Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Công tác quân sự của Đảng trong nông dân

CÁC PHƯƠNG PHÁP DU KÍCH CÁCH MẠNG

Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực.Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách mạng – cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản. Trong thời kỳ cách mạng tư sản dân quyền, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để thực hiện các khẩu hiệu của mình và chuyển cuộc cách mạng tư sản dân quyền thành cách mạng vô sản không thể giành được thắng lợi hoàn toàn nếu không có khối liên minh cách mạng của giai cấp vô sản và nông dân, nếu không có sự tham gia tích cực của quần chúng nông dân bị áp bức vào việc thực hiện những khẩu hiệu của cách mạng. Ba cuộc cách mạng Nga, cuộc cách mạng vĩ đại Trung Quốc và các cuộc đấu tranh cách mạng ở nhiều nước khác đã chứng minh rõ ràng điều đó. Đối với tất cả những nhà cách mạng chân chính hiện nay, nguyên tắc lêninnít cǎn bản ấy là sự thực hoàn toàn không thể chối cãi. ở Trung Quốc, ấn Độ, ở Mỹ Latinh, ở nhiều nước châu Âu (các nước vùng Bancǎng, Rumani, Ba Lan, Italia, Pháp, Tây Ban Nha…), bạn đồng minh cương quyết của giai cấp vô sản trong cách mạng là quần chúng nông dân. Cách mạng chỉ có thể thắng lợi nếu như những làn sóng cách mạng lay động được quần chúng nông dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Do vậy mà việc tuyên truyền của Đảng trong nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt.

Bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong

nông dân, như chúng ta đã thấy (và còn thấy bây giờ) ở Trung Quốc, thoạt đầu xuất hiện dưới dạng những cuộc nổi dậy lẻ tẻ, tự phát, rời rạc của các nhóm du kích chống lại bọn đại địa chủ, bọn phú nông, thương gia và bọn cho vay nặng lãi; chống lại các nhà chức trách thu thuế; nói vắn tắt, chống lại mọi thế lực chính trị và hành chính tồn tại ở làng quê hay thành phố và chống lại chế độ hiện hành để tịch thu và chia ruộng đất, bỏ địa tô, xoá nợ và thay thế chính quyền bằng các tổ chức nông dân. ở giai đoạn đầu của phong trào cách mạng, nông dân ít khi nêu ra bất kỳ khẩu hiệu rõ ràng nào về cách mạng ruộng đất; họ chỉ phản đối những tên địa chủ “tàn ác” và đòi giảm tô và thuế…

Đặc điểm cǎn bản của cuộc cách mạng nông dân ở giai đoạn đầu là tính chất tự phát của nó: những hành động lẻ tẻ, rời rạc; không có một cương lĩnh chính trị nhất quán cho cả vùng; không có những khẩu hiệu ổn định.

Đối với nông dân, mục đích của đảng vô sản là rõ ràng. Đảng vô sản phải giành lấy quyền lãnh đạo phong trào, tổ chức, động viên quần chúng nông dân xung quanh những khẩu hiệu giai cấp nhất định phù hợp với tính chất của cuộc cách mạng, nói tóm lại là phải dẫn dắt toàn bộ phong trào tiến tới thực hiện những khẩu hiệu ấy. Đảng của giai cấp vô sản cần phải phối hợp phong trào nông dân với các mục tiêu cách mạng và các hoạt động của giai cấp vô sản ở các trung tâm công nghiệp.

Đảng cách mạng phải hiểu rằng phong trào nông dân, cho dù có quy mô to lớn tới đâu đi nữa, cũng không mong gì giành được những thắng lợi quyết định nếu như giai cấp công nhân không hành động. Điều đã nói cũng đúng đối với các hoạt động của giai cấp công nhân (ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp) nếu như các hoạt động đó không được hỗ trợ bởi hoạt động cách mạng mạnh mẽ từ phía nông dân. Tổ chức và chuẩn bị các hoạt động phối hợp, nếu có thể cùng một lúc ở thành thị và nông thôn thì đó sẽ là mục đích cǎn bản của đảng cách mạng ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp.

ở Trung Quốc, nhờ kết quả của cuộc Bắc phạt mà phong trào nông dân đạt tới tầm vóc to lớn. Cho tới thời điểm Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 5-1926) có khoảng 10 triệu nông dân được tổ chức lại trong các Nông hội ở Hoa Trung và Hoa Nam. Đại bộ phận, chủ yếu ở miền Nam, ở lưu vực sông Dương Tử, đã đấu tranh (nǎm 1927) có ý thức dưới khẩu hiệu của cách mạng ruộng đất. Đảng Cộng sản Trung Quốc (bộ phận lãnh đạo của đảng thời kỳ này) đáng lẽ phải tiến hành tuyên truyền cổ động trong nông dân phù hợp với những nghị quyết của Quốc tế Cộng sản; đáng lẽ phải hướng quần chúng nông dân đi theo con đường hành động cách mạng bằng cách giúp họ tổ chức lại, vạch ra cương lĩnh chính trị và kế hoạch hành động, bằng cách thúc đẩy sự phân hoá xã hội trong nông thôn; đáng lẽ phải kìm giữ phong trào trong ảnh hưởng của đảng và chỉ đạo theo chiến lược của đảng theo hướng mở rộng và làm sâu sắc thêm cuộc cách mạng ruộng đất, thì đằng này lại phụ thuộc vào phong trào nông dân và phối hợp với Quốc dân đảng chiến đấu chống lại cái gọi là sự hà lạm 1 quá đáng, tức là cái mà trong thực tế đã là sáng kiến cách mạng của các tổ chức nông dân. Đó là sai lầm lớn nhất trong lãnh đạo của những người cộng sản lúc đó.

Điều hết sức ngạc nhiên là chính sách của Đảng Cộng sản đối với nông dân và khối liên minh đó với Quốc dân đảng đã làm nảy sinh một kết cục sau đây: Ngày 1-8-1927, khi nghĩa quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long ở Nam Xương tiến xuống miền Nam thì họ không thể tìm ra một số lượng phu đủ để vận chuyển đạn dược và các vật liệu chiến tranh khác 2 . Nông dân đã bỏ làng đi để khỏi bị động viên. Đội quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long đành phải để lại phía sau vô số đạn dược để rồi lọt vào tay quân địch. Tương tự như vậy, ở vùng Sán Đầu, các viên chỉ huy cộng sản và cánh tả Quốc dân đảng của quân đội cách mạng đang cố thuyết phục nông dân gia nhập quân đội của mình và muốn phân phát số vũ khí thừa cho họ. Người nông dân không gia nhập quân đội cách mạng vì họ không phân biệt được quân đội cách mạng và quân đội của bọn quân phiệt khác nhau ở chỗ nào. Thực tình là không thể phân biệt được, vì mặc dù trong một số sư đoàn (sư 24 và 25) tất cả những viên chỉ huy trung đoàn và 20 phần trǎm sĩ quan đều là những người cộng sản, và mặc dù uỷ ban quân sự cách mạng cũng có những người cộng sản, chính sách của quân đội đối với nông dân về mọi phương diện không khác với cánh tả Quốc dân đảng. Thay cho những khẩu hiệu như “Đả đảo bọn đại địa chủ”, “Sung công ruộng đất!” mà Nông hội đã nêu lên, thì Uỷ ban cách mạng nêu ra các khẩu hiệu sau đây: “Đả đảo bọn địa chủ tàn ác!”, ‘Tịch thu số ruộng đất trên 20 mẫu!”, “Giảm tô 50%!”… Vì lẽ đó, không phải ngạc nhiên khi quần chúng nông dân từ chối không gia nhập quân đội cách mạng và rời bỏ làng quê của mình trốn vào núi. Cũng không lấy làm lạ, tại trấn Ôn Tuyền, đội quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long được thương nhân biểu tình chào đón thân thiết, mà không có một bóng nông dân nào.

Nên nhớ rằng, lúc bắt đầu và trong suốt cuộc Bắc phạt, những người nông dân ấy với hy vọng Quốc dân đảng sẽ giải thoát cho họ về xã hội và kinh tế, đã chiến đấu với tất cả những gì họ có thể có để giúp Quốc dân đảng đè bẹp đội quân của những viên tướng tá kiểu cũ (Tôn Truyền Phương, Ngô Bội Phu). Họ đã làm như vậy bằng những cuộc nổi dậy ở hậu phương; quấy rối chúng bằng những trận tấn công du kích bền bỉ, và ám sát các sĩ quan và những tên đại địa chủ; nói tóm lại, bằng cách phá thế ổn định ở hậu phương của chúng.

Cần phải nhấn mạnh rằng, chính sách kém cỏi về vấn đề nông dân của Đảng cộng sản là một trong những nguyên nhân quyết định làm cho cuộc cách mạng Trung Quốc nǎm 1927 thất bại.

Những sự kiện nǎm 1923 ở Bungari là một thí dụ khác về việc không quan tâm tới phong trào nông dân. ở đây, vào mùa thu nǎm 1923, các cuộc khởi nghĩa nông dân đã bùng nổ tự phát ở một loạt vùng. Vậy mà, Đảng Cộng sản Bungari suốt cả một tuần vẫn không làm gì để giành quyền lãnh đạo phong trào. Các cuộc khởi nghĩa nông dân – do thiếu tổ chức và hợp đồng, do sự biệt lập với nhau và vì thiếu vắng sự lãnh đạo cụ thể của Đảng Cộng sản – đã bị phản cách mạng đè bẹp.

Mặt khác, cuộc Cách mạng Tháng Mười không thể giành được thắng lợi nếu như Đảng Bônsêvích không có khả nǎng động viên quần chúng nông dân dưới khẩu hiệu của mình và dẫn dắt họ tham gia vào cuộc chiến đấu lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và thiết lập nền chuyên chính của giai cấp vô sản. Nếu như Đảng Bônsêvích không có một chính sách cụ thể đối với nông dân thì không bao giờ có chuyện quân đội Sa hoàng ngả về phía cách mạng. Nhờ chính sách rõ rệt đối với nông dân của Đảng Bônsêvích hoàn toàn đúng đắn nên Đảng có khả nǎng to lớn thu hút quân đội Sa hoàng – gồm chủ yếu là nông dân.

Một nguyên nhân làm cho cuộc khởi nghĩa Quảng Châu thất bại là vào lúc giai cấp vô sản vùng dậy trong thành phố thì ở những vùng ngoại vi không có một phong trào nông dân cách mạng quan trọng nào cả. Ngược lại, vô số các cuộc nổi dậy của nông dân ở nhiều tỉnh khác nhau của Trung Quốc (ví dụ như ở Sơn Đông) bị thất bại chủ yếu do không phối hợp được với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các trung tâm công nghiệp, và không được hoạt động của giai cấp vô sản trong các thành phố ủng hộ.

Vào thời điểm giai cấp vô sản Nga đang đấu tranh cách mạng sôi nổi nǎm 1905, khối quần chúng nông dân to lớn hãy còn thể hiện hoạt động cách mạng nhỏ bé. Phong trào nông dân ở nước Nga chỉ đạt tới đỉnh cao của nó vào những nǎm 1906-1907, tức là khoảng một nǎm sau khi những làn sóng cách mạng của giai cấp vô sản thành thị đã lắng xuống. Phong trào cách mạng ở các thành phố không phối hợp được với phong trào cách mạng ở nông thôn là một sự thực và đó chính là nguyên nhân cǎn bản đã dẫn cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất tới thất bại.

Để bảo đảm chắc chắn cho sự phối hợp hành động giữa giai cấp vô sản và nông dân, đảng của giai cấp vô sản, trước hết ở tất cả các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp, phải quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân. Công tác này không được phó thác cho sự may rủi hay tiến hành gặp chǎng hay chớ, một kiểu giống nhau trên khắp cả nước. Nó phần nào phải ǎn nhịp với phương hướng cơ bản của Đảng về mệnh lệnh và ngày tháng cho các hành động cách mạng khác nhau có thể diễn ra ở bất kỳ một vùng hay một tỉnh nào. Việc tuyên truyền cổ động chính trị hoặc công tác tổ chức y như nhau ở một nước rộng lớn như Trung Quốc chắc chắn sẽ dẫn tới chỗ làm phân tán sức người, sức của. Sự không đồng đều của các tỉnh khác nhau trong đời sống chính trị ở Trung Quốc (cũng như ở các nước tương tự) xác định quyền ưu tiên công tác đảng trong nông dân ở mỗi tỉnh. Do đó, tầm quan trọng về chính trị của Cam Túc, Quế Châu, Quảng Tây và các tỉnh cùng loại khác không thể sánh với các tỉnh Quảng Đông, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô … có các trung tâm thương mại và công nghiệp lớn và giai cấp vô sản đông đúc. Lẽ đương nhiên, việc tuyên truyền cổ động cách mạng cần phải được tiến hành trong nông dân ở mọi nơi, nhưng sức mạnh chủ yếu của Đảng phải được dồn cho một tỉnh hay một vài tỉnh đặc biệt. Nguyên tắc này rút ra từ sự thực được mọi người thừa nhận là ở những nước như Trung Quốc, hiện tại có sự khác biệt rất lớn về điều kiện địa lý, kinh tế và chính trị, cuộc cách mạng (việc giành chính quyền của giai cấp vô sản liên minh với nông dân và dân nghèo thành thị) không thể được hoàn thành như một hành động đơn giản (tức là diễn ra trong một vài tuần hoặc một vài tháng), mà nhất thiết phải trải qua cả một thời kỳ kéo dài ít lâu của các phong trào cách mạng ở các tỉnh khác nhau hoặc các trung tâm công nghiệp và chính trị.

Chắc chắn rồi đây chính quyền Xôviết sẽ được thiết lập ở Trung Quốc trong một vài tỉnh hoặc một số tỉnh có trung tâm thương mại và công nghiệp lớn, đó sẽ là cǎn cứ địa cho sự phát triển nhảy vọt của cách mạng. Ngày mà các vùng lãnh thổ mới, sẽ nhập vào cǎn cứ địa cách mạng ấy sẽ tuỳ thuộc vào cán cân lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, không chỉ ở Trung Quốc mà trên toàn thế giới. Đó là vấn đề chỉ có thể giải quyết được bằng đấu tranh. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, việc củng cố và thống nhất cách mạng Trung Quốc sẽ đòi hỏi nhiều thời gian hơn thời gian cần thiết để tống khứ các lực lượng phản cách mạng ra khỏi nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười ở Pêtrôgrát và Mátxcơva.

Do vậy, khi đảng cách mạng đoán trước được tình thế cách mạng trực tiếp đang tới gần, thì (trong khi tiếp tục giáo dục và vận động giai cấp công nhân) phải chỉ ra được tỉnh nào hay huyện nào là quan trọng nhất theo quan điểm tuyên truyền trong nông dân, phải dồn sự chú ý của Đảng và tập trung các nguồn lực của Đảng cho các tỉnh này. Cùng với sự quan tâm tới công tác tuyên truyền trong nông dân, Đảng cần phải quan tâm sǎn sóc hơn đến những vùng tiếp giáp với các trung tâm chính trị và công nghiệp chính. Điều đó cũng đúng đối với nhiều nước châu Âu (Ba Lan, Pháp, Rumani…).

Khi phong trào cách mạng mạnh mẽ của nông dân bắt đầu sau khi giai cấp vô sản bị thất bại (có nghĩa là sau cách mạng 1905 ở Nga, hoặc ở Trung Quốc sau sự thất bại của giai cấp vô sản nǎm 1927), Đảng phải tự mình thay thế vị trí đứng đầu phong trào nông dân ấy và dẫn dắt nó. Cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp nông dân, đặc biệt nếu nó phát triển thắng lợi ở những vùng có các trung tâm thương mại và công nghiệp quan trọng, là một thứ vũ khí mạnh; nó có thể khích lệ giai cấp công nhân – giai cấp đã bị thất bại và đã hơn một lần rơi vào những ổ phản động, lấy lại thế chủ động và hành động.

Thông thường, bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong nông dân đều nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang (nghĩa là những hoạt động quân sự thực sự của những toán du kích nông dân) chống lại sự lộng quyền của bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, những công chức chính phủ, v.v., đó là điều hoàn toàn cốt lõi để bàn luận công tác quân sự của Đảng trong nông dân suốt thời gian dài.

