Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Giải vãng Vũ Minh 18-11 – Giải đi Vũ Minh 18-11

GIẢI VÃNG VŨ MINH
18-11

Ký giải đáo Nam Ninh,

Hựu giải phản Vũ Minh;

Loan loan, khúc khúc giải,

Đồ diên ngã hành trình.

Bất bình!

GIẢI ĐI VŨ MINH 1
18-11

Đã giải đến Nam Ninh,

Lại giải về Vũ Minh;

Giải đi quanh quanh quẹo quẹo mãi,

Kéo dài cuộc hành trình của ta.

Bất bình!

Đã giải đến Nam Ninh,

Lại giải về Vũ Minh;

Giải đi quanh quẹo mãi,

Kéo dài cả hành trình.

Bất bình!

VǍN TRỰC – VǍN PHỤNG dịch
cpv.org.vn

“Tự phê bình”

Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố bản “Tự phê bình” trước toàn thể nhân dân, công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Trong bản tự phê bình này, sau khi nêu lên những công việc làm được trong hoàn cảnh khó khăn, Người tự nhận xét: “Ngoài những việc đó, Chính phủ do tôi đứng đầu, chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân. Tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch… Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi… Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là của tôi”. Cuối bản “Tự phê bình”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tiếp: “Tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là những cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ. Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi!”.

Câu chuyện tự phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng về tự phê bình công khai trước Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân những thiếu sót của mình, thể hiện rõ ràng thái độ, mối quan hệ giữa cá nhân với Tổ quốc, với chế độ, với nhân dân. Theo Người, nguyên tắc tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Người khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Ra đời đã cách đây hơn 60 năm, nhưng tư tưởng, quan điểm của bài viết “Tự phê bình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị. Mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần noi gương, học tập và làm theo để tự hoàn thiện mình và góp phần xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.

Mạnh Tường
baobinhdinh.com.vn

“Chí công vô tư”

Từ “Đường Kách mệnh” – cuốn sách đầu tiên đào tạo, bồi dưỡng những người cách mạng trẻ tuổi, đến “Di chúc” – văn bản cuối cùng trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhắc đến cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động thường ngày của mỗi con người. Dù có hay không, ít hay nhiều, thông qua hành động, ứng xử, qua hoạt động thực tiễn, đều bộc lộ phẩm chất đạo đức này. Ở đâu có sự dối trá thì ở đó có sự lười biếng, lãng phí, bất liêm, bất chính, hủ bại, thu vén lợi ích riêng… và tất cả đều khó che giấu con mắt của những người bình thường. Bởi vậy, để giữ cho được cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, mỗi người phải không ngừng rèn luyện và rèn luyện suốt đời.

Mỗi chữ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư đều được Bác Hồ giải thích rất rõ, rất cụ thể, rất dễ hiểu. Riêng về chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”, “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”… Theo Bác, chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính và chúng quan hệ mật thiết với nhau. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư; ngược lại đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính “và có được nhiều tính tốt khác”. Tính tốt ấy, gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

Có được phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, con người sẽ thực sự vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Nhưng nói dễ, làm khó, để có được phẩm chất này, trước hết mỗi người phải tự vượt qua chủ nghĩa cá nhân, nhất là những lợi ích do chức, quyền, danh, lợi đem lại vốn rất hấp dẫn và diễn ra hằng ngày.

T.Q
baobinhdinh.com.vn

Lòng nhân ái, bao dung

Một trong những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh có sức mạnh cảm hóa và lôi cuốn mọi người đó là tư tưởng nhân văn, tấm lòng khoan dung độ lượng. Theo Người, mỗi con người là một bộ phận không thể tách rời của tập thể, của dân tộc và toàn nhân loại. Vì thế mỗi người biết mình, biết người thì đối với người phải khoan dung, đối với mình thì không được cô độc hẹp hòi. Người cũng căn dặn cán bộ, đảng viên cần phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể làm việc một cách chí công vô tư, không có thành kiến, mới có thể thật sự tôn trọng, thương yêu con người, nhân dân, mới biết sử dụng đúng người, đúng việc. Người khuyên cán bộ, đảng viên chớ chủ quan, “chớ tự kiêu, tự đại” vì còn có nhiều người tài giỏi hơn mình.

