Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Đại tá Trần Đăng Khoa – nhớ mãi kỷ niệm 5 lần được gặp Bác Hồ

Trong mưa bom, bão đạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi không hiểu sao cuộc đời mình lại có những phút giây diệu kỳ như thế: 5 lần vinh dự được gặp Bác Hồ kính yêu… Dù khác nhau về thời gian, địa điểm, xúc cảm và tuổi tác, nhưng mỗi lần bên Bác, tôi lại thấy rõ hơn về sự giản dị, gần gũi, ân cần, bao dung của người. Đại tá Trần Đăng Khoa, nguyên Chính trị viên đảo Cồn Cỏ, chia sẻ.

tran dang khoa a1Đại tá Trần Đăng Khoa, nguyên Chính trị viên đảo Cồn Cỏ. Ảnh: Bùi Oanh

Đại tá Trần Đăng Khoa quả cảm băng mình dưới mưa bom, bão đạn cùng đồng đội quyết tử bảo vệ đảo Cồn Cỏ hơn bốn mươi năm về trước nay đã bước sang tuổi 79, nhưng vẫn hoạt bát. Trong căn nhà giản dị tại phường Phú Hiệp, Thành phố Huế, Đại tá Trần Đăng Khoa nhớ về những ngày tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám: “Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, gia đình bị tước đoạt hết ruộng đất, phải đi ở đợ cho địa chủ… Kiếp trâu ngựa luôn nung nấu khát vọng tự do. Cách mạng bùng lên rồi kháng chiến trường kỳ, tôi trốn nhà đi vào bộ đội” – Ông tâm sự.

Mười bốn tuổi, cậu bé Khoa quê Hải Dương, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cùng cha sau này là liệt sỹ Trần Khôi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Cách mạng thành công, Khoa được giao nhiệm vụ chuyển tài liệu, thư từ bí mật cho cán bộ chiến sỹ hoạt động tại Quảng Trị rồi nhập ngũ, trở thành người lính Bộ đội Cụ Hồ. Ông cùng đồng đội vinh dự gặp Bác Hồ tại Quảng Bình (năm 1957) và hai lần tiếp theo vào các năm 1960, 1963 tại Trường Lục quân.

Đại tá Trần Đăng Khoa, nhớ lại, đã ba lần cùng đồng đội vinh dự quây quần bên Bác. Được Bác ân cần giảng giải về con đường cách mạng, dặn dò về nhiệm vụ thiêng liêng người chiến sỹ cách mạng, mối quan hệ quân dân… Nhưng phút giây diệu kỳ trong lần gặp Bác giữa thủ đô Hà Nội, tôi vẫn hồi hộp, thao thức…

tran dang khoa a2Bác Hồ thăm hỏi đồng chí Trần Đăng Khoa tại Đại hội thi đua
Quyết thắng toàn quân năm 1965. Ảnh: Bùi Oanh

Ngày ấy, quân đội Mỹ gây ra sự kiện vịnh Bắc Bộ vào tháng 8 năm 1964 và thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng các hành động chống phá và khiêu khích như nã pháo vào các đảo và một số vùng bờ biển miền Bắc, bắt ngư dân… Đảo Cồn Cỏ nơi vĩ tuyến 17, địch muốn chiếm để làm điểm tựa tấn công ra miền Bắc nên đã huy động 6 hạm đội tinh nhuệ bao vây, bắn pháo, ném bom ngày đêm.

Đồng thời, dùng chính sách cắt đường chi viện ra đảo Cồn Cỏ bằng việc canh chừng tất cả tàu bè lại gần đảo. Vậy mà, quân dân Vĩnh Linh – Quảng Trị có ngày hy sinh đến 30 người giữa biển khơi vẫn anh dũng mở đường máu chi viện ra đảo Cồn Cỏ… Vượt lên gian khổ hy sinh, cán bộ, chiến sỹ đảo Cồn Cỏ vững vàng trên tuyến đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, viết lên những câu chuyện đẹp như huyền thoại về tinh thần quyết tử giữ đảo…

Đại tá Trần Đăng Khoa nhớ lại những ngày đánh máy bay Mỹ. Đảo Cồn Cỏ như rung lên mỗi lần bom nổ, đạn pháo cao xạ của ta tung lên trời như hoa lửa đốt cháy máy bay Mĩ. Tinh thần chiến đấu quân dân đảo Cồn Cỏ hai lần được Bác Hồ gửi thư khen… Sau giờ chiến đấu, chiến sỹ đi câu cá, bắt cua, hái rau rừng, chuẩn bị sức khoẻ cho trận chiến đấu mới. Đảo phó Ngọc Cừ sáng tác bài “Con cua đá” đã được Đoàn Văn công Quân khu 4 dàn dựng và biểu diễn. Đêm đêm cán bộ, chiến sỹ trên đảo Cồn Cỏ vẫn nghe bài hát của mình qua Đài Tiếng nói Việt Nam…

tran dang khoa a3Bác Hồ gặp các anh hùng chiến sỹ  miền Nam ngày 19-10-1965 (Đồng chí Trần Đăng Khoa, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ đứng thứ 6 từ trái sang phải). Ảnh: Bùi Oanh

