Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi ban Phương đông Quốc tế cộng sản (12-4-1928)

Các đồng chí thân mến,

Đây là tóm tắt tình hình của tôi:

Tháng 5-1927… rời Quảng Châu

Tháng 6… tới Mátxcơva

Tháng 7 – tháng 8 ở bệnh viện

Tháng 11 được phái đi Pháp

Tháng 12 rời Pháp (không

thể công tác được do cảnh

sát) đến hội nghị Bruyxen.

Tháng 1 – tháng 4-1928 Chờ chỉ thị của các đồng chí

ở Béclin và sống bằng sự

giúp đỡ của MOPRE 1 .

*

Vì không thể công tác ở Pháp, ở Đức thì vô ích, nhưng cần thiết ở Đông Dương, nên tôi đã xin lại lên đường về xứ sở này. Trong những thư gửi cho các đồng chí, tôi đã lập một ngân sách công tác và một ngân sách đi đường.

Khi đồng chí Đôriô qua Béclin, đồng chí đã hứa sẽ quan tâm đến vấn đề của tôi. Tôi đã nói với đồng chí ấy là nếu không được kinh phí công tác, miễn là đồng chí cho tôi tiền đi đường, thì dù thế nào tôi cũng sẽ đi, bởi vì đã một nǎm tôi lang thang từ nước này sang nước khác trong khi có nhiều việc phải làm ở Đông Dương.

Nhưng cho tới nay tôi chưa nhận được chỉ thị của các đồng chí, cả câu trả lời của đồng chí Đôriô.

Hiện nay, tôi ở trong hoàn cảnh khó khǎn không chịu nổi:

l) Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng).

2) Không có gì để sống vì rằng MOPRE không thể giúp tôi một cách vô hạn, ngay cả cho 18 đồng mác mỗi tuần (số tiền đối với tôi không đủ sống nhưng quá nặng cho tổ chức).

Vậy tôi xin các đồng chí cho tôi càng sớm càng tốt những chỉ thị chính xác về điều mà tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường.

Xin gửi lời chào cộng sản.

NGUYỄN ÁI QUỐC
Béclin ngày 12-4-1928.

——————————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Phong trào công nhân ở ấn Độ (14-4-1928)

Theo những bản thống kê nǎm 1921, tại ấn Độ, có 105.510.858 công nhân nam, nữ làm trong nông nghiệp, 346.349 người trong các mỏ, 16.728.373 trong công nghiệp, 5.819.375 trong thương mại. Theo Factory inspection report nǎm 1923, trong thời kỳ này, có 1.418.000 công nhân nữ, nam làm việc trong các nhà máy thực sự là nhà máy so với 1.270.000 người nǎm 1921.

Phần đông những người vô sản nông nghiệp làm việc trong các đồn điền trồng cây công nghiệp (đồn điền cà phê, cao su và cây chàm: 382.300 công nhân; đồn điền chè: 695.100; đồn điền trồng bông: 2.875.122; những đồn điền khác trồng cây có sợi: 15.672.372).

Lương rất thấp. Một công nhân có trình độ tay nghề trong ngành dệt lĩnh 29 rupi (bằng 250 phrǎng) mỗi tháng. Một nữ công nhân cũng làm việc như thế chỉ lĩnh một nửa số tiền này. Ngày làm việc rất dài. Những người thợ mỏ làm hơn 12 giờ mỗi ngày.

Những điều kiện vệ sinh trong nhà máy cũng như trong nhà ở của công nhân thật tồi tệ. Người ta thường thấy sáu gia đình với tổng số 30 người sống chen chúc trong một nhà dành cho công nhân dài 5 mét và rộng 4 mét.

Trong 130 triệu lao động có độ 3.500.000 người được tổ chức. Phần lớn các nghiệp đoàn 1 đều chịu ảnh hưởng chủ nghĩa cải lương của Công Đảng Anh. Đây là một số chứng cớ mới về ảnh hưởng tai hại đó: ở phiên họp hằng nǎm của Đại hội Nghiệp đoàn toàn ấn Độ, họp tại Capua, tháng 12-1927, vấn đề Đại hội này gia nhập Liên đoàn phản đế được ghi vào chương trình nghị sự. Thế mà một số lãnh tụ Công Đảng Anh, tham dự Đại hội này đã thành công trong việc để vấn đề đó “đến một ngày sau”. Ông Iôsai, Chủ tịch Nghiệp đoàn Bombay từ chối giúp đỡ cuộc bãi công mới đây của thợ dệt, viện cớ là những công nhân này không thuộc vào nghiệp đoàn của ông ta và họ đã phát động cuộc bãi công mà không hỏi trước ý kiến của ông.

Mặc dù có tình trạng vô tổ chức của thợ thuyền và thái độ hèn nhát của những người theo chủ nghĩa cải lương, sự nghèo khổ làm cho vô sản ấn Độ cấp tiến hơn. Nǎm 1926 có 130 cuộc bãi công với 131.655 người tham gia. Nǎm 1927, có 128 cuộc bãi công với 186.811 người tham gia. Thế là nǎm 1927 có kém nǎm 1926 hai cuộc tham gia, nhưng số người bãi công cao hơn nhiều (hơn 55.156 người) và số ngày bỏ việc nǎm 1927 tǎng gấp đôi nǎm 1926.

Nǎm 1928 bắt đầu bằng dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ của phong trào công nhân. Không kể những cuộc bãi công chính trị chống Uỷ ban Ximông, số cuộc đấu tranh mang tính chất thuần tuý kinh tế diễn ra trong sáu tuần lễ đầu của nǎm đó như sau: ngày l0 tháng 1, bãi công của 22.000 thợ dệt ở Bombay. Ngày 22 tháng 1, bãi công của 400 thợ thuyền đường xe hoả tại Nắcpua; 21 tháng 1, thợ luyện kim ở Chalima bãi công đòi tǎng lương; 31 tháng l, 700 công nhân xe lửa Cancutta cũng bãi công đòi tǎng lương. Ngày 2 tháng 2, bãi công của lái xe tắc xi tại Rangun chống một thứ thuế mới do thống đốc Anh đặt ra; 11 tháng 2, bãi công của 2.500 công nhân khuân vác ở Rangun; 16 tháng 2, bãi công của 8.000 thợ nhà máy, Kôhinpua ở Bombay; 17 tháng 2, bãi công của 1.700 công nhân nhà máy Đarivan.

Dưới đây là mấy đặc điểm rất thú vị về bãi công của thợ thuyền ngành dệt ở Bombay: Phòng thuế chủ trương rằng cải thiện đời sống của công nhân là điều kiện nhất thiết phải có để tǎng cường sản xuất. Chủ trương đó không phải vì một mục đích nhân đạo mà vì Phòng thuế muốn bằng cách này làm tê liệt sức cạnh tranh của những nhà kỹ nghệ Bombay, đem lợi lại cho các nhà kỹ nghệ Mansettơ. Về phía họ, các nghiệp chủ muốn làm cho công

nhân tưởng rằng vì lòng ái quốc mà họ muốn tǎng sức sản xuất trong nước để có thể đánh bại được hàng hoá của Anh và, do đó, các công nhân cũng phải tỏ ra rằng mình yêu nước và đáng lẽ hưởng 58 rupi mỗi tháng như họ yêu sách thì chỉ nhận 42 rupi.

Cũng như các đảng viên Công đảng Anh, những đảng viên Công đảng ấn Độ phản bội những người bãi công và rao giảng về “hoà bình công nghiệp”. Nhưng công nhân bất cần cái “lòng ái quốc” vụ lợi của chủ cũng như họ bất cần cái “nền hoà bình” do những người cải lương nêu lên. Họ từ chối không ép mình dưới sự lý trí hoá, vì nó sẽ ném 15.000 người trong giới họ ra vỉa hè. Chỉ có Đảng công nông cương quyết ủng hộ những người bãi công và trong công cuộc tuyên truyền tổng bãi công, Đảng đó càng ngày càng được lòng công nhân, những người trông thấy ở Đảng phương tiện duy nhất thắng giới chủ.

WANG

—————————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 37, ngày 14-4-1928
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng 8-1945 ở Sài Gòn: Bạo lực chính trị là chỗ dựa cơ bản, tuyên truyền vận động là đòn chiến lược chủ yếu.

Trong cuốn “Nhìn lại cuộc đời” của chú Huỳnh Văn Tiểng, là một trong số các nhà lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đêm 24 ngày 25 tháng 8 năm 1945 có đoạn viết: Ủy ban khởi nghĩa đóng ở dinh một tướng Pháp đã bị Nhật bắt giam, số 6 đường Colombert (nay là đường Alexandre de Rhodes).

Chủ trương của Ủy ban khởi nghĩa là lấy bạo lực chính trị là chỗ dựa cơ bản, tuyên truyền vận động là đòn chiến lược chủ yếu. Lực lượng Thanh niên Tiền phong đã xâm nhập vào hầu hết các cơ quan của ngụy quyền (chính trị, quân sự, kinh tế) vừa làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động vừa chuẩn bị cho kế hoạch đánh chiếm các cơ sở của địch. Kế hoạch của lực lượng Thanh niên Tiền phong là bắt giữ ngay những phần tử phản động chống đối Cách mạng; thu giữ tài liệu quan trọng của địch; bố trí lực lượng canh gác nhằm đối phó với những kẻ phá hoại; có đảng viên trong các cơ sở quan trọng như dinh Thống đốc Nam kỳ (nay là Bảo tàng Cách mạng), nhà máy nước, nhà máy điện, kho lương thực, kho vũ khí … giao cho lực lượng cảnh sát đã được giác ngộ theo cách mạng gìn giữ an ninh trật tự Thành phố; giao cho lực lượng lính khố xanh, lính khố đỏ và lực lượng Hay – Hô (lính Nhật) đã được giác ngộ theo cách mạng canh giữ khu nhà ở của Pháp kiều và các đầu cầu trong yếu.

Ban tuyên truyền do các ông Huỳnh Tấn PhátTrần Bửu Kiếm, Đặng Ngọc Tốt, Nguyễn Việt Nam, Trương Cao Phước… đã đào hầm ngay trong biệt thự của cụ Trương Văn Huyên (thân phụ ông Trương Cao Phước), là tư sản dân tộc và tín đồ đạo Cao Đài, số 90 Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu) để in tài liệu tuyên truyền của Việt Minh. Kêu gọi mọi người tìm vũ khí chống giặc, trong đó đội Thanh niên Tiền phong ở kho đạn thành Tuy Hạ, Thị Nghè bí mật đào hầm chuyển được mấy chục hòm súng tiểu liên, trung liên và mìn cho Ủy ban Khởi nghĩa, chị Nguyễn Thị Vui (cháu ông Huỳnh Tấn Phát) đã mua được một số lụu đạn và đạn của Nhật; những người làm việc cho Nhật vận động lính Nhật quăng súng xuống sông rồi tìm cách vớt lên…

Đêm 22, sáng 23 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa điểm ở Tân An đã giành thắng lợi như kế hoạch đã định. Sáng 24 tháng 8 năm 1945, Hội nghị mở rộng kỳ bộ Việt Minh với đại diện các tầng lớp Công, Nông, Thanh, Phụ, đại biểu các tôn giáo đã bầu ra Ban chấp hành Việt Minh Nam Bộ và thông qua kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.

19 giờ ngày 24 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Tổng khởi nghĩa Nam bộ và Sài Gòn họp ở tổng hành dinh, số 6 đường Colombert (nay là đường Alexandre de Rhodes) quyết định phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Đội Thanh niên Tiền phong do ông Ung Ngọc Ky phụ trách đã bắt giam Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Sâm và hạ cờ quẻ Ly ở dinh Thống đốc Nam Kỳ để treo cờ đỏ sao vàng của cách mạng.

Sáng 25 tháng 8 năm 1945, hàng trăm ngàn người từ các huyện ngoại thành và các tỉnh Thành phố Chợ Lớn , Tân An, Mỹ Tho, Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một kéo về Sài Gòn tham gia cuộc diễu hành biểu dương lực lượng Cách mạng và ra mắt Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ. Đoàn diễu hành đi từ quảng trường nhà thờ Đức Bà qua đường Catina (đường Đồng Khởi ngày nay) sang đường Quai Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay), đường Kichener (đường Nguyễn Thái Học ngày nay), đường Bonard ( đường Lê Lợi ngày nay) rồi quay về tập trung trước dinh Đốc Lý (hiện là trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố).

Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn thay mặt kỳ bộ Việt Minh Nam bộ giới thiệu các ông Trần Văn GiàuUng Văn KhiêmNguyễn Văn Tạo, Ngô Tấn Nhơn, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng và ông Dương Bạch Mai vào Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ là hàng vạn cánh tay giơ lên và tiếng hò reo vang dội của đoàn người diễu hành biểu thị sự đồng tình ủng hộ kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ và thống nhất giao nhiệm vụ quản lý điều hành chính quyền cho các thành viên Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ.

Bùi Hiển
ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

 

 

 

Nông dân Ấn Độ (18-4-1928)

Trên 230 triệu người ấn Độ, tức là 75% dân số, thuộc giai cấp nông dân, sống trong 685.000 làng ở ấn Độ. 70% đất đai canh tác thuộc quyền sở hữu của các đại, trung địa chủ, số này chỉ bằng một phần ba số nông dân, trong khi đó 90 triệu nông dân tuyệt đối không có một chút ruộng đất gì.

Những địa chủ lớn nhất là Maharátgia phong kiến. Sau đó là các Talúcđa (công chức cao cấp cha truyền con nối), các Sácđa (chỉ huy quân sự) và các Giaminđa (điền chủ lớn). Để có thể bóc lột và áp bức hơn nữa quần chúng nông dân, họ câu kết với chủ nghĩa đế quốc Anh và được nhường cho những quyền lợi kinh tế rộng rãi nhất.

Vô cùng giàu có và cực kỳ phản động, những địa chủ đó hợp thành một khối dưới quyền lãnh đạo của các Maharátgia. Chủ nghĩa đế quốc tìm thấy ở họ một đồng minh trung thành và một chỗ dựa vững chắc. Vừa qua, một trong những người lãnh đạo của địa chủ tung ra một lời kêu gọi khuyên nhủ các địa chủ hãy đoàn kết chặt chẽ hơn nữa để nắm lấy toàn bộ chính quyền trong nước mà vẫn ở dưới “sự bảo hộ” của nước Anh. Hội nghị địa chủ các bang Bengan, Atsam và Oritxa (ngày 2-1-1928) quyết định ủng hộ Uỷ ban Ximông, yêu cầu thành lập hai viện lập pháp chứ không phải một như hiện nay, và thượng viện chỉ gồm những địa chủ. Trong bài diễn vǎn, chủ tịch hội nghị phàn nàn rằng quyền chính trị dành cho người ấn Độ còn quá rộng rãi và còn “cho phép những phần tử không có của cải đưa vào luật pháp những xu hướng xã hội và cộng sản”.

Bà Anna Bisan viết nǎm 1919: “Một nửa dân số nhà nông ở ấn Độ chỉ có một bữa ǎn trong mỗi ngày, mà, hơn nữa, một bữa cũng

không đủ ǎn”. Tình trạng này từ ngày ấy đến nay vẫn không thay đổi vì tình hình kinh tế của người ấn Độ đáng lẽ được cải thiện thì lại mỗi ngày một trầm trọng thêm. Tháng 5 nǎm 1927, Bác sĩ Hađica nêu một bảng so sánh thu nhập theo đầu người: Hoa Kỳ 1.115 rupi; Anh 696; Pháp 546; Đức 468; ấn Độ 15.

Nguyên nhân cái nghèo khổ cùng cực này là do đất thiếu, thuế má quá nặng, chiếm đến 75% hoa lợi của nông dân, diện tích trồng cây công nghiệp quá lớn khiến diện tích trồng ngũ cốc hụt đi. Nǎm 1925 chỉ có 32.968.000 hécta trồng lúa so với 10.645.000 hécta trồng bông, 287.000 hécta trồng chè và l.025.000 hécta trồng mía. Như vậy là một phần ba đất đai được dành riêng cho việc trồng trọt phục vụ công nghiệp và thương nghiệp của Anh.

Bên cạnh sự bóc lột của địa chủ Anh và địa chủ bản xứ, người nông dân ấn Độ còn bị bóc lột một cách kinh khủng bởi những tên Sahuka hay những chủ nợ, chúng cho vay 30 rupi trước mùa gặt và đòi lại 146 rupi.

Đói kém là thường xuyên. Từ 1854 đến 1901 trên 28.825.000 nông dân chết đói! Chỉ riêng trong ba tháng cuối nǎm 1918, trên 7 triệu người ấn Độ chết vì cúm. Những người không chết đói đi vào các thành phố, hợp thành một đội quân “vô sản mặc giẻ rách”, sống vất vưởng bằng ngửa tay ǎn xin. Nǎm 1927, người ta thấy trên 250 người ǎn mày chết đói trong các phố Bombay. Cũng nǎm đó, ông Humantro, một nhà từ thiện ấn Độ cung cấp cho chúng ta những số liệu sau đây về các làng mà ông đến thǎm: trong 79 gia đình ở Sagam chỉ còn 3 người ở lại làng. Trong 811 người làng Mađrát chỉ còn 413. ở Chankamanđimi trong số 60 người chỉ còn 3; tại Kengan trong số 200 người còn lại 40; ở Katagu trong số 500 người còn lại 125; ở Iurátgi, trong số 450 chỉ còn lại 200 và ở Khagian trong số 50 người chỉ còn 3.

Những người khốn khổ này bỏ làng không những vì đói mà còn để tránh bọn Sahuka, bọn địa chủ và bọn thu thuế.

Tuy không có tổ chức hoặc tổ chức còn lỏng lẻo, người nông dân- do nghèo khổ thúc bách – thường nổi dậy chống kẻ bóc lột. Từ 1792 đến 1921, chỉ trong bang Malaba, 36 cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra. Các cuộc nổi dậy vào những nǎm 1841, 1844, 1849, 1896 và 1921 đều có tiếng vang lớn.

Những người nông dân ở Promơ (Miến Điện) tự tổ chức thành các Unthanu Rakita hay các Hội nông dân mà mục đích công khai là đấu tranh chống rượu, cờ bạc và tội ác. Sau phong trào chống thuế nǎm 1924, các Unthanu bị cấm. Tuy vậy, các tổ chức này vẫn tồn tại bí mật và cuối nǎm 1927, các Unthanu huyện Padinbin đã không chịu đóng thuế. Chính phủ cử lực lượng quân đội đến chống lại những người kháng cự. Hai nông dân bị giết và nhiều người bị thương.

Sau các sự kiện ở Padinbin, Chính phủ giải tán 11 tổ chức hoặc hội nông dân khác. Tuy có đàn áp nhưng cuộc vận động chống thuế vẫn tiếp tục ở Miến Điện và rải rác ở chính trên đất ấn Độ, nông dân ở Alibay (huyện Maharátgia) thẳng thắn tuyên bố chống thuế. Ngày 10 tháng 1, 500 đại biểu tại Hội nghị tá điền Iubơnpua bỏ phiếu tán thành nghị quyết chống Uỷ ban Ximông và chống việc tǎng thuế mới. Ngày 4 tháng 2, hội nghị các tiểu chủ ở Sunrat cũng đã thông qua nghị quyết ấy.

Báo Mađratta, tuần báo có thế lực lớn xuất bản ở Puna, khuyên nên chống đối ở khắp nơi. Trong số ra ngày 12 tháng 2, báo đó viết: “Nếu tất cả những người nông dân bị bóc lột tại tất cả các địa phương nhất trí trong một mặt trận thống nhất chống Chính phủ thì có thể làm cho Chính phủ biết điều hơn trong chính sách nông nghiệp của mình”.

Ta nên nói thêm rằng Đảng công nông đã ghi vào chương trình ruộng đất của mình những yêu sách sau đây: quyền hoa lợi của đất trồng thuộc về nông dân và quốc hữu hoá đất đai!

WANG

——————————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 38, ngày 18-4-1928
cpv.org.vn

Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ (5-1928)

Tại ấn Độ cũng như ở các thuộc địa khác, chủ nghĩa đế quốc Anh đang tìm cách chia rẽ giai cấp vô sản bằng cách thường xuyên khơi sâu những thành kiến về chủng tộc. Vì thế tất cả các chỗ làm được trả lương cao đều dành cho người Anh và những người lai Anh- ấn. Trong những nhà máy điện, những người này lĩnh mỗi ngày 15 rupi; họ có nhà ở sang trọng không phải trả tiền, trong khi thợ thuyền ấn Độ chỉ được từ 4 anna 1 đến 1,5 rupi mỗi ngày và nhà ở phải trả tiền. Trong ngành xe hoả, một người Anh hoặc người lai lĩnh tới 7 rupi mỗi ngày; trái lại, một thợ không chuyên ấn Độ chỉ được 8 anna và một công nhân được 13 anna mỗi ngày. Những viên chức người Anh và người lai, ngoài lương cao, còn có các trường học, vườn trẻ và hợp tác xã tiêu thụ mà Chính phủ hoặc các công ty dành riêng cho, cấm không cho người ấn Độ đến, trong khi ấy các viên chức bàn giấy người ấn chỉ lĩnh hằng tháng từ l0 đến 20 rupi.

Để đáp lại những đặc quyền đó, những viên chức người Anh và người lai hợp tác với giới chủ chống công nhân bản xứ. Các sự kiện đẫm máu ngày 28 tháng 3 vừa qua minh hoạ một cách rõ ràng thái độ bài vô sản của thứ thợ thuyền quý tộc này: những viên chức người Anh và người lai trên đường sắt Lilôa đã hợp tác tích cực với cảnh sát có vũ trang trong việc ám sát nǎm người bãi công có nhiệm vụ kiểm tra lệnh đình công.

Nhưng thợ thuyền ấn Độ đấu tranh không mệt mỏi chống các mưu mô của đế quốc và các thành kiến chủng tộc. Vì thế nên mặt trận chiến đấu của họ được củng cố hằng ngày, như nhiều cuộc đấu tranh vừa qua đã cho thấy.

Ngày 21 tháng 2, 400 thợ điện các lò cao tại Iamsétpua bãi công để đòi tǎng lương. Họ đòi 5 rupi mỗi ngày chứ không phải 14-15 anna như hiện đang lĩnh.

Ngày 5 tháng 3, sau khi sáu công nhân bị đuổi vì hoạt động nghiệp đoàn, 14.000 công nhân hoả xa ở Lilôa lãn công và, ngày 8, từ lãn công chuyển thành bãi công thực sự. Những người bãi công đòi cho các đồng chí bị đuổi được trở lại làm việc, đòi tǎng 25% lương và đòi tự do nghiệp đoàn. Xin nhắc lại rằng Liên đoàn Công nhân hoả xa tồn tại đã được mười nǎm mà vẫn chưa được Chính phủ và công ty công nhận.

Ngày 7 tháng 3, 10.000 thợ làm việc cho thành phố bãi công đòi 30 rupi mỗi tháng chứ không phải 14 như hiện nay họ lĩnh.

Ngày 9 tháng 3 có cuộc bãi công của 2.500 thợ nhà máy bông ở Lútlốc vì một người thợ bị tên đốc công đánh.

Ngày 15 tháng 3, 900 thợ nhà máy Paren (Bombay) đấu tranh để đòi tǎng lương.