Học tập Người, người cán bộ lãnh đạo phải hiểu cán bộ cấp dưới của mình để bố trí, sắp xếp công việc sao cho hợp tình, hợp lý. Khi cán bộ có những khuyết điểm, sai sót cần gặp gỡ phân tích điều hơn, lẽ thiệt để cán bộ nhận rõ khuyết điểm, của mình. Tạo cơ hội cho những người mắc khuyết điểm có thời gian sửa chữa, khắc phục. Không nên khi cán bộ, đảng viên, đồng chí của mình mắc sai lầm lại châm chọc, gièm pha, trù dập. Khi cán bộ, đảng viên đã phấn đấu sửa chữa khuyết điểm thì phải nhìn nhận, bố trí, sắp xếp công việc phù hợp để họ có cơ hội chuộc lại lỗi lầm. Với tấm lòng bao dung , Người chủ trương giáo dục, cải tạo nạn nhân của chế độ cũ, những người vi phạm chuẩn mực xã hội thì Nhà nước phải vừa dùng giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lương thiện.

Học tập tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn đoàn kết, giúp đỡ tận tình, nhân ái vị tha đối với đồng chí, đồng nghiệp của mình; thẳng thắn góp ý kiến với tinh thần xây dựng, người được góp ý kiến mạnh dạn tiếp thu để hoàn thiện mình hơn trong mắt mọi người. Với tinh thần mình vì mọi người, mọi người vì mình thì nhất định cuộc sống sẽ hạnh phúc vững bền.

Bắc Phương
baobinhdinh.com.vn

“Nói đi đôi với làm”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu về đức tính “nói đi đôi với làm”, “nói thì phải làm”. Cuộc đời của Người là tấm gương sáng mẫu mực, tuyệt vời về đức tính đó.

Người phát động nhân dân lập hũ gạo cứu đói thì Người gương mẫu và nghiêm túc thực hiện mười ngày nhịn ăn một bữa để đem gạo đó biếu dân nghèo. Người phát động “Tết trồng cây” để lấy gỗ làm nhà và cải thiện môi trường thì vào Tết Nguyên đán hàng năm Người đều tham gia trồng cây đều đặn. Người khuyên cán bộ, đảng viên phải thường xuyên học tập, học ở mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người, học suốt đời “học để làm việc, làm người, làm cán bộ”, thì chính Người là một tấm gương tiêu biểu. Trong những ngày cuối đời, mặc dù nằm trên giường bệnh, Người vẫn còn học tiếng Tây Ban Nha…

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta học tập và làm theo Người tác phong “nói thì phải làm”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc tự kiểm điểm lại mình đã thực hiện việc “nói đi đôi với làm”, “nói thì phải làm” như thế nào.

Phải phấn đấu thực hiện cho được “nói đi đôi với làm” và làm có hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cơ quan, đơn vị muốn nói đi đôi với làm và làm có hiệu quả thì ngoài tấm lòng trung thực, dũng cảm, còn phải kết hợp giữa chủ trương, biện pháp đúng đắn và đầy đủ với ý chí phấn đấu, quyết tâm thực hiện cao độ, chứ không chỉ đọng ở lời nói. Dù chủ trương có tốt đến mấy, biện pháp hay đến mấy, nhưng không thực hiện thì cũng vô nghĩa. Vì từ lời nói tới việc làm bao giờ cũng phải trải qua những chặng đường gian nan, không có quyết tâm cao tổ chức thực hiện thì không thể biến chủ trương đúng thành hiện thực.

Đặc biệt, cần luôn ghi nhớ lời Bác dạy: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Chỉ khi nào người cán bộ, đảng viên nói được, làm được, thì mới được nhân dân tin tưởng, yêu mến và đi theo. Do đó, “nói thì phải làm”, “nói đi đôi với làm” chính là một chuẩn mực đạo đức, là tư cách của mỗi người cán bộ, đảng viên chân chính.

