Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Bài nói trong dịp đến thǎm đoàn xe đầu tiên của quân đội (3-1951)

Bác dặn các chú mấy điểm: Các chú thu được một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú đã lấy xe của địch diệt địch, “Gậy ông lại đập lưng ông”. Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy. Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm.

Hiện nay nước ta chưa sản xuất được xe. Xǎng dầu cũng vậy, có rất ít. Kháng chiến còn dài, chiến dịch ngày một mở rộng, yêu cầu vận chuyển ngày càng cao. Vì vậy, các chú phải giữ gìn xe, tiết kiệm xǎng để phục vụ bộ đội.

Xe, xǎng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chǎm sóc xe, yêu xe như con, quý xǎng như máu.

Các chú là đoàn “vạc” đi ǎn đêm. Đêm tranh thủ vận chuyển cho bộ đội. Sáng về, xe phải cất giấu kỹ tránh máy bay địch bắn phá, phải thường xuyên chǎm sóc xe cộ.

Bác dặn thêm: Các chú phải tranh thủ tǎng gia để có thêm rau ǎn. Dù nay đây mai đó cũng cần tǎng gia. Mình không ǎn thì để cho đơn vị khác ǎn, nhân dân ǎn. ở đâu và ai cũng làm như thế nhất định có thêm nhiều thức ǎn cải thiện.

Nói tháng 3-1951.
Tạp chí Hậu cần, số tháng 5-1960.
cpv.org.vn

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 87 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2012)

QĐND – Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại của dân tộc, Người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam và dắt dẫn báo chí nước ta phát triển và trưởng thành. Các phẩm chất tuyệt vời “đại nhân, đại trí, đại dũng” của Bác đều dành cho cách mạng-vì dân tộc và nhân loại cần lao. Là nhà cách mạng lỗi lạc, lại được xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn hóa uyên thâm, bản thân lại có năng khiếu bẩm sinh về báo chí và văn chương, Người đã sử dụng báo chí (và văn chương) làm một thứ vũ khí sắc bén trong hoạt động cách mạng. Các tác phẩm của Người có giá trị to lớn về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Riêng về báo chí, kể từ năm 1919 cho đến năm 1969, Bác Hồ đã viết hơn 2000 bài báo, thuộc nhiều thể loại, với nhiều bút danh, tạo nên một phong cách đặc sắc-phong cách báo chí Hồ Chí Minh.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là sự tổng hòa những đặc điểm độc đáo, sinh động và giàu tính thẩm mỹ về tư tưởng, đạo đức, về đề tài, thể loại, kết cấu và văn phong, cũng như các hình thức thể hiện trong các tác phẩm báo chí của Bác. Cơ sở tư tưởng của phong cách báo chí Hồ Chí Minh là: Vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, kết hợp với đạo đức cao cả và trong sáng của Người là: “Cần-kiệm-liêm-chính, chí công vô tư”. Đấy cũng là mục đích, là nội dung khái quát các tác phẩm báo chí của Bác Hồ.

Đề tài các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh rất đa dạng. Bác không viết chuyên sâu về một đề tài, như nhiều nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp. Bác không bỏ qua một đề tài nào, một vấn đề nào, một sự việc nào liên quan đến đời sống của nhân dân ta và cách mạng quốc tế. Bác viết về mọi đối tượng: Về ta, về bạn, về địch. Đề tài quan trọng, tập trung nhất của Bác là viết về ta. Bác viết về mọi tầng lớp nhân dân: Nam, phụ, lão, ấu, về công-nông-binh-trí thức, những người buôn bán, những người theo các loại tôn giáo và các nhà tư sản dân tộc có lòng yêu nước thương nòi-để kêu gọi: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”! Bác đi vào những đề tài thiết thực nhất đối với nhân dân và đất nước. Viết về “Đời sống mới”, Bác chỉ ra những nội dung cụ thể, là: “Sốt sắng yêu Tổ quốc”, “Sẵn lòng công ích”, cho đến cách ăn mặc, làm việc, biết cư xử và “biết ham học”, v.v.. Bác viết về Tết Trung thu, sức khỏe và thể dục, bình dân học vụ, “Đạo đức công dân”; “Tìm người tài đức” phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc, cho đến các vấn đề của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, v.v..