Không thể giấu mình một cách đơn giản vào những toán nông dân vũ trang đã có vào bất kỳ thời điểm nhất định nào, cũng tựa như không thể tuỳ ý thành lập các đội tự vệ đỏ trong các nhà máy vậy. Cuộc đấu tranh vũ trang của nông dân với tư cách một hình thức đấu tranh quần chúng, xuất hiện trong những tình thế chính trị đặc biệt – khi mà ách áp bức của giai cấp thống trị trở nên không thể chịu nổi và quần chúng nông dân đang ở trong tình thế sôi sục cách mạng sẵn sàng xả thân chiến đấu chống lại trật tự hiện hành. Những hành động tự phát của các toán nông dân vũ trang là dấu hiệu chứng tỏ rằng “quần chúng bị bóc lột và bị áp bức đã nhận thức là không thể tiếp tục sống như trước được nữa mà đòi phải thay đổi” (Lênin), rằng đất nước đang bước vào tình thế cách mạng trực tiếp. Không thể có một phong trào du kích cách mạng trong “hoàn cảnh bình thường và hoà bình” vì nó chứng tỏ sự khởi đầu thời kỳ nội chiến công khai giữa hai bộ phận cư dân.

Kinh nghiệm lịch sử của chiến tranh du kích ở các nước khác nhau chỉ ra rằng thoạt đầu nó được đặc trưng bởi những cuộc giao tranh nhỏ chỉ có ý nghĩa địa phương. Điều đó là do sự non yếu và số lượng hạn chế của các đơn vị du kích, do trình độ nhận thức còn thấp kém về mục tiêu trong nông dân – do họ thiếu kinh nghiệm cách mạng và Đảng vô sản không có ảnh hưởng thoả đáng trong nông thôn. Mục tiêu chính của các toán du kích ở thời kỳ này là bảo vệ nông dân trong vùng khỏi bạo lực của chính quyền phản động, khỏi những lệnh độc đoán của quân đội (trong thời chiến), v.v.. Cho tới cuối thời kỳ này, các đơn vị du kích thường sử dụng hình thức khủng bố cá nhân hay phá hoại chống lại bọn viên chức trong làng, các thương nhân, địa chủ, sĩ quan, cảnh sát, các thủ lĩnh phát xít hoặc các tổ chức Trǎm đen 1 ; tấn công những đơn vị lẻ tẻ đang đi tiễu phạt hoặc tấn công những toán lính nhỏ để tước vũ khí của chúng hoặc giải thoát tù nhân; sử dụng hình thức phá đường bộ và đường sắt; hình thức “sung công”, thu lấy một số lớn tiền; đất nhà cửa…

Những vấn đề liên quan tới việc chiếm chính quyền, sự phối hợp các hoạt động du kích giữa các vùng khác nhau hoặc sự áp dụng các hoạt động này vào cuộc đấu tranh chính trị và kinh tế của giai cấp vô sản thành phố thông thường không được đặt ra ở thời kỳ ban đầu này của nội chiến trong nông thôn. Các khẩu hiệu của chiến tranh du kích chưa mang tính chất giai cấp rõ ràng.

Nhưng rồi do sự bột phát cách mạng diễn ra trong nông thôn, do đối kháng giai cấp ở nông thôn trở nên gay gắt và do ảnh hưởng của giai cấp vô sản tới giai cấp nông dân tǎng lên, các hoạt động du kích sẽ bắt đầu tǎng lên gấp bội. Số lượng các toán du kích tǎng nhanh và tiếp tục bao chiếm những khu vực mới. Các hoạt động của họ cũng trở nên có hy vọng hơn. Cuộc đấu tranh vũ trang của nông dân bị áp bức chống bọn phản động bây giờ bắt đầu mang tính chất quần chúng. Nó sẽ nhanh chóng chuyển từ hành động phòng thủ sang hành động tiến công và sẽ làm cho chính quyền luôn lo sợ về những cuộc tiến công bất ngờ.

Trong thời kỳ này, các toán du kích không còn tự giới hạn hoạt động trong địa phương mình nữa. Họ đã vươn ra khỏi làng hay huyện của mình, dần dần tự chuyển thành những đội quân xuất quỷ nhập thần, liên kết với những toán du kích từ các vùng khác và táo bạo hoạt động trên quy mô rộng. Các mục tiêu của họ bây giờ cũng rõ ràng hơn. Cùng với những cuộc tiến công nhỏ vào các nhà kho – giết những tên đại địa chủ, bọn phản động và bọn cảnh sát, đốt cháy những dinh cơ lớn… bây giờ họ bắt đầu tiến công thường xuyên vào cảnh sát và quân đội, tiến công bất ngờ vào các thành phố nhỏ.

Lịch sử đấu tranh của nông dân trên khắp thế giới minh hoạ một cách phong phú con đường mà phong trào du kích dần dần tự chuyển thành một lực lượng nghiêm chỉnh; thành một lực lượng có khả nǎng cung cấp những người lãnh đạo đích thực, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng có tầm quan trọng lớn lao.

Trong suốt cuộc Bắc phạt, nǎm 1926 và đầu nǎm 1927, quân đội cách mạng của chính phủ Quảng Châu, lúc đầu khi rời tỉnh Quảng Đông chỉ có chừng 90.000 lính mà đã đánh bại quân đội của Ngô Bội Phu, Tôn Truyền Phương và Trương Tôn Xương đông gấp đôi, đó thực sự là một ngoại lệ theo chuẩn mực Trung Hoa. Quân đội Quảng Châu nhỏ bé về số lượng, vũ khí và trang thiết bị nghèo nàn chỉ có thể giành thắng lợi quân sự vĩ đại đó bởi các hoạt động tích cực của các toán du kích nông dân trong vùng địch hậu. Trong suốt cuộc Bắc phạt, đặc biệt là vào lúc đầu, nông dân ở các tỉnh miền Nam và miền Trung lúc đó đã xem quân đội cách mạng dân tộc như là đội quân mẫu mực của cuộc đấu tranh chống bọn đại địa chủ, bọn quý tộc, bọn đế quốc, bọn quân phiệt, đại thể là chống lại tất cả bọn phản động, vì vậy, họ đã ủng hộ không tính toán quân đội dân tộc bằng những hoạt động du kích, những cuộc khởi nghĩa, cắt đường rút lui của quân địch, tiến công bất ngờ vào chúng. Quân đội của bọn quân phiệt vừa phải chống đỡ các cuộc tiến công của quân cách mạng ở ngoài mặt trận, đồng thời phải tổ chức kháng cự tuyệt vọng với các toán du kích nông dân ở hậu phương của chúng. Lẽ tất nhiên, trong hoàn cảnh như vậy không có một đội quân nào có thể chiến đấu có hiệu quả. Quân đội của bọn quân phiệt ở Hoa Nam và Hoa Trung, được chủ nghĩa đế quốc ủng hộ mạnh mẽ, đã tan rã, không thể tránh được trước những đòn tiến công phối hợp của quân đội dân tộc và của nhiều toán du kích nông dân đang tiến công hậu phương của chúng.

Thông qua công tác tiến hành trong nông dân ở các tỉnh do bọn quân phiệt chiếm giữ, Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng đã góp phần đáng kể vào việc tổ chức và lãnh đạo các toán du kích nông dân phá vỡ hậu phương của chúng.

Lịch sử cuộc đấu tranh cách mạng ở Trung Quốc cũng đưa ra một ví dụ tiêu biểu về việc dùng các toán du kích nông dân vào mục đích phản cách mạng. Đầu nǎm 1926, Quân đoàn 2 của Phùng Ngọc Tường đóng ở tỉnh Hồ Nam đánh nhau với quân của Ngô Bội Phu. Do chiến tranh liên miên giữa các phe phái quân phiệt, tỉnh Hồ Nam trở nên tiêu điều, nông dân nghèo khổ xác xơ. Sự nghèo đói của nông dân vẫn tiếp tục diễn ra trong khi Quân đoàn 2 đóng quân ở đấy – 20 vạn binh sĩ tất nhiên phải được nhân dân cấp dưỡng. Sự nghèo đói ấy đã đẩy hàng trǎm ngàn nông dân vào các bǎng cướp. Một số khác tụ tập thành những hội mang tính chất tôn giáo và nửa tôn giáo mà con số hội viên tǎng lên gấp bội trong những nǎm 1925-1926.

Sự bất mãn của nông dân Hồ Nam đã được Ngô Bội Phu khai thác. Những tên tay chân của hắn đã tiến hành tuyên truyền khôn khéo chống lại Quân đoàn 2. Các tổ chức nông dân khác nhau (“Hồng Giáo”, “Trường Đao”, “Bụng rỗng”…) hǎng hái chống lại chế độ mà Quân đoàn 2 đã xây dựng trên đất Hồ Nam; họ tiến công và làm tan vỡ hậu phương của Quân đoàn 2, tiến hành các cuộc tiến công bất ngờ có hệ thống vào các đơn vị nhỏ, kêu gọi lính đào ngũ và gia nhập những toán du kích nông dân…

Do sự thù địch của các tổ chức nông dân bán quân sự, tinh thần của Quân đoàn 2 rệu rã cực điểm. Đội quân 20 vạn người ấy đã tan rã ngay sau những cuộc tiến công đầu tiên của một lực lượng ít ỏi của Ngô Bội Phu.

Ngô Bội Phu đã có thể khai thác những tiềm nǎng cách mạng của nông dân Hồ Nam cho mục đích phản cách mạng. Tuy vậy, khi quân lính của Ngô Bội Phu đặt chân vào tỉnh thì chính những người nông dân ấy, những con người đã từng phẫn uất tiến công Quân đoàn 2, giờ đây lại quay súng chống lại Ngô Bội Phu. Do hành động thù địch của các toán du kích mà y đã bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến đấu chống lại quân đội Quảng Châu.

Ta có thể tìm thấy vô vàn những tấm gương về hoạt động du kích quả cảm trong lịch sử cuộc nội chiến Nga – ở Xibêri, ở Ucraina, ở vùng sông Đông, ở Bắc Côcadơ… – Du kích đã giúp Hồng quân giải phóng đất nước khỏi các lực lượng phản cách mạng: các tướng lĩnh Sa hoàng, bọn địa chủ và tư sản.

Chìa khoá dẫn tới những thắng lợi vững chắc của các toán du kích là sự liên hệ mật thiết với quần chúng nông dân. Hoạt động du kích là việc phi thường trong tình thế cách mạng, là sự sôi sục cách mạng trong quần chúng nông dân. Cuộc đấu tranh du kích phải phản ánh được lợi ích của quảng đại quần chúng nông dân và phải có tình thế cách mạng trực tiếp thì mới có thể giành được thắng lợi. Những đội quân của bọn Culắc do các đảng phái phản cách mạng lập ra một cách hình thức trong nhiều vùng của nước Nga suốt trong cuộc nội chiến đã không và không có thể giành được bất cứ một thắng lợi vững chắc nào, bởi lẽ đội quân đó không phản ánh khát vọng của nông dân, những người cự tuyệt hoàn toàn chiến đấu chống lại chính quyền Xôviết. Những thắng lợi tạm thời của chúng ở tỉnh Tambốp vào nǎm 1920, đã nhanh chóng đi tới thất bại, và đẩy tới sự vùng dậy của quần chúng nông dân chống lại các thủ lĩnh phản cách mạng của chúng.

Những điều kiện của cuộc đấu tranh, quy mô của phong trào cách mạng ở nông thôn; những mục tiêu mà nông dân tự đặt ra, – đó là những nhân tố quyết định các hình thức đấu tranh du kích ở bất kỳ thời điểm nào, ở bất cứ nước nào. Từ những hình thức đó lần lượt mới hình thành tổ chức và cấu trúc các đơn vị du kích. Đảng vô sản luôn có bổn phận phải tính tới những điều kiện cụ thể về thời gian, làm sao có khả nǎng đưa lại cho phong trào du kích những hình thức phù hợp với hoàn cảnh đặc thù ấy và dẫn dắt các hoạt động của nó. Phong trào du kích không chỉ được lãnh đạo về chính trị, mà còn được lãnh đạo về quân sự và chiến thuật.

Các phương pháp chung và công thức phổ biến cho việc tổ chức và chiến thuật là hoàn toàn không thể áp dụng được vào cuộc đấu tranh của các chiến sĩ du kích nông dân. Những hình thức đấu tranh được áp dụng ở Trung Quốc chẳng hạn, khác một cách cǎn bản với những hình thức sẽ được áp dụng ở Pháp. Chỉ riêng mảnh đất hoạt động đã có sự khác nhau rồi chứ chưa nói tới tất cả các loại khác biệt và nét đặc thù khác. Nếu người ta không muốn đi chệch khỏi mảnh đất của chủ nghĩa Mác và có cơ rơi vào sự trừu tượng thì người ta chỉ có thể nói một cách chung nhất về các hình thức và cơ cấu của các đơn vị du kích, chỉ có thể khái quát những vấn đề nguyên tắc chung.

Trước khi khuyên sử dụng một hình thức tổ chức nào đó trong chiến tranh du kích phải xuất phát từ tình hình chính trị trong vùng đang được xem xét mà tiến hành phân tích hết sức cụ thể, chi tiết. Toàn bộ những đặc điểm về lối sống và vǎn hóa của cư dân phải được tính đến cùng với kinh nghiệm đấu tranh giai cấp đã có của nông dân.

Trong toàn bộ mô hình đấu tranh giai cấp, các phong trào du kích đóng vai trò của một nhân tố bổ trợ: nó không có thể tự mình đạt được mục tiêu lịch sử, mà chỉ có thể góp phần giải quyết cái được đưa ra bởi một lực lượng khác – giai cấp vô sản. Theo đó ta thấy rằng mục tiêu đặc thù của các hoạt động du kích là quấy rối và tiêu hao lực lượng phản động, tạo điều kiện thuận lợi cho thắng lợi chung của các giai cấp lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản.

Về phần tổ chức, các điều kiện cǎn bản mà phong trào du kích phải tuân thủ như sau:

a) Tổ chức phải mềm dẻo và cần phải có một số cấp có khả nǎng hoạt động độc lập với nhau;

b) Tổ chức phải cơ động; có khả nǎng hoạt động nhanh; có thể xoay chuyển cực nhanh khi hoàn cảnh đòi hỏi chuyển từ điều kiện bí mật sang công khai và ngược lại, và kết hợp đúng đắn các phương pháp công khai, bán công khai và bí mật;

c) Cấu trúc phải làm sao cho Đảng thực hiện quyền lãnh đạo về chính trị và tác chiến của mình;

d) Cấu trúc phải đơn giản, dễ hiểu đối với quần chúng và phù hợp với phong tục tập quán của họ, bảo đảm tiếp tục phát triển lực lượng mới.

Vào thời kỳ đầu, lúc mà mục tiêu của phong trào còn là bảo vệ nông dân địa phương chống lại sự lộng quyền của bọn phản động, các toán du kích (tức là những nhóm nhỏ ban đầu) được thành lập theo tuyến lãnh thổ. Theo lệ thường, những toán du kích đó còn bí mật. Dần dà, do cuộc đấu tranh giai cấp trở nên gay gắt trong nông thôn và do nó chuyển thành cuộc nội chiến công khai, những nhóm du kích đầu tiên đó nhập lại với nhau để hình thành những đơn vị du kích có quy mô lớn, theo vùng (xã, huyện).

Không thể nói rằng, các đơn vị du kích phải bao gồm những phần tử tiên tiến nhất trong làng mạc (việc này trên thực tế diễn ra lộn xộn). Tuy thế, ở thời kỳ đầu, do nhu cầu phải giữ bí mật, do sự dò la và khiêu khích của các nhà cầm quyền, nên việc tuyển lựa người của các nhóm sơ khai phải được xem xét rất kỹ lưỡng. Về sau, khi phong trào chuyển thành một dòng thác rộng lớn, mạnh mẽ, thu hút vào hàng ngũ du kích tất cả những phần tử tiên tiến và hǎng hái trong các làng mạc thì nguyên tắc giữ bí mật và thẩm tra nhân sự không còn quan trọng lắm. Nhưng việc lựa chọn kỹ những người chỉ huy – những người phải đáng được tin cậy về chính trị và đã được huấn luyện đầy đủ về quân sự, – vẫn luôn luôn là một vấn đề nóng hổi; mọi sự xem thường điểm này chắc chắn sẽ có hậu quả tai hại đối với toàn bộ tổ chức.

Đảng của giai cấp vô sản chỉ có thể lãnh đạo tốt phong trào du kích nếu như Đảng có ảnh hưởng tới nông dân, nếu như nông dân chấp nhận những khẩu hiệu và cuộc đấu tranh của Đảng để thực hiện những khẩu hiệu đó. ở những nước đã có các tổ chức quần chúng nông dân, Đảng cần phải phấn đấu giành ảnh hưởng và hướng dẫn phong trào du kích cả trực tiếp lẫn thông qua các tổ chức quần chúng (đối với các đơn vị du kích do các tổ chức nông dân chỉ đạo một cách đúng đắn). Nơi nào chưa có các tổ chức quần chúng như thế thì Đảng cần phải sử dụng các tổ chức du kích làm công cụ để hướng dẫn nông dân về chính trị. Tổ chức du kích tự nó thực sự phải là đội tiền phong của giai cấp nông dân chân lấm tay bùn – một bộ phận tích cực, đầy tính chiến đấu và lãnh đạo của nó.