Yên Tùng
baobinhdinh.com.vn

Đoàn kết mới thành công

Nói về đoàn kết dân tộc, Bác nói: “Vì sao nhân dân ta phải đoàn kết? Vì đoàn kết là sức mạnh để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”. Bác cầm một chiếc đũa ở trên bàn, đưa cho một đồng chí cán bộ, bảo: “Chú bẻ đi”. Đồng chí đó bẻ một cách dễ dàng. Bác lại cầm tiếp một bó đũa và bảo: “Chú bẻ tiếp đi”. Đồng chí đó thưa: “Thưa Bác, cháu không bẻ được”. Bác liền bảo: “Thế đấy, nếu để riêng một chiếc đũa thì ta bẻ dễ dàng, còn hợp lại thành một bó đũa thì không thể bẻ được. Công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tuy còn lâu dài, gian khổ nhưng nhân dân ta biết đoàn kết một lòng, tạo thành sức mạnh phi thường, chúng ta sẽ chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”.

Xuyên suốt và nhất quán trong cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ là tư tưởng đại đoàn kết các dân tộc, nhằm tập hợp, phát huy sức mạnh của các lực lượng cách mạng, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người đã tổng kết trong Di chúc: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”. Tư tưởng lớn đó được Người cô đọng trong khẩu hiệu nổi tiếng: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Tư tưởng đoàn kết gắn bó máu thịt với cả cuộc đời của Người.

Trong Di chúc, Người đã căn dặn “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đoàn kết toàn dân là một nội dung quan trọng, vì nó phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân và sự gắn bó mật thiết giữa nhân dân với Đảng thành một sức mạnh vô địch.

Kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Hà An
baobinhdinh.com.vn

Chớ phô trương, hình thức

Sinh thời, Bác Hồ là một tấm gương về lối sống giản dị, tiết kiệm. Đặc biệt, Người luôn yêu cầu phải chống căn bệnh phô trương, hình thức. Câu chuyện sau đây cho thấy điều đó.

Năm 1961, Bác Hồ về thăm quê lần thứ hai. Bác yêu cầu các đồng chí ở Tỉnh ủy Nghệ An đón tiếp Bác thật tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức. Nhưng địa phương vẫn chuẩn bị sẵn một chiếc ôtô con mui trần, có vải trắng kết xung quanh và lót phía trong xe để đón Bác. Khi xuống máy bay, Bác nhìn chiếc xe rồi cười và nói: “Bác về cốt là thăm quê hương, đồng bào, chứ có là quan khách đâu mà các chú làm hình thức, tốn kém”. Nói rồi Bác bước về phía chiếc xe đi đầu của bảo vệ và ngồi bên cạnh người lái xe. Dọc đường, mọi người đều hướng về chiếc xe sang trọng, nhưng không thấy Bác đâu. Không ai biết rằng Bác đã ngồi ở chiếc xe cảnh vệ đi đầu, còn anh em cảnh vệ thì đi chiếc xe được dành để đón Bác.

Về đến nhà khách Tỉnh ủy, thấy có nhiều bông hoa rực rỡ hai bên đường, Bác dùng tay nhổ nhẹ một cành lay ơn và biết được rằng cành hoa không hề có rễ. Bác gọi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tới nghiêm giọng: “Đây là một việc làm thiếu chân thực và lãng phí. Tưởng các chú trồng hoa thì hay, có lợi cho môi trường. Nào ngờ, vì Bác vào thăm nên các chú phải mua bông này về trồng. “Trồng” hình thức nó sẽ chết. Đây là một căn bệnh phô trương, hình thức. Đón Bác như thế này Bác không vừa lòng!”. Các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An nhận ra khuyết điểm đã xin lỗi Bác và hứa sẽ sửa chữa khuyết điểm.

Những lời phê bình nhẹ nhàng của Bác trong việc này có một ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn. Đó là phải luôn luôn trân trọng giá trị thực, tránh phô trương, hình thức. Đó cũng chính là bài học quý cho mỗi chúng ta khi học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Minh Tuệ
baobinhdinh.com.vn

“Tự mình phải chính trước”

Để giáo dục cán bộ, Bác Hồ chỉ rõ mối quan hệ mà mỗi người đều phải xác định cho thật rõ ràng, minh bạch. Đó là với mình, với người và với việc.

Với mình, Bác dặn không được tự kiêu tự đại, phải luôn cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý.

Với người, Bác dặn phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên, xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Với việc, Bác dặn phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, không sợ khó nhọc, nguy hiểm. Bất kỳ việc to việc nhỏ, phải có sáng kiến, kế hoạch, cẩn thận, quyết làm và làm cho thành công. Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước. Lợi cho nước tức là lợi cho mình. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Căn dặn cán bộ, đảng viên như vậy và Người đã làm đúng như vậy. Nhận được quà biếu của đồng bào, Người đều gửi tặng lại các cán bộ ở gần, hoặc gửi tặng thương binh. Có đoàn ngoại giao biếu Bác chiếc điều hòa nhiệt độ, Người bảo cấp dưới đem tặng lại quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh, “vì hôm trước đến thăm, Bác thấy các chú ấy nóng lắm. Bác ở thế này tốt rồi”. Mỗi Tết Trung thu, hay khai giảng năm học mới, Người đều có thư và quà gửi thiếu niên, nhi đồng. Nhận được điện thoại người quen gọi đến, Người đều hỏi thăm sức khỏe rồi mới bàn công việc…

Căn dặn “tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính”, nên Bác luôn gương mẫu thực hiện. Vào thăm một ngôi chùa lịch sử, Người cúi xuống cởi dép và giữ đúng mọi nghi thức như người dân đến lễ chùa. Xe đi qua ngã tư có đèn đỏ, Bác yêu cầu lái xe “phải gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không nên bắt người khác nhường quyền ưu tiên cho mình”…

Cả cuộc đời Bác là bài học sinh động về sự công bình, chính trực. Đó là tấm gương sáng cho mỗi cán bộ, đảng viên cũng như tất cả mọi người học tập và làm theo.

Phúc An
baobinhdinh.com.vn

Cách mạng Tháng Tám – mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta. Kỷ nguyên của “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”

cmt8
Quốc kỳ nền đỏ sao vàng, được thông qua ngày ngày 16/8/1945 tại Tân Trào

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi hoàn toàn không phải là một sự ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Để đi đến thành công của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta phải trải qua 3 cuộc vận động cách mạng đầy gian khó là: Cuộc vận động những năm 1930 – 1935, mà đỉnh cao là phong trào Xô viết – Nghệ tĩnh (1930-1931), tiếp theo là giai đoạn khủng bố trắng và thoái trào cách mạng (1932-1935); cuộc vận động những năm 1936 – 1939, với cao trào là Mặt trân Dân chủ năm 1938, Đảng lại phải vượt qua tổn thất do cuộc khủng bố của địch gây ra để đi tiếp chặng đường mới; cuộc vận động những năm 1939 – 1945, Đảng ta đã sáng suốt phát triển cả lực lượng chính trị lẫn lực lượng vũ trang, dấy lên cao trào tiền khởi nghĩa, chủ động nắm bắt thời cơ mới để tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Trước tình hình thế giới đầy biến động, đầu năm 1945, phe Đồng minh đang thừa thắng xông lên giải phóng các nước bị phát xít chiếm đóng và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật và chỉ trong một thời gian ngắn đã buộc phát xít Nhật phải đầu hàng vô điều kiện. Lúc này, Ban Thường vụ Trung ương họp và ra Nghị quyết nêu rõ: “ Kẻ thù số một của các dân tộc Đông Dương lúc này không phải là tất cả chủ nghĩa đế quốc mà chỉ là đế quốc phát xít, đặc biệt là phát xít Nhật – Pháp”. Hội nghị chỉ rõ, toàn bộ công tác của Đảng trong lúc này là chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 3 năm 1945, Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp và ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4 năm 1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang, đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang cướp kho thóc của Nhật để cứu đói, đẩy mạnh xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc, mở Trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự, phát động chiến tranh du kích ở những nơi có đủ điều kiện, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Từ đây cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ ngày 13/8/1945 đến ngày 15/8/1945 đã đi đến kết luận: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi”, vì vậy phải “Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội”, khẩn trương “Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê, thành lập ủy ban nhân dân ở những nơi làm chủ”, tất cả vì mục tiêu “Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Đến 23h ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1: Hiệu triệu toàn dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Tiếp đó, ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân tại Tân Trào đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Nam, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ là lá cờ nền đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến Quân Ca và bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Trung ương, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta!”.

