Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi ông Nguyễn Vǎn Luân, Trưởng khu bình dân học vụ khu III (2-1948)

Cảm ơn ông đã gửi tặng tôi 3 thứ sách. Cảm ơn chị em giảng viên Quỳnh Côi đã gửi biếu chiếc khǎn tay lụa thêu, và cảm ơn tất cả anh em bình dân học vụ đã chúc tôi nǎm mới. Nhờ ngài chuyển lời thân ái hỏi thǎm các nam nữ kiểm soát viên và giảng viên.

Thấy trong nội san Diệt dốt nói khu III đã có kế hoạch quyết diệt hết nạn mù chữ trong nǎm nay. Thế là tốt lắm. Bình dân học vụ và tất cả các cơ quan đoàn thể và đồng bào khu III phải cố gắng làm cho đúng kế hoạch.

Tôi sẽ có hai phần thưởng:

Một cho huyện nào đa số xã đã diệt xong nạn mù chữ trước mọi huyện khác,

Một cho huyện nào toàn huyện diệt xong nạn mù chữ trước mọi huyện khác.

Hai là các nam nữ giáo viên cũng phải cố gắng học thêm. Khi dạy xong chữ quốc ngữ rồi thì dạy làm tính, dạy lịch sử, địa dư, đạo đức công dân, v.v.. Như thế thì người dạy và người học đều tiến bộ mà khu III sẽ là một khu kiểu mẫu cho vǎn hoá bình dân.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6,
số 928, ngày 14-5-1948.
cpv.org.vn

Gửi các đồng chí lên đường (2-1948) (1)

Một, chúc các đồng chí đi đường, chân cứng, đá mềm, thuận buồm xuôi gió.

Hai, các đồng chí đi đường sẽ cực khổ, công tác sẽ khó khǎn.

Các đồng chí phải đem toàn tinh thần và nghị lực của thanh niên yêu nước mà chịu đựng, phấn đấu, khắc phục mọi sự gian nan, để tranh lấy thắng lợi.

Ba, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ to nhỏ, các đồng chí phải luôn luôn nhớ rằng: Mình là đại biểu cho thanh niên yêu nước, ra ngoài để giúp anh em công tác, để đem tình thân ái của Tổ quốc cho kiều bào và để giúp đỡ họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn, các đồng chí phải: ở trong nội bộ thì thương yêu giúp đỡ nhau, phê bình và học tập nhau. Trong công tác thì cố gắng làm cho đầy đủ nhiệm vụ, làm cho xứng đáng lòng tin cậy của anh em thanh niên, của đoàn thể và của đồng bào.

Mong rằng các đồng chí sẽ nhớ những lời thành thật đó, và sẽ làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lưu tại Tổng liên đoàn lao động Việt Nam,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn

————————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư nói về công tác Trần Quốc Toản (2-1948)

Gửi các cháu nhi đồng trai và gái,

Bác gửi lời thân ái chúc các cháu nǎm mới.

Nǎm ngoái, các cháu gửi thư cho Bác rất nhiều. Tiếc vì bận việc quá Bác không thể trả lời hết được khắp. Nhưng Bác nhớ các cháu luôn luôn, và biết rằng các cháu đều yêu nước, siêng học, siêng làm, giữ kỷ luật, thì Bác rất vui lòng.

Qua nǎm mới, Bác đề nghị các cháu làm một việc là: các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản.

Trần Quốc Toản là ai ? Tổ chức thế nào, và để làm gì ?

1- Cách đây chừng 700 nǎm, quân Mông Cổ đánh chiếm gần nửa châu Âu, chiếm gần hết châu á, và lấy cả nước Trung Hoa. Lúc đó quân Mông Cổ đem 30 vạn lính đến đánh nước ta.

Do ông Trần Hưng Đạo cầm đầu, tổ tiên ta trường kỳ kháng chiến trải qua 4, 5 nǎm đánh tan quân Mông Cổ, nước ta lại được độc lập (22)

Trần Quốc Toản là cháu ông Trần Hưng Đạo, lúc đó mới 15, 16 tuổi, cũng đi đánh giặc và lập được nhiều chiến công.

2- Bác không phải mong các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản để đi đánh giặc và lập được nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến bằng cách giúp đỡ đồng bào.

3- Từ 5 đến l0 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành. Khi học rảnh mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào.

Trước thì giúp các nhà chiến sĩ, nhà thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ, v.v..

Đội này thi đua với đội khác. Mỗi tháng một lần, các đội báo cáo cho Bác biết. Đội nào giỏi hơn, Bác sẽ gửi giấy khen. Đó là ý kiến của Bác. Nếu cháu nào có nhiều sáng kiến, tìm ra nhiều cách giúp đỡ càng tốt.