Kể đến đây, Đại tá Trần Đăng Khoa mở tủ ra, lấy một tập tài liệu, đưa tôi xem tấm hình ông chụp chung với các đại biểu tham dự Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965… “Ghi nhận những chiến công hiển hách, tôi vinh dự thay mặt cán bộ, chiến sỹ Cồn Cỏ anh hùng ra Hà Nội dự Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965. Đại hội đánh giá rất cao tinh thần chiến đấu quân – dân đảo Cồn Cỏ. Nhưng niềm vui sướng nhất đời tôi trong chuyến đi ấy là được gặp Bác Hồ, Bác hỏi: Cháu ở đơn vị nào? Dạ thưa Bác, cháu ở đảo Cồn Cỏ ạ! Bác đặt tay lên tôi vỗ nhẹ và nói: “Chiến sỹ đảo Cồn Cỏ béo khoẻ thế là tốt… Bác yên tâm là chiến sỹ Cồn Cỏ đang vững vàng ở tuyến đầu” – Đại tá Trần Đăng Khoa tự hào.

Sau Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965, Chính trị viên Trần Đăng Khoa được Đảng và Nhà nước cho đi tham quan Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Ngày 19-10-1965 ông trở về Hà Nội và được gặp Bác Hồ cùng Đoàn Anh hùng chiến sỹ miền Nam ra thăm Bác. “… Xe chở chúng tôi đến sân sau Phủ Chủ tịch, kế bên vườn cây xanh rợp bóng mát, mọi người mừng vui hồ hởi, mắt chăm chú nhìn lên khung cửa lớn, mặt phía sau tòa Dinh thự Phủ Chủ tịch. “Bác Hồ muôn năm!” – Mọi người đồng loạt reo lên khi nhìn thấy Bác từ trên cao thoăn thoắt bước xuống các bậc thềm đá hoa đến đón và ôm hôn mọi người trong Đoàn”. Đại tá Trần Đăng Khoa kể tiếp: Trên đường cùng Đoàn Anh hùng chiến sỹ miền Nam tiến về Phủ Chủ tịch, Bác hỏi: Cháu Khoa ăn được mấy bát? Tôi trả lời: Mỗi bữa cháu ăn năm bát B52 ạ. Bác cười gật đầu: Chiến sỹ Cồn Cỏ ăn nhiều đánh giỏi. Bác ghi nhận những nỗ lực của cán bộ, chiến sỹ đảo Cồn Cỏ. Nhưng sau đó Bác băn khoăn lần lượt hỏi những điều thiết thực về chiến sỹ trên đảo: Chiến sỹ Cồn Cỏ có đủ gạo, thực phẩm, rau xanh và nước ngọt không? Có hầm hào, khí tài chiến đấu? Bộ đội có ngủ được không? Nằm hầm nhiều da có xanh và ghẻ lở không? Thương binh có đủ thuốc men không?… Tôi xúc động thưa với Bác: Có ạ…! Bác xúc động ôm tôi và hỏi nhỏ: Khoa có nguyện vọng chi không? Tôi đáp: Dạ cháu muốn xin Bác hai điều: Một là, xin một tấm ảnh Bác làm kỷ niệm cho cán bộ chiến sỹ đảo Cồn Cỏ, hai là, cho cháu được ôm hôn má Bác. Bác cười và đồng ý nguyện vọng của tôi.

Bác đã đi xa nhưng cứ thật gần. Đại tá Trần Đăng Khoa cũng đã bước qua tuổi xưa nay hiếm nhưng lời dặn dò của Bác vẫn là những kỷ niệm sâu sắc nhất đời ông. Là nguồn sức mạnh diệu kỳ giúp ông vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong suốt hơn nửa thế kỷ phấn đấu, để luôn xứng đáng là người cán bộ của Đảng, của dân và xứng đáng là Bộ đội cụ Hồ.

