Công tác quân sự của Đảng trong nông dân

CÁC PHƯƠNG PHÁP DU KÍCH CÁCH MẠNG

Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực.Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách mạng – cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản. Trong thời kỳ cách mạng tư sản dân quyền, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để thực hiện các khẩu hiệu của mình và chuyển cuộc cách mạng tư sản dân quyền thành cách mạng vô sản không thể giành được thắng lợi hoàn toàn nếu không có khối liên minh cách mạng của giai cấp vô sản và nông dân, nếu không có sự tham gia tích cực của quần chúng nông dân bị áp bức vào việc thực hiện những khẩu hiệu của cách mạng. Ba cuộc cách mạng Nga, cuộc cách mạng vĩ đại Trung Quốc và các cuộc đấu tranh cách mạng ở nhiều nước khác đã chứng minh rõ ràng điều đó. Đối với tất cả những nhà cách mạng chân chính hiện nay, nguyên tắc lêninnít cǎn bản ấy là sự thực hoàn toàn không thể chối cãi. ở Trung Quốc, ấn Độ, ở Mỹ Latinh, ở nhiều nước châu Âu (các nước vùng Bancǎng, Rumani, Ba Lan, Italia, Pháp, Tây Ban Nha…), bạn đồng minh cương quyết của giai cấp vô sản trong cách mạng là quần chúng nông dân. Cách mạng chỉ có thể thắng lợi nếu như những làn sóng cách mạng lay động được quần chúng nông dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Do vậy mà việc tuyên truyền của Đảng trong nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt.

Bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong

nông dân, như chúng ta đã thấy (và còn thấy bây giờ) ở Trung Quốc, thoạt đầu xuất hiện dưới dạng những cuộc nổi dậy lẻ tẻ, tự phát, rời rạc của các nhóm du kích chống lại bọn đại địa chủ, bọn phú nông, thương gia và bọn cho vay nặng lãi; chống lại các nhà chức trách thu thuế; nói vắn tắt, chống lại mọi thế lực chính trị và hành chính tồn tại ở làng quê hay thành phố và chống lại chế độ hiện hành để tịch thu và chia ruộng đất, bỏ địa tô, xoá nợ và thay thế chính quyền bằng các tổ chức nông dân. ở giai đoạn đầu của phong trào cách mạng, nông dân ít khi nêu ra bất kỳ khẩu hiệu rõ ràng nào về cách mạng ruộng đất; họ chỉ phản đối những tên địa chủ “tàn ác” và đòi giảm tô và thuế…

Đặc điểm cǎn bản của cuộc cách mạng nông dân ở giai đoạn đầu là tính chất tự phát của nó: những hành động lẻ tẻ, rời rạc; không có một cương lĩnh chính trị nhất quán cho cả vùng; không có những khẩu hiệu ổn định.

Đối với nông dân, mục đích của đảng vô sản là rõ ràng. Đảng vô sản phải giành lấy quyền lãnh đạo phong trào, tổ chức, động viên quần chúng nông dân xung quanh những khẩu hiệu giai cấp nhất định phù hợp với tính chất của cuộc cách mạng, nói tóm lại là phải dẫn dắt toàn bộ phong trào tiến tới thực hiện những khẩu hiệu ấy. Đảng của giai cấp vô sản cần phải phối hợp phong trào nông dân với các mục tiêu cách mạng và các hoạt động của giai cấp vô sản ở các trung tâm công nghiệp.

Đảng cách mạng phải hiểu rằng phong trào nông dân, cho dù có quy mô to lớn tới đâu đi nữa, cũng không mong gì giành được những thắng lợi quyết định nếu như giai cấp công nhân không hành động. Điều đã nói cũng đúng đối với các hoạt động của giai cấp công nhân (ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp) nếu như các hoạt động đó không được hỗ trợ bởi hoạt động cách mạng mạnh mẽ từ phía nông dân. Tổ chức và chuẩn bị các hoạt động phối hợp, nếu có thể cùng một lúc ở thành thị và nông thôn thì đó sẽ là mục đích cǎn bản của đảng cách mạng ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp.

ở Trung Quốc, nhờ kết quả của cuộc Bắc phạt mà phong trào nông dân đạt tới tầm vóc to lớn. Cho tới thời điểm Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 5-1926) có khoảng 10 triệu nông dân được tổ chức lại trong các Nông hội ở Hoa Trung và Hoa Nam. Đại bộ phận, chủ yếu ở miền Nam, ở lưu vực sông Dương Tử, đã đấu tranh (nǎm 1927) có ý thức dưới khẩu hiệu của cách mạng ruộng đất. Đảng Cộng sản Trung Quốc (bộ phận lãnh đạo của đảng thời kỳ này) đáng lẽ phải tiến hành tuyên truyền cổ động trong nông dân phù hợp với những nghị quyết của Quốc tế Cộng sản; đáng lẽ phải hướng quần chúng nông dân đi theo con đường hành động cách mạng bằng cách giúp họ tổ chức lại, vạch ra cương lĩnh chính trị và kế hoạch hành động, bằng cách thúc đẩy sự phân hoá xã hội trong nông thôn; đáng lẽ phải kìm giữ phong trào trong ảnh hưởng của đảng và chỉ đạo theo chiến lược của đảng theo hướng mở rộng và làm sâu sắc thêm cuộc cách mạng ruộng đất, thì đằng này lại phụ thuộc vào phong trào nông dân và phối hợp với Quốc dân đảng chiến đấu chống lại cái gọi là sự hà lạm 1 quá đáng, tức là cái mà trong thực tế đã là sáng kiến cách mạng của các tổ chức nông dân. Đó là sai lầm lớn nhất trong lãnh đạo của những người cộng sản lúc đó.

Điều hết sức ngạc nhiên là chính sách của Đảng Cộng sản đối với nông dân và khối liên minh đó với Quốc dân đảng đã làm nảy sinh một kết cục sau đây: Ngày 1-8-1927, khi nghĩa quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long ở Nam Xương tiến xuống miền Nam thì họ không thể tìm ra một số lượng phu đủ để vận chuyển đạn dược và các vật liệu chiến tranh khác 2 . Nông dân đã bỏ làng đi để khỏi bị động viên. Đội quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long đành phải để lại phía sau vô số đạn dược để rồi lọt vào tay quân địch. Tương tự như vậy, ở vùng Sán Đầu, các viên chỉ huy cộng sản và cánh tả Quốc dân đảng của quân đội cách mạng đang cố thuyết phục nông dân gia nhập quân đội của mình và muốn phân phát số vũ khí thừa cho họ. Người nông dân không gia nhập quân đội cách mạng vì họ không phân biệt được quân đội cách mạng và quân đội của bọn quân phiệt khác nhau ở chỗ nào. Thực tình là không thể phân biệt được, vì mặc dù trong một số sư đoàn (sư 24 và 25) tất cả những viên chỉ huy trung đoàn và 20 phần trǎm sĩ quan đều là những người cộng sản, và mặc dù uỷ ban quân sự cách mạng cũng có những người cộng sản, chính sách của quân đội đối với nông dân về mọi phương diện không khác với cánh tả Quốc dân đảng. Thay cho những khẩu hiệu như “Đả đảo bọn đại địa chủ”, “Sung công ruộng đất!” mà Nông hội đã nêu lên, thì Uỷ ban cách mạng nêu ra các khẩu hiệu sau đây: “Đả đảo bọn địa chủ tàn ác!”, ‘Tịch thu số ruộng đất trên 20 mẫu!”, “Giảm tô 50%!”… Vì lẽ đó, không phải ngạc nhiên khi quần chúng nông dân từ chối không gia nhập quân đội cách mạng và rời bỏ làng quê của mình trốn vào núi. Cũng không lấy làm lạ, tại trấn Ôn Tuyền, đội quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long được thương nhân biểu tình chào đón thân thiết, mà không có một bóng nông dân nào.

Nên nhớ rằng, lúc bắt đầu và trong suốt cuộc Bắc phạt, những người nông dân ấy với hy vọng Quốc dân đảng sẽ giải thoát cho họ về xã hội và kinh tế, đã chiến đấu với tất cả những gì họ có thể có để giúp Quốc dân đảng đè bẹp đội quân của những viên tướng tá kiểu cũ (Tôn Truyền Phương, Ngô Bội Phu). Họ đã làm như vậy bằng những cuộc nổi dậy ở hậu phương; quấy rối chúng bằng những trận tấn công du kích bền bỉ, và ám sát các sĩ quan và những tên đại địa chủ; nói tóm lại, bằng cách phá thế ổn định ở hậu phương của chúng.

Cần phải nhấn mạnh rằng, chính sách kém cỏi về vấn đề nông dân của Đảng cộng sản là một trong những nguyên nhân quyết định làm cho cuộc cách mạng Trung Quốc nǎm 1927 thất bại.

Những sự kiện nǎm 1923 ở Bungari là một thí dụ khác về việc không quan tâm tới phong trào nông dân. ở đây, vào mùa thu nǎm 1923, các cuộc khởi nghĩa nông dân đã bùng nổ tự phát ở một loạt vùng. Vậy mà, Đảng Cộng sản Bungari suốt cả một tuần vẫn không làm gì để giành quyền lãnh đạo phong trào. Các cuộc khởi nghĩa nông dân – do thiếu tổ chức và hợp đồng, do sự biệt lập với nhau và vì thiếu vắng sự lãnh đạo cụ thể của Đảng Cộng sản – đã bị phản cách mạng đè bẹp.

Mặt khác, cuộc Cách mạng Tháng Mười không thể giành được thắng lợi nếu như Đảng Bônsêvích không có khả nǎng động viên quần chúng nông dân dưới khẩu hiệu của mình và dẫn dắt họ tham gia vào cuộc chiến đấu lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và thiết lập nền chuyên chính của giai cấp vô sản. Nếu như Đảng Bônsêvích không có một chính sách cụ thể đối với nông dân thì không bao giờ có chuyện quân đội Sa hoàng ngả về phía cách mạng. Nhờ chính sách rõ rệt đối với nông dân của Đảng Bônsêvích hoàn toàn đúng đắn nên Đảng có khả nǎng to lớn thu hút quân đội Sa hoàng – gồm chủ yếu là nông dân.

Một nguyên nhân làm cho cuộc khởi nghĩa Quảng Châu thất bại là vào lúc giai cấp vô sản vùng dậy trong thành phố thì ở những vùng ngoại vi không có một phong trào nông dân cách mạng quan trọng nào cả. Ngược lại, vô số các cuộc nổi dậy của nông dân ở nhiều tỉnh khác nhau của Trung Quốc (ví dụ như ở Sơn Đông) bị thất bại chủ yếu do không phối hợp được với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các trung tâm công nghiệp, và không được hoạt động của giai cấp vô sản trong các thành phố ủng hộ.

Vào thời điểm giai cấp vô sản Nga đang đấu tranh cách mạng sôi nổi nǎm 1905, khối quần chúng nông dân to lớn hãy còn thể hiện hoạt động cách mạng nhỏ bé. Phong trào nông dân ở nước Nga chỉ đạt tới đỉnh cao của nó vào những nǎm 1906-1907, tức là khoảng một nǎm sau khi những làn sóng cách mạng của giai cấp vô sản thành thị đã lắng xuống. Phong trào cách mạng ở các thành phố không phối hợp được với phong trào cách mạng ở nông thôn là một sự thực và đó chính là nguyên nhân cǎn bản đã dẫn cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất tới thất bại.

Để bảo đảm chắc chắn cho sự phối hợp hành động giữa giai cấp vô sản và nông dân, đảng của giai cấp vô sản, trước hết ở tất cả các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp, phải quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân. Công tác này không được phó thác cho sự may rủi hay tiến hành gặp chǎng hay chớ, một kiểu giống nhau trên khắp cả nước. Nó phần nào phải ǎn nhịp với phương hướng cơ bản của Đảng về mệnh lệnh và ngày tháng cho các hành động cách mạng khác nhau có thể diễn ra ở bất kỳ một vùng hay một tỉnh nào. Việc tuyên truyền cổ động chính trị hoặc công tác tổ chức y như nhau ở một nước rộng lớn như Trung Quốc chắc chắn sẽ dẫn tới chỗ làm phân tán sức người, sức của. Sự không đồng đều của các tỉnh khác nhau trong đời sống chính trị ở Trung Quốc (cũng như ở các nước tương tự) xác định quyền ưu tiên công tác đảng trong nông dân ở mỗi tỉnh. Do đó, tầm quan trọng về chính trị của Cam Túc, Quế Châu, Quảng Tây và các tỉnh cùng loại khác không thể sánh với các tỉnh Quảng Đông, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô … có các trung tâm thương mại và công nghiệp lớn và giai cấp vô sản đông đúc. Lẽ đương nhiên, việc tuyên truyền cổ động cách mạng cần phải được tiến hành trong nông dân ở mọi nơi, nhưng sức mạnh chủ yếu của Đảng phải được dồn cho một tỉnh hay một vài tỉnh đặc biệt. Nguyên tắc này rút ra từ sự thực được mọi người thừa nhận là ở những nước như Trung Quốc, hiện tại có sự khác biệt rất lớn về điều kiện địa lý, kinh tế và chính trị, cuộc cách mạng (việc giành chính quyền của giai cấp vô sản liên minh với nông dân và dân nghèo thành thị) không thể được hoàn thành như một hành động đơn giản (tức là diễn ra trong một vài tuần hoặc một vài tháng), mà nhất thiết phải trải qua cả một thời kỳ kéo dài ít lâu của các phong trào cách mạng ở các tỉnh khác nhau hoặc các trung tâm công nghiệp và chính trị.

Chắc chắn rồi đây chính quyền Xôviết sẽ được thiết lập ở Trung Quốc trong một vài tỉnh hoặc một số tỉnh có trung tâm thương mại và công nghiệp lớn, đó sẽ là cǎn cứ địa cho sự phát triển nhảy vọt của cách mạng. Ngày mà các vùng lãnh thổ mới, sẽ nhập vào cǎn cứ địa cách mạng ấy sẽ tuỳ thuộc vào cán cân lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, không chỉ ở Trung Quốc mà trên toàn thế giới. Đó là vấn đề chỉ có thể giải quyết được bằng đấu tranh. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, việc củng cố và thống nhất cách mạng Trung Quốc sẽ đòi hỏi nhiều thời gian hơn thời gian cần thiết để tống khứ các lực lượng phản cách mạng ra khỏi nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười ở Pêtrôgrát và Mátxcơva.

Do vậy, khi đảng cách mạng đoán trước được tình thế cách mạng trực tiếp đang tới gần, thì (trong khi tiếp tục giáo dục và vận động giai cấp công nhân) phải chỉ ra được tỉnh nào hay huyện nào là quan trọng nhất theo quan điểm tuyên truyền trong nông dân, phải dồn sự chú ý của Đảng và tập trung các nguồn lực của Đảng cho các tỉnh này. Cùng với sự quan tâm tới công tác tuyên truyền trong nông dân, Đảng cần phải quan tâm sǎn sóc hơn đến những vùng tiếp giáp với các trung tâm chính trị và công nghiệp chính. Điều đó cũng đúng đối với nhiều nước châu Âu (Ba Lan, Pháp, Rumani…).

Khi phong trào cách mạng mạnh mẽ của nông dân bắt đầu sau khi giai cấp vô sản bị thất bại (có nghĩa là sau cách mạng 1905 ở Nga, hoặc ở Trung Quốc sau sự thất bại của giai cấp vô sản nǎm 1927), Đảng phải tự mình thay thế vị trí đứng đầu phong trào nông dân ấy và dẫn dắt nó. Cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp nông dân, đặc biệt nếu nó phát triển thắng lợi ở những vùng có các trung tâm thương mại và công nghiệp quan trọng, là một thứ vũ khí mạnh; nó có thể khích lệ giai cấp công nhân – giai cấp đã bị thất bại và đã hơn một lần rơi vào những ổ phản động, lấy lại thế chủ động và hành động.

Thông thường, bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong nông dân đều nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang (nghĩa là những hoạt động quân sự thực sự của những toán du kích nông dân) chống lại sự lộng quyền của bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, những công chức chính phủ, v.v., đó là điều hoàn toàn cốt lõi để bàn luận công tác quân sự của Đảng trong nông dân suốt thời gian dài.

Không thể giấu mình một cách đơn giản vào những toán nông dân vũ trang đã có vào bất kỳ thời điểm nhất định nào, cũng tựa như không thể tuỳ ý thành lập các đội tự vệ đỏ trong các nhà máy vậy. Cuộc đấu tranh vũ trang của nông dân với tư cách một hình thức đấu tranh quần chúng, xuất hiện trong những tình thế chính trị đặc biệt – khi mà ách áp bức của giai cấp thống trị trở nên không thể chịu nổi và quần chúng nông dân đang ở trong tình thế sôi sục cách mạng sẵn sàng xả thân chiến đấu chống lại trật tự hiện hành. Những hành động tự phát của các toán nông dân vũ trang là dấu hiệu chứng tỏ rằng “quần chúng bị bóc lột và bị áp bức đã nhận thức là không thể tiếp tục sống như trước được nữa mà đòi phải thay đổi” (Lênin), rằng đất nước đang bước vào tình thế cách mạng trực tiếp. Không thể có một phong trào du kích cách mạng trong “hoàn cảnh bình thường và hoà bình” vì nó chứng tỏ sự khởi đầu thời kỳ nội chiến công khai giữa hai bộ phận cư dân.

Kinh nghiệm lịch sử của chiến tranh du kích ở các nước khác nhau chỉ ra rằng thoạt đầu nó được đặc trưng bởi những cuộc giao tranh nhỏ chỉ có ý nghĩa địa phương. Điều đó là do sự non yếu và số lượng hạn chế của các đơn vị du kích, do trình độ nhận thức còn thấp kém về mục tiêu trong nông dân – do họ thiếu kinh nghiệm cách mạng và Đảng vô sản không có ảnh hưởng thoả đáng trong nông thôn. Mục tiêu chính của các toán du kích ở thời kỳ này là bảo vệ nông dân trong vùng khỏi bạo lực của chính quyền phản động, khỏi những lệnh độc đoán của quân đội (trong thời chiến), v.v.. Cho tới cuối thời kỳ này, các đơn vị du kích thường sử dụng hình thức khủng bố cá nhân hay phá hoại chống lại bọn viên chức trong làng, các thương nhân, địa chủ, sĩ quan, cảnh sát, các thủ lĩnh phát xít hoặc các tổ chức Trǎm đen 1 ; tấn công những đơn vị lẻ tẻ đang đi tiễu phạt hoặc tấn công những toán lính nhỏ để tước vũ khí của chúng hoặc giải thoát tù nhân; sử dụng hình thức phá đường bộ và đường sắt; hình thức “sung công”, thu lấy một số lớn tiền; đất nhà cửa…

Những vấn đề liên quan tới việc chiếm chính quyền, sự phối hợp các hoạt động du kích giữa các vùng khác nhau hoặc sự áp dụng các hoạt động này vào cuộc đấu tranh chính trị và kinh tế của giai cấp vô sản thành phố thông thường không được đặt ra ở thời kỳ ban đầu này của nội chiến trong nông thôn. Các khẩu hiệu của chiến tranh du kích chưa mang tính chất giai cấp rõ ràng.

