Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách tổ chức công hội

l. Tổ chức công hội làm gì ?

Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn lợi quyền cho công nhân; nǎm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới.

Đi lại không phải là bữa này người A có giỗ chạp thì người B tới ǎn; mai người B có cúng quảy lại mời người C tới uống rượu. Nhưng đi lại để bày vẽ cho nhau điều khôn lẽ phải, để giao hoán trí thức cho nhau.

Nghiên cứu chẳng những là giở sách vở, giở báo ra giảng; nhưng phải bàn bạc cách phấn đấu với tư bản và đế quốc chủ nghĩa 1 .

Sửa sang cách sinh hoạt như lập hiệp tác xã, mở hội học, hội chơi cho công nhân, vân vân.

Giữ gìn lợi quyền là khi hội đã có thế lực rồi, thì đòi thêm tiền công, bớt giờ làm, vân vân.

Giúp cho quốc dân và thế giới là đem lực lượng thợ thuyền cách mệnh làm cho ai cũng được bình đẳng tự do như thợ thuyền Nga đã làm từ nǎm 1917.

2. Cách tổ chức công hội thế nào ?

Tổ chức có hai cách, cách nghề nghiệp và cách sản nghiệp.

Nghề nghiệp là ai làm nghề gì thì vào hội nghề ấy. Như thợ may vào hội may, thợ rèn vào hội rèn.

Sản nghiệp là bất kỳ nghề gì, hễ làm một chỗ thì vào một hội. Như việc xe lửa, người đốt than, người sơn xe, người phát vé, người coi đường, người cầm máy; tất cả nhập vào một công hội xe lửa.

Tổ chức theo cách sản nghiệp thì mạnh hơn, vì thống nhất hơn. Thí dụ khi xe lửa muốn bãi công, nếu hội là sản nghiệp thì hội viên đều phải bãi công hết, thì tư bản sợ hơn. Nếu hội là nghề nghiệp, thì có khi người đốt lửa bãi công mà người cầm máy không, hoặc người phát vé bãi công mà người làm ga không, thế thì sức bãi công yếu đi.

3. Một người công nhân có thể vào hai hội không?

Không. Nếu hội ấy là nghề nghiệp, thì chỉ những người đồng nghề nghiệp được vào; ai đã vào hội sản nghiệp rồi thì không được vào hội nghề nghiệp nữa. Thí dụ: xe lửa đã tổ chức theo sản nghiệp, mấy người thợ việc 1 đã vào hội ấy rồi. Trong xứ ấy lại có một hội thợ mộc khác, những người thợ mộc trong hội xe lửa 2 không được vào.

Trong một nghề hoặc một sản nghiệp cũng không được lập hai hội.

Nhưng mà một công hội có phép vào hai tổng công hội. Thí dụ: Hội xe lửa Hà Nội đã vào Tổng công hội xe lửa An Nam lại vào tổng công hội ta nào 3 .

Nói tóm lại là đoàn thể thì có phép vào nhiều tổng công hội mà từng người thì chỉ được vào một hội mà thôi. Nếu giới hạn này không nghiêm thì sau hay bối rối.

4. Công hội với chính đảng khác nhau thế nào ?

Công hội chú trọng mặt kinh tế hơn. Đảng chú trọng mặt chính trị hơn. Ai là thợ thuyền thì được vào hội, dù tin Phật, tin đạo, tin cộng sản, tin vô chính phủ, tin gì cũng mặc, miễn là theo đúng quy tắc hội là được.

Đảng thì bất kỳ người ấy làm nghề gì, thợ thuyền hay là dân cày, học sinh hay là người buôn, miễn là người ấy tin theo chủ nghĩa đảng, phục tùng phép luật đảng 1 thì được vào.

Ai vào cả đảng và hội, chính trị thì theo đảng chỉ huy, mà kinh tế thì theo công hội chỉ huy. Đảng viên ai cũng phải vào hội để mà tuyên truyền chủ nghĩa của đảng. Nhưng không phải hội viên nào cũng vào được đảng.

5. Cái gì là hệ thống của công hội ?

Hệ thống là cách tổ chức ngang hay là dọc.

Ngang là như trong một tỉnh có hội thợ rèn, hội thợ may, hội thợ mộc, hội thợ nề, vân vân, tất cả các hội tổ chức thành tỉnh tổng công hội; hội nào cũng bình đẳng, bằng ngang nhau.

Dọc là như mỗi huyện có một hội thợ may, 4,5 hội huyện tổ chức một hội thợ may tuyền tỉnh, tất cả hội thợ may trong mấy tỉnh tổ chức một hội thợ may cả nước. ấy là dọc, nghĩa là từ dưới lên trên.

Đã ngang lại dọc, thế thì theo mệnh lịnh tổng công hội ngang hay là tổng công hội dọc ? Nếu quan hệ về sản nghiệp thì theo mệnh lịnh dọc. Nếu quan hệ về địa phương thì theo mệnh lịnh ngang.

6. Muốn hội vững bền thì phải tránh những việc gì ?

Đã vào công hội thì:

l. Nên bỏ giới hạn xứ sở, nghĩa là chớ phân biệt người này là Trung Kỳ, người kia là Nam Kỳ, người nọ là Bắc Kỳ. Và cũng không nên chia ra người An Nam, người Tàu hay là người nước nào. Đã một nghề, một hội tức là anh em cả, phải xem nhau như người một nhà.

2. Đàn ông, đàn bà đều phải bình đẳng.

3. Chớ có bỉ thử mình khéo hơn, lương cao hơn, mà khinh người vụng và ǎn tiền ít.

4. Chớ cậy mình là nhiều tuổi mà muốn làm đàn anh.

5. Chớ cho bọn tư bản vào hội.

7. Phải tổ chức thế nào cho kiên cố?

Công hội là cơ quan của công nhân để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa, cho nên tổ chức phải nghiêm nhặt, chỉ huy phải mau mắn, làm việc phải kín đáo. Muốn được như thế thì phải tổ chức như quân đội.

Quân lính thì có đội ngũ.

Thợ thuyền phải có tiểu tổ, chi bộ.

Thí dụ: Trong tỉnh có 5 nhà máy dệt vải, mỗi nhà máy phải có một chi bộ. Trong mỗi chi bộ lại chia làm mấy tiểu tổ; mỗi chi bộ phải cử 3 hoặc 5 người làm uỷ viên; (phần nhiều nên cử những người làm trong lò đã lâu, thuộc tình hình nhiều) mỗi tiểu tổ phải cử tổ trưởng. Mỗi tiểu tổ không được quá 10 người.

Tiểu tổ theo mệnh lịnh chi bộ, chi bộ theo tỉnh hội, tỉnh hội theo quốc hội 1 . Có thứ tự như thế thì trong hội có mấy mươi vạn người chỉ huy cũng dễ, và hành động cũng nhất trí.

8. Tiểu tổ làm những việc gì?

Cây có nhiều rễ mới vững, hội có nhiều tiểu tổ mới bền. Tiểu tổ phải:

1. Huấn luyện và phê bình anh em;

2. Thi hành những việc hội đã định;

3. Bàn bạc việc hội;

4. Điều tra tình hình trong lò máy;

5. Đề nghị những việc hội nên làm;

6. Thu hội phí; .

7. Báo cáo những việc làm cho chi bộ, để chi bộ báo cáo cho tỉnh bộ, vân vân.

Chi bộ nhiều người khó khai hội, khó xem xét. Tiểu tổ ít người, làm gần nhau, quen biết nhau, cho nên xem xét, huấn luyện, làm việc và khai hội dễ bí mật hơn và mau mắn hơn. Tiểu tổ là có ích như thế. Vả lại, nếu Chính phủ cấm công hội, mà tiểu tổ khéo tổ chức, thì công hội cứ tiến bộ, cứ làm việc được. Vậy cho nên người ta gọi tiểu tổ là gốc của hội.

9. Thứ tự trong công hội thế nào?

Tiểu tổ lên chi bộ.

Nếu trong tỉnh nhiều lò máy, 4, 5 chi bộ tổ chức một bộ uỷ viên (4, 5 lò ấy mỗi lò cử l hoặc 2 người).

Bộ uỷ viên lên tỉnh hội.

Tỉnh hội lên quốc hội.

ấy là thứ tự tổ chức. Còn quyền bính thì về dự hội, nghĩa là tất cả hội viên khai hội bàn định. Nếu hội viên nhiều quá, khai hội không tiện thì định mấy người cử một đại biểu dự hội, ấy là đại biểu đại hội. Đại hội nghị định việc gì, thì chấp hành uỷ viên hội phải thi hành. Khi hội tan thì quyền về chấp hành uỷ viên hội.

Đại biểu đại hội trong tỉnh một tháng khai hội một lần. Đại biểu đại hội trong nước, một nǎm một lần.

Đại biểu nên cử công nhân làm, không nên cử những người chức việc trong hội. Khi khai hội, đại biểu phải báo cáo tình trạng và ý kiến của công nhân (không phải ý kiến riêng mình), đề nghị và bàn bạc các việc. Khai hội rồi, phải về báo cáo việc hội cho công nhân.

10. Có việc gì thì giải quyết thế nào?

Từ tiểu tổ đến đại hội đều theo cách dân chủ tập trung. Nghĩa là có việc gì thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn. Khi bàn rồi thì bỏ thǎm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được. ấy là dân chủ. Đã bỏ thǎm rồi, thì giao cho hội uỷ viên làm, khi ấy thì tất cả hội viên phải theo mệnh lịnh hội ấy. ấy là tập trung. Ai không nghe lời thì uỷ viên hội có quyền phạt.

Gặp việc bất thường không kịp khai hội, thì uỷ viên có quyền xử trí, sau báo cáo cho hội.

Gặp việc bất thường lắm, thì hội uỷ viên cứ phép giao quyền cho một người, người này có quyền độc đoán, việc rồi 1 báo cáo với hội.

11. Sao hội viên phải nộp hội phí?

Có hội thì có phí tổn, như thuê nhà, bút mực, vân vân, ấy là

thường phí, hội viên phải gánh. Lại có bất thường phí, như để dành phòng lúc bãi công hoặc giúp những hội khác bãi công, hoặc giúp đỡ những người trong hội mất việc làm, hoặc làm các việc công ích, vân vân. Nếu hội không tiền thì làm không được. Cho nên hội viên phải “góp gió làm bão”.

Khi hội có tiền thừa thãi, thì nên làm những việc này:

l. Lập trường học cho công nhân;

2. Lập trường cho con cháu công nhân;

3. Lập nơi xem sách báo;

4. Lập nhà thương cho công nhân;

5. Lập nhà ngủ, nhà tắm, nhà hát;

6. Mở hiệp tác xã;

7. Tổ chức công binh 1 , đồng tử quân 2 , vân vân. Phải xem hoàn cảnh mà làm, chớ cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa chú ý. Hội tiêu tiền phải rất phân minh, cho hội viên đều biết. Hội phí không nên thu nặng quá; phải theo sức hội viên.

12. Cách tổ chức bí mật thế nào?

Khi hội được công khai, các tiểu tổ cũng phải giữ bí mật. Khi không được công khai, thì phải mượn tiếng hợp tác xã, trường học, hoặc câu lạc bộ (nhà xéc) vân vân, che mắt người ta. ở Tàu, ở Nhật nhiều nơi thợ thuyền lập nhà bán nước, ngoài thì bán bánh bán nước, trong thì làm việc hội. Thợ thuyền vào uống nước ǎn bánh, và bàn việc; cho nên ma tà mật thám không làm gì được. Có nơi lại giả hội cúng tế hoặc hội chơi, vân vân để che cho công hội.

Lại khi mới gây dựng ra hoặc ở nơi thợ thuyền ít, phải tuỳ cơ ứng biến, không nhất định cứ theo cách thường.

Đại khái cách tổ chức công hội phải thống nhất, bí mật, nghiêm nhặt, thì hội mới vững vàng.

cpv.org.vn

Tổ chức dân cày

l. Vì sao phải tổ chức dân cày?

Nước ta kinh tế chưa phát đạt, trong l00 người thì đến 90 người là dân cày. Mà dân cày ta rất là cực khổ, nghề không có mà làm, đất không đủ mà cày, đến nỗi cơm không đủ ǎn, áo không có mặc.

Xem như Trung Kỳ, tất cả chừng 5.730.000 người dân mà chỉ có chừng 148.015 mẫu ruộng.

Trước nǎm 1926, Tây đồn điền đã chiếm mất 62.000 mẫu. Từ nǎm 1926, 175 thằng Tây đồn điền lại chiếm hết:

l.982 mẫu ở Thanh Hoá,

35.426 mẫu ở Nghệ An,

17.076 mẫu ở Nha Trang,

13.474 mẫu ở Phan Thiết,

92.000 mẫu ở Kon Tum,

67.000 mẫu ở Đồng Nai.

Như thế thì dân ta còn ruộng đâu nữa mà cày!

2. Tây đồn điền choán ruộng cách thế nào?

Chúng nó dùng nhiều cách. Như tháng 6 nǎm 1922 1 , 20 thằng Tây rủ nhau xin Chính phủ Tây mỗi thằng 3000 2 mẫu trong lục tỉnh. Xin được rồi nhóm cả lại thành ra 60.000 mẫu, 19 thằng bán lại cho 1 thằng.

Tháng 8 nǎm 1926, nhà ngân hàng Đông – Pháp xin 30.000 mẫu, trong đám đất ấy đã có 6 làng An Nam ở. Khi nhà ngân hàng xin được rồi thì nó đuổi dân ta đi.

Nam Kỳ bị Tây đồn điền chiếm mất 150.000 mẫu ruộng tốt.

Phần thì Tây đồn điền cướp, phần thì các nhà thờ đạo chiếm. Các cố đạo chờ nǎm nào mất mùa, đem tiền cho dân cày vay. Chúng nó bắt dân đem vǎn khế ruộng cầm cho nó và ǎn lời thiệt nặng. Vì lời nặng quá, đến mùa sau trả không nổi, thì các cố xiết ruộng 1 ấy đem làm ruộng nhà thờ.

3. Chính phủ Pháp đãi 2 dàn cày An Nam thế nào?

Tư bản Tây và nhà thờ đạo đã choán gần hết đất ruộng, còn giữ được miếng nào thì Chính phủ lại đánh thuế thiệt nặng, mỗi nǎm mỗi tǎng. Như mỗi mẫu ruộng tốt mỗi nǎm tất cả hoa lợi được chừng 25 đồng, Tây nó đã lấy mất 2 đồng 5 hào thuế, nghĩa là 10 phần nó lấy mất một.

Nếu tính tiền thuê trâu bò, mua phân tro, mướn làm, tiền ǎn uống, thì mỗi mẫu mỗi nǎm đã hết chừng 30 đồng. Nghĩa là dân cày đã lỗ mất 5 đồng, mà Chính phủ lại còn kẹp 3 lấy cho được 2 đồng rưỡi.

Chẳng thế mà thôi. Dân ta cày ra lúa mà không được ǎn. Đến mùa thuế thì bán đổ bán tháo để nộp thuế. Tây nó biết vậy thì nó mua rẻ để nó chở đi bán các xứ, mỗi nǎm nó chở hết 150 vạn tấn. Nó chở đi chừng nào, thì gạo kém chừng ấy, thì dân ta chết đói nhiều chừng ấy.

4. Bây giờ nên làm thế nào?

Sự cực khổ dân cày An Nam là:

l. Ruộng bị Tây choán hết, không đủ mà cày.

2. Gạo bị nó chở hết, không đủ mà ǎn.

3. Làm nhiều, được ít, thuế nặng.

4. Lại thêm nước lụt, đại hạn, vỡ đê, mất mùa.

5. Đến nỗi chết đói, hoặc bán vợ đợ con, hoặc đem thân làm nô lệ như những người nó chở đi Tân thế giới.

6. Nào là chính trị áp bức (thử hỏi dân cày ta có quyền chính trị gì?) vǎn hoá áp bức (dân cày ta được mấy người biết chữ, trong làng được mấy trường học?).

Nếu dân cày An Nam muốn thoát khỏi vòng cay đắng ấy, thì phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng.

5. Cách tổ chức dân cày thế nào?

Cách tổ chức đại khái như sau:

1. Bất kỳ đàn ông đàn bà, từ những người tiểu điền chủ cho đến những dân cày thuê cày rẽ, từ 18 tuổi trở lên thì được vào. (Những người đại địa chủ, mật thám, cố đạo, say mê rượu chè, cờ bạc và a phiến 1 thì chớ cho vào hội).

2. Ai vào phải tình nguyện giữ quy tắc hội, và phải có hội viên cũ giới thiệu.

3. Làng nào đã có 3 người tình nguyện vào hội thì tổ chức được một hội làng, 3 làng có hội thì tổ chức hội tổng, 3 tổng có hội thì tổ chức hội huyện, 3 huyện có hội thì tổ chức hội tỉnh, 3 tỉnh có hội thì tổ chức hội nước.

4. Còn cách khai hội, tổ chức các bộ làm việc, tuyển cử, đề nghị, giải quyết, báo cáo thì cũng như công hội.

6. Hội dân cày nên đặt tiểu tổ hay không?

Dân cày trong làng không xúm xít đông đúc như thợ thuyền trong lò máy, cho nên hội dân cày làng thế cho tiểu tổ; người uỷ viên thế cho tổ trưởng cũng được.

Uỷ viên bên thì chỉ huy cho hội viên làm việc, bên thì thi hành mệnh lịnh từ thượng cấp truyền đến, bên thì báo cáo việc đại hội với hội viên, bên thì báo cáo công việc hội viên với đại hội.

Các hội viên thì phải:

l. Kiếm hội viên mới;

2. Điều tra cách ǎn làm và các việc trong làng;

3. Đề xướng làm các hợp tác xã;

4. Hết sức mở mang giáo dục, như lập trường, tổ chức nhà xem sách, vân vân;

5. Khuyên anh em dân cày cấm rượu, a phiến, đánh bạc;

6. Đặt hội cứu tế, vân vân.

Nói tóm lại là kiếm làm những việc có ích cho dân cày, có lợi cho nòi giống.

7. Nếu không có tiểu tổ sao giữ được bí mật?

ấy là nói về lúc bình thường, có lẽ công khai được. Nếu lúc phải