Đảo Cồn Cỏ nằm vắt ngang vĩ tuyến 17, cách đất liền 15 hải lý được xem là vị trí trọng yếu, là vọng gác tiền tiêu, con mắt của đất liền, án ngữ cửa ngõ phía Nam vịnh Bắc Bộ, trạm gác của “Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”. Do vậy, Mỹ – Ngụy huy động tối đa lực lượng cùng phương tiện chiến tranh hiện đại điên cuồng bắn phá. Theo thống kê, 1.440 ngày đêm từ 1964 đến 1968, máy bay Mỹ đã ném xuống đảo Cồn Cỏ gần 1,3 vạn quả bom các loại, hàng vạn quả rốc-két, 172 lần tàu chiến pháo kích gần 4 nghìn quả pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sỹ hứng chịu 39,3 tấn bom đạn, mỗi héc-ta đất trên đảo hứng chịu 22,6 tấn bom đạn.

Theo Bùi Oanh/ dantri.com.vn
Thu Hiền (st)
cpv.org.vn

Thư gửi Đại hội toàn quốc Đảng xã hội Việt Nam (30-7-1947)

Nhân dịp Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội, tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu công tác cho có kết quả mỹ mãn.

Tôi rất vui lòng khi thấy các đồng chí trong Đảng Xã hội Việt Nam đều hǎng hái tham gia kháng chiến cứu quốc và ra sức thực hiện đại đoàn kết.

Tôi trân trọng chúc quý Đảng càng ngày càng phát triển.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 30 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.14.
cpv.org.vn

Gửi các chiến sĩ và nhân dân Nam Dương (3-8-1947) (17)

Cũng như Việt Nam, Nam Dương là một bộ phận trong đại gia đình châu á.

Cũng như Việt Nam, Nam Dương đương bị thực dân áp bức.

Cũng như Việt Nam, Nam Dương đang hy sinh chiến đấu để tranh lại độc lập tự do.

Cũng như Việt Nam, Nam Dương vì nhân đạo, vì chính nghĩa mà tranh đấu.

Việt Nam và Nam Dương tuy là hai nước khác nhau, nhưng Nam Dương với Việt Nam cùng ở trong một hoàn cảnh giống nhau, cùng theo đuổi một mục đích như nhau.

Vì vậy cuộc kháng chiến của Nam Dương và cuộc kháng chiến của Việt Nam cũng như hai đội quân trên một mặt trận: Mặt trận giải phóng của dân tộc á Đông.

Vì vậy, nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng tình với anh em Nam Dương và tin chắc rằng cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Nam Dương sẽ thắng lợi, cũng như tin chắc rằng cuộc kháng chiến, cứu quốc của nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thành công.

Thay mặt bộ đội và nhân dân Việt Nam, tôi thành thực gửi cho các chiến sĩ và nhân dân Nam Dương lời chào thân ái và quyết thắng.

Ngày 3 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.16.
cpv.org.vn

—————————–

(17) Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Dương : Sau khi Inđônêxia (Nam Dương) giành được độc lập, ngày 18-8-1945, đế quốc Hà Lan núp sau lưng quân đội Anh tiến vào Inđônêxia tìm cách khôi phục lại chế độ thực dân của họ ở nước này. Ngày 2-7-1947, đế quốc Hà Lan huy động 20 vạn quân trang bị vũ khí hiện đại, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Inđônêxia. Cuộc kháng chiến của nhân dân Inđônêxia bắt đầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các chiến sĩ và nhân dân Inđônêxia, tỏ sự đồng tình, ủng hộ của Chính phủ và nhân dân ta đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Inđônêxia và “tin chắc rằng cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Nam Dương sẽ thắng lợi”. Tr.179.

Thư gửi Đại hội báo giới (5-8-1947)

Cùng Đại hội báo giới,

Nhân dịp Đại hội báo giới, tôi chúc các bạn thành công.

Từ ngày kháng chiến, tuy hoàn cảnh khó khǎn, các bạn đã cố gắng làm trọn nhiệm vụ. Thế là tốt lắm, nhưng các bạn cần phải cố gắng thêm.

Theo ý tôi, các bạn có nhiệm vụ như sau:

1. Vạch rõ âm mưu, chính sách và những hành động tàn bạo của địch.

2. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ, vì sao phải trường kỳ kháng chiến, vì sao kháng chiến nhất định thắng lợi.

3. Giải thích chính sách của Chính phủ cho dân chúng rõ. Bày tỏ nguyện vọng của dân chúng cho Chính phủ biết.

4. Cổ động dân chúng, huấn luyện dân chúng, bày cho dân chúng tổ chức lực lượng của mình.

5. Kêu gọi toàn dân đoàn kết, hǎng hái kháng chiến, tin tưởng về sự thắng lợi.

Ngoài ra lời lẽ phải phổ thông, dễ hiểu, đường hoàng, vui vẻ, làm cho người xem báo có thú vị mà lại có bổ ích.

Chiến sĩ ở các mặt trận thì dùng súng chống địch, các bạn thì dùng bút chống địch.

Kháng chiến nhất định thắng lợi và thành công!

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 5 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.17.
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi Hội nghị bình dân học vụ khu XII (6-8-1947) (1)

Từ ngày kháng chiến, tuy hoàn cảnh khó khǎn, nhưng bình dân học vụ vẫn hǎng hái tiến hành, thế là tốt lắm.

Tôi rất mong khu XII cố gắng, lấy kinh nghiệm của các khu khác, nhập với sự sốt sắng của mình, sao cho trong một kỳ hạn mấy tháng, sẽ có nhiều nơi toàn dân biết chữ, để tranh lấy cái danh dự khu kiểu mẫu.

Tôi trân trọng gửi lời khen ông giám đốc và tất cả anh chị em bình dân học vụ về thành tích đã đạt được, và khuyên tất cả mọi người gắng sức thêm. Đồng thời tôi mong các uỷ ban, các đoàn thể, các vị phụ lão thân hào và toàn thể đồng bào khu XII phải giúp sức để phát triển bình dân học vụ.

Như thế thì về mặt trận vǎn hoá, chúng ta cũng sẽ thắng lợi như về các mặt trận khác trong cuộc trường kỳ kháng chiến.

Chúc Hội nghị thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 6 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr.18.
cpv.org.vn

—————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Điện gửi ông G. Nêru (15-8-1947)

Nhân Ngày tuyên bố độc lập của ấn Độ, một ngày long trọng không riêng gì cho quý quốc, mà cho cả đại gia đình á châu chúng ta, thay mặt dân tộc Việt Nam và riêng tôi nữa, tôi trân trọng yêu cầu Ngài nhận và chuyển cho đại dân tộc ấn Độ lời chúc tụng nhiệt liệt và lời chào mừng thân ái của chúng tôi.

Tin tưởng vào mối cảm tình và tình đoàn kết giữa các dân tộc ấn Độ và á châu, dân tộc Việt Nam cương quyết tranh đấu cho được thống nhất và độc lập.

Ngày 15 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.19.
cpv.org.vn

Từ kỷ niệm tuổi thơ

Cho đến nay tôi còn nhớ như in lần đầu  được gặp Bác Hồ. Cách mạng Tháng Tám thành công tôi mới là một cô bé 12 tuổi và đang học Trường nữ Trung học Trưng Vương.

tu ky niem tuoi tho
Đại biểu học sinh Trường 
Trung học Trưng Vương (Hà Nội) đến chúc thọ
Chủ tịch Hồ Chí Minh (tháng 5-1956).

Một buổi sáng mùa thu, trời hơi lạnh, tôi đến trường sớm hơn mọi ngày. Chúng tôi đang đứng chơi tha thẩn bên một gốc cây, bỗng thấy một chiếc xe zip rẽ quặt vào sân trường. Chiếc xe từ từ đến gần chỗ tôi đứng. Xe chưa đỗ hẳn tôi đã nhận ra người ngồi trong xe. Thế là tôi nhảy lên, reo to:

– Bác Hồ! Bác Hồ!

Tôi lao tới sát cửa xe. Bác Hồ nhanh nhẹn bước xuống giơ hai tay đón tôi. Tôi sà vào lòng Bác. Ðược ở cạnh Bác, tôi mừng quá không còn biết nói gì nữa, chỉ níu lấy tay Bác, gọi ríu rít:

– Bác ơi, Bác ơi!

Lúc đó các bạn tôi từ bốn phía sân trường cũng đã chạy ùa tới, vây quanh Bác như đàn chim non gặp mẹ. Còn tôi vẫn là người được ở gần Bác hơn cả. Tôi nghe rõ tiếng chú bảo vệ đi cạnh Bác khe khẽ nhắc:

– Các em tản bớt ra để Bác Hồ đi nào!

Nhưng chúng tôi chẳng ai chịu rời Bác. Bác Hồ vẫn tươi cười, nói với chú bảo vệ :

– Cứ để cho các cháu vui.

Cô Hiệu trưởng và tất cả các thầy, các cô trong trường cũng chạy ra đón Bác. Trống báo vào giờ học. Chúng tôi đành phải về chỗ xếp hàng theo lớp để chuẩn bị chào cờ. Hôm ấy, toàn trường chấn chỉnh đội ngũ rất nhanh. Lớp nào cũng thẳng tắp từ hàng đầu đến hàng cuối. Không có tiếng xì xào nói chuyện riêng như mọi ngày. Phía trước chúng tôi, Bác Hồ đang đứng trên bục gỗ cùng với các thầy, các cô. Hàng nghìn con mắt hướng cả về Bác. Sau tiếng hô nghi…iêm dài và trang trọng, toàn trường hát Quốc ca. Tôi đứng thật thẳng nhìn lên lá cờ đỏ thắm bay tung trên cột cờ như đang vẫy gọi tất cả chúng tôi. Tôi lại nhìn Bác Hồ cũng đang đứng nghiêm cùng các thầy, các cô giáo chào lá cờ Tổ quốc. Tôi cảm thấy chưa hôm nào chúng tôi hát Quốc ca to và hay như hôm ấy. Tiếng hát như còn ngân vang mãi trong lòng tôi.