tong khoi nghia
Ảnh Tư liệu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã đồng loạt đứng dậy, tiến hành cuộc Khởi nghĩa giành chính quyền trong khắp cả nước. Cuộc Tổng khởi nghĩa bắt đầu nổ ra từ ngày 14 tháng 8 và đến ngày 18 tháng 8, chúng ta đã giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắcbộ, đại bộ phận các tỉnh miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam. Ngày 19 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và các thị xã: Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Tân An, Bạc Liêu. Ngày 25 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Lạng Sơn, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre,… Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử chính quyền trong cả nước thuộc về nhân dân.

Sáng 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Từ đó lịch sử Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

anh ngay doc lap
Ảnh Tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tất yếu của 15 năm chuẩn bị chu đáo của Đảng ta, là kết quả của cuộc đấu tranh yêu nước rộng lớn của dân tộc, sự hy sinh anh dũng của đồng bào, đồng chí cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan được xiềng xích nô lệ của đế quốc thực dân và lật nhào được chế độ quân chủ chuyên chế, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây nước Việt Nam là của người Việt Nam, Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền.

Từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công đến nay đã 67 năm, nhưng những giá trị lịch sử sâu sắc mà Cách mạng Tháng Tám đem lại vẫn vẹn nguyên như thuở nào. Từ những bài học lịch sử sâu sắc đó mà Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng vào thực tiễn cuộc sống để đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kim Yến
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám – Bản hùng ca bất hủ

(GD&TĐ) – Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bản hùng ca thời đại, cũng là bản hùng ca bất hủ, mãi mãi âm vang đi cùng năm tháng, cổ vũ, động viên toàn dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên phía trước.

Vào những ngày Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã vùng lên lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật, đập tan xích xiềng nô dịch ngót 100 năm của thực dân Pháp, xóa bỏ chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới huy hoàng cho dân tộc: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Vào cuối thế kỷ XIX, sau khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện một chính sách thống trị vô cùng hà khắc. Chúng dùng mọi thủ đoạn bóc lột dân lành, vơ vét tài nguyên, thẳng tay đàn áp chém giết những người yêu nước, đẩy dân tộc ta vào đêm trường nô lệ. Không chịu khuất phục, nhân dân ta đã nhiều lần vùng lên chống ách nô dịch thực dân, nhưng các phong trào yêu nước đều không thể giành thắng lợi vì thiếu một đường lối đúng đắn. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với người sáng lập là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, được soi sáng bằng Chủ nghĩa Mác – Lê nin, nhân dân ta mới có được con đường cứu nước đúng đắn: Con đường gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Từ đó về sau, mặc dù từng giai đoạn, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng có những nhiệm vụ chiến lược khác nhau, nhưng tinh thần độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trở thành kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam vượt qua biết bao thử thách to lớn để đi đến thắng lợi.

Mít tinh trước Nhà Hát Lớn Hà Nội 19/8/1945Mít tinh tổng khởi nghĩa trước Nhà hát lớn Hà Nội (19/8/1945)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh. Nhiều cao trào cách mạng – những cuộc tập dượt cách mạng lớn đã diễn ra để tiến tới Tổng khởi nghĩa. Đó là cao trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh năm 1930 – 1931, cao trào vận động dân chủ 1936 – 1939, cao trào đánh Pháp đuổi Nhật những năm đầu thập niên bốn mươi của thế kỷ XX, đêm trước của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Những cao trào cách mạng này đã mang đến những kinh nghiệm quý báu giúp Đảng ta hoàn thiện đường lối và chiến lược cách mạng, tăng cường sức mạnh tổ chức, nâng cao năng lực vận động và tập hợp quần chúng, và khi thời cơ đến chỉ với 5000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nhất tề vùng lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong toàn quốc.