Các cháu nên hiểu rằng: giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến. Và do đó, các cháu sẽ luyện tập cái tinh thần siêng nǎng và bác ái để sau thành người công dân tốt của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Bác hôn các cháu
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr. 237-238.

cpv.org.vn

——————————–

(22) Kháng chiến chống quân Nguyên: Trong vòng 30 nǎm (1258-1288), dân tộc ta đã ba lần kháng chiến chống đế quốc Mông Cổ, đạo quân xâm lược khét tiếng vừa chinh phục nhiều quốc gia châu Âu, châu á.

– Cuộc kháng chiến lần thứ nhất: Nǎm 1257, quân Mông Cổ đánh Nam Tống, sai sứ sang dụ vua Trần đầu hàng. Nhà Trần tống giam sứ giả và chuẩn bị chiến đấu. Ngày 17-1-1258, 3 vạn quân Mông Cổ kéo sang Bình Lệ Nguyên (nay thuộc Vĩnh Phú). Quân ta tạm rút khỏi Thǎng Long và thực hiện “vườn không nhà trống”. Ngày 29-1-1258, quân ta phản công đánh tan quân Mông Cổ.

– Cuộc kháng chiến lần thứ hai: Nǎm 1282, quân Mông Cổ (lúc này đổi niên hiệu là Nguyên, đã xâm lược nhà Tống và toàn bộ Trung Quốc) mượn cớ đánh Champa để xâm lược nước ta. Triều Trần triệu tập Hội nghị Bình Than (gồm các vương hầu quan lại, tướng lĩnh cao cấp) bàn kế hoạch đánh địch. Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ làm nức lòng quân dân cả nước. Nǎm 1285, được tin quân Nguyên tiến sát biên giới, Vua Trần triệu tập Hội nghị Diên Hồng (gồm các cụ phụ lão) cùng quyết tâm “Sát Thát”. Cuối tháng 1-1285, 50 vạn quân Nguyên chia làm 3 hướng sang xâm lược nước ta. Triều đình lại tạm rút khỏi Thǎng Long và cuối tháng 6-1285, sau gần 2 tháng phản công, với những chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp lẫy lừng, quét sạch quân Nguyên khỏi bờ cõi.

– Cuộc kháng chiến lần thứ ba: Tháng 12-1287, quân Nguyên lại điều 50 vạn quân theo 3 đường Quảng Tây, Vân Nam và đường biển vào xâm lược nước ta. Quân ta chiến thắng ở Vân Đồn, đánh tan đoàn thuyền vận tải lương thực của địch. Tháng 2-1288, quân Nguyên vượt sông Hồng tấn công thành Thǎng Long. Tháng 3-1288, Thoát Hoan biết nguy cơ bị bao vây như lần trước, đã đốt phá Thǎng Long rồi rút về Vạn Kiếp. Tháng 4-1288, quân ta tiêu diệt toàn bộ đạo quân thuỷ của địch ở sông Bạch Đằng, bắt sống Ô Mã Nhi… tướng giặc là Thoát Hoan vô cùng hoảng sợ phải chui ống đồng chạy về nước theo đường Lạng Sơn.

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên ở thế kỷ 13 là bản anh hùng ca bất hủ.

Thư gửi Hội nghị thông tin tuyên truyền và báo chí toàn quốc (2-1948)

Các đồng chí,

Tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu mạnh khoẻ và Hội nghị có kết quả tốt. Sau đây là một vài ý kiến tôi đưa ra để giúp vào cuộc thảo luận của Hội nghị.

Theo ý kiến của tôi, thì thông tin, tuyên truyền và báo chí là ba ngành trong một việc, ba ngành đó phải đi sát với nhau. Vì vậy, các ưu điểm và khuyết điểm cũng chia sẻ với nhau. Xét lại, hơn một nǎm kháng chiến, chúng ta thấy trong thông tin, tuyên truyền và báo chí, ưu điểm cũng có và khuyết điểm cũng còn nhiều:

ƯU ĐIỂM

1. Mặc dầu hoàn cảnh khó khǎn, anh em đều cố gắng làm nhiệm vụ.

2. Số báo chí nhiều hơn trước, nhất là bích báo càng phát triển.

Hầu khắp các cơ quan và bộ đội, các đoàn thể đều có bích báo. Các huyện như An Hải có báo Giết giặc, các đội nhi đồng như báo Xung phong của em bé ở Hải Dương, kỹ thuật và nội dung rất khá.

3. Nhiều nơi có sáng kiến dùng những cách thức phổ thông để tuyên truyền, như kịch, vè, ca dao, v.v..

4. Gần đây đã đi đến chỗ thống nhất thông tin tuyên truyền.

KHUYẾT ĐIỂM

a- Nhiều địa phương, anh em thông tin tuyên truyền lầm tưởng mình là công chức, làm việc theo cách bàn giấy mà quên nhiệm vụ của mình là tuyên truyền, cổ động, giải thích và huấn luyện cho nhân dân.