Hồ Chí Minh là nhà báo vĩ đại của dân tộc. Ảnh: internet

Thể loại báo chí của Bác rất phong phú. Bác vận dụng mọi hình thức thể loại để biểu đạt nội dung, nhằm mục đích: “Giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng” (Lời Bác trong bài “Cách viết”, 8-1953). Từ các bài nói, bài viết, bài thơ, các bức thư (đăng báo) cho đến các thể tài tin, bài, phóng sự, ký sự, bút ký hay tùy bút (chủ yếu Bác viết vào những năm 20 của thế kỷ XX) được Bác dùng xen kẽ, kết hợp với nhau, tuy Bác không ghi là “phóng sự”, “ký sự”, “bút ký” hay “tùy bút” dưới nhan đề bài viết của mình. Nếu chỉ căn cứ vào lý luận về thể loại theo cách hiểu cũ, rập khuôn, máy móc, sẽ không thể hiểu hết được các vấn đề hình thức thể loại của các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh. Nói cách khác, là một nhà báo vĩ đại, kỳ tài, Bác Hồ không lệ thuộc vào hình thức thể loại của bài viết, chỉ cốt trình bày tốt nhất nội dung, thể hiện rõ nhất chính kiến của mình. Vì vậy, Người đã sáng tạo, bổ sung, đem lại nhiều vấn đề mới mẻ, độc đáo và khoáng đạt cho lý luận về thể loại của tác phẩm báo chí ngày nay và trong tương lai-kể cả ở Việt Nam và thế giới. Thường là Bác kết hợp một vài thể loại trong bài viết của mình, tạo nên một sắc diện tươi tắn, sinh động và biến hóa cho tác phẩm, nhằm làm cho quần chúng “nhớ được”, “hiểu được” và “làm được” (chữ Bác dùng). Bác nói: “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần làm cho mọi người thấy được nhiều loài hoa đẹp” (trích bài “Cách viết”).

Kết cấu bài viết của Bác chặt chẽ, gọn gàng. Bác thường vào đề bằng lời trực tiếp. Nhiều bài viết của Bác không phải cứ theo khuôn mẫu: Mở bài, thân bài và kết luận, mà chỉ có hai phần: Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Ngay trong phần đặt vấn đề, cũng đã có ý giải quyết vấn đề, nhưng ý tứ rất rõ ràng, mạch lạc. Mỗi phần trong một bài, Bác chỉ nêu một, hai ý lớn; mỗi ý được diễn đạt bằng một, hai câu hoặc đoạn văn ngắn gọn. Văn phong của Bác đa dạng, thể hiện bộ óc thông minh trác tuyệt, tâm hồn lộng gió thời đại và sự am hiểu văn hóa Đông-Tây, kim-cổ của Người vô cùng sâu rộng. Viết về kẻ địch, Bác thường dùng lối văn châm biếm ý nhị nhưng ý tứ rất sâu xa, sắc sảo, thông minh đến kỳ lạ; văn phong vừa có tính chất báo chí, vừa có tính chất nghệ thuật văn chương. Viết về ta, viết cho quần chúng nhân dân, Bác lại dùng lời văn nôm na, vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ của dân tộc, diễn đạt theo cách nói, cách nghĩ, cách cảm của quần chúng.

Các tác phẩm báo chí của Bác thường rất ngắn, viết “thiết thực” và kịp thời, không lạm dụng tiếng nước ngoài. Nét độc đáo này cũng xuất phát từ định hướng tư tưởng: “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?” của Bác. Phê phán cái lối viết “rau muống”, nghĩa là tràng giang đại hải, làm cho người đọc như bị “chắt chắt vào rừng xanh”, Bác dạy các nhà báo: “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt”, vì “trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu” (trích bài “Cách viết”). Bác không lạm dụng tiếng nước ngoài, mặc dù Người thông thạo nhiều ngoại ngữ. Bác nói: “Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia”. Bác dạy: “Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng”. Bác khuyên các nhà báo phải “học cách nói, tiếng nói của quần chúng”, và chính Bác đã làm gương về mặt này. Vì thế, ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh rất giản dị, trong sáng, đậm đà tính dân tộc.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời của báo chí cách mạng nước ta 87 năm qua và còn mãi mãi, có tiếng vang lớn đối với báo chí quốc tế. Những tác phẩm báo chí bất hủ của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tạo nên phong cách báo chí Hồ Chí Minh, có sức mạnh lớn lao động viên nhân dân làm nên những thành tựu huy hoàng của cách mạng Việt Nam, trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, tạo dựng vị thế Việt Nam trên thế giới, khích lệ chúng ta vững bước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay.

ĐÀO NGỌC ĐỆ
qdnd.vn

Hũ gạo kháng chiến của phụ nữ Ngân Sơn (22-4-1951)

Từ tháng 1 đến tháng 3 nǎm nay, phụ nữ Ngân Sơn (Bắc Cạn) đã góp được 2.230 ống gạo tiết kiệm. Mỗi ống là 7 lạng. Thế là mỗi tháng phụ nữ Ngân Sơn đã góp được 1061 kilô gạo.

Thành tích ấy đã được Hồ Chủ tịch ban khen.

Nhiều nơi khác cũng có hũ gạo tiết kiệm, nhưng kết quả không được mấy. Thí dụ ở Bắc Cạn, các huyện:

Chợ Rã chỉ được 132 kilô.

Chợ Đồn – 138 –

Bạch Thông – 304 –

Thành tích ít là vì cán bộ phụ nữ

– không biết giải thích rõ ràng cách làm và ý nghĩa của hũ gạo kháng chiến để ai cũng hiểu rõ và vui lòng làm.