Bằng việc lật đổ chế độ thực dân, phong kiến đã lỗi thời, lập nên một chế độ xã hội mới tiến bộ, tạo ra những biến đổi xã hội – chính trị to lớn và căn bản, Cách mạng Tháng Tám thực sự là một bước nhảy vọt về chất của xã hội Việt Nam. Đây chính là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta từ đêm trường nô lệ bước đến bình minh của một ngày mới đầy hứa hẹn. Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám chính là kết quả của một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng lòng yêu nước là những nhân tố căn bản nhất làm nên thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa lịch sử.

Nguyễn Ái QuốcBác Hồ đọc “Tuyên ngôn độc lập” tại vườn hoa Ba Đình

Bản hùng ca Cách mạng Tháng Tám tiếp tục ngân vang theo dọc cuộc trường chinh cách mạng của dân tộc Việt Nam vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, với tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất, nhân dân ta đã vượt qua biết bao thử thách, gian khổ, hy sinh để đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau ngày non sông thu về một mối, trước những vận hội và thách thức mới, Đảng lại lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở cửa hội nhập quốc tế nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Tháng 1/2011, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thành công tốt đẹp. Để bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, Đại hội đã khẳng định phải tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ với hiệu quả ngày càng cao hơn. Bản hùng ca Cách mạng Tháng Tám đang tiếp tục là nguồn động lực tinh thần to lớn góp phần tạo nên sức mạnh cho đất nước ta đi tới phồn vinh.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra vận hội mới để xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, giáo dục đã được Nhà nước cách mạng non trẻ rất quan tâm. Nhiệm vụ chống nạn mù chữ khi đó đã được Chính phủ lâm thời khẳng định là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Từ đó, nền giáo dục Việt Nam dưới chế độ mới đã không ngừng được xây dựng và phát triển trên cơ sở được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự ủng hộ của toàn xã hội. Từ một nền giáo dục nhỏ bé, manh mún thời Pháp thuộc, chúng ta đã xây dựng được một nền giáo dục bề thế với đầy đủ các cấp học, các trình độ đào tạo. Từ chỗ chỉ có 5% dân số biết chữ hiện nay chúng ta đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Một đội ngũ hùng hậu, đông đảo gồm nhiều thế hệ được đào tạo đã đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển, nhưng với quyết tâm cao, ngành Giáo dục nước ta đang hướng tới đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự ủng hộ của toàn xã hội, nhất định nền giáo dục nước nhà sẽ tiếp tục đổi mới hiệu quả để đóng góp xứng đáng vào công cuộc tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước theo con đường đúng đắn mà Cách mạng Tháng Tám đã mở ra và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã tiếp tục khẳng định một cách sáng tạo.

GD-TĐ

gdtd.vn

Tuổi trẻ Bộ Tổng tham mưu – Bộ Quốc phòng báo công dâng Bác tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 16/8/2012, tại Quảng trường Ba Đình, tuổi trẻ Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng đã tổ chức lễ báo công dâng Bác những thành tích xuất sắc của tuổi trẻ đơn vị trong 5 năm (2007-2012). Nhân dịp kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, 67 năm Ngày thành lập Bộ Tổng Tham mưu (7/9/1945 – 7/9/2012) và chào mừng Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tổng Tham mưu lần thứ VIII. Tham dự lễ báo công có thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong Bộ Tổng Tham mưu và 210 đại biểu đại diện cho hơn 10 nghìn cán bộ, đoàn viên thanh niên. Trước đó, các đại biểu đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

bo tongh tham muu aLễ báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh của tuổi trẻ Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng

Với phong trào “Thanh niên quân đội thi đua rèn đức luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, 5 năm qua tuổi trẻ Bộ Tổng Tham mưu được sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của các cấp ủy Đảng, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, sự hướng dẫn, chỉ đạo cặt chẽ của Tổng cục Chính trị đã tích cực cố gắng phấn đấu vươn lên trong công tác, góp phần tích cực xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Với truyền thống “Trung thành, mưu lược – Tận tụy, sáng tạo – Đoàn kết, hiệp đồng – Quyết chiến, quyết thắng”, tuổi trẻ Bộ Tổng Tham mưu đã khéo léo kết hợp với các phong trào thi đua “Thanh niên quân đội thi đua rèn đức luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thực hiện “Học tập và làm theo lời Bác” làm mục tiêu hành động xuyên suốt và cụ thể hóa phong trào vào thực tiên hoạt động của cơ quan, đơn vị như: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện”, phong trào “Xây dựng hình ảnh người chiến sĩ cảnh vệ tinh thông sắc sảo về nghiệp vụ, mẫu mực về lễ tiết tác phong chính quy”, phong trào “4 tốt – 3 không”, “3 mẫu mực, 4 làm theo”, “Phát huy 5 cái đẹp, dẹp 8 cái xấu”, “Tập luyện giỏi – Thi đấu tốt”, phong trào “Trống năng rèn, kèn năng thổi” của các đơn vị huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nghi lễ, thể dục thể thao; phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, “Đôi bạn học tập”, “Giờ tự học thanh niên”, “Thanh niên tự quản – tự rèn”… và nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, 100 năm Ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước; tổ chức giao lưu, tặng nhà tình nghĩa, nhà bán trú dân nuôi, sổ tiết kiệm cho các gia đình chính sách, tặng quà cho trẻ em nghèo vượt khó học giỏi, trẻ em mồ côi, người mù, trẻ em khuyết tật, các chiến sĩ Quần đảo Trường Sa… Thông qua các phong trào, cuộc vận động, tuổi trẻ Bộ Tổng Tham mưu càng thấy rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước, quân đội, đơn vị.

Với những thành tích đó, 100% đoàn viên thanh niên đơn vị đạt tiêu chuẩn, đủ tư cách; hàng nghìn cán bộ, đoàn viên được khen thưởng, nhiều tổ chức Đoàn được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng cục Chính trị tặng Cờ, Bằng khen đơn vị xuất sắc trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên.

Thay mặt các đại biểu, Đại úy Nguyễn Văn Nghĩa, Phó Bí thư Liên chi đoàn, Đoàn Danh dự – Đoàn Nghi lễ Quân đội đọc lời hứa với Bác: “Trong giờ phút thiêng liêng này, chúng cháu xin hứa trước anh linh của Người: Sẽ luôn đoàn kết, tuyệt đối trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Không ngại hy sinh, gian khổ, nỗ lực phấn đấu rèn luyện bản thân có bản lĩnh chính trị vững vàng, tác phong gương mẫu, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sáng, giản dị, hòa đồng, tích cực học tập lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập tư tưởng của Bác, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng việc làm cụ thể; tích cực tham gia có hiệu quả phong trào “Tuổi trẻ quân đôi chung tay xây dựng nông thôn mới”, chiến dịch hè tình nguyện năm 2012 và các phong trào hành động cách mạng do Trung ương Đoàn và đơn vị phát động, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành của từng đơn vị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển toàn diện của quân đội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Ngục đinh thiết ngã chi sĩ đích – Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta

NGỤC ĐINH THIẾT NGÃ CHI SĨ ĐÍCH1)

Nhất sinh chính trực hựu kiên cương,

Huề thủ đồng hành kỷ tuyết sương;

Hận bỉ gian nhân ly ngã lưỡng,

Trường giao ngã nhĩ các thê lương.

LÍNH NGỤC ĐÁNH CẮP MẤT CHIẾC GẬY CỦA TA

Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường,

Dắt dìu nhau cùng đi đã mấy mùa sương tuyết;

Giận kẻ gian kia chia rẽ hai ta,

Khiến cho tôi và anh phải buồn thương mãi.

————–

Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường,

Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương;

Giận kẻ gian kia gây cách biệt,

Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn