Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết (23-8-1925)

Quảng Châu, 23-8-1925

Hãy yêu thương nhau, cùng nhau ta đoàn kết
Hãy lắng nghe câu hát từ đáy lòng tôi.
Kẻ không đoàn kết cũng như chim lạc đàn
Chóng hoặc chày rồi sẽ trúng tên
Vì đơn độc sẽ làm mồi cho hiểm hoạ
Từ kết đoàn hạnh phúc sẽ sinh sôi.
Chúng ta phải làm sao đoàn kết?
Hãy liên kết như thể thân mình
Ngũ quan cùng với tay chân dính liền
Tách rời nhau thời không thể sống
Chỉ cùng với nhau sức lực mới sinh sôi
Nào ta hãy cùng yêu thương đoàn kết
Chớ ham lợi Pháp mà phản bội sự nghiệp
Hãy kết đoàn tương trợ lẫn nhau
Tựa tứ chi kết lại ta sẽ thành công
Đất nước ta ta xây một thiên đường
Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết
Nghĩa vụ một người dân là phải yêu Tổ quốc
Mau cải thiện tâm, tài, lực cho dân
Vì sự nghiệp chung hãy học sống và học chết
Hỡi đồng bào yêu quý hãy lắng nghe tôi hát
Rồi học thương yêu nhau và đoàn kết cùng nhau.

——————————-

Báo Thanh niên, số 9.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta (27-9-1925)

Quảng Châu, 27-9-1925

Trong lá thư vừa rồi, chị đã không thừa nhận là người của chúng tôi; mặc dù vậy, từ đó chúng tôi vẫn coi chị như thế, bởi chúng tôi tin chắc rằng chị sẽ chấp nhận điều đó sau khi đọc bài báo này.

1- Các vua quan, thư lại, thông ngôn, theo chị là những người phản cách mạng. Chị đã nhầm rồi, bạn thân mến, bởi vì một ông vua có thể suy nghĩ và biết cảm thông với những bất hạnh chưa từng thấy đang giáng xuống dân tộc của ông; vì vậy ông ta thà làm một người dân bình thường còn hơn là trị vì một dân tộc nô lệ.

Chính chúng tôi là người dạy cho các vị vua chúa bài học đó và chỉ ra cho họ thấy rằng họ làm cách mạng thì có lợi hơn là sống dưới ách ngoại bang.

Với quan lại, thư ký và thông ngôn, họ miễn cưỡng phục vụ người Pháp. Bị chìm đắm trong bóng tối ngu dốt từ nhỏ, họ không bao giờ có thể tự trau dồi kinh điển hay tri giác được những tiến bộ của nhân loại qua việc đọc báo chí. Họ không biết vì sao có kẻ sung sướng, lại có kẻ nô lệ khổ sở. Họ giống như những con gà què chỉ ǎn quẩn cối xay; họ không có chút nỗ lực nào nên đành bằng lòng với thứ thức ǎn mà kẻ khác đem cho họ. Vậy nhiệm vụ của chúng ta là phải hướng họ theo lý luận cách mạng.

2- Nếu chúng ta nói với những người cần lao và thợ thuyền:

“Tất cả những gì anh em kiếm được bằng mồ hôi của anh em đều chui vào túi người Pháp. Nếu cách mạng thành công, anh em sẽ nộp thuế nhẹ hơn so với hiện nay, và chúng ta sẽ dùng thuế đó để đào mương, làm đường, xây trường học, lập nhà thương, làm tất cả những gì có ích cho anh em. Thắng lợi của cách mạng sẽ mở ra một thời kỳ dân chủ, nghĩa là tự do của anh em và quyền tự quyết của anh em.

“Hãy xem người Nga, họ cũng bị áp bức như anh em. Nhưng từ khi có cách mạng, họ là người sung sướng nhất trần gian. Hết thảy mọi người đều có ruộng, có nhà, mọi người đều được học hành và bỏ phiếu bầu cử”.

Nếu chúng ta làm cho công nông hiểu được điều này thì hết thảy họ đều giúp chúng ta làm cách mạng.

3- Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi.

ở nước Nga, không có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà. Phụ nữ có quyền bỏ phiếu và được bầu. Hiện nay có một bà là bộ trưởng, một bà là đại sứ; nhiều người khác là dân biểu.

Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng.

———————————-

Báo Thanh niên, số 13.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Truyện ngụ ngôn (1925)

Quảng Châu, nǎm 1925

Hãy nghe câu chuyện ngụ ngôn này. Tất cả các bạn, hãy im lặng và lắng nghe!

Loài vật đang tranh nhau công trạng

Con rồng mày râu óng ánh, mào và vảy rực rỡ lên tiếng trước tiên:

– Ta là thuỷ tổ của giống nòi An Nam từng chứng kiến sinh ra biết bao vị anh hùng lừng lẫy.

Đến lượt tôm: – Anh bạn nói đùa đấy chứ. Phận tôi còn sướng hơn phận người An Nam. Anh hãy nhìn thân hình tôi. Nó còng xuống là theo ý trời, trong khi đó con cháu anh thì xương sống gập xuống dưới gánh nặng sưu thuế và khổ sai.

Cừu nói: – Lời anh nói khiến tôi buồn. Thực ra người An Nam cũng tựa như loài thỏ. Anh biết đấy, mỗi nǎm tôi bị cắt lông có một lần, còn những con người tội nghiệp kia thì bị Pháp bóc lột tứ thời.

Bò lên tiếng: – Chưa hết đâu nhé. Tôi dám khẳng định rằng người An Nam còn khốn khổ hơn loài bò. Chúng tôi có nước da tươi tắn, bụng đầy cỏ và xương sườn dạng mo cau, nhưng chúng tôi có thể kiêu hãnh vì được hưởng một thứ tự do còn lớn hơn tự do của họ.

Cua cười chua chát mà rằng:

– Chúng tôi hơn đứt những người An Nam đang cúi mình trước mọi sự đỏng đảnh của người Pháp và những kẻ nô lệ tội nghiệp kia vẫn cam phục vụ bọn chúng mà không hề hé rǎng nửa lời.

Rắn nói: – Các chị châm chọc mỉa mai nữa kìa. Thử xem, ai là người chiến thắng bằng sự cao quí của tình cảm ? Tôi, hay là những người Pháp khẩu Phật tâm xà mà người An Nam đưa vào nước họ?

Voi nói: – Người An Nam sẽ muôn đời phải gánh chịu hậu quả những lầm lỗi mà họ vô tình phạm phải. Họ đã rước voi về giày mả tổ lại còn bỏ mặc cho người Pháp cái quyền lãnh đạo cả Tổ quốc của họ nữa.

Lươn nói: – Nghĩ đến người An Nam mà tôi buồn.

Họ để cho đồng tiền cám dỗ cứ như mật dụ ruồi. Với những kẻ nô lệ ấy, cúi mình hạ nhục cốt để kiếm chút danh tước bạc bẽo có hề gì.

Chuột nói: – Hãy xem loài chuột chúng tôi, ai cũng có bản mệnh của mình. Còn người An Nam không còn nghĩ gì đến đất nước của họ nữa. U mê vì của cải và giàu có, họ đang thờ ơ can dự vào cuộc diệt chủng giống nòi và vong quốc.

Gà trống nói: – Ta là ông hoàng trên sân gà. Ta sống hoà hợp với các ả thần dân của ta và chúng ta không bao giờ tranh nhau miếng ǎn ngon lành như bọn người An Nam vì tiền bạc mà bội bạc phản trắc.

Cá chép: – Nước với tôi cùng nhau sung sướng, rồi nhất định có ngày hóa được thành rồng, tôi sẽ bay đến tận cung tiên. Còn người An Nam thì suốt đời chỉ khoanh tay quỳ gối trong cảnh nô lệ mà không dám vùng lên.

ếch: – Hỡi anh em, suy đi tính lại, nếu thực sự chúng ta thương xót người An Nam thì hãy cùng nhau đi cứu họ. Loài ếch hèn mọn chúng tôi nhờ có kêu ca mà làm trời phải mủi lòng, và lẽ nào vô cớ trời lại bỏ ngoài tai lời cầu khẩn mà để loài ếch vĩnh viễn bị tận diệt? Nếu họ đồng tâm và đồng sức, nếu họ kết liên trong, ngoài thì người Pháp sẽ mất tinh thần, kinh hãi và phải trả lại cho họ những quyền tự do của họ.

Ôi, những người An Nam, các anh phải luôn nhớ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh!

—————————-

Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp,
lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo chí bình dân (17-1-1926)

Quảng Châu, 17-1-1926

Các bạn của chúng ta phàn nàn nhiều lần rằng các bài báo của ta quá thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng.

Chúng tôi xin báo với các độc giả của mình rằng chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, vǎn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đǎng đối song hành, những sự tô vẽ vǎn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngược lại chúng tôi gắng sức, vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một vǎn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Vì mục đích của chúng tôi là: l- đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2- khích lệ dân tộc An Nam kết liên lại, 3- làm cho họ thấy được nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm cách nào để tránh được những điều đó, nên bản báo chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động mà người ta gióng lên khi có đám cháy để báo cho người đang trong ngôi nhà cháy, giục giã họ chạy thoát thân để khỏi bị chôn vùi hoặc bị thiêu cháy, và gọi những người xung quanh đến ứng cứu.

Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng; nhưng trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn.

Có nhiều cách làm rung động lòng người. Khóc lóc, than vãn, đọc Kiều hay Tam Quốc đều khiến ta mủi lòng. Nhưng đó chỉ là những cảm xúc thoảng qua và hời hợt mà chúng tôi không muốn gợi lên trong lòng độc giả của chúng tôi. Ngược lại, chúng tôi muốn rằng vǎn của chúng tôi gây được cho họ một ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài.

Ví dụ: Nếu gặp một nông dân An Nam quần áo tả tơi, chúng tôi sẽ bằng một giọng đầy thương cảm, nhưng che giấu đi niềm xúc động và nuốt nước mắt mà nói rằng: “Than ôi! sao mà số phận anh khổ đến thế này. Anh mua giống hết 2 đồng, mua phân 4 đồng; anh thuê trâu 3 đồng, thuê thợ 5 đồng và nộp thuế 1 đồng. Tiền anh chi đã lên đến 15 đồng, anh bán thóc được 18 đồng. Nhưng vì anh đã phải nộp thuế chợ 1 đồng nên thực ra anh chỉ được 2 đồng, mà tiền ấy anh cũng bị Pháp cướp mất. Vì thế tôi mới bảo rằng anh khốn khổ”.

Anh nông dân của chúng tôi sẽ không khóc, không than. Nhưng anh ta suy nghĩ, hiểu ra và cuối cùng sẽ vùng lên và làm cái việc tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc.

Còn những ai yêu thơ, thì họ cứ tự do đắm chìm mà đọc Cung Oán hay Nhị Độ Mai.

————————

Báo Thanh niên, số 28.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Mục dành cho phụ nữ: về sự bất công (4-4-1926)

Quảng Châu, 4-4-1926

Đại Đức Khổng Tử nói: Chồng phải dạy vợ.

Đức Mạnh Tử lại lưu ý rằng: Đàn bà và trẻ con khó dạy bảo: nếu cho họ gần thì họ khinh nhờn; nếu bỏ mặc họ thì họ thù oán.

Người Trung Quốc thường so sánh phụ nữ với con gà mái: “Gà mái gáy báo sáng là điềm gở cho cả gia đình”.

ở An Nam, chúng ta nói: Đàn bà phải quanh quẩn trong bếp.

Trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì. Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?

MỘNG LIÊN

—————————-

Báo Thanh niên, số 40.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Người cách mạng mẫu mực (18-9-1926)

Quảng Châu, ngày 18-9-1926

Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải:

1. Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại.

2. Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại, phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “Tổ QUốC TRÊN HếT” ở mọi nơi và mọi lúc.

3. Làm việc không mệt mỏi tuỳ theo phương tiện và nǎng lực của mình, người giàu góp tiền, người trí thức góp tri thức và thợ thuyền góp sức, không gì ngǎn trở được sự nghiệp cách mạng tiến lên.

4. Xem thường cái chết, bất chấp hiểm nguy, vì cách mạng là một cuộc chiến đấu trường kỳ và gian khổ do những người vô sản tiến hành chống lại bọn áp bức họ.

5. Thuận theo hoàn cảnh về thời gian, không gian, không bỏ qua điều gì. Có thể, hoặc gây bãi khoá và bãi công, hoặc khích động nông dân không đóng thuế và đi phu khổ sai, hoặc giết chết những tên kẻ thù gian ác, hoặc chiếm đồn với nội ứng của lính bản xứ. Người cách mạng phải luôn luôn nói và hành động một cách có ý thức.

6. Suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động, vì việc thực hiện một kế hoạch phụ thuộc vào công tác chuẩn bị; chẳng hạn: Có 2 chiến

sĩ, một người đã chín muồi kế hoạch hành động, còn người kia thì làm ẩu, do đó người thứ nhất sẽ thành công và có ích cho Đảng mình, còn người thứ hai sẽ thất bại và làm hại cho sự nghiệp cách mạng.

7. Lãnh đạo nhân dân vì sức mạnh của họ không thể thiếu được đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Dân chúng vốn ít học, ngây thơ, khó liều mạng, dễ bị lừa và bị mua chuộc. Vậy người cách mạng mẫu mực phải giáo dục họ, sửa chữa cho họ và chiếm được sự tin cậy của dân chúng để có thể sử dụng sức mạnh của họ đúng lúc.

8. Thành lập thật nhiều những tổ chức hùng mạnh thúc đẩy mau đến thắng lợi của cách mạng.

9. Xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

l0. Không cục bộ, bởi vì cách mạng phải vì lợi ích của dân tộc chứ không phải của một cá nhân. Vì vậy, nếu một người cách mạng tìm cách cục bộ thì tham vọng của anh ta sẽ khiến anh ta hành động vì mình chứ không vì mọi người.

ll. Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hoà, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình.

12. Kiên trì và nhẫn nại. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khǎn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại, thì những khó khǎn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền.

——————————-

Báo Thanh niên, số 61.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám 1945

(ĐCSVN) – Cuộc cách mạng nhân dân năng động và sáng tạo của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi vào tháng Tám năm 1945. Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo đầu tiên và duy nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa trong lịch sử nhân loại thế kỷ XX.

Ảnh tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam đã đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến gần một trăm năm, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Nó chẳng những khẳng định giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, chiến đấu quả cảm đã “vung ra nghị lực phi thường” nhất tề đứng lên giành độc lập tự do mà còn khẳng định sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối chiến lược và sự thay đổi sách lược đúng đắn chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân, đưa Việt Nam gia nhập đại gia đình vô sản quốc tế sánh vai với các cường quốc văn minh trên thế giới.

Trong bối cảnh lịch sử thế giới thế kỷ XX, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa thời đại to lớn.

1. Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trên toàn thế giới

Đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn thứ hai trong lịch sử phát triển. Đó là sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc mà V.I.Lênin khẳng định đó là “Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Là người đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phi mác xít của “phái hữu” và “phái giữa” trong Quốc tế Hai sau khi Ăngghen mất năm 1895, Lênin đã đấu tranh để vạch rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Theo Người, nó không phải là “Khai hoá văn minh” cho các dân tộc thuộc địa lạc hậu như một số lãnh tụ của Quốc tế Hai từng cổ suý mà nó là xâm lược, nô dịch, ăn bám, thối nát và với sự chống đối từ mọi phía. Lênin khẳng định nó tự làm suy yếu, tự nó đưa nó đến chỗ diệt vong.

Trước sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc trên tư bản. Vấn đề đấu tranh chống lại sự xâm lược và ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong đời sống chính trị quốc tế đầu thế kỷ XX. Vận dụng quan điểm “cách mạng không ngừng” của Mác – Ăngghen vào tình hình cụ thể. V.I.Lênin đã khẳng định vấn đề dân tộc – thuộc địa là vấn đề sinh tử và là trung tâm của thời đại mới. Chính Người đã chủ động chuẩn bị và lãnh đạo công nông binh Nga biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười mở đầu kỷ nguyên mới, thời đại mới. Chính Người đã chuẩn bị và thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS) – Tổ chức quốc tế của các Đảng Cộng sản có sự tham gia lần đầu tiên của các dân tộc thuộc địa. Người đã đề ra Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, coi vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức là trọng tâm của đời sống cộng sản quốc tế, là điều kiện được ghi trong Điều lệ để kết nạp các Đảng Cộng sản vào QTCS.

Giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhiệm vụ hàng đầu của các Đảng Cộng sản toàn thế giới lãnh đạo quần chúng nhân dân các thuộc địa. Giải phóng các dân tộc khỏi ách thống trị thực dân là nhiệm vụ trọng tâm của thời đại mới.

Là người tiếp thu học thuyết Mác – Lênin, là người có thực tiễn hoạt động phong phú trong QTCS, từng khảo sát tại các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận và thực tiễn vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Với những hoạt động không mệt mỏi trong 1/4 thế kỷ (từ năm 1920-1945) Hồ Chí Minh đã biến học thuyết Lênin trở thành hiện thực, điều mà trước đó Lênin vĩ đại đã bổ sung, sáng tạo biến học thuyết Mác – Ăngghen trở thành hiện thực thể hiện qua cách mạng Nga. Là người hiểu và trung thành trong đấu tranh bảo vệ và kiên trì tổ chức thực hiện tư tưởng của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, sau khi gia nhập gia đình cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản – bộ tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Người trực tiếp đề ra chiến lược, sách lược và phương thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, tổ chức, lãnh đạo chuẩn bị xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chớp thời cơ một cách mau lẹ chính xác làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành công của cách mạng là triệt để, là “đến nơi” như Hồ Chí Minh khẳng định. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của cách mạng đã đập đổ ách thống trị thực dân hàng trăm năm, ách thống trị phong kiến hàng nghìn năm đưa dân tộc Việt Nam vào thời đại mới – thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, thời đại độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trở thành một hình mẫu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chiến thắng các thế lực xâm lược có thể có nhiều con đường giành thắng lợi, song cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cách mạng giải phóng triệt để nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Và do vậy thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự mở đầu của trào lưu phi thực dân hoá trên phạm vi quốc tế. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Mười mở đầu thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và Cách mạng Tháng Tám mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trong trào lưu cách mạng giải phóng dân tộc toàn thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Tám và tiếp tục con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân Việt Nam tiếp tục đi đầu trong việc đánh thắng, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân cũ, đánh bại một bước nặng nề chủ nghĩa thực dân mới đã làm cho Việt Nam và Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Cách mạng Tháng Tám với ý nghĩa đó trở thành cuộc cách mạng mở đầu cho trào lưu phi thực dân hoá và biến lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới thế kỷ XX giành được toàn thắng. Đến nay không còn có nước nào không giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân hoàn toàn bị tiêu diệt trong thế kỷ XX mà Cách mạng Tháng Tám là sự mở đầu trào lưu phi thực dân hoá, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh.

2. Cách mạng Tháng Tám khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh trong dự báo cách mạng thuộc địa có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, bổ sung và phát triển Học thuyết Mác – Lênin

Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin tận gốc lại có thực tiễn khảo sát 28 nước ở 4 châu lục, điều mà các lãnh tụ kinh điển trước Người chưa có điều kiện, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đưa ra một dự báo mang tính lý luận từ rất sớm về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước cách mạng chính quốc.

Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ tự do cạnh tranh cũng như nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thời kỳ chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, các nhà kinh điển chỉ đưa ra dự báo cách mạng các nước tư bản (chính quốc) giành thắng lợi trước mới tạo điều kiện, mới ảnh hưởng, mới giúp đỡ cho cách mạng giải phóng dân tộc. Những dự báo của Mác – Ăngghen về khả năng giành thắng lợi của cách mạng Aixơlen trước Anh mới là một dự báo chưa thành hiện thực. Thời đại Lênin tuy ông có dự báo cách mạng chính quốc phải thắng lợi trước mới giúp cho cách mạng thuộc địa dù Người đã dự báo cách mạng có thể giành thắng lợi ở một nước tư bản. Điều dự báo Lênin đã thực hiện thành công ở nước Nga thông qua Cách mạng Tháng Mười. Các lãnh tụ kinh điển chưa nói đến khả năng cách mạng thuộc địa có thể thắng lợi trước chính quốc.

Đến lượt mình luôn trung thành với học thuyết Mác – Lênin, coi đó là “chân chính nhất, cách mạng nhất” song Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn nghiên cứu sự vận động của thế giới trong thời đại mới. Nghiên cứu các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ đặc biệt là các thuộc địa của Pháp, tính chất đế quốc Pháp là chủ nghĩa đế quốc “cho vay nặng lãi” (khẳng định của Lênin) ngay từ những năm đầu mới tiếp thu Học thuyết Mác – Lênin Người đã đưa ra dự báo: cách mạng thuộc địa (thậm chí ở một nước riêng biệt) không những có khả năng thắng lợi trước cách mạng chính quốc, còn có thể giúp cho những người anh em phương Tây trong sự nghiệp giải phóng khỏi mọi ách áp bức dân tộc, áp bức giai cấp của chủ nghĩa tư bản. Đây là một dự báo hết sức táo bạo, một sự khẳng định tưởng như không có cơ sở trong những năm 20 của thế kỷ XX.

Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập đã tiến hành một “núi” các công việc khổng lồ để làm cho dự báo thành hiện thực. Đó là xây dựng được một đảng cách mạng tiên phong có lý luận soi đường được vũ trang bằng chủ nghĩa “Mã Khắc Tư và Lênin”, có chiến lược và sách lược đúng đắn phù hợp tình hình đặc điểm của mỗi giai đoạn cụ thể, luôn chú trọng điều chỉnh chiến lược và thay đổi đối sách lược kịp thời. Chuẩn bị lực lượng mọi mặt, dự báo chính xác chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam trong cao trào kháng Nhật cứu nước, chớp thời cơ giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chứng minh dự báo của Nguyễn Ái Quốc về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng Pháp. chính QTCS đã thấy trước vấn đề này. Tại Hội nghị toàn thể lần thứ 11 của QTCS tháng 4 năm 1931, QTCS đã thấy về lĩnh vực dân tộc thuộc địa các đảng ở chính quốc phải “học tập các đồng chí Trung Quốc và Đông Dương”. Trưởng thành qua tổng kết thực tiễn các cao trào 1930-1931, cao trào dân chủ 1936-1939 và cao trào kháng Nhật 1939-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến tư tưởng Hồ Chí Minh về thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc trước chính quốc thành hiện thực. Đây là sự phát triển sáng tạo và bổ sung quan trọng vào kho tàng lý luận Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Hồ Chí Minh không chỉ là trung thành vận dụng sáng tạo vào thực tiễn mà còn phát triển lý luận bổ sung cho chủ nghĩa Mác – Lênin lý luận vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nó đã làm cho Cách mạng Tháng Tám không chỉ của Việt Nam mà là những vấn đề lý luận và thực tiễn mang tầm vóc quốc tế, có ý nghĩa thời đại.

3. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã bổ sung vào kho tàng lý luận Mác – Lênin, làm rõ nhiều vấn đề cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, khắc phục sai lầm tả khuynh của QTCS trong việc đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống phong kiến. Cách mạng Tháng Tám trong việc tập hợp lực lượng tham gia đã khẳng định đường lối sách lược trong tập hợp lực lượng đông đảo toàn dân tộc của Hồ Chí Minh là đúng đắn. Chỉ đến  khi Cách mạng Tháng Tám trở lại đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược, sách lược cách mạng giải phóng dân tộc thì cách mạng mới thành công.

Cách mạng Tháng Tám còn làm rõ và bổ sung lý luận Mác – Lênin về vấn đề bạo lực cách mạng và vấn đề khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Với việc xác định đúng đắn bạo lực cách mạng là sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp chính trị với vũ trang, kết hợp khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa, đưa khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám lên tầm mẫu mực nghệ thuật trong đấu tranh giành chính quyền. Khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám trở thành một trong bốn điển hình trong đấu tranh giành chính quyền trong lịch sử thế giới thế kỷ XX.

Cách mạng Tháng Tám bổ sung lý luận của Lênin về thời cơ và nâng lên thành nghệ thuật chớp thời cơ trong bối cảnh diễn biến của tình hình thế giới hết sức phức tạp. Toan tính của các nước lớn, sự đầu hàng đồng minh của phát xít Nhật, sự yếu thế của Pháp khi chiến tranh kết thúc nếu không có sáng tạo, quyết đoán và mau lẹ chớp thời cơ thì không thể giành thắng lợi. Đây là lý do cùng ở Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương nhưng chỉ có Việt Nam là giành được chính quyền trước khi quân Đồng Minh vào.

Trên ý nghĩa đó thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ngoài ý nghĩa cụ thể với dân tộc Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám còn để lại nhiều ý nghĩa mang tầm vóc thời đại. Nó chẳng những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin mà còn nêu một mẫu mực đấu tranh giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Chính vì vậy các dân tộc thuộc địa coi Việt Nam là chiến sỹ tiên phong, anh hùng giải phóng dân tộc.

Thành quả của cuộc cách mạng mang lại vẫn đã và đang phát triển vững chắc 65 năm qua và sẽ tiếp tục phát triển trong thế kỷ XXI, đưa dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới./.

PGS.TS Trình Mưu
cpv.org.vn

Cách mạng tháng Tám ở nhà tù Côn Đảo

Vào một buổi trưa mùa đông cuối năm 1944, ở nhà tù Côn Đảo. Sau khi ăn cơm xong, đồng chí Tám không nằm nghỉ như thường lệ. Anh đi “khều” một số đồng chí đến hội ý nho nhỏ, trong đó có Huỳnh Thủ (sau này là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng). Sau đó, mọi người chia nhau đi “khều” anh em ngồi dậy, dồn lại một chỗ để nghe báo tin quan trọng, tin mừng.

Thiếu tướng Huỳnh Thủ

Các đồng chí đau nặng cũng được dìu đến. Những đồng chí kiệt sức cũng ráng ngồi dậy tại chỗ. Sau khi liếc mắt nhìn ra ngoài khám để phòng bọn cai ngục rình mò, đồng chí Tám bắt đầu nói:- Hồng quân Liên Xô phản công khắp các mặt trận và giành thắng lợi lớn lắm. Quân Đức rút chạy tán loạn, đã chạy rất xa Stalingrát và Thủ đô Mạc Tư Khoa!

Đồng chí Tám chưa dứt lời, đã có tiếng vỗ tay nhè nhẹ, đều và kéo dài. Rồi tiếng bàn tán vui mừng mỗi lúc càng xôn xao. Chen vào đó có tiếng nói nho nhỏ của các đồng chí đã kiệt sức: “Hồng quân Liên Xô thắng, chúng ta nhất định thắng, tôi sẽ sống cho đến ngày chiến thắng!”.

Đồng chí Tám nói tiếp:

– Tin Hồng quân thắng lớn đến với chúng ta chậm, nhưng nó cổ vũ động viên rất lớn, củng cố lòng tin của chúng ta vào thắng lợi của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam. Chắc đến lúc này, nhiều diễn biến lớn đã và đang xảy ra. Những sự kiện kỳ diệu sẽ đến với chúng ta.

Lại vỗ tay, lại cười, gật đầu, bàn tán náo nhiệt. Khó có thể nói hết niềm hân hoan của những chiến sĩ bao năm bị tù đày, cầm cố trong “địa ngục trần gian”, đêm ngày canh cánh ngóng trông đến lúc tung cánh xổ lồng. Liên Xô thắng lợi, dấu hiệu của một giai đoạn lịch sử mới đã hiện ra.

Tên gác giam người Pháp đứng trước cửa khám từ lúc nào, hắn hỏi:

– Tụi bay họp bàn chính trị phải không? Nó nhìn lại tên mã tà người Việt đứng cạnh, hỏi nhỏ: – Chắc tụi nó biết tin Nga Xô thắng trận, quân Đức đang rút chạy?

Tên mã tà gật gật cái đầu rồi cả hai bỏ đi.

Chiều đó, chúng tôi ngồi lại bàn việc thực hiện lời dặn của trên: Chuẩn bị mọi mặt đón nhận những sự kiện lớn, sẵn sàng đối phó với bọn Nhật và lũ tay sai, đề phòng bọn phản động phá hoại. Sau đó, chúng tôi chia nhau đi giải thích, hướng dẫn, động viên anh em tù, đồng thời thăm dò thái độ số tù nhân đảng phái thân Nhật, Trốtskít; kiên trì giải thích, động viên số anh em bị bọn phản động lừa phỉnh, bị địch lợi dụng…

Vào lúc nửa đêm 8-3-1945, chúng tôi đều nằm trần, bởi nóng nực của cái khám chật hẹp nhốt quá đông người. Chẳng ai ngủ được, trừ một số anh em đang bị cơn sốt mê man. Chúng tôi bỗng nghe từng loạt súng nổ kéo dài, sau đó thỉnh thoảng nổ một hai tiếng ở hướng bọn chúa đảo người Pháp và bọn lính Pháp đang ở. Chúng tôi ngồi dậy nhìn và hỏi nhau nho nhỏ trong đêm tối việc gì đã xảy ra.

– Bọn Nhật lại bắn chết bọn Pháp như những lần trước đây!

– Không phải!

– Chỉ có bọn Nhật bắn bọn Pháp thôi!

Lại súng nổ nhiều và kéo dài. Một số chúng tôi ngồi dậy, “khều” nhau trao đổi, rồi chia nhau đi từng người nhắc họ nhớ lại lời căn dặn của trên, động viên nhau bình tĩnh, vững vàng.

Sáng ngày 9-3-1945. Khác những buổi sáng trước, bọn mã tà mở hết các cửa khám trong banh, bắt tù nhân tập trung theo từng khám trước sân: Tên thư ký Tòng của Pháp, lưng đeo hai khẩu súng ngắn, tay chống nạnh đứng với tên bộ hạ. Tên gác giam người Pháp cũng có mặt đeo dùi cui thay súng ngắn. Mấy tên mã tà, tay cầm một khúc gỗ, mặt buồn xo. Tên Tòng đứng lên một chỗ cao nói:

– Từ hôm nay, chủ Côn Đảo là người Việt Nam, là chúng tôi. Tôi là sếp banh này, các anh ai muốn qua banh 4 sẽ được đi. (Banh 4 giành cho tù thân Nhật).

Tất cả chúng tôi đều im lặng. Tên Tòng nói tiếp:

– Các anh vẫn phải đi lao động. Người gác giam Pháp và người mã tà thường ngày dẫn giải các anh, nay vẫn tiếp tục.

Sau đó, chúng tôi được biết, Nhật đã đảo chính Pháp, nắm quyền cai trị trên ba nước Đông Dương. Từ đó, chúng tôi tranh thủ thời cơ củng cố đội ngũ, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với sự khủng bố của bọn thân Nhật và tay sai, đồng thời cũng chuẩn bị chào đón những sự kiện lớn. Trước thái độ, hành động bình tĩnh thống nhất của các đồng chí ta và quần chúng khắp đảo, bọn Nhật và tay sai có phần chùn tay…

Chiều ngày 28-5-1945, cơn giông bỗng nổi lên, mây đen kéo đến âm u cả một vùng. Bọn Nhật bày trò giao chủ quyền đảo cho người Việt Nam. Theo lệnh của tên quan ba Nhật Xe-tô, lễ phải làm nhanh gọn, đề phòng “bất trắc”. Một số công chức, công nhân viên mã tà, gia đình họ và một số tù thân Nhật kẻ trước người sau lai rai đến tập hợp tại sân banh (bãi đá bóng). Một lũ lính Nhật chia nhau canh gác lễ đài và cuộc lễ.

Chúng kéo cờ quẻ ly (cờ của Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim được quân Nhật giao). Tên quan ba Nhật Xe-tô đọc diễn văn, ba hoa về “công lao quân Nhật theo lệnh Nhật hoàng giúp Việt Nam giành độc lập” và theo lệnh trên, nó “giao” quyền làm chủ Côn Đảo cho tên Lê Văn Trà kể từ ngày 28-5-1945. Tên Lê Văn Trà lắm lời ca tụng công đức của quân Nhật và quay người về hướng Đông tỏ lòng tôn kính Nhật hoàng.

Tối đó, anh em chúng tôi trao đổi, nhận thấy: Bọn làm lễ qua loa, không huy động đông người đến dự, nhất là những người tù Cộng sản. Vì không chỉ chúng ngại hàng ngũ chúng tôi chặt chẽ, thái độ bình tĩnh, mà cái chính là vì chúng đang thua to khắp nơi. Chúng làm cho có cớ dọn đường để rút chạy sau này của chúng. Qua cuộc lễ, anh em chúng tôi hiểu thêm sự lúng túng của quân Nhật, thấy được sự chỉ đạo của các đồng chí cấp trên là đúng. Chúng tôi hứa với nhau thực hiện tốt việc đoàn kết nội bộ giữ nghiêm quy định đẩy mạnh việc vận động giải thích rộng rãi trong anh em tù, trong công chức và gia đình họ, thẳng thắn đấu tranh với những người tù thân Nhật và bọn phản động làm tay sai cho địch.

Tối hôm trước anh em chúng tôi ăn mừng Hồng quân Liên Xô thắng trận buộc phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, quân phát xít Nhật thua to ở Thái Binh Dương. Sáng hôm qua, được tin quân Nhật hoảng hốt đập điện đài, bình ắc quy, ném súng, đạn xuống biển. Sĩ quan, binh sĩ, kẻ trước đứa sau kéo nhau xuống tàu chạy, bỏ lại bọn chúa đảo và cả những tên tay sai đắc lực như tên Phan Khắc Sửu, Đào Duy Phiện… Sáng nay lại nhận được tin Lê Văn Trà long trọng mời mấy anh em mình đến văn phòng nó họp bàn chuyện sinh sống, trật tự, trị an. Bắt đầu họp, tên Trà quen thói xấc xược, nói:

– Dù sao các vị còn là tội phạm, chưa thể bàn chuyện quốc gia!

Lập tức một tiếng đập mạnh xuống bàn, kèm theo tiếng thét của một đồng chí ta:

– Chủ nhân đất nước chính là chúng tôi!

Tên Trà mặt tái, run run nói:

– Xin mời các vị muốn gì cứ nói!

– Trước hết, cửa banh, cửa khám không phải khóa, bỏ việc khám xét, kiểm tra. Ăn uống, trật tự, chúng tôi tự lo!

Tên Trà riu ríu xuôi theo và nói:

– Xin mời các vị về nghỉ!

Từ đó trở đi, các khám lớn nhỏ, các banh đều mở cửa cả ngày đêm. Việc nấu ăn, anh em mình tự lo liệu. Các khám đi lại thăm hỏi lẫn nhau. Anh em tổ chức tuyên truyền giải thích tình hình cho công nhân viên chức và tù thường phạm, tổ chức biểu diễn văn nghệ kiên trì thuyết phục số tù nhân các đảng phái phản động. Anh em đau yếu được săn sóc chu đáo. Chúng tôi còn đi thăm mồ mả các đồng chí đã hy sinh.

Tuy tinh thần, khí thế của anh em ngày càng lên, bọn chủ đảo và tay sai hoang mang, nhưng các đồng chí cấp trên dặn: Phải tuân thủ các qui định, nhắc nhau giữ thái độ bình tĩnh, không khiêu khích, cảnh giác, sẵn sàng ứng phó mọi bất trắc.

Một số đồng chí được giao nhiệm vụ chữa điện đài và bình ắc quy. Đó là phương tiện duy nhất, để nghe tình hình từ đất liền. Các đồng chí miệt mài sửa chữa và cuối cùng điện đài và bình ắc quy đã sửa xong.

Sáng 2-9-1945, vẫn như những buổi sáng mọi ngày, anh em chúng tôi đang ngồi bàn luận tình hình chiến sự. Một đồng chí bước vào, nói to:

– Tin mừng, tin mừng lắm, vĩ đại lắm! Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa!

Mọi người đứng lên, ngồi dậy ôm lấy nhau, nhảy lên, thét to:

– Tổ quốc Việt Nam độc lập, độc lập rồi!

– Bọn phát xít đã diệt vong!

Khắp các khám trong banh mọi người chạy đến ôm lấy nhau, cùng nhảy lên, cùng hô vang. Những đồng chí đang đau nặng cũng gắng ngồi dậy:

– Tổ quốc Việt Nam đã được giải phóng, tôi nhất định sống về với đồng bào, với Đảng, với gia đình!

Tên sếp banh và mấy tên mã tà chẳng rõ đầu đuôi thế nào. Khi được anh em báo tin, tên sếp banh mặt xịu xuống, còn mấy người mã tà vỗ tay chúc mừng chúng tôi. Lại vỗ tay, lại chạy, lại hô. Vui mừng biết bao, sung sướng biết bao! Đồng chí báo tin nói tiếp:

– Đài trục trặc, không nghe được liên tục, mới nghe được bấy nhiêu.

Đồng chí ấy định đi ra, anh em giữ lại hỏi:

– Nhờ các anh trên cho biết Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai, nhé!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai?

– Có phải là đồng chí Nguyễn Ái Quốc không?

– Chắc phải rồi, phải rồi! Chỉ có đồng chí Nguyễn Ái Quốc mới được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không ai khác được!

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai?” chỗ nào, ở đâu cũng hỏi nhau. Nhiều đồng chí tự trả lời: “Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc là một”. Nhiều đồng chí quên cả ăn. Mừng mà khóc. Nhớ các đồng chí đã mất mà khóc. Khó diễn tả hết tâm trạng vui mừng của chúng tôi. Đêm không ngủ. Mừng quá, phấn khởi quá. Tổ quốc Việt Nam độc lập! Những gì tủi nhục sẽ mất, những gì ước mơ sẽ đến!

Cái mơ ước đầu tiên chúng tôi đã gặp là nhìn thấy lá cờ Tổ quốc trên Đoàn tàu từ đất liền ra Côn Đảo đón tù chính trị trở về. Nửa buổi sáng hôm ấy, anh em rủ nhau ra ngồi dọc bãi biển, mặc trời nắng, người trông ra biển về hướng tàu sẽ vào.

– Tàu đến rồi! Cờ đỏ sao vàng năm cánh tung bay trên cột tàu kia rồi! Sướng quá trời đất ơi! Sướng quá! Lá cờ Tổ quốc đấy rồi.

Chúng tôi reo lên, tranh nhau nhìn, nhảy lên ôm chầm lấy nhau. Rồi nước mắt lại chảy và chúng tôi cứ để chảy, không ai muốn lau, tay cứ chỉ, mắt cứ nhìn theo lá quốc kỳ khi con tàu chuyển hướng dần dần vào bến.

Chúng tôi nhớ lại lời của đồng chí Đại – người đã tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ – nói với đồng chí Nguyễn Hữu Tiến bị án tử hình ở cùng chung một khám về lá cờ đỏ sao vàng năm cánh trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23-11-1940. Hôm ấy, nghe xong, đồng chí Tiến thủ thỉ nói với đồng chí Đại: “Mình đã khóc Đại à! Mình khóc vì mừng đất nước đã có cờ đỏ sao vàng bay lên, dù chỉ mới bay trên bầu trời Tổ quốc trong thời gian rất ngắn. Ước chi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ hải ngoại cũng biết được trong cuộc khởi nghĩa của dân chúng Nam Kỳ đã có cờ đỏ sao vàng bay lên với cờ Đảng”. Cái ước mơ từ nhỏ về một bóng cờ thiêng liêng của Tổ quốc này đã trở thành hiện thực.

Anh em chúng tôi vẫn theo dõi lá cờ Tổ quốc phấp phới bay trên đỉnh cột tàu, nói với nhau:

– Cờ đỏ sao vàng, cờ Tổ quốc đã bay lên và mãi mãi bay trên bầu trời Tổ quốc Việt Nam thân yêu!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là đồng chí Nguyễn Ái Quốc thì không phải ở hải ngoại nghe nói về lá cờ Tổ quốc cùng bay với cờ Đảng nữa mà đã đứng trước quốc kỳ đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Sung sướng quá, phấn khởi quá, nhiều anh em đồng thanh hô vang:

– Tổ quốc Việt Nam độc lập muôn năm! Muôn năm!

Lê Vũ (Theo hồi ký của Thiếu tướng Huỳnh Thủ)
bienphong.com.vn

Tự hào về quyền và nghĩa vụ công dân

Vào những ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2- 9 này, hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam chúng ta càng tự hào về lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, càng ý thức về quyền, nghĩa vụ công dân để cùng chung tay bảo vệ, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh.

Chỉ trong mấy năm, từ một dân tộc đa số mù chữ,
đến đa số đã biết đọc, biết viết – Ảnh: TL

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây cũng là Tuyên ngôn khai sinh ra những công dân, con người của một thời đại mới, chấm dứt “đêm trường nô lệ”. Những lời của Tuyên ngôn đã khắc ghi, thấm đẫm vào tâm khảm mỗi công dân: “Tất cả mọi người sinh ra đều, có quyền bình đẳng”; có “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngày 6-1-1946 các công dân của nước Việt Nam độc lập đã hết sức tự hào cầm lá phiếu đi bầu cử, chọn lựa người đại diện cho mình.

Quốc hội Việt Nam ra đời và ngay sau đó, ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp, khẳng định địa vị pháp lý của nước Việt Nam, của chính quyền Nhà nước Việt Nam, đặc biệt khẳng định, chế định rõ quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam vừa giành được độc lập ra đời chỉ có 3.385 từ, nhưng đã có tới 541 từ nói về Quyền và nghĩa vụ công dân. Những năm đầu của một nước Việt Nam độc lập, dựa trên Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành một số sắc lệnh, điều chỉnh các hoạt động quản lý trong các lĩnh vực từ giáo dục cho đến kinh tế, văn hoá, an ninh…Và mặc dù chỉ với những sắc lệnh ngắn gọn, nhưng đã thực sự đi vào lòng dân, hoà vào máu thịt của mỗi công dân, để rồi mọi người dân đồng cam cộng khổ, kháng chiến, kiến quốc.

Chưa bao giờ tinh thần xoá đói, giảm nghèo mạnh như hồi ấy. Chưa bao giờ tinh thần học tập, giáo dục mạnh như lúc bấy giờ. Từ chỗ hàng chục triệu người đói khổ, kho tàng rỗng không, chỉ trong hơn một năm, cả dân tộc đã có thể khẳng định vượt qua nạn đói. Cũng chỉ trong mấy năm, từ một dân tộc đa số mù chữ, đến đa số đã biết đọc, biết viết. Cũng chưa bao giờ, tinh thần yêu thương đùm bọc lẫn nhau thể hiện cao như hồi ấy. Nhường cơm xẻ áo, nuôi giấu cán bộ, bộ đội, dân quân…Xóm thôn dù nghèo cũng không xảy ra trộm cắp, mất trật tự an ninh. Con người biết trân trọng nhau. Đặc biệt, quan hệ, tình thân cán bộ với dân như người trong một nhà. Người làm cán bộ thực sự nể dân, thương dân, trân trọng dân. Cán bộ, bộ đội với dân, như cá với nước, thực sự là công bộc của dân, được dân chở che, cưu mang, cùng đồng tâm hiệp lực, vượt qua khó khăn, thử thách. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng đất nước đạt được thành tựu như ngày nay đã thể hiện sự kết tinh từ những tinh thần ấy. Trong đó, cũng là sự thể hiện trách nhiệm cụ thể của mỗi công dân đối với Tổ quốc.

Ngay từ khi ra đời, Nhà nước ta đã thể hiện là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Tất cả mọi công dân, mọi người dân đều bình đẳng. Mọi người đều có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm như nhau, ưu tiên những người yếu thế. Nhân dân là người quyết định tất cả. Điều 1 Hiến pháp 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Nghĩa vụ của “Mỗi công dân Việt Nam phải: Bảo vệ Tổ quốc; Tôn trọng Hiến pháp; Tuân theo pháp luật” (Điều 4). Hiến pháp đã có đến 16 điều quy định về quyền lợi của công dân. Ví như “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá” (Điều 6); “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”(Điều 7)…

Trải qua hơn nửa thế kỷ, cùng với công cuộc bảo vệ, xây dựng, đổi mới, hiện đại hoá, đất nước ta đã lớn mạnh vượt trội, có vị thế vững vàng trên trường quốc tế. Sau Hiến pháp đầu tiên, chúng ta đã có 3 Hiến pháp và có cả một hệ thống luật, các văn bản dưới luật. Nhưng những nguyên tắc cốt lõi vẫn thế, vẫn như ngày Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, cho đến nay, đã có bao thói hư, tật xấu như quan liêu, tham nhũng, tha hoá đạo đức, lối sống, tha hoá quyền lực…phát sinh, phát triển. Nhiều người lãnh đạo đang nắm quyền, quản lý, nhiều cán bộ được giao nhiệm vụ bỗng quên mình chỉ là người được nhân dân trao quyền, được nhân dân tín nhiệm đảm trách nhiệm vụ chung. Họ nhầm tưởng họ mới là người “ăn trên, ngồi trốc”, được quyền ban phát, ơn huệ cho cấp dưới, cho người dân, nhìn người dân như người đến để “cầu cạnh”, để ” xin xỏ”. Có cán bộ chỉ làm nhiệm vụ tiếp nhận công văn, giấy tờ cũng có thể lên mặt hạch sách, thậm chí sách nhiễu, cố tình gây khó khăn. Tệ tham nhũng vặt nảy sinh với nạn phong bì, hầu bao bôi trơn. Tham nhũng lớn với những liên minh ma quỷ chia chác, phần trăm, độc quyền, lợi ích nhóm, thu vén cho cá nhân. Những người lãnh đạo, cán bộ nói trên đã thiếu trách nhiệm công dân, chưa làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, thiếu hiểu biết pháp luật, vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Thực tế, cho đến nay, nhiều người dân cũng chưa thực sự hiểu hết quyền, nghĩa vụ của mình. Nhiều người cầm lá phiếu, đi bầu cũng là để “cho xong”. Chủ trương, chính sách, thông tin, pháp luật, nhiều khi ít được quan tâm. Nhiều cuộc họp quan trọng quyết định vấn đề của địa phương, đất nước vẫn có không ít người đứng ngoài cuộc, không có ý kiến, chính kiến. Khi vào các công việc liên quan đến lợi ích cá nhân nhiều khi họ lại tiếp tay cho tham nhũng với việc đưa phong bao, chạy chọt. Tình trạng người dân vô tình vi phạm pháp luật, thậm chí cố tình vi phạm pháp luật cũng khá nhiều. Chỉ đơn cử như trong lĩnh vực tham gia giao thông, có người ngày nào cũng vi phạm luật: đi xe máy không mang giấy tờ, không đội mũ bảo hiểm, đi không đúng làn đường, vượt đèn đỏ… Chưa nói đến hiện tượng công dân không làm chủ được bản thân, thực hiện những hành vi mất tính người.

Xã hội chỉ thực sự phát triển vững bền, trở nên văn minh khi mọi người dân từ cán bộ cao cấp cho đến dân thường ý thức sâu sắc về quyền, trách nhiệm công dân của mình, thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình.

Những ngày kỷ niệm, hướng về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 này cũng là những ngày Đảng ta cùng toàn dân đang quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là những cán bộ cấp cao, những người có trách nhiệm đang tiến hành kiểm điểm, soi lại mình từ ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân cho đến những hoạt động, hành vi mà mình đã làm được cho Tổ quốc, cho nhân dân…để tự làm trong sạch mình, làm trong sạch đội ngũ Đảng, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo. Mỗi người dân cũng cần ý thức, tự kiểm điểm lại mình, những việc gì mình đã làm đúng, làm sai, những việc gì cần làm để làm tròn trách nhiệm công dân của mình.

Nhận thức sâu sắc về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, Kết luận về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 mới đây của Đảng cũng đã chỉ rõ một trong những nội dung quan trọng cơ bản được định hướng, sửa đổi, nâng cao hơn nữa Hiến pháp mới là phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Kiên Long
daidoanket.vn

Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Ðảng ta từ khi ra đời bị khủng bố dã man, đã trở thành đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội.

Từ cuối thế kỷ 19, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.

Khi phát-xít Nhật xâm lăng Ðông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu hai tầng áp bức: quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói thảm thương.

Tiếp nối truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao bậc trung nghĩa đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin – lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại – đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

BH_doc_tuyen_ngondl.jpgHình ảnh Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập – Đỉnh cao thắng lợi cách mạng tháng Tám 1945
(Ảnh: Tuấn Anh)

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân chủ lực công – nông làm nòng cốt; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cùng nhiều bài học khác.

60 năm qua, tiếp nối truyền thống và phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại những thắng lợi đã qua, chúng ta càng thấy tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1).

Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi suốt 60 năm qua. Tiếp bước con đường của Cách mạng Tháng Tám, trước yêu cầu phát triển đất nước và trước những thời cơ và nguy cơ, Ðảng ta và nhân dân ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhiệm vụ trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, ngăn ngừa mọi sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HÐH được Ðảng xác định là nhiệm vụ trung tâm.

60 năm trước đây, Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng các tầng lớp nhân dân khỏi ách thống trị, bóc lột của chế độ thực dân phong kiến, đem lại cho mọi người dân Việt Nam quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Ðộc lập, tự do, hạnh phúc luôn là mục tiêu nhất quán của chế độ mới. Ngày nay, Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng đang tiếp tục phấn đấu theo mục tiêu nhân văn cao cả đó.

Phát huy bản sắc truyền thống “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc, Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật khởi của cả dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm đại đoàn kết dân tộc của Cách mạng Tháng Tám, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài, hướng sức mạnh đó vào mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Vào thời điểm Cách mạng Tháng Tám 1945, vị thế nước ta trên trường quốc tế còn thấp, nhưng Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc và dự đoán đúng tình hình thế giới, tận dụng thời cơ, phối hợp hành động, làm chuyển hóa so sánh thế và lực giữa ta và địch, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù. Ngày nay, chúng ta có thời cơ hơn để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lấy tự lập tự cường, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ tối đa những điều kiện quốc tế thuận lợi để bồi bổ sức mạnh dân tộc và kết hợp với sức mạnh quốc tế thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lãnh đạo toàn dân làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Ðảng ta lúc đó chỉ có 5.000 đảng viên và phải hoạt động bí mật, điều kiện thông tin liên lạc để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào toàn quốc hết sức khó khăn. Nhưng nhờ có đường lối đúng đắn của Ðảng và Bác Hồ, sự chủ động, sáng tạo của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và nhân dân ở các địa phương nên khởi nghĩa đã nổ ra đồng loạt và có sự phối hợp từng vùng, từng miền và trên phạm vi cả nước. Ðó là một bài học hết sức quý báu về sự lãnh đạo của Ðảng và xây dựng Ðảng trong bất cứ thời kỳ cách mạng nào.

Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện có kết quả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nước ta hiện nay. Chúng ta vững tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng một dân tộc đã rửa được nỗi nhục mất nước, một dân tộc đi tiên phong chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, thì dân tộc ấy nhất định có đủ nghị lực và sức mạnh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới.

Nguồn hochiminhhoc.com (BT)
thanhnienxungphongbd.com.vn

Nhân đức của Pháp (24-10-1926)

Mưa to gió lớn. Nước chảy tràn trề. Sông Hồng (Hồng Hà) (1) mênh mông. Đường đê tràn ngập. Vì thành Hà Nội có nhiều Tây ở cho nên nó hết sức giữ gìn. Còn các nơi dân xã An Nam thì nó không nhìn đến.

Khi nước lấp le vào Hà Nội, Tây nó sai một người lính ta qua phá cái đê bên kia sông, để cho nước tràn qua phía dân ta ở. Tây nó vẫn biết khi đê lở thì nước sẽ ào vào, nếu người lính kia không dự bị trước thì chắc chết trôi. Nó cũng biết rằng nếu nước ào vào thì dân xã ta bên kia chắc chìm hết. Thế mà nó không bảo cho người lính biết. Cũng không bảo cho làng xóm dọn đi.

Quả nhiên, người lính phá đê rồi thì chết đuối ngay. Và 20.000 dân ta bất thình lình bị nước ùa vào làm cho chết trôi hết.

Thương ôi! Dân ta bị Tây nó giết mòn, giết mỏi. Giết cách này không chết hết, thì nó giết cách khác. Nó lấy rượu và a phiến làm cho dân ta chết nhiều. Nó bắt đi đào sông, đào đường, bị nước độc mà chết. Nó bắt đi lính đi làm nô lệ bên các xứ đen 2 mà chết. Nay nó lại nhận chìm cả xứ!

Đồng bào ơi! Mau mau dậy cứu lấy nòi!
Kẻo mà Nam Việt đi đời nhà ma!

——————————

Báo Thanh niên, số 66, ngày 24-l0-1926.
cpv.org.vn

Khổng Tử (20-2-1927)

Quảng Châu, 20-2- 1927

Ngày 15-2, Chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành quyết định: từ nay về sau, xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử và những khoản dự chi cho những cuộc nghi lễ ấy cũng như những đền thờ Khổng Tử sẽ được sử dụng làm các trường học công.

Khổng Tử sống trước chúng ta 2478 nǎm. Từ 2400 nǎm nay, ông đã được nhân dân Trung Hoa tôn thờ. Tất cả các hoàng đế Trung Hoa đều gọi Khổng Tử là vị đứng đầu các nhà hiền triết và tặng những danh hiệu tôn vinh cho những người kế nghiệp ông.

Từ rất xa xưa, người An Nam và các vua chúa An Nam rất tôn kính nhà hiền triết này. Thế mà Chính phủ Trung Hoa vừa mới quyết định từ nay về sau không còn sự tôn thờ chính thức nào nữa đối với Khổng Tử. Xem đó có phải là một hành vi thật sự cách mạng không?

Nhưng hãy xem Khổng Tử là người thế nào? Tại sao các hoàng đế lại tôn sùng đến thế? Tại sao được tôn sùng như thế mà Chính phủ Trung Hoa lại vứt bỏ đi?

Khổng Tử sống ở thời Chiến quốc 1 . Đạo đức của ông, học vấn của ông và những kiến thức của ông làm cho những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục. Ông nghiên cứu và học tập không mệt mỏi, ông không cảm thấy xấu hổ tí nào khi học hỏi người bề dưới, còn việc không được mọi người biết đến, đối với ông chẳng quan trọng gì. Công thức nổi tiếng của ông “Nhìn ngoài, nhìn vào việc từ chỗ nào đi đến như thế, xem cái người ta đi tới chỗ đó, xét cái người ta hoà lòng, thì người ta giấu làm sao được mình” 1 biểu hiện chiều sâu về trí tuệ của ông.

Nhưng cách đây 20 thế kỷ, chưa có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên bộ óc Khổng Tử không bao giờ bị khuấy động vì các học thuyết cách mạng. Đạo đức của ông là hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư tưởng hiện đại, giống như một cái nắp tròn làm thế nào để có thể đậy kín được cái hộp vuông?

Những ông vua tôn sùng Khổng Tử không phải chỉ vì ông không phải là người cách mạng, mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ. Họ khai thác Khổng giáo như bọn đế quốc đang khai thác Kitô giáo.

Khổng giáo dựa trên ba sự phục tùng: quân – thần; phụ – tử, phu- phụ và nǎm đức chủ yếu: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Khổng Tử đã viết Kinh Xuân Thu để chỉ trích “những thần dân nổi loạn” và “những đứa con hư hỏng”, nhưng ông không viết gì để lên án những tội ác của “những người cha tai ác” và “những hoàng tử thiển cận”. Nói tóm lại, ông rõ ràng là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức.

Theo Khổng giáo thì các nước Nga, Pháp, Trung Quốc, Mỹ và các nước dân chủ là những quốc gia ở đó thiếu quy tắc về đạo đức và những thần dân nổi dậy chống nhà vua đều là những tên phản loạn. Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khǎng khǎng giữ những quan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng. Cũng có khả nǎng là siêu nhân này chịu thích ứng với hoàn cảnh và nhanh chóng trở thành người kế tục trung thành của Lênin.

Với việc xoá bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin.

—————————–

Báo Thanh niên, số 80,
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn