Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Kỷ vật kể chuyện

Mấy tấm hình đã ngả màu vàng ố, cuốn sổ tay bằng giấy loại xấu ra đời từ những năm còn chiến tranh… – mỗi đồ vật trong Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cất giữ một mẩu chuyện về Bác Hồ để chờ kể cho du khách, ấp ủ cả những câu chuyện chưa được kể bao giờ.

ky vat ke chuyenNghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết và tập thơ về Bác Hồ – Ảnh: Mai Lâm

Giữa dòng xe tấp nập ở Sài Gòn, một chiếc môtô bấm còi bí bo. Xe đặc biệt: Sơn màu xanh kiểu xe nhà binh, có ba bánh, bốn chỗ, trước xe phấp phới lá cờ đỏ sao vàng. Lái xe cũng đặc biệt: Đội nón bảo hiểm kiểu nón cối bộ đội, trên nón gắn ngôi sao vàng, chỉ có một chân, một tay rưỡi, một nụ cười tươi và đôi mắt vui. Trên những con đường mà chiếc xe đi qua, người đi đường vẫy tay chào.

Áo ấm ngày đông

Cũng với chiếc môtô đó, cách đây ít ngày, ông Lê Thống Nhứt, 81 tuổi, thương binh đặc biệt với tỉ lệ thương tật 91%, đã tìm tới Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minhđể làm một chuyện hệ trọng. Dựng xe cẩn thận, tự tay ông chống nạng đi vào, trao tặng một bọc đồ được gói ghém cẩn thận. Bên trong là chiếc áo trấn thủ cũ sờn được Bác Hồ tặng vào mùa đông năm 1955. Tổng cộng, chiếc áo đã ở với ông 57 năm.

Nhắc tới kỷ niệm về Bác Hồ, giọng ông bỗng rưng rưng: “Năm 1953, tôi bị thương trong một trận càn, chân phải bị cắt bỏ, chân trái bị gãy, tay phải bị giập nặng. Đang trong thời gian điều trị thì Ty Thương binh cấp cho một chiếc áo ấm, dạng áo trấn thủ, nói là của Bác Hồ gửi tặng cho thương binh nặng. Cầm cái áo mà tôi xúc động, biết ơn Bác Hồ. Phần lớn anh em trong Nam ra Bắc không chịu được cái lạnh mùa đông. Đằng này lại đang bị thương nặng thì càng khốn khổ với giá rét”. Nhận áo rồi, ông Nhứt không mặc, sợ áo cũ nên ông lồng áo trong bao áo gối để gối đầu hằng đêm.

Thời gian sống tại miền Bắc, có một lần ông Nhứt sang thăm người anh điều trị tại trại thương binh hỏng mắt. Buổi sáng hôm ấy, ông dậy sớm tản bộ ra cổng trại thì thấy có nhiều công an mặc sắc phục. Hỏi ra mới biết hôm ấy có Đoàn đại biểu đến thăm. Ông nhớ lại: “Qua khe cửa sổ, tôi nhìn mãi, nhìn mãi mà không thấy Bác đâu. Chỉ thấy một ông bác sĩ cùng đi với vài người nữa. Phái đoàn tỏa ra nhiều hướng. Tốp của ông bác sĩ đi thẳng xuống nhà bếp, vào xem cả phòng vệ sinh. Đi qua bậc thềm, ông bác sĩ chỉ xuống, có ý như bảo phải cọ rửa cẩn thận kẻo thương binh té ngã. Tiếp đó, bác sĩ vào phòng thương binh.

Anh em thương binh thì thầm với nhau: “Đoàn đến vậy mà không biết có Bác Hồ không?”. Lúc này vị bác sĩ mới cởi nón, tháo khẩu trang rồi lên tiếng: “Thế này không biết có phải là Bác Hồ không nhỉ?”. Nghe giọng nói trầm ấm thân thương, anh em thương binh hô to: “Bác Hồ, Bác Hồ” rồi chạy tới ôm Bác. Buồn cười ở chỗ thương binh toàn là người hỏng mắt nên chỉ vài anh ôm trúng Bác Hồ, còn lại toàn là anh em ôm nhau. Thấy vậy, Bác bảo mỗi anh trở về giường của mình rồi Bác lần lượt đến từng giường nắm tay từng người một”. Anh thương binh cụt chân, cụt tay Lê Thống Nhứt đứng nhìn, rớt nước mắt vì xúc động.

Tặng đi báu vật

Gần đến ngày 19 tháng 5, tận tay mang kỷ vật đến Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánhThành phố Hồ Chí Minh, khi biên bản giao nhận đã được làm xong cũng là lúc nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết bật khóc. Khóc rồi, bà lại cầm lên, đặt xuống từng món đồ: Quyển sổ tay có lời đề tặng được Bác Hồ tặng năm 1969, quyển Truyện Kiều, quyển Chinh phụ ngâm được Bác tặng, mấy tấm ảnh gốc bà được chụp với Bác, một tập thơ chép tay những bài thơ viết về Bác mà bà đã cặm cụi chép sau ngày Bác mất.

“Ở nhà đã quyết đem tặng mà khi tặng rồi lại buồn. Chắc thấy tôi khóc lóc thương quá, mấy cô ở bảo tàng hứa sẽ chụp lại cho tôi bản sao của mấy tấm hình, photo lại quyển sổ chép thơ. Các cô ấy bảo làm xong hết rồi, chắc mấy hôm nữa là được nhận. Nhận lại dù là bản sao cũng thấy ấm lòng”, bà Tuyết thổ lộ.

Là nghệ sĩ ngâm thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam, nhiều lần bà Trần Thị Tuyết được vào Phủ Chủ tịch ngâm thơ cho Bác nghe. Mỗi lần được gặp Bác, ấn tượng lớn nhất của bà về Bác là tình thương bao la. Bà kể: “Biết đứa con trai đầu của tôi bị bại liệt, Bác vẫn luôn hỏi thăm, động viên rồi khuyên: “Dù thế nào cháu cũng phải cho bé đi học để sau này còn làm người có ích, tàn nhưng không phế!”. Nghe lời Bác, tôi đã cho cháu học đến hết lớp 10. Mấy năm tôi đi học bổ túc văn hóa ở Hưng Yên, biết tôi học xa nhà, ăn uống thiếu thốn nên mỗi lần vào ngâm thơ cho Bác nghe, Bác bảo tôi ở lại ăn cơm. Một lần, bữa cơm có cá rất ngon. Thấy tôi không dám ăn vì đó là tiêu chuẩn dành riêng cho Bác, Bác nói: “Cháu ăn đi, hôm nay Bác tiếp khách, phải nhịn miệng đãi khách chứ!”. Lúc ấy tôi thấy Bác Hồ giống như một người cha, người ông của mình”.

Đầu năm 1969, bà Tuyết được Bác tặng quyển sổ tay, trang đầu có lời đề tặng viết tay: “Học tập tốt, phấn đấu tốt. Chú ý nên luyện thanh. Góp sức đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”. Bà bồi hồi: “Năm đó cũng là năm tôi ít được gặp Bác nhất vì sức khỏe Bác đã yếu. Khi bác Vũ Kỳ đưa tôi vào thăm thì Bác đã yếu, nằm trên giường, không còn bảo tôi đọc báo hay ngâm thơ như mọi lần. Tuy rất mệt nhưng Bác vẫn hỏi thăm, dặn tôi phải giữ sức khỏe, chăm chỉ luyện thanh”. Đó cũng là lần cuối cùng bà được gặp Bác.

Báu vật thiêng liêng

Là người trực tiếp tham gia những chuyến sưu tầm kỷ vật về Bác Hồ, chị Nguyễn Thị Hoa Xinh, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh , tâm sự: “Mỗi lần tiếp nhận một kỷ vật, chúng tôi vừa mừng lại vừa thấy như mình có lỗi vì đã lấy đi một báu vật thiêng liêng, thân thương mà chủ nhân của nó vô cùng yêu quý. Có bác tặng xong thì buồn quá, bị bệnh phải nhập viện. Có người tặng rồi, về nhà nhớ quá, lại lên năn nỉ Bảo tàng cho xin lại. Nghe các cô, các bác nói tha thiết quá, dù đã nhập vào hồ sơ lưu, có trường hợp chúng tôi vẫn phải trả lại. Để rồi đến khi cô, bác ấy mất, họ vẫn không quên nhắc con cháu mang trở lại giao cho Bảo tàng. Có gia đình có nhiều kỷ vật nhưng lại tặng làm nhiều lần, mỗi lần tặng là một lần đắn đo, lưu luyến”.

Theo Mai Lâm/ tuoitre.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi các tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích Nam Bộ (15-9-1948)

Cùng các tướng sĩ Vệ quốc quân

và dân quân du kích Nam Bộ,

Các đồng chí,

Nhân dịp phái đoàn Chính phủ vào Nam, tôi gửi lời thân ái thǎm các đồng chí.

Đã hơn 3 nǎm nay, bộ đội và dân quân Nam Bộ đã lập nhiều chiến công vẻ vang, và đã trưởng thành trong khói lửa. Các đồng chí đã thực hiện được kế hoạch cướp khí giới địch đánh lại địch, áp dụng triệt để chiến thuật vận động du kích, và phá hoại hậu phương địch.

Đó là những ưu điểm đáng khen.

Song công tác chính trị, sự trao đổi kinh nghiệm, sự học hỏi trong bộ đội còn chưa đủ. Địa phương chủ nghĩa, anh hùng cá nhân, bản vị chủ nghĩa, hãy còn tồn tại ở một vài nơi, và một vài cấp chỉ huy.

Đó là những khuyết điểm phải sửa chữa.

Trong phong trào Thi đua ái quốc,luyện quân lập công ngày nay, tôi mong các đồng chí cố gắng phát triển các ưu điểm, sửa chữa các khuyết điểm, để làm cho bộ đội ta thật xứng đáng là bộ đội của một nước Dân chủ Cộng hoà, xứng đáng với nhiệm vụ vẻ vang là giải phóng Tổ quốc và bảo vệ nhân dân.

Công trạng của các đồng chí đã được ghi vào sổ vàng của Tổ quốc. Các đồng chí hãy gắng lập công nhiều hơn và to hơn nữa.

Ngày thắng lợi đang chờ chúng ta.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi nam nữ thanh niên và nhi đồng Nam Bộ (15-9-1948)

Gửi các cháu nam nữ thanh niên và nhi đồng Nam Bộ ,

Các cháu yêu mến,

Nhân dịp phái đoàn Chính phủ vào Nam, Bác gửi lời thân ái thǎm các cháu.

Vì giao thông khó khǎn, Bác cháu ta ít có thư từ đi lại. Tuy vậy, Bác luôn luôn nghĩ đến các cháu. Bác muốn biết các cháu học hành thế nào, sinh hoạt thế nào, tranh đấu thế nào…

Trong phong trào Thi đua ái quốc này, Bác mong các cháu sẽ cùng với thanh niên và nhi đồng toàn quốc, hǎng hái xung phong. Các cháu phải dũng cảm tiến lên, làm cho xứng đáng là con cháu của Phù Đổng Vương, của Trần Quốc Toản. Cho xứng đáng là thanh niên và nhi đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thống nhất và độc lập.

Bác chờ đợi thơ của các cháu báo cáo cho Bác biết những sự tiến bộ và những thành tích vẻ vang của các cháu.

Bác hôn các cháu
BÁC HỒ

Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi các cháu nhi đồng nhân Tết Trung thu 1948 (16-9-1948)

Gửi các cháu nhi đồng toàn quốc,

Một nǎm nữa, các cháu ǎn tết Trung thu kháng chiến.

Vì công việc kháng chiến, mà tết Trung thu này Bác cháu ta đang xa cách nhau.

Vì phải tiết kiệm để kháng chiến, mà Bác không có quà Trung thu cho các cháu.

Nhưng tết Trung thu này Bác rất vui, vì qua một Trung thu thì kháng chiến càng gần đến thắng lợi. Chắc các cháu cũng vui, vì ngày sau các cháu có thể tự hào rằng: Các cháu đã ǎn mấy tết Trung thu kháng chiến.

Mặc dầu giặc Tây độc ác, chúng quyết không thể ngǎn trở trǎng thu vừa đẹp vừa tròn.

Mặc dầu giặc Tây hung tàn, chúng quyết không thể ngǎn trở các cháu vui tươi và hǎng hái.

Mặc dầu giặc Tây bạo ngược, chúng quyết không thể ngǎn trở chúng ta kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập thành công.

Đến ngày kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập thành công, Bác cháu ta sẽ cùng nhau ǎn những tết Trung thu tưng bừng vui vẻ. Vinh hoa bõ lúc phong trần. Bác chúc các cháu vui vẻ, mạnh khoẻ và gửi các cháu nhiều cái hôn Trung thu.

BÁC HỒ

Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6,
số 1042, ngày 16-9-1948.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 3 nǎm kháng chiến Nam Bộ (23-9-1948)

Nhân dịp kỷ niệm 3 nǎm kháng chiến ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tôi thay mặt Chính phủ gửi toàn thể đồng bào và quân đội, lời chào thân ái và quyết thắng.

Đã 3 nǎm, mặc dầu hoàn cảnh rất khó khǎn, đồng bào và quân đội ta, chẳng những giữ vững, mà còn phát triển tinh thần đoàn kết và chí khí hy sinh, mà lại ngày càng thêm mạnh, chẳng những chống cự với giặc, mà còn chiến thắng giặc. Những trận đèo Hải Vân, Đồng Tháp Mười, Sài Gòn, Đà Lạt, v.v., đã làm cho địch kinh hồn mất vía.

Là đội xung phong oanh liệt trong cuộc toàn dân kháng chiến, đã 3 nǎm nay, đồng bào và quân đội Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã làm trọn nhiệm vụ vẻ vang ấy.

Với phong trào Thi đua ái quốc sôi nổi, chắc rằng đồng bào và quân đội ta sẽ lập nhiều chiến công to lớn hơn nữa.

Tôi tin rằng, nếu cần kháng chiến ba nǎm hay mấy lần ba nǎm nữa, chúng ta cũng quyết kháng chiến đến cùng, vì chúng ta chắc rằng:

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi,

Thống nhất, độc lập nhất định thành công.

HỒ CHÍ MINH

Báo Sự thật, số 100,
ngày 23-9-1948.
cpv.org.vn

Cách làm việc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách (23-9-1948)

Chính quyền thì có những Hội đồng. Các đoàn thể thì có những Uỷ ban. Đó là tập thể lãnh đạo.

Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo ?

Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề.

Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó.

Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm.

ý nghĩa của tập thể lãnh đạo rất giản đơn, chân lý của nó rất rõ rệt. Tục ngữ có câu: “Khôn bầy hơn khôn độc” là nghĩa đó.

Vì sao cần phải cá nhân phụ trách ?

Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy.

Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này uỷ cho người kia, người kia uỷ cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong. Tục ngữ có câu: “Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa” là như thế.

Vì lẽ đó, cho nên lãnh đạo cần phải tập thể, mà phụ trách cần phải cá nhân.

Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc.

Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau.

Nhưng không phải vấn đề gì nhỏ nhặt, vụn vặt, một người vẫn có thể giải quyết được, cũng đưa ra bàn – mới là tập thể lãnh đạo. Nếu làm như vậy, là hiểu tập thể lãnh đạo một cách quá máy móc. Kết quả là cứ khai hội mà hết ngày giờ.

Những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết đi. Những việc quan trọng, mới cần tập thể quyết định.

Tập thể lãnh đạo là dân chủ.

Cá nhân phụ trách là tập trung.

Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung.

Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung.

Người nào có chân trong một uỷ ban nào mà làm biếng không đến dự mọi cuộc hội nghị của ban ấy, hoặc không cân nhắc suy nghĩ kỹ lưỡng những vấn đề cần phải bàn bạc và giải quyết hoặc không phát biểu hết ý kiến của mình đối với vấn đề ấy, là trái với nhiệm vụ của mình, và không xứng đáng là một người lãnh đạo.

Người nào phụ trách thi hành, mà không làm đúng kế hoạch do đa số đã quyết định, là làm trái với nhiệm vụ của mình, và cũng không xứng đáng là một người lãnh đạo.

Vì vậy những người cán bộ phải thực hành cho kỳ đúng cái chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

X.Y.Z.

Báo Sự thật, số 100,
ngày 23-9-1948.
cpv.org.vn

Gian khổ phải luyện rèn, sung sướng không cần ai dạy

Bà Đặng Quỳnh Anh, năm 1911, bấy giờ chưa đầy 20 tuổi, đã theo các anh “Hội kín” vượt Trường Sơn, sang Xiêm, nuôi chí nguyện theo cha chú, những Đặng Thúc Hứa, Đặng Nguyên Cẩn… làm cách mạng. Tại Xiêm, với tên gọi là mụ Nho, bà Nho, Đặng Quỳnh Anh chăm lo cày cấy, lao động. Lập gia đình với Võ Tùng – sau này là đại biểu dự Đại hội thống nhất Đảng – bà vẫn vượt mọi khó khăn nuôi chồng, nuôi con, lấy làm nơi đi lại, ăn ở cho các chiến sĩ về nước, từ trong nước ra.

Năm 1928 – 1929, ông Thầu Chín (Bác Hồ) đã ở nhà bà Anh một thời gian. Khi cùng ông Võ Tùng đi công tác, lúc bà đang có mang, Bác rất suy nghĩ. Bà biết tấm lòng của Thầu Chín, nên đã động viên chồng, nói để Thầu Chín yên tâm đi công tác cách mạng.

Năm 1936, với tên mà cảnh sát Xiêm lập hồ sơ là Đặng Thị Nho quê Nghệ Tĩnh, chồng là Võ Tùng quê Đức Phổ, Quảng Ngãi, đã bị bắt giam đưa về Đông Dương, bà Quỳnh Anh bị giam giữ tại nhà lao Khôn Kèn cùng với hai con nhỏ.

Ra tù, sau khi nước Việt Nam được độc lập, xa chồng, bà trở lại Xiêm hăng hái hoạt động trong phong trào Việt kiều rồi lại bị tù đày, đánh đập. Năm 1949, bà Quỳnh Anh được về nước. Năm 1954, được gặp lại hai đứa con mà năm 1939, đã được ông Nguyễn Văn Luyện quê Anh Sơn, Nghệ An đưa từ Xiêm về nuôi dạy. Bây giờ cô gái lớn là Dung mới 13 tuổi, cậu con trai là Đông mới 11 tuổi. Bác Hồ lại giao cho bà việc chăm sóc các cháu nhi đồng miền Nam…

Vào một ngày cuối năm 1979, một số cán bộ Bảo tàng Quân đội đến thăm bà tại nhà riêng ở khu tập thể Tương Mai.

Bà vừa qua một cơn đau nặng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã cử bác sĩ đến chăm sóc – mặc dù chị Dung, con gái bà là bác sĩ – tặng bà thuốc bổ, sâm, nhung nhưng bà không dùng.

Bà kể cho cán bộ nghe những mẩu chuyện về Bác Hồ mà bà biết được khi Bác ở Xiêm, nhưng không chịu kể về mình.

Khi người nhà bưng bát cháo lên để bà dùng, bà tự tay đón lấy. Tay phải bà run run, cầm cái thìa con đã buộc chặt vào hai ngón tay cái và trỏ. Khi bàn tay trái đưa bát cháo gần miệng, có lúc bát cháo lại “đi” qua sang phải, sang trái, bà cố ghìm lại để “xúc” cháo.

Chị Dung vẫn ngồi yên, cầm cái quạt giấy quạt cho mẹ, anh em gắt lên:

– Sao chị không bón cho bà?

Chị Dung cười và bà cũng cười. Chị nói:

– Mẹ tôi không cho. Mẹ bảo để mẹ tự làm lấy. Còn tại sao, các anh hỏi mẹ ấy!

Bà đặt bát cháo xuống, kể:

– Các cháu ạ, hồi ở Xiêm, Bác Hồ sống như mọi người dân, lao động bắt cá, kiếm củi, làm công, ăn đói mặc rét. Bác có lần nói với bà rằng: “O ơi! Sung sướng không ai dạy mà vẫn biết, còn muốn chịu đựng được gian khổ để làm cách mạng thì phải luyện rèn. Không ai nắm được tay từ sáng đến tối. Phòng khi khó khăn, còn vượt được, còn tham gia cách mạng được”. Bà nhờ câu nói ấy của Bác mà sống đến ngày nay… Bà còn cử động được tay, bà tự làm lấy theo lời Bác Hồ dạy mà thôi!

Rồi bà lại tươi cười run run bưng bát cháo lên.

Bốn cán bộ Bảo tàng ngồi mắt đỏ hoe, có anh trào nước mắt.

Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy (st).
bqllang.gov.vn

Thư gửi cụ Tạ Quang Yên (9-1948)

Kính gửi cụ Tạ Quang Yên ở Nam Định,

Tôi rất cảm động được báo cáo rằng cụ có 8 người con, trong đó 6 người tham gia kháng chiến, mà 4 người đã oanh liệt hy sinh vì Tổ quốc. Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi và tặng cụ mấy chữ:

“Một nhà trung hiếu,

Muôn thuở thơm danh”

Nhân dịp này tôi xin biếu cụ một cái áo mà đồng bào đã biếu tôi.

Chúc cụ mạnh khoẻ và sống lâu.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 9 nǎm 1948
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, Xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.145.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội Liên Việt huyện Mỹ Lộc (9-1948) (1)

Tôi rất vui lòng biết rằng Hội Liên Việt Mỹ Lộc đã kêu gọi được 114 đồng bào (trước lầm đường ra làm hội tề) trở về với Tổ quốc. Hội lại tổ chức ban nghiên cứu có 10 thân hào, thân sĩ tham gia. Đó là những sáng kiến rất hay.

Tôi mong Hội kêu gọi toàn thể đồng bào trong huyện hǎng hái xung phong Thi đua ái quốc làm cho Mỹ Lộc tiến lên về mọi mặt và trở nên một huyện kiểu mẫu.

Đồng thời, Hội Liên Việt Mỹ Lộc nên thách Liên Việt các huyện khác thi đua trong mọi công việc kháng chiến và kiến quốc.

Tôi chúc Hội Liên Việt Mỹ Lộc sẽ thành công vẻ vang.

Tháng 8 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.146.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Chủ nghĩa cá nhân (15-10-1948)

Nhờ ngọn lửa kháng chiến hun đúc rèn luyện mà cán bộ quân sự, chính trị, hành chính, chuyên môn đều tiến bộ nhiều và nhanh.

Song vẫn còn một vài người, một vài cơ quan hãy chưa tẩy hết cái bệnh chủ nghĩa cá nhân. Bệnh ấy tỏ rõ ra nơi:

Ngày thường, thì kỷ luật kém.

Khi có vấn đề nghiêm trọng, thì hoang mang.

Lúc tính toán công việc, thì đặt lợi ích của cá nhân mình, của nhóm mình lên trên lợi ích chung.

Bệnh ấy dễ đưa đến chỗ trái kỷ luật, trái lợi ích của dân tộc.

Muốn tẩy sách bệnh ấy, thì cần phải nâng cao trình độ giác ngộ của mình; phải học theo cái tinh thần kiên quyết, dũng cảm, hy sinh, của nhân dân và của chiến sĩ.

Có những đồng bào hy sinh cả gia tài, điền sản, để giúp kháng chiến. Có những chiến sĩ tưới dầu châm lửa vào mình, để đốt đồn địch. Đó là những người anh hùng, bỏ nhà, bỏ mình vì nước. Cái tinh thần cao cả vẻ vang ấy sẽ soi sáng muôn đời, và luôn luôn làm kiểu mẫu cho mọi người noi theo.

Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức.

Muốn tẩy sạch bệnh ấy, thì phải:

Thực hành tự phê bình và phê bình đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa.

Phải vào sâu dân chúng, vào sâu bộ đội. Hỏi ý kiến và hỏi sáng kiến của quần chúng. Gom góp kinh nghiệm của quần chúng để giải quyết các vấn đề, và trao đổi những kinh nghiệm mới cho cơ quan khác, địa phương khác.

Công việc hàng ngày thì phải cẩn thận mà nhanh nhẹn, kịp thời, làm đến nơi đến chốn.

Kháng chiến nhất định thắng lợi. Hồ Chủ tịch nói như thế. Quân và dân ta đều tin tưởng chắc như thế.

Vì sao mà kháng chiến nhất định thắng lợi?

Vì bốn điều kiện:

1. Đoàn kết chặt chẽ, quân dân nhất trí.

2. Có con đường chính trị đúng.

3. Có con đường quân sự đúng.

4. Có sự chỉ huy khôn khéo mau lẹ, về chính trị cũng như về quân sự.

Điều 1, chúng ta đã làm được một phần lớn. Nay cần phải làm cho chặt chẽ thêm sự đoàn kết giữa bộ đội với bộ đội, giữa bộ đội với dân quân, giữa quân đội với nhân dân. Nâng cao cái tinh thần cán bộ giúp đỡ chiến sĩ và nhân dân, quân đội giúp nhân dân, nhân dân giúp bộ đội.

Điều 2 và 3, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và cương quyết của Chính phủ kháng chiến, chúng ta đã sẵn có con đường chính trị và quân sự đúng. Chúng ta chỉ cần phải sửa chữa bệnh cá nhân, bệnh quan liêu, để theo cho đúng, làm cho kịp thời.

Điều 4, chúng ta có kinh nghiệm ba nǎm kháng chiến, hai cuộc luyện quân lập công, và phong trào thi đua ái quốc.

Các cán bộ chỉ huy cần phải khéo dùng những kinh nghiệm ấy, và cố gắng đẩy mạnh phong trào thi đua lên nữa. Như vậy thì sự chỉ huy càng khôn khéo mau lẹ thêm.

Toàn dân đoàn kết. Tướng sĩ dũng cảm. Chính trị vững chắc. Chỉ huy khôn khéo. Bốn điều ấy hợp lại, làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi.

X.Y.Z

Báo Sự thật, số 101,
Ngày 15-10-1948.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh (15-11-1948)

Đồng bào yêu quý,

Tôi rất vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào toàn huyện đã thanh toán xong nạn mù chữ.

Thế là huyện Cẩm Xuyên đã tranh được cái vinh dự xung phong cho Hà Tĩnh và Liên khu IV 1 trên mặt trận vǎn hoá bình dân.

ở Bắc Bộ đã có tỉnh thanh toán xong nạn mù chữ trong 6,7 huyện như Thái Bình và hứa toàn tỉnh sẽ thanh toán xong trong nǎm nay. Tôi mong rằng Hà Tĩnh sẽ làm được như thế.

Hà Tĩnh là một tỉnh nhỏ nhất trong Liên khu IV mà đã hǎng hái xung phong. Tôi mong rằng các tỉnh khác, trước hết là những tỉnh to như Nghệ An, Thanh Hoá sẽ cố gắng theo kịp tỉnh “em”.

Cẩm Xuyên đạt được thành tích ấy là do:

– Sự cố gắng giúp đỡ của các cụ phụ lão, các vị thân sĩ.

– Sự sǎn sóc ân cần của các cơ quan đoàn thể.

– Sự hǎng hái nỗ lực của các nam nữ giáo viên.

– Sự siêng nǎng cố gắng của toàn thể đồng bào trong huyện.

Những thành tích ấy chỉ là bước đầu. Đồng bào cần phải tiếp tục học thêm nữa, học thêm mãi để tiến bộ thêm mãi.

Vì diệt giặc dốt chỉ là một trong ba mặt trận kháng chiến, kiến quốc của ta, đồng bào Cẩm Xuyên sẽ làm kiểu mẫu… trên hai mặt trận kia tức là:

– Xung phong tǎng gia sản xuất để tự cấp, tự túc để diệt giặc đói.

– Xung phong tổ chức dân quân du kích cho hẳn hoi, xung phong giúp đỡ bộ đội, thanh niên thi đua tham gia Vệ quốc quân để diệt giặc ngoại xâm.

Nói tóm lại đồng bào nên xung phong trong phong trào Thi đua ái quốc nhằm vào hai nhiệm vụ chính là giúp cho cuộc cầm cự được thuận lợi và cuộc chuẩn bị tổng phản công mau đầy đủ.

Với lòng hǎng hái và chí cương quyết sẵn có, tôi chắc rằng đồng bào Cẩm Xuyên sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang ấy; và đồng bào các huyện, các tỉnh khác sẽ thi đua theo kịp Cẩm Xuyên.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 15 tháng 11 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 277-278.
cpv.org.vn

Bệnh tự kiêu, tự ái (15-11-1948)

Hai thứ bệnh nguy hiểm đó đều do bệnh chủ quan, hẹp hòi mà sinh ra.

Việc thế giới, việc xã hội, việc nước nhà to lớn vô cùng, nhiều vô cùng.

Dù ai tài giỏi mấy, cũng không thể biết hết cả, làm hết cả.

Xưa nay những bực tài giỏi như cụ Khổng Tử, cụ Lênin cũng không biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Cụ Khổng không biết nấu cơm, cụ Lê không biết may áo. Vì vậy, cần nấu cơm thì cụ Khổng phải học hỏi người làm bếp. Cần may áo thì cụ Lê phải học hỏi người thợ may.

Cụ Khổng và cụ Lê hơn mọi người, không phải vì hai cụ biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Mà vì hai cụ không tự kiêu, tự ái, luôn luôn học hỏi.

Lời đầu tiên của cụ Khổng trong sách Luận ngữ, là: “Học mà thường tập, chẳng cũng vui lắm thay”.

Lời cụ Lê thường thường nhắc nhủ mọi người, là: “Học, học nữa, học mãi”. Và “phải học hỏi quần chúng”.

Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai.

Kỳ thực, tự kiêu là mù quáng, chỉ trông thấy những việc mình tưởng mình làm được, những điều mình tưởng mình biết hết; mà không trông thấy những điều mình không biết, những việc mình chưa làm được.

Tự kiêu là hẹp hòi. Tài đức độ lượng nhỏ nhen, không bao dung được những ý kiến và những phê bình của người khác. Thí dụ một cái cốc, vì hẹp hòi mà chỉ đựng được rất ít nước, thêm một chút nước nữa, là phải tràn. Trái với cái độ lượng rộng lớn của bể, bao nhiêu nước cũng vẫn chứa được.

Tự kiêu là thoái bộ. Vì tự mãn tự túc, không cố gắng học hỏi thêm. Không theo kịp sự tiến bộ của thời đại. Tự mình ngǎn trở sự tiến bộ của mình.

Tự kiêu là hủ hoá. Vì không chịu học những sự hay sự tốt của người; không ưa những lời phê bình thẳng thắn để sửa chữa những khuyết điểm của mình. Mà người đời ai chẳng có khuyết điểm to hay nhỏ, ít hay nhiều!

Nói tóm lại: Tự kiêu nhất định sẽ đi đến thất bại. Vì kiêu ắt đi đôi với nịnh. Đã kiêu thì ắt ghét những người tài giỏi hơn mình. Ưa những kẻ nịnh hót mình. Thân cận là những kẻ vô tài bất lực, nhưng khéo nịnh hót a dua. Xa cách hoặc dìm hãm những người có tài có đức hay bàn ngay nói thẳng. Như thế thì sao khỏi hỏng việc.

Cụ Khổng Tử có nói: “Nếu có tính tự kiêu, thì dù tài giỏi vô cùng như ông Chu Công, thì tài giỏi ấy cũng vất đi”.

Nghĩa chính của chữ tự ái là giữ đúng chữ cần, kiệm, liêm, chính. Không làm điều gì có hại đến danh dự và đạo đức của mình. Thế là chân chính tự ái, mà ai cũng phải tự ái.

Nhưng người ta thường hiểu lầm chữ tự ái. Do đó mà hay chấp vặt, không can đảm tự phê bình, không ưa những lời phê bình ngay thẳng – thì gọi là tự ái. Tự ái này luôn luôn đi đôi với tự kiêu, tự mãn, tự túc. Và kết quả là tự khí, nghĩa là mình tự ngǎn trở mình tiến bộ, đồng thời đã tự kiêu tự ái, thì không thể đoàn kết. Không đoàn kết tức là cô độc. Đã cô độc, thì chẳng việc gì thành công.

KếT LUậN: Mỗi một người và tất cả mọi người chúng ta phải tẩy cho sạch bệnh tự kiêu, “tự ái”. Đó là hai thứ bệnh rất nguy hiểm cho đạo đức và công việc.

Thang thuốc thánh để chữa bệnh này gồm có bốn vị là:

a) Thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình.

b) Cố gắng sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm.

c) Luôn luôn cố gắng học hỏi để luôn luôn tiến bộ.

d) Thực hành đoàn kết.

X.Y.Z.

Báo Sự thật, số 102,
ngày 15-11-1948.
cpv.org.vn