Ngày 10 tháng 3 có một hội nghị của nhân viên bưu điện Mađrát.

Hiện nay họ chỉ lĩnh từ 10 đến 20 rupi mỗi tháng. Nhà ở của họ tiều tuỵ đến mức đáng sợ, trong khi những viên chức có đặc lợi, người Anh và người lai, lĩnh đồng lương đế vương và có nhà đầy đủ tiện nghi. Nhân viên bưu điện Mađrát đòi nâng lương từ 30 lên 40 rupi mỗi tháng. Ta hãy nhớ rằng một người đưa thư ở nông thôn, phụ trách đến 60 làng và đi bộ mỗi ngày 30 kilômét mà chỉ lĩnh có 16 rupi mỗi tháng.

Ngày 19 tháng 3, công nhân xe điện Mađrát họp hội nghị đặc biệt đòi tǎng lương và phản kháng công ty đuổi thợ mà không hoàn lại số tiền ký quỹ họ đã phải nộp khi được nhận vào làm.

Ngày 22 tháng 3, Đại hội Liên hiệp nghiệp đoàn tỉnh Bombay, thay mặt cho 30.000 công nhân có tổ chức họp tại Đamôda. Nhiều nghị quyết đã được thông qua. Những nghị quyết đó đòi: ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, lương phải trả hằng tuần, có tiền bảo hiểm xã hội cho những trường hợp thất nghiệp, ốm đau, sinh đẻ, già yếu cải thiện điều kiện nhà ở cho công nhân, bãi bỏ chế độ phạt tiền và chế độ khấu lương để đền bù dụng cụ và vật liệu hỏng, trả lại tự do cho những công nhân vì hoạt động nghiệp đoàn mà bị bắt. Đại hội có dự kiến thay thế các nghiệp đoàn nghề bằng các nghiệp đoàn công nghiệp. Về phương diện chính trị, Đại hội tuyên bố chống chiến tranh và chống các luật đàn áp. Đại hội cũng đã dự kiến tổ chức một Đảng Lao động để bảo vệ các quyền chính trị của người lao động.

Những cuộc đấu tranh này của công nhân chỉ là rất thường tình nếu ta xét đến hoàn cảnh vô cùng khổ cực của vô sản ấn Độ. Đây là một bảng so sánh minh hoạ số thu nhập theo đầu người, trong nhiều nước, do bác sĩ Hácđica lập ra vào tháng 5 nǎm 1927: Hoa Kỳ 1.116 rupi; Anh 696; Pháp 546; Đức 468, ấn Độ 15. Ta cũng nên nói qua rằng vấn đề nhà ở là một trong những cái ung đau nặng nhất của vô sản ấn Độ. Theo báo cáo của ông chủ tịch Liên hiệp thợ thuyền thành phố Mađrát, hơn 10.000 người lao động của thành phố này ngủ đêm ở các chuồng bò hoặc nhà xe, và điều này cũng đúng với những thành phố khác. Sự khổ cực kinh tế này làm cho tuổi thọ của người ấn Độ rất thấp. Dưới đây là so sánh tuổi thọ tǎng bình: Anh 51,5; Hoa Kỳ 50; Pháp 48,5; Đức 47,4; ấn Độ 24,7. Tỷ lệ tử vong ở ấn Độ cũng cao hơn ở bất kỳ nơi nào khác: Hoa Kỳ 12,9 phần nghìn; Anh 14,6; Đức 16,2 và ấn Độ 30!

Nông thôn cũng nổi dậy, ngày càng có phản ứng mạnh đối với tình trạng như vậy. Ngày 15 tháng 2, tại Viện dân biểu Miến Điện, Chính phủ thuộc địa đề nghị cử “những đại biểu đặc biệt” đến các huyện đang đặc biệt tích cực chống thuế. Đề nghị đó bị bác với 24 phiếu chống trên 18 phiếu thuận. Thất bại đó của Chính phủ đã gây chấn động trong nước; lại càng chấn động khi Chính phủ buộc phải thú nhận rằng biện pháp cử “những đại biểu đặc biệt” là cần thiết vì từ mấy tuần nay đã có đến 22 người thu thuế bị nông dân làm cho khốn đốn.

Để trả thù, ông thống đốc đã cấm 25 tổ chức nông dân và tôn giáo hoạt động và tǎng cường cảnh sát ở 44 huyện.

Ngày 19 tháng 3, khi một người của họ bị ngược đãi, các culi ở đồn điền trồng chè lớn tại Đíchgubác đã nổi dậy và đẩy những tên đốc công vào tình trạng khốn đốn. Biến cố nhỏ này có một ý nghĩa lớn: những công nhân nông nghiệp vốn rất dễ bảo và thụ động giờ đây đã thức tỉnh và biết tự vệ. Một dấu hiệu của thời đại! Phong trào chống thuế ở Bácđôlê tiếp tục. Họ tổ chức những nhóm người tình nguyện để bảo vệ những nông dân bị doạ tịch biên. Chính cảnh sát huyện cũng có cảm tình với nông dân và tuyên bố rằng họ sẽ không thực thi những lệnh đàn áp của Chính phủ.

WANG

———————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 43, tháng 5-1928
cpv.org.vn

Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt người bản xứ (5-1928)

Từ sau chiến tranh, để khôi phục lại những đổ nát, chủ nghĩa đế quốc tǎng cường bóc lột thuộc địa. Ngay cả nước Bỉ nhỏ bé cũng thành công khi noi gương “vinh quang” của các láng giềng lớn là Anh, Pháp và những nước khác. Báo “Essor Colonial et Maritime Belge” (“Sự phồn vinh của Bỉ trong thuộc địa và trên biển) (14-7-27) thành thực viết: “Nếu không có Cônggô… nước Bỉ sẽ ra sao… không một chân trời chính trị, không một hy vọng về kinh tế nào cả!”. Thực vậy, nước Bỉ chỉ có Cônggô là thuộc địa. Nhưng nước Bỉ đã biết từ đó rút ra những món lợi đáng kể bằng cách phát triển kinh tế, kỹ nghệ và thương mại: Nǎm 1924, thương mại Bỉ ở Cônggô đạt 551 triệu phrǎng. Nǎm 1925, lên tới 981 triệu phrǎng.

Vì mạnh hơn nên đế quốc Pháp làm được nhiều hơn đế quốc Bỉ. Thương mại Pháp ở các thuộc địa nǎm 1927 – theo ông Phrǎngxoa Mácsan – lên tới một con số lớn gấp bốn lần nǎm 1913! Nói đến con số đó chẳng phải là nói ngoa, vì công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp mở rộng nhanh chóng từ nǎm này qua nǎm khác, như các con số sau đây cho thấy:

Thương mại riêng ở Tây Phi thuộc Pháp

(tính bằng triệu phrǎng):

1921 … 556

1922 … 599

1923 … 917

1924 … 1.347

1925 … 1.912

Thương mại riêng với các thuộc địa khác (trong 10 tháng đầu nǎm)

1925 1926

Angiêri 3.153 triệu 4.804 triệu

Tuynidi 701 – 1.244 –

Marốc 825 – 1.270 –

Mađagátxca 471 – 372 –

Đông Dương 1.162 – 1.934 –

Các thuộc địa khác 1.152 – 1.300 –

Anh, Italia và các nước thực dân khác cũng hành động như thế với các thuộc địa của mình.

Ngoài cái phồn vinh ấy, có được là nhờ vào người bản xứ, những người này còn bị đè nặng bởi vô số thuế má, lao động khổ sai và các phương tiện bóc lột khác (chiếm đoạt ruộng đất, bắt phải tiêu thụ rượu và thuốc phiện), những phương tiện khiến dân số của nhiều thuộc địa bị giảm đi nhiều.

Điều mà ai cũng biết là lao động khổ sai được thi hành ở tất cả các thuộc địa Pháp, Bỉ, Anh và những nước khác. Người Pháp gọi là “tạp dịch”, người Bỉ gọi là “lao động cưỡng bức”, người Anh gọi là “lao dịch”, v.v..

Tờ báo Bỉ nói trên thú nhận rằng “trong tất cả các thuộc địa, lao động cưỡng bức còn được coi và được sử dụng như một trong những đòi hỏi tất yếu của chế độ thuộc địa. Tuyên bố ngược lại chỉ có thể là ngu xuẩn, giả dối hoặc nguỵ trang… muốn chọn từ nào thì tuỳ ý”.

ở Hạ nghị viện Anh, ông Omxbai Gorơ, thứ trưởng Bộ thuộc địa, tuyên bố rằng “lao động của người bản xứ ở Kênya, được sung công, tối đa là 60 ngày mỗi nǎm, và ở Tây Phi thuộc Anh, mọi người phải lao động cưỡng bức để xây dựng đường xe hoả”.

Ông Lêông Periê, Bộ trưởng thuộc địa Pháp, ban bố những sắc lệnh để “cho người bản xứ quen với lao động đều đặn… bằng cách dạy dỗ họ, khuyến khích họ và cả bằng những biện pháp trừng phạt kỷ luật”.

Chưa hết. Đại tá Ônxen và tướng Huyghe, hai vầng hào quang

quân sự Bỉ đề xuất việc tập trung nghiêm ngặt 10.000 người lao động Cônggô, do các ông sếp người da trắng chỉ huy theo lối quân sự.

Hội quốc liên – ta hãy nhắc lại vì vinh dự của nó – cũng hoan nghênh việc thi hành lao động khổ sai. Đây là bản thông cáo báo chí của Vǎn phòng Quốc tế về Lao động (tháng 5-1927): “Một uỷ ban gồm những chuyên gia về lao động của người bản xứ hiện đang họp tại Vǎn phòng Quốc tế về Lao động để xem xét vấn đề lao động cưỡng bức của người bản xứ. Uỷ ban xem xét những nguyên tắc nêu lên trong bản tường trình của Vǎn phòng Quốc tế về Lao động để quy chế hoá lao động cưỡng bức trong trường hợp không thể bãi bỏ được nó…”.

Những người bản xứ bị cưỡng bức lao động được đối xử như thế nào?

Ta hãy nghe chính những người châu Âu thú nhận: Trong một bức thư gửi đến Hội các quyền lợi thuộc địa (10-28) 1 ông Bộ trưởng thuộc địa Bỉ viết: “… Các ngài biết rằng còn phải làm nhiều cho việc xử lý những người da đen được các tư nhân thuê làm; nhiều hãng tư nhân chưa làm được cái cần thiết để bảo đảm đời sống vật chất tối thiểu cho họ: đồng lương khốn khổ không đủ sống, thức ǎn, nhà ở, vệ sinh, v.v. thường không tốt…”.

Trong một lá thư gửi cho báo Manchester Guardian (Người bảo vệ Manséttơ), mục sư Oven tuyên bố rằng chế độ nô lệ độc đoán đã được áp đặt tại Kênya, rằng những người bản xứ phải đi bộ hàng trǎm dặm để đến nơi làm tạp dịch. Ông nêu lên những sự việc và những con số; ông ta viết: Tháng 10-1922, tôi gặp 471 người bản xứ trong đó có 421 phụ nữ (một số lớn có mang), thiếu niên nam và nữ. Họ phải đi bộ mỗi ngày 30 dặm để mang cỏ về cho chính quyền. Họ lĩnh mỗi ngày từ 1/2 penny đến 2 pence 2 . Tháng 8 nǎm 1924, ông gặp những người bản xứ khác bị bắt làm lao động tạp dịch như thế, nhưng lần này họ không được lĩnh một xu nhỏ.

Lao động khổ sai và những hậu quả của nó làm cho số người chết lên đến mức kinh khủng trong các thuộc địa. Trong các thuộc địa Pháp, như Xanh – Pie và Micơlông, Tân Êbrít thuộc Pháp, v.v. người thổ dân đang trên đà bị diệt vong.

Báo Times thú nhận rằng từ nǎm 1874, khi Phigi bị đặt dưới quyền đô hộ của Anh, dân số người bản xứ giảm một cách rõ rệt. Cũng tờ báo đó (17-12-1927) viết: dân bản xứ miền Bắc Ôxtrâylia bị đe doạ diệt vong nhanh chóng và có những bộ lạc trước kia rất đông đúc nay đã hoàn toàn biến mất vì thuốc phiện.

Hoàng tử Bỉ Lêôpôn cũng thú nhận rằng nòi giống Cônggô bị đe doạ tiêu diệt. Và, có lẽ dù chẳng muốn, ông cũng lên án chế độ thực dân Bỉ. Ông viết cho Đại hội thuộc địa:

“Trước khi chúng ta đến, có thể nói rằng người da đen không hề di chuyển. Những bệnh, như bệnh buồn ngủ, trước kia chỉ giới hạn ở một nơi, và chỉ hoành hành trong những vùng nhỏ hẹp.

“Do nhu cầu, ta đã lôi kéo người bản xứ phải di chuyển… Các bệnh truyền nhiễm, trước kia bị khoanh lại, nay đã lan dần trong cả thuộc địa, gây ra những tai hại lớn; nó càng lớn hơn khi không có được một biện pháp miễn dịch… Đối với những bệnh này, người da đen, do nuôi dưỡng tồi, chỉ có thể chống đỡ bằng một sức đề kháng yếu ớt, toàn bộ nòi giống họ phải chịu đựng tình trạng đó. Hơn nữa, công việc làm chung đòi hỏi họ phải tập trung trong những điều kiện vệ sinh mà… những kẻ thuê người làm không phải bao giờ cũng làm tốt được…”.

Hoàng tử kết thúc lá thư của mình bằng lời khuyên sau đây: “Ta chớ quên: lịch sử của nhiều chế độ thực dân đã cho thấy rằng nhiều dân tộc bản xứ bị tiêu diệt hoàn toàn khi tiếp xúc với nền vǎn minh của người da trắng”.

Ta có thể kết luận rằng mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc!

Wang

————————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 47, tháng 5-1928
cpv.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản (21-5-1928)

Béclin, ngày 21 tháng 5 nǎm 1928

Các đồng chí thân mến,

1. Tôi đã nhận đủ cái cần thiết để lên đường. Xin cảm ơn. Tôi sẽ ra đi vào khoảng tuần thứ ba tháng 5 này.

2. Do lúc này không thể trực tiếp liên lạc với các đồng chí, mọi sự liên lạc của tôi đều qua đồng chí Satô ở Liên đoàn chống đế quốc tại Béclin.

3. Trước khi lên đường, tôi xin phép trình bày mấy nhận xét về Ban thuộc địa thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

Tôi đã thông báo với các đồng chí rằng Ban thuộc địa đó đã có nhiều tiến bộ (Trước kia chẳng có gì. Nay đã có những vǎn phòng và đồng chí thường trực). Tuy nhiên, mới làm được rất ít việc trong số những người bản xứ ở Pháp, ít ra trong những người Đông Dương. Báo chí. Đại hội. Tổ chức. Tất cả những thứ đó mới chỉ còn trên giấy. Tôi nghĩ rằng Ban thuộc địa thiếu sự linh hoạt trong công tác. Tôi xin kể trường hợp riêng của tôi. Trong một tháng rưỡi tôi ở Pari, vì đồng chí Đôriô đang ở tù, cho nên tôi không có dịp nào nói chuyện nghiêm túc với các đồng chí khác. Nhiều lần, tôi xin những địa chỉ chắc chắn để có thể liên lạc với họ khi tôi sẽ ở phương Đông, thì đồng chí có trách nhiệm đã từ chối không đưa cho tôi. Các đồng chí nói rằng Ban thuộc địa có một ngân quỹ dành cho công tác thuộc địa. Nhưng theo tôi biết quỹ hoàn toàn rỗng, thậm chí chẳng có gì để lo ǎn cho các đồng chí đi công tác qua.

Tôi kiến nghị:

a) Tài chính của Ban thuộc địa cần được các đồng chí kiểm soát.

b) Ban thuộc địa thường xuyên gửi đến các đồng chí những báo cáo về công tác đã làm và kế hoạch công tác sắp tới.

c) Ban thuộc địa phải tổ chức những phương tiện giao thông liên lạc đường Pháp – Đông Dương (qua Boócđô, Mácxây, Lơ Havơrơ), chuyển tên các đồng chí và tên các tàu đến chỗ Liên đoàn (đồng chí Satô) báo cho tôi biết, để tôi có thể bắt liên lạc với họ.

d) Sẽ là rất có ích nếu vài đồng chí của Đảng hay của Đoàn thanh niên Nga chịu trách nhiệm sǎn sóc các sinh viên Đông Dương ở Mátxcơva, giúp họ tìm hiểu đời sống công nhân và thực hành công tác tổ chức (tất cả họ không thuộc thành phần vô sản và, theo như tôi có thể nhận xét, họ biết rất ít các phương pháp tổ chức).

Xin gửi lời chào cộng sản.
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Từ khát vọng Độc lập đến tư tưởng phát triển đất nước

Ngày càng nhiều du khách đến Việt Nam

(VOV) – Giành được độc lập tự do đã trở thành sức mạnh chắp cánh cho dân tộc Việt Nam từ đêm dài nô lệ trăm năm rũ bùn đứng dậy làm chủ vận mệnh của mình, lập nên những kỳ tích trong chiến đấu và dựng xây đất nước.

Ngày 2/9/1945, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do và độc lập”.

Với bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định với thế giới tư thế đĩnh đạc của một dân tộc tự do, độc lập. Sự đĩnh đạc phải đánh đổi bằng máu xương của cả dân tộc. Khát vọng độc lập tự do đã thôi thúc hàng triệu con dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ đứng lên như biển dâng sóng trào, nhấn chìm chế độ thực dân, phát xít.

Một khát vọng cháy bỏng mà nói như Hồ Chủ tịch trong những ngày tiền khởi nghĩa là “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập”. Cuộc cách mạng ấy có ý nghĩa to lớn vì đem lại cơm no, áo ấm cho dân.

Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, nói: “Cụ Hồ nói: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Có độc lập mới có tự do. Có độc lập tự do là quý nhưng nếu dân không được ấm no hạnh phúc thì độc lập có nghĩa lý gì?. Lòng dân có đi với ta hay không là ở chỗ dân có giàu thì nước mới mạnh. Sự thu phục lòng dân của Cách mạng tháng Tám là ở chỗ đi đúng nguyện vọng của nhân dân”.

Hòa chung khát vọng tự do của nhân dân với lý tưởng độc lập mà mình theo đuổi dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, biến thành nguồn lực để dựng xây đất nước. Đó chính là tư tưởng phát triển tiến bộ, là nghệ thuật lãnh đạo của người cầm lái con thuyền cách mạng.

Tuần lễ vàng ngay sau khi Tuyên ngôn độc lập được các tầng lớp nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, có người hiến cả chục cân vàng mà không cần một tờ hóa đơn, vì họ tin vào Đảng, vào Bác. Người góp của, góp công giúp đất nước vượt qua nạn đói, ngân khố cạn kiệt được bổ sung đáng kể để kiến thiết quốc gia.

Người dân từ giàu đến nghèo sẵn sàng chung vai sẻ chia gánh nặng cho chính phủ thông qua việc tự tổ chức cuộc sống, chiến đấu, sinh hoạt, học tập trong điều kiện chống cả 3 thứ giặc đe dọa sự tồn vong của chính quyền non trẻ. Với tư tưởng dân chủ tiến bộ, Hồ Chí Minh đã thành lập một Chính phủ có trí tuệ nhất, đại diện nhất cho các giới, các dân tộc ở khu vực Đông nam Á.

Tại thời điểm năm 1945, với 95% dân số mù chữ và vừa thoát khỏi nạn đói, việc làm ấy là một kỳ tích. Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc nói: “Từ trong Tuyên ngôn độc lập và sau này trong nhiều bài phát biểu, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Bác Hồ luôn khẳng định nước ta là một nước dân chủ. Dân chủ trở thành bản chất của chế độ, là mục tiêu của chế độ và cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Người dân có quyền tham gia vào đời sống chính trị của đất nước, giám sát sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Đó là quyền làm chủ. Khi nói đến quyền làm chủ của dân, dân trở thành chủ thể để thực hiện quyền làm chủ của mình”.

Hồ Chí Minh luôn ý thức rằng muốn xã hội phát triển thì người dân phải được tự do, được nói lên nguyện vọng của mình, được sáng tạo và cống hiến cho đất nước dân tộc mình, học được những bài học từ quá khứ. Chỉ có phát huy dân chủ, mới huy động được sức sáng tạo, huy động được sức mạnh toàn xã hội, đặc biệt là các nguồn lực và con người cho sự phát triển đất nước.

Thực tế cho thấy, nơi đâu, lúc nào xa rời tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ, không lắng nghe tiếng nói xây dựng, phê bình của người dân đều dẫn đến trì trệ, suy thoái. Những thành quả quan trọng và có ý nghĩa lịch sử của gần 25 năm đổi mới giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng một nước lạc hậu, kém phát triển là một minh chứng cho điều này.

Thử nghiệm, tìm tòi, lắng nghe tiếng nói từ cơ sở để từ đó từng bước thay đổi cơ chế, chính sách dẫn tới đổi mới tư duy về kinh tế, giải phóng nguồn lực, huy động sức dân cho phát triển. Những kinh nghiệm của quá trình lãnh đạo kinh tế đất nước sẽ giúp cho chúng ta vững vàng để phát triển nhanh, bền vững theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, Chuyên viên cao cấp của Chính phủ phân tích: “Chúng ta đã đạt được mức tăng trưởng ngoạn mục, thu nhập bình quân đầu người đạt ở mức trung bình. Tuy nhiên, tăng trưởng thời gian qua còn dựa quá nhiều vào tiền vốn, vào khai thác tài nguyên thiên nhiên mà ít phát huy các nhân tố về khoa học công nghệ, ít phát huy giá trị gia tăng. Nói cách khác là những gì chúng ta làm được còn chưa xứng với tiềm năng, chưa huy động hết sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Về lâu dài chúng ta phải tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Đặc biệt phải tiếp tục thực hiện các quyền tự do dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946”.

Người xưa từng nói, lấy gương để soi mình thì có thể sửa được đầu tóc, trang phục nhưng lấy lịch sử để soi mình có thể học được những bài học lớn cho phát triển. Cái mới nhiều khi chính là cái đúng đã bị che khuất hoặc lãng quên trong quá khứ được khôi phục và tái xuất hiện.

Thành công về mặt kinh tế của 25 năm đổi mới chính là thành công của việc trở lại với những giá trị đích thực được qui định trong Hiến pháp năm 1946, mà cơ bản là quyền tự do kinh doanh được nâng lên và vận dụng phù hợp với thời đại ngày nay, góp phần xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại mình, kiên trì vận dụng những tư tưởng phát triển tiến bộ và đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khát vọng độc lập tự do của dân tộc./.

Vân Thiêng
vov.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Cột mốc mở đầu Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam

Nền dân chủ cộng hòa Việt Nam được thiết lập cùng với Nhà nước dân chủ nhân dân sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của nó sau 30 năm (từ 1945 đến 1975) và trở thành tiền đề chính trị-xã hội vững chắc để nước ta đi vào xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN khi cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 – một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công rực rỡ. Đó là một cuộc tổng khởi nghĩa thần tốc và thần kỳ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Thần tốc vì chỉ trong một tuần lễ, cách mạng đã thành công trong cả nước. Thần kỳ vì từ thành công của cuộc cách mạng này nhân dân ta đã đánh đổ cùng một lúc hai ách thống trị Pháp và Nhật cùng bè lũ tay sai, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến hàng trăm năm trở thành một quốc gia độc lập, tự do; đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ của đất nước độc lập tự do. Cách mạng tháng Tám đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cách mạng tháng Tám đã thiết lập nền Dân chủ Cộng hòa (DCCH) đầu tiên ở nước ta và tạo tiền đề cho sự ra đời nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khi cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu ” độc lập dân tộc”, “người cày có ruộng” và quyền phổ thông đầu phiếu trong lĩnh vực chính trị đã được thực hiện trọn vẹn. Cách mạng tháng Tám mở đầu thời kỳ phi thực dân hóa ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Từ sau Cách mạng tháng Tám hàng loạt các nước thuộc địa, nửa thuộc địa và phụ thuộc đã vùng đứng dậy đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và dân chủ ở những mức độ khác nhau; phá tan sự thống trị độc quyền thực dân của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc lạc hậu và kém phát triển, buộc chúng phải thừa nhận và tôn trọng quyền độc lập, tự do, dân chủ và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của các nước vốn trước đây là thuộc địa của chúng.

Tiền thân của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền dân chủ cộng hòa Việt Nam được thiết lập ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chế độ của ta là chế độ dân chủ nhân dân, thực hiện dân chủ với nhân dân, nhưng đồng thời cũng nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả của cách mạng. Tất cả mọi người dân Việt Nam không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, tôn giáo, trẻ già, trai gái đều là người chủ đất nước, đều được hưởng thụ những quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo pháp luật quy định. Chỉ sau hơn 4 tháng từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 06 tháng Giêng năm 1946, lần đầu tiên nhân dân ta được thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bầu ra Quốc hội (khóa I) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Cơ quan quyền lực cao nhất – Tính đến nay nhân dân ta đã thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu, bầu ra 13 khóa Quốc hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã huy động lực lượng nhân dân ta thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nước ta; giành độc lập tự do cho dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội; tiến hành cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế phấn đấu năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Điều quan trọng về chính trị là chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân bầu ra; đoàn thể từ trung ương đến xã cũng do dân tổ chức. Dân bầu ra người đại diện và có quyền kiểm sát, giám sát và bãi miễn khi không làm tròn sự ủy thác của nhân dân. Nhà nước muốn điều hành, quản lý xã hội hiệu lực, hiệu quả phải dựa vào dân và lấy dân làm gốc. Nhân dân có quyền làm chủ đất nước thì cũng phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giúp Chính phủ và làm đúng chính sách để Chính phủ làm tròn phận sự do nhân dân giao phó.

Nền dân chủ cộng hòa Việt Nam được thiết lập cùng với Nhà nước dân chủ nhân dân sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của nó sau 30 năm (từ 1945 đến 1975) và trở thành tiền đề chính trị-xã hội vững chắc để nước ta đi vào xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN khi cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở nước ta, ngay từ khi Đảng ra đời (1930) để lãnh đạo cách mạng, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, đã nhất quán chủ trương, đường lối trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc là xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân mà mục tiêu cốt lõi của nó là “Độc lập dân tộc, người cày có ruộng” và thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu trong lĩnh vực chính trị. Khi chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở kế thừa nền dân chủ nhân dân đã có, phải tiến hành ngay việc xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu xuyên suốt là:”Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ ,công bằng, văn minh”.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu nhằm bảo đảm:” tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà trên nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng CSVN lãnh đạo”. Vì vậy, vấn đề trung tâm là phải xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cùng với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của hội viên; thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi dân chủ là một mục tiêu cơ bản và không ngừng phát triển, hoàn thiện mục tiêu đó. Trong 25 năm đổi mới vừa qua nền dân chủ XHCN ở nước ta không ngừng phát triển, góp phần ổn định chính trị xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, góp phần bảo đảm trật tự, an ninh, an toàn xã hội, đưa nước ta từng bước vững chắc tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa.

PGS,TS Cao Duy Hạ
daidoanket.vn

Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương (2-10-1928)

TÌNH HÌNH KINH TẾ

Đông Dương rộng 710.000 kilômét vuông và có dân số là 20.000.000 người, trong đó có trên 26.000 người Âu, không kể những binh lính Pháp.

Những thành phố lớn là:

Sài Gòn, thủ đô 2 của Nam Kỳ 108.000 dân

Chợ Lớn, thành phố ở sát Sài Gòn 203.000 –

Huế, thủ đô 3 của Trung Kỳ 60.500 –

Hà Nội, thủ đô 4 của Bắc Kỳ 74.500 –

Hải Phòng, hải cảng của Bắc Kỳ 74.500 –

Phnômpênh, thủ đô của Cao Miên 79.000 –

Viêngchǎn, thủ đô của Lào 68.000 –

Những hải cảng là: Sài Gòn, cách biển 81 kilômét, với một lượng vận chuyển hằng nǎm là 3.600.000 tấn; Hải Phòng (Bắc Kỳ), cách biển 28 kilômét, với một lượng vận chuyển hằng nǎm là 1.200.000 tấn; Quy Nhơn và Tuaran 5 (Trung Kỳ) với một lượng vận chuyển là 500.000 và 100.000 tấn.

Đông Dương có khoảng 2.200 kilômét đường sắt, trong đó 860 kilômét thuộc con đường Vân Nam – Bắc Kỳ. Có tất cả 150 đầu tàu, 400 toa hành khách và 1.650 toa chở hàng hoá.

Doanh số thương nghiệp của nǎm 1925 là: 4.236.685.000 phrǎng

trong đó, nhập khẩu chiếm 1.780.501.000 –

và xuất khẩu chiếm 2.456.184.000 –

như vậy là trội hơn nǎm 1924 một tỷ và trội hơn nǎm 1923 hai tỷ.

Sự TíCH LUỹ TƯ BảN

Tư bản của tất cả những doanh nghiệp Pháp đều tǎng lên rất nhanh. Chúng ta hãy nêu lên, chẳng hạn:

Tư bản của công ty vôi đã tǎng từ 600.000 lên đến 3.000.000 phrǎng.

– của công ty nông công nghiệp Cam Tiêm từ 14 lên đến 30 triệu.

– của công ty trồng chè và cà phê ở Kon Tum từ 5 lên đến 15 triệu.

– của hãng vận tải liên hiệp từ 100 lên đến 300 triệu.

– của công ty xuất vốn cho cao su từ 100 lên đến 200 triệu.

– của công ty thương nghiệp, nông nghiệp và tài chính Đông Dương, từ 1 lên đến 10 triệu.

– của công ty xi mǎng Đông Dương, từ 8 lên đến 12 triệu.

Tư bản của công ty thǎm dò và khai thác hầm mỏ ở Đông Dương đã tǎng từ 12,5 lên đến 20 triệu.

Tư bản của Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng chi phối hầu như tuyệt đối nền thương nghiệp và công nghiệp ở Đông Dương, đã tǎng một cách liên tục. Được thành lập nǎm 1875 với số tư bản là 8 triệu phrǎng, đến nǎm:

1888, số tư bản đó đã lên tới 12.000.000

1900, ………………… 24.000.000

1916, …………………. 36.000.000

1910, ………………………….. 48.000.000

1920, …………………………… 72.000.000

LợI NHUậN

Những hãng buôn ở thuộc địa đã giành được những lợi nhuận đôi khi vượt cả những tư bản ứng trước. Chẳng hạn nǎm 1924, Ngân hàng Đông Dương, với số tư bản là 72 triệu mà đã thu được một món lợi nhuận là 77.845.083 phrǎng. Sau đây là tiến độ đi lên của lợi nhuận của các công ty:

Công ty xuất vốn cho cao su:

1918 3.378.486 phrǎng

1920 ………….. 4.950.014 –

1923 12.668.043 –

1925 ………… 32.573.850 –

Công ty đường sắt Vân Nam:

1917 1.121.000 phrǎng

1919 1.543.000 –

1921 2.637.000 –

1923 3.275.000 –

1925 6.440.000 –

Công ty than đá Bắc Kỳ:

1912 1.926.000 phrǎng

1914 3.302.000 –

1918 5.257.000 –

1920 17.601.000 –

1922 23.840.000 –

1923 35.037.000 –

Công ty lâm nghiệp và diêm Đông Dương:

1918 570.000 phrǎng

1920 1.327.000 –

1922 1.733.000 –

1924 2.300.000 –

1925 3.414.000 –

CÔNG NGHIỆP HÓA THUỘC ĐỊA

Báo Thời đại ngày 19-3-1927, người phát ngôn của chủ nghĩa tư bản Pháp, đã có lý khi nhận xét rằng: “Sự thật là ở nước ta, những tư bản, đã từ lâu vẫn tỏ ra e ngại đối với những doanh nghiệp khai thác lãnh thổ hải ngoại của chúng ta thì bây giờ lại sẵn sàng hướng về những doanh nghiệp ấy, nhất là ở Đông Dương”. Thật vậy, kể từ khi cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa 1914 – 1918 chấm dứt, vô số những hãng hoặc công ty xuất vốn thương nghiệp và nông nghiệp đã mọc lên ở Đông Dương. Dưới đây, chúng tôi chỉ liệt kê những công ty có số tư bản trên một triệu phrǎng:

Công ty Pháp ở á châu, thành lập nǎm 1922, tư bản là 1.000.000

Công ty Optorg … 1919 … 20.000.000

Hãng anh em Đơnít
ở Đông Dương … 1922 … 2.500.000

Hãng Duymarét
ở Đông Dương … 1922 … 4.000.000

Hãng Poǎngxa và Vâyrê … 1921 … 12.000.000

Tổng công ty các cửa hàng
tổng hợp … 1921 … 12.000.000

Công ty Pháp – An Nam về sợi
và xuất khẩu … 1920 … 4.000.000

Công ty Mácxây ở hải ngoại … 1919 … 1.500.000

Hãng vận chuyển Viễn Đông … 1917 … 20.000.000

Tổng công ty lụa Pháp
ở Đông Dương …1921 … 7.000.000

Công ty hầm mỏ và
luyện kim Đông Dương … 1919 … 16.000.000

Công ty điện lực Đông Dương … 1921 … 15.000.000

Công ty luyện kim, nhà máy cơ khí
và xưởng đóng tàu Đông Dương … 1919 … 3.000.000

Công ty nhựa cây và sơn “JB” … 1921 … 1.000.000

Công ty công trình lớn Viễn Đông … 1922 … 25.000.000

Nhà máy xay xát Viễn Đông … 1922 … 25.000.000

Công ty vô danh xà lan và tàu kéo
Đông Dương … 1921 … 4.000.000

Công ty vô danh bất động sản
anh em Đơnít … 1922 … 15.000.000

Công ty Antraxit Bắc Kỳ … 1920 … 5.000.000

Công ty kinh doanh á châu … 1921 … 1.000.000

Công ty thǎm dò và xuất khẩu
khoáng sản … 1920 … 7.500.000

Công ty Pháp làm đồ thuỷ tinh
Đông Dương … 1923 … 10.000.000

Công ty máy làm lạnh
ở Viễn Đông … 1920 … 10.000.000

Công ty sơn Đông Dương … 1919 … 1.075.000

Công ty mỏ Bàuman … 1924 … 1.100.000

Công ty mỏ vàng Bắc Kỳ … 1924 … 8.000.000

Công ty đồ thuỷ tinh Viễn Đông … 1923 … 5.000.000

Xanhđica nghiên cứu đường sắt … 1921 … 2.000.000

Công ty thuộc địa sản xuất
thức ǎn dinh dưỡng … 1921 … 2.500.000

CHIẾM ĐOẠT RUỘNG ĐẤT

Tư bản Pháp không chỉ hướng vào công nghiệp và thương nghiệp Đông Dương, mà còn thành lập những công ty lớn mạnh để khai thác đất đai:

Công ty Cao Miên, thành lập nǎm 1922
với số tư bản là 5.000.000 phrǎng

Công ty ruộng đất thuộc địa … 1923 … 2.500.000 –

Công ty đồn điền đất đỏ … 1923 … 36.000.000 –

Công ty thương nghiệp và
công nghiệp Pháp – An Nam … 1922 … 1.000.000 –

Công ty nghiên cứu trồng
bông ở Đông Dương … 1923 … 1.000.000 –

Công ty Hớn Quản … 1919 … 3.000.000 –

Công ty công nghiệp và
lâm nghiệp Đông Dương … 1923 … 1.000.000 –

Công ty chè Đông Dương … 1924 … 10.000.000 –

Công ty đường và chưng lọc
Đông Dương … 1923 … 10.000.000 –

Chính vì vậy mà ở Nam Kỳ, 250.000 hécta đã bị những chủ đồn điền Pháp chiếm đoạt và 600.000 hécta sắp bị chiếm đoạt.

Hãng vận tải đường sông ở Nam Kỳ mua đất với giá 2,1 phrǎng một mét vuông và đem bán lại với giá 1.440 phrǎng một mét vuông.

ở Bắc Kỳ, trên 112.000 hécta đất ruộng và 63.500 hécta đất có quặng đều nằm trong tay 150 chủ đồn điền và 34 chủ mỏ, đấy là chưa kể những đất tô nhượng chưa được khai khẩn.

ở Trung Kỳ, cho đến nǎm 1925, chỉ có 62.000 hécta nằm trong tay người Pháp. Chỉ riêng nǎm 1926, đã có trên 300.000 hécta bị 180 người Pháp chiếm đoạt.

ở Cao Miên, có tất cả 523.000 hécta đất trồng trọt, nhưng khoảng 1/3 số đó nằm trong tay những tên thực dân hay trong tay giáo hội Giatô.

ở Lào, những người Pháp đã thiết lập chế độ “Khu dự trữ” – một chế độ mà những người Mỹ đã dùng đối với dân da đỏ và những người Nhật đã dùng với dân Đài Loan – nhằm mục đích chiếm đoạt của người bản xứ 200.000 ha đất đỏ.

Sự ĐộC QUYềN

Chủ nghĩa tư bản thực dân có xu hướng tiến tới sự độc quyền. Tất cả những xí nghiệp đông đảo đó ở Đông Dương đều phụ thuộc vào một vài công ty có thế lực. Chẳng hạn, chúng ta thấy công ty rượu của Pháp ở Đông Dương tham gia vào các xí nghiệp sau:

Ngân hàng tín dụng ruộng đất Đông Dương

Nhà máy thuỷ tinh Viễn Đông

Công ty than và mỏ kim khí Đông Dương

Vận chuyển đường sông

Công ty nông công nghiệp Cam Tiêm

Công ty thức ǎn đạm

Công ty than đá Bắc Kỳ.

Công ty thương nghiệp, nông nghiệp và tài chính Đông Dương, công ty “SICAF” như người ta thường gọi, lãnh đạo những công ty sau đây:

Công ty chè (Kon Tum)

Công ty bông (Sài Gòn)

Công ty nông nghiệp (Kon Tum)

Công ty chè An Nam

Công ty thương nghiệp Pháp – An Nam

Công ty công nghiệp và lâm nghiệp Biên Hoà

Công ty nông công nghiệp Bến Củi

Tổng công ty tơ lụa Pháp và Đông Dương

Công ty cà phê Đông Dương

Công ty nông nghiệp Sông Ruy.

Công ty tài chính Pháp và thuộc địa kiểm soát:

Ngân hàng tín dụng ruộng đất Đông Dương

Công ty cao su Đông Dương

Công ty cây nhiệt đới Đông Dương

Công ty bông Sài Gòn

Công ty máy xúc và công trình công cộng

Nhà máy thuỷ tinh Viễn Đông

Công ty xà lan và tàu kéo

Đồn điền cao su Bình Lộc

Nhà máy đường và rượu Đông Dương

Nhà máy nước và điện Đông Dương

Tân công ty phốt phát Bắc Kỳ

Những mỏ vàng Đắc Lắc

Những nhà máy giấy Đông Dương

Nhà máy in Viễn Đông

Những nhà máy lụa Đờlinhông.

Hãng S.F.F.C. có những chi nhánh đến tận các thuộc địa ở châu Phi.

ĐầU Sỏ TàI CHíNH

Những công ty chỉ đạo, đến lượt chúng lại nằm dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Đông Dương; mà ngân hàng này lại nằm trong tay một nhóm nhỏ những nhà tài chính độc quyền. Trong hội đồng quản trị của ngân hàng đó, chúng ta thấy có những tên sau đây:

Đờ Môngplanê, chủ tịch tổng công ty tín dụng công nghiệp và thương nghiệp.

Bêtơnốt, chủ tịch ngân hàng tín dụng Liông.

Boayê, chủ tịch chi điếm quốc gia chiết khấu Pari.

Rôxtan, phó chủ tịch chi điếm quốc gia chiết khấu Pari.

Đơnít, chủ tịch công ty anh em Đơnít.

G.Picốt, phó chủ tịch tổng công ty tín dụng công thương nghiệp.

Xtécnơ, quản trị ngân hàng Pari và Hà Lan.

Đờ Tơragômanh, quản trị ngân hàng tín dụng ruộng đất Pháp.

Và anh em Hônbéc nổi tiếng, có tên trong tất cả những xí nghiệp khai thác ở Đông Dương.

TƯ BẢN NƯỚC NGOÀI Ở ĐÔNG DƯƠNG

Chúng tôi không có những thống kê chính xác về tư bản nước ngoài đầu tư ở Đông Dương. Nhưng một vài số liệu dưới đây cũng đủ chứng tỏ sự tiến triển của tư bản nước ngoài:

Nhật xuất khẩu sang Đông Dương:

2.455.231 yên trong nǎm 1923

4.214.889 1924

6.382.512 1925

và nhập từ Đông Dương:

15.329.699 yên trong nǎm 1923

25.077.436 1924

62.272.000 1925

Nǎm 1924, 101 tàu Anh cập cảng Sài Gòn với 341.364 tấn hàng hóa (gần bằng nửa tổng số trọng tải hàng hoá Pháp lúc đó là 724.874 tấn), và 179 tàu Anh đã rời cảng Sài Gòn với 335.203 tấn hàng hoá. Cũng trong nǎm đó, 242 tàu của nước Anh đã cập cảng Hải Phòng và rời cảng đó với 285.441 tấn hàng hoá.

Nǎm 1926, những quan hệ thương mại của Anh với Đông Dương về mặt xuất khẩu là 323.667 xtéclinh, về mặt nhập khẩu là 328.824 xtéclinh.

Nǎm 1925, Mỹ bán cho Đông Dương 1.125.047 đồng hàng hoá và mua của Đông Dương 28.568 đồng nguyên liệu.

Xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ với Đông Dương trong nǎm 1926 được đánh giá là 1.434.049 đồng cho xuất khẩu và 211.877 đồng cho nhập khẩu.

ĐỐI KHÁNG THỰC DÂN Ở ĐÔNG DƯƠNG

Nước Nhật đã nhiều lần gửi những “Phái đoàn tuyên truyền”, “Phái đoàn nghiên cứu” hoặc “Phái đoàn thương mại” đi khắp Đông Dương. Mặc dù người Pháp thực tình không ưa những ông khách đáng nghi ngờ đó nhưng họ vẫn buộc lòng phải tỏ ra niềm nở, phải tiếp đón những phái đoàn ấy một cách long trọng và đưa họ đi tham quan khắp nơi. Những cuộc du hành ấy của những đại biểu Nhật làm cho chủ nghĩa đế quốc Pháp không yên tâm không những về phương diện kinh tế mà cả về phương diện chính trị. Vì mỗi khi có một cuộc thǎm viếng như vậy thì người An Nam hình như đột nhiên bừng tỉnh nhớ đến tình cảnh bị áp bức của mình, tình cảnh bị áp bức của “những người anh em họ của mình tại đế quốc mặt trời mọc”, và cũng nhớ đến khẩu hiệu “Châu á của người châu á”.

Người Nhật Bản đòi một biểu thuế quan được ưu đãi. Người Pháp không muốn cho người Nhật được hưởng như vậy, nhưng cũng không dám công khai từ chối.

Những cuộc thương lượng đang diễn ra giữa Chính phủ Nhật và Chính phủ Pháp về việc Nhật yêu cầu được tô nhượng những mỏ sắt ở Cao Miên.

Để chứng minh rằng mình chú ý nhiều đến Đông Dương, Chính phủ Nhật vừa mới đổi lãnh sự quán Hải Phòng của mình thành Tổng lãnh sự quán Bắc Kỳ. Ngược lại nước Pháp lại không cho phép Trung Quốc có quyền gửi những lãnh sự sang Đông Dương để bảo vệ quyền lợi của nửa triệu người Trung Quốc sinh sống ở đó.

Nǎm vừa qua ông M. Uynxtơn, thư ký ngân khố Oasinhtơn, đã đưa ra ý kiến rằng, vì nước Pháp không thể trả được nợ của mình mà nước Mỹ lại cần nhiều cao su, và Đông Dương thì lại có nhiều đất trồng cao su, cho nên thật rất tốt cho tất cả mọi người nếu người Pháp tô nhượng cho nước Mỹ – thay cho việc trả nợ – một vài triệu hécta đất đỏ (tháng 8 nǎm 1926).

Ông Uynxtơn đã được nhiều nghị sĩ của thượng nghị viện và hạ nghị viện Pháp tán thành. Một vài tờ báo Pháp cũng ủng hộ ý kiến của ông ta.

Với sự ủng hộ của chủ nghĩa đế quốc Anh, nước Xiêm cũng đưa ra những yêu sách với người Pháp ở Đông Dương. Chẳng hạn, ngày 31-7-1926, nước Pháp phải ký những hiệp nghị thừa nhận nước Xiêm có một chế độ quan thuế và thuế khoá độc lập, thừa nhận những quyền tự do rộng rãi cho những công dân Xiêm ở Đông Dương.

SỰ BÓC LỘT NGƯỜI AN NAM

Nếu người Pháp thấy lợi nhuận và tư bản của họ tǎng lên nhanh chóng, thì người An Nam cũng thấy sự nghèo khổ và những đảm phụ mình phải chịu cũng tǎng lên nhanh chóng.

Tổng ngân sách toàn Đông Dương do những người bản xứ đóng góp đã tǎng lên như sau:

1913 57.370.000 đồng

1915 62.230.000 –

1917 63.860.000 –

1920 70.170.000 –

1921 84.760.000 –

1922 87.120.000 –

1923 88.120.000 –

1924 89.830.000 –

Hơn nữa người An Nam còn phải đóng góp đầy đủ cho những ngân quỹ địa phương nữa: 17.800.000 đồng cho ngân quỹ Nam Kỳ, 18.200.000 đồng cho ngân quỹ Bắc Kỳ, v.v.. Ngoài ra họ còn phải đóng góp cho những khoản chi tiêu của các cơ quan thuộc địa ở chính quốc. Nǎm 1927, những số tiền đóng góp ấy là:

Chi tiêu quân sự … 130.000.000 đồng

Hàng không quân sự … 700.000 –

Trường học thuộc địa … 225.000 –

Cơ quan kinh tế … 880.000 –

Viện nghiên cứu thuộc địa … 302.000 –

Cơ quan thanh tra thuộc địa.. 240.000 –

Hội đồng tối cao của các thuộc địa 20.000 –

Ngoài những khoản thuế khoá và đảm phụ ấy, người bản xứ còn buộc phải mua quốc trái, buộc phải quyên góp để khôi phục đồng phrǎng, để giúp đỡ những miền bị tàn phá, v.v..

Khi đã thấy rõ diện tích bao la của phần ruộng đất bị chế độ thực dân chiếm đoạt và tiến độ đi lên của thuế má, thì thật là thừa nếu nói thêm rằng nông dân An Nam đang ở trong những điều kiện cùng khổ không thể tưởng tượng được.

Từ nǎm 1914 đến 1924, giá sinh hoạt tǎng thêm 47%, nhưng tiền lương của công nhân hầu như vẫn đứng nguyên tại chỗ.

Công ty than đá Bắc Kỳ chiếm 21.900 hécta đất mỏ và sử dụng 16.500 công nhân bản xứ. Với tư bản 16 triệu phrǎng, nǎm 1925 công ty đó đã kiếm được 35 triệu phrǎng tiền lời, trong khi đó, người thợ mỏ mỗi ngày chỉ lĩnh được 25 xu, tức là mỗi tấn được lĩnh 2,27 phrǎng. (Đàn bà được lĩnh 20 xu, trẻ em được lĩnh từ 10 đến 15 xu).

Công nhân làm trong các nhà máy bông vải sợi ở Bắc Kỳ làm suốt ngày từ 6 giờ sáng đến 9 giờ tối được lĩnh 15 xu.

Công nhân nông nghiệp trong các đồn điền cao su Bà Rịa cứ mỗi hố được lĩnh 6 xu. Do công việc khó khǎn và khí hậu oi bức, mỗi ngày một công nhân chỉ đào được 2 hố là nhiều, thành thử tiền công của họ được khoảng 12 xu.

Mỗi công nhân cạo mủ cao su làm trong công ty nông nghiệp Xuygiana phải phụ trách 9 hécta, nghĩa là từ 900 đến 1.500 cây cao su mới được lĩnh số tiền công nhật từ 15 đến 20 xu.

Một sắc lệnh ra ngày 11-11-1918 quy định rằng lao động của trẻ em không được vượt quá 10 giờ một ngày.

Về mặt thương nghiệp, với doanh số hằng nǎm là 5 tỷ, Đông Dương có 50 nghìn tiểu thương người An Nam (22 nghìn người ở Nam Kỳ), thương nghiệp lớn và trung bình nằm trong tay những người nước ngoài.

VÔ SẢN HÓA NGƯỜI BẢN XỨ

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thực dân ở Đông Dương đã tạo ra ở xứ đó hai giai cấp vô sản, giai cấp vô sản công nghiệp và giai cấp vô sản nông nghiệp.

Đa số công nhân công nghiệp làm trong các hầm mỏ và vận tải. ở Bắc Kỳ có khoảng 30 nghìn thợ mỏ chia ra như sau:

15.500 trong những hầm mỏ ở Hòn Gai

2.500 trong những hầm mỏ ở Bắc Cạn

1.500 trong những hầm mỏ ở Đông Triều

1.200 trong những mỏ than ở Bắc Kỳ

1.200 trong vùng đất sở hữu Kế Bào

1.200 trong những hầm mỏ ở Tràng Đà (tỉnh Tuyên Quang)

900 làm thuê cho công ty hầm mỏ Bắc Kỳ

900 trong những hầm mỏ ở Hà Nam và Hoà Bình

900 trong những mỏ thiếc ở Cao Bằng.

Ngành đường sắt có khoảng 11.500 công nhân, trong đó có 3.750 công nhân làm trên con đường Bắc Kỳ – Vân Nam (2.600 người An Nam và 1.150 người Trung Quốc).

Trong 65 nhà máy xay xát gạo lớn nhỏ ở Nam Kỳ có khoảng 7.000 công nhân, chưa kể một số lớn nhân công phụ làm công nhật (những người đánh xe, chở thuyền, v.v.).

Sau đó là:

2.000 công nhân trong những nhà máy dệt Nam Định

1.000 – – trong những xưởng sửa chữa tàu thuỷ ở Hải

Phòng

800 – – trong xưởng tàu Sài Gòn

800 – – trong hãng rượu Phôngten

600 – – trong nhà máy cơ khí Hải Phòng

600 – – trong nhà máy in Viễn Đông

650 – – trong nhà máy gạch ngói Đông Dương.

Những nhà máy, công xưởng sử dụng 400 công nhân thì rất nhiều, đó là: nhà máy xi mǎng Poóclan, xí nghiệp ácđen, nhà máy điện, những xưởng máy của công ty chuyên chở và dắt hàng, v.v..

Một trong những đồn điền cao su lớn ở Nam Kỳ sử dụng trên 3.600 công nhân nông nghiệp, một đồn điền khác sử dụng 3.300 công nhân, v.v..

ở Bắc Kỳ tuy rằng những đồn điền đều hẹp hơn, nhưng số những công ty hoặc công ty nông nghiệp Pháp sử dụng trên 100 công nhân thì có rất nhiều. Thường tất cả những thành viên trong 1 gia đình đều làm cho cùng 1 đồn điền, lúc đó người ta coi gia đình là một đơn vị tức là “gia đình tá điền”. Những gia đình đó gồm từ 2 đến 10 người. Trong số những doanh nghiệp nông nghiệp chúng tôi xin nêu:

Đồn điền Vielê 300 gia đình

Công ty thuốc lá Đông Dương 200 gia đình và 400 công nhân

Bonnơpho 200 gia đình

Guyôm 200 –

Huytlê 140 –

Râynôn 130 –

Kêple 100 – và 100 công nhân

Bécđê 100 –

Cácđê 110 –

Công ty nông lâm Yên Mỹ 600 công nhân

Cliét, Mahê và công ty 500 –

Bôren 150 –

Bà goá Halaba 150 –

Lơgiơn 150 –

Lêvi 100 –

v.v..

LAO ĐỘNG KHỔ SAI ĐỐI VỚI NGƯỜI BẢN XỨ

Trước khi người Pháp đến Đông Dương thì lao động khổ sai dưới hình thức lao dịch đã tồn tại. Nhưng chúng tôi đặt vấn đề lao động cưỡng bức dưới một hình thức khác hơn và hiện đại hơn.

Mặc dù Đông Dương có một dân số lớn, nhưng chủ nghĩa tư bản thuộc địa vẫn đang đứng trước tình hình khó khǎn khó tìm được đủ nhân công. Vấn đề là như sau:

Nông dân Cao Miên và Lào phản ứng mạnh mẽ chống lại công việc nặng nhọc mà chủ đồn điền Pháp muốn cưỡng bức họ tiến hành.

Nam Kỳ với đất đai khá màu mỡ và dân số thưa thớt không cung cấp được nhân công rẻ tiền.

Thế là chỉ còn người An Nam ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ bị sự cùng khổ đẩy đến chỗ phải lao động trong những điều kiện nặng nề, và họ là đạo quân hậu bị cho thị trường lao động.

Nhưng hiện nay số cầu về nhân công lại lớn hơn số cung về nhân công:

1. Chủ nghĩa quân phiệt Pháp cần có những người bản xứ cho những trại lính của nó.

2. Những đồn điền Pháp ở châu úc cần có những nô lệ cho đồn điền của chúng.

3. Những chủ đồn điền Pháp ở Nam Kỳ, Cao Miên, Trung Kỳ, Lào và Bắc Kỳ, tất cả bọn họ đều cần có nhân công giá rẻ.

4. Những hầm mỏ, nhà máy, xưởng thợ của Pháp cần có một dự trữ dồi dào về nhân lực cho những xí nghiệp của họ.

5. Chính phủ thuộc địa cần có những người đàn ông đi làm tạp dịch.

Công việc đê điều ở Bắc Kỳ cần 60.000 người. 35.000 người sẽ là cần thiết cho những đồn điền ở Nam Kỳ và 15.000 người cho những đồn điền ở Cao Miên (không kể những người đã có công ǎn việc làm), 10.000 người cho những đồn điền ở châu úc, v.v.. Nếu kể thêm những yêu cầu về mặt quân sự và công nghiệp thì cần đến khoảng 200.000 người có sẵn để thuê mướn. Vì sao khó mà tìm ra 200.000 người trong một đất nước có một dân số là 12 triệu người (Trung Kỳ và Bắc Kỳ).

Trước hết cần phải có những người vạm vỡ, trong khi đó đa số người An Nam lại ốm yếu do sự cùng khổ về sinh lý, (mỗi nǎm có 2 triệu trong số 5 triệu người An Nam ở Trung Kỳ bị đau mắt). Sau nữa là vì sợ bị ngược đãi, người An Nam chỉ vào làm trong những xí nghiệp Pháp khi họ bị thúc ép bởi sự cùng khổ đến cực độ.

Chính vì vậy mà người Pháp thường nói đến chuyện “thiếu nhân công” và họ nghĩ đến việc đưa ra những “thông báo về nhân công”, nghĩa là việc tuyển mộ cưỡng bức hoặc “chế độ tình nguyện” cưỡng bức được thi hành trong cuộc chiến tranh 1914-1918, nhằm mộ lấy 10.000 người An Nam gửi ra mặt trận ở Pháp và ở Salôních 1 .

SỢ HÃI CÁCH MẠNG

Mặc dù có hoạt động bề ngoài về kinh tế, và mặc dù làm ra vẻ an tâm, những tên đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ về một cuộc cách mạng sắp tới. Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình.

Hiện nay chỉ một mảnh truyền đơn do một học sinh nhỏ phân phát cũng đủ để làm cho toàn bộ Chính phủ thuộc địa phải đề phòng, và cái bóng của một phong trào nhân dân cũng đủ để làm cho những phiếu cổ phần thuộc địa bị sụt giá trên thị trường tài chính.

Cái mà bọn đế quốc thường sợ hãi đó là sự tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản.

Nói chuyện ở Côngxtǎngtin, ngày 22-4-1927, ông Xarô nguyên là toàn quyền Đông Dương, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã nói: “… Và chủ nghĩa cộng sản Pháp, theo lệnh của nước ngoài đều nhằm vào tất cả những điểm liên kết đời sống dân tộc của chúng ta để tuần tự làm hư hỏng tất cả những bánh xe trong bộ máy, huỷ hoại những cơ quan, phá vỡ những tổ chức, phá hoại những cơ chế hoạt động của chúng ta, đặc biệt là trong những nǎm gần đây nó ra công tìm cách bẻ gãy những chìa khoá quan trọng của sự nghiệp thực dân vĩ đại của chúng ta. Chính phủ không thể dung túng những kích động cách mạng, nội chiến, sự sụp đổ của quốc gia. Chính phủ đã trừng trị nó, và sẽ còn trừng trị nữa…”.

Khi nhận chức toàn quyền, Varen – đảng viên Đảng Xã hội – tuyên bố rằng nhiệm vụ đầu tiên của mình là dùng mọi biện pháp để ngǎn cản sự thâm nhập của công cuộc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản vào Đông Dương.

Tuy được bảo vệ bằng một đội quân 25.000 người (con số chính thức là 21.614 người), một hạm đội 27 tàu chiến (con số chính thức là hai pháo hạm, 4 ngư lôi hạm, 21 tàu có vũ trang), chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn lo sợ cho số mệnh của mình. Nǎm 1928, khoản chi phí quân sự của ngân sách Bộ Thuộc địa ngốn mất 393 triệu phrǎng, như thế là nhiều hơn nǎm 1927 đến 81 triệu phrǎng.

Đến tháng 6, người ta gửi sang Đông Dương ông Mannơcanh, nguyên là Cảnh sát trưởng quận Xen và là viên chức đặc biệt của tổng nha cảnh sát, để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương, theo lời của bản thông cáo chính thức.

Khi trở về Pháp, ông toàn quyền Varen đã có những cuộc hội đàm đặc biệt với các ông bộ trưởng Bộ hải quân và Bộ chiến tranh về vấn đề tǎng cường bảo vệ Đông Dương.

Tháng 7 nǎm 1927, tướng Clôđen, uỷ viên hội đồng chiến tranh tối cao sang Bắc Kỳ để nghiên cứu tại chỗ những biện pháp quân sự cần được tiến hành.

Người ta vừa thành lập ở Đông Dương 2 đại đội lính pháo thủ, 4 tiểu đoàn lính sơn cước, một cụm pháo binh gồm 3 khẩu đội, một phi đội và những phân đội xe tǎng, những phân đội súng máy khác.

Luôn luôn nói đến chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa đế quốc đã tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, mặc dù nó không muốn và không biết như vậy.

——————————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Đông Dương khổ nhục (1928)

“Ở Đông Dương giết người là việc xảy ra hằng ngày”, một diễn giả đã tố cáo như vậy ở Đại hội Liên đoàn chống áp bức thuộc địa và chống chủ nghĩa đế quốc họp ở Brúcxen. Câu nói đơn giản nhưng bao hàm cả sự thật hiển nhiên, đau xót của dân tộc đang bị đày đoạ này, mà đế quốc Pháp đang ra sức bưng bít những tiếng kêu gào của họ. Thực thế, ở đây, trong cái “pháo đài của nước Pháp ở Thái Bình Dương” ấy, người ta được mục kích hằng ngày những hành vi bạo ngược, giết người ǎn cướp ghê tởm nhất. Dĩ nhiên là những tội ác của bọn thực dân tàn bạo ấy được chính quyền bao che. Từ người đại diện tối cao của Nhà nước chính quốc đến những tên thực dân bình thường, ai nấy cũng tự ý và đua nhau giết hại, bóc lột đến tận xương tuỷ dân tộc đã bị chinh phục này. Chính Toàn quyền Varen, một đảng viên xã hội, đã cướp không hàng chục nghìn hécta đất của nông dân đem cho bạn nó; chính viên đội Đuyruýt đã bắt phạm nhân tự đào lấy mồ, đánh chết họ như đánh chó rồi đem chôn cất những người đang còn sống; một tên cai mỏ than ở Bắc Kỳ, đã làm chết một anh thợ bằng cách đánh anh gãy hai chiếc xương sườn vì anh đã dám coi thường nó. Đối với những tên sát nhân ấy, tòa án đã cho đứa thứ nhất vô tội, kết án đứa thứ hai hai tháng tù treo. Thật đúng là một thứ công lý chính tông! Đương nhiên cướp của giết người đối với bọn thực dân cá mập là những điều hợp pháp! Chúng ta không có đủ thì giờ kể hết tội ác của bọn côn đồ ấy. Chúng ta chỉ cần nói rằng đế quốc Pháp với quân lính của chúng đã coi tính mạng người Đông Dương như cỏ rác, muốn thì chúng tước đoạt của cải, thích thì chúng bắn giết. Nhưng áp bức càng đè nặng lên vai dân chúng bao nhiêu thì dân chúng chống lại càng nhiều bấy nhiêu. Trong những nǎm gần đây, dân bản xứ bị bóc lột ngày một thêm tệ nên họ đã chống chủ nghĩa đế quốc quyết liệt. Những mưu toan mới đây nhằm trưng thu đất đai của nông dân nghèo đã gặp một sự phản ứng đích đáng biểu hiện trong các cuộc nổi dậy và đổ máu. Công việc nặng nhọc không lúc nào được nghỉ ngơi của những phu đồn điền cao su – ở mỗi đồn điền này hằng tháng trung bình có 62 người chết – đời sống khổ sở, đói rét đã dẫn họ đến bạo động, kết quả là một số người cầm đầu bị tử hình. Điều này chứng tỏ rằng bây giờ cǎm hờn đã sôi sục trong lòng những người nô lệ và từ đây chủ nghĩa đế quốc Pháp không còn có thể bóc lột dân chúng Đông Dương mà không gặp những cuộc đấu tranh một sống một chết. Vì vậy Chính phủ thuộc địa quay lại đàn áp tàn nhẫn những người bất mãn chống lại chính sách cai trị của nó, những người đấu tranh để giành lại tự do và quyền sống. Chính phủ ấy còn đàn áp một cách chưa từng thấy đối với những người cách mạng và tình nghi cách mạng. Chúng xử rất nhiều án tù tội hàng chục nǎm. Ông Phan Vǎn Trường, một nhà báo An Nam, đã bị hai nǎm tù vì ông đã có tội đǎng lại một bài của báo L’ Humanité bàn về sự “Đoàn kết huynh đệ với cách mạng Trung Quốc”.

Sách báo viết về vấn đề độc lập dân tộc đều bị cấm ngặt không được lưu hành; còn tác giả và quản lý thì bị kết án nặng. Vì vậy nên hai anh em ông Vương Gia Bật và Vương Gia Ngãi ở Trung Kỳ đã bị kết án một người ba nǎm tù, một người hai nǎm, chỉ vì có tội là bày vào tủ hàng sách của các ông quyển “Tiểu sử Tưởng Giới Thạch” 1 . Một học sinh 17 tuổi bị giam cho đến tuổi thành niên vì đã làm bài thơ “Chiêu hồn nước” 2 .

Những vụ khám xét nhà cửa thì không kể xiết được. Chẳng có gì trong nhà, người ta cũng có thể bị bắt vì đã bị tình nghi. Học sinh Hà Tĩnh đã bị bắt như vậy. Chúng bắt các anh đó, tống giam hai tháng rồi thả ra, chẳng cần thủ tục gì. Không những Chính phủ thuộc địa trấn áp những người mong muốn tự do, độc lập mà còn xúc phạm đến cả phong tục tập quán của dân bản xứ nữa. Thờ phụng những người đã quá cố, một việc rất thiêng liêng và thiết tha của người An Nam, cũng bị cấm đoán. Mới đây trong cuộc đưa đám một nhà cách mạng cũ 1 , cảnh sát đã đánh đập dân chúng đến viếng mồ, làm một phụ nữ bị thương nặng, và bắt 12 người đưa ra toà, chúng kết án người một nǎm, kẻ 6 tháng hay 3 tháng tù. ở Sài Gòn, sáu người bị kết án mỗi người sáu tháng tù vì đã có tên trong danh sách ban tổ chức tang lễ.

Những sự việc trên đây được nhặt ra một cách tình cờ trong lịch sử chế độ thực dân, một lịch sử đầy dẫy chém giết, cướp bóc, đã mô tả khá rõ đời sống khổ cực của dân tộc Đông Dương bị xâm lǎng. Bị khuất phục bằng vũ lực, bắt buộc phải chịu đựng bao nhiêu điều nhục nhã, bị áp bức, bóc lột, dân Đông Dương không thể chịu ngồi yên mà không phá gông xiềng của chủ nghĩa đế quốc Pháp. Bọn chúng biết lắm, nên chúng tìm cách giấu giếm tội ác của chúng, bưng bít những tiếng thét cǎm hờn của người bản xứ và che đậy những cuộc khởi nghĩa bùng nổ không ngớt. Bọn chúng muốn cô lập xứ Đông Dương với nước ngoài để áp bức, bóc lột và cướp của được nhiều hơn. Chúng làm không được. Ngày nay bức màn bưng bít đã bị xé toang, tội ác của chúng đã phơi bày trước giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là trước thợ thuyền Pháp. Hỡi những ai đang đấu tranh ở khắp nơi, hỡi các bạn Nga đã tự giải phóng mình khỏi tay bọn cường quyền, chúng tôi kêu gọi:

“Những người bạn bất hạnh của các bạn hiện đang giãy giụa ở Đông Dương. Họ đang trải qua những giờ phút khó khǎn để tự giải phóng. Đế quốc Pháp đang giết hại họ, đang tước đoạt của cải họ. Mong các bạn nghĩ tới họ; tiếng thét cǎm thù của họ phải được hoà lẫn với tiếng thét của các bạn để chặn bàn tay giết người của bọn đế quốc Pháp ǎn cướp. Mong rằng sự quan tâm của các bạn đối với phong trào đấu tranh sẽ cổ vũ họ trong tương lai lật đổ được bọn đế quốc áp bức bóc lột”.

NGUYỄN
Nǎm 1928

————————————

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Phụ lục: Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc

TRUNG QUỐC VÀ THANH NIÊN TRUNG QUỐC78

Sách do một nhóm sinh viên Trung Quốc biên soạn, Nguyễn ái Quốc chủ biên, viết bằng tiếng Pháp, Pêtrôva Sua dịch sang tiếng Nga, Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản lần đầu tiên tại Mátxcơva (Liên Xô) nǎm 1925.

Dịch theo cuốn sách tiếng Nga in lần đầu tiên

TRUNG QUỐC VÀ DÂN SỐ CỦA NÓ

Theo thống kê gần đây nhất, dân số Trung Quốc lên đến 437.000.000 người. Diện tích của nó là 11.138.900 km 2 nghĩa là lớn hơn một chút so với diện tích châu Âu và gần bằng 1/15 tổng bề mặt quả đất.

ở Tây Tạng và Mông Cổ giá rét rất dữ dội, và những vùng sa mạc kéo dài bất tận. Cho đến tận bây giờ ở đấy dân cư vẫn sống cuộc đời du cư, du mục. ở miền Nam và miền Đông ruộng đất hết sức phì nhiêu. Những con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử và những con sông khác chạy dài mấy nghìn kilômét và tưới nước cho các cánh đồng lúa nằm dọc theo các dòng chảy của chúng. Trung Quốc chủ yếu là nước nông nghiệp.

Trung Quốc có nhiều tài nguyên dưới lòng đất hơn các nước khác. Người ta cho rằng chỉ riêng các mỏ than đá của nó ở Sơn Tây cũng có thể đủ thoả mãn nhu cầu của toàn thế giới về than đá trong 2 nghìn nǎm. Tại nhiều tỉnh có những mỏ lớn chứa kẽm, chì, đồng và các kim loại khác mà cho đến nay vẫn chưa được bắt đầu khai thác.

Sự phát triển xã hội Trung Quốc tập trung dọc theo lưu vực các con sông lớn. Ngay từ thời rất xa xưa, lưu vực những con sông ấy đều có dân cư đông đúc, các cơ chế xã hội đã đạt trình độ vǎn minh cao, trong khi dân cư ở những vùng khác vẫn còn chìm ngập trong tình trạng mông muội nhất.

Tại sao Trung Quốc, trái với các quy luật phát triển, cho đến nay vẫn là nước lạc hậu về kinh tế? Có nhiều nguyên nhân. Một mặt, những bộ lạc du mục hiếu chiến của Mông Cổ và Mãn Thanh thường xuyên tấn công Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc không những thường hay bị thiên tai như bão lốc, lụt lội v.v., mà còn chịu khổ vì bộ máy thư lại rất tồi tệ, đặc biệt trong những thế kỷ gần đây, gây nên những cuộc nổi dậy và nội chiến liên miên. Vị trí địa lý của Trung Quốc cũng thúc đẩy sự lạc hậu của nó. Những vùng sa mạc rộng lớn ở phía Bắc, những vùng bǎng tuyết vĩnh cửu ở phía Tây, những vùng biển cả to lớn ở phía Nam và phía Đông đã không tạo khả nǎng có những quan hệ với các dân tộc khác. Nếu cộng vào đó tinh thần ưa chuộng lối sống đồng quê và thiếu tinh thần tháo vát, đặc trưng cho người Trung Quốc, thì chúng ta sẽ dễ dàng hiểu rõ nguyên nhân của tình trạng trì trệ của Trung Quốc. Toàn bộ đời sống trí tuệ của người Trung Quốc đều thấm đượm tinh thần triết học và giáo lý của Khổng Tử. Lòng tôn kính cha mẹ, tình anh em, tình bạn trung thành, sự hoà thuận giữa mọi người, đều hoặc rút từ quan điểm của Phật – tẩy rửa con tim và khối óc, sự kiềm chế những dục vọng và lòng cuồng nhiệt, v.v.. Chúng tôi, những người mácxít trẻ tuổi, cho rằng, mọi thứ đạo đức xã hội chỉ là sự phản ánh các điều kiện kinh tế và do vậy, những ai muốn hoàn thiện tâm hồn thì phải bắt đầu từ việc hoàn thiện các điều kiện vật chất của cuộc sống. Các truyện thần thoại cổ đều nói đến lòng nhân từ khác thường của hàng loạt gia tộc và của từng cá nhân, nhưng tất cả những cái đó không thể làm thoả mãn chúng tôi, bởi vì chúng tôi biết rằng, những truyện cổ tích chưa biết đến chủ nghĩa tư bản nước ngoài và không tiên đoán được cuộc đấu tranh giai cấp.

LịCH Sử LâU ĐờI CủA TRUNG QUốC

Lịch sử Trung Quốc đã mở đầu từ 2.500 nǎm trước Công nguyên, nhưng chỉ đến nǎm 2357 chúng ta mới tìm thấy những chỉ dẫn đầu tiên về con người và những sự kiện. Từ nǎm 2357 đến nǎm 2261, Trung Quốc nằm dưới sự cai trị của vua Nghiêu là vị hoàng đế anh minh và nhân từ.

Vào khoảng nǎm 1740, nạn lụt khủng khiếp đã nhấn chìm đất nước. Hồi đó thượng thư trông coi các công việc xã hội là Vũ đã thắng nạn lụt; ông đã 9 nǎm đào kênh và đắp đập. Nhờ những công lao của mình, ông đã được chọn làm hoàng đế. Những người kế vị ông đã tỏ ra không được tài ba lắm và không được nhân từ lắm, vì vậy, triều đại này đã bị cuộc cách mạng nǎm 1783 lật đổ.

Sau triều đại Vũ đến triều đại Thương cầm quyền từ nǎm 1783 đến nǎm 1134.

Sau các triều đại đó là triều đại nhà Chu. Vào những đời vua đầu của triều đại này, người Triều Tiên và người An Nam ngưỡng mộ trước sự lừng lẫy của các vị quốc vương vĩ đại ấy, đã cử các sứ thần của mình đến triều đình của hoàng đế Trung Hoa. Chu Công, thái tử kế ngôi, vừa là một vị thượng thư và nhà bác học vĩ đại, đã tặng dân An Nam tặng phẩm – đó là chiếc la bàn. Sự kiện vĩ đại nhất diễn ra vào cuối các đời vua của triều đại này là sự xuất hiện 3 vĩ nhân – Khổng Tử, Lão Tử và Mạnh Tử. Mạnh Tử là một lý luận gia cách mạng của thế hệ ông bởi vì ông là tác giả đầu tiên của câu nói: “Dân là tất thảy, vua không là gì cả”.

Vào khoảng nǎm 246, triều đại nhà Chu đã bị triều đại Tần thay thế. Chúng ta chịu ơn nhà sáng lập ra triều đại này về một trong những “kỳ quan của thế giới” – bức Vạn lý trường thành 79 . Ông là người rất có nghị lực và một nhà cách tân lớn. Ông đã thủ tiêu chế độ phong kiến 1 và thống nhất Trung Quốc, ông đã đào kênh, xây dựng đường sá để giúp cho công việc giao thông được dễ dàng. Để thắng bọn bảo thủ chống lại chính sách của mình, ông đã thi hành những biện pháp đơn giản nhất và tích cực nhất: ông đã ra lệnh đốt hết sách, trừ sách về y học và thiên vǎn và bắt giam tất cả những ai phê phán mình. Triều đại này đã tồn tại không lâu, đến nǎm 206, nó đã bị triều đại Hán thay thế.

Vị vua đầu tiên của nhà Hán đã làm khác hẳn người sáng lập ra triều đại Tần. Ông vua đó đã khuyến khích việc nghiên cứu thời cổ đại và dành cho các môn khoa học một vị trí quan trọng trong nước mình. Nhờ triều đại này, Trung Quốc đã có được một trong những thời đại chói lọi nhất và hạnh phúc nhất. Nghệ thuật, vǎnhọc và triết học đã đạt đến trình độ phát triển thịnh vượng nhất.Đến thời đại ngày nay còn lại chiếc cầu treo tuyệt vời – di tích về nghệ thuật kiến trúc thời nhà Hán – đó là công trình đầu tiên của nghệ thuật kiến trúc. Vào thời kỳ những nǎm 150 – l08, trong thư viện quốc gia đã có đến 3123 tác phẩm kinh điển, 2705 cuốn sách về triết học và 1383 tập thơ ca. Trong thời kỳ trị vì của triều đại này có một sự kiện lịch sử đặc sắc – đó là sự du nhập của đạo Phật vào Trung Quốc diễn ra trong 58 nǎm trước công nguyên.

Từ nǎm 220 đến nǎm 618, ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến kéo dài mà hậu quả là triều đại nhà Hán sụp đổ và triều đại Đường lên thay.

Có một nhà sư ở thời đại ấy đã mở cuộc hành trình đến ấn Độ. Khi đi, ông đi bộ, khi về thì bằng thuyền. Cuộc hành trình đã kéo dài 14 nǎm. Triều đại nhà Đường đã lừng lẫy nhờ nền vǎn học đặc biệt chói lọi. Quan hệ quốc tế được mở rộng, và vào khoảng nǎm 907, đã có các đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và La Mã hoạt động bên cạnh triều đình hoàng đế.

Sự kiện kinh tế quan trọng nhất là sự xuất hiện tiền giấy vào khoảng nǎm 960.

Triều đại nhà Tống thay thế nhà Đường và trị vì Trung Quốc cho đến nǎm 1276, là khi nó bị người Mông Cổ lật đổ.

Từ nǎm 1280 đến nǎm 1290, Trung Quốc đã tiến hành cuộc chiến tranh đầu tiên với nước ngoài là Nhật Bản. Nhà Minh đã đánh đuổi được quân Mông Cổ và ở lại ngôi vua cho đến nǎm 1644. Ngoài việc soạn thảo bộ luật và những cải cách khác, nhà Minh đã làm được rất nhiều trong lĩnh vực giáo dục. Bộ Bách khoa toàn thư gồm 22.877 tập, cùng với danh mục 60 tập đã được xuất bản nǎm 1407.

Vào những nǎm 1511-1517, đã có 2 người Bồ Đào Nha là Pêrêxtơrala và Đôn Đờ Analađa đến Trung Quốc. Đó là bước mở đầu của sự xâm nhập của nền thương mại phương Tây và là sự xuất hiện đầu tiên của chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Trong khi những nhân vật Bồ Đào Nha ấy ký kết các hợp đồng thương mại thì đồng bào của họ có mặt tại các cảng Trung Quốc đã lừa đảo dân bản xứ và sử dụng vũ khí cưỡng bức thô bạo nhằm chinh phục họ: chúng đã tàn phá hàng loạt làng mạc. Nǎm 1552, các vùng ngoại vi của Trung Quốc đã bị người Nhật tấn công. Sau 40 nǎm, người Nhật lặp lại những hành động ấy, nhưng lần này họ bǎng qua ngả Triều Tiên. Cuộc chiến tranh đã kéo dài 3 nǎm và Trung Quốc đã thắng. Chính vào thời kỳ này đã diễn ra vụ tàn sát 20.000 người Trung Quốc ở Philíppin do các thương gia Tây Ban Nha thực hiện.

Triều đại Mãn Thanh bắt đầu từ nǎm 1644 và kết thúc vào nǎm 1911 vào ngày nổ ra cuộc Cách mạng Trung Quốc.

SỰ XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGOẠI QUỐC VÀ NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA ĐẦU TIÊN

Nǎm 1635, Vua nước Anh Sáclơ I đã cử thuyền trưởng Vêđen với giấy phép được tiến hành công việc buôn bán ở Quảng Châu. Công xưởng đầu tiên của Anh đã được xây dựng tại hải cảng này vào khoảng nǎm 1681. Đến nǎm 1728 ở Bắc Kinh đã xây dựng trường trung học đầu tiên để dạy tiếng Trung Quốc cho người Nga.

Nǎm 1742, chiếc tầu chiến đầu tiên của Anh “Xenturiông” đã đến Trung Quốc. Đại sứ Anh, huân tước Macácnây đã đến Bắc Kinh nǎm l792. Đến nǎm 1830, một đại sứ Anh khác, huân tước Nêpirơ, đã xin phép được nhập cảng thuốc phiện. Nhưng đã bị khước từ. Nhưng 6 nǎm sau đó người Anh nhập lậu 20.280 thùng thuốc phiện vào những vùng được phép buôn bán thuốc phiện. Để buộc Trung Quốc chấp nhận thứ thuốc độc này, nước Anh đã tuyên chiến vào nǎm 1839, và đến nǎm 1841 thì Quảng Châu bị hạm đội Anh bao vây 80 .

Sau khi ký hoà ước, Hồng Công bị tách khỏi Trung Quốc, còn Phú Châu, A Môi, Ninh Ba và Thượng Hải đã được mở cửa cho chủ nghĩa tư bản ngoại quốc thâm nhập vào. Trung Quốc đã buộc phải trả khoản đền bù chiến tranh 21.000.000 đôla, trong đó có 6.000.000 được dùng để bù vào giá trị số thuốc phiện đã bị huỷ đi.

Đến nǎm 1856, nước Anh lại một lần nữa tuyên chiến với Trung Quốc để buộc nước này mở cửa 5 hải cảng mới dành cho công cuộc buôn bán và hợp pháp hoá việc mua bán thuốc phiện.

Nǎm 1860, quân đội Anh – Pháp đã tràn vào Bắc Kinh, đốt phá các cung điện, ngọn lửa của đám cháy đã hoành hành trong mấy ngày liền. Nǎm 1885, cuộc chiến tranh Pháp – Trung Quốc 81 đã chấm dứt với việc ký hoà ước ở Thiên Tân quy định vùng phía nam là An Nam thuộc quyền cai trị của người Pháp. Nǎm 1894, cuộc chiến tranh do Nhật Bản tiến hành đã giải phóng Triều Tiên khỏi ách thống trị của Trung Quốc, nhưng đã đặt nó dưới quyền của “Đế quốc Mặt trời mọc”. Nǎm 1898, nước Đức tuyên chiến với Trung Quốc và chiếm vùng Thanh Đảo.

Nǎm 1900, có cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn, sự phẫn nộ của những phần tử dân tộc chủ nghĩa bị đẩy vào tâm trạng tuyệt vọng do sự ǎn cướp của bọn người ngoại quốc, khiến cho Trung Quốc đã phải trả cái giá là 450.000.000 taen 1 bồi thường chiến tranh mà quân đội các nước đồng minh đã bắt nó phải gánh chịu.

Sau tất cả những cuộc tấn công kế tiếp nhau ấy, Trung Quốc bị hoàn toàn khánh kiệt, bị trói buộc về kinh tế và chính trị bởi các cường quốc đế quốc chủ nghĩa. Vẫn chưa thoả mãn với những đặc quyền của mình những lãnh địa tô nhượng, các hải cảng được tô nhượng đã mở cửa để họ tiến hành công cuộc thương mại, các cường quốc ấy đã nắm lấy tất cả các điểm chiến lược, các đường trên biển và trên bộ, chia nhau những khoản thu thuế hải quan và các khoản thuế gián thu, chiếm lấy các nguồn tài nguyên kinh tế. Tóm lại, Trung Quốc biến thành con mồi của chủ nghĩa tư bản ngoại quốc.

Nền độc lập của Trung Quốc chỉ là một danh từ trống rỗng. Trên thực tế nó là một nước thuộc địa. Sự cai trị thuộc về các cơ quan ngoại giao nước ngoài đóng tại đây. Không có một hành động chính trị nào ở trong nước hoặc ở ngoài nước xuất phát từ Chính phủ Trung Quốc mà lại không thể hiện ý chí của các cường quốc đế quốc chủ nghĩa. Nếu như sự kình địch nhau và lòng ghen tức của các cường quốc ấy đã khiến cho Trung Quốc tránh khỏi bị hạ xuống hàng thuộc địa, thì dù sao các cường quốc ấy cũng duy trì cuộc hiềm thù bên trong Trung Quốc. Mỗi cường quốc đế quốc chủ nghĩa đều có một tay sai Đugiuyn (thống đốc) nào đó mà thực chất là đại biểu cho một hình thức tồi tệ nhất của chế độ quân phiệt Trung Quốc. Những con người ấy gây hiềm thù với nhau, cắn xé nhau, làm khánh kiệt hàng loạt vùng, qua đó, tạo ra tình trạng không vững chắc ở trong nước và tạo duyên cớ cho người nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc.

Chính sách kinh tế của Chính phủ Trung Quốc trước khi triều đại nhà Mãn Thanh đổ, và cho đến tận bây giờ, chỉ quy tụ vào một điều: đi vay để mà sống. Số nợ của quốc gia vào nǎm 1922 là 2.500 triệu taen (l,9 tỷ đôla). Tất cả các khoản thu nhập chủ yếu nhất là: thuế cửa khẩu, thuế muối, đường sắt, hầm mỏ, v.v., đều do người ngoại quốc kiểm soát, nghĩa là họ mua hết. Mười hai nghìn kilômet đường sắt đã được xây dựng hầu như hoàn toàn bằng các khoản vốn của nước ngoài.

Còn tình cảnh của giai cấp vô sản Trung Quốc thì như thế nào dưới sức ép của chủ nghĩa tư bản ngoại quốc ? Chỉ cần nhìn qua số liệu thống kê về thương mại, chúng ta cũng có thể thấy rõ toàn bộ tình trạng nghèo khổ của giai cấp vô sản Trung Quốc. Hằng nǎm, nhập siêu ít nhất là từ l00-200 triệu taen. Đó là tình trạng bòn rút thường xuyên tiền của Trung Quốc ra nước ngoài, nó không tránh khỏi đưa đến chỗ làm đất nước nghèo đi, và còn dẫn đến một hậu quả to lớn hơn: hàng hoá nước ngoài tràn ngập thị trường nội địa và tạo ra tình trạng cạnh tranh không thương xót gây nguy hại cho hàng hoá nội địa, dĩ nhiên đó là những hàng hoá ít tân kỳ hơn và đắt hơn. Như vậy, khối quần chúng thợ thủ công bị phá sản và trở thành vô sản.

Bọn quan cai trị của Mãn Thanh kiên quyết chống lại tiến bộ hiện đại. Mặc dù bị sỉ nhục và chịu những sự thua thiệt do ngoại quốc gây ra, bọn quan lại đó đã không biết cách và không muốn thực hiện bất kỳ những cải cách nào hết. Bọn chúng không chịu để nhân dân tiếp xúc với sinh hoạt quốc tế ngày nay, chúng dấn thân vào chính sách ngu dân quan liêu kiểu “chúa đất” ghê tởm. Trong chính sách đối ngoại, chúng tiến hành các cuộc chiến tranh bất hạnh; trong chính sách đối nội, thì chỉ thấy những cuộc bất bình vô tận của nhân dân. Nǎm 1795, đã nổ ra cuộc nổi loạn của phong trào “Bạch liên giáo” 82 . Phong trào “Tam điểm” đã phát động cuộc khởi nghĩa nǎm 1842. Cuộc khởi nghĩa Thái Bình nǎm 1849 đã làm cho chính ngai vàng của “Thiên tử” phải lung lay. Cuộc khởi nghĩa của dân Hồi; giáo đã kết thúc bằng cuộc chém giết nǎm 1859.

Cuộc khởi nghĩa của phong trào Nghĩa hoà đoàn nǎm 1900 đã kết thúc rất bi thảm đối với nhân dân Trung Quốc và rất nhục nhã cho bọn chiến thắng. Bắc Kinh đã trở thành miếng mồi cho bọn binh lính hung hãn của 8 dân tộc “vǎn minh”. Có thể thấy được các ông tai to mặt lớn với các sứ mạng vẻ vang nhưng đã biến thành những tên cầm đầu các bǎng cướp bóc. Những quan chức cao cấp đã ngang nhiên cướp đi các tác phẩm nghệ thuật để đem về trang hoàng cho các bảo tàng quốc gia nước mình hoặc cho những tư nhân ham mê sưu tập. Cuộc khởi nghĩa của phong trào Nghĩa hoà đoàn nổ ra do bị áp bức và do thái độ hống hách không thể chịu nổi của chủ nghĩa đế quốc nước ngoài. Nhưng do thiếu kế hoạch và thiếu sự lãnh đạo sáng suốt cho nên phong trào này, về bản chất mang tính chất chống quân phiệt và mang tính chất dân tộc, lại đi vào con đường của chủ nghĩa cuồng tín tôn giáo. Đó là sự lầm lạc không thể tránh khỏi và đặc trưng cho tất cả các dân tộc đã bị biến thành thuộc địa hoặc đang bị đe doạ biến thành thuộc địa, các dân tộc ấy ra sức, một cách tuyệt vọng và vụng về, thoát ra khỏi ách thống trị của ngoại bang! Khoảng nǎm 1867, đứng trước nguy cơ bị Nga- Mỹ xâm lấn, người Nhật đã phát động phong trào “chống dã man” cũng mang tính chất cuồng tín như thế, y như phong trào nǎm 1900 của Trung Quốc.

ở miền Nam, người Trung Quốc đã có quan hệ với người ngoại quốc từ sớm hơn nhiều so với ở miền Bắc: họ xuất dương để di cư đông đến hàng vạn người, họ làm việc và sinh sống tại các nước tư bản chủ nghĩa. Do vậy, họ đã hiểu rõ hơn – so với đồng bào của mình ở miền Bắc – về ý nghĩa cuộc đấu tranh giữa bọn đi bóc lột và những người bị bóc lột. Họ là những người trước nhất hiểu rõ tính chất vô hiệu của uy quyền hoàng đế và tư tưởng bảo thủ của hoàng đế, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng suy yếu của đất nước và sự thống trị của ngoại bang. Như vậy, họ đã tìm đến tận cội rễ của bất hạnh. Họ đã dùng cách mạng lật đổ chế độ quân chủ. Giờ đây họ cố tìm cách thoát khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc nước ngoài bằng công tác tự tổ chức về kinh tế. ở đây chứa đựng nguyên nhân cho thấy tại sao các cường quốc tư bản chủ nghĩa ưa thích Chính phủ miền Bắc hơn. Chính phủ này luôn luôn thoái hoá và thường hay bị mua chuộc, mà lại không thích Chính phủ miền Nam, là một Chính phủ ít bị cám dỗ hơn và sáng suốt hơn.

CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC CƯỚP BÓC TRUNG QUỐC

Như chúng ta đã thấy, sự mầu mỡ của ruộng đất, tài nguyên dưới lòng đất, tinh thần cần cù lao động của dân chúng đã biến Trung Quốc thành một nước nông nghiệp vĩ đại có khả nǎng đủ nuôi sống dân cư nước mình. Núi cao, các miền đồng bằng sâu thẳm, những vùng biển cả bao la và những miền sa mạc bất tận bao bọc nó và không cho nó trở thành một nước thương mại. Nét nổi bật trong tính cách người Trung Quốc là tính thích ngồi ở nhà, thái độ ghê tởm sự xa hoa, đạo đức của họ đã đặt vai trò thương nhân xuống vị trí cuối cùng trong nấc thang xã hội, đầu óc bảo thủ trong tất cả các công việc của đời sống – tất cả những điều đó đã dựng lên bức tường hàng nghìn nǎm và hầu như không thể xuyên thủng, làm cho nhân dân Trung Quốc tách rời khỏi những nước đương thời nǎng động hơn. Mặc dù đã hơn mười hai nǎm trôi qua kể từ khi cách mạng nổ ra, nhưng người Trung Quốc vẫn chưa tự thể hiện được mình. Họ đã phá đổ, nhưng chưa xây dựng. Tất cả những tai ương của chế độ cũ vẫn còn. Chế độ địa chủ và chúa đất và chế độ phong kiến vẫn tiếp tục tồn tại. Một hoàng đế đã bị lật đổ, nhưng cả một đám tiểu hoàng đế đã xuất hiện thay vào đó ở mỗi tỉnh mà đại diện là các viên thống đốc các tỉnh. Bọn quân phiệt, công cụ của bọn tư bản ngoại quốc, đã trở thành những chủ nhân của đất nước. Cuộc nội chiến kéo dài từ ngày nổ ra cách mạng, càng ngày càng đẩy đất nước đến gần sự diệt vong.

Dưới sức ép của những nước láng giềng mới, nhờ sự cần cù và sự dồi dào của mình, nhờ những tài nguyên thiên nhiên mà nó có được, nước Trung Hoa lẽ ra có thể phồn vinh, nếu như các cường quốc tư bản chủ nghĩa không cản trở nó trong vấn đề này một cách ân cần nhất và nếu như bản thân người Trung Quốc không giúp cho sự phá hoại ấy, tuy không tự giác nhưng thật là ngu ngốc.

Bằng những biện pháp nào, tư bản ngoại quốc cản trở được sự phát triển kinh tế của Trung Quốc? Chúng làm nảy sinh các khó khǎn chính trị, gây ra những sự hiềm thù nội bộ và tạo ra những vụ rắc rối ngoại giao, chúng cần đến điều đó. Viện vào chỗ nắm trong tay các hải cảng thương mại, chúng chiếm giữ các thành phố quan trọng về mặt chiến lược, khuyến khích những vụ vay mượn, và đòi phải phục hồi những đặc quyền. Chúng chiếm các thị trường, kiểm soát các nguồn tài chính, chiếm đoạt các đặc quyền. Tóm lại, chúng can thiệp vào mọi công việc của Trung Quốc. Dựa vào các tầu chiến và quân đội, chúng điều khiển vận mệnh của nước này theo cách của chúng. Tất cả mọi hành động của chúng đều nhằm tạo ra các trở ngại trên con đường tiến lên của nhân dân Trung Quốc.

Những biểu đồ dưới đây minh hoạ chính sách ǎn cướp mà bọn đế quốc thi hành.

Những khoản cho vay dành cho Trung Quốc

Nước cho vay

Số tiền cho vay

Nguồn bảo đảm

Thời gian cho vay

Nga, PhápAnh, Đức

Anh, Đức

Anh

Anh, Pháp, Đức,Nhật,Nga

Pháp

Nhật Bản

Nhật Bản

Mỹ

Italia

15.820.000 bảng16.000.000 bảng

16.000.000 bảng

6.694.000 bảng

25.000.000 bảng


50.000.000 phrǎng

11.900.000 yên

40.000.000 yên

7.500.000đôla

5.500.000đôla

5.500.000 đôla

5.882.046 bảng

Thuế quan-nt-

Thuế quan và
thuế thu 7 thị trường

Thuế muối, quyền khai thác đường
sắt Bắc Kinh-
Hán Khẩu

Thuế muối

Tiền thuê các
xí nghiệp công nghiệp, thuế
nước ǎn

Thuế nhập
bưu chính

Thuế đất, các
đồ quý giá, muối, các loại giải trí, thuế quan

Thuế thuốc lá

Thu nhập từ 4 tỉnh

Thuế quan,
thuế muối

Thuế quan,thuế nông nghiệp

1895

1896

1898

1911-1912-1914

1913

1914

1901

1918

1901

1916

1919

1901

Những sự kiện chủ yếu của quá trình các nước đế quốc xâm nhập Trung Quốc (1842 – 1919)

Nǎm

Nước
tấn
công

Các khoản đền bù
chiến tranh do
Trung Quốc gánh
chịu (triệu)

Lãnh thổ
mà Trung Quốc
phải nhượng lại

Những điều khoản khác

Lý do
tấn công

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

1840-1842

Anh

21 tr. đôla

Các tô nhượng tại các thành phố: Quảng Châu, Thượng Hải, Ninh Ba, Phố Châu; Hồng Kông hoàn toàn thuộc sự cai quản của Anh

Đảo Suxun không được nhượng lại cho nước khác

Trung Quốc không cho phép nhập khẩu thuốc phiện

1856-1858

Anh – Pháp

8 tr. taen

10 tr. Bảng

Mở thêm 5 cảng
cho nước ngoài
buôn bán

Các cha cố được tự do truyền đạo, xét lại biểu thuế quan có lợi cho các thương gia ngoại quốc

Trung Quốc bắt giữ tàu chở thuốc phiện có treo cờ nước Anh

1877-1885

Pháp

Trung Quốc
thừa nhận
quyền lợi của
Pháp đối với xứ
An Nam và mở
cửa thêm 2
thành phố cho người ngoại quốc

Tô nhượng đường sắt cho Pháp tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc

1894-1895

Nhật Bản

200 tr. taen

Đảo Đài Loan, quần đảo Pêxcađo, bán đảo Liêu Đông cùng với hải cảng Lữ Thuận vào tay nước Nhật

Trung Quốc xâm phạm nền độc lập của Triều Tiên

Nga

Có quyền xây con đường sắt Đông Trung Quốc chạy qua phía Bắc Mãn Châu Lý

Vì làm trung gian giữa Nhật và Trung Quốc và vì đã hoàn lại cho Trung Quốc bán đảo Liêu Đông

1897

Đức

Được thuê Thanh Đảo trong 99 nǎm

Các tô nhượng đường sắt và khai thác mỏ ở tỉnh Sơn Đông

Hai nhà truyền giáo bị giết

Nga

Được thuê pháo đài
Lữ Thuận

1898

Anh

Được thuê hải cảng Uy Hải Vệ, mở rộng thêm lãnh thổ Hồng Công

Đồng bằng sông Dương Tử được thừa nhận là khu vực lợi ích của nước Anh

Để lập lại sự cân bằng giữa các cường quốc

Pháp

Các tô nhượng về đường sắt ở các tỉnh phía Nam và các mỏ, và không được nhượng lại cho cường quốc thứ ba

Cũng vì lý do trên

1900-1901

Anh, Nga, Đức, Pháp, Mỹ, áo, Nhật

450 tr. taen

Quân đội nước ngoài được thường xuyên đóng ở Bắc Kinh; Nga hưởng các đặc quyền ở Mãn Châu Lý

Cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn

1905

(Chiến tranh Nga – Nhật)

Các lãnh thổ do người Nga chiếm thì nay chuyển sang tay người Nhật

1910

Nhật Bản

Triều Tiên

1915

Nhật Bản

Nhật Bản được hưởng “các đặc lợi” ở Nam Mãn Châu Lý và Đông Mông Cổ

Trung Quốc chấp nhận một số điều khoản trong “21 đòi hỏi” tạo cho Nhật Bản các đặc quyền kinh tế

1919

Hoà ước Vécxây

Các quyền lợi của Đức ở Trung Quốc hoàn toàn chuyển vào tay Nhật Bản

Ghi chú: Biểu đồ này hết sức bổ ích, nó chỉ rõ rằng:

1. Chủ nghĩa tư bản da trắng, nhằm mục đích làm giàu, đã không ngần ngại và sẵn sàng đầu độc cả một dân tộc bằng thuốc phiện; để bán được thứ thuốc độc ấy, nó không ngần ngại tuyên chiến và giết hại hàng trǎm và hàng nghìn binh lính.

2. Chủ nghĩa đế quốc da trắng gây gổ, vin vào những cớ nhỏ mọn nhất để buộc Trung Quốc dành cho nó những tô nhượng về lãnh thổ và những nhượng bộ khác. Những lý do đó thường do bản thân các cường quốc hữu quan gây nên; đó là trường hợp phái các nhà truyền giáo đến những vùng mà họ thừa biết rằng, ở đấy dân chúng có thái độ thù địch đối với những nhà truyền giáo.

3. Một nước đế quốc chủ nghĩa kêu gọi nước khác hãy dùng vũ lực chiếm một thành phố hoặc hải cảng của Trung Quốc để rồi dưới chiêu bài duy trì thế cân bằng, nước đế quốc nọ có thể cũng làm cái việc như thế.

4. Sự đê tiện và tình trạng bất lương không có giới hạn. Nǎm 1895, Nga, Pháp và Đức đã đề nghị với Trung Quốc để họ được làm trung gian giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Do sự nỗ lực của các nước trên, Trung Quốc đã bị mất lãnh thổ và 20 triệu taen. Điều đó cũng không cản trở họ đòi Trung Quốc phải trả 3.000.000 taen tiền “chè thuốc” về những dịch vụ đặc biệt – y như các cô gái điếm đòi tiền.

5. Chủ nghĩa đế quốc Pháp đã vững chân ở Đông Dương, lại tìm cách thực hiện, qua các giai đoạn tuần tự, quá trình thực dân hoá đối với cả vùng Trung Bộ của Trung Quốc. Nó đã thắng vùng đó về phương diện kinh tế, và chỉ chờ thời cơ thuận tiện để hoàn toàn chiến thắng vùng này.

ý nghĩa của tất cả các biểu đồ ấy là ở chỗ nào? Là ở chỗ: chủ nghĩa tư bản phương Tây đang trải qua cuộc khủng hoảng: cần có nhiều hơn nữa các nước thuộc địa để phân chia với nhau, cần có nhiều hơn nữa các thị trường mới để khuất phục, song dẫu sao nó vẫn cảm thấy chật chội mỗi khi phải hành động. Và trong trường hợp ấy tất cả các thành viên trong gia đình tư bản chủ nghĩa hùa nhau lao vào nước trung bình và bắt đầu giằng xé nó tuỳ theo ý mình. Nắm được chiếc chìa khoá mở cửa vào nhà, bọn kẻ cướp ấy lấy đi tất cả những gì quý giá nhất, và Trung Quốc bị trói tay trói chân và tuỳ thuộc vào lòng nhân từ của bọn ǎn cướp đó. Vì đời sống kinh tế của đất nước bị rơi vào tay ngoại bang, nên đời sống chính trị của nó cũng rơi vào số phận như thế một cách tai hại. Sau khi trở thành một nước bị nghèo khổ và mang gánh nặng những khoản nợ to lớn, nhân dân Trung Quốc thường xuyên bị lột da do những đòi hỏi không ôn hoà của giới quân phiệt bản xứ.

Những dấu hiệu phá sản ngày càng ảm đạm tích tụ ở chân trời của nhân dân Trung Quốc và dưới những bước đi không vững chắc của nó, người ta thấy hiện ra vực thẳm vô tận của sự nghèo khổ và phá sản. Và nếu cách mạng không đến kịp thời để cứu nhân dân Trung Quốc, thì nó có nguy cơ rơi xuống đáy vực thẳm không có lối trở lên. Do sức mạnh của kẻ địch, của tư bản nước ngoài, và do tình trạng thiếu kinh nghiệm của bản thân mình, nên chủ nghĩa tư bản bản xứ không có khả nǎng phát triển. Vô sản thành thị và nông thôn, trong những điều kiện của họ, đã không thể có được một quan niệm rõ ràng về phân hoá giai cấp.

Chủ nghĩa tư bản ngoại quốc, với việc du nhập chế độ của mình, hàng hoá của mình và các tư bản của mình, đã làm tan rã – mà nó không hề muốn điều đó – các truyền thống và tập quán gia trưởng. Bản thân sống ǎn bám và tiến hành bóc lột, chủ nghĩa tư bản ngoại quốc làm nảy nở những kẻ ǎn bám khác và những kẻ bóc lột khác để phục vụ cho mình: bọn mối lái, bọn quan liêu, bọn áp phe.

CÁC GIAI CẤP

Khi triều đại cũ bị lật đổ, nhiều viên thống đốc đã nắm trong tay những trung đoàn cấp tỉnh. Dựa vào binh lính, họ đã duy trì các tỉnh của mình và bằng cách đó mà biến thành các tên phong kiến trong chính thể cộng hoà.

Các cường quốc nước ngoài nuôi các đội quân ấy, vũ trang cho chúng và duy trì sự tồn tại của chúng. Các cường quốc sử dụng những đội quân ấy để thực hiện ý chí của mình. Giới quân phiệt này là tai hoạ đích thực của quần chúng công nhân.

Bọn lãnh chúa, nghĩa là bọn quan lại, cũng còn là những bóng ma của xã hội Trung Quốc ngày xưa, và cũng còn là những con chong chóng, gió chiều nào xoay chiều ấy, miễn là bọn chúng được hưởng lợi. Bọn này hoà nhập với bất kỳ triều đại nào, và với bất kỳ chế độ nào. Trong số bọn họ có những nhân vật khả kính mà lòng dũng cảm và sự nhân từ của cá nhân họ đáng được kính trọng. Nhưng đó là những ngoại lệ. Nhờ họ, Trung Quốc có thể tự hào rằng nó có một giới quan liêu cổ xưa nhất.

Những kẻ gian giảo khéo hành động bằng cả ngòi bút, bằng cả đầu lưỡi, đều là con cháu của các chúa đất hoặc là con cháu của các địa chủ hạng trung với tư tưởng thǎng quan tiến chức rất mạnh mẽ. Song lại không vượt quá địa vị của một chức cố vấn khu hoặc tỉnh. Mục tiêu của họ là có được chỗ ấm áp đó bằng mọi cách và mọi thủ đoạn.

Giới thương nhân là giai cấp mới đang ra đời mà đạo lý của nó thì vừa phức tạp, lại vừa mang tính chất trộm cướp. Chắc chắn là giai cấp này lẽ ra không thể ra đời được, không phồn thịnh được nếu không có sự thâm nhập của tư bản ngoại quốc mà về phương diện này thì tư bản ấy là người cha đỡ đầu và người thầy của nó.

Nhưng, sau khi ra đời và trưởng thành, phần nào nó vẫn cảm thấy mình bị người cha đỡ đầu ấy gạt bỏ, hầu như bóp nghẹt vì đã trở thành kẻ cạnh tranh với nó, cản đường không cho nó tiến lên thật xa như nó mong muốn. ở trong tư thế như hiện nay, Chính phủ không thể dành cho nó một sự giúp đỡ nào cả. Và chính phủ muốn có một tầng lớp khác xuất hiện, hùng mạnh hơn, có sức hơn, có khả nǎng hậu thuẫn cho Chính phủ tốt hơn. Vậy nhờ cậy vào ai đây? Nhờ cậy giới quân phiệt chǎng? Nhưng đó là những tên móc tiền vô độ và hoàn toàn tỏ ra bất lực trước ngoại bang. Trông cậy vào quần chúng ư? Bản nǎng ý thức bảo thủ khuyên bảo bọn thương nhân, rằng đối với chúng với tư cách là bọn người đi bóc lột, hoặc cổ vũ bọn đi bóc lột, trước hơn hết là hãy bằng cách nào đó sống lần hồi theo “vận may”, còn hơn là chơi với thứ vũ khí hết sức đáng nghi ngờ là sức mạnh cách mạng của quần chúng.

Họ rơi vào tình trạng tuyệt vọng giữa các vòng luẩn quẩn mà chưa nhìn thấy lối thoát ra khỏi đó. Đứng giữa hai mắt xích khổng lồ là bọn tư bản và giai cấp vô sản, nhóm đứng ở giữa bị đẩy vào tư thế tiêu vong dần dần, bị hoà tan lúc thì vào hàng ngũ các nhà tư bản, lúc thì vào hàng ngũ giai cấp vô sản. Người tiểu sở hữu dễ có nguy cơ bị người sở hữu lớn nuốt chửng nhiều hơn là tự bản thân người tiểu sở hữu biến thành người sở hữu lớn. Vì vậy, nhóm người này tự phân tán thành bột và ngày càng bị nghiền nhỏ thành bụi, ngày càng phải chuyển giao cơ nghiệp hoặc cửa hiệu bé nhỏ của mình cho một ông chủ vững vàng hơn anh ta, còn bản thân anh ta thì gia nhập vào gia đình vô sản vốn đã đông đảo, nhưng vẫn còn mang tinh thần mến khách. Nhưng người tiểu sở hữu mang tinh thần cách mạng không phải vì lý do tâm lý mà vì tất yếu. Dĩ nhiên, tinh thần cách mạng của họ mang tính chất tiểu tư sản và thấm đượm tinh thần chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cải lương và tính ôn hoà. Tâm trạng ấy của các giai cấp hạng trung đều thấy biểu hiện tại tất cả các nước thuộc địa và nửa thuộc địa.

Các thợ thủ công bị mất nghề do máy móc được sử dụng, những người tiểu nông bị phá sản do mùa màng thất thu và đã phải đem bán ruộng đất của mình, những người công nhân không kiếm được việc làm đã tạo thành một tầng lớp đông đảo những người sống lang thang. Họ đi lang thang từ tỉnh này sang tỉnh khác, từ thành thị về nông thôn và ngược trở lại. Để khỏi bị chết đói, họ nhận làm lính đánh thuê trong đội quân của một viên tỉnh trưởng đầu tiên mà họ gặp hoặc biến thành những tên cướp. Nhân đây xin nói rằng có rất ít sự khác biệt giữa những kẻ làm lính đánh thuê và những tên cướp. Mỗi khi các nhân vật cầm quyền ở các tỉnh cần có quân lính, họ thu góp bọn cướp lại và bằng cách ấy bọn kia trở thành “quân chính quy”. Cả hai loại người đó đều có hại cho nhân dân lao động.

SINH VIÊN

Sinh viên đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống nước Trung Hoa đang thức tỉnh, cho nên tầng lớp này phải được xem xét riêng.

Mặc dù họ xuất thân là con cháu của giai cấp tư sản lớn hoặc nhỏ, nhưng họ được cổ vũ bởi những tư tưởng mới đặc trưng cho thế hệ hiện đại. Bão táp cách mạng, thế giới bị đảo lộn đã làm cho đầu óc họ thoát khỏi những định kiến, các truyền thống đã bám rễ quá sâu và ý thức các dân tộc phương Đông. Họ cảm thấy đau khổ khi phải chứng kiến sự bất tài của những kẻ cầm quyền, sự dốt nát của bọn quân phiệt, tình trạng hèn yếu của đất nước, thái độ ngạo mạn của bọn người ngoại bang, cảnh cùng khổ của nhân dân. Họ có tinh thần cách mạng vì họ được giác ngộ và lòng thương xót đồng bào, nếu chỉ có thể nói được như vậy. Họ là những nhà cách mạng duy tâm. Họ là những người cuồng nhiệt theo chủ nghĩa Uynxơn, nhưng hoà ước Vécxây đã như gáo nước lạnh giội lên đầu họ, còn cuộc cách mạng Nga thì đã chiếu dọi con đường đúng đắn cho họ đi. Họ đã nghiên cứu kỹ lưỡng học thuyết của Khổng Tử, họ đã có những thử nghiệm với chủ nghĩa Uynxơn và nhờ kết quả thử nghiệm cũng như nhờ sự nghiên cứu sâu sắc nên họ đã đến với chủ nghĩa Mác hoặc như bản thân họ gọi là chủ nghĩa Lênin. Họ rất tích cực hoạt động. Họ là một trong những nhóm cách mạng nhất và có tổ chức nhất ở Trung Quốc.

NÔNG DÂN

Vì Trung Quốc thật ra là một nước nông nghiệp, nên hơn 85% dân cư sống ở nông thôn. Có thể phân họ thành bốn loại: đại điền chủ, điền chủ hạng trung, tiểu điền chủ, bần nông và công nhân nông nghiệp.

1) Đại điền chủ. Phần lớn gồm những chúa đất và các phần tử quý tộc cũ. Số lượng loại này có từ 250 đến 300, mỗi tên chiếm giữ hơn 10.000 mẫu 1 ; có gần 30.000 hộ chiếm giữ hơn 1.000 mẫu mỗi hộ, và có 300.000 hộ chiếm giữ hơn 100 mẫu mỗi hộ.

2) Địa vị xã hội của các tiểu chủ, có từ 10-100 mẫu thì thật phức tạp và biến động. Với một số ruộng đất từng ấy, người nông dân có thể trở thành kẻ bóc lột, lại cũng có thể trở thành người bị bóc lột:

a/ Nếu gia đình khá đông người, có thể dùng sức của bản thân để cày cấy, thì anh ta thuộc loại trung gian;

b/ Nếu gia đình không đủ đông thì người nông dân ấy phải phát canh một phần số ruộng của mình và như thế trở thành kẻ bóc lột;

c/ Nếu gia đình quá đông và không đủ ruộng cho từng ấy nhân khẩu, thì người nông dân thường buộc phải cày cấy thêm ruộng đất của người khác ngoài số ruộng đất của mình, và như vậy anh ta trở thành người vô sản và biến thành người bị bóc lột.

Có gần 44.000.000 hộ ở vào địa vị như vậy.

3) Rất nhiều nông dân nghèotrở thành các tá điền hoặc bắt đầu nhận cấy rẽ. Người tá điền thuê ruộng, trả một khoản tiền trong một thời gian nhất định. Vào nǎm được mùa, số lãi của anh ta cũng không nhiều, bởi vì chủ ruộng biết rõ ruộng đất của mình và tính toán chính xác các khoản thu nhập trên số ruộng đó. Nếu mất mùa thì người tá điền hoàn toàn phá sản, còn chủ đất thì không bị mất gì. Với hình thức cấy rẽ, chủ đất thu được từ 40% đến 50% sản lượng của mỗi vụ thu hoạch.

4) Công nhân nông nghiệp. Trước kia chế độ sở hữu ruộng đất ở Trung Quốc mang tính chất hết sức manh mún, mỗi nông dân, thậm chí ngay cả người nông dân nghèo nhất, cũng có một mảnh đất cỏn con. Nhưng đến nay nhiều người không có được “ngay cả mảnh đất cỏn con đó để cắm dùi”. Đối với họ, đôi bàn tay là nguồn sống duy nhất. Để kiếm được miếng cơm, họ trở thành người hầu hạ trong các gia đình hoặc trở thành những công nhân làm theo mùa. Công nhân theo mùa không có đồng lương ổn định, cũng không có việc làm thường xuyên. Do vậy, cuộc sống của họ rất khổ sở. Những công nhân lớn tuổi mỗi nǎm kiếm được từ 20 đến 30 piát 1 kèm theo cơm ǎn và chỗ ở. Còn các trẻ em làm việc chǎn súc vật thì mỗi nǎm kiếm được từ 3 đến 5 piát. Sự xâm nhập của tư bản ngoại quốc đã ảnh hưởng hết sức tai hại đến nông thôn. Nếp sống gia trưởng truyền thống bị phá huỷ. Bị thôi thúc bởi lòng hám lợi và bởi tấm gương các người anh em của mình ở thành thị, điền chủ ở nông thôn cũng ngày càng tìm cách độc quyền chiếm ruộng đất. Các công ty khai thác ruộng đất được hình thành và độc chiếm đến 300.000 mẫu, làm cho hàng loạt nông dân bị mất ruộng đất. Nǎm 1918 đã có hơn 15.500.000 nông dân bỏ thôn xóm ra đi vì cảnh nghèo túng. Nạn lụt lội, mưa bão, đói khát, chế độ quân phiệt, tình trạng dốt nát- tất cả những cái đó làm cho tình cảnh của người nông dân Trung Quốc ngày càng trở nên thê thảm hơn.

CÔNG NHÂN

Cǎn cứ theo các số liệu thống kê thì số lượng giai cấp vô sản Trung Quốc lên đến 5.056.000 người. Gần 15 tổ chức tập hợp 300.000 thành viên. Các tổ chức được phân chia như sau:

Nghề

Số lượng

Được tổ chức lại

Thợ điện

100.000

5.000

Làm công trong nhà

400.000

8.000

Thợ may

300.000

7.000

Công nhân mỏ đá

300.000

8.000

Công nhân mỏ muối

300.000

10.000

Thợ kéo xe

200.000

10.000

Công nhân xưởng in

80.000

l0.000

Thợ dệt

180.000

l0.000

Thợ cắt tóc

200.000

14.000

Công nhân thuốc lá

100.000

18.000

Công nhân xây dựng

800.000

30.000

Công nhân mỏ

420.000

26.000

Công nhân đường sắt

l00.000

42.000

Vận tải đường sắt

80.000

45.000

Công nhân kim khí

200.000

50.000

Các loại khác

7.000

Mặc dù chỉ đến cuối cuộc chiến tranh châu Âu, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu thật sự được tổ chức lại, nhưng nó đã đứng vững trong một số trận chiến đấu, vừa chịu những thất bại, vừa giành được thắng lợi. Công nhân các ngành kim khí, hoá chất và ngành biển luôn luôn tỏ ra rất vững vàng về phương diện tổ chức và tinh thần sẵn sàng hành động. Các tổ chức của họ là một sức mạnh thực tế mà chủ nghĩa tư bản ngoại quốc và bản xứ phải tính đến. Giai cấp vô sản có tổ chức đưa ra yêu sách:

1) Tự do hội họp;

2) Quyền bãi công và thành lập các hiệp hội;

3) Chế độ ngày lao động 8 giờ dành cho người lớn và ngày lao động 6 giờ dành cho thiếu niên;

4) Bảo vệ những điền chủ hạng nhỏ;

5) Cấm lao động thêm giờ trong các ngành sản xuất nguy hiểm;

6) Cấm lao động ban đêm đối với phụ nữ và trẻ em;

7) Chế độ nghỉ phép 2 tuần, mỗi nǎm 2 lần, có trả lương;

Nghỉ 8 tuần lễ trước và nghỉ 8 tuần lễ sau sinh con đối với phụ nữ làm các công việc nặng nhọc;

Nghỉ 6 tuần lễ trước và 6 tuần lễ sau khi sinh con đối với phụ nữ làm công việc nhẹ.

8) Chế độ kiểm soát của công nhân đối với việc thi hành bảo hiểm công nhân;

9) Nhà nước trợ cấp cho các tổ chức công nhân để áp dụng chế độ giáo dục ngoài nhà trường cho công nhân lớn tuổi.

LAO ĐỘNG TRẺ EM

80 nǎm về trước, khi chưa xảy ra cuộc chiến tranh thuốc phiện, ở Trung Quốc đã ngự trị chế độ gia trưởng chuyên chế. Sau cuộc chiến tranh này (1840) chủ nghĩa tư bản ngoại quốc chiến thắng đã thay thế chế độ gia trưởng bằng chế độ công nghiệp. Cuộc đấu tranh sống mái đã diễn ra giữa các sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập nội; có thể dễ dàng thấy trước kết cục cuộc đấu tranh: sự suy sụp của nền công nghiệp bản xứ và sự toàn thắng của nền sản xuất công xưởng ngoại quốc. Các nghề thủ công đã bị giết chết. Một số cơ sở sản xuất hạng trung đã cả gan thống nhất lại, tập hợp lại để chống ngoại bang. Nhưng cuộc đấu tranh không cân sức, vì vậy nền sản xuất cơ giới hoàn hảo đã không gặp khó khǎn lắm để hất nền công nghiệp bản xứ xuống vực thẳm.

Sau khi đã dọn chỗ cho mình bằng cách đó, tư bản ngoại quốc chỉ còn một việc là xuất hiện ở Trung Quốc để hưởng sự thịnh vượng. Không phải mời nó đến lần thứ hai. Bọn tư bản bản xứ đã đặt quan hệ êm thuận với những người bạn mới, nhưng trong bụng chỉ hy vọng có dịp nào đó thoát khỏi những ông bạn ấy. Nhưng họ đã lầm to. Thay vì dịp may mà họ hằng mong đợi, họ đã phải nhìn thấy bản thân mình bị lột khố, một mặt – bởi bọn đế quốc ngoại bang, mặt khác – bởi chính bọn quân phiệt nước mình. Cuộc chiến tranh thế giới nổ ra. Bọn tư bản phương Tây quá bận rộn với công việc của mình, nên không thể quan tâm đến vùng Viễn Đông. Chúng giải phóng các thị trường và rút các con tàu của mình ra khỏi các hải cảng Trung Quốc.

Các mặt hàng công nghiệp trở nên khan hiếm. Tưởng chừng cuối cùng thì ngôi sao vận may đã rọi sáng đến nền công nghiệp và các nghề thủ công bản xứ. Người thì lợi dụng sự vắng mặt của kẻ cạnh tranh đáng nghi ngờ của mình để mở các nhà máy mới và các cửa hàng mới. Có người lại muốn lợi dụng sự non yếu và sự thiếu kinh nghiệm của loại vừa nói ở trên để khôi phục lại những công xưởng đã bị phá huỷ của mình và tìm đến những khách hàng cũ.

Than ôi! Điều đó không hơn gì một giấc mơ đẹp. Nhà tư bản và thợ thủ công chỉ vừa mới kịp chúc mừng nhau là nỗi thất vọng chua chát đã hiện lên trước họ. Cuộc chiến tranh kết thúc. Bọn đế quốc lại quay trở lại. Và chúng trở lại với số lượng đông đảo hơn, và đưa ra nhiều đòi hỏi hơn trước. Chúng cố gắng không chỉ gỡ lại những gì đã bị mất đi ở Trung Quốc trong thời gian vắng bóng, mà còn muốn gỡ lại cả những gì bị mất đi trong thời gian chiến tranh ở châu Âu. Cũng hệt như các nước thuộc địa đã từng có nghĩa vụ phục vụ chiến tranh, bây giờ lại có nghĩa vụ phục hồi chính quốc. Trung Quốc cũng phải làm việc cho châu Âu đã bị kiệt quệ. Nền công nghiệp bản xứ đã bị đặt lại đúng địa vị của mình, còn các thợ thủ công thì bị lãng quên và đi vào đêm tối.

Trong cuộc chơi trò ú tim ấy giữa bọn tư bản, những người công nhân, đặc biệt là thiếu niên, bị rơi vào cảnh là kẻ phải lót đỡ. Số lợi nhuận mà bọn tư bản không đủ sức bòn rút do thiếu tư bản và do máy móc không hoàn hảo thì bọn tư bản bản xứ lại bắt người công nhân phải gánh chịu. Do ít kinh nghịệm hơn, ít có khả nǎng đấu tranh và hậu quả là những thiếu niên dễ bị thuận lòng lại hoàn toàn nằm trong tay bọn chủ. Thường xảy ra tình trạng là, cũng cùng làm một công việc trong cùng một thời gian, nhưng các em thiếu niên nhận tiền công ít hơn nhiều so với công nhân lớn tuổi. Nếu các em tỏ ý bất bình, thì tên chủ nói với họ: “Tại sao chúng mày, những kẻ không có sức lực và không có tay nghề, lại không cảm thấy may mắn một khi chúng mày được người ta cho miếng cơm và không để chết đói ở ngoài phố?”. Trên thực tế, bọn chủ thích sử dụng các em thiếu niên là những người dễ cam chịu bị bóc lột mà vẫn hoàn thành cùng một định mức công việc. Đó là tình hình trong ngành sản xuất lụa với công việc không phức tạp, còn máy móc thì đơn giản, không đòi hỏi phải có sức vóc và tay nghề.

Bằng cách sử dụng lao động trẻ em, chủ nhà máy tiết kiệm được rất nhiều. Thượng Hải là thành phố điển hình để nghiên cứu sự bóc lột lao động của những công nhân ít tuổi. ở thành phố này, công nghiệp phát triển mạnh nhất và mang tính chất hiện đại nhất so với bất cứ nơi nào ở Trung Quốc. Các ngành sản xuất chủ yếu là: vải sợi, lụa và thuốc lá. Số công nhân làm việc trong các ngành này lên đến 200.000 người, trong đó có 50% là phụ nữ và trẻ em. Tiền công của 2 loại công nhân này rất thấp, từ l0 đến 20 xu/ngày. Độ dài của ngày lao động là từ 12 giờ đến 13 giờ. Độ tuổi trung bình của trẻ em từ 7 đến 14 tuổi. Với thể chất còn non yếu, với những cơ quan của cơ thể còn mảnh mai, các em đã phải lao động suốt những giờ làm việc kéo dài trong các công xưởng, trong những điều kiện vệ sinh rất tồi tệ. Suốt cả ngày, các em phải hít thở vào phổi những mùi nồng nặc, không khí hôi thối và bụi bậm. Sau một thời gian ngắn lao động tại các công xưởng, sức khoẻ những trẻ em khốn khổ này bị huỷ hoại vô phương cứu chữa, thậm chí lao động ban ngày cũng làm cho mệt mỏi. Những công việc làm ban đêm còn tồi tệ hơn; sự mệt nhọc và tình trạng thiếu ngủ trở thành hình thức tra tấn thực sự đối với trẻ em. Sự tra tấn ấy trở nên khủng khiếp khi diễn ra 10 ngày liền. Trên thực tế, với chế độ làm việc 20 ngày đêm thì trẻ em phải làm l0 ngày ca ban ngày và l0 ngày phải làm theo ca đêm. Nhiều khi bất chấp các nỗ lực vì bị mệt nhọc quá sức, các em đã phải nhắm nghiền mắt lại. Vô số trường hợp tai nạn đã xảy ra vì thiếu ngủ.

Trong ngành sản xuất tơ lụa, điều kiện làm việc thật kinh tởm. Em gái bé nhỏ làm công việc “kéo tơ” phải đảm đương 2 nồi chứa đầy nước sôi và chứa một số lượng kén nhất định. Bằng 2 chiếc đũa nhỏ, người kéo tơ xe những sợi tơ được kéo ra từ những kén tơ và đặt những sợi tơ ấy lên chiếc khung guồng. Vì luôn luôn có kén tơ bị đứt quãng và sợi tơ bị đứt nên người ta liên tục phải nối chúng lại bằng 2 chiếc đũa. Như vậy, một mặt, em gái kéo tơ bị nóng bức do ngồi sát nước sôi bốc hơi, và mặt khác, em lại bị lạnh bởi luồng không khí chuyển động từ chiếc khung quay tít. Sự ồn ào đến điếc tai của máy móc, rồi mệt nhọc do hai bàn tay phải liên tục vận động, hơi nước, mùi hôi thối đến lộn mửa của những chiếc kén tằm đã thối rữa – tất cả những cái đó được quyện lại với nhau để làm rã nát không thương xót những sợi dây thần kinh của cô thợ bé bỏng. Không hề có quạt gió thông hơi, không hề có những thiết bị bảo hộ vệ sinh. Mùa hè cũng như mùa đông đều nóng bức không thể chịu nổi vì bầu không khí ngột ngạt. Đó là những điều kiện làm việc của các em gái ở độ tuổi từ 8 đến 15 tuổi. Bụi tơ bay vào miệng, vào mũi làm tắc cả lỗ tai. Các ngón tay và mặt thường bị tấy đỏ do nước bẩn nóng bỏng chảy từ các nồi nước. Nhưng chưa hết. Để đi đến nơi làm việc và sau đó trở về nhà, các em phải đi bộ nhiều kilômét. Rất ít khi được chở đi bằng những chiếc xe ngựa bé nhỏ lèn các em như lèn cá trong thùng. Các em phải ǎn vào giữa trưa (hoặc vào nửa đêm) ở ngay tại công xưởng, bởi vì người ta không cho các em hưởng 15-20 phút để ǎn uống. Không có chế độ giải lao, không có chế độ nghỉ hằng tuần. Đó là cuộc đời của các nữ công nhân bé nhỏ khốn khổ ấy.

Từ 7-8 tuổi đã phải lao động mỗi ngày 12-13 giờ trong suốt cả nǎm, các em không còn thời gian và khả nǎng để học tập. Các em hầu như nhất loạt mù chữ, đa số mắc bệnh lao.

Và bất kể tất cả những điều đó, các em vẫn tự coi mình là gặp may. Tình trạng nghèo khổ quá ghê gớm, số người thất nghiệp quá đông, khiến cho chỉ nghĩ đến sự mất việc làm đã đủ để cho người nữ công nhân trẻ tuổi không dám đấu tranh hoặc đòi hỏi thực hiện những sự cải thiện nào đó. Bọn chủ biết rõ điều đó và khai thác nỗi sợ hãi của các em. Nhưng từ nǎm 1920, các nữ công nhân nhỏ tuổi, noi gương những công nhân nam lớn tuổi, đã thực hiện một số cuộc bãi công đòi tǎng lương. Dĩ nhiên, phong trào này còn chưa được tổ chức tốt, lãnh đạo chưa tốt và bị thất bại. Bọn chủ có thái độ khoan dung đối với những phong trào đó, coi đó là trò trẻ con mà thôi.

Các xưởng dệt và các nhà máy sản xuất vũ khí là những xí nghiệp duy nhất ở Trung Quốc được tổ chức một cách hiện đại. Các em thiếu niên trong công nghiệp dệt chiếm 7% tổng số công nhân, tại các nhà máy sản xuất vũ khí các em chiếm 5%. Các em được phân thành 3 loại: học sinh học nghề, thợ bạn và lao công. Loại học nghề lao động l0-ll giờ/ngày, được trả 10-20 xu. Thời gian học nghề kéo dài 2-3 nǎm. Sau đó họ trở thành thợ bạn. Thợ bạn hưởng tiền công nhiều hơn các em học nghề, nhưng lại ít hơn so với các công nhân thực thụ. Loại lao công hưởng tiền công bằng các em học nghề, nhưng không có tương lai bởi vì họ sẽ không bao giờ trở thành thợ cả. Nhìn chung, hoàn cảnh của các em thiếu niên – công nhân có tốt hơn hoàn cảnh các em gái trong ngành sản xuất tơ lụa. Số giờ làm việc của các em nam ngắn hơn và được nhiều tự do hơn, nhưng các em cũng không được tổ chức lại.

Do đất nước rộng lớn bao la và thiếu phương tiện đi lại, cho nên quá trình nền công nghiệp phá huỷ nghề thủ công vẫn chưa kết thúc. ở miền quê xa xôi không ở gần các con sông và đường sắt, dân chúng luôn luôn cần đến các sản phẩm địa phương. Trong các vùng đó nghề thủ công tương đối phát đạt, cùng với nó là việc dạy nghề. Các nam nữ công nhân nhỏ tuổi phần nhiều là con cái của công nhân thành thị. Một số lượng không đáng kể xuất thân từ nông thôn; nhiều người trong số đó đã theo học các trường cấp I, một số đã học các trường cấp II- đó là con cái của những tiểu chủ đã biến thành vô sản.

Rất khó xác định con số chính xác các công nhân thiếu niên, nhưng dù sao cǎn cứ theo tỷ lệ phần trǎm, ta có thể nói rằng, trong công nghiệp dệt có 7% số các em ấy, trong công nghiệp sản xuất vũ khí có 5%, trong ngành tơ lụa có 25%, qua đó chúng ta thấy các em giữ vị trí quan trọng như thế nào trong gia đình vô sản Trung Quốc.

Trong các xưởng được tổ chức tốt, các em học sinh còn kiếm được đôi chút, trong khi đó các em học sinh ở nông thôn không nhận được đồng nào, mà thời hạn học lại kéo dài hơn. Trong những nǎm đầu các em không được học gì cả, các em làm các công việc sai vặt, quét nhà, đốt lò, gánh nước, tóm lại, làm hàng nghìn công việc trong nhà. Đôi khi ông chủ bảo học trò dắt con cái hắn đi dạo chơi như người hầu.

Sau khi học xong, người học trò không được lập tức rời khỏi nhà ông chủ của mình. Theo tục lệ đã ǎn sâu, người học trò phải ở lại trong vòng 2 – 3 nǎm để giúp việc có được hưởng công, mức tiền công do ông chủ tuỳ ý ấn định, tuỳ theo “lòng tốt”. Mới đây, đời sống đắt đỏ đã đẩy công nhân làm việc trong các nghề thủ công đoàn kết lại để bảo vệ lợi ích của mình. Hiện thời, đây vẫn còn là một phong trào yếu ớt, và các đòi hỏi của nó còn rất ôn hoà. Phải thấy rằng, công nhân thiếu niên và các em học nghề đã cảm nhận thấy sự phá sản đang tới gần cửa các xí nghiệp thủ công, nên đã dần dần rời bỏ xưởng của mình để vào làm tại các xưởng máy. Tình cảnh của lao động trẻ tuổi rất thảm hại. Họ không có công việc ổn định, không có đồng lương tạm phải chǎng, cũng không có sự bảo đảm cho tương lai. Khi có việc làm thì họ còn sống lần hồi cho qua ngày, nhưng khi không có việc làm thì lâm vào cảnh nghèo đói. Những con người không nhà ấy đi lang thang trong các thành phố, tại các tụ điểm thương mại và trang hoàng những nơi đó bằng những mảnh quần áo rách nát của mình và bằng tất cả các hình dáng nghèo khổ, phơi bày ra trước mắt chế độ quân phiệt và giai cấp tư sản hình ảnh sống động về tội ác của chúng.

THANH NIÊN TRUNG QUỐC VÀ ĐỜI SỐNG CỦA HỌ

Cũng như thanh niên các nước khác, thanh niên Trung Quốc chịu đựng gánh nặng hậu quả của chế độ tư bản chủ nghĩa và quân phiệt.

Với sự nghèo nàn tinh thần, sự thô bỉ và vô sỉ, bất chấp những phẩm giá tiêu biểu cho tất cả những tên tay sai của chủ nghĩa tư bản được trang hoàng bằng các tước hiệu, bọn quân phiệt Trung Quốc không có mục đích, cũng như những người anh em của chúng ở phương Tây, chúng không thể được hưởng sự tha thứ.

Bọn quân phiệt phương Tây chí ít còn biết rằng, chúng tàn sát thanh niên vô sản nước mình là để bảo vệ túi tiền của bọn tư bản, hoặc nhằm mục đích chinh phục các thuộc địa, duy trì lợi ích kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản là giai cấp của chúng. Bọn quân phiệt Trung Quốc đẩy một số thanh niên Trung Quốc này đi giết hại những thanh niên Trung Quốc khác nhằm phục vụ lợi ích của bọn tư bản ngoại quốc mà chúng phục tùng. Bọn quân phiệt ấy thậm chí không tìm đến các chiêu bài chủ nghĩa sô vanh và bảo vệ giai cấp mình.

Cũng cần nói thêm rằng, không có ở nơi nào mà người lính lại bị đối xử tồi tệ như thế và bị mất quyền như ở Trung Quốc.

Như chúng ta đã thấy, có lẽ tình cảnh của học sinh ở Trung Quốc thậm chí còn tồi tệ hơn những người anh em của họ ở các nước khác.

Bên cạnh chế độ quân dịch và học nghề, còn có tôn giáo và nền học vấn tư sản với những ý thức giả dối của nó. Chế độ tư bản chủ nghĩa đã làm thanh niên bị biến dạng về phương diện tinh thần và vật chất, khi thanh niên chưa kịp phát triển.

Còn về giáo dục thì quy tắc chung là: trẻ em được học hành tuỳ theo mức sống vật chất của bố mẹ. Nếu bố mẹ giàu có, con cái được học hành chu đáo. Nếu bố mẹ nghèo, con cái hoàn toàn thất học. Như vậy, con cái giai cấp đại tư sản được ra nước ngoài ǎn học. Khi chúng trở về tổ quốc với tất cả hành trang khoa học của mình, thì chúng giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan chính trị và kinh tế của đất nước.

Con cái của giai cấp tư sản hạng trung được học hành rất chu đáo khiến cho chúng có thể trở thành những người lao động có địa vị tốt và làm các nghề tự do. Sau khi tốt nghiệp các trường cấp I và cấp II, con em của các tiểu chủ, do không có tiền, nên không thể tiếp tục tiến lên các nấc kiến thức cao hơn. Họ biến thành những viên chức hành chính, các chủ tiệm buôn ở nông thôn và v.v.. Đôi khi họ đi tìm vận may trong quân đội.

“Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” – Câu tục ngữ đã nói như vậy. Mặc dù hết sức mong muốn, nhưng công nhân và bần nông không thể gửi con em mình đến trường được. Nếu như họ làm được điều đó thì cũng chỉ làm được một hoặc hai nǎm, không thể lâu hơn được. Tình trạng nghèo đói đè họ xuống như những gọng kìm. Và những trẻ em nào chật vật lắm mới học đánh vần được đôi ba chữ thì lại ghi tên vào làm tại các xưởng hoặc ra làm ở ngoài đồng ruộng.

PHONG TRÀO THANH NIÊN

Cũng như phong trào công nhân, phong trào thanh niên Trung Quốc ra đời vào cuối chiến tranh thế giới, hay nói đúng hơn, từ khi hoà ước Vécxây được ký kết. Phong trào này hoàn toàn khác phong trào thanh niên ở phương Tây. Phong trào thanh niên ở phương Tây chủ yếu tập hợp thanh niên nông thôn và thanh niên công nhân. ở Trung Quốc, phong trào thanh niên chỉ tập hợp sinh viên. ở phương Tây, thanh niên nông thôn cũng như thanh niên thành thị đều đấu tranh vì những nguyên nhân kinh tế và chống bọn quân phiệt, bởi vì trên cơ sở đó, lợi ích của họ trùng hợp với nhau. Còn ở Trung Quốc, trừ một vài ngoại lệ hãn hữu, cuộc đấu tranh lại do thanh niên trí thức tiến hành. Cuộc đấu tranh này thường mang tính chất chính trị nhiều hơn tính chất kinh tế, hơn nữa, những hoạt động đấu tranh ấy chủ yếu nhằm chống lại chính phủ phản động và chủ nghĩa quân phiệt phong kiến. Sự khác nhau này có thể giải thích được. Tại các nước phương Tây, nơi chủ nghĩa tư bản phát triển hơn, nền giáo dục mang tính chất phổ biến hơn. Thanh niên công nhân phát triển hơn và quen đấu tranh hơn. Nó có được kinh nghiệm – đó là di sản của các dân tộc cổ đại. Còn ở Trung Quốc chủ nghĩa tư bản còn non trẻ. Công nhân quen với lối sống kiểu chế độ gia trưởng. Sự học hành chỉ hạn chế ở một số ít con cái các tầng lớp có đặc quyền đặc lợi. Đa số công nhân không biết chữ và bị tách khỏi phong trào công nhân toàn thế giới. Họ bị đau khổ, họ nhìn thấy rõ tất cả tình cảnh khốn khó của mình. Nhưng họ không biết, do đâu mà họ bị nghèo khổ và bằng cách nào thoát khỏi tình trạng đó. Chỉ có tầng lớp sinh viên là có thể nghe thấy những hồi âm của phong trào cách mạng ở phương Tây. Chỉ có họ mới có thể nhìn thấy, suy ngẫm, so sánh và hiểu được vấn đề. Vì vậy, họ là những người đầu tiên tham gia đấu tranh.

Mặt khác, sinh viên không phải chịu những thiếu thốn về vật chất như người công nhân. Do vậy, họ phát động tuyên truyền chống chủ nghĩa quân phiệt và chống đế quốc. Kinh nghiệm chỉ cho họ thấy rằng, chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc của tất cả mọi cǎn bệnh mà chỉ có sự thức tỉnh của giai cấp công nhân mới chữa khỏi được.

Họ yêu tự do và trung thực, họ kiên quyết đấu tranh vì sự nghiệp công nhân. Trong tất cả các cuộc cổ động và biểu tình gần đây, sinh viên đã dành vị trí to lớn cho các yêu sách của công nhân. Trước đây ở tất cả các nước, trong thời kỳ trước cách mạng, chúng ta thấy trí thức đảm nhận vai trò tiền phong, mãi cho đến khi tự bản thân người công nhân đã trở nên giác ngộ hơn và có học vấn hơn, đủ sức lo liệu cho vận mệnh của mình. Khi ấy, tầng lớp trí thức thật sự cách mạng sẽ tự hoà nhập và đi vào phong trào công nhân.

Khi mới ra đời, tổ chức thanh niên cộng sản Trung Quốc tự đặt tên cho mình là “Liên đoàn thanh niên xã hội chủ nghĩa”. Nó bao gồm tất cả các khuynh hướng và tất cả các sắc thái. Trong đó có cả phái vô chính phủ, phái công đoàn chủ nghĩa, phái Rútxô, những người đi theo Các Mác. Sự pha trộn như vậy các khuynh hướng khác nhau đã không thể kéo dài lâu được. Người ta tranh cãi nhiều, nhưng không làm gì cả. Kết cục là, họ đã tách khỏi nhau. Nhóm mácxít là nhóm duy nhất còn tồn tại và được tổ chức lại. Từ đó nó hoạt động thật sự, dành mọi sức mạnh cho tổ chức mình, và cho việc giáo dục thanh niên nông dân và thanh niên công nhân.

Vào tháng 5-1919, người ta thấy rõ là, Nhật Bản không muốn trả Thanh Đảo cho Trung Quốc và các đại diện của Trung Quốc ở hội nghị hoà bình đã do dự trong việc ký tên vào hoà ước Vécxây. Khi ấy, tất cả các sinh viên Trung Quốc đã đổ ra đường phố. Họ đã đốt các dinh thự của ba viên bộ trưởng Nhật Bản, chặn đường một viên bộ trưởng đó và chỉ sau khi đã đánh cho nhừ tử mới buông tha. Thanh niên trong toàn Trung Quốc đã noi theo tấm gương các đồng chí của mình ở Bắc Kinh, và cuộc biểu tình đã lan rộng ra toàn quốc. Họ đã gửi các bức điện đến Pari thuyết phục đại diện của mình đừng ký vào bản hoà ước chia cắt này. Họ đòi triệu hồi lập tức ba bộ trưởng phản bội, đưa yêu sách đòi thả các sinh viên bị bắt trong thời gian có biểu tình, tuyên bố tẩy chay hàng hoá của Nhật Bản. Họ hết sức nhiệt thành, và phong trào rất kiên cường, vì vậy đã nhanh chóng đem lại kết quả. Cả ba bộ trưởng bị triệu hồi, đại diện Trung Quốc đã không chịu ký vào bản hoà ước, những người bị bắt giữ đã được thả ra. Cuộc tẩy chay hàng hoá Nhật Bản đã trở nên rộng khắp.

Sau thành công này, anh em sinh viên đã thật sự đi vào hành động và đấu tranh. Nhằm truyền bá các tư tưởng tiên tiến, người ta đã lập ra các câu lạc bộ triết học, vǎn học và nghệ sĩ; lập ra hội liên hiệp tập hợp hàng vạn sinh viên. Những sinh viên tiên tiến nhất đã quyết định cách mạng hoá sinh hoạt truyền thống đầy tính chất uỷ mị của giới sinh viên Trung Quốc. Họ lập ra các nhóm mà tất cả các thành viên trong đó phải làm công việc chân tay mỗi ngày 3-4 giờ. Có nhiều sinh viên ra nước ngoài để ban ngày làm việc, còn ban đêm học hành. Họ tự kiếm tiền để sống và không nhờ đến sự hỗ trợ vật chất của gia đình, cũng như của nhà nước.

Là những lực lượng đáng chú ý về sức mạnh và về số lượng, sinh viên thường hay can dự vào các vấn đề chính trị và xã hội. Các phương tiện đấu tranh của họ cũng giống như của giai cấp vô sản: ra lời kêu gọi, tổ chức mít tinh, biểu tình, bãi công.

HAI NHÂN VẬT ANH HÙNG CỦA THANH NIÊN TRUNG QUỐC

Tháng 8 nǎm 1920, Hội liên hiệp thanh niên xã hội chủ nghĩa ra đời ở Thượng Hải. Vì thành phần rất hỗn tạp nên nó chỉ tồn tại có 1 nǎm. Tổ chức này giải tán vào tháng 5 nǎm 1921. Đến tháng 12 nǎm đó, một số người mácxít trẻ tuổi đã tập hợp nhau lại và lập ra nhóm mácxít. Tháng 5 nǎm 1922, họ đã có đến 17 chi nhánh địa phương. Những chi nhánh lớn nhất là ở Thượng Hải, Nam Kinh, Bắc Kinh, Thiên Tân, Quảng Châu. Các tổ chức này có 4.000 thành viên, trong đó có 2.400 công nhân trẻ và 1.600 sinh viên. Cần nêu rõ sự vượt trội của thành phần vô sản, bởi vì trước đây thanh niên công nhân Trung Quốc vẫn chưa được huấn luyện vào tổ chức và thường có thái độ quay lưng lại với chính trị. Các chiến hữu của chúng ta – đã rất kiên trì, nhiệt tình và tháo vát để thu hút một số lượng lớn công nhân trong một thời gian ngắn như thế.

Tháng 5 nǎm 1922, Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của thanh niên cộng sản Trung Quốc được triệu tập ở Quảng Châu. Đại hội đã thảo luận các đề cương có quan hệ đến chính sách dân tộc và quốc tế, đã thông qua các nghị quyết về những phương pháp đấu tranh chống đế quốc và chống chủ nghĩa quân phiệt. Đại hội đã thảo luận các phương cách tuyên truyền và thu nạp các thành viên mới. Tóm lại, đã đặt được nền móng vững chắc cho tổ chức thanh niên cộng sản, kể từ ngày đó, ảnh hưởng của nó ngày càng tǎng trong quần chúng công nhân.

Tuy còn rất non trẻ, nhưng “thanh niên cộng sản Trung Quốc” đã tham gia các trận chiến đấu, đã đón nhận các đòn giáng của giai cấp tư sản và phải chịu đựng những hy sinh. Lịch sử thanh niên cộng sản Trung Quốc đã có tấm gương hy sinh cao cả. Chưa kể số thanh niên xung kích đang còn ngồi trong các nhà tù, đã có hai người hy sinh cho giai cấp vô sản.

Vương ái ra đời nǎm 1897 tại Trang Tế thuộc tỉnh Hồ Nam. Anh theo học tại một trường dạy nghề. Sau khi tốt nghiệp khoá học, anh làm thợ điện. Sau đó anh tốt nghiệp trường cao đẳng dạy nghề ở Thiên Tân. Nǎm 1919, sau khi xuất hiện phong trào sinh viên nhân Hoà ước Vécxây, anh gia nhập Hội liên hiệp sinh viên. Hoạt động tích cực và lòng dũng cảm của Vương ái đã nhanh chóng được các đồng chí của anh biết đến, họ cử anh làm đại biểu đến Bắc Kinh để đặt quan hệ với giới sinh viên Thủ đô và sau nữa để chuyển cho Chính phủ yêu sách của sinh viên. Anh đã bị bắt giam 38 ngày trong nhà tù. Nǎm sau, anh đã trở về quê và lập ra “Liên đoàn công nhân Hồ Nam”. Anh làm bí thư của tổ chức này cho đến ngày qua đời. Tháng 4 nǎm 1921, anh lại bị bắt trong thời gian nổ ra cuộc bãi công của công nhân ngành tơ lụa. Trong nhà tù, anh đã tuyên bố tuyệt thực 7 ngày và đã được trả tự do. Sau khi ra khỏi nhà tù, anh em công nhân đã công kênh anh lên với niềm hân hoan phấn khởi. Đáp lại sự chào mừng của các đồng chí, Vương ái đã nói: Tất cả các chiến sĩ trẻ tuổi cần phải biết cảnh tù tội. Đó là nơi thích hợp để rèn luyện – càng nhiều lần bị tù tội thì ta càng có nhiều tinh thần cách mạng. Vào tháng 11, anh tổ chức biểu tình phản đối chính sách phản động của Chính phủ. Hơn 10.000 công nhân đã hưởng ứng lời kêu gọi của anh. Tháng l nǎm 1922, nổ ra cuộc bãi công mới của công nhân ngành tơ lụa. Bị dồn vào chân tường, bọn chủ xí nghiệp đã phải trả 160.000 piát cho Đào Cǎn Trì, viên tỉnh trưởng Hồ Nam, để hắn trừ khử Vương ái và người bạn của anh mà chúng coi là những người cầm đầu. Thế là ngày 17 tháng 1 nǎm 1922, vào 3 giờ sáng, Vương ái đã ngã xuống sau khi bị 3 nhát gươm của bọn tay chân viên tỉnh trưởng. Đầu anh không bị đứt lìa và sau khi bị tấn công, anh còn có thể nhận biết mọi người. Anh đã qua đời sau 2 giờ đau đớn.

Phạm Ân Kim sinh nǎm 1897 cũng ở Hồ Nam, anh học ở trường dạy nghề “dệt và chải sợi”. Nǎm 1917, tốt nghiệp trường này và đến làm việc tại xưởng sản xuất vải sợi. Nǎm 1920, anh làm quen với Vương ái và giúp Vương ái lập ra Hội liên hiệp công nhân Hồ Nam, làm tổng biên tập tuần báo Người lao động, cơ quan ngôn luận của Hội. Bút pháp của anh vừa giản dị, gây xúc cảm lại giàu hình ảnh, rất được công nhân ưa thích. Anh đã cùng với Vương ái đưa một số cuộc bãi công của thợ in, thợ cắt tóc, thợ mộc, v.v. đến thắng lợi. Phạm Ân Kim là một cán bộ tuyên truyền giỏi. Lời phát biểu của anh đầy sức thuyết phục và đầy nhiệt tình, cũng giống như các bài và các tác phẩm của anh. Trong số các tác phẩm do anh viết, chúng tôi xin nêu lên bài “Cuộc đối thoại giữa hai công nhân” và “Tài nǎng của người lao động” (kịch viết cho nhà hát) và những bài khác. Có thể thấy anh có mặt trong tất cả mọi cuộc đấu tranh của sinh viên và công nhân. ở đâu anh cũng nổi bật nhờ hoạt động tích cực và tài hùng biện. Từ sau cuộc bãi công cuối cùng của công nhân ngành tơ lụa, anh đã nhiều lần bị bắt cùng với Vương ái. Sau cái gọi là xử án, bọn chúng đã tuyên án tử hình các anh. Phạm Ân Kim lúc ấy đã trả lời tên chánh án: “Nếu ông muốn giết chết chúng tôi, ít ra ông cũng phải giải thích xem chúng tôi phạm tội gì”. Tên chánh án với nét mặt hầm hầm dữ tợn đã đáp lại: “Các anh sẽ được biết tường tận điều đó khi nào người ta chặt đầu các anh”. Họ đã bị hành quyết vào khoảng 3 giờ sáng. Sáng hôm sau, tên tỉnh trưởng sát nhân đã tuyên bố rằng, Vương ái và Phạm Ân Kim là những kẻ vô chính phủ, đã tuyên truyền những tư tưởng độc hại, giấu vũ khí và sau hết, lập ra tổ chức để lật đổ chế độ hiện hành.

Nhưng các anh, hai người đồng chí của chúng ta, đã không hy sinh vô ích. Máu của các anh đã đổ sẽ làm thấm đượm thêm mầu lửa cho ngọn cờ cách mạng vô sản, bằng sự hy sinh của mình, các anh sẽ thức tỉnh toàn thể giai cấp vô sản Trung Quốc trước đây vẫn còn thụ động và thờ ơ.

TỔ CHỨC CỦA THANH NIÊN CỘNG SẢN

Nǎm 1922, có đặc điểm là những cuộc nổi dậy của công nhân đã tǎng lên hết sức mạnh mẽ. Hành động giết hại các đồng chí của chúng tôi đã không xa lạ với niềm thức tỉnh nồng nhiệt ấy – hơn 1.700 nam nữ sinh viên và công nhân đã gia nhập “Thanh niên cộng sản”. Điều đó thì bọn đao phủ đã không ngờ tới. Đại hội lần thứ nhất họp ở Quảng Châu từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 5 nǎm 1922.

Dưới đây là một số đoạn trích từ các đề cương đã được thông qua tại Đại hội:

l. Tình trạng đất nước bị chia cắt và các cuộc nội chiến nổ ra là do chủ nghĩa tư bản ngoại quốc gây ra, được bọn phản bội người Trung Quốc, bọn giả nhân giả nghĩa, bọn đày tớ của chủ nghĩa tư bản ủng hộ. Chúng đã bán cho ông chủ ngoại quốc tất cả các nguồn sinh lực của đất nước, tất cả đời sống kinh tế của tổ quốc mình.

2. Chủ nghĩa tư bản Trung Quốc đã buộc người ta phải thấy sự bóc lột của nó ngày càng tàn bạo. Nó không tốt hơn người anh em ngoại quốc của nó, bởi vì nó du nhập của người anh em đó chế độ bóc lột và áp bức.

3. Tên cu lắc tư bản chủ nghĩa ngự trị và làm khánh kiệt số quần chúng bao gồm bần nông, buôn bán nhỏ, tiểu chủ và tất cả công nhân.

4. Người tiểu chủ bị đẩy vào con đường phá sản và tiêu vong do bị hai tầng áp bức của tư bản ngoại quốc và chế độ quân phiệt bản xứ, bản nǎng tự vệ khiến họ phải đấu tranh chống lại hai kẻ thù ấy.

Cuộc khởi nghĩa nǎm 1900 đã chứng tỏ rằng, tầng lớp trung lưu không muốn chịu đựng thêm nữa chủ nghĩa tư bản ngoại quốc. Cuộc cách mạng nǎm 1911 chỉ rõ rằng, quần chúng đã hoàn toàn chán ngấy chế độ phong kiến cũng như nền quân chủ.

5. Cuộc đấu tranh này chống lại chế độ quan liêu và giới tài phiệt trong đời sống kinh tế và chính trị của nhân dân có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nếu cuộc đấu tranh ấy đem lại thắng lợi, thì nó sẽ bảo đảm nền độc lập dân tộc trong chính sách đối ngoại và trong đời sống nội bộ của đất nước, nó sẽ đem lại tự do báo chí, lập hội, v.v., cũng như đem lại chế độ đầu phiếu phổ thông. Đó là giai đoạn lịch sử tất yếu. Giai cấp vô sản phải hành động để thúc đẩy cho thắng lợi của mình. Bằng hành động giúp lật đổ chế độ cũ, chúng ta tập hợp lực lượng và huấn luyện để chuẩn bị cho cuộc cách mạng sắp tới, cuộc cách mạng vô sản.

6. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng, mặc dù chúng ta được hưởng một ít quyền lợi nhờ cuộc cách mạng tiểu tư sản ấy, nhưng những lợi ích ấy không phải là mục tiêu của chúng ta và sẽ không đem lại sự giải phóng hoàn toàn cho chúng ta. Ngay sau khi lật đổ được giai cấp thống trị, giai cấp tư sản nhỏ sẽ tự động biến thành giai cấp cao nhất và giai cấp bóc lột. Vấn đề của chúng ta – vấn đề chủ nghĩa cộng sản – vẫn hoàn toàn phải được đặt ra.

7. Vì vậy, ngay sau khi cuộc cách mạng tư sản kết thúc, chúng ta phải lập tức bắt tay vào việc tổ chức cuộc cách mạng vô sản. Mục tiêu của nó là thiết lập các Xôviết công nhân và nông dân, nghĩa là chuyển giao toàn bộ quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế vào tay giai cấp vô sản.

8. Cuộc cách mạng ấy nổ ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào tình hình quốc tế, trình độ tổ chức và nhịp độ đấu tranh của giai cấp công nhân Trung Quốc.

9. Thanh niên cộng sản Trung Quốc được lập ra bởi thanh niên công nhân Trung Quốc và tồn tại để phục vụ thanh niên công nhân. Nó sẽ tạo ra và giành được sự giải phóng của mình: xã hội hoá tất cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, thực hiện nguyên tắc: “Ai không lao động, người đó sẽ không được ǎn”.

10. Thanh niên cộng sản không chỉ đấu tranh nhằm cải thiện lao động của trẻ em, mà còn mở rộng những đòi hỏi cấp bách của mình nhằm bảo vệ nữ thanh niên và sinh viên. Nó tuyên truyền ý thức giai cấp và đào tạo thanh niên cho cuộc cách mạng vô sản.

11. Kết quả ấy không thể đạt được trong một sớm một chiều mà lại không có sự chuẩn bị. Vì vậy thanh niên cộng sản phải có quy chế chặt chẽ, các mệnh lệnh và chỉ thị chính xác.

NHỮNG YÊU SÁCH CẤP BÁCH

Chính trị:

a) Thủ tiêu chế độ quân phiệt, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản.

b) Quyền phát ngôn không hạn chế cho công nông.

c) Tự do báo chí, hội họp, lập hội và bãi công.

Kinh tế:

a) Chế độ ngày làm 6 giờ cho trẻ em, ngày làm 8 giờ cho người lớn. Cấm tuyển lao động các em dưới 12 tuổi.

b) Mỗi tuần được nghỉ 36 giờ, hoàn toàn được nghỉ vào các ngày lễ.

c) Cấm chủ và thợ học việc ký các hợp đồng tư nhân. Ban hành các đạo luật bảo vệ giới học nghề.

d) Cải thiện điều kiện vệ sinh trong lao động. Cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 16 tuổi trong các ngành sản xuất nguy hiểm.

e) Trả công ngang nhau cho nam nữ công nhân. Phụ nữ được nghỉ hai tháng được hưởng lương trong thời gian sinh đẻ.

Giáo dục:

a) Thanh niên cộng sản tổ chức các câu lạc bộ, các lớp học, các tổ chức giáo dục nhằm phát triển ý thức xã hội trong thanh niên công nhân và thanh niên nông dân. Nó sẽ xuất bản các báo, tạp chí và sách nhằm mục đích bảo vệ và tuyên truyền. Sau hết, nó phải giúp dân chúng lớn tuổi mù chữ có được trình độ học vấn phổ thông.

b) Hệ thống giảng dạy sẽ được thay đổi sao cho con em người nghèo được đi học.

c) Chế độ học không mất tiền và chế độ tự quản cho sinh viên.

d) Bình đẳng giữa các tôn giáo và các dân tộc. Thanh niên cộng sản cần phải giúp đỡ phong trào thanh niên, phải đấu tranh chống thủ đoạn ngu dân tôn giáo và tất cả những gì có thể làm tǎm tối đầu óc thanh niên.

Thanh niên cộng sản cho rằng, vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa là vấn đề quốc tế, vì vậy phải giúp đỡ tất cả mọi dân tộc trong cuộc đấu tranh của họ.

Sau Đại hội, Ban chấp hành mới ghi nhận rằng, đã thành lập thêm được 6 chi hội địa phương, nâng tổng số lên 22 chi hội.

Báo “Đội tiền phong” được phát hành.

Các hình thức đấu tranh:

a) Nhân kỷ niệm ngày mất của Rôda Lúcxǎmbua và Các Lípnếch, đã tổ chức những cuộc biểu tình lớn ở Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu và ở các tỉnh khác.

b) Thanh niên cộng sản tham gia rất tích cực vào phong trào bài mê tín: ở khắp nơi đều có các hội bài mê tín, tập hợp được gần 30.000 thành viên. Phổ biến các bài thuyết trình, các sách mỏng và những bản tuyên ngôn, đồng thời đã tiến hành các hội nghị.

c) Đã tiến hành thắng lợi cuộc biểu tình ngày 1-5.

d) Tại tất cả các tỉnh có những chi hội địa phương đều đã tiến hành ngày chủ nghĩa Mác. Đã phân phối các bản tuyên bố và các cuốn sách cổ động.

e) Thanh niên cộng sản đã ủng hộ cuộc bãi công của thợ dệt ở Thượng Hải. Ban chấp hành của nó đã gửi các thông tri đến tất cả các tổ chức công nhân để yêu cầu họ giúp đỡ, trong 3 ngày Ban chấp hành đã thu được hơn 900 piát qua việc mở đợt đǎng ký. Có 10 đồng chí thuộc hội “Thanh niên cộng sản” đã bị cảnh sát bắt vì lý do đó. Chỉ sau khi cuộc bãi công của thợ dệt kết thúc họ mới được thả. Giới thanh niên tràn đầy những dự định tốt đẹp và nhiệt tình đã hoạt động hǎng hái. Tuy nhiên, họ vẫn không liên hệ được với quần chúng. Tình trạng ấy là do thiếu các chỉ thị và kinh nghiệm.

Tại Đại hội lần thứ III của Quốc tế Thanh niên cộng sản, đồng chí Liêu Nhân Trần đã dự với tư cách đại biểu. Sau khi trở về đồng chí đã triệu tập Đại hội toàn quốc lần thứ II. Đại hội được triệu tập vào tháng 7 nǎm 1923 ở Nam Kinh. Đã xem xét và tiếp nhận các đề cương của Đại hội quốc tế. Những đoạn dưới đây của mệnh lệnh phải được thực hiện:

a) ủng hộ đòi hỏi hằng ngày của thanh niên công nhân.

b) Đi vào quần chúng để kết nạp những thành viên mới thuộc nam nữ công nhân.

c) Thành lập các chi bộ nhà máy.

Đại hội toàn thế giới đã tán thành các đề cương do Thanh niên cộng sản Trung Quốc trình bày, những đề cương ấy liên quan đến chính sách cần áp dụng đối với “Quốc dân đảng”; các hội viên hội thanh niên cộng sản phải bằng mọi cách giúp mở rộng và củng cố đảng cách mạng ấy, luôn luôn tuyên truyền rộng rãi những nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa. Các hội viên Hội thanh niên cộng sản nào đồng thời có tham gia “Quốc dân đảng” phải luôn luôn chịu sự kiểm soát của Ban chấp hành Thanh niên cộng sản và phục tùng các chỉ thị của nó. Tuy tham gia công việc của “Quốc dân đảng”, nhưng các hội viên của Hội thanh niên cộng sản không được coi nhẹ việc tuyên truyền tư tưởng cộng sản và trong tất cả mọi trường hợp phải thể hiện tính độc lập về tư tưởng và tổ chức. Các hội viên ấy chịu trách nhiệm trước đảng mình, nghĩa là trước Hội thanh niên cộng sản.

Vì một mặt, do cấu trúc cách mạng tự nhiên của thanh niên nông dân, và mặt khác, cũng do có một số lớn binh lính xuất thân từ thanh niên nông dân, nên Hội thanh niên cộng sản phải dành sự chú ý đặc biệt cho công tác theo hướng này, đặc biệt đẩy mạnh công tác giác ngộ giai cấp trong thanh niên nông dân để họ thành bạn chiến đấu cách mạng của mình. Đòi phải trả cùng một mức tiền công cho thiếu niên làm cùng loại công việc như nông dân người lớn. Trẻ em nông thôn là những người tham gia sản xuất trong tương lai, phải được học hành một cách tương ứng. Thanh niên cộng sản thu thập dữ kiện về tình hình kinh tế của dân cư nông

thôn để hành động cho phù hợp với tình hình.

Giáo dục và tuyên truyền

Bằng những bằng chứng đơn giản và rõ ràng, làm cho quần chúng hiểu rõ lợi ích thật sự của mình. Dần dần đưa quần chúng đến chỗ nhận thức được sự cần thiết phải thay đổi chế độ xã hội hiện hành. Huấn luyện quần chúng nắm vững các phương pháp của tổ chức công nhân. Hoạt động theo hướng đó nhằm làm cho tất cả thanh niên nông dân, thanh niên công nhân và thanh niên học sinh hiểu rõ và thừa nhận các tư tưởng của cách mạng dân tộc và cách mạng quốc tế.

Ra lời kêu gọi gửi tất cả thanh niên công nhân, thanh niên nông dân, binh lính và sinh viên với những lời kết thúc dưới đây:

Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt!

Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

Đả đảo bọn tư bản bóc lột!

Cách mạng toàn thế giới muôn nǎm!

Hiện nay “Hội thanh niên cộng sản” có 6.000 hội viên. Các nhóm và các chi hội dần dần được lập ra trong khắp đất nước. Sinh viên và thanh niên kiều bào cũng thành lập các nhóm cộng sản ở nước ngoài. Trong số đó có hơn l00 người đã học chủ nghĩa Mác tại Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông ở Mátxcơva.

cpv.org.vn

—————————-

78. Trung quốc và thanh niên Trung Quốc: Trong thời gian hoạt động ở Liên Xô và học tập ở Trường đại học phương Đông (1924), Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ, trao đổi với nhóm thanh niên Trung Quốc học ở đây. Người đã tập hợp những tư liệu về lịch sử và phong trào cách mạng Trung Quốc và tổ chức viết thành cuốn sách Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc. Sách viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Nga, Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản nǎm 1925. Cuốn sách giới thiệu khái quát lịch sử, địa lý, kinh tế, vǎn hoá, xã hội và con người Trung Quốc. Cuốn sách cũng trình bày tình cảnh các tầng lớp nhân dân Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử và nhất là thời kỳ bị chủ nghĩa tư bản quốc tế áp bức. Chủ nghĩa đế quốc xâm nhập vào Trung Quốc là nguồn gốc của mọi cǎn bệnh xã hội: đói khổ, bệnh tật, chết chóc. Nông dân bị bóc lột hà khắc. Công nhân bị đày đọa trong các công xưởng nhà máy. Thanh niên bị đầu độc, bưng bít. Cuốn sách cũng chỉ rõ những nét đặc trưng về phong trào cách mạng Trung Quốc, sự khởi sắc của phong trào công nhân và đề ra những nhiệm vụ chủ yếu của tuổi trẻ Trung Quốc trong sự nghiệp cách mạng. Tr.369.