– Các cấp thông tin tuyên truyền thường thi hành chỉ thị cấp trên một cách máy móc, không biết áp dụng theo hoàn cảnh thiết thực trong địa phương mình.

– Tuyên truyền không chủ trương thực tế mà hay nói những lý luận viển vông.

– Chưa có một chương trình, một kế hoạch thiết thực và đầy về công tác cũng như về kiểm tra.

b- Báo chí có những khuyết điểm sau đây:

1. Về kỹ thuật: Có đôi tờ báo, khi thì rộng, khi thì hẹp, chữ in thì luộm thuộm, khó đọc, tên báo thì thường đổi khác (khi in thế này, khi in cách khác), thành thử tờ báo mất cả cái bản sắc của nó. Nhiều khi “tiếp theo trang sau” lộn xộn quá, làm cho người đọc khó tìm.

2. Về tin tức: Tin tức thế giới nhiều hơn tin tức trong nước. Có những tỉnh như Hà Giang, Lào Cai hoặc các tỉnh Trung Bộ hầu như không bao giờ có tin tức gì trên mặt báo. Các báo miền ngược không chú ý dân tộc thiểu số.

– Có khi đǎng tin không xác thực.

– Không biết giữ bí mật. Thí dụ: đǎng cả tên, hoặc số các bộ đội ta. Đǎng rõ địa điểm và kết quả sau một cuộc địch ném bom.

3.Về vǎn chương: Quá dài dòng vǎn tự. Khô khan, kém hoạt bát lanh lợi. Không phổ thông. Hay dùng chữ Tàu mà không đúng nghĩa.

4. Về chính trị: Hay nói chính trị suông mà ít chú ý đến những vấn đề quan trọng khác, như kinh tế, vǎn hoá, xã hội.

– Không nắm được những vấn đề chính để giải thích cho dân. Thí dụ: vấn đề chính phủ bù nhìn, những việc cần thiết trước và sau khi địch tấn công.

Không biết lãnh đạo dư luận, không biết thúc đẩy và nâng cao tinh thần tranh đấu của nhân dân.

– Đôi khi sơ suất, cẩu thả, làm giảm giá trị tờ báo hoặc làm mất lòng người xem. Thí dụ: Tờ báo nọ đǎng bài có đầu không đuôi. Tờ báo kia quên cả lịch sử, trận Đống Đa ngày 5 tháng Giêng âm lịch (23), thì viết là 10 tháng 11. Tờ báo khác đǎng tin vị linh mục X hàng địch, kỳ thực vị ấy là một người tốt.

5. Về phát hành: Chậm chạp và thiếu thốn. Nhiều nơi, hàng tháng không có báo, không có tin tức.

6. Về địch vận: Còn rất kém, đối lính Pháp cũng như đối những người Việt lầm đường theo Pháp.

7. Về kinh nghiệm: Không biết trao đổi cho nhau. Vùng này có nhiều sáng kiến hay, đã lượm được kết quả tốt, mà vùng khác không biết bắt chước (những điều 5, 6, 7 thì báo chí cũng như thông tin tuyên truyền).

Nói tómlại: Nội dung các tờ báo chưa phản ánh được sự sinh hoạt của các tầng lớp dân chúng, chưa thành tờ báo của dân chúng.

Tôi mong rằng, trong cuộc Hội nghị này, các đồng chí sẽ bàn định một chương trình thiết thực và đầy đủ để sửa chữa những khuyết điểm, phát triển những ưu điểm, để làm cho thông tin tuyên truyền và báo chí trở nên rất hoạt động. Mà muốn đạt mục đích đó thì đào tạo cán bộ mới là một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.

Tôi chắc rằng các đồng chí sẽ cố gắng để làm cho thông tin, tuyên truyền và báo chí làm tròn nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động, huấn luyện và lãnh đạo nhân dân.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Tạp chí Kinh nghiệm tuyên truyền,
Sở Thông tin Nam Bộ, số 7, tháng 5-1949.
cpv.org.vn

————————-

(23) Chiến thắng Đống Đa : Cuối nǎm 1788, nhà Thanh cử Tôn Sĩ Nghị tổng chỉ huy 20 vạn quân tiến vào xâm lược nước ta. Nguyễn Huệ – linh hồn của phong trào Tây Sơn – lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung thống lĩnh đại quân và thực hiện cuộc hành quân thần tốc ra Bắc tiến đánh quân xâm lược.

Trưa mồng 5 Tết Nguyên đán Kỷ Dậu (1789), quân ta tiến công đồn Đống Đa, giành thắng lợi lớn ở đây và dũng mãnh tiến vào giải phóng Thǎng Long.

Trong 5 ngày đêm chiến đấu liên tục, cả 5 đạo quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Quang Trung đã tiêu diệt và quét sạch 20 vạn quân Thanh xâm lược. Đất nước hoàn toàn được giải phóng. Chiến thắng Đống Đa (5-1 Kỷ Dậu) đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta như một huyền thoại. Tr.390.

Thư gửi Hội nghị quân y (3-1948)

Nhân dịp này tôi gửi lời chào thân ái hỏi thǎm các đại biểu và nhờ các đại biểu chuyển lời hỏi thǎm tất cả các nhân viên nam nữ trong quân y.

Từ ngày kháng chiến đến nay, quân y phát triển rất khá và các bác sĩ, khán hộ, cứu thương, ai cũng chịu khó, cố gắng. Đó là những điểm rất tốt.

Song, quân y cũng như mọi việc khác, chúng ta đang mới mẻ, chúng ta còn nhiều khuyết điểm. Chúng ta phải cố gắng nữa, để tiến bộ hơn nữa.

Sau đây là những ý kiến của tôi về vấn đề quân y:

1. Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu.

Vì sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hoá họ. Người ta có câu: “lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền. (Cố nhiên, chính trị viên nên phải chú ý những ca như thế, nhưng là một vấn đề khác).

2. Chúng ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Vì vậy, nhân tài chuyên môn nhất là nhân tài về môn y tế, chỉ sẽ thiếu chứ chưa có thừa. Vì vậy, các ngành chuyên môn, nhất là ngành thuốc, sẽ được đặc biệt trọng đãi, lẽ tất nhiên ngành thuốc phải cố gắng làm thoả mãn nhu cầu của đồng bào.

3. Bộ đội ta thì nhiều, mà nhân tài quân y ta thì còn thiếu. Vì vậy ta phải có những cơ quan quân y lưu động. Cơ quan ấy thì khó nhọc hơn. Vậy tôi mong rằng Hội nghị sẽ có kế hoạch để lập thành những cơ quan và anh em sẽ xung phong phụ trách những cơ quan đó. Cố nhiên những nhân viên trong cơ quan lưu động phải được đặc biệt sǎn sóc về mọi phương diện.

4. Nhân viên quân y ai cũng cố gắng, nhưng bộ đội vẫn còn ốm nhiều. Một mặt là vì thiếu thuốc. Một mặt khác là vì sự kiểm soát thuốc men chưa được chu đáo.

Vì vậy Hội nghị cần phải chú ý thiết thực về việc đó. Và anh em quân y, từ cấp trên đến cấp dưới, cần phải lấy việc đó làm trách nhiệm danh dự của mình.

5. Ngày nay, từ các Bộ trong Chính phủ cho đến bộ đội và nhân dân, đang mở cuộc vận động thi đua. Quân y cũng nên hǎng hái tham gia cuộc thi đua ấy. Tôi thay mặt Chính phủ mà hứa rằng: người nào hoặc bộ phận nào tìm được, chế tạo được một thứ thuốc mới có hiệu quả hoặc nghĩ ra cách gì mới làm cho việc y tế tiến bộ mau chóng hơn thì sẽ được trọng thưởng.

Tôi mong rằng Hội nghị sẽ định một chương trình thiết thực để sửa chữa những khuyết điểm và phát triển những ưu điểm của quân y, để làm cho quân y ngày càng tiến bộ.

Chúc Hội nghị thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh
số 6, số 908, ngày 23-4-1948.
cpv.org.vn

Bác Hồ luyện giọng đọc (*)

Ngày 15-11-1968, Bác Hồ tiếp đại biểu cán bộ và công nhân ngành Than.

Trước đó, ngày 4-11, Bác bị ho, bãi nhổ thấy có máu. Các bác sĩ vào khám cho Bác, cho biết: Họng vỡ tia máu, phải bôi thuốc. Từ đó, tiếng nói của Bác yếu hẳn đi.

Vì sức khỏe, Bác không xuống Quảng Ninh trực tiếp gặp gỡ cán bộ và công nhân ngành than được, nên Người đã cử Thủ tướng Phạm Văn Ðồng xuống gặp gỡ và làm việc với anh em công nhân, sau đó mời một đoàn đại biểu của ngành than lên làm việc với Bác.

Bác Hồ không muốn vì tiếng nói của mình yếu có thể gây lo lắng cho cán bộ và đồng bào, nên một mặt Bác dặn phải chuẩn bị máy phóng thanh cho tốt, để dù Bác có nói yếu, mọi người vẫn nghe rõ, mà không biết Bác mệt; hai là Bác tiến hành luyện đọc, sao cho to giọng, tròn tiếng để chuẩn bị gặp gỡ cán bộ ngành than.

Từ ngày 5-11, mỗi buổi sáng sau khi rửa mặt xong, Bác vào phòng làm việc của đồng chí Vũ Kỳ, cầm quyển “Kiều” và tập đọc to thành tiếng.

Bác nói với đồng chí bảo vệ:

– Chú đứng thật xa ra để nghe Bác đọc, xem nghe có rõ không? Nếu nghe không rõ, sẽ xích gần thêm lại, đến lúc thật rõ thì dừng lại để xem khoảng cách là bao nhiêu.

Ðồng chí bảo vệ đi ra. Bác đọc:

Trăm năm trong cõi người ta!
Chữ tài chữ mệnh khéo là yêu nhau!

Sau đó, Bác gọi đồng chí bảo vệ lại, hỏi:

– Bác đọc chú nghe có rõ không?

– Thưa Bác, rõ ạ.

– Chú thử nói lại xem Bác đọc câu gì?

Ðồng chí bảo vệ đọc lại đúng nguyên văn câu Kiều:

“Trăm năm… khéo là ghét nhau!”.

– Ðấy, chú có nghe thấy rõ Bác đọc cái gì đâu?

Và từ đó liên tục Bác luyện đọc vào các buổi sáng.

15 giờ chiều 15-11-1968, Bác tiếp đại biểu ngành than. Khoảng 14 giờ 30 phút, đồng chí Nguyễn Hữu Mai, Bộ trưởng Ðiện và Than vào báo cáo chương trình làm việc với Bác. Người nói với đồng chí Nguyễn Hữu Mai:

– Chú là Bộ trưởng, chỗ đứng của chú không phải là ở bên Bác. Chỗ đứng của chú là ở cuối phòng. Chú nghe  Bác nói, nếu không được rõ chú giơ tay làm hiệu, lúc đó Bác sẽ cố gắng nói to hơn để mọi người đều có thể nghe được rõ hơn.

Sau này, đồng chí Nguyễn Hữu Mai  trầm trồ mãi: Thật là một bài học lớn cho cuộc đời làm Bộ trưởng của tôi! Mình có nghe rõ mới biết quần chúng có nghe được hay không.

May mắn lớn là hôm đó, đồng chí Mai không phải giơ tay làm hiệu lần nào. Ðó là kết quả cố gắng rèn luyện của Bác, và bài học lớn Bác truyền lại cho chúng ta: Nói với quần chúng, không phải chỉ quan tâm đến nội dung, câu chữ, mà còn cả giọng điệu nữa, để xem cuối cùng nó có đến được với quần chúng không.

Tính mục đích, tính thiết thực, tính hiệu quả của nói và viết ở Bác Hồ nhất quán là như vậy.

Trần Hiếu Ðức
(Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ)

—————————-

(*)  Trích trong cuốn sách Ðiều Bác Hồ yêu nhất và ghét nhất – NXB CAND, tr58-60.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

Thư gửi Đoàn 29 (Trung đoàn Thủ đô) (2-1948)

(Trung đoàn Thủ đô)

Bác nhận được thư các chú báo cáo thắng trận ngày 8-1-1948 và các chiến lợi phẩm các chú biếu Bác. Cảm ơn.

Các chú cần phải nghiên cứu những ưu điểm và khuyết điểm trong trận đó và những trận bại hoặc thắng các nơi khác để rút kinh nghiệm, để học tập thêm.

Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng cẩn thận. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, ta phải liên lạc mật thiết với dân, phải làm cho dân mến, dân tin.

Như thế nhất định thắng lợi.

Tôi mong toàn thể tướng sĩ Đoàn 29 cố gắng để giật giải thưởng đầu trong cuộc Luyện quân đội lập chiến công.

Các chú có dám hứa với Già Hồ như thế không? Già Hồ chờ báo cáo thắng trận của các chú, để khen ngợi thêm các chú.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội nghị chính trị viên (3-1948) (24)

Các đồng chí,

Nhân dịp Hội nghị, tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu mạnh khoẻ. Sau đây là vài ý kiến của tôi đối với công tác của chính trị viên, để giúp anh em thảo luận:

Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt.

Vô luận ở cấp bậc nào, chính trị viên có ba nhiệm vụ chính:

Đối với bộ đội,

Đối với nhân dân,

Đối với quân địch.

1. Đối với bộ đội, chính trị viên phải sǎn sóc luôn luôn đến sinh hoạt vật chất của họ: ǎn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu. Về mặt tinh thần, phải sǎn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hoá, phát triển vǎn hoá, và đường lối chính trị trong bộ đội.

Chính trị viên cần phải biết rõ và báo cáo cho cấp trên rõ số lượng và chất lượng của bộ đội mình.

Khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấu, cũng là trách nhiệm của chính trị viên. Trong thời kỳ vừa qua, ít thấy chính trị viên nào đề nghị khen thưởng những binh sĩ có chiến công oanh liệt. Đó là một khuyết điểm lớn.

Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn.

2. Đối với nhân dân, nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội. Chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Phải làm sao cho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn như thế, thì phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hǎng đánh giặc.

3. Đối với quân địch, gồm cả binh lính Pháp cùng những người ngoại quốc và người Việt Nam trong quân đội Pháp, chính trị viên phải biết cách tuyên truyền khôn khéo, thiết thực, để giác ngộ họ, lôi kéo họ về phía ta.

Kỷ luật phải được thi hành từ trên đến dưới. Trách nhiệm của người chỉ huy quân sự và người chính trị viên phải định rõ ràng. Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc. Đó là những điểm chính.

Nay chúng ta đang tiến hành cuộc vận động Luyện quân lập công, chính trị là một động lực to trong cuộc vận động đó. Tôi mong rằng Hội nghị sẽ có chương trình và kế hoạch thiết thực rõ ràng, để làm cho cuộc vận động ấy đại thành công.

Sau nữa, tôi gửi lời khuyên gắng và hỏi thǎm các bộ đội, và tôi chờ các bộ đội báo cáo những chiến công vẻ vang sau này.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng trang nhân dân,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr. 50-51.
cpv.org.vn

——————————-

(24) Hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ hai : Được tiến hành từ ngày 6 đến 11-3-1948 theo Chỉ thị của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương. Tham gia Hội nghị gồm các chính trị viên quân khu và chính trị viên trung đoàn. Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo của Quân uỷ Trung ương về nhiệm vụ chiến lược, chiến thuật và công tác chính trị, nghe một số báo cáo về tình hình trong nước và tình hình thế giới.

Hội nghị đã xác định nhiệm vụ của công tác chính trị trong quân đội là phải bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chiến lược do Quân uỷ Trung ương đề ra, động viên toàn quân nêu cao tinh thần anh dũng, đoàn kết, thống nhất, đồng cam cộng khổ, chống quan liêu, chống quân phiệt.

Hội nghị ra Nghị quyết về hệ thống tổ chức công tác chính trị, nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp uỷ Đảng trong quân đội, chế độ chính trị viên và việc tǎng cường công tác đào tạo cán bộ, bồi dưỡng chính trị viên và bồi dưỡng chính trị cho cán bộ quân sự. Tr.392.

Thư gửi Hội nghị cán bộ Đảng trong quân đội lần thứ tư (3-1948)

Sau chiến thắng Sông Lô

Nhân dịp Hội nghị, tôi gửi lời thân ái chào các đồng chí. Sau đây là vài ý kiến tôi muốn nói cùng các đồng chí.

1. Kháng chiến đã dần dần chuyển sang giai đoạn mới. Công việc sẽ nhiều hơn và gay go hơn. Các đồng chí ta trong bộ đội cần chuẩn bị đầy đủ tinh thần, nghị lực, kế hoạch để lãnh đạo toàn thể bộ đội vượt qua mọi sự khó khǎn, quyết giành cho được thắng lợi.

2. Bộ đội ta ngày càng trưởng thành và tiến bộ. Các đồng chí cán bộ của Đảng ở các cấp phải cố gắng tiến bộ hơn, để lãnh đạo bộ đội. Từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương. Như thế thì quân đội ta sẽ là một quân đội vô địch, và kháng chiến nhất định thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.54.
cpv.org.vn

Hai bức mật điện gửi khu V (1948)

Bức điện thứ nhất

Mật điện số 946/TRT

Mật điện gửi khu V. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam gửi hai ông Bảy Viễn và Mười Chi chỉ huy bộ đội Bình Xuyên.

1. Cảm ơn hai chú đã gửi điện chúc Tết tôi.

2. Tôi gửi lời thân ái khen ngợi toàn thể bộ đội Bình Xuyên đã luôn luôn cố gắng và tôi chắc anh em sẽ luôn luôn cố gắng thêm để lập nhiều chiến công mới và vẻ vang mới. Chính phủ sẽ vui lòng ghi công những chiến sĩ anh hùng.

3. Tôi lại dặn anh em mọi việc đều đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết, thì việc gì khó mấy cũng dễ giải quyết.

4. Bao giờ có vấn đề gì khó xử thì cứ điện Chính phủ và Bộ Tổng chỉ huy.

5. Nhờ hai chú thay mặt tôi hỏi thǎm gia quyến liệt sĩ Ba Dương.

6. Chào thân ái và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH

Bức điện thứ hai

Mật điện số 947/TRT

Mật điện gửi khu V. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam gửi Trung tướng Nguyễn Bình.

1. Nhờ chú chuyển lời tôi khen ngợi toàn thể bộ đội đã tham gia những trận thắng lợi Sài Gòn – Đà Lạt, Sài Gòn – Sa Đéc đầu tháng 3 (tháng 3 -1948) và lời tôi khuyên bộ đội cố gắng để lập nhiều chiến công mới.

2. Nhân dịp này riêng tôi gửi lời dặn chú mọi việc phải cẩn thận bàn bạc với anh em UBKCHC và các đồng chí phụ trách quân sự để giữ đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc tối cao của chính quyền dân chủ ta: mọi việc đều đặt lợi quyền của Tổ quốc lên trên để thực hiện đại đoàn kết giữa quân và dân cũng như trong quân đội.

3. Chào thân ái và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Quân đội nhân dân,
Số 10536, ngày 23-9-1990.
cpv.org.vn

Thư gửi lão du kích Đỗ Như Thìn làng Tuấn Kiệt, phủ Bình Giang (3-1948)

(Nhờ UBKCHC Hải Dương giao)

Tôi đọc báo Dân quân khu III, thấy đồng chí đã 50 tuổi, mà rất hǎng hái tham gia du kích, có nhiều sáng kiến, và đã lập được khá chiến công.

Tôi rất vui lòng khen ngợi đồng chí, và mong đồng chí cố gắng để lập nhiều chiến công nữa. Đồng thời tôi khuyên toàn thể anh chị em du kích, phải học những sáng kiến và theo gương dũng cảm của đồng chí Thìn để giết cho nhiều giặc, cướp cho nhiều súng, mỗi người đều phải cố gắng, để giật cho được giải thưởng vẻ vang trong cuộc Luyện quân lập công này.

Tôi lại mong rằng: có những chiến sĩ lão thành như đồng chí Thìn làm kiểu mẫu. Du kích Hải Dương sẽ cố gắng để trở nên du kích kiểu mẫu trong toàn khu, toàn quốc.

Sau nữa, tôi tặng đồng chí Thìn 4 chữ: “Lão đương ích tráng” nghĩa là: “Càng già càng mạnh”.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân du kích, số 2 và 3, ngày 15-4-1948.
cpv.org.vn

Những kỷ niệm xúc động của kiều bào về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, nguyên Phó Trưởng ban Ban Đối ngoại của Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài Thành phố Hồ Chí Minh, là nhân vật chính mà chúng tôi ghé thăm. Bác sĩ Hà là đại diện duy nhất của Tổng hội sinh viên Việt Nam tại Pháp vinh dự được tổ chức sắp xếp cho về nước gặp mặt và trò chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây 42 năm, giữa bối cảnh chiến sự diễn ra ác liệt tại hai miền đất nước.

Kieu bao VN o Thai Lan tham BacKiều bào Việt Nam ở Thái Lan thăm Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch
(Ảnh tư liệu)

Niềm xúc động hơn 40 năm chưa phai dấu

Bước qua tuổi 80, dù sức khỏe đã yếu, đi lại phải nhờ hỗ trợ của xe đẩy nhưng giọng Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà vẫn hào sảng, say sưa kể lại những kỷ niệm xúc động khi vinh dự được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch.

Đó là một buổi chiều đầu năm 1969, trong lúc tổ chức Đoàn Văn nghệ phục vụ Hội nghị Paris 4 bên, bàn về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam, bác sĩ Hà gặp ông Lê Đức Thọ (lúc đó là cố vấn đặc biệt cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị). Ông Thọ bày tỏ cảm kích về những hoạt động yêu nước của Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp do bác sĩ Hà tổ chức. “Đặc biệt, sau nhiều lần gặp mặt ngắn ngủi, ông Thọ hỏi tôi có nguyện vọng gì không. Lúc đó tôi còn trẻ và mơ ước được một lần gặp mặt lãnh tụ tại quê nhà từ rất lâu nên trả lời ngay: “Thưa đồng chí, tôi chỉ có nguyện vọng duy nhất là được gặp Bác Hồ. Nghe xong, ông Thọ gật đầu”.

Theo sắp xếp của tổ chức, đầu năm 1969, bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà từ Paris về Hà Nội. Cuộc gặp gỡ đặc biệt, là một sự kiện không thể nào quên đối với bác sĩ Hà. Đó là ngày 20-1-1969. “Đúng 7 giờ sáng, đồng chí Vụ phó Bộ Văn hóa – Thông tin đến bảo tôi thu xếp vào Phủ Chủ tịch. Ngay lúc tới nơi, tôi đã thấy Bác trong bộ trang phục giản dị, cùng đi bên cạnh có ông Vũ Kỳ (Thư ký riêng của Bác) và ông Phạm Văn Đồng”. Nói tới đây, bác sĩ Hà không kìm nén được cảm xúc: “Lúc đó tôi chỉ biết nhìn Bác rồi khóc. Không hiểu vì sao nữa, nhưng lần đầu gặp Bác, tôi thấy Bác ốm quá, da xanh xao, nhưng giọng nói rất ấm và khỏe”.

Trong cuộc nói chuyện kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ, Bác Hồ hỏi thăm tình hình phong trào học sinh, sinh viên tại Pháp. Bác nhắc đến tên một số đồng chí khi còn học tập và làm việc tại Pháp. Đặc biệt, Bác gửi lời thăm hỏi tới bà Gerervie’ne, chủ nhiệm tờ báo “Nước Pháp buổi chiều”. Dặn dò về công tác vận động sinh viên Việt Nam tham gia vào phong trào đấu tranh tại Pháp, Người lấy trong túi áo ra một bài báo của Thông tấn xã Việt Nam với tựa đề về sự kiện treo cờ mặt trận trên nóc nhà thờ Đức Bà Paris, gần nơi diễn ra Hội nghị Paris. Đại ý Bác nói, đây phải là những người bạn Pháp thực sự ủng hộ cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam, mới có nghĩa cử đẹp như vậy. Do đó, phải hết sức trân trọng tới những tình cảm của họ. “Ấn tượng nhất là trước lúc chia tay, Bác đã gọi ông Vũ Kỳ lại và bảo lấy một tấm hình của Người, rồi tự tay viết dòng chữ “Thân mến tặng kiều bào tại Pháp” và phía dưới ký tên “Bác Hồ”. Sự chu đáo, cẩn thận của Bác khiến tôi hết sức xúc động”.

Cuộc gặp mặt tuy ngắn ngủi, nhưng đó lại là một kỷ niệm để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong cuộc đời của bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà.

Kiều bào nhớ ơn Người

Chia tay bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, chúng tôi có chuyến viếng thăm “không hẹn trước” với ông Bùi Mạnh Hải, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài. Dù rất bận rộn với công việc tiếp xúc cử tri khi được Ủy ban Bầu cử Trung ương giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên ông Hải vẫn dành thời gian tiếp chúng tôi.

Kể về những kỷ niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hải bồi hồi nhớ lại: “Khoảng 10 năm trước khi Bác mất, hầu như năm nào cũng vậy, cứ vào lúc giao thừa, Bác lại đều đặn xuất hiện trên Đài phát thanh đọc thơ chúc tết đồng bào, chiến sĩ cả nước. Cả gia đình tôi ngồi quây quần để nghe lời chúc tết của Bác qua đài phát thanh. Cảm giác rất hồi hộp, xốn xang”.

Khi đang tham gia sửa chữa tàu thủy phục vụ cho chiến trường miền Nam tại Mạo Khê – Đá Vách (Quảng Ninh), tôi hay tin Bác mất. Thế là cả đơn vị đều ngưng làm việc. Riêng tôi một mình đi xe đạp từ Quảng Ninh về Hà Nội, vừa đi vừa nghe đài phát thanh thông báo về lễ tang của Bác, nước mắt cứ ứa ra, giống như người thân yêu nhất trong gia đình vừa ra đi vậy.

Trong quá trình công tác, gắn bó với bà con kiều bào ở các nước, ông Hải bày tỏ ấn tượng nhiều nhất với kiều bào tại Pháp và Thái Lan. “Ở Pháp, nhiều nơi sinh hoạt của bà con kiều bào luôn có bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh; còn ở Thái Lan thì cùng với bàn thờ Bác, còn có cả bàn thờ các vua Hùng. Hầu như ở đâu cũng vậy”. Lý giải về tình cảm đặc biệt mà bà con kiều bào tại Pháp và Thái Lan dành cho Bác, ông Hải khẳng định: “Nước Pháp là nơi Bác Hồ có thời gian hoạt động lâu nhất, dễ hiểu kiều bào ở đây có tình cảm đặc biệt đối với Bác. Còn đối với kiều bào tại Thái Lan, tôi còn nhớ vào năm 1960, khi chuyến tàu đầu tiên chở hơn 900 kiều bào từ Thái Lan di tản về nước cập cảng Hải Phòng, Bác Hồ đã ra tận cảng để đón, thăm hỏi sức khỏe, động viên bà con kiều bào. Cử chỉ của người rất ân cần, sâu sát và tâm lý. Hành động thể hiện Người là một lãnh tụ vĩ đại trong lòng kiều bào”.

Ngày hôm nay, khi nước nhà hưởng thái bình hơn 36 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh không còn nữa nhưng hình ảnh của Người, sự vĩ đại của Người vẫn trường tồn trong trái tim của đồng bào, chiến sĩ cả nước, cũng như hàng triệu kiều bào đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài.

Theo Đại Đoàn Kết
Thúy Hằng (st)