Chào cờ xong, chúng tôi được nghe Bác Hồ nói chuyện. Bác dặn dò các cháu học sinh phải học chăm, học giỏi để sau này phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Bác còn dặn chúng tôi tùy theo sức lực cố gắng tham gia các công tác xã hội, góp phần giữ gìn đất nước. Bác nói xong, cô Hiệu trưởng đã nhắc các lớp về học, nhưng chúng tôi không ai muốn bước đi. Tôi đi về lớp, mà mắt còn cố nhìn theo Bác Hồ vào lớp nào. Lòng tôi náo nức bao nhiêu cảm xúc và bao nhiêu điều muốn nói. Giờ ra chơi tôi sẽ kể cho các bạn tôi nghe từ lúc đầu tiên chiếc ôtô chở Bác đi vào trường, tôi đã nhìn thấy Bác như thế nào, rồi tôi còn mở được cửa xe đón Bác xuống… Tự nhiên tôi mong chóng hết buổi học để chạy thật nhanh về nhà, khoe với bố mẹ và em tôi rằng tôi đang sung sướng, tôi được đón Bác Hồ.

Giờ học đầu tiên của chúng tôi là giờ tiếng Anh. Cô giáo gọi tôi đọc bài. Ðúng lúc ấy, Bác Hồ đi vào lớp tôi. Ôi! Thế là niềm mong mỏi của tôi suốt từ lúc phải trở về lớp đến giờ phút này đã trở thành sự thực. Bác Hồ hiện lên trong lớp tôi rực rỡ hơn cả những ông tiên trong truyện cổ tích. Theo sau Bác là cô Hiệu trưởng. Tất cả các bạn đứng bật dậy vỗ tay vang dậy chào Bác. Bác khoát tay cho cả lớp ngồi xuống, còn tôi được tiếp tục đọc bài. Ðây là một bài tập ghép vần. Mọi khi tôi vẫn đọc trôi chảy, thế mà hôm ấy giọng khác hẳn mọi ngày. Không phải có điều gì lo sợ mà chính vì những niềm vui lớn đã đến với tôi dồn dập và bất ngờ quá. Có lẽ vì thế, tôi trở nên lúng túng, phát âm sai nhiều chỗ. Biết mình có lỗi, tôi lại càng lúng túng. Quyển vở trên tay cũng nặng trĩu xuống. Ngay lúc ấy, Bác Hồ đã đến gần chỗ tôi đứng. Bác ôn tồn đọc lại cho tôi những câu trong bài. Tôi cảm động nhìn Bác và chăm chú đọc lại theo Bác. Tôi đọc vẫn chưa đúng. Bác chữa lại từng câu như mọi ngày cô giáo vẫn dạy. Giờ phút ấy, tôi tưởng như Bác Hồ là người thầy thân thuộc nhất. Tôi nhớ mãi cử chỉ Bác Hồ lúc ấy hơi cúi người về phía tôi, bàn tay đưa lên trước khích lệ, Bác nói:

– Cháu đọc thế này mới đúng.

Sau đó, Bác lại dặn dò cả lớp phải vâng lời cô giáo, vâng lời cha mẹ và yêu thương các em nhỏ. Tất cả chúng tôi đồng thanh hứa:

– Chúng cháu xin vâng lời Bác!

Từ sau hôm được đón Bác, tôi luôn cảm giác mình vừa có một sự thay đổi rất lớn và muốn khoe để mọi người cùng biết. Mỗi buổi đi học, trên đường từ nhà đến trường tôi cố tình đi qua trạm gác của chú vệ quốc quân. Ðến trước mặt chú, tôi đứng nghiêm, tay phải nắm lại đưa ngang trán chào chú. Tôi muốn cả chú vệ quốc quân cũng biết tôi đã được gặp Bác Hồ. Cũng từ đấy, giờ học tiếng Anh đối với tôi là một giờ thích thú. Tôi còn chăm chú học tất cả các môn khác, vì tôi biết làm như vậy Bác Hồ rất vui lòng.

Ít lâu sau, tôi lại được cô giáo kể chuyện Bác Hồ mỗi tuần lễ nhịn ăn một bữa để dành gạo giúp đồng bào bị nạn đói. Nghe lời kêu gọi của Bác, mỗi nhà lập một hũ gạo tiết kiệm. Mỗi bữa lấy gạo nấu cơm thì bớt lại một nắm to cho vào hũ. Học tập Bác, ngày nào tôi cũng làm đều đặn để được chính tay mình bớt lại gạo tiết kiệm.

Những năm học ở bên Pháp, lòng chúng tôi luôn luôn hướng về Tổ quốc. Một đêm giao thừa, tất cả anh chị em người Việt Nam tụ tập nhau tại trụ sở đón Tết của quê hương trên đất Pháp. Một anh bạn lớn hơn tôi nhiều tuổi kể lại câu chuyện quả táo Bác Hồ cho mọi người nghe: Năm 1946, Bác Hồ với danh nghĩa là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang thăm nước Pháp để đàm phán với Chính phủ Pháp về những vấn đề có liên quan đến vận mệnh của đất nước. Chính phủ Pháp mở tiệc long trọng mời Bác. Lúc ra về Bác cầm theo một quả táo trên bàn tiệc trước những cặp mắt hết sức ngạc nhiên của mọi người. Lúc ấy ngoài đường phố, đông đảo nhân dân Pháp và Việt kiều đã đứng chờ Bác ra để hoan nghênh. Trong biển người ấy, một bà mẹ Pháp bồng con cố tiến lên gần Bác. Bác tươi cười đón em bé trên tay bà mẹ và đặt quả táo vào lòng bàn tay em bé.

Việc làm bình thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến mọi người từ ngạc nhiên đến sung sướng và cảm phục. Tối hôm đó, Bác gặp Việt kiều ở Pa-ri. Anh chị em Việt kiều quây quần chung quanh Bác như những người con tụ lại bên cha già. Trong tình cảm thương yêu rộng lớn, Bác dặn dò tất cả mọi người: “Các cô, các chú phải cố gắng mỗi người học giỏi một nghề, sau này trở về giúp nước nhà, góp phần làm cho dân ta giàu, nước ta mạnh”. Lời dạy của Bác đã trở thành ánh sáng soi đường cho chúng tôi suốt những năm học tập ở xa quê hương.

Giữa năm 1959, tôi thi đỗ bằng Thạc sĩ toán học. Nhớ lời Bác, tôi  xin về nước phục vụ. Trong những năm công tác ở Hà Nội, tôi được gặp Bác ba lần, một lần Bác đến thăm Trường Đại học Sư phạm của chúng tôi. Lần thứ hai, vào dịp Tết, tôi được gặp Bác. Trong buổi liên hoan đón năm mới hôm ấy Bác rất vui. Tôi lại được ngồi gần Bác. Bác cười chỉ vào tôi và nói với các đồng chí lãnh đạo ngồi bên cạnh:

– Sao ít phụ nữ thế! Bác muốn phong trào phụ nữ tiến bộ mạnh hơn nữa.

Mùa xuân năm 1964, tôi được đi dự Hội nghị chính trị đặc biệt do Bác chủ trì. Họp xong, các đại biểu được mời cơm. Tôi ngồi ăn nhỏ nhẹ, Bác đến chỗ tôi, ân cần bảo tôi:

– Cháu ăn đi!

Từ lúc được Bác bảo, tôi ngồi ăn tự nhiên thoải mái như ở nhà. Tôi nghĩ trong đời tôi lúc bé đã được một lần Bác dạy cho cách học, những năm sống xa quê hương, hình ảnh Bác là nguồn động viên tôi khắc phục khó khăn để học tập. Khi trưởng thành lại được Bác săn sóc từ bữa ăn. Tôi là một trong hàng triệu phụ nữ Việt Nam đã được Ðảng, Bác Hồ, cách mạng giải phóng và trở thành người có ích được đem sức lực của mình phục vụ nhân dân, đất nước. Ðối với tôi, không có gì sung sướng hơn là gìn giữ những kỷ niệm về Bác – cái vốn quý báu mà Bác đã trao cho tôi từ khi còn bé. Cái vốn đó mỗi ngày càng được nhân lên gấp bội, như cuộc đời tôi, được Ðảng, Bác Hồ dìu dắt mãi mãi đi trên con đường sáng./.

Theo GS.TS Hoàng Xuân Sính kể Bích San ghi/ nhandan.com.vn
bqllang.gov.vn

Điện gửi ông Gimát, Toàn quyền Pakixtan (15-8-1947)

Nhân Ngày tuyên bố độc lập của nước Pakixtan, một ngày long trọng không riêng gì cho quý quốc, mà cho cả đại gia đình á châu chúng ta, thay mặt dân tộc Việt Nam và riêng tôi nữa, tôi trân trọng yêu cầu Ngài nhận và chuyển cho nhân dân Pakixtan lời chúc tụng nhiệt liệt và lời chào mừng thân ái của chúng tôi.

Tin tưởng vào mối cảm tình và tình đoàn kết giữa nước Pakixtan và các nước á châu, nước Việt Nam cương quyết đấu tranh cho được thống nhất và độc lập.

Ngày 15 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.20.
cpv.org.vn

Thư gửi các bạn thanh niên (17-8-1947)

Các bạn thanh niên yêu quý,

Nhân dịp Hội nghị thanh niên Việt Nam, tôi gửi lời chào các bạn được kết quả mỹ mãn.

Sau đây mấy ý kiến để giúp các bạn thảo luận:

Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.

Chúng ta phải nhận rằng thanh niên ta rất hǎng hái. Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng phong trào thanh niên ta còn chật hẹp, mặc dầu từ Cách mạng Tháng Tám đến nay, thanh niên có cơ hội để phát triển một cách mau chóng và rộng rãi hơn.

Vậy nên nhiệm vụ của các bạn là phải tìm đủ mọi cách để gây một phong trào thanh niên to lớn và mạnh mẽ.

Theo ý tôi muốn đạt mục đích đó, thì mỗi thanh niên, nhất là một cán bộ phải kiên quyết làm bằng được những điều sau này:

a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc).

b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.

c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.

d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.

e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng nǎng, tiết kiệm, trong sạch.

f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết.

Như thế thì ai cũng phải yêu mến kính phục thanh niên và phong trào thanh niên nhất định sẽ ǎn sâu lan rộng.

Hiện nay thanh niên không thiếu gì nơi hoạt động, không thiếu gì công việc làm: nào ở bộ đội, dân quân du kích, nào mở mang bình dân học vụ, nào tǎng gia sản xuất, v.v..

Có chí làm thì quyết tìm ra việc và quyết làm được việc.

Tôi lại khuyên các bạn một điều nữa là chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được.

Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi, hơn là một trǎm chương trình to tát mà làm không được.

Đó là những kinh nghiệm của một người bạn có lịch duyệt thật thà đem bày tỏ với các bạn. Mong các bạn gắng sức và thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 17 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.21-22.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp kỷ niệm cách mạng Tháng Tám (19-8-1947) (18)

Nhân ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ từ Nam chí Bắc, đã hy sinh cho công cuộc giải phóng, hơn 80 nǎm nay.

Tôi trân trọng gửi lời thǎm hỏi những gia quyến của các tiên liệt ấy.

Tôi thân ái cảm ơn những nam nữ chiến sĩ đã hǎng hái và đang hǎng hái tham gia công việc tranh đấu cách mạng, để giải phóng dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân.

Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hoà và thống nhất độc lập.

Noi gương Cách mạng 1776 của Mỹ, Cách mạng Tháng Tám tranh tự chủ chống ngoại xâm.

Cũng như Cách mạng 1789 của Pháp, Cách mạng Tháng Tám thực hành lý tưởng: Bình đẳng, Tự do, Bác ái.

Theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, Cách mạng Tháng Tám thực hiện chủ nghĩa: Dân tộc, dân quyền, dân sinh.

Nay cuộc trường kỳ kháng chiến phải tiếp tục cái nhiệm vụ vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám: Phải làm cho nền Dân chủ Cộng hoà chắc chắn, phải làm cho quyền thống nhất độc lập vững vàng.

Chúng ta đã thắng lợi trong cuộc cách mạng, thì chúng ta quyết sẽ thắng lợi trong cuộc kháng chiến.

Dù địch có những vũ khí tối tân, hùng binh ác tướng, nhưng chúng ta lại có những thứ vũ khí mạnh mẽ hơn, bền bỉ hơn chúng.

Chúng ta có cái chí quật cường không núng của dân tộc, chúng ta có sự đoàn kết của toàn dân. Chúng ta có cái lòng hy sinh cảm tử của chiến sĩ ở tiền tuyến. Chúng ta có cái sức kiên quyết nhẫn nại của đồng bào ở hậu phương. Đó là những vũ khí luôn luôn chiến thắng quân thù, chứ không lực lượng nào chiến thắng được những vũ khí đó.

Đành biết rằng từ đây đi đến cuộc toàn thắng, chúng ta còn phải kinh qua nhiều nỗi khó khǎn. Nhưng chúng ta giàu lòng yêu nước, thì chúng ta quyết cứu được nước. Chúng ta dám trả cái giá cho thắng lợi, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Tinh thần Cách mạng Tháng Tám muôn nǎm!
Toàn dân đại đoàn kết muôn nǎm!
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Ngày 19 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.23-24.
cpv.org.vn

——————————————–

(18) Cách mạng Tháng Tám : Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo và giành được thắng lợi vào tháng 8-1945.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, nhân dân cả nước ta đã vùng dậy tổng khởi nghĩa, đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu á.

Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.187.

Trả lời các nhà báo (19-8-1947)

Hỏi: Thưa Cụ, có tin đồn rằng Cao uỷ Bôlae phái đại biểu đến yết kiến Cụ, bàn về vấn đề điều đình, tin ấy có đúng không?

Trả lời: Không. Có lẽ vì người ta sực nhớ lại việc giáo sư P.Muýt thay mặt Cao uỷ Bôlae gặp tôi lúc trước, mà có tin đồn đó chǎng. Dù sao lập trường của Chính phủ và nhân dân Việt Nam vẫn không thay đổi, nghĩa là chỉ có một cách để chấm dứt chiến tranh, tức là nước Pháp thật thà nhận nước ta thống nhất và độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Ngoài ra không có cách gì khác.

Hỏi : Nghe nói có một bộ phận người Pháp ở đây muốn lập một chính phủ bù nhìn, ý kiến Chủ tịch đối với bọn người ấy thế nào?

Trả lời: Một số thực dân phản động có thể có mưu mô đó. Nhưng Cao uỷ Bôlae là một nhà đại chính trị, chắc ông thừa biết các kinh nghiệm chính phủ bù nhìn ở Nam Bộ, nó đã không giải quyết được gì, mà chỉ làm kéo dài cuộc chiến tranh và ngǎn trở sự thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp. Không lẽ một người sáng suốt như Cao uỷ Bôlae lại đi theo con đường đó.

Trả lời ngày 19-8-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.29.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào Việt Bắc (19-8-1947)

Cùng đồng bào khu I (1) ,

Nhân dịp ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, tôi gửi lời chào thân ái cho toàn thể đồng bào và toàn thể chiến sĩ khu I.

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta cái nhiệm vụ vẻ vang là tranh đấu để giữ vững nền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Chúng ta quyết tâm làm trọn nhiệm vụ đó trong cuộc trường kỳ kháng chiến này.

Đồng bào Việt Bắc đã có một lịch sử cách mạng rất vẻ vang. Xưa kia cụ Hoàng Hoa Thám và những vị anh hùng khác đã dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp suốt mấy mươi nǎm. Gần đây Việt Bắc là cǎn cứ địa oai hùng của Quân giải phóng để chống Nhật, kháng Pháp. Tên Việt Bắc đã lừng lẫy khắp cả nước, khắp thế giới.

Có sự vẻ vang đó là vì toàn thể đồng bào Việt Bắc: Kinh, Thổ, Mán, Nùng, Mèo, v.v., ai cũng yêu nước, ai cũng không chịu làm nô lệ, ai cũng đoàn kết, ai cũng hǎng hái ủng hộ cách mạng.

Trong cuộc kháng chiến này đồng bào khu I đã gánh một phần quan trọng: Như công tác phá hoại, giúp đỡ đồng bào tản cư, v.v., lại có những sáng kiến và thành tích đáng làm gương cho những nơi khác: Như các cụ phụ lão, các vị thân hào, anh em công chức, đã đoàn kết chặt chẽ, đã làm kiểu mẫu cho đồng bào và đã ra sức ủng hộ Chính phủ, v.v..

Hiện bây giờ khu I chưa phải mặt trận chính. Nhưng đối với bọn thực dân hung ác, nay mai khu I rất có thể trở nên mặt trận chính. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng. Chúng ta cần phải làm những việc sau này:

a) Đã đoàn kết phải đoàn kết thêm. Khắp nơi phải tổ chức Hội Liên hiệp quốc dân.

b) Tập luyện dân quân, tự vệ, du kích. Giúp đỡ bộ đội.

c) Ra sức tǎng gia sản xuất, làm cho nhiều lúa, nhiều sắn, nhiều ngô. Nuôi cho nhiều gia súc.

d) Phát triển bình dân học vụ. Giúp đỡ đồng bào tản cư. Giữ gìn bí mật.

e) Các cán bộ quân sự, chính trị, hành chính và chuyên môn thì phải làm đúng bốn chữ: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Tôi chắc rằng: với truyền thống cách mạng lâu dài, với lòng sốt sắng yêu nước, với sự đoàn kết chặt chẽ, đồng bào khu I sẽ làm trọn nhiệm vụ của mình.

Tinh thần Cách mạng Tháng Tám muôn nǎm!

Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Toàn thể đồng bào khu I tiến lên!

Ngày 19 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.27-28.
cpv.org.vn