Nhưng rồi do sự bột phát cách mạng diễn ra trong nông thôn, do đối kháng giai cấp ở nông thôn trở nên gay gắt và do ảnh hưởng của giai cấp vô sản tới giai cấp nông dân tǎng lên, các hoạt động du kích sẽ bắt đầu tǎng lên gấp bội. Số lượng các toán du kích tǎng nhanh và tiếp tục bao chiếm những khu vực mới. Các hoạt động của họ cũng trở nên có hy vọng hơn. Cuộc đấu tranh vũ trang của nông dân bị áp bức chống bọn phản động bây giờ bắt đầu mang tính chất quần chúng. Nó sẽ nhanh chóng chuyển từ hành động phòng thủ sang hành động tiến công và sẽ làm cho chính quyền luôn lo sợ về những cuộc tiến công bất ngờ.

Trong thời kỳ này, các toán du kích không còn tự giới hạn hoạt động trong địa phương mình nữa. Họ đã vươn ra khỏi làng hay huyện của mình, dần dần tự chuyển thành những đội quân xuất quỷ nhập thần, liên kết với những toán du kích từ các vùng khác và táo bạo hoạt động trên quy mô rộng. Các mục tiêu của họ bây giờ cũng rõ ràng hơn. Cùng với những cuộc tiến công nhỏ vào các nhà kho – giết những tên đại địa chủ, bọn phản động và bọn cảnh sát, đốt cháy những dinh cơ lớn… bây giờ họ bắt đầu tiến công thường xuyên vào cảnh sát và quân đội, tiến công bất ngờ vào các thành phố nhỏ.

Lịch sử đấu tranh của nông dân trên khắp thế giới minh hoạ một cách phong phú con đường mà phong trào du kích dần dần tự chuyển thành một lực lượng nghiêm chỉnh; thành một lực lượng có khả nǎng cung cấp những người lãnh đạo đích thực, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng có tầm quan trọng lớn lao.

Trong suốt cuộc Bắc phạt, nǎm 1926 và đầu nǎm 1927, quân đội cách mạng của chính phủ Quảng Châu, lúc đầu khi rời tỉnh Quảng Đông chỉ có chừng 90.000 lính mà đã đánh bại quân đội của Ngô Bội Phu, Tôn Truyền Phương và Trương Tôn Xương đông gấp đôi, đó thực sự là một ngoại lệ theo chuẩn mực Trung Hoa. Quân đội Quảng Châu nhỏ bé về số lượng, vũ khí và trang thiết bị nghèo nàn chỉ có thể giành thắng lợi quân sự vĩ đại đó bởi các hoạt động tích cực của các toán du kích nông dân trong vùng địch hậu. Trong suốt cuộc Bắc phạt, đặc biệt là vào lúc đầu, nông dân ở các tỉnh miền Nam và miền Trung lúc đó đã xem quân đội cách mạng dân tộc như là đội quân mẫu mực của cuộc đấu tranh chống bọn đại địa chủ, bọn quý tộc, bọn đế quốc, bọn quân phiệt, đại thể là chống lại tất cả bọn phản động, vì vậy, họ đã ủng hộ không tính toán quân đội dân tộc bằng những hoạt động du kích, những cuộc khởi nghĩa, cắt đường rút lui của quân địch, tiến công bất ngờ vào chúng. Quân đội của bọn quân phiệt vừa phải chống đỡ các cuộc tiến công của quân cách mạng ở ngoài mặt trận, đồng thời phải tổ chức kháng cự tuyệt vọng với các toán du kích nông dân ở hậu phương của chúng. Lẽ tất nhiên, trong hoàn cảnh như vậy không có một đội quân nào có thể chiến đấu có hiệu quả. Quân đội của bọn quân phiệt ở Hoa Nam và Hoa Trung, được chủ nghĩa đế quốc ủng hộ mạnh mẽ, đã tan rã, không thể tránh được trước những đòn tiến công phối hợp của quân đội dân tộc và của nhiều toán du kích nông dân đang tiến công hậu phương của chúng.

Thông qua công tác tiến hành trong nông dân ở các tỉnh do bọn quân phiệt chiếm giữ, Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng đã góp phần đáng kể vào việc tổ chức và lãnh đạo các toán du kích nông dân phá vỡ hậu phương của chúng.

Lịch sử cuộc đấu tranh cách mạng ở Trung Quốc cũng đưa ra một ví dụ tiêu biểu về việc dùng các toán du kích nông dân vào mục đích phản cách mạng. Đầu nǎm 1926, Quân đoàn 2 của Phùng Ngọc Tường đóng ở tỉnh Hồ Nam đánh nhau với quân của Ngô Bội Phu. Do chiến tranh liên miên giữa các phe phái quân phiệt, tỉnh Hồ Nam trở nên tiêu điều, nông dân nghèo khổ xác xơ. Sự nghèo đói của nông dân vẫn tiếp tục diễn ra trong khi Quân đoàn 2 đóng quân ở đấy – 20 vạn binh sĩ tất nhiên phải được nhân dân cấp dưỡng. Sự nghèo đói ấy đã đẩy hàng trǎm ngàn nông dân vào các bǎng cướp. Một số khác tụ tập thành những hội mang tính chất tôn giáo và nửa tôn giáo mà con số hội viên tǎng lên gấp bội trong những nǎm 1925-1926.

Sự bất mãn của nông dân Hồ Nam đã được Ngô Bội Phu khai thác. Những tên tay chân của hắn đã tiến hành tuyên truyền khôn khéo chống lại Quân đoàn 2. Các tổ chức nông dân khác nhau (“Hồng Giáo”, “Trường Đao”, “Bụng rỗng”…) hǎng hái chống lại chế độ mà Quân đoàn 2 đã xây dựng trên đất Hồ Nam; họ tiến công và làm tan vỡ hậu phương của Quân đoàn 2, tiến hành các cuộc tiến công bất ngờ có hệ thống vào các đơn vị nhỏ, kêu gọi lính đào ngũ và gia nhập những toán du kích nông dân…

Do sự thù địch của các tổ chức nông dân bán quân sự, tinh thần của Quân đoàn 2 rệu rã cực điểm. Đội quân 20 vạn người ấy đã tan rã ngay sau những cuộc tiến công đầu tiên của một lực lượng ít ỏi của Ngô Bội Phu.

Ngô Bội Phu đã có thể khai thác những tiềm nǎng cách mạng của nông dân Hồ Nam cho mục đích phản cách mạng. Tuy vậy, khi quân lính của Ngô Bội Phu đặt chân vào tỉnh thì chính những người nông dân ấy, những con người đã từng phẫn uất tiến công Quân đoàn 2, giờ đây lại quay súng chống lại Ngô Bội Phu. Do hành động thù địch của các toán du kích mà y đã bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến đấu chống lại quân đội Quảng Châu.

Ta có thể tìm thấy vô vàn những tấm gương về hoạt động du kích quả cảm trong lịch sử cuộc nội chiến Nga – ở Xibêri, ở Ucraina, ở vùng sông Đông, ở Bắc Côcadơ… – Du kích đã giúp Hồng quân giải phóng đất nước khỏi các lực lượng phản cách mạng: các tướng lĩnh Sa hoàng, bọn địa chủ và tư sản.

Chìa khoá dẫn tới những thắng lợi vững chắc của các toán du kích là sự liên hệ mật thiết với quần chúng nông dân. Hoạt động du kích là việc phi thường trong tình thế cách mạng, là sự sôi sục cách mạng trong quần chúng nông dân. Cuộc đấu tranh du kích phải phản ánh được lợi ích của quảng đại quần chúng nông dân và phải có tình thế cách mạng trực tiếp thì mới có thể giành được thắng lợi. Những đội quân của bọn Culắc do các đảng phái phản cách mạng lập ra một cách hình thức trong nhiều vùng của nước Nga suốt trong cuộc nội chiến đã không và không có thể giành được bất cứ một thắng lợi vững chắc nào, bởi lẽ đội quân đó không phản ánh khát vọng của nông dân, những người cự tuyệt hoàn toàn chiến đấu chống lại chính quyền Xôviết. Những thắng lợi tạm thời của chúng ở tỉnh Tambốp vào nǎm 1920, đã nhanh chóng đi tới thất bại, và đẩy tới sự vùng dậy của quần chúng nông dân chống lại các thủ lĩnh phản cách mạng của chúng.

Những điều kiện của cuộc đấu tranh, quy mô của phong trào cách mạng ở nông thôn; những mục tiêu mà nông dân tự đặt ra, – đó là những nhân tố quyết định các hình thức đấu tranh du kích ở bất kỳ thời điểm nào, ở bất cứ nước nào. Từ những hình thức đó lần lượt mới hình thành tổ chức và cấu trúc các đơn vị du kích. Đảng vô sản luôn có bổn phận phải tính tới những điều kiện cụ thể về thời gian, làm sao có khả nǎng đưa lại cho phong trào du kích những hình thức phù hợp với hoàn cảnh đặc thù ấy và dẫn dắt các hoạt động của nó. Phong trào du kích không chỉ được lãnh đạo về chính trị, mà còn được lãnh đạo về quân sự và chiến thuật.

Các phương pháp chung và công thức phổ biến cho việc tổ chức và chiến thuật là hoàn toàn không thể áp dụng được vào cuộc đấu tranh của các chiến sĩ du kích nông dân. Những hình thức đấu tranh được áp dụng ở Trung Quốc chẳng hạn, khác một cách cǎn bản với những hình thức sẽ được áp dụng ở Pháp. Chỉ riêng mảnh đất hoạt động đã có sự khác nhau rồi chứ chưa nói tới tất cả các loại khác biệt và nét đặc thù khác. Nếu người ta không muốn đi chệch khỏi mảnh đất của chủ nghĩa Mác và có cơ rơi vào sự trừu tượng thì người ta chỉ có thể nói một cách chung nhất về các hình thức và cơ cấu của các đơn vị du kích, chỉ có thể khái quát những vấn đề nguyên tắc chung.

Trước khi khuyên sử dụng một hình thức tổ chức nào đó trong chiến tranh du kích phải xuất phát từ tình hình chính trị trong vùng đang được xem xét mà tiến hành phân tích hết sức cụ thể, chi tiết. Toàn bộ những đặc điểm về lối sống và vǎn hóa của cư dân phải được tính đến cùng với kinh nghiệm đấu tranh giai cấp đã có của nông dân.

Trong toàn bộ mô hình đấu tranh giai cấp, các phong trào du kích đóng vai trò của một nhân tố bổ trợ: nó không có thể tự mình đạt được mục tiêu lịch sử, mà chỉ có thể góp phần giải quyết cái được đưa ra bởi một lực lượng khác – giai cấp vô sản. Theo đó ta thấy rằng mục tiêu đặc thù của các hoạt động du kích là quấy rối và tiêu hao lực lượng phản động, tạo điều kiện thuận lợi cho thắng lợi chung của các giai cấp lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản.

Về phần tổ chức, các điều kiện cǎn bản mà phong trào du kích phải tuân thủ như sau:

a) Tổ chức phải mềm dẻo và cần phải có một số cấp có khả nǎng hoạt động độc lập với nhau;

b) Tổ chức phải cơ động; có khả nǎng hoạt động nhanh; có thể xoay chuyển cực nhanh khi hoàn cảnh đòi hỏi chuyển từ điều kiện bí mật sang công khai và ngược lại, và kết hợp đúng đắn các phương pháp công khai, bán công khai và bí mật;

c) Cấu trúc phải làm sao cho Đảng thực hiện quyền lãnh đạo về chính trị và tác chiến của mình;

d) Cấu trúc phải đơn giản, dễ hiểu đối với quần chúng và phù hợp với phong tục tập quán của họ, bảo đảm tiếp tục phát triển lực lượng mới.

Vào thời kỳ đầu, lúc mà mục tiêu của phong trào còn là bảo vệ nông dân địa phương chống lại sự lộng quyền của bọn phản động, các toán du kích (tức là những nhóm nhỏ ban đầu) được thành lập theo tuyến lãnh thổ. Theo lệ thường, những toán du kích đó còn bí mật. Dần dà, do cuộc đấu tranh giai cấp trở nên gay gắt trong nông thôn và do nó chuyển thành cuộc nội chiến công khai, những nhóm du kích đầu tiên đó nhập lại với nhau để hình thành những đơn vị du kích có quy mô lớn, theo vùng (xã, huyện).

Không thể nói rằng, các đơn vị du kích phải bao gồm những phần tử tiên tiến nhất trong làng mạc (việc này trên thực tế diễn ra lộn xộn). Tuy thế, ở thời kỳ đầu, do nhu cầu phải giữ bí mật, do sự dò la và khiêu khích của các nhà cầm quyền, nên việc tuyển lựa người của các nhóm sơ khai phải được xem xét rất kỹ lưỡng. Về sau, khi phong trào chuyển thành một dòng thác rộng lớn, mạnh mẽ, thu hút vào hàng ngũ du kích tất cả những phần tử tiên tiến và hǎng hái trong các làng mạc thì nguyên tắc giữ bí mật và thẩm tra nhân sự không còn quan trọng lắm. Nhưng việc lựa chọn kỹ những người chỉ huy – những người phải đáng được tin cậy về chính trị và đã được huấn luyện đầy đủ về quân sự, – vẫn luôn luôn là một vấn đề nóng hổi; mọi sự xem thường điểm này chắc chắn sẽ có hậu quả tai hại đối với toàn bộ tổ chức.

Đảng của giai cấp vô sản chỉ có thể lãnh đạo tốt phong trào du kích nếu như Đảng có ảnh hưởng tới nông dân, nếu như nông dân chấp nhận những khẩu hiệu và cuộc đấu tranh của Đảng để thực hiện những khẩu hiệu đó. ở những nước đã có các tổ chức quần chúng nông dân, Đảng cần phải phấn đấu giành ảnh hưởng và hướng dẫn phong trào du kích cả trực tiếp lẫn thông qua các tổ chức quần chúng (đối với các đơn vị du kích do các tổ chức nông dân chỉ đạo một cách đúng đắn). Nơi nào chưa có các tổ chức quần chúng như thế thì Đảng cần phải sử dụng các tổ chức du kích làm công cụ để hướng dẫn nông dân về chính trị. Tổ chức du kích tự nó thực sự phải là đội tiền phong của giai cấp nông dân chân lấm tay bùn – một bộ phận tích cực, đầy tính chiến đấu và lãnh đạo của nó.

Các cuộc khởi nghĩa ở Bungari (nǎm 1923) không phát huy được ảnh hưởng là do, lúc đó lực lượng vũ trang và bộ máy lãnh đạo các đơn vị du kích chưa được tổ chức đúng đắn. Điều đó giải thích vì sao sự phối hợp hoạt động của các đơn vị rời rạc như vậy và lý do vì sao quân đội chính quy điều đến đàn áp các cuộc khởi nghĩa, lại thực hiện được một chiến dịch tương đối dễ dàng như vậy. Đảng Cộng sản chỉ bắt tay xây dựng bộ máy lãnh đạo vào đầu nǎm 1924. Các lực lượng vũ trang nông dân định thành lập hoặc xây dựng lại cho khá hơn thì phải tuân theo cách sau đây: ở cơ sở, toán 6 người (một chỉ huy và 5 chiến sĩ); ba hoặc bốn toán 6 người lập một trung đội và từ 3 đến 5 trung đội lập một đại đội. Trong trường hợp cần thiết, từ 3 đến 5 đại đội ấy có thể kết hợp lại để lập ra một đơn vị lớn.

ở cấp làng, ban chỉ huy làng (về chính trị và quân sự) chỉ đạo tổ chức chiến đấu của nông dân, ở cấp huyện là ban chỉ huy huyện, các đại đội được đặt dưới quyền chỉ huy của nó.

Phải ghi nhận rằng, việc tổ chức các đại đội ở Bungari là dựa trên cơ sở phân biệt khá rõ ràng các chức nǎng để bổ sung cho các đơn vị chiến đấu của một đại đội còn có lính trinh sát, chiến sĩ bắn súng máy, chiến sĩ thông tin liên lạc, v.v..

Nếu như một tổ chức nhận thức đầy đủ như vậy và thành công trong việc tự thích nghi với những điều kiện của khu vực hoạt động và phù hợp với mục tiêu đã chọn, với nhu cầu giữ bí mật, v.v. thì chắc chắn nghĩa quân Bunguri đã thực hiện được một cách có hiệu quả những nhiệm vụ mà họ được trao. Đáng tiếc là, Đảng Cộng sản tổ chức lại các lực lượng du kích theo đường lối đó hơi muộn, đến nỗi trên thực tế không thực hiện được ở một nơi nào cả. Vì vậy, Đảng bắt đầu thấy cần thiết đặt ra vấn đề tổ chức lực lượng vũ trang trong các làng mạc vào lúc làn sóng cách mạng ở Bungari đang ở lúc thoái trào sau thất bại tháng 9-1923.

ở Trung Quốc, cơ cấu các tổ chức chiến đấu của nông dân (“Hồng Giáo” và các tổ chức còn lại) khác với ở Bungari. Đơn vị cơ sở là toán 10 người; những toán đó hợp thành nhóm 100 người và đơn vị 100 người sau đó thường lập thành những đơn vị mạnh hơn.

ở Đức, cuối nǎm 1923, đầu nǎm 1924 các đơn vị du kích nông dân Pomerania và Đông Phổ được tổ chức theo cùng sơ đồ như đại đội 1 vô sản ở thành phố: đội gồm từ 10 đến 15 người, ba hoặc bốn đội lập thành trung đội, hai hoặc ba trung đội lập thành đại đội.

Thật khó lòng mà đánh giá cơ cấu đó hiện có đến mức nào bởi lẽ tổ chức đại đội vô sản Đức đã không phát triển lên nữa; Đảng cũng chỉ bắt tay xây dựng nó vào lúc mà làn sóng cách mạng bắt đầu thoái trào và các tổ chức đó nhanh chóng tan vỡ. Tuy nhiên các đại đội đó về bản chất là sự lập lại cơ cấu đại đội trong quân đội đế quốc (do kinh nghiệm chiến tranh, quần chúng không lạ gì nó). Và vì đại đội vô sản trong các thành phố được quần chúng yêu mến, trong suốt nǎm 1923 (và thậm chí trước đó nữa) nên người ta có thể cho rằng tổ chức theo kiểu đại đội là hình thức tốt nhất phù hợp với điều kiện nước Đức.

ở Nga, suốt trong thời kỳ nội chiến, phong trào du kích về đại thể đã xây dựng theo hình thức như là những đơn vị nhỏ hơn của quân đội chính quy: tiểu đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn kỵ binh. Dần dần, khi Hồng quân tiến công phía trước và du kích đánh sau lưng phối hợp đuổi quân thù ra khỏi vị trí chúng chiếm giữ, các đơn vị du kích hoặc hợp nhất với các đơn vị Hồng quân, hoặc tiếp tục tồn tại như những đơn vị độc lập của Hồng quân – tiếp nhận các sĩ quan chỉ huy, các trang thiết bị từ lực lượng dự trữ của Hồng quân và hoạt động theo mệnh lệnh của chỉ huy tối cao Hồng quân.

Những ví dụ đã nói ở trên về cơ cấu của phong trào du kích ở các nước khác nhau chỉ rõ rằng, về bản chất những nguyên tắc như thế áp dụng ở đây cũng như với các đơn vị cơ sở của quân đội chính quy – nhưng cũng cần phải tính đến những nét đặc thù của từng nước, mục tiêu của phong trào du kích ở từng thời kỳ, vũ khí hiện có (hoặc có thể được trang bị trong quá trình chiến đấu) và cuối cùng là cần phải giữ được bí mật.Nếu như tất cả các điều kiện ấy được tuân thủ, chúng ta sẽ đi tới cơ cấu đặc thù của các đơn vị du kích: ở thời kỳ đầu, những nhóm chiến đấu nhỏ, ít nhiều có cùng nhiệm vụ gồm nǎm, tám hoặc mười người, được hình thành từ làng nọ đến làng kia và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các làng, thông qua các chỉ huy của họ, tới các Uỷ ban quân sự xã, huyện và đại diện của họ tại các làng. Khi phong trào phát triển (cùng với cuộc đấu tranh của nông dân nghèo ngày càng trở nên quyết liệt) các nhóm nhỏ đó hợp thành những đơn vị lớn (trung đội, đại đội, tiểu đoàn).

Những đơn vị đó, đến lượt nó, có thể được tập hợp thành những đơn vị lớn hơn. Trong quá trình đó, nếu các đơn vị du kích nhỏ hợp thành những đơn vị lớn thì cần phải tuân theo nguyên tắc đã được xác lập của khoa học quân sự; khoa học này thừa nhận rằng trong suốt quá trình hoạt động, một chỉ huy không được chỉ huy quá bốn, nǎm đơn vị; bởi lẽ nếu chỉ huy số lượng đơn vị nhiều hơn thế thì nhiệm vụ lãnh đạo sẽ rất khó khǎn và kết quả cuối cùng sẽ bị ảnh hưởng ngược lại. Nguyên tắc này phải được tôn trọng triệt để đối với các đơn vị du kích vì những nét đặc thù của nó và bệnh kinh niên thiếu các vị chỉ huy giỏi trong bản thân du kích. Vấn đề lãnh đạo luôn luôn là một trong những vấn đề họ khó lòng giải quyết được.

Giám sát việc thành lập các đơn vị du kích, việc huấn luyện quân sự của nó và hoạt động của nó ở xã, huyện, tỉnh hoặc trên khắp cả nước, tất nhiên đó là trách nhiệm của từng Uỷ ban chuyên môn trong hội đồng quân sự của Đảng Cộng sản, vì hội đồng này phụ trách toàn bộ công tác quân sự của Đảng. Các đồng chí công tác chuyên trách trong nông dân phải có chân trong hội đồng này. Các hội đồng huyện và xã nhất thiết phải có đại diện quân sự riêng của mình trong nông dân ở từng làng hoặc từng nhóm làng; nhiệm vụ của họ sẽ phải chỉ đạo việc thành lập các đơn vị du kích và huấn luyện quân sự tại chỗ, thông qua vai trò trung gian của những người lãnh đạo (những chỉ huy) có uy tín thuộc các đơn vị du kích cấp thấp hơn và các tổ chức nông dân khác đã có.

Huấn luyện tác chiến cho du kích, trước hết là phải dạy cho họ sử dụng thành thạo các loại vũ khí cầm tay, là một trong những nhiệm vụ chính yếu của những người tổ chức và những người lãnh đạo – trước hết ở những nước mà nông dân chưa bao giờ học nghệ thuật chiến tranh trong quân đội chính quy (tức là những nước có quân đội chuyên nghiệp hoặc hạn chế về quân đội, những nước không dự vào cuộc chiến tranh thế giới vừa qua, hoặc các cuộc chiến tranh khác). Dạy cho du kích biết một ít cách sử dụng các loại vũ khí mà họ có ở thời điểm đặc biệt vẫn chưa đủ; họ cũng cần biết càng nhiều càng tốt cách sử dụng mọi thứ vũ khí mà họ có thể bất ngờ cướp được từ tay kẻ thù. Nguyên tắc cǎn bản ở đây là mỗi một du kích phải được học bắn thành thạo súng trường, các loại súng lục, học ném lựu đạn và học cho thành thạo khi đánh giáp lá cà (giáo, mác, kiếm …).

Một điều cũng rất quan trọng là, mỗi đơn vị du kích cần phải có một số lượng đầy đủ các chiến sĩ trinh sát được huấn luyện thích hợp, các chiến sĩ bắn súng máy, các chiến sĩ thông tin liên lạc, các kỹ sư và y tá. Việc tạo ra một số lượng đầy đủ các chiến sĩ như vậy là một phần trách nhiệm của ban lãnh đạo các đơn vị du kích.

Làm thế nào có thể kiếm được vũ khí để trang bị cho tổ chức du kích mới được thành lập? Đây là một vấn đề khó giải quyết cũng tựa như vấn đề trang bị cho cận vệ đỏ vậy. Tuy nhiên vấn đề này có thể giải quyết được, mặc dù khó khǎn, nhưng ít ra là đủ khả nǎng để có thể chiến đấu đoạt lấy vũ khí. Đại thể, cũng phải nhận rõ rằng không bao giờ có thể tích góp trước một kho vũ khí. Nhất thiết phải dùng mọi cách để có vũ khí: các loại vũ khí thích hợp với nông dân (súng sǎn, súng lục, rìu, thanh sắt, v.v.) cộng thêm lựu đạn và bom mìn, giáo mác và kiếm … Trong những trường hợp nhất định có thể mua súng ngắn. Nhưng nguồn trang bị vũ khí chủ yếu cho du kích sẽ là tập kích vào các kho vũ khí, cướp vũ khí của cảnh sát và các toán lính – tất cả điều đó được thực hiện với khí giới thô sơ có thể kiếm được lúc đầu. Cần phải nhấn mạnh rằng, đối với mỗi phong trào du kích nghiêm chỉnh, việc bổ sung cho kho dự trữ vũ khí và đạn dược của du kích sẽ là một nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài.

Lịch sử phong trào du kích ở Nga, Trung Quốc và ở những nước khác chỉ ra rằng, các đơn vị du kích tiến hành đấu tranh chống lại các nhà cầm quyền và quân đội lúc đầu không có bất kỳ thứ vũ khí nào khác ngoài rìu, thanh sắt, cái chĩa, liềm hoặc gậy gộc. Dần dà, trong quá trình chiến đấu họ cướp được những thứ vũ khí hiện đại cần cho họ (súng trường, súng máy, đại bác, v.v. với các thứ đạn dược cần thiết).

Cuộc đấu tranh du kích, cũng tựa như hoạt động của cận vệ đỏ ở thành phố, phải được tiến hành theo đúng những nguyên tắc cǎn bản của khoa học và chiến thuật quân sự. Tuy vậy, vào thời điểm nhất định, nhất thiết phải tính đến những nét đặc thù về thời gian và điều kiện mà các đơn vị du kích phải hoạt động.

Cũng giống như tổ chức chiến đấu trong thành phố, đơn vị du kích chỉ có thể giành được thắng lợi nếu như mỗi chiến sĩ, đặc biệt là các chỉ huy, biểu lộ tối đa nǎng lực; nếu như, trong các hoạt động chuẩn bị, yếu tố “thời gian” được tuân thủ một cách nghiêm túc; nếu như kế hoạch tác chiến được thảo ra chi tiết từ trước; nếu như các lực lượng được phân công thực hiện từng nhiệm vụ đặc biệt được bày binh bố trận hợp với hoàn cảnh hiện hành; nếu sự hiểu biết tường tận về kẻ thù và địa bàn hoạt động được hoàn tất; nếu như nguyên tắc tiến công bất ngờ được tuân thủ và v.v.. Việc thiếu vũ khí, không có những đơn vị lớn (phân tán các lực lượng), khó khǎn trong việc kiện toàn hệ thống chỉ huy giỏi trên toàn tỉnh hoặc thậm chí trên toàn huyện – những điểm yếu ấy cần phải và có thể được bù đắp bởi những điểm mạnh như bất ngờ, táo bạo và quả quyết trong hoạt động du kích.

Để khẳng định ý tưởng này, chúng ta hãy lấy một trong muôn vàn ví dụ trong lịch sử các chiến sĩ du kích đỏ ở Nga.

Cuối tháng 7-1918, bọn bạch vệ đã bao vây Xôviết huyện San. Làng Platốpxcaia đã bị phân đội Gnilôribốp, với một trǎm sĩ quan và khoảng 200 người Canmức 1 bị cưỡng bức vào lính đánh chiếm. Chúng bắt đầu bắn những người nông dân có thiện cảm với những người bônsêvích. Buđônnưi lập một nhóm 4 người ở ấp Cudôrinô và quyết định tiến công Platốpxcaia để giải thoát tù nhân. Trong đêm 27 rạng ngày 28-7, nhóm này thực hiện một cuộc tiến công táo bạo, giải thoát tù nhân, tước vũ khí của những người lính Canmức đang kinh ngạc và lập tức vũ trang cho những tù nhân vừa được giải thoát. Sau cuộc chiến đấu giáp lá cà ác liệt, một đại đội sĩ quan rút lui để lại cho Buđônnưi chiến lợi phẩm: 2 đại bác, bốn súng máy, 300 súng trường, 60.000 viên đạn và 150 con ngựa với đầy đủ yên cương 2 .

Các đơn vị du kích chừng nào mà chưa nhóm thành một đội quân nông dân đủ mạnh thì không có khả nǎng tiến hành cuộc chiến đấu chống lại quân đội chính quy cùng những trận đánh công kiên hoặc trên đất trống. Trong trường hợp các đơn vị du kích ấy bị quân đội chính quy tiến công thì cách giải quyết tốt nhất đối với họ là tránh đánh nhau hơn là bắt tay tự phòng thủ như quân đội chính quy. Bởi vì, xét thấy điểm yếu liên quan, các chiến sĩ du kích không thể hy vọng giành bất cứ thắng lợi nào trong hành động phòng thủ. Sức mạnh của du kích không nằm trong phòng thủ, mà nằm trong những hành động tiến công táo bạo và bất ngờ. Các chiến sĩ du kích không đủ mạnh về quân sự cho hành động phòng thủ. ở mọi nơi, mọi lúc họ phải kiên quyết vận động; giáng những đòn nhanh và bất ngờ vào quân địch. ở những nơi, những lúc mà chúng ít ngờ tới, và nhanh chóng rút lui và tránh một cuộc giao tranh quyết liệt nếu như hoàn cảnh và cán cân lực lượng ở nơi đặc biệt ấy, ở thời điểm đặc biệt ấy không có lợi cho mình, để rồi làm cho quân thù bạt vía kinh hồn ở một nơi khác.

Trong việc tổ chức các cuộc tiến công trên quy mô rộng vào thành phố, các chiến sĩ, v.v., chỉ huy các đơn vị du kích phải chú ý nhiều tới vấn đề lựa chọn hướng đột kích chủ yếu. Mọi sự cố gắng xuất kích với sức mạnh như nhau ở tất cả các điểm đều có nghĩa làm phân tán lực lượng đã có. Các chỉ huy cần phải tập trung nỗ lực và sự chú ý của mình vào một tuyến tiến công chủ yếu mà họ có hy vọng giành được thắng lợi nhanh chóng và quyết định, chỉ giữ lại sức người, sức của tối thiểu cho nhiệm vụ thứ yếu. Vả lại, trong việc tổ chức phối hợp tác chiến của một số đơn vị nhằm đạt được một mục tiêu nào đó bằng sự bất ngờ thì phải ghi nhớ rằng yếu tố “thời gian” là cực kỳ quan trọng. Việc không tuân thủ hai nguyên tắc chiến thuật đó thường dẫn tới thất bại, thậm chí dẫn tới tiêu vong các đơn vị đang tiến công.

Trong tác chiến kết hợp ấy sự thống nhất chỉ huy cũng đóng vai trò rất to lớn. Không có ban chỉ huy giỏi, hoặc có một vài ban chỉ huy (với mỗi đơn vị đang tác chiến độc lập) là điều không được phép. Kế hoạch tác chiến phải được soạn thảo tập thể và trong khi chiến đấu sự lãnh đạo tập thể phải đưa mệnh lệnh tới những đơn vị tham gia tác chiến. Đó là điều kiện cốt lõi cho kết hợp tác chiến có hy vọng giành được thắng lợi.

Nhu cầu về chỉ huy thống nhất trong các hoạt động du kích là chiến thuật thông thường trong đánh du kích – thực ra là của tất cả các cuộc chiến nói chung. Tuy vậy, kinh nghiệm của cuộc chiến tranh du kích vừa qua, đặc biệt ở Trung Quốc chỉ ra rằng đòi hỏi sơ đẳng ấy không phải bao giờ cũng được tuân thủ hoặc vận dụng trong thực tế. Đã thường xảy ra những trường hợp nhiều đơn vị du kích có cùng mục tiêu nhưng thiếu chỉ huy thống nhất nên đã phân tán những nỗ lực của họ và do đó bị thất bại.

Không thể có tác chiến mà thiếu sự hiểu biết trước một cách kỹ càng. Thông tin chính xác về quân địch, về các vị trí của nó, về điểm mạnh, yếu của nó, về địa thế, đường sá, phương tiện giao thông, cư dân, v.v., tất cả những điều đó phải nhận được từ các đội trinh sát và phải xem là cơ sở của kế hoạch tác chiến. Luồng tin tức thường xuyên của tình báo về đối phương là một yêu cầu cơ bản trong chiến tranh du kích. Trước mỗi cuộc tác chiến, các chiến sĩ du kích cần phải có những hiểu biết đặc biệt về mục tiêu, phải chú ý tới những chi tiết cực kỳ nhỏ bé.

—————————-

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Advertisements