Các cuộc khởi nghĩa ở Bungari (nǎm 1923) không phát huy được ảnh hưởng là do, lúc đó lực lượng vũ trang và bộ máy lãnh đạo các đơn vị du kích chưa được tổ chức đúng đắn. Điều đó giải thích vì sao sự phối hợp hoạt động của các đơn vị rời rạc như vậy và lý do vì sao quân đội chính quy điều đến đàn áp các cuộc khởi nghĩa, lại thực hiện được một chiến dịch tương đối dễ dàng như vậy. Đảng Cộng sản chỉ bắt tay xây dựng bộ máy lãnh đạo vào đầu nǎm 1924. Các lực lượng vũ trang nông dân định thành lập hoặc xây dựng lại cho khá hơn thì phải tuân theo cách sau đây: ở cơ sở, toán 6 người (một chỉ huy và 5 chiến sĩ); ba hoặc bốn toán 6 người lập một trung đội và từ 3 đến 5 trung đội lập một đại đội. Trong trường hợp cần thiết, từ 3 đến 5 đại đội ấy có thể kết hợp lại để lập ra một đơn vị lớn.

ở cấp làng, ban chỉ huy làng (về chính trị và quân sự) chỉ đạo tổ chức chiến đấu của nông dân, ở cấp huyện là ban chỉ huy huyện, các đại đội được đặt dưới quyền chỉ huy của nó.

Phải ghi nhận rằng, việc tổ chức các đại đội ở Bungari là dựa trên cơ sở phân biệt khá rõ ràng các chức nǎng để bổ sung cho các đơn vị chiến đấu của một đại đội còn có lính trinh sát, chiến sĩ bắn súng máy, chiến sĩ thông tin liên lạc, v.v..

Nếu như một tổ chức nhận thức đầy đủ như vậy và thành công trong việc tự thích nghi với những điều kiện của khu vực hoạt động và phù hợp với mục tiêu đã chọn, với nhu cầu giữ bí mật, v.v. thì chắc chắn nghĩa quân Bunguri đã thực hiện được một cách có hiệu quả những nhiệm vụ mà họ được trao. Đáng tiếc là, Đảng Cộng sản tổ chức lại các lực lượng du kích theo đường lối đó hơi muộn, đến nỗi trên thực tế không thực hiện được ở một nơi nào cả. Vì vậy, Đảng bắt đầu thấy cần thiết đặt ra vấn đề tổ chức lực lượng vũ trang trong các làng mạc vào lúc làn sóng cách mạng ở Bungari đang ở lúc thoái trào sau thất bại tháng 9-1923.

ở Trung Quốc, cơ cấu các tổ chức chiến đấu của nông dân (“Hồng Giáo” và các tổ chức còn lại) khác với ở Bungari. Đơn vị cơ sở là toán 10 người; những toán đó hợp thành nhóm 100 người và đơn vị 100 người sau đó thường lập thành những đơn vị mạnh hơn.

ở Đức, cuối nǎm 1923, đầu nǎm 1924 các đơn vị du kích nông dân Pomerania và Đông Phổ được tổ chức theo cùng sơ đồ như đại đội 1 vô sản ở thành phố: đội gồm từ 10 đến 15 người, ba hoặc bốn đội lập thành trung đội, hai hoặc ba trung đội lập thành đại đội.

Thật khó lòng mà đánh giá cơ cấu đó hiện có đến mức nào bởi lẽ tổ chức đại đội vô sản Đức đã không phát triển lên nữa; Đảng cũng chỉ bắt tay xây dựng nó vào lúc mà làn sóng cách mạng bắt đầu thoái trào và các tổ chức đó nhanh chóng tan vỡ. Tuy nhiên các đại đội đó về bản chất là sự lập lại cơ cấu đại đội trong quân đội đế quốc (do kinh nghiệm chiến tranh, quần chúng không lạ gì nó). Và vì đại đội vô sản trong các thành phố được quần chúng yêu mến, trong suốt nǎm 1923 (và thậm chí trước đó nữa) nên người ta có thể cho rằng tổ chức theo kiểu đại đội là hình thức tốt nhất phù hợp với điều kiện nước Đức.

ở Nga, suốt trong thời kỳ nội chiến, phong trào du kích về đại thể đã xây dựng theo hình thức như là những đơn vị nhỏ hơn của quân đội chính quy: tiểu đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn kỵ binh. Dần dần, khi Hồng quân tiến công phía trước và du kích đánh sau lưng phối hợp đuổi quân thù ra khỏi vị trí chúng chiếm giữ, các đơn vị du kích hoặc hợp nhất với các đơn vị Hồng quân, hoặc tiếp tục tồn tại như những đơn vị độc lập của Hồng quân – tiếp nhận các sĩ quan chỉ huy, các trang thiết bị từ lực lượng dự trữ của Hồng quân và hoạt động theo mệnh lệnh của chỉ huy tối cao Hồng quân.

Những ví dụ đã nói ở trên về cơ cấu của phong trào du kích ở các nước khác nhau chỉ rõ rằng, về bản chất những nguyên tắc như thế áp dụng ở đây cũng như với các đơn vị cơ sở của quân đội chính quy – nhưng cũng cần phải tính đến những nét đặc thù của từng nước, mục tiêu của phong trào du kích ở từng thời kỳ, vũ khí hiện có (hoặc có thể được trang bị trong quá trình chiến đấu) và cuối cùng là cần phải giữ được bí mật.Nếu như tất cả các điều kiện ấy được tuân thủ, chúng ta sẽ đi tới cơ cấu đặc thù của các đơn vị du kích: ở thời kỳ đầu, những nhóm chiến đấu nhỏ, ít nhiều có cùng nhiệm vụ gồm nǎm, tám hoặc mười người, được hình thành từ làng nọ đến làng kia và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các làng, thông qua các chỉ huy của họ, tới các Uỷ ban quân sự xã, huyện và đại diện của họ tại các làng. Khi phong trào phát triển (cùng với cuộc đấu tranh của nông dân nghèo ngày càng trở nên quyết liệt) các nhóm nhỏ đó hợp thành những đơn vị lớn (trung đội, đại đội, tiểu đoàn).

Những đơn vị đó, đến lượt nó, có thể được tập hợp thành những đơn vị lớn hơn. Trong quá trình đó, nếu các đơn vị du kích nhỏ hợp thành những đơn vị lớn thì cần phải tuân theo nguyên tắc đã được xác lập của khoa học quân sự; khoa học này thừa nhận rằng trong suốt quá trình hoạt động, một chỉ huy không được chỉ huy quá bốn, nǎm đơn vị; bởi lẽ nếu chỉ huy số lượng đơn vị nhiều hơn thế thì nhiệm vụ lãnh đạo sẽ rất khó khǎn và kết quả cuối cùng sẽ bị ảnh hưởng ngược lại. Nguyên tắc này phải được tôn trọng triệt để đối với các đơn vị du kích vì những nét đặc thù của nó và bệnh kinh niên thiếu các vị chỉ huy giỏi trong bản thân du kích. Vấn đề lãnh đạo luôn luôn là một trong những vấn đề họ khó lòng giải quyết được.

Giám sát việc thành lập các đơn vị du kích, việc huấn luyện quân sự của nó và hoạt động của nó ở xã, huyện, tỉnh hoặc trên khắp cả nước, tất nhiên đó là trách nhiệm của từng Uỷ ban chuyên môn trong hội đồng quân sự của Đảng Cộng sản, vì hội đồng này phụ trách toàn bộ công tác quân sự của Đảng. Các đồng chí công tác chuyên trách trong nông dân phải có chân trong hội đồng này. Các hội đồng huyện và xã nhất thiết phải có đại diện quân sự riêng của mình trong nông dân ở từng làng hoặc từng nhóm làng; nhiệm vụ của họ sẽ phải chỉ đạo việc thành lập các đơn vị du kích và huấn luyện quân sự tại chỗ, thông qua vai trò trung gian của những người lãnh đạo (những chỉ huy) có uy tín thuộc các đơn vị du kích cấp thấp hơn và các tổ chức nông dân khác đã có.

Huấn luyện tác chiến cho du kích, trước hết là phải dạy cho họ sử dụng thành thạo các loại vũ khí cầm tay, là một trong những nhiệm vụ chính yếu của những người tổ chức và những người lãnh đạo – trước hết ở những nước mà nông dân chưa bao giờ học nghệ thuật chiến tranh trong quân đội chính quy (tức là những nước có quân đội chuyên nghiệp hoặc hạn chế về quân đội, những nước không dự vào cuộc chiến tranh thế giới vừa qua, hoặc các cuộc chiến tranh khác). Dạy cho du kích biết một ít cách sử dụng các loại vũ khí mà họ có ở thời điểm đặc biệt vẫn chưa đủ; họ cũng cần biết càng nhiều càng tốt cách sử dụng mọi thứ vũ khí mà họ có thể bất ngờ cướp được từ tay kẻ thù. Nguyên tắc cǎn bản ở đây là mỗi một du kích phải được học bắn thành thạo súng trường, các loại súng lục, học ném lựu đạn và học cho thành thạo khi đánh giáp lá cà (giáo, mác, kiếm …).

Một điều cũng rất quan trọng là, mỗi đơn vị du kích cần phải có một số lượng đầy đủ các chiến sĩ trinh sát được huấn luyện thích hợp, các chiến sĩ bắn súng máy, các chiến sĩ thông tin liên lạc, các kỹ sư và y tá. Việc tạo ra một số lượng đầy đủ các chiến sĩ như vậy là một phần trách nhiệm của ban lãnh đạo các đơn vị du kích.

Làm thế nào có thể kiếm được vũ khí để trang bị cho tổ chức du kích mới được thành lập? Đây là một vấn đề khó giải quyết cũng tựa như vấn đề trang bị cho cận vệ đỏ vậy. Tuy nhiên vấn đề này có thể giải quyết được, mặc dù khó khǎn, nhưng ít ra là đủ khả nǎng để có thể chiến đấu đoạt lấy vũ khí. Đại thể, cũng phải nhận rõ rằng không bao giờ có thể tích góp trước một kho vũ khí. Nhất thiết phải dùng mọi cách để có vũ khí: các loại vũ khí thích hợp với nông dân (súng sǎn, súng lục, rìu, thanh sắt, v.v.) cộng thêm lựu đạn và bom mìn, giáo mác và kiếm … Trong những trường hợp nhất định có thể mua súng ngắn. Nhưng nguồn trang bị vũ khí chủ yếu cho du kích sẽ là tập kích vào các kho vũ khí, cướp vũ khí của cảnh sát và các toán lính – tất cả điều đó được thực hiện với khí giới thô sơ có thể kiếm được lúc đầu. Cần phải nhấn mạnh rằng, đối với mỗi phong trào du kích nghiêm chỉnh, việc bổ sung cho kho dự trữ vũ khí và đạn dược của du kích sẽ là một nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài.

Lịch sử phong trào du kích ở Nga, Trung Quốc và ở những nước khác chỉ ra rằng, các đơn vị du kích tiến hành đấu tranh chống lại các nhà cầm quyền và quân đội lúc đầu không có bất kỳ thứ vũ khí nào khác ngoài rìu, thanh sắt, cái chĩa, liềm hoặc gậy gộc. Dần dà, trong quá trình chiến đấu họ cướp được những thứ vũ khí hiện đại cần cho họ (súng trường, súng máy, đại bác, v.v. với các thứ đạn dược cần thiết).

Cuộc đấu tranh du kích, cũng tựa như hoạt động của cận vệ đỏ ở thành phố, phải được tiến hành theo đúng những nguyên tắc cǎn bản của khoa học và chiến thuật quân sự. Tuy vậy, vào thời điểm nhất định, nhất thiết phải tính đến những nét đặc thù về thời gian và điều kiện mà các đơn vị du kích phải hoạt động.

Cũng giống như tổ chức chiến đấu trong thành phố, đơn vị du kích chỉ có thể giành được thắng lợi nếu như mỗi chiến sĩ, đặc biệt là các chỉ huy, biểu lộ tối đa nǎng lực; nếu như, trong các hoạt động chuẩn bị, yếu tố “thời gian” được tuân thủ một cách nghiêm túc; nếu như kế hoạch tác chiến được thảo ra chi tiết từ trước; nếu như các lực lượng được phân công thực hiện từng nhiệm vụ đặc biệt được bày binh bố trận hợp với hoàn cảnh hiện hành; nếu sự hiểu biết tường tận về kẻ thù và địa bàn hoạt động được hoàn tất; nếu như nguyên tắc tiến công bất ngờ được tuân thủ và v.v.. Việc thiếu vũ khí, không có những đơn vị lớn (phân tán các lực lượng), khó khǎn trong việc kiện toàn hệ thống chỉ huy giỏi trên toàn tỉnh hoặc thậm chí trên toàn huyện – những điểm yếu ấy cần phải và có thể được bù đắp bởi những điểm mạnh như bất ngờ, táo bạo và quả quyết trong hoạt động du kích.

Để khẳng định ý tưởng này, chúng ta hãy lấy một trong muôn vàn ví dụ trong lịch sử các chiến sĩ du kích đỏ ở Nga.

Cuối tháng 7-1918, bọn bạch vệ đã bao vây Xôviết huyện San. Làng Platốpxcaia đã bị phân đội Gnilôribốp, với một trǎm sĩ quan và khoảng 200 người Canmức 1 bị cưỡng bức vào lính đánh chiếm. Chúng bắt đầu bắn những người nông dân có thiện cảm với những người bônsêvích. Buđônnưi lập một nhóm 4 người ở ấp Cudôrinô và quyết định tiến công Platốpxcaia để giải thoát tù nhân. Trong đêm 27 rạng ngày 28-7, nhóm này thực hiện một cuộc tiến công táo bạo, giải thoát tù nhân, tước vũ khí của những người lính Canmức đang kinh ngạc và lập tức vũ trang cho những tù nhân vừa được giải thoát. Sau cuộc chiến đấu giáp lá cà ác liệt, một đại đội sĩ quan rút lui để lại cho Buđônnưi chiến lợi phẩm: 2 đại bác, bốn súng máy, 300 súng trường, 60.000 viên đạn và 150 con ngựa với đầy đủ yên cương 2 .

Các đơn vị du kích chừng nào mà chưa nhóm thành một đội quân nông dân đủ mạnh thì không có khả nǎng tiến hành cuộc chiến đấu chống lại quân đội chính quy cùng những trận đánh công kiên hoặc trên đất trống. Trong trường hợp các đơn vị du kích ấy bị quân đội chính quy tiến công thì cách giải quyết tốt nhất đối với họ là tránh đánh nhau hơn là bắt tay tự phòng thủ như quân đội chính quy. Bởi vì, xét thấy điểm yếu liên quan, các chiến sĩ du kích không thể hy vọng giành bất cứ thắng lợi nào trong hành động phòng thủ. Sức mạnh của du kích không nằm trong phòng thủ, mà nằm trong những hành động tiến công táo bạo và bất ngờ. Các chiến sĩ du kích không đủ mạnh về quân sự cho hành động phòng thủ. ở mọi nơi, mọi lúc họ phải kiên quyết vận động; giáng những đòn nhanh và bất ngờ vào quân địch. ở những nơi, những lúc mà chúng ít ngờ tới, và nhanh chóng rút lui và tránh một cuộc giao tranh quyết liệt nếu như hoàn cảnh và cán cân lực lượng ở nơi đặc biệt ấy, ở thời điểm đặc biệt ấy không có lợi cho mình, để rồi làm cho quân thù bạt vía kinh hồn ở một nơi khác.

Trong việc tổ chức các cuộc tiến công trên quy mô rộng vào thành phố, các chiến sĩ, v.v., chỉ huy các đơn vị du kích phải chú ý nhiều tới vấn đề lựa chọn hướng đột kích chủ yếu. Mọi sự cố gắng xuất kích với sức mạnh như nhau ở tất cả các điểm đều có nghĩa làm phân tán lực lượng đã có. Các chỉ huy cần phải tập trung nỗ lực và sự chú ý của mình vào một tuyến tiến công chủ yếu mà họ có hy vọng giành được thắng lợi nhanh chóng và quyết định, chỉ giữ lại sức người, sức của tối thiểu cho nhiệm vụ thứ yếu. Vả lại, trong việc tổ chức phối hợp tác chiến của một số đơn vị nhằm đạt được một mục tiêu nào đó bằng sự bất ngờ thì phải ghi nhớ rằng yếu tố “thời gian” là cực kỳ quan trọng. Việc không tuân thủ hai nguyên tắc chiến thuật đó thường dẫn tới thất bại, thậm chí dẫn tới tiêu vong các đơn vị đang tiến công.

Trong tác chiến kết hợp ấy sự thống nhất chỉ huy cũng đóng vai trò rất to lớn. Không có ban chỉ huy giỏi, hoặc có một vài ban chỉ huy (với mỗi đơn vị đang tác chiến độc lập) là điều không được phép. Kế hoạch tác chiến phải được soạn thảo tập thể và trong khi chiến đấu sự lãnh đạo tập thể phải đưa mệnh lệnh tới những đơn vị tham gia tác chiến. Đó là điều kiện cốt lõi cho kết hợp tác chiến có hy vọng giành được thắng lợi.

Nhu cầu về chỉ huy thống nhất trong các hoạt động du kích là chiến thuật thông thường trong đánh du kích – thực ra là của tất cả các cuộc chiến nói chung. Tuy vậy, kinh nghiệm của cuộc chiến tranh du kích vừa qua, đặc biệt ở Trung Quốc chỉ ra rằng đòi hỏi sơ đẳng ấy không phải bao giờ cũng được tuân thủ hoặc vận dụng trong thực tế. Đã thường xảy ra những trường hợp nhiều đơn vị du kích có cùng mục tiêu nhưng thiếu chỉ huy thống nhất nên đã phân tán những nỗ lực của họ và do đó bị thất bại.

Không thể có tác chiến mà thiếu sự hiểu biết trước một cách kỹ càng. Thông tin chính xác về quân địch, về các vị trí của nó, về điểm mạnh, yếu của nó, về địa thế, đường sá, phương tiện giao thông, cư dân, v.v., tất cả những điều đó phải nhận được từ các đội trinh sát và phải xem là cơ sở của kế hoạch tác chiến. Luồng tin tức thường xuyên của tình báo về đối phương là một yêu cầu cơ bản trong chiến tranh du kích. Trước mỗi cuộc tác chiến, các chiến sĩ du kích cần phải có những hiểu biết đặc biệt về mục tiêu, phải chú ý tới những chi tiết cực kỳ nhỏ bé.

—————————-

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Dự thảo Điều lệ Đảng (2-1925)

Quảng Châu, tháng 2-1925

1- Tên gọi: Đảng của chúng tôi mang tên…

2- Mục đích (Tôn chỉ): a) Hoạt động giác ngộ anh em và giành chính quyền; b) Hoạt động vì hạnh phúc của giai cấp vô sản – người lao động và thợ thủ công.

3- Đảng viên: Toàn thể nhân dân không phân biệt giới tính, tuổi từ 18, tự nguyện tuân theo các quy định của Đảng, biết đọc và viết chữ quốc ngữ đều có thể được kết nạp vào Đảng.

4- Nghĩa vụ của đảng viên:

a) Tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Đảng, không quản hiểm nguy có thể gặp phải;

b) Không khai báo công việc của Đảng cho người nhà và những người ngoài Đảng biết;

c) Yêu thương và giúp đỡ đồng chí;

d) Bí mật tuyên truyền chủ nghĩa của Đảng.

5- Không được kết nạp Đảng:

a) Những người hút thuốc phiện;

b) Những người uống rượu, đánh bạc;

c) Những người làm nghề tôn giáo;

d) Những người đã làm hại cho nhân dân hoặc phản bội Tổ quốc.

6- Tổ chức hành chính: Đảng chúng tôi có các chi bộ trong mỗi tỉnh lỵ, phủ, huyện, thôn xóm, làng bản trong cả nước.

Đảng viên thuộc đảng bộ cấp cao sẽ tổ chức ra các đảng bộ cấp dưới của mình.

7- Số lượng đảng viên mỗi chi bộ ấn định là 10 người.

8- Mỗi đảng viên không được cùng lúc sinh hoạt tại 2 chi bộ.

9- Khi một chi bộ mới thành lập, sẽ tiến hành bầu một người lãnh đạo chi bộ.

10- Tổ chức kinh tế: Mỗi đảng viên sẽ phải tham gia vào tổ chức kinh tế của phân ban của mình. Như vậy, Giáp, thuộc chi bộ của huyện, làm nghề trồng trọt, thì sau khi thành lập chi bộ cấp dưới sẽ phải tổ chức ra ban nông dân. ất, thuộc chi bộ làng, làm nghề thủ công, sau khi lập chi bộ thôn sẽ phải tổ chức ban thợ thủ công, và cứ tiếp tục như vậy…

11- Hàng tháng, người đứng đầu chi bộ thôn sẽ báo cáo tình hình của ban cho lãnh đạo chi bộ làng; người này cũng làm báo cáo như vậy gửi lên người phụ trách ban của xã, v.v..

12- Tổ chức kinh tế và hành chính là thống nhất đối với mỗi chi bộ. Tuy nhiên không có sự giới hạn nào về địa dư có thể áp đặt đối với tổ chức kinh tế.

13- Các khoản chi tiêu: Các khoản chi tiêu của Đảng do đảng viên đảm trách.

Mỗi đảng viên đóng 1 đồng 20 một nǎm; đảng viên nghèo chỉ đóng 0 đ 60.

14- Tuyên thệ: Chỉ sau khi tuyên thệ đảng viên mới sẽ được coi như thành viên của một chi bộ. Lễ tuyên thệ sẽ được tiến hành như sau: Ban đêm, tại một nơi thanh vắng, người mới kết nạp đứng trước mặt người đứng đầu chi bộ của mình, thắp hương, giết một con gà trống và đọc những lời sau: “Đêm nay, tôi xin thề gia nhập chi bộ này để hoạt động a) vì tự do cho đồng bào tôi, b) vì hạnh

phúc cho những người nông dân bị áp bức; vì mục đích này, trước hết tôi tham gia lật đổ các quốc gia đế quốc chủ nghĩa và xâm lược nhằm lập nền tự trị cho đất nước; sau đó, tôi sẽ chiến đấu chống lại sự phân biệt giai cấp xã hội và tham gia vào cách mạng thế giới, đó là mục tiêu cuối cùng chúng ta theo đuổi. Tôi xin thề không màng phú quý, giàu sang hay bất kỳ lợi ích cá nhân nào, xin thề tuyệt đối tuân theo mọi mệnh lệnh của Đảng. Tôi xin thề hy sinh tính mạng cho Đảng, không làm gì tổn hại cho Đảng.

Nếu tôi tiết lộ bí mật của Đảng, bội lời thề với Đảng, thoái hoá và làm hại đến học thuyết của Đảng, thì tôi sẽ chịu chung số phận như con gà này”.

Nǎm… tháng… ngày.

Xin thề

15- Điều lệ này là tạm thời và có thể được sửa đổi tuỳ theo hoàn cảnh.

————————-

Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám và giá trị của độc lập,tự do

Cách mạng Tháng Tám và giá trị của độc lập,tự do

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Nếu chúng ta không vươn lên để đuổi kịp các nước đi trước, chúng ta khó lòng bảo đảm được một cách đầy đủ quyền độc lập của mình – TS. Nguyễn Sĩ Dũng viết.

63 năm đã trôi qua kể từ ngày 19/8 năm 1945 – ngày nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã làm nên Cách mạng tháng Tám lịch sử. Kỷ niệm ngày này là dịp để chúng ta tiếp tục nhìn nhận về những giá trị mà Cách mạng đã mang lại cho dân tộc.

Độc lập và hội nhập: Hai giá trị to lớn nhất mà tháng Tám đã mang lại cho dân tộc ta là độc lập và tự do. Mặc dù để bảo vệ thành công hai giá trị này, nhân dân đã phải tiếp tục chiến đấu và hy sinh thêm 30 năm nữa.

Độc lập là giá trị vĩnh hằng, nhưng không phải là một giá trị bất biến. Nó luôn luôn phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc.

Đất nước Việt Nam đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ của hội nhập và toàn cầu hóa. Trong thời kỳ này, độc lập vừa là sự tự chủ, cũng vừa là sự hợp tác với bên ngoài. Độc lập vừa là tinh thần tự lực, tự cường, cũng vừa là sự tiếp thu thành tựu của thế giới, sự tận dụng các nguồn lực của thế giới để vươn lên.

Nếu chúng ta không vươn lên để đuổi kịp các nước đi trước, chúng ta khó lòng bảo đảm được một cách đầy đủ quyền độc lập của mình.

Mối quan hệ giữa tính độc lập và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc trong thế giới hôm nay là biện chứng. Không có bản sắc, không có những giá trị đặc trưng của riêng mình, chúng ta khó lòng bổ sung được giá trị gia tăng cho thế giới và khó lòng trở thành một phần cấu thành hữu ích của thế giới.

Tuy nhiên, không tiếp nhận luật chơi chung, không hợp tác và không tận dụng các thành tựu của thế giới, chúng ta sẽ bị gạt ra bên lề và bị bỏ lại phía sau. Độc lập không loại trừ hội nhập, và hội nhập không tước bỏ giá trị của độc lập.

Trong thời Pháp thuộc, chúng ta không có quyền tự quyết, thực dân Pháp đã áp đặt rất nhiều thứ cho dân tộc ta, kể cả hệ thống pháp luật và chế độ chính trị. Ngày nay, chúng ta đã giành được toàn quyền tự quyết. Tuy nhiên, tự quyết không có nghĩa là muốn quyết thế nào cũng được.

Càng hội nhập sâu hơn, chúng ta càng phải có những quyết sách phù hợp hơn với luật chơi chung. Cân đối giữa bản sắc dân tộc và chuẩn mực quốc tế là một sự cân nhắc khó khăn. Tuy nhiên, ngoài tầm trí tuệ, sự nhạy cảm và bản lĩnh của chính mình, chúng ta không thể trông chờ vào sự mách bảo của bất kỳ ai.

Trao cơ hội cho kẻ yếu

Giá trị to lớn thứ hai mà Cách mạng tháng Tám mang lại là tự do. Tự do cũng là một giá trị vĩnh hằng, nhưng cũng không phải là một giá trị bất biến.

Tự do đóng vai trò quan trọng đối với sự giàu có và thịnh vượng của đất nước. Bởi vì tự do là động lực, đồng thời cũng là công cụ để phân bổ tối ưu mọi nguồn lực của đất nước. Không có tự do, một cá nhân không thể phát huy hết tiềm năng và sức mạnh sáng tạo của mình, không thể tự hoạch định và “mưu cầu hạnh phúc” cho mình. Không có tự do, nguồn nhân lực và tài lực của đất nước khó có thể được phân bổ hợp lý tối đa. Tuy nhiên, tự do không đương nhiên mang lại cho chúng ta công bằng – một trong những giá trị mà dân tộc ta đã đổ máu xương để theo đuổi trong gần suốt cả thế kỷ XX và cho đến nay. Ngược lại, tự do và cơ chế thị trường có thể làm cho sự phân cách giàu nghèo có thể ngày càng mở rộng.

Cân đối giữa tự do và công bằng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của hệ thống chính trị hôm nay. Bởi vì mọi sự thiên lệch đều rất dễ dẫn đến những hậu quả bất lợi.

Nếu chúng ta chỉ coi trọng tự do, tiền sẽ chỉ được tập trung cho những người biết kiếm ra nhiều tiền nhất, đất chỉ được tập trung cho những người biết khai thác đất hiệu quả nhất. Kinh tế nhờ đó có thể sẽ phát triển nhanh chóng hơn. Thế nhưng, đại đa số những người bình thường khác thì thì sẽ ra sao? Xã hội có thể ổn định được bao lâu?

Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ coi trọng công bằng, thì không khéo động lực kinh doanh và sáng tạo sẽ bị triệt tiêu. Trong một xã hội không ai có động lực để làm ra của cải nhiều hơn người khác, thì kinh tế sẽ đình đốn và sẽ xảy ra đói nghèo. Làm như vậy, không khéo chúng ta sẽ trở lại vết xe đổ của thời kỳ bao cấp, một thời kỳ trì trệ và khốn khó.

Như vậy, phải tận dụng cơ chế thị trường, nhưng đồng thời cũng phải phấn đấu để bảo đảm công bằng xã hội. Và nếu triết lý của cơ chế thị trường là kẻ mạnh hơn phải thắng, thì triết lý của dân chủ là kẻ yếu hơn phải có cơ hội.

Kết hợp cơ chế thị trường với việc mở rộng dân chủ và bảo đảm quyền tham gia quyết định của người dân phải là phương châm hành động của chúng ta trong thời kỳ mới.

Nguồn tin: TS. Nguyễn Sĩ Dũng
lagi.gov.vn

Những Nghị quyết Trung ương của Đảng dẫn tới thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Tháng 9/1939, Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ. Tình hình quốc tế và ở Đông Dương có nhiều biến đổi sâu sắc. Chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám 1945, Đảng ta liên tiếp tổ chức 3 cuộc Hội nghị Trung ương (lần thứ 6, tháng 11/1939; lần thứ 7, tháng 11/1940 và lần thứ 8, tháng 5/1941) bàn việc chuyển hướng chiến lược, khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11/1939) quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ, nhằm đấu tranh đánh đổ thực dân Pháp, vua quan nhà Nguyễn và bọn tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện tự do, bình đẳng, hòa bình và hạnh phúc cho nhân dân.

Sau Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), Nhật nhảy vào Đông Dương. Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7 (tháng 11/1940). Nghị quyết Trung ương 7 nhận định việc Pháp đầu hàng Nhật làm cho Đông Dương rơi vào cảnh “một cổ hai tròng”, vừa bị thực dân Pháp đàn áp, vừa bị phát xít Nhật hành hạ. Kẻ thù mà nhân dân Đông Dương cần phải đánh đổ trong lúc này là thực dân Pháp và phát xít Nhật. Đồng thời, Nghị quyết Trung ương 7 xác định, tính chất của cách mạng Đông Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, diệt trừ phong kiến, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập và người cày có ruộng. Nghị quyết còn xác định, quyền lãnh đạo cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương là giai cấp công nhân Đông Dương.

Trong thời gian này, ở Việt Nam nổ ra ba cuộc khởi nghĩa do nhân dân các địa phương tiến hành: Khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940); Khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940) và Khởi nghĩa Đô Lương (9/1941).

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, triệu tập và đề ra Nghị quyết: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Tất cả mọi vấn đề của cách mạng, cả vấn đề điền địa phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết”.

Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, không còn thích hợp với tình hình mới.

Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nhận định rằng “cuộc cách mạng Đông Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Hội nghị chỉ rõ, khi thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”.

Tháng 02/1943, Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Võng La (Đông Anh) nhận định “kẻ thù số một của dân tộc Đông Dương lúc này không phải tất cả đế quốc chủ nghĩa mà chỉ là đế quốc phát xít, đặc biệt là phát xít Nhật – Pháp”. Hội nghị chủ trương toàn bộ công tác của Đảng trong lúc này phải nhằm vào việc chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền.

Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Tiếp đó, ngày 12/3/1945, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng ở Đình Bảng (Bắc Ninh) Nghị quyết nêu rõ “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Đồng thời phân tích: Cuộc đảo chính đã tạo ra một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc làm cho những điều kiện của cuộc khởi nghĩa vũ trang mau chóng đi đến chín muồi. Hội nghị xác định “đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính – kẻ thù cụ thể trước mắt – duy nhất của nhân dân Đông Dương” và quyết định thay khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” trước đây bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”. Hội nghị nhận định cao trào cách mạng đã bước vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, vì thế cần thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp để động viên đông đảo quân chúng tham gia kháng Nhật cứu nước.

Chủ trương của Đảng thực hiện khởi nghĩa từng phần và xây dựng căn cứ địa được thực tế chứng minh là đúng. Căn cứ địa phát triển tới đâu, lực lượng vũ trang, bán vũ trang phát triển tới đó. Đảng nêu cao quyết tâm: “Phải đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Tháng 8/1945, tình thế trực tiếp cách mạng xuất hiện, ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức khai mạc ở Tân Trào (Tuyên Quang). Tham dự Hội nghị có đủ đại biểu các đảng bộ Bắc, Trung, Nam và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài.

Sau khi phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan, Hội nghị nhận định “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai của chúng trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam tước khí giới quân đội Nhật.

Sau ba ngày làm việc, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã bế mạc vào ngày 15/8/1945 trong không khí cả nước sôi sục khí thế tổng khởi nghĩa.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do Bác Hồ làm Chủ tịch…

Bức tranh tái hiện Bác Hồ chủ trì Đại hội Quốc dân tại đình Tân Trào ngày 16/8/1945 để chuẩn bị tổng khởi nghĩa. (Ảnh TL, TNN st)

Cách mạng Tháng Tám 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Sức mạnh của nhân dân trong cuộc cách mạng như triều dâng thác đổ. Chỉ trong 15 ngày, từ 14 đến 28/8, nhân dân các địa phương trong cả nước đã nổi dậy, giành chính quyền thắng lợi. Quyền thống trị của bọn đế quốc (Pháp, Nhật) suốt gần một trăm năm và chế độ quân chủ tồn tại hàng nghìn năm đã bị nhân dân ta lật đổ hoàn toàn.

Ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập”.

NGUYỄN XUYẾN
binhthanh.hochiminhcity.gov.vn

Chuyện kể về những người treo khẩu hiệu ngày Cách mạng Tháng 8

(Dân trí) – Bác nói “Cách mạng tháng Tám là do Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh gian khổ với thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có ai đến giải phóng cho ta đâu mà phải hoan hô họ?!”.

Buổi lễ mít tinh ngày 20/8/1945, tại đường Paul Bert. (ảnh tư liệu)

Những ngày sau Cách mạng tháng Tám, Hà Nội rợp bóng đỏ của cờ và khẩu hiệu. Bấy giờ ta đang chuẩn bị đón quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí của quân Nhật đã đầu hàng.

Trên nhiều đường phố của Thủ đô, có những khẩu hiệu được viết bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga trên băng đỏ, chữ vàng: Nước Việt Nam của người Việt Nam, Độc lập hay là chết!, Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta…

Một hôm, có hai người tuổi ngoài ba mươi đi trên hè phố, vừa đi vừa hân hoan ngắm nhìn cảnh tượng phố xá tưng bừng như trong buổi mới. Chợt một người chỉ lên một tấm biểu ngữ chăng ngang nói với người kia: “Khoa này, những khẩu hiệu và cờ như choàng cho thủ đô chiếc áo ngày cưới”.

Người vừa nói đó là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, còn người tên Khoa chính là đạo diễn điện ảnh tương lai Phạm Văn Khoa. Hai ông được Hội Văn hóa cứu quốc giao trách nhiệm treo các khẩu hiệu thể hiện ý chí của dân tộc Việt Nam khi quân Đồng minh vào Hà Nội. Công việc được thực hiện, hai ông đi kiểm tra một lượt, đồng thời cũng để tận hưởng niềm vui chiêm ngưỡng thành quả của mình…

Không ngờ, tối hôm ấy, các ông được biết Hồ Chủ tịch chỉ thị phải dỡ bỏ ngay khẩu hiệu Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta. Bác nói: “Cách mạng tháng Tám là do Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh gian khổ với thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có ai đến giải phóng cho ta đâu mà phải hoan hô họ?!”. Thế là, ngay lúc đêm hôm, Nguyễn Huy Tưởng và Phạm Văn Khoa mượn xe cam nhông của Tòa thị chính đi các phố gỡ các khẩu hiệu non yếu về chính trị kia…

Câu chuyện này được đạo diễn Phạm Văn Khoa kể trong bài Những lời Bác dạy khi được tin Bác mất. Bài viết thể hiện nỗi tiếc thương vô hạn của tác giả đối với lãnh tụ. Đồng thời cũng là một kỷ niệm có nhiều ý nghĩa về hoạt động của Hội Văn hóa cứu quốc những ngày đầu mà bác Phạm Văn Khoa và cha tôi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, là hai trong số những thành viên nòng cốt.

Đạo diễn Phạm Văn Khoa (thứ ba từ phải sang) tại một liên hoan phim.

Riêng với tôi, câu chuyện mà bác Phạm Văn Khoa kể đã bổ khuyết rất nhiều cho những gì tôi được biết về bác, trước hết là qua nhật ký của cha tôi – cố nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Tháng 3 năm 1960, cha tôi ghi lại một sự việc mà ông cho là “khá thảm”. Họa sĩ Nguyễn Sáng có một bức sơn mài “Hà Nội trong đêm” được treo ở Câu lạc bộ quốc tế. Do cái tên tranh, người phụ trách câu lạc bộ cho là một đề tài lạc hậu, nên quyết định hạ xuống. Người ta gỡ tranh ra, giữ lại cái khung, còn bức tranh vứt vào một xó rồi gọi bán.

Đạo diễn Phạm Văn Khoa tình cờ đi qua, hỏi giá, thấy nói khoảng 100 đồng thì mừng quá. Ông vội về nhà bán chiếc xe đạp và một số thứ khác nữa cho đủ số tiền (bấy giờ 100 đồng là rất to). Nhưng đến lúc ấy thì cũng đã nhiều người biết chuyện, các vị ngoại giao đoàn và chuyên gia quốc tế nhao nhao hỏi mua. Một người Rumani đã trả tới 700 đồng. Người phụ trách câu lạc bộ thấy thế, đoán bức tranh có giá trị, bèn không bán nữa.

Ghi lại sự việc ấy, cha tôi không có ý định tả chân ai, mà ông chỉ thổ lộ một nỗi “buồn cho nghệ thuật”. Vô hình trung, đạo diễn Phạm Văn Khoa đã tô đậm thêm rất nhiều tính hài hước trớ trêu của câu chuyện. Bấy giờ, xe đạp còn là của quí hiếm. Chỉ một số ít người mới có được.

Với một người đi làm Nhà nước như bác Khoa, chiếc xe đạp là vật không thể thiếu, để đạp đi làm, đi họp, đi liên hệ công tác… Không có nó khác nào như bị chặt chân. Thế mà ông đã dám bán chiếc xe đi, mà là bán vội bán vàng, những mong đổi lấy một nghệ phẩm bị người ta cho là “đề tài lạc hậu”!

Đạo diễn Phạm Văn Khoa quả là người yêu hội họa. Người viết bài này từng có lần được theo mẹ đến thăm đạo diễn. Bấy giờ là đầu năm 1979, đang thời bao cấp khó khăn. Trong lúc bác lúi húi pha trà, bóc bánh mời khách, tôi tranh thủ ngắm nhìn xung quanh. Khắp bốn bức tường nhà bác đều có treo tranh, những bức tranh mà tôi biết là rất quí vì bác vốn là người sành hội họa. Nhưng tôi khó có thể hình dung, làm sao bác có được từng ấy báu vật?

Có lẽ, với một người nổi tiếng quảng giao và lắm bạn như đạo diễn Phạm Văn Khoa, những bức tranh mà bác có là được bạn bè tặng cho, chứ dễ gì lần nào bác cũng có thể bán xe đạp mà mua cho được! Nhưng dù là được cho hay mua được, trước hết phải có lòng say mê nghệ thuật lắm mới được người ta chọn mặt gửi vàng, giao phó cho những bức tranh như thế…

Điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp, điều này xem ra thật hợp với đạo diễn Phạm Văn Khoa, tác giả của các bộ phim nhựa nổi tiếng Lửa trung tuyến, Chị Dậu, Làng Vũ Đại ngày ấy… Vợ ông là nữ diễn viên sân khấu Bích Châu, đồng thời cũng là một người chơi piano có tiếng. Căn phòng của ông ở ngõ Phan Chu Trinh, Hà Nội thường vang tiếng dương cầm, mỗi khi có bạn bè đến chơi, muốn thưởng thức âm nhạc.

Ở bài viết này, tôi xin mượn lời một bài báo để được nói về sự say sưa, nhiệt huyết của người nghệ sĩ Phạm Văn Khoa khi làm nghệ thuật, bất kể là sân khấu, điện ảnh hay gì gì đi nữa. Tác giả Trung Sơn, trong bài Đạo diễn Phạm Văn Khoa và mùa thu Hà Nội có kể rằng, năm 1953, ngành điện ảnh quốc gia được thành lập ở chiến khu Việt Bắc. Ông Phạm Văn Khoa ngay từ khi đó đã mơ mộng “rồi ta có xtuy-đi-ô, nào đường ray quay tra-ven-linh, còn đèn pha lóa sáng cả núi rừng…”.

Và mặc dù đang còn phải lo gây dựng cơ quan với tranh, tre, nứa, lá, ông đã nghĩ tới việc làm phim truyện, nên cho khênh ở đâu về chiếc piano cũ kỹ, để chuẩn bị âm nhạc cho các bộ phim tương lai. Thế là, phim chưa biết bao giờ mới làm, nhưng tiếng đàn đã được cất lên trong rừng khuya, nghe thánh thót, sang trọng…

Nguyễn Huy Thắng
dantri.com.vn

Cuộc khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 giành chính quyền về tay nhân dân Cần Thơ

Cuộc khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 giành chính quyền về tay nhân dân Cần Thơ

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, tình hình trong nước hết sức rối ren, cuộc sống của nhân dân càng thêm thống khổ bởi chính sách đàn áp, vơ vét của Nhật. Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương “Đánh đuổi Pháp – Nhật” , phát động phong trào chống Nhật cứu nước, tạo cao trào cho tổng khởi nghĩa. Tỉnh ủy Cần Thơ gấp rút xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, nhanh chóng tập hợp lực lượng nhất là nắm các tôn giáo (Cao Đài, Hòa Hảo). Đồng thời, Liên tỉnh ủy miền Tây được thành lập nhằm củng cố vững chắc cơ cấu lãnh đạo phong trào quần chúng ở các tỉnh miền Tây.

Chớp thời cơ quân Nhật thất thủ và suy yếu trên mặt trận quốc tế, Đảng ta cho xây dựng tổ chức Thanh niên Tiền phong do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng đầu vào tháng 5/1945 tập trung thanh niên đi theo cách mạng, đây là kế sách “gậy ông đập lưng ông” khéo léo và kịp thời trước khi Nhật kịp thực hiện âm mưu lôi kéo thanh niên ta vào hàng ngũ của chúng. Ngày 20/6/1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong Cần Thơ chính thức thành lập với hơn 7 vạn thanh niên tham gia tổ chức. Song song với lực lượng quần chúng lớn mạnh, lực lượng cán bộ lãnh đạo cũng được củng cố với sự phát triển các chi bộ Đảng tại địa phương. Nhận thấy thời cơ đang đến gần, Tỉnh ủy các địa phương quyết định khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang, tập dượt ngày đêm và chuẩn bị vũ khí cho cuộc tổng khởi nghĩa.

Ngày 12/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, quân Nhật đóng tại các nước tê liệt. Ở Đông Dương, chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim sụp đổ. Thời cơ tổng khởi nghĩa đã thực sự chín muồi. Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân ra lệnh tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Ngày 17/8/1945, tỉnh ủy Cần thơ họp bàn khởi nghĩa, 19/8 triệu tập hộI nghị thành lập “Ủy ban Dân tộc Giải phóng’.

Cuộc khởi nghĩa tại các địa phương liên tiếp thắng lợi, khí thế cách mạng dâng cao, địch lại càng hoang mang tột độ.

Sáng sớm 26/8/1945, trên 20.000 đồng bào tỉnh Cần Thơ giương cao khẩu hiệu “Chính quyền về tay nhân dân”, “Nước Việt Nam độc lập muôn năm”. Sau khi nghe lời hiệu triệu của Ủy ban dân tộc giải phóng, đoàn biểu tình vũ trang tuần hành khắp đường phố và tập trung tại Dinh Xã Tây đòi Tỉnh trưởng tay sai giao chính quyền lại cho Ủy ban dân tộc giải phóng tỉnh Cần Thơ, trước khí thế hừng hực của quần chúng, tỉnh trưởng Lưu Văn Tào buộc phải chấp nhận yêu cầu của nhân dân, ra lệnh giải tán chính quyền bù nhìn và xin chính quyền cách mạng cho làm công dân của nước Việt Nam độc lập. Cuộc khởi nghĩa ở Cần Thơ đã thắng lợi, chính quyền đã thuộc về tay nhân dân, do Ủy ban dân tộc giải phóng lãnh đạo.

Ngày 28/8/1945, Ủy ban Hành chính tỉnh Cần Thơ được thành lập.

Cùng với cả nước, nhân dân tỉnh Cần Thơ đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi. Đây là thắng lợi đỉnh cao của cao trào cách mạng 1929-1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nguồn tin: cantho.gov.vn
canthotoday.com

Báo chí Việt Nam nói về Cách mạng tháng 8/1945

(VOV5)- Hôm nay 19/8 toàn dân Việt Nam kỷ niệm thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhân dịp này các báo xuất bản tại Việt Nam đều đăng trên trang nhất nhiều tin, bài về các hoạt động kỷ niệm, cùng các bài xã luận về ý nghĩa và bài học lớn mà cuộc cách mạng này để lại đến nay vẫn nguyên giá trị.

Lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay

Báo Quân đội Nhân dân, trong bài xã luận đăng trên trang nhất, khẳng định: Một trong những bài học quý bái của cuộc cách mạng đó chính là sự quy tụ, tập hợp và phát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cách mạng tháng Tám là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử. Nhiều bài học quý báu về lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cách mạng đã được Đảng Cộng Sản Việt nam đúc kết và vận dụng thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 tiếp tục được Đảng vận dụng, phát huy ở một tầm cao mới. Đảng đã phát huy hiệu quả sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, tạo ra nguồn lực để đưa đất nước đến những thành công mới.

Trong bài xã luận nhan đề “Phát huy tinh thần cách mạng tháng Tám, vượt mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi lên!”, báo Nhân dân nhấn mạnh: Thành quả và những bài học lịch sử quý báu của Cách mạng tháng Tám là khởi nguồn của những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được trong các cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, đại thắng mùa xuân 1975.

Mang tinh thần Cách mạng tháng Tám vào trận tuyến chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới suốt 26 năm qua, tạo thế và lực đưa đất nước tiến vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

VOV5
vovworld.vn

GS.DS. Đỗ Tất Lợi và những ngày Tháng Tám sôi sục

Kỷ niệm Ngày Cách mạng tháng tám thành công (19/8/1945):

LTS: GS. Đỗ Tất Lợi sinh ngày 1/2/1919 tại Phù Xá, Kim Anh, Phúc Yên (nay là Phú Minh, Sóc Sơn, Hà Nội). Phụ thân là ông Đỗ Văn Kiêm, một người trồng na, nuôi hươu. Do vậy, từ bé cậu Lợi đã yêu thích cỏ cây, chim thú. Ông nội của Đỗ Tất Lợi là Đỗ Văn Phong do hoạt động trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục mà bị thực dân Pháp đầy biệt xứ. Sau này ông cụ trốn về nước tiếp tục hoạt động bí mật chống Pháp cho đến lúc qua đời tại Chợ Lớn. Truyền thống yêu nước của gia đình cộng với nhận thức của bản thân đã góp phần tạo nên một nhà khoa học yêu nước sau này. Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, chúng tôi xin trích đăng bút ký Nhà bác học thuốc Nam của GS. Hàm Châu viết về cố GS.DS. Đỗ Tất Lợi với những dòng hồi ức của chính giáo sư về những ngày tháng 8 lịch sử.

Ai dán báo Việt Minh nơi tủ kính?

Năm 1944, trong toàn cõi Đông Dương thuộc Pháp, chỉ có 6 người tốt nghiệp dược sĩ đại học. Đỗ Tất Lợi nằm trong con số ít ỏi ấy.

Ông thuê một ngôi nhà ở góc Bờ Hồ – Hàng Gai để mở hiệu thuốc, một vị trí lý tưởng chỗ ngã năm.

Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp.

Khi DS. Lợi vừa chữa xong ngôi nhà, treo biển, thì bọn Nhật đến, đòi chiếm lấy để làm phòng thông tin! Chả là vì nơi đây đông người qua lại. DS. Lợi không chịu. Nhưng, cuối cùng, đành nhượng bộ cho chúng sử dụng hai tủ kính về phía Bờ Hồ để dán mấy tờ báo thân Nhật. Hằng ngày, nhân viên phòng thông tin của chúng từ phố Tràng Tiền đến thay báo, rồi yêu cầu ông dược sĩ… “trông coi”!

Một buổi sáng, trong khi ông đang mải miết làm việc, thì bỗng thấy phía trước tủ kính người đông nghịt! Có gì lạ vậy? Thì ra Việt Minh đã lọt vào hiệu thuốc từ lúc nào rồi, bóc mấy tờ báo phản động kia đi, dán vào đấy mấy số báo Cứu Quốc! Mấy số báo ấy DS. Lợi đã đọc trước đó, nhưng phải đọc lén vào lúc nghỉ trưa, sau khi khoá trái các cửa, nhân viên ra ngoài hết cả rồi. Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh, một người bạn thân thời trung học, chuyển cho ông đọc đều đặn báo của Việt Minh.

Ai dám dán mấy số báo kia ngoài tủ kính thế nhỉ? Ông cảm thấy vừa mừng, vừa phục, vừa lo. Nếu bọn Nhật đến, sẽ phải đối phó sao đây? Chưa biết thế nào, nhưng thôi, ông cứ liều kéo dài thời gian mở cửa hiệu thuốc tới 10 giờ đêm (thường chỉ tới 5 giờ rưỡi chiều) cho dân chúng tha hồ xem báo.

KTS Ngô Huy Quỳnh có người cháu gái là Ngô Minh Nguyệt làm công ở hiệu thuốc. Về sau, DS. Lợi mới biết Nguyệt là người của Việt Minh. Cô đưa cho ông mấy tờ tín phiếu để ông mua, góp quỹ Việt Minh. Rồi cô khuyên ông nên quyên góp thuốc sốt rét, thuốc đỏ, bông băng gửi lên chiến khu Cao – Bắc – Lạng…

Người thứ hai, anh Phạm Văn Phong, nhân viên thu tiền ở hiệu thuốc, hoá ra cũng là cán bộ Việt Minh!

Thảo nào mà mấy số báo Cứu Quốc kia được dán ở hai cái tủ kính!

Lễ Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội ngày 2/9/1945 (Hình ảnh tư liệu Cách mạng Tháng Tám năm 1945).

Tay không, chiếm trại bảo an binh

Với bản tính sôi nổi, chân thành và cởi mở, GS Đỗ Tất Lợi kể lại những ngày đầu “non nớt” đến với cách mạng.

“Năm 1945, tôi mới 26 tuổi, còn trẻ lắm. Rất may – ông nói – tôi được gần gũi nhiều cán bộ Việt Minh, từ kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đến cháu Ngô Minh Nguyệt. Tôi coi việc giành độc lập là tiên quyết. Phải có độc lập rồi, thì người trí thức “bản xứ” mới được tôn trọng. Cho nên anh Quỳnh, cháu Nguyệt bảo tôi làm gì cho công cuộc giải phóng, là tôi làm liền; nếu bảo cần đóng cửa hiệu thuốc, tôi cũng sẵn lòng.

Giờ Tổng khởi nghĩa tới rồi! Tôi cho may một lá cờ đỏ sao vàng thật to treo trước cửa hiệu thuốc. Ông Hoàng Mộng Giác, một dược sĩ già ở gần phố Hàng Gai, ngạc nhiên chỉ vào lá cờ đỏ to tướng ấy, hỏi tôi bằng tiếng Pháp: “‘Tu es communiste, toi?” (Cậu là cộng sản, chính cậu?) Tôi trả lời ngay: “Pourquoi pas?” (Tại sao không?) Thú thật, khi trả lời như vậy, tôi chẳng biết Việt Minh có phải là cộng sản hay không! Và cộng sản là như thế nào, tôi cũng chẳng rõ! Tôi chỉ biết, những lời kêu gọi, những điều viết trên báo Cứu Quốc và những việc làm của cán bộ Việt Minh thì ai là người Việt Nam có chút lòng yêu nước cũng phải tán thành.

Chưa bao giờ tôi say sưa vui sướng hơn những giờ phút theo đoàn biểu tình đi chiếm trại bảo an binh ngày 19-8! Đến gần trại, tôi cố len lên phía trước để được nhìn tận mắt và được góp sức vào việc chiếm trại. Vào được trại rồi, bỗng nghe tin lính Nhật kéo đến vây! Có thể đổ máu? Tôi xin phát súng để bảo vệ cái trại ta vừa giành được. Nhưng rồi, tôi bỗng cảm thấy sợ. Một số người khác cũng cứ nói liều là họ biết dùng súng, nhưng khi được phát, lại bóp cò nổ đì đẹt lung tung! Không khéo tôi chết oan vì mấy “ông tướng” này mất! Chẳng làm sao biết được ai là người chỉ huy giữa đám đông nhốn nháo!

Cũng may, cuối cùng, ta thuyết phục được bọn Nhật: Tokyo đã đầu hàng rồi, vậy thì ở Hà Nội, bọn họ còn can thiệp vào chuyện Việt Minh chiếm trại bảo an binh để làm gì cơ chứ?”

Tiền quan kim và súng Pạc-hoọc

Trong lúc chờ quân Đồng Minh vào tước vũ khí, bọn Nhật rất hoang mang. DS Lợi nhân cơ hội ấy, dùng tiền mua súng do chúng giấm giúi mang đến bán. Ông vẫn nghe đồn “quân đội thiên hoàng” có tinh thần “võ sĩ đạo”, rất trọng danh dự. Nhưng sự thật đâu phải vậy! Ông mà cả, mua được hai khẩu Côn, một loại súng ngắn rất tốt, cho mình và cho người anh vợ (chính là người bán hàng ở hiệu thuốc). Ông còn mua thêm một khẩu súng trường Anh-đô-si-noa, một khẩu các-bin với 500 viên đạn sáng choang cho tự vệ làng hoa Hữu Tiệp. Có súng, có đạn rồi, anh em liền mở hội thi bắn. Không ngờ ông dược sĩ trẻ bắn giỏi nhất làng hoa!…

Quân Tàu Tưởng vào giải giáp quân Nhật. Chúng bắt dân ta tiêu đồng tiền giấy “quan kim” với cái giá hối đoái ngất ngưởng cao hơn giá trị thực  nhiều lần. Ở Quảng Đông dạo đó, nghe nói, muốn ăn một bát sủi cảo, phải xách theo cả một cái bị to tướng thứ tiền… “khỉ gió” kia!

“Hôm đó, một tên Tàu Tưởng đến mua thuốc – GS. Đỗ Tất Lợi kể. Nó hỏi giá tiền Việt, nhưng rồi đưa trả bằng tiền quan kim. Người anh vợ tôi  không chịu bán. Nó cứ giằng lấy thuốc. Anh ấy giằng lại, rồi giận dữ hô lên “tả lớ!” (đánh bỏ đời!) Tên này bỏ đi. Nhưng, lát sau, hắn quay lại cùng một tên khác mang súng Pạc-hoọc. Biết chuyện lôi thôi to, anh ấy tránh mặt. Vừa lúc đó, tôi bước ra. Súng Pạc-hoọc gí sau lưng, chúng áp giải tôi tới nơi “xét xử” ở cuối dốc Hàng Than. Chúng giam tôi vào một căn phòng có nhiều người dân thường đã bị chúng đánh nhừ đòn. Sờ trong túi quần, tôi bỗng thấy còn mấy viên đạn súng ngắn! Vứt đâu bây giờ? Tôi bèn lẻn vào hố xí, ném xuống đống phân. Tôi vừa bước ra, thì chúng gọi tới tên tôi! May mà trong khi chúng áp giải tôi đi cả một chặng đường dài, từ đầu phố Hàng Gai đến cuối dốc Hàng Than, người anh vợ tôi đã kịp chạy đến gặp một ông bạn người Hoa quen tên chỉ huy Tàu Tưởng, nhờ can thiệp. Thế nên chúng mới chịu thả tôi về. Nếu không, chắc chúng cũng đã đánh tôi nhừ tử!

Ngày ấy, tôi chưa thấu hiểu những nỗi gian truân của Ông Cụ, nên thầm trách Chính phủ ta mềm yếu quá, nhượng bộ bọn Tàu Tưởng nhiều quá! Cứ lùi mãi thế này, chưa biết chừng lại để mất nước một lần nữa đây!…”.

GS.DS. Đỗ Tất Lợi (bên trái) cùng GS. Hàm Châu – Tác giả bút ký Nhà bác học thuốc Nam.

Tây mũ đỏ ngáng xe, gây hấn

Tháng 12/1946, tình hình Hà Nội hết sức căng thẳng.

DS. Đỗ Tất Lợi vừa dắt xe đạp ra khỏi hiệu thuốc Huỳnh Quang Đại (ở đầu phố Bà Triệu ngày nay), tay xách một cái cặp da đựng tiền và khẩu súng ngắn, thì một tên lính Tây mũ đỏ chạy ra ngáng xe, bắt dừng lại. Nhiều người đi đường lo lắng cho ông, nhưng chẳng ai dám đến gần.

– Mày là tự vệ?

– Tôi là dược sĩ.

Tưởng trả lời như vậy là yên, vì nhìn bộ côm-plê khá sang ông mặc, chắc nó cũng nghĩ ông nói đúng. Không ngờ nó vặn lại:

– Dược sĩ à? Nếu vậy, thì chính mày lấy hoá chất cho vào nhân bánh, khiến chúng tao ăn… đau bụng!

– Tôi không biết làm bánh.

– Mày không biết làm bánh thì bạn mày làm.

– Tôi không có người bạn nào biết nghề làm bánh cả.

Tên lính đưa tay lên sờ túi trong áo vét-tông của ông, chắc là để moi tiền. Ông hoảng quá! Kêu với ai bây giờ? Mọi người chỉ đứng xa nhìn, nào có ai dám đến gần can thiệp! Ông sợ nhất là nó lục chiếc cặp da! Trong cặp có khẩu súng ngắn, thì thật khó cãi mình không phải là tự vệ!

Nhưng rồi, chẳng hiểu sao, nó bỗng để ông đi. Có lẽ do số người đi đường dừng lại xem mỗi lúc một đông, với vẻ mặt đầy căm phẫn.

Đêm 19/12/1946, đèn thành phố vụt tắt. Nhận biết mật hiệu nổ súng đánh Pháp, DS. Đỗ Tất Lợi vui sướng vô cùng! Đúng rồi! Chính phủ ta chỉ nhượng bộ đến một mức nào thôi. Vượt quá cái mức đó, thì phải đánh!

Hàm Châu
suckhoedoisong.vn

Giá trị trường tồn của Cách mạng tháng Tám 1945

(VOV5)- Đúng ngày này cách đây 67 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam  từ Bắc chí Nam đồng loạt vùng dậy tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám giành chính quyền, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Ảnh tư liệu

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng này, nhân dân Việt Nam đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa đất nước bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ông Thái Vĩnh, lão thành cách mạng ở Hà Nội, nói: “Cách mạng tháng Tám là cuộc đại đồng khởi toàn dân sau 15 năm chuẩn bị dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là một kỳ tích của dân Việt Nam trong thế kỷ 20. Một cuộc đổi đời lớn cho tất cả các tầng lớp, các dân tộc, các cộng đồng. Nó là một bước chuyển vĩ đại không chỉ của dân tộc Việt Nam  mà còn là của các dân tộc bị áp bức trên thế giới”

Chuyên gia sử học người Pháp Alain Ruscio, người có nhiều gắn bó với lịch sử Việt Nam cho rằng, với cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam đã làm nên điều kỳ diệu, bước ra từ thân phận dân tộc nô lệ và trở thành dân tộc làm chủ, tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đã đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới:”Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam  là sự tất yếu mang tính logic trong lịch sử phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Đây là sự kiện trọng đại của cả dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam là dân tộc đầu tiên trong số các dân tộc trên thế giới bị thực dân Pháp đô hộ đã thành công trong cuộc kháng chiến của mình. Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào đấu tranh đòi độc lập của các nước thuộc địa trên thế giới lúc bấy giờ, nhất là các nước ở châu Phi. Khi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có vai trò quan trọng, là người đầu tiên tuyên bố độc lập ở một nước thuộc địa”

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo dấu ấn sâu sắc trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì ở đó, đường lối đấu tranh của Đảng cộng sản Việt Nam trùng khớp với ý nguyện của nhân dân; thiên tài của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tỏa sáng cùng trí tuệ của dân tộc… Tất cả đã tạo thành con sóng nhấn chìm chế độ thực dân phong kiến, đưa nhân dân Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam, nêu rõ: “Có thể nói khí thế của toàn dân lúc đó rất sục sôi nổi dậy khi thời cơ đã đến. Cuộc cách mạng này gần như không phải nổ súng, không phải đổ máu mà vẫn giành được chính quyền. Cho nên, khí thế toàn dân nắm lấy thời cơ, ngày 19-8 giành chính quyền ở Hà nội, sau đó gần 1 tuần đã giành chính quyền trong toàn quốc, đó là một thành công rất lớn mà trước hết nó xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về cuộc khởi nghĩa này.”

Cách mạng Tháng Tám đã cho những bài học lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một Đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Giá trị lịch sử và bài học Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam mà còn vẹn nguyên trong thời điểm VN tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Văn Hiền, thành viên của Hội đồng lý luận Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, nói: “Trong cách mạng tháng 8 có một khẩu hiệu rất nổi tiếng là “Nhật -Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Biết được tình huống như vậy, Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo rất chính xác, tiến hành khởi nghĩa tháng 8. Trong điều kiện hiện nay, không phải có những tình huống cách mạng như ngày xưa nhưng chúng ta có thể nhìn trước trông sau, đoán định các tình huống phát triển của thế giới, biết được các lực lượng thế giới, biết được các mâu thuẫn trong thế giới, biết được mặt thuận, mặt nghịch trong thế giới hiện nay. Từ đó, chúng ta sẽ có những bài toán để mà phát triển tốt và giải quyết được những vấn đề đang đặt ra.”

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thành quả rực rỡ của khát vọng lòng dân, của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Khát vọng cao cả ấy luôn là nguồn sức mạnh vô biên đồng hành cùng dân tộc, cổ vũ các thế hệ hôm nay vững tin tiến về phía trước./.  

Thu Hoa
daibieunhandan.vn

Cách mạng Tháng Tám 1945 – Cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc đoàn kết

Cách mạng tháng Tám 1945 – đây chính là cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc đoàn kết: thực sự đoàn kết, biết đoàn kết và đoàn kết đúng lúc, kịp thời…

Cách đây vừa tròn 60 năm, chỉ trong khoảng thời gian chừng hai tuần lễ cuối tháng 8/1945, toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhất tề vùng lên trong một cuộc Tổng khởi nghĩa, kiên quyết giành lấy quyền tự mình quyết định vận mệnh của dân tộc, Tổ quốc và của mỗi cá nhân con người như một nhân cách tự do trong một cộng đồng tự do. Sự kiện đó được nghi nhận trong lịch sử dân tộc ta là cuộc “Cách mạng tháng Tám 1945″. Đây chính là cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc đoàn kết: thực sự đoàn kết, biết đoàn kết và đoàn kết đúng lúc, kịp thời.”

Đoàn kết là bài học có tính quy luật đã được tổng kết và kiểm chứng nhiều lần trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta. Hơn nữa, đoàn kết đã trở thành một giá trị tiêu biểu trong nền văn hoá chính trị Việt Nam, truyền thống cũng như hiện đại.

Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử dân tộc ta, để đạt được sự đoàn kết dân tộc là một điều không dễ dàng. Đoàn kết không phải là điều hiển nhiên, cho dù đã trở thành một quy luật lịch sử. Thực tế này có cội nguồn sâu xa trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Bất cứ ai cũng có thể nhận thấy rằng có rất nhiều sự dị biệt, đa dạng cùng tồn tại trong lòng một dân tộc Việt Nam thống nhất. Thứ nhất, Việt Nam là một dân tộc đa sắc tộc với không ít các sắc tộc xuyên biên giới (cross-border minorities). Sự đa dạng về sắc tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú trong sắc thái văn hoá, nhưng đồng thời cũng luôn luôn hàm chứa những nguy cơ phân biệt, chia rẽ, mất đoàn kết. Thứ hai, trong hành trình dựng nước, đặc biệt là trong quá trình người Việt tiến dần về phía Nam, cùng với việc một số cộng đồng dân cư khác gia nhập vào cộng đồng dân tộc, bản sắc văn hoá Việt Nam ngày càng trở nên đa dạng, phong phú hơn. Tuy nhiên, điều đó cũng có nghĩa là những dị biệt về văn hoá giữa các tộc người và giữa các vùng miền trở nên rõ nét và phức tạp hơn. Hơn nữa, Việt Nam còn là quốc gia đa tôn giáo.

Những dị biệt về sắc tộc, tôn giáo và văn hoá ấy trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định đã kết hợp với những mâu thuẫn xã hội giữa các giai cấp, các nhóm người khác nhau tạo nên tình trạng xung đột, thậm chí là những cuộc nội chiến kéo dài. Tuy cuối cùng xu hướng thống nhất dân tộc và truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái vẫn thắng thế và được khẳng định là xu hướng chủ đạo, nhưng thực tế lịch sử cũng đã chỉ ra rằng để đạt được sự đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước không phải là điều dễ dàng. Dân tộc ta cần phải luôn luôn tự mình học cách đoàn kết, và chỉ khi nào khối đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc thì nội lực dân tộc mới có cơ hội phát huy tốt, đất nước trở nên thái bình, thịnh trị, dân chúng yên vui, hạnh phúc.

Từ giữa thế kỷ XIX nước ta bị rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp. Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất đã dẫn đến hoạ mất nước chính là khối đại đoàn kết dân tộc đã bị xói mòn nghiêm trọng.

