lược mà các chỉ huy đơn vị được lệnh phải dè sẻn để đặc trị B-52.

Thêm vào đó, trong suốt 12 ngày đêm, máy bay Mỹ đã 45 lần ném bom trúng các trận địa tên lửa, 53 lần họ phóng tên lửa trúng các đài điều khiển rađa, đài rađa dẫn đường cho không quân VN. Tuy vậy, những người lính phòng không VN vẫn đứng vững và cứ B-52 xuất hiện là họ lại bắn hạ, hằng đêm.

Đến ngày 27, tiểu đoàn tên lửa 72, trung đoàn 363 đóng ở Bắc Ninh chỉ còn ba quả đạn. Tối hôm ấy, cấp trên báo B-52 lại tiếp tục đánh Hà Nội. Chập tối, hàng bầy F111, F105 đã đánh dọn đường, tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt đã phải ra lệnh cho anh em không đánh F, để dành tên lửa đánh B-52. Lúc B-52 vào, 3 trắc thủ bám chính xác một mục tiêu, sĩ quan điều khiển phóng kịp thời, hai quả lao lên đón trúng B-52. Chiếc pháo đài bay khổng lồ cháy ngay trên bầu trời Hà Nội và lao xuống Ba Đình, thân rơi xuống hồ Hữu Tiệp, đuôi cánh rải rác trên đường Hoàng Hoa Thám, vườn Bách Thảo.

Chiến công này còn có ý nghĩa to lớn ở chỗ: đây là lần đầu tiên ta bắn rơi một chiếc B-52 khi nó chưa kịp cắt bom.Và B-52 rơi ngay trên đường phố Hà Nội, cùng với một tổ lái sáu người bị bắt sống. Nhân dân Hà Nội tận mắt chứng kiến mảnh xác máy bay rơi, tận mắt nhìn thấy phi công Mỹ bị bắt sống đi trên đường phố. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xuống làng Ngọc Hà ngay sáng 28-12 và không kìm được lời khen ngợi: “Đây là trận đánh đặc biệt xuất sắc của bộ đội tên lửa”.

THU HÀ – TUỆ HUYỀN
tuoitre.vn

————————————

* Tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: “Cuộc đón tiếp lịch sự” bắt đầu!
>> Kỳ 2: Khi SAM-2 lên tiếng
>> Kỳ 3: B-52 liên tiếp… rụng
>> Kỳ 4: Đêm dài nhất ở Bệnh viện Bạch Mai
>> Kỳ 5: Giáng sinh trong đổ nát
>> Kỳ 6: Joan Baez hát dưới mưa bom
>> Kỳ 7: Ngày ác liệt nhất

———————————————————

Kỳ tới: Những cánh bay cảm tử

Hà Nội – 12 ngày đêm dưới mưa bom – Kỳ 7

Ngày ác liệt nhất

TT – Chúng đem bom nghìn cân.
Dội lên trang giấy.
Mảnh như một ánh trăng ngần.
Hiền như lá mọc mùa xuân.

Những đứa trẻ bò lên khỏi hố bom khổng lồ ở phố Khâm Thiên – Ảnh: Bettmann/Corbis

Chẳng có gì diễn tả chính xác hơn tương quan lực lượng cũng như sức tàn phá của bom B-52 vào một trong những khu phố buôn bán sầm uất nhất và cũng đông dân lao động nhất Hà Nội như những vần thơ của nhà thơ Chính Hữu. Đêm 26-12, trong một cố gắng tuyệt vọng, Nixon đã ra lệnh ném bom rải thảm xuống khu phố Khâm Thiên.

Đau thương Khâm Thiên

Sau 36 giờ tạm ngừng, ngày 26-12 chiến dịch Linebacker II của Mỹ đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trên miền Bắc lại tiếp tục.Tại Hà Nội, 56 lần máy bay B-52 tập kích từ ba hướng: tây bắc, tây nam, đông bắc. Gần 100 điểm trong thành phố bị bom rải thảm, trong đó có những khu đông dân như phố Khâm Thiên, khu lao động An Dương, Bệnh viện Bạch Mai…

Đêm 26-12, không quân không xuất kích, nhưng lực lượng tên lửa đánh rất chính xác ở cả các hướng. Tính ra trong đêm 26-12, số tên lửa phóng lên tăng gấp 1,7 lần so với đêm 18-12 và bắn rơi nhiều máy bay B-52 nhất.

Kết quả ngày và đêm 26-12-1972: 11 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có tám máy bay B-52.

Tuệ Huyền

Dù đã có lệnh sơ tán, những người dân Hà Nội không đi theo các cơ quan xí nghiệp vẫn “ngoan cố” bám trụ Hà Nội. Sau đêm B-52 đánh trúng Bệnh viện Bạch Mai, nhiều người đã chịu “biết sợ” và rục rịch đi, nhưng người ở lại vẫn còn. Nhà ông Nguyễn Văn Cầu ở ngõ Sân Quần-ngõ nhỏ dọc Khâm Thiên thời Pháp có cái sân quần vợt, vợ con ông đã đi sơ tán rồi lại về vì thấy “Noel nó không đánh Hà Nội”.

Tối 26, ông Cầu trực tự vệ Nhà máy in báo Hà Nội Mới. Lúc báo an, xin về nhà xem vợ con thế nào thì chỉ biết một quả bom 500kg giáng xuống đúng cái hầm tập thể của khu nhà ông. 41 người chết chẳng toàn thây. Hầm tập thể thành mồ chung của vợ và con thứ hai của ông. Vợ ông chỉ tìm thấy nửa người trên, con trai thì nhận ra cái chân vì có sẹo. Anh trai ông mất dâu và rể, em ruột ông cũng chung số phận. Nhà ông Cầu mất sáu người.

Với bà Lan, giáo viên, việc sống sót của bà và hai đứa con trai còn là nỗi day dứt suốt đời. Chồng bà, mẹ hai của bà và em gái bà đều chết trong hầm trú bom. Ông không đi sơ tán vì ở lại nhận máy móc thiết bị nghiên cứu từ nước ngoài chuyển về. Là một nghiên cứu sinh, lẽ ra đến tháng 1-1973 mới hết hạn học tập ở Tiệp Khắc, nhưng ông lại làm luận án tiến sĩ sớm để về nước từ tháng 10-1972. Đến giờ này bà Lan vẫn không thể ngăn nước mắt khi nhớ đến cái chết của chồng.

Bà Lộc ở khu tập thể Đường sắt cũng có chồng chết trong đêm 26. Nhà đông con, bà đem bớt con về Hưng Yên sơ tán từ tối 25, ông chồng hứa hôm sau về. Tối hôm đó, hai đứa con sinh đôi của bà cứ gọi “bố ơi, bố ơi”. Sáng 27 bà cho hai đứa lớn về Hà Nội tìm bố, về phố Khâm Thiên thấy nhà đã sập, dân phòng, bộ đội đào mãi mới thấy bố trong gầm cầu thang. Khu nhà của Đường sắt có đông người trực chiến, nhà sập, mấy chục người chết, quê quán chẳng biết ở đâu, bà con chôn chung ở Văn Điển, đề trên mộ là vô danh.

Ở Khâm Thiên có nhà ba ngày sau, có nhà một tuần sau, có nhà 2 tháng sau mới bới hết đống đổ nát để tìm ra thi thể người chết. Phố Khâm Thiên mùa đông năm 1972 hầu như ngày nào cũng có đám ma.

Trận quyết chiến

Những gì còn lại sau trận bom B-52 - Ảnh: Bettmann/Corbis

Đêm đau thương nhưng cũng là đêm quyết sống mái với B-52. Không quân đêm ấy vẫn không xuất kích được, nhưng những người lính tên lửa lại một lần nữa chứng minh bản lĩnh và tầm vóc của mình.

Một tên lửa được tính bằng bốn xe Volga (loại xe sang trọng nhất hồi đó ở miền Bắc). Lý thuyết mà chuyên gia quân sự Liên Xô dạy bắn mỗi lần ba quả làm anh em tên lửa suy tính: mỗi lần bắn mất 12 xe Volga mà không trúng B-52 thì phí quá. Càng xót càng phải tính toán nhanh và chính xác. Lính trắc thủ góc tà, trắc thủ phương vị của các sư đoàn tên lửa thiện chiến nhất là sư 361 và sư 363 đều đã thuộc lòng quy luật đánh của địch. Ông Bùi Văn Tấn, trắc thủ phương vị của trung đoàn 261, sư đoàn 361 tự tin: “Sau mỗi trận chiến đấu chúng tôi mạnh mẽ hơn”.

Tám máy bay B-52 đã rơi trong cái đêm đầy máu và nước mắt ấy. Người Mỹ đã trút bom B-52 xuống đầu những em nhỏ, những người mẹ phố Khâm Thiên chưa từng biết cây súng là gì. Nhưng cũng trong đêm ấy, người Mỹ lĩnh đủ đòn trả thù của những người lính đang bảo vệ thủ đô, bảo vệ niềm tin vào sự sống của dân tộc mình. B-52 chưa từng rơi ở bất kỳ đâu, cho đến khi vào Hà Nội.

Cũng đêm ấy, một công dân của phố Khâm Thiên, một nhà báo và cũng là người lính của Quân chủng phòng không – không quân chụp được bức ảnh đáng nhớ nhất của cuộc đời mình: B-52 bùng cháy trên bầu trời Hà Nội.

“Đêm 26 tôi được nghỉ trực, ở nhà. Lúc ấy tầm hơn 10 giờ đêm, nghe còi Nhà hát lớn ủ, rồi loa báo động, tôi xách ngay máy ra sân. Thấy trời đất sáng rực lên, tôi chụp được ngay hai kiểu máy bay đang cháy. Lúc đấy cũng chưa biết là B-52. Chụp xong mới nhảy xuống hầm. Đất cát bắt đầu giội lên đầu, trời tối như mực. Anh tôi bảo: mưa hay sao ấy. Tôi bảo: B-52 đấy, em quen kiểu này từ trong Quảng Trị rồi”. Sáng hôm sau có thông báo B-52 rơi đúng hướng ông Nguyễn Xuân Ất chụp ảnh.”Vâng, lúc cháy nó cũng chỉ như một bông pháo hoa trên bầu trời” – ông Ất cười phúc hậu.

THU HÀ
tuoitre.vn

————————————

* Tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: “Cuộc đón tiếp lịch sự” bắt đầu!
>> Kỳ 2: Khi SAM-2 lên tiếng
>> Kỳ 3: B-52 liên tiếp… rụng
>> Kỳ 4: Đêm dài nhất ở Bệnh viện Bạch Mai
>> Kỳ 5: Giáng sinh trong đổ nát
>> Kỳ 6: Joan Baez hát dưới mưa bom

———————————————————

Kỳ tới: Đêm của Phạm Tuân

Hà Nội – 12 ngày đêm dưới mưa bom – Kỳ 6

Joan Baez hát dưới mưa bom

TT – Năm nào cũng thế, kể từ 1972, tôi lại lấy từ hồi ức riêng những tháng ngày B-52 Mỹ ném bom Hà Nội, cách đây đã tròn 40 năm, những kỷ niệm không thể quên. Những kỷ niệm chiến tranh của tuổi 20.

Tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, chưa được nhận công tác, tôi cùng vài bạn bè tân cử nhân văn chương, vốn thiết tha lãng mạn, khao khát thành nhà báo chiến tranh, đã quyết “cố thủ” tại Hà Nội hòng tận mắt chứng kiến cảnh B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội.

Khách sạn Metropole (Hà Nội) vẫn lưu giữ kỷ niệm về Joan Baez dưới căn hầm tránh bom – Ảnh: Hữu Việt

Tôi cũng không ngờ những cảnh tượng bi hùng của Hà Nội B-52 ngày ấy khi trở về ký ức tôi vẫn rực sáng một nỗi nhớ về tiếng hát của nữ ca sĩ Mỹ Joan Baez, người đã đến Hà Nội hát giữa những ngày B-52 khốc liệt ấy với tuyên bố giản dị: “Tôi là người Mỹ đến Hà Nội, vì muốn đứng về phía Hà Nội bằng tiếng hát”…

Tránh bom dưới hầm Metropole

Sau này, kể từ khi khách sạn Metropole làm “sống lại” căn hầm dã chiến, bỏ hoang từ năm 1975, như một bảo tàng hầm, tôi mới biết khi sang hát tại Hà Nội tháng 12-1972 Joan Baez đã ở khách sạn này. Cô đón Giáng sinh ở đây và đã tránh bom B-52 dưới chính tầng hầm này. Bây giờ tầng hầm được bảo tồn khá nguyên vẹn, trong đó gìn giữ kỷ vật, kỷ niệm về những người Mỹ phản đối chiến tranh Mỹ tại Việt Nam. Họ đã đến ở với Hà Nội, trái tim Việt Nam, ngay những ngày B-52 ấy. Hai gương mặt Mỹ nổi bật nhất đã ẩn náu bom Mỹ ở căn hầm này lại là hai nữ nghệ sĩ Mỹ: Joan Baez và Jane Fonda.

Và tôi nhớ một chiều trong chuỗi ngày hội thảo “Chiến tranh và hòa bình” ấy, với đại biểu hơn 20 quốc gia tham dự, từ ngày 24 đến 31-10-2010 ở Ohio (Mỹ). Trong phòng hội thảo quốc tế của Trường Case Western Reserve, khi nghe chủ tọa đọc tên mình, tôi xúc động đứng bật dậy khỏi ghế ngồi. Tôi có hai phút “nói thật về chiến tranh” theo yêu cầu hội thảo, để kể về ký ức chiến tranh Mỹ tại Việt Nam. Rất nhanh, tôi dùng hai phút ấy nói về sự kiện ca sĩ Mỹ Joan Baez đến hát tại Hà Nội của tôi, ngay trong những ngày B-52 tháng 12-1972. Tôi nhớ chuỗi 12 ngày đêm ấy rơi đúng vào mùa Hà Nội rét ngọt thấu xương. Trời Hà Nội bị xé nát bởi tiếng gầm rú máy bay B-52 của không quân Mỹ, với những đợt oanh kích dữ dội và những bắn trả dữ dội của pháo mặt đất và không quân Việt Nam. Cuộc sống thường nhật của người dân Hà Nội cũng bị xé nát bởi đạn bom Mỹ.

Đứng về phía Hà Nội bằng tiếng hát!

Gần ngày Giáng sinh thì phải, một tối muộn rét căm căm, bố tôi, một ca sĩ Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói VN, chở tôi bằng chiếc xe đạp Liên Xô cũ lên trụ sở Đài 58 Quán Sứ, để “cho con nghe một nữ danh ca Mỹ phản chiến vừa từ Mỹ bay sang Hà Nội, hát cho người của đài nghe. Sau đó sẽ sang hát mừng Giáng sinh và năm mới cho tù binh phi công Mỹ bị bắn rơi tại Hà Nội, đang bị giam giữ ở Hỏa Lò”.

Đêm ấy, bất ngờ Joan Baez xuất hiện lộng lẫy trên sân khấu. Tiếng vỗ tay vang dội hội trường. Joan Baez quá đẹp và rất thu hút. Một cái đẹp thật trong trẻo, đằm thắm và quyến rũ. Dáng thanh mảnh trong váy áo thướt tha sẫm màu, Joan cúi đầu chào, giọng Mỹ trầm ấm, chúc mừng Hà Nội vào mùa Giáng sinh và năm mới 1972-1973. Rồi Joan cúi thấp mình nói lời xin lỗi nghẹn ngào, sẻ chia tận đáy lòng về những cuộc không kích B-52 của Mỹ đang đổ xuống Hà Nội khiến nhiều người chết, phố xá hoang tàn, ngói tan gạch nát. Joan thành thực bày tỏ sự phản đối cuộc chiến phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam và kết thúc diễn từ: “Tôi xin được đứng về phía Hà Nội bằng tiếng hát”.

Và Joan bắt đầu dọn mình để vào cuộc hát, khoác lên vai dây đàn guitar gỗ, tự mình gảy đàn đệm và cất tiếng hát, đúng đẳng cấp nữ hoàng nhạc đồng quê của Mỹ. Một giọng nữ cao, ngân rung trong vắt và run rẩy, muốn nát lòng người nghe. Và điều lạ nhất là tiếng hát của Joan vừa hừng hực lửa phản chiến, vừa chất chứa dưới đáy thẳm sự nồng nàn ấm áp của những giai điệu trữ tình đồng quê, đã đi thẳng vào lòng người Hà Nội đêm ấy và ở lại mãi với trái tim tuổi 20 của tôi.

Ca sĩ Joan Baez – Ảnh: HEINRICH KLAFFS

Tiếng khóc Khâm Thiên và giọt nước mắt ở New York

Ngay sau hôm nghe Joan hát, tôi đã biết chắc rằng còn một nước Mỹ khác, với những người như Joan. Cũng ngay sau đêm đó, phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, ngôi nhà tôi trong khu tập thể Đài Tiếng nói VN phố Đại La – Ngã Tư Vọng, liên tiếp bị giội bom B-52. Hà Nội ngập trời khói lửa đạn bom, lệnh sơ tán ban bố khẩn cấp.

Bố tôi buộc tôi phải sơ tán khỏi Hà Nội, song các ngả đường đều bị bom. Tôi khoác balô, mặc bộ đồ nhuộm màu lá cây, lần theo lưng bố, đi bộ vất vả leo trèo qua phố Khâm Thiên đổ nát tan hoang, ra đầu ô Cầu Dền, lên xe của Đài Tiếng nói VN đưa đi sơ tán. Hình ảnh Khâm Thiên tang thương ấy đeo đẳng suốt dọc đường xe đưa tôi lên ngôi làng Rổng Vòng, tỉnh Hòa Bình sơ tán.

Váng vất trong tôi còn nguyên tiếng guitar gỗ chập chờn giọng hát say đắm tình yêu Hà Nội của Joan Baez và tiếng Đài Tiếng nói VN phát sóng tác phẩm ký sự hào hùng của Nguyễn Tuân Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi

Sau này, cũng nhờ việc bảo tồn dấu tích của Joan bằng hình ảnh trong căn hầm khách sạn Metropole mà tôi được biết ngay sau hôm phố Khâm Thiên bị B-52 ném bom hủy diệt, Joan đã đến hiện trường tang thương ấy cùng một phóng viên ảnh người Mỹ. Và Joan đích thân ghi âm những tiếng khóc than thảm khốc của mẹ cha, ông bà đi tìm con, tìm cháu… dưới đống hoang tàn đổ nát.

Joan quay về khách sạn, xuống hầm tránh bom và tự ghi âm mình hát một ca khúc đau đớn: Con trai ơi, con ở đâu?

Mang về Mỹ cả một tấm lòng bi thương vì B-52 Hà Nội ấy, ngay sau đó chưa đầy năm, Joan ra một đĩa đơn. Tôi đã được nghe đĩa nhạc ấy chuyển thành đĩa CD ở Albany, bang New York trong nhà vợ chồng bạn tôi là Ed và Kate, sau khi họ xúc động nghe “phút nói thật” của tôi kể về kỷ niệm nghe Joan Baez hát ở Hà Nội.

Thắp một nén hương trầm lên bàn thờ cha mẹ nội ngoại hai bên (Ed học cách thờ phụng từ người Việt) và nhấn nút, thật bất ngờ, cả một trời-âm-thanh-đặc-sệt-B-52-Hà-Nội trở về: tiếng máy bay gầm rú, tiếng bom rơi đạn nổ ầm ầm, tiếng loa phát thanh kêu gọi mau xuống hầm, tiếng thất thanh kêu cứu, tiếng gào gọi tên ai đó, tiếng ngâm thơ trầm trầm, tiếng một người mẹ sợ hãi đau đớn, tuyệt vọng: Con tôi đâu? Và giọng Joan cũng vút cao đau nhói tim người, khi hát trên chính cái nền âm thanh bi tráng hỗn loạn chết chóc ấy, bài hát: Con trai ơi, con ở đâu? Cả ba chúng tôi, tôi và vợ chồng người bạn Mỹ, đều cúi đầu nghe hát, lệ rưng rưng trên mắt.

Chúng tôi ngồi như thế rất lâu trong ngập tràn tiếng hát của Joan Baez về Hà Nội một thời đạn bom, một thời hào hùng… Nước mắt lưng tròng, Kate ôm lấy tôi, xin lỗi mãi về những trận bom B-52 đã “ném xuống Hà Nội của bạn”.

NGUYỄN THỊ MINH THÁI
tuoitre.vn

————————————

* Tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: “Cuộc đón tiếp lịch sự” bắt đầu!
>> Kỳ 2: Khi SAM-2 lên tiếng
>> Kỳ 3: B-52 liên tiếp… rụng
>> Kỳ 4: Đêm dài nhất ở Bệnh viện Bạch Mai
>> Kỳ 5: Giáng sinh trong đổ nát