– không kiên gan, không chịu khó, “đánh trống, bỏ dùi”, làm được ít lâu lại bỏ.

– không thường xuyên khuyến khích nhắc nhở các gia đình. Thậm chí có khi lười không đi thu, để gạo mốc hỏng, hoặc bị chuột ǎn, cho nên các gia đình không vui lòng tiếp tục.

– cán bộ thanh niên và Hội nông dân cứu quốc không giúp cán bộ phụ nữ làm việc đó.

Ý NGHĨA CỦA HŨ GẠO KHÁNG CHIẾN

Đó là một cách thực hiện chữ Kiệm mà Hồ Chủ tịch luôn luôn dạy bảo chúng ta.

Do hũ gạo kháng chiến mà mỗi ngày, mỗi bữa, nhân dân nhớ đến bộ đội, bộ đội nhớ đến nhân dân, cảm tình giữa quân và dân càng thêm mặn mà.

Đó là một cách giúp cho tǎng gia sản xuất.

Riêng ở Bắc Bộ, nếu 485 huyện đều làm được như Ngân Sơn, thì mỗi nǎm sẽ tiết kiệm được 2.500 tấn gạo, đủ nuôi 125.000 người trong một tháng.

Nếu các cơ quan và bộ đội cũng đều có hũ gạo kháng chiến, thì sẽ đủ nuôi 200.000 người trong một tháng.

Do đó, mỗi nǎm Chính phủ sẽ tiết kiệm được mấy trǎm triệu đồng về lương thực, và thêm số tiền ấy vào những việc ích lợi chung cho quân đội và nhân dân.

Thế là hũ gạo kháng chiến sẽ giúp ích nhiều cho kháng chiến và kiến quốc.

CÁCH LÀM HŨ GẠO KHÁNG CHIẾN

1- Trước hết, cán bộ phải giải thích cho mọi người (nhất là chị em phụ nữ) hiểu thật rõ ý nghĩa và lợi ích của hũ gạo kháng chiến.

2- Cán bộ và mọi người phải hiểu rõ đó là một việc giản đơn, dễ làm, nhưng phải làm lâu dài, bền bỉ, làm hàng ngày, hàng tháng, hàng nǎm.

Thí dụ: Nhà có hai người ǎn, thì mỗi bữa khi cho gạo vào nồi, chỉ bớt lại nửa cốc (cốc nhỏ uống nước), bỏ vào một cái hũ hoặc một cái ống (chứ không phải lấy gạo ở bồ).

Nhà 4 người thì bớt một cốc. Nhà 6 người thì bớt một cốc rưỡi, v.v..

Mỗi nhà, mỗi bữa chỉ cần tiết kiệm một số gạo rất ít, không thấm vào đâu, cho nên dễ làm.

Nhưng “góp gió thành bão”, nhà nào cũng làm cho nên số gạo cộng lại khá nhiều.

Mấy điểm cần phải chú ý là:

– Cán bộ đi thu gạo phải đúng ngày.

– Cất đặt phải cẩn thận, chớ để gạo hỏng.

– Việc dùng gạo phải rất minh bạch, tuyệt đối tránh lạm dụng, tránh bừa bãi.

– Mỗi cơ quan, bộ đội, mỗi địa phương, mỗi tháng tiết kiệm được bao nhiêu, phải báo cáo cho quần chúng biết.

Việc làm hũ gạo kháng chiến rất giản đơn mà ích lợi thì to lớn. Mong rằng các cơ quan, bộ đội và địa phương đều cố gắng thi đua làm hũ gạo kháng chiến như đồng bào Ngân Sơn.

C.B.

Báo Nhân dân, số 5, ngày 22-4-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi thanh niên (4-1951)

Thân ái gửi các cháu thanh niên,

Từ ngày kháng chiến, thanh niên ta tiến bộ khá nhất trong thời kỳ gần đây.

– Trong quân đội nhiều thanh niên đã lập công vẻ vang.

– Thanh niên công nhân đã nhiều cháu làm gương mẫu trong phong trào thi đua tǎng nǎng suất (dịp Tết vừa rồi Bác đã khen ngợi).

– Thanh niên nông dân chưa thấy ai nổi tiếng trong phong trào tǎng gia sản xuất. Có lẽ đó là vì các đoàn thể thiếu sự điều tra và báo cáo. Song những đội thanh niên xung phong giúp việc các chiến dịch và hiện đang giúp việc khác, thì rất khá. Mà trong những đoàn ấy, thì số nhiều đội viên là thanh niên nông dân.

– Thanh niên học sinh hoạt động cũng khá. Thí dụ: học sinh (và thầy giáo) xung phong sửa đường. Học sinh nhịn ǎn, hái củi, quét chợ, bán bánh để lấy tiền mua công trái.

Nói tóm lại:

Ưu điểm của thanh niên ta là hǎng hái, giàu tinh thần xung phong.

Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh “anh hùng”.

Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy.

Huy hiệu của thanh niên ta là “Tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”.

ý nghĩa của nó là: Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ và hoạt bát.

Bác mong rằng mỗi một cháu và toàn thể các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để cho xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy.

Hôn các cháu
Tháng 4 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào các tỉnh có đê (4-1951)

Nǎm nay, đồng bào phải đặc biệt chú ý trong việc bảo vệ đê điều, kinh nghiệm nǎm ngoái đã dạy cho ta phải chǎm lo chống lụt.

Trong mỗi địa phương, đồng bào sẽ đặt kế hoạch giữ đê cho thật sát với tình hình quân sự và kinh tế, sẽ cố gắng thực hành kế hoạch cho kỳ được, để giữ gìn kho người và kho thóc của ta.

Nǎm nǎm vừa qua, nhờ sự nỗ lực của toàn thể đồng bào trong các vùng có đê, và của cán bộ chính quyền, chuyên môn, quân sự và đoàn thể, chúng ta đã thắng luôn giặc lụt.

Nǎm nay chúng ta cũng phải cố gắng và cũng phải thắng.

Muốn vậy, chúng ta cần phải chuẩn bị kịp thời và đầy đủ, đề phòng ráo riết, tích cực hoạt động, để thi hành triệt để chương trình hộ đê của Chính phủ.

Công việc sẽ nặng nề, nhưng chúng ta chắc làm được.

Cán bộ sẽ xung phong, mọi người đều thi đua lập công.

Tôi sẽ theo dõi công việc của đồng bào, và sẽ khen thưởng những thành tích xứng đáng.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 4 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1818, ngày 15-5-1951.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân dịp ngày Quốc tế lao động 1-5-1951 (1-5-1951)

Cùng đồng bào và anh chị em lao động toàn quốc,

Nhân dịp Ngày 1 tháng 5 là ngày Hội lao động thế giới, tôi gửi lời thân ái chúc mừng toàn thể đồng bào và anh chị em lao động.

Ngày Hội lao động nǎm nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho nước ta và cho toàn thế giới.

ý nghĩa quan trọng ở nước ta:

Nhân dân lao động nước ta (công nhân, nông dân, lao động trí óc) chúc mừng chính đảng của mình, một chính đảng thật trong sạch, thật mạnh mẽ, thật yêu nước, thật cách mạng, là Đảng Lao động Việt Nam.

Từ đây, nhân dân lao động và toàn thể đồng bào ta đã đoàn kết càng đoàn kết thêm, đã hǎng hái càng hǎng hái thêm, đã kiên quyết kháng chiến càng kiên quyết thêm, đã tin tưởng về thắng lợi càng tin tưởng thêm.

Từ 1-5, toàn dân ta sẽ đẩy mạnh một đợt mới của phong trào Thi đua ái quốc về mọi ngành, mọi mặt, để chuẩn bị đầy đủ đặng chuyển mạnh sang tổng phản công. Trọng tâm thi đua là:

– Quân đội thi đua giết giặc lập công,

– Công nhân thi đua tǎng gia sản xuất,

– Nông dân thi đua sản xuất lương thực,

– Trí thức thi đua sáng tác, phát minh,

– Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính,

– Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến.

Đợt thi đua này sẽ trải qua nhiều hội nghị chiến sĩ thi đua từng ngành, từng địa phương, để tiến tới Đại hội chiến sĩ thi đua kiểu mẫu toàn quốc. Mục đích trước mắt của nó là đẩy mạnh phong trào thi đua luyện quân lập công, tǎng gia sản xuất, cất nhắc chiến sĩ thi đua để khuếch trương những thắng lợi quân sự và chính trị từ đầu nǎm của ta.

ý nghĩa quan trọng ở thế giới:

Phe đế quốc do Mỹ cầm đầu đang ra sức chuẩn bị Thế giới chiến tranh thứ ba.

Thực dân Pháp là tay sai đắc lực của Mỹ, đang cố bám lấy nước ta.

Phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo đang cùng các nước dân chủ mới, cùng nhân dân lao động và nhân sĩ dân chủ toàn thế giới ra sức gìn giữ hoà bình.

Nước ta là một bộ phận trong phe dân chủ. Dân ta phải góp sức vào công cuộc gìn giữ hoà bình thế giới. Ta phải tiêu diệt lũ thực dân Pháp, đánh bại bọn can thiệp Mỹ, làm cho thế lực của phe đế quốc yếu đi. Đó là nhiệm vụ quốc tế của nhân dân lao động nước ta và của toàn thể đồng bào ta. Nhiệm vụ ấy, chúng ta quyết làm cho kỳ được.

Tôi chắc rằng anh chị em lao động và nhân dân ta sẽ cố gắng thi đua với anh chị em lao động và nhân dân các nước bạn, để làm trọn những nhiệm vụ vẻ vang của mình.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 6, ngày 1-5-1951.
cpv.org.vn

Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc (1-5-1951)

Tuyên ngôn của Đảng nói:

“Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hǎng hái nhất, cách mạng nhất”. Và: “Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ, phát triển tài nǎng”.

Hai câu ấy đủ đập tan những lời bịa đặt đê hèn của bọn đế quốc và lũ phản động. Chúng thường vu rằng: những đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin xem khinh trí thức.

Thật ra, chính bọn chúng lợi dụng trí thức, nô dịch trí thức và áp bức trí thức. Những người đại trí thức, thí dụ như ông Quyri (Curie) bị Chính phủ Mỹ “tẩy chay”, bị Chính phủ Pháp cất chức. Đó là chứng cớ rõ ràng.

Chỉ có giai cấp công nhân mới thật yêu chuộng trí thức. Những người lao động trí óc được đặc biệt trọng đãi ở Liên Xô và ở các nước dân chủ mới. Đó cũng là chứng cớ rõ ràng.

Lao động trí óc là ai? Là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, vǎn nghệ, những người làm bàn giấy, v.v..

Nhiệm vụ của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam hiện nay là kháng chiến và kiến quốc.

Để hoàn thành nhiệm vụ ấy, ngoài việc quân sự ắt phải phát triển kinh tế. Cho nên cần có những người chuyên môn thông thạo về công nghệ và nông nghiệp.

Cần phát triển giao thông vận tải, cho nên cần có những kỹ sư thông thạo về việc đắp đường, bắc cầu.

Cần giữ gìn sức khoẻ của dân, cho nên cần có thầy thuốc.

Cần đào tạo cán bộ cho mọi ngành hoạt động, cho nên cần có thầy giáo, v.v..

Do đó, lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân chủ mới để tiến đến chủ nghĩa xã hội.

ở đây, cũng nên nêu một điểm: Chúng ta có quyền tự hào rằng: Những người lao động trí óc ở Việt Nam đều đứng trong hàng ngũ kháng chiến. Khác hẳn với Pháp trong thời kỳ bị Đức xâm chiếm: Trong số 32.026 Pháp gian bị xử án, một bộ phận lớn là trí thức. (Hiện nay trong tầng lớp trí thức Pháp, nhiều người đã giác ngộ, đứng vào hàng ngũ dân chủ và nhân dân. Họ tỏ thái độ rất trung thành, kiên quyết đấu tranh cho hoà bình và độc lập của nước Pháp).

Ngày nay, chúng ta phải làm hai việc nhằm một mục đích:

Một là đào tạo những trí thức mới trong công nông.

Hai là cải tạo những trí thức hiện có.

Dùng hai chữ “cải tạo” thì không khỏi mếch lòng những bạn trí thức quá giàu lòng tự ái. Nhưng chúng ta phải thật thà nhận rằng: về chuyên môn và trong mức nào đó, thì anh chị em trí thức khá. Song vì ngày trước, anh chị em đã bị giáo dục trong đường lối và khuôn khổ thực dân và phong kiến, cho nên tư tưởng và lề lối làm việc của anh chị em không khỏi ảnh hưởng của thực dân và phong kiến. Điều đó không phải lỗi tại anh chị em. Dù sao, thoát khỏi cái xiềng xích của ảnh hưởng ấy thì tài nǎng của trí thức ta sẽ tiến bộ vượt bực, sẽ rất ích lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân, vì nó sẽ hợp với nhiệm vụ mới, tinh thần mới, xã hội mới của nước ta.

Muốn đạt mục đích ấy, trí thức ta cần cải tạo tư tưởng, sửa đổi lề lối làm việc.

Đào tạo trí thức mới.

Cải tạo trí thức cũ.

Công nông trí thức hoá.

Trí thức công nông hoá.

Nghĩa là công nông cần học tập vǎn hoá để nâng cao trình độ tri thức của mình, trí thức cần gần gụi công nông và học tập tinh thần, nghị lực, sáng kiến và kinh nghiệm của công nông.

Đó là nhiệm vụ chung và cần kíp, mà chúng ta phải cùng nhau cố gắng làm cho kỳ được.

C.B.

Báo Nhân dân, số 6, ngày 1-5-1951.
cpv.org.vn

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến sỹ cách mạng lỗi lạc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà còn là một cây bút xuất sắc, một nhà báo lớn, Người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Tại Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén… (8/9/1962). Ảnh: Tư liệuTại Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén… (8/9/1962). Ảnh: Tư liệu

Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã học cách viết báo, làm báo. Với Bác, báo chí phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

Báo chí Hồ Chí Minh là báo chí cách mạng, báo chí phục vụ và phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân và của dân tộc. Bác là nhà báo với ý nghĩa chân chính nhất của nghề báo. Không chú ý đến tên tuổi và sự nghiệp mà chỉ quan tâm đến cái đích thiêng liêng đó.

Bài báo đầu tiên của Người giống như một mũi tên bắn chính diện vào kẻ thù ngay trên đất nước của bọn chúng, bài “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” được gửi đến hội nghị Versailles (Véc xây) năm 1919 và Người vạch trần bản chất bóc lột, vô nhân đạo của thực dân qua bài “Tâm địa thực dân”.

Chính vì mục đích đó, năm 1922, tại Pháp, Bác đã tham gia sáng lập tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) và được coi là “linh hồn” của tờ báo, Người vừa làm chủ bút, chủ biên, giữ quỹ, phát hành và bán báo. Với báo “Người cùng khổ”, bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội ác của bọn xâm lược tại các thuộc địa để cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ và ủng hộ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa đòi quyền sống, quyền con người, quyền dân tộc của các dân tộc thuộc địa. Năm 1924, Người sáng lập báo “Quốc tế nông dân”. Đặc biệt, đến năm 1925, tờ báo “Thanh niên” – cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ra số đầu tiên ngày 21/6/1925 là điểm mốc đáng nhớ, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã dùng tờ báo làm công cụ tuyên truyền con đường cách mạng giải phóng dân tộc, để tập hợp và giác ngộ quần chúng, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng và nêu cao trách nhiệm của báo chí, của nhà báo trước xã hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định lấy ngày 21/6 hàng năm là Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của báo chí đối với sự nghiệp cách mạng, vì vậy Bác rất cẩn trọng trong từng câu chữ, ý tứ, nội dung các bài báo mình viết. Bác luôn quan niệm phải viết sao cho dân chúng hiểu và quan tâm đọc. Bác có một thói quen là thường đem những bài báo sau khi viết xong cho những người xung quanh nghe và góp ý, kể cả khi Người đã làm Chủ tịch nước. Vì thế, văn phong của Bác thường ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ mà vẫn thể hiện những nội dung quan trọng cần truyền bá tới người dân.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết khoảng 2.000 bài báo, tác phẩm với nhiều thể loại, và được ký bằng 174 tên gọi, bí danh và bút danh khác nhau. Đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng.

Tháng 4/1959, tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam, Người chỉ rõ “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Người khẳng định “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Tháng 9/1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nói “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Trong cách thể hiện, người cho rằng “Làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung, cách viết”. Mục đích “Viết để làm gì? Viết để cho ai xem? Viết như thế nào?” chính là những yếu tố giúp báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối để các cộng đồng hiểu nhau hơn. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, Người đòi hỏi báo chí cách mạng không ngừng học tập, nâng cao trình độ hiểu biết chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp. Do vậy, người làm báo cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, không ngại khó khăn, hy sinh, vì nhân dân phục vụ; cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động. Người nhấn mạnh vai trò “chiến sỹ” của người làm báo, đòi hỏi nhà báo phải kiên định lập trường, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt. Hơn ai hết, nhà báo phải là người chí công vô tư, có hiểu biết rộng và nhất là có cái tâm trong sáng. Người dạy, báo chí là một nghề, cho nên người làm báo cách mạng cần được bồi dưỡng lập trường cách mạng vững vàng, thường xuyên rèn luyện đạo đức, được đào tạo nghề nghiệp, biết ngoại ngữ… Những người làm báo phải biết trau dồi kiến thức, học tập lý luận, lăn lộn trong thực tiễn và gắn bó với nhân dân.

Theo dòng chảy của cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng, quan điểm của Bác Hồ, báo chí cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, hiện nay cả nước có 954 cơ quan báo chí; trong đó 706 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh truyền hình và có trên 17.000 nhà báo thuộc cơ quan báo chí được cấp thẻ nhà báo. Trong suốt chặng đường phát triển, báo chí Việt Nam và đội ngũ các nhà báo đã không ngừng cố gắng, cống hiến và làm tốt vai trò là người tuyên truyền cổ động, giáo dục, giác ngộ dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung của sự nghiệp cách mạng nước nhà.

Hiện nay, đất nước ta ngày càng phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên các lĩnh vực, đòi hỏi cơ quan báo chí và những người làm báo tiếp tục phát huy truyền thống báo chí cách mạng 87 năm qua, hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, luôn quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc, đó là báo chí đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, chính trị, xã hội, nghề nghiệp, vừa là diễn đàn của nhân dân; tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới; đồng thời tiếp tục tuyên truyền và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, các nghị quyết chuyên đề của Trung ương và “tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo tinh thần Chỉ thị 03/TW của Bộ Chính trị.

Phan Văn Phấn
(Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

baolamdong.vn

Thư gửi đồng bào tỉnh Quảng Yên (4-5-1951)

Thân ái gửi đồng bào tỉnh Quảng Yên,

Trong Chiến dịch đường số 18, đồng bào đã hết lòng giúp công, giúp của, giúp đỡ bộ đội, sǎn sóc thương binh.

Nhờ vậy mà bộ đội ta đã giết được nhiều giặc, thu được nhiều thắng lợi.

Tôi thay mặt Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi đồng bào và khuyên đồng bào ra sức tham gia kháng chiến, cố gắng hơn nữa để chúng ta tiến đến những thắng lợi mới.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân đội nhân dân, số 15, ngày 4-5-1951
cpv.org.vn

Bài nói tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số 18 (4-5-1951)

Các chú,

Các chú khai hội. Các chú đã nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình. Ngày mai các chú còn khai hội nữa. Bác nêu thêm mấy nhận xét để các chú tự phê bình và phê bình một cách thành thực hơn nữa, để hội nghị có kết quả nhiều.

1. Các chú ai cũng có cái khǎn mặt. Có chú phong lưu hơn lại có thêm miếng xà phòng. Khǎn mặt và xà phòng dùng để tắm rửa cho sạch. Về tinh thần và tư tưởng, cũng cần phải có khǎn mặt và xà phòng để rửa cho sạch, nghĩa là phải phê bình và tự phê bình. Trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế là chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau, phê bình mình là chính, phê bình người là phụ. Có đề cao tự phê bình và triệt để tự phê bình mới tẩy rửa được tinh thần và tư tưởng cho thật sạch. Tự phê bình và phê bình để thống nhất tư tưởng. Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc.

2. Tất cả mọi người phải có tinh thần phụ trách, thành tâm phụ trách, dũng cảm phụ trách. Trước khi làm phải có thảo luận cho kỹ để chủ trương cho đúng và đặt kế hoạch cho sát. Nhưng khi đã quyết định rồi, có mệnh lệnh rồi thì phải tuyệt đối phục tùng, phải vững lòng tin tưởng, phải quyết tâm thực hiện không một chút do dự. Dù khó đến mấy cũng phải tìm đủ mọi cách để cho quyết định chung được thực hiện, để cho mệnh lệnh cấp trên được thực hiện. Sách quân sự có câu “Tĩnh như núi, động như biển” là như vậy. Có tinh thần phụ trách là có tinh thần phục vụ nhân dân, là có tinh thần quyết chiến quyết thắng. Có tinh thần phụ trách nhất định đánh thắng giặc.

3. Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng, thì không làm gì được. Bởi vậy cần phải thương yêu đội viên. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải sǎn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ǎn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ǎn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng.

4. Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội. Trong mấy chiến dịch vừa qua, nói chung bộ đội ta đã biết giúp đỡ dân, thương yêu dân. Nhưng cũng còn có chú doạ nạt dân, mượn của dân không trả, mua rẻ của dân. Phải sửa chữa những khuyết điểm ấy. Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc.

Ngày mai, các chú họp, phải tự phê bình thật nghiêm khắc về các khuyết điểm, rồi ra sức sửa chữa cho bằng được. Về đơn vị các chú phải hướng dẫn bộ đội tự phê bình, chỉ trích về các khuyết điểm và đặt kế hoạch cho đơn vị mình sửa chữa cho bằng được. Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí giúp cho quân đội ta trở nên quân đội tất thắng.

Báo Quân đội nhân dân, số 15, ngày 4-5-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi học sinh Trường Việt Bắc (19-5-1951)

Gửi các cháu học sinh trường Việt Bắc,

Biết các cháu nhịn ǎn, quét chợ, hái củi, bán bánh tiết kiệm dành dụm được 216.445 đồng mua công trái, Bác rất cảm động. Bác gửi lời thân ái khen ngợi lòng các cháu nồng nàn yêu nước.

Việc các cháu đã xung phong làm, thì chắc học sinh các trường khác cũng sẽ làm được. Số tiền tuy nhỏ nhưng các cháu học sinh ra sức lao động để lấy tiền mua công trái thì có ý nghĩa to.

Bác muốn biết: các cháu

– Sinh hoạt thế nào,

– Học tập thế nào,

– Sức khoẻ thế nào,

– Thi đua thế nào,

– Tǎng gia sản xuất thế nào ?

Bác gửi lời thǎm các thầy giáo và cha mẹ các cháu và gửi các cháu nhiều cái hôn.

Ngày 10 tháng 5 nǎm 1951
BÁC HỒ

Tài liệu lưu
cpv.org.vn

Tự phê bình (20-5-1951)

Dao có mài, mới sắc.

Vàng có thui, mới trong.

Nước có lọc, mới sạch.

Người có tự phê bình, mới tiến bộ. Đảng cũng thế.

Tự PHÊ BìNH Là Gì? Là thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa.

Điều đó nói thì dễ, nhưng làm thì khó. Khó là vì người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị.

Đó là lòng tự ái dại dột, khác nào có bệnh mà giấu bệnh. Giấu bệnh, thì càng ngày bệnh càng nặng, đến khi quá nặng không chữa được nữa, thì chết. Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm càng ngày càng to, đến khi to quá, không sửa chữa được nữa, thì mọi việc đều hỏng.

Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn.

Những người cách mạng càng phải kiên quyết thực hành tự phê bình. Không thực hành tự phê bình, thì không xứng đáng là người cách mạng.

Khổng Tử nói: “Có lỗi, thì chớ sợ sửa đổi”.

Tǎng Tử (học trò của Khổng Tử) nói: “Mỗi ngày, tôi tự kiểm thảo ba lần”.

Mác, Ǎngghen, Lênin, Xtalin dạy chúng ta rằng: “Tự phê bình là một thứ vũ khí sắc bén nhất của cách mạng”.

Làm cách mạng mà không dùng cái vũ khí sắc bén nhất của cách mạng hoặc chỉ dùng nó một cách qua loa, thì cách mạng thế nào?

Thật thà tự phê bình chẳng những giúp cho mình sửa chữa, giúp cho mình tiến bộ mà còn giúp cho người khác biết để mà tránh. Một thí dụ: Đảng ta có mấy chục vạn đảng viên. Nếu đồng chí A phạm một điều sai lầm, liền thật thà tự phê bình, thì các đảng viên khác đều biết mà tránh, không phạm sai lầm ấy nữa. Trái lại, nếu đồng chí A không thật thà tự phê bình, để cho các đảng viên khác cũng phạm khuyết điểm ấy, thì cả Đảng cộng lại thành mấy chục vạn khuyết điểm! Như vậy, đồng chí A chẳng những dối mình, mà lại dối Đảng, là có tội với cách mạng, có tội với Đảng, có tội với Tổ quốc, với nhân dân.

Tự phê bình rồi để sửa chữa, để tiến bộ, cho nên phải thật thà, phải triệt để, mới có kết quả. Nếu chỉ làm cho qua chuyện, chỉ có hình thức thì vô ích.

Vừa rồi, cán bộ vài nơi ở Liên khu IV đã phạm những bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Hồ Chủ tịch viết thư phê bình và bảo cán bộ các cấp phải thật thà tự phê bình trước nhân dân.

Những nơi cán bộ làm đúng như lời Hồ Chủ tịch, thì nhân dân rất vui vẻ hǎng hái, và cũng tự phê bình. Cán bộ và nhân dân đều tiến bộ, càng đoàn kết, mà công việc càng chạy.

Song cũng có nơi cán bộ tự phê bình qua loa, hình thức. Thậm chí khi đọc thư của Hồ Chủ tịch trước nhân dân, họ chỉ đọc những chỗ phê bình dân, còn những chỗ phê bình cán bộ thì họ không đọc. Thế là những cán bộ ấy đã không thật thà tự phê bình, đã dối trên, lừa dưới. Mà nào có lừa dối được ai! Vì chính nhân dân đã trực tiếp báo cáo với Hồ Chủ tịch cái thái độ không xứng đáng của các cán bộ đó.

Mong rằng, những cán bộ ấy mau mau sửa đổi, kịp thời và thật thà tự phê bình.

Mong rằng các cán bộ cấp khu, cấp tỉnh chú ý đến việc đó.

Mong rằng các cán bộ và đảng viên khắp nơi noi theo bức thư của Hồ Chủ tịch mà gây một phong trào tự phê bình và phê bình thật thà, thiết thực, rộng khắp, thường xuyên.

Tự PHÊ BìNH PHảI THế NàO?

Ngày nào cũng phải ǎn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm.

Nghĩa là tự phê bình phải thường xuyên, chứ không phải chờ có khai hội mới tự phê bình, không phải khi làm khi không.

Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không giấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm. Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách gì mà sửa chữa? và phải kiên quyết sửa chữa.

Tự phê bình và sửa khuyết điểm có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khǎn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình, không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết chữa khuyết điểm.

Mấy điểm chung mà tất cả mọi đảng viên phải tự hỏi để tự phê bình:

– Hôm nay, ta đã làm tròn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho ta chưa?

– Ta đã làm được gì ích lợi cho kháng chiến?

– Ta đã làm được gì trong công cuộc thi đua ái quốc?

Mỗi người lại phải tuỳ theo công việc của mình mà tự phê bình những điểm riêng. Thí dụ:

Binh sĩ thì phải tự hỏi: Đã chấp hành đầy đủ mệnh lệnh cấp trên, giữ gìn kỷ luật, kính trọng nhân dân, tiết kiệm đạn dược, diệt được nhiều địch chưa? v.v..

Công nhân thì phải tự hỏi: Ta đã nâng cao kỹ thuật, tǎng gia sản xuất chưa? …

Nông dân thì phải tự hỏi: Ta đã chǎm lo cày bừa, ra sức thi đua thực hiện “vụ mùa thắng lợi” chưa?…

Cán bộ chính quyền và Đảng thì phải tự hỏi: Ta đã tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh chưa? Đã thực hiện cần kiệm liêm chính chưa? Đã làm chu đáo những công việc Chính phủ và Đảng giao phó cho ta chưa?…

Lao động trí óc thì phải tự hỏi: Ta đã phát minh, sáng tác gì ích lợi cho đồng bào, cho kháng chiến?

C.B.

Báo Nhân dân , số 9, ngày 20-5-1951.
cpv.org.vn