Trong suốt gần 100 năm đô hộ nước ta, núp dưới chiêu bài của “sứ mệnh khai hoá văn minh” thực dân Pháp đã thực thi chính sách “chia để trị” rất thâm độc, hòng khoét sâu thêm những dị biệt vốn có, làm cho các mâu thuẫn và những xung đột nội bộ trong lòng dân tộc Việt Nam ngày càng trở nên gay gắt hơn, do đó làm cho khối đoàn kết dân tộc của người Việt Nam không thể nào được khôi phục và phát triển được.

Từ rất sớm các lãnh tụ của phong trào yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.v.v. đã sớm nhận ra rằng chừng nào toàn dân tộc ta chưa thực sự đồng tâm, nhất trí, đoàn kết lại dưới một ngọn cờ thì chừng đó dân tộc ta chưa thể tự mình giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Chính vì vậy các cụ không ngừng kêu gọi lòng “ái quốc” và sự “đồng tâm” của mọi mọi hạng người, của toàn dân tộc:

 Nghìn muôn ức triệu người chung góp,

Gây dựng nên cơ nghiệp nước nhà…

– Có trời, có đất, có ta,

Đồng tâm như thế mới là đồng tâm!

Lời kêu gọi “đồng tâm” thống thiết của Phan Bội Châu và các lãnh tụ yêu nước hồi đó đã góp phần thức tỉnh ý thức dân tộc và lòng yêu nước của nhiều lớp người Việt Nam từ đầu thế kỷ XX. Song, lời kêu gọi dù thống thiết đến đâu mà thiếu cơ sở lý luận, thiếu những phương tiện, biện pháp cụ thể thì khối đại đoàn kết dân tộc cũng không thể trở thành hiện thực được. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân căn bản nhất dẫn tới sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam cho tới trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, học thuyết cách mạng tiên tiến nhất của thời đại. Năm 1924, Người từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc), lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (gọi tắt là Thanh Niên), quy tụ những thanh niên – trí thức yêu nước ưu tú, mở nhiều lớp huấn luyện để đào tạo họ thành một lớp cán bộ tài năng, chuẩn bị cho sự nghiệp Dựng Đảng – Cứu nước vĩ đại. Ngay từ những bài học đầu tiên, Người đã chỉ ra, rằng: “Kách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người” (Đường kách mệnh).

Trong những năm sau đó, dưới ảnh hưởng của Thanh Niên, phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đã phát triển rất sôi nổi, đòi hỏi phải thành lập đảng cộng sản để đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Nhưng rất tiếc là chính vào thời điểm này, lực lượng yêu nước và cách mạng lại bị phân liệt sâu sắc. Bên cạnh Việt Nam Quốc dân Đảng (thành lập năm 1927), từ giữa năm 1929 đến đầu năm 1930 đã xuất hiện ở Việt Nam ba tổ chức cộng sản. Các tổ chức này cùng tích cực vận động quần chúng công nông, nhưng lại không tránh khỏi công kích nhau. Đây chính là tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng, cản đường phát triển của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam. Đúng lúc đó, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc kịp thời xuất hiện, với uy tín và tài năng của mình đã đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản và lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Điểm thứ nhất trong “Năm điểm lớn” được Nguyễn ái Quốc đưa ra, coi như nguyên tắc để gạt bỏ các bất đồng trước đó và đi tới thống nhất phong trào cộng sản Việt Nam là: “Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương.

Sự ra đời của Đảng với đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn là một bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam, tạo ra nhân tố hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đây là tiền đề quan trọng nhất cho những bước phát triển tiếp theo và cho thắng lợi hoàn toàn của cuộc đấu tranh giải phóng và cho cuộc hồi sinh của dân tộc.

Ngay sau khi Đảng ra đời, một cao trào cách mạng sôi nổi đã diễn ra trên phạm vi cả nước với đỉnh cao là hàng chục cuộc biểu tình ở Nghệ An và Hà Tĩnh dẫn đến sự ra đời của các làng đỏ – Xô Viết. Trong cao trào cách mạng này “công nông đã bắt tay nhau giữa trận tiền”, liên minh cách mạng công – nông, yếu tố nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc đã hình thành trên thực tế. Tuy vậy, chỉ riêng yếu tố hạt nhân và yếu tố nền tảng thì vẫn chưa đủ để tạo ra và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc.

Trong thời kỳ 1936 – 1939, trong điều kiện trong nước và thế giới có nhiều biến đổi quan trọng, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đổi mới mạnh mẽ công tác vận động và tổ chức quần chúng. Một cao trào đấu tranh mạnh mẽ lại dâng cao khắp cả nước, lôi cuốn không chỉ hàng triệu quần chúng công nhân, nông dân, mà cả những tầng lớp yêu nước khác như trí thức, tiểu thương, tiểu chủ, địa chủ, thân hào và tư sản dân tộc v.v. Đến thời kỳ này khối đoàn kết dân tộc được mở rộng và củng cố thêm một bước. Lần đầu tiên Đảng Cộng sản Đông Dương đã chủ động bắt tay liên minh với một số tổ chức yêu nước, tiến bộ khác.

Tuy nhiên qua cao trào vận động dân chủ 1936 – 1939 có thể thấy vẫn còn tồn tại hai hạn chế lớn cần phải khắc phục nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc thực sự vững mạnh. Thứ nhất, trong công tác tuyên truyền cách mạng và vận động quần chúng, cho tới lúc đó Đảng ta chưa thực sự chú trọng tới việc phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Các tài liệu tuyên truyền thường nói nhiều hơn đến đấu tranh giai cấp, mà ít nói tới cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; các đợt đấu tranh thường được phát động trong các dịp kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga, Quảng Châu Công xã, kỷ niệm “3 L” (Lenin, Liepknecht, Luxamburg), mà hầu như không phát động đấu tranh nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương, kỷ niệm Hai Bà Trưng, giỗ Đức Thánh Trần v.v. Đây chính là một hạn chế không nhỏ, bởi lẽ chủ nghĩa yêu nước luôn luôn là giá trị tinh thần quan trọng nhất để quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, nhất là trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.

Thứ hai, khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ áp bức ngoại bang chỉ thực sự được củng cố vững chắc và phát huy tác dụng khi nó được hiện thực hoá thông qua một hình thức tổ chức thích hợp. Đây chính là vấn đề mà cho tới lúc đó Đảng ta chưa thực sự quan tâm đầy đủ. Hình thức tổ chức của mặt trận dân tộc thống nhất mà Đảng đề ra trong thời kỳ 1930-1936 là Mặt trận phản đế Đông Dương và trong thời kỳ 1936-1939 là Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tuy nhiên, cả hai hình thức tổ chức này chưa bao giờ được hiện thực hoá.

Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (3/9/1939), tình hình quốc tế và trong nước chuyển biến hết sức mau lẹ và sâu sắc. Từ tháng 11/1939 Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược cho phù hợp với tình hình. Với sự trở về của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, Hội nghị BCH Trung ương lần thứ VIII của Đảng họp vào từ ngày 10 đến 19/5/1941 đã hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, mở ra con đường đi tới thắng lợi của cuộc đấu tranh yêu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Hội nghị khẳng định: “… cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng“; do vậy: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”. (Văn kiện Đảng toàn tập, T.7, NXB CTQG HN, 2000). Để phát huy tối đa sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc, hội nghị chủ trương đặt mục tiêu của cuộc cách mạng trong phạm vi từng dân tộc ở Đông Dương để xem xét và giải quyết một cách cụ thể.

Một trong những quyết định quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến việc củng cố khối đoàn kết dân tộc, chuẩn bị lực lượng một cách kiên trì và toàn diện cho cuộc vùng lên tự giải phóng, chính là quyết định thành lập mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Việt Minh). Trong tuyên ngôn của mình Việt Minh tuyên bố rõ ràng: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn“.

Hội nghị Trung ương VIII của Đảng và sự ra đời của mặt trận Việt Minh đánh dấu một bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng hướng tới việc mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nội lực dân tộc cho một cuộc hồi sinh vĩ đại. Lần đầu tiên chủ trương đoàn kết dân tộc của Đảng được đặt trên cơ sở của chính chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Chủ trương này được thực hiện nhất quán trong công tác vận động quần chúng của Đảng. Các đoàn thể trong mặt trận Việt Minh đều được gọi là Cứu quốc hội. Trong các tài liệu tuyên truyền hàng ngày của Đảng, nhất là các tài liệu do Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo, lời kêu gọi đoàn kết dân tộc đã được thay thế cho lời kêu gọi đoàn kết giai cấp và đấu tranh giai cấp. Các biểu tượng như “con Rồng cháu Tiên”, Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Lam Sơn, Bạch Đằng,… đã được tôn vinh để cổ vũ tinh thần yêu nước và ý thức đoàn kết dân tộc. Về phương diện tổ chức, với sự ra đời của mặt trận Việt Minh, lần đầu tiên mặt trận dân tộc thống nhất đã trở thành hiện thực. Quan trọng hơn, Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo tỉ mỉ cán bộ Đảng trong việc lập ra hàng chục loại Cứu quốc hội khác nhau để tập hợp tất cả các nhóm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam vào một tổ chức có độ cố kết bền vững không chỉ dựa trên tinh thần yêu nước mà còn dựa trên những quy tắc tổ chức giản đơn nhưng rất chặt chẽ. Vì vậy mặt trận Việt Minh không chỉ làm cho khối đại đoàn kết dân tộc được mở rộng, củng cố không ngừng, mà còn là phương tiện nâng lực lượng của khối đại đoàn kết ấy lên gấp bội thông qua việc biến khối đại đoàn kết ấy thành một tổ chức có sức chiến đấu cao. Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, thông qua Việt Minh, dân tộc ta không những đã đoàn kết lại mà lần đầu tiên còn biết cách đoàn kết có hiệu quả cao nhất.

Từ sau khi ra đời mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc. Lực lượng cách mạng đứng dưới ngọn cờ đại nghĩa của Việt Minh ngày càng được mở rộng và phát triển không ngừng. Tuy nhiên, trong bối cảnh của những diễn biến rất phức tạp và mau chóng của thời cuộc, những bất đồng, dị biệt cố hữu của dân tộc vốn được thực dân Pháp và phát-xít Nhật lợi dụng, khoét sâu thêm, không phải dễ dàng gì một sớm một chiều vượt qua được. Trong hàng ngũ những người Việt Nam yêu nước, không ít người đã bị những chiêu bài tuyên truyền của thực dân Pháp, phát xít Nhật hoặc quân phiệt Trung Hoa lung lạc lôi kéo. Trên thực tế, lực lượng yêu nước và khối đại đoàn kết dân tộc cho đến trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 vẫn chưa khắc phục được hoàn toàn sự chia rẽ, nghi ngại, thậm chí bài xích lẫn nhau. Ngay trong nội bộ Đảng và mặt trận Việt Minh cũng còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là ở Trung Kỳ và Nam Kỳ, tình trạng chia rẽ, phân liệt. Đây là tình hình rất nghiêm trọng, nhất là khi thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền đang đến rất gần. Trong một bức thư gửi các cán bộ Đảng ở Trung Kỳ, Tổng bí thư Trường Chinh đã nghiêm khắc chỉ thị: “Phải kíp chạy lại dưới lá cờ chói lọi của Đảng… Không thể biệt phái chia rẽ! Không thể do dự, hoài nghi!”. Đối với cán bộ Đảng ở Nam Kỳ, đồng chí Trường Chinh chỉ rõ: “Chúng ta sẽ phạm phải một tội lớn, nếu trước giờ quyết liệt, chúng ta còn chia rẽ mãi”.

Giữa lúc đó, ngay từ ngày 13/8/1945 có tin Nhật Hoàng đã chấp nhận đầu hàng Đồng Minh. Ngay đêm đó Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc đã phát lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 15/8, tin Nhật đầu hàng chính thức được công bố. Tại Tân Trào, từ nhiều ngày trước đó, mặc dù bị ốm nặng, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm, hối thúc việc triệu tập Quốc dân Đại hội. Theo chỉ thị của Người, ngày 16/8 Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua đề nghị tổng khởi nghĩa của mặt trận Việt Minh.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa. Căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ. Và điều quan trọng hơn, quyết định đó được tuyệt đại đa số quân chúng nhân dân mọi tầng lớp ủng hộ, kể cả các lực lượng vốn đứng ngoài mặt trận Việt Minh. Kết quả là chỉ trong vòng khoảng hai tuần lễ làn sóng biểu tình chính trị mạnh mẽ của hàng triệu quần chúng cùng với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã nhanh chóng lật đổ chính quyền tay sai thân Nhật, lập ra chính quyền cách mạng.

67 năm trôi qua, Cách mạng tháng Tám vẫn được xem như một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử dân tộc. Hàng trăm công trình nghiên cứu của các sử gia Việt Nam và nước ngoài đã được công bố, đưa ra những kiến giải khác nhau về sự kỳ diệu của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945. Sự thực lịch sử là: với sự ra đời của mặt trận Việt Minh, ngọn cờ dân tộc được Đảng ta giương cao hơn bao giờ hết và trong suốt hơn 4 năm trời Việt Minh đã thực sự trở thành nhân tố trung tâm quy tụ sức mạnh của nhiều lực lượng và cá nhân yêu nước tiến bộ. Khối đại đoàn kết toàn dân đã không những được khôi phục, được củng cố mà còn được nâng lên tầm cao mới, kết hợp với sức mạnh của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ để bùng phát kịp thời, khi thời cơ đến.

Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng bên cạnh mặt trận Việt Minh, một số lực lượng yêu nước khác, theo những cách thức riêng của mình, đã góp phần mạng mẽ vào việc thức tỉnh lòng yêu nước của toàn dân, để rồi trong giờ phút quyết định, trên cơ sở của tinh thần yêu nước, đã nhanh chóng quy tụ dưới ngọn cờ đỏ sao vàng năm cánh của Việt Minh, góp phần không nhỏ vào cuộc vùng lên “đem sức ta tự giải phóng cho ta” (Nguyễn ái Quốc). Trong số những lực lượng đó, trước hết phải kể đến lực lượng thanh niên, sinh viên yêu nước ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác. Về danh nghĩa lực lượng này do chính quyền thực dân Pháp đã phát xít hoá tạo ra hòng lợi dụng lòng yêu nước của thanh niên, sinh viên Việt Nam. Song, chính tầng lớp này đã biết dụng kế “gậy ông đập lưng ông”, lợi dụng cơ hội đó để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần yêu nước sâu rộng trong các tầng lớp dân chúng một cách hợp pháp. Những chuyến đi thăm quan Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa, ải Chi Lăng, những đoàn hướng đạo sinh tổ chức đi cắm trại và hát vang những bài ca yêu nước, những vở kịch lưu diễn ở nhiều nơi kể về sự nghiệp Hai Bà Trưng, Lê Lợi vv… đã thực sự thổi bùng lên lòng yêu nước của dân chúng khắp cả ba Kỳ.

Sau khi bắt liên lạc với Việt Minh, một bộ phận lớn trong phong trào yêu nước trên đã gia nhập Việt Minh. Bộ phận còn lại, sau cuộc đảo chính Nhật – Pháp (9.3.1945) gia nhập Phong trào thanh niên Tiền tuyến ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ và Thanh niên Tiền phong ở Nam Kỳ. Hai lực lượng này, một do chính phủ Trần Trọng Kim lập ra, một do quân đội Nhật gợi ý cho ra đời, với mục đích lợi dụng phong trào thanh niên làm hậu thuẫn cho chính quyền bù nhìn, thân Nhật. Tuy nhiên, hai lực lượng này đã sớm được Việt Minh liên lạc và trong giờ phút quyết định đã nhanh chóng đứng dưới cờ Việt Minh.

Làn sóng đấu tranh sục sôi do Việt Minh và các lực lượng yêu nước khác tiến hành đã đánh thức và cổ vũ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc của cả những tầng lớp và cá nhân vốn có quá khứ gắn chặt với chế độ thực dân. Hoàng đế Bảo Đại là một ví dụ điển hình. Trong những ngày tháng 8/1945, làn sóng yêu nước mạnh mẽ của toàn dân đã đủ sức cảm hoá cả ông vua đã suốt 20 năm làm bù nhìn cho thực dân Pháp, khiến ông ta tự tuyên bố “ưng làm dân một nước tự do hơn làm vua một nước nô lệ”. Ngày 30/8/1945, Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị, trao ấn vàng, kiếm nạm ngọc lại cho đại diện Việt Minh. Trong ngày đó, Bảo Đại còn kêu gọi hoàng tộc và toàn dân đoàn kết, bởi lẽ “đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”.

Như thế, cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thực sự là biểu trưng, là kết quả của khối đại đoàn kết dân tộc, là hội tụ của các nguồn xung lực hồi sinh mạnh mẽ của toàn dân tộc trong thời khắc bước ngoặt lịch sử dưới ngọn cờ chói lọi tinh thần yêu nước của mặt trận Việt Minh do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

 – Ảnh: Tư liệu [Bản tin ĐHQG Hà Nội – số 174, tháng 8/2005]
cuocsongviet.com.vn

Ngày 19/8/1945: Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Công hòa

Đoàn người biểu tình ngày 19 tháng 8 năm 1945 trước cửa Bắc Bộ phủ, Hà Nội

Cách mạng tháng Tám (ngày 19 tháng 8 năm 1945) là cuộc cách mạng thắng lợi của Việt Minh với quân Pháp, Nhật Bản và chính phủ Đế quốc Việt Nam do vua Bảo Đại phê chuẩn. Kết quả chính phủ cũ giải tán và sau đó đến ngày 2 tháng 9 năm 1945 Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phe trục gồm Đức Ý Nhật đánh lại phe đồng minh gồm Anh, Pháp, Liên Xô. Sau có Mỹ và nhiều nước nữa tham chiến.

Vào tháng 9 năm 1940, ngay giữa Thế chiến thứ hai, Chính phủ Vichy của Pháp, vì đã đầu hàng Đức Quốc Xã, đồng ý cho quân đội Nhật Bản đổ bộ vào Bắc kỳ. Ngay lập tức quân đội Nhật dùng đó làm bàn đạp ảnh hưởng đến các chiến trường Trung Quốc và Đông Nam Á. Trên thực tế, đây là một điểm quan trọng trong chiến lược quân sự của Nhật nhằm thống trị toàn bộ vùng Đông Nam Á. Trong khi chờ đợi cuộc đại thắng của Đức tại châu Âu, Nhật tạm thời duy trì hệ thống bảo hộ của Pháp tại Đông Dương. (Trong những trận đánh lớn hồi đó có thể kể đến việc Hải Quân và Không Quân Nhật xuất phát từ Cam Ranh và Sài Gòn tiêu diệt Hạm đội Viễn Đông của Anh).

Thời gian này, Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, như Khởi nghĩa Nam Kỳ, Khởi nghĩa Bắc Sơn nhưng đều thất bại. Những binh lính tham gia chiến tranh Thái Lan thực hiện cuộc Binh biến Đô Lương cũng thất bại.

Vào tháng 5 năm 1941 các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương, dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh, tập họp tại một địa điểm gần biên giới Việt-Trung, tham gia một tổ chức đứng về phía đồng minh giành độc lập cho Việt Nam gọi là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội. Tổ chức này thường được gọi vắn tắt là Việt Minh. Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ở biên giới Việt Trung. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp thành lập một trung đội 34 người mang tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân (một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật, mở rộng chiến khu. Trước khi Nhật đầu hàng đồng minh, chiến khu đã bao gồm nhiều tỉnh vùng đông Bắc Bắc Bộ, gọi là chiến khu Việt Bắc.

Trong suốt Thế chiến thứ hai, Mỹ đã tích cực hỗ trợ lực lượng kháng chiến Việt Minh trong các hoạt động chống Nhật. Một đơn vị đặc nhiệm của tổ chức OSS (Office of Strategic Services) – tiền thân của Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA) – đã từng hợp tác cùng lực lượng Việt Minh thành lập một đại đội Việt-Mỹ (do Đàm Quang Trung làm đội trưởng và Thiếu tá A. K. Thomas làm cố vấn) nhằm vào mục tiêu chung chống Nhật. Lực lượng Việt Minh cũng bảo vệ các phi công Mỹ bị bắn rơi trong khu vực Đông Dương và đưa họ thoát sang Trung Quốc rồi trao lại cho quân đội Đồng Minh.

Đến năm 1945, thấy quân đội Đức bị đánh bại hoàn toàn tại mặt trận châu Âu và ưu thế của quân đội Mỹ càng ngày càng lên tại mặt trận Thái Bình Dương, Nhật quyết định hoàn toàn khống chế Đông Dương. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật trao tối hậu thư cho Toàn quyền Đông Dương (Gouveneur de l’Indochine), Đô đốc Jean Decoux, yêu cầu đặt toàn bộ quân đội Pháp tại Đông Dương dưới quyền chỉ huy và điều động của họ. Decoux từ chối và bị bắt giam ngay lập tức, không kịp báo lệnh cho lực lượng dưới quyền của mình. Quân đội Nhật, sau đó bất thần tấn công các doanh trại và cơ sở của chính quyền thuộc địa Pháp. Chỉ trong một đêm họ đã thanh toán xong toàn bộ cứ điểm và bắt giam tất cả các quan chức người Pháp.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp thành công và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại ra đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam và mời nhà trí thức Trần Trọng Kim ra thành lập chính phủ khác dưới sự bảo hộ của Nhật. Ngày 17 tháng 4, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 thì ra lệnh giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Trong khi đó, phản ứng trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” nhằm phát động cao trào kháng Nhật cứu nước (thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời kì tiền khởi nghĩa, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền).

Tại Âu châu, Đức thất trận và đầu hàng ngày 7 tháng 5 năm 1945. Ngày 6 tháng 8, Hoa Kỳ ném hai trái bom nguyên tử trên đảo Hiroshima và Nagasaki. Ngày 14 tháng 8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Do đó quân Nhật tại Việt Nam dao động và tan rã. Theo tối hậu thư Postdam của phe đồng minh gửi Nhật ngày 26 tháng 7, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh từ nam vĩ tuyến 16.

Dưới sự cai trị của Nhật, từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, nạn đói khủng khiếp diễn ra làm 2 triệu người chết. Đây là thời cơ để Việt Minh xây dựng lực lượng lớn khắp cả nước, họ tập hợp nhân dân cướp các kho thóc Nhật. Đồng thời, một đại hội đại biểu toàn quốc họp trên chiến khu, thành lập Quốc dân Đại hội, tức quốc hội lâm thời. Khi Nhật thất bại, khởi nghĩa nổ ra trên toàn quốc, đó là Cách mạng tháng Tám. Cách mạng diễn ra nhanh chóng với sự tham gia của hầu hết dân chúng, Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước trong mười mấy ngày.

Trong khi đó diễn biến tại miền Bắc, khi nhậm chức, bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo của chính phủ Trần Trọng Kim đã ra lệnh thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó và cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai. Tin đồn dân Nhật sắp sửa đầu hàng đã lan tỏa khắp nơi tại miền Bắc, lợi dụng cơ hội, dân chúng đã tụ tập biểu tình, bãi công nhiều nơi, như ở Thái Bình vào ngày 11 tháng 8. Từ ngày 12 tháng 8 năm 1945, các đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh lần lượt tiến công các đồn Nhật ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái… và hỗ trợ nhân dân các tỉnh này tiến lên giành chính quyền tại các tỉnh lỵ.

Hội nghị toàn quốc họp ở Tân Trào ngày 13 tháng 8 năm 1945 đã nhận định rằng những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín mùi và chuẩn bị lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa. Ngày 14-8 một số cán bộ Đảng và Việt Minh dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại và chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã quyết định cùng nhân dân khởi nghĩa, khởi nghĩa lan rộng ra xã thuộc các tỉnh ở đồng bằng Sông Hồng như Thanh Hóa, Thái Bình….

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh do Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào kéo về bao vây, tấn công quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên.

Sáng ngày 18 tháng 8, Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội chuyển trụ sở làm việc về số nhà 101 Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo). Các uỷ viên tích cực chuẩn bị cho công việc sáng hôm sau.

Sáng sớm ngày 19 tháng 8, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng được sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ, của tổ chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Đại diện Việt Minh tuyên bố: Tổng khởi nghĩa! Sau đó một cánh tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ, và nhanh chóng làm chủ toàn bộ khu vực này. Lính bảo vệ Phủ đã hạ vũ khí mà không có bất kỳ hành động kháng cự nào trước sức mạnh của nhân dân Hà thành. Khâm sai Bắc kỳ Nguyễn Xuân Chữ (người mới đứng ra thay thế ông Phan Kế Toại) bị bắt giữ và đưa về An toàn khu tại Hà Đông.

Cùng thời gian đó, ông Nguyễn Quyết đã chỉ huy nhân dân chiếm Trại Bảo an binh. Nhưng quân đội Nhật đã can thiệp, đưa xe tăng cùng binh lính bao vây quanh trại, đòi tước vũ khí của lực lượng cách mạng. Ông Nguyễn Khang và ông Trần Tử Bình đã quyết định tiến hành đàm phán với quân đội Nhật vì theo phân tích thì quân Nhật đã rất rệu rã, không còn tinh thần chiến đấu cao và muốn bảo toàn lực lượng khi rút về nước. Hơn nữa nếu quân đội Nhật cố ngăn cản thì cũng không được lợi ích gì vì bản thân chính quyền do họ dựng lên quá yếu ớt, không thể đối trọng với sức mạnh của Việt Minh. Đúng như dự đoán, sau khi tiếp nhận đề nghị của Ủy ban Khởi nghĩa, Nhật đã đồng ý rút quân nhưng yêu cầu phải có một cuộc đàm phán chính thức với cấp chỉ huy tối cao của họ.

Chiều tối 19 tháng 8, phái đoàn của đàm phán của Việt Minh do ông Lê Trọng Nghĩa và cố vấn Trần Đình Long dẫn đầu đã trực tiếp gặp gỡ và đàm phán với tướng Tsuchihashi – Tổng Tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật – ngay tại Tổng hành dinh quân đội Nhật (nay là 33 Phạm Ngũ Lão). Cuộc đàm phán diễn ra khá gay go nhưng cuối cùng phía Nhật, đúng như đã được dự đoán, đã chấp nhận án binh bất động, không can thiệp vào công việc của Việt Minh; đổi lại binh lính của họ sẽ được bảo đảm an toàn, không bị Việt Minh tấn công. Họ đã chấp nhận chính quyền cách mạng. Kết quả đàm phán với Nhật mang ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa Hà Nội bởi phe Việt Minh đã không chỉ tránh được cuộc đối đầu trực tiếp với lực lượng vũ trang của Nhật mà còn loại trừ mọi hy vọng của các lực lượng chính trị khác vào khả năng đảo ngược tình thế tại thủ đô vào thời điểm đó.

Cũng trong đêm 19 tháng 8, Xứ ủy quyết định thành lập Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Bắc bộ và Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Hà Nội, chính thức hoá vai trò của chính quyền cách mạng với nhân dân và cộng đồng quốc tế.

Ngày 20 tháng 8, khoảng 10 giờ 30 sáng, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ, đại diện cho chính quyền cách mạng lâm thời, đã chính thức ra mắt quốc dân đồng bào tại Vườn hoa Con Cóc trước Bắc Bộ phủ.

Ngày 21 tháng 8 tại Huế phong trào Việt Minh bừng nổi dậy. Tướng tư lệnh Nhật đã nhận được chỉ thị của Đông Kinh phải giữ ngôi cho Hoàng đế Bảo Đại, đã bàn với Thủ Tướng Trần Trọng Kim như sau: “Mặc dù nước Nhật đã đầu hàng nhưng quân đội Nhật tại đây vẫn có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự cho tới khi quân đội Đồng minh đến tiếp thu. Xin ngài hãy làm văn thư yêu cầu để chúng tôi tái lập trật tự.” nhưng Thủ Tướng đã từ chối sự giúp đỡ của họ.

Đại tướng Nhật cũng vào yết kiến vua Bảo Đại xin tái lập trật tự để bảo vệ ngai vàng nhưng cũng bị từ chối.

Thắng lợi ở Hà Nội lập tức kéo theo một sự rung động và làm tan vỡ hệ thống chính quyền thân Nhật ở toàn vùng. Các tỉnh trưởng, thị trưởng Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh, Thái Nguyên… đang ngóng trông tin từ Hà Nội, phải vội vàng chuyển sang tìm gặp và theo Việt Minh ở địa phương. Ngày 23 tháng 8, chính quyền cách mạng ở Hải Phòng được thành lập.

Tại Sài Gòn, Huỳnh Phú Sổ kết hợp các tổ chức chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Quốc dân đảng, Đại Việt Quốc dân đảng… thành Mặt trận Quốc qia Việt Nam Thống nhất, tổ chức một cuộc biểu tình lớn chống Pháp.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh tổ chức biểu tình và cướp chính quyền tại Sài Gòn. Đến ngày 28 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền toàn quốc. Hai tỉnh cướp được chính quyền cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng.

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của Pháp trong gần một thế kỉ tại Việt Nam, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế gần một nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai.

BKTTM
cuocsongviet.com.vn

Tuyên ngôn của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức (7-1925)

Quảng Châu, tháng 7-1925

Hỡi các bạn thân yêu, từ khi bọn tư bản tháo bỏ mặt nạ và công khai hành động như bọn đế quốc, các dân tộc yếu, nhất là các dân tộc ở á châu ngày càng bị áp bức. Chúng biến đất nước của chúng ta thành thuộc địa của chúng hay nửa thuộc địa (như Trung Quốc và Xiêm). Chúng cướp đoạt toàn bộ của cải của đất nước chúng ta. Chúng bắt chúng ta phải mua thuốc độc (thuốc phiện, rượu cồn). Chúng nghiền nát chúng ta bằng thuế khoá đủ loại. Chúng biến chúng ta thành phu phen và đầy tớ… Chúng không chỉ tước đoạt đi những quyền chính trị của chúng ta, mà chúng còn làm cho chúng ta khốn khổ bần cùng. Tệ hơn, chúng còn tìm cách tận diệt nòi giống chúng ta.

Hỡi các bạn thân yêu, muốn xua tan những đau khổ đó cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới lại để làm cách mạng. Bọn đế quốc ở tất cả các nước đã liên minh lại để áp bức chúng ta. Còn chúng ta, những người dân thuộc địa và toàn thể công nhân trên thế giới, chúng ta phải hợp lực lại để chống lại chúng.

Những nhà cách mạng của công đoàn thợ thuyền và những nhà cách mạng trong Tổng liên đoàn các dân tộc bị áp bức theo các phương pháp khác nhau nhưng tất cả đều có một mục đích, là đánh đuổi tất cả những kẻ đi chiếm đoạt kia. Những dân tộc bị áp bức

như chúng ta có thể hoặc tốt hơn, phải liên minh với thợ thuyền của tất cả các nước để vùng lên và đòi tự do khắp nơi.

Ngày 9-7-1925, những người cách mạng An Nam, Trung Quốc, ấn Độ và Triều Tiên đã họp lại để thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức 1 . Đây là sự thức tỉnh của các dân tộc châu á. Nhân dịp trọng đại này, chúng tôi xin gửi đến các bạn lời kêu gọi sau đây:

Hỡi hết thảy những người bị áp bức, anh em! Nếu bọn đế quốc áp bức chúng ta và đối xử với chúng ta như loài vật, đó là vì chúng ta không đoàn kết! Nếu chúng ta đoàn kết chúng ta sẽ trở nên đáng gờm.

Sự nghiệp của chúng ta là sự nghiệp của hàng nghìn, hàng nghìn người. Kẻ thù của chúng ta chỉ là một nhúm người. Chúng ta không được sợ chúng. Cho dù chúng có súng đạn dồi dào, chúng cũng không thể giết hết chúng ta được.

Hỡi các bạn thân yêu, chúng ta nên sớm kết đoàn lại! Hãy hợp lực để đòi quyền lợi và tự do của chúng ta! Hãy hợp lực để cứu lấy nòi giống chúng ta!

Hỡi các bạn thợ thuyền! Tất cả các bạn đều biết rằng những kẻ áp bức chúng tôi và những kẻ ngược đãi các bạn chỉ là một. Chẳng phải trong cuộc chiến tranh 1914-1918, bọn tư bản đã dùng người da đen và da vàng để tàn sát người da trắng, cũng như chúng đã dùng công nhân da trắng để giết những ngưới da vàng và da đen đó sao ? Như vậy là, nếu các bạn muốn thoát khỏi nanh vuốt của những kẻ đang hành hạ các bạn thì các bạn hãy kết đoàn với chúng tôi! Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn. Chúng ta cùng có chung lợi ích, nên khi đấu tranh cho chúng tôi là các bạn cũng chiến đấu cho các bạn. Khi giúp đỡ chúng tôi các bạn cũng tự cứu mình.

Các bạn thân yêu! Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức mạnh. Nó đủ để đánh tan bọn đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể cậy vào sức của mình mà thôi. Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công, hãy kết đoàn với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng.

Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

Tình đoàn kết giữa các dân tộc châu á muôn nǎm!

Tình đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức và thợ thuyền trên trái đất muôn nǎm!

Cách mạng muôn nǎm!

—————————-

Báo Thanh niên, số 5, ngày 19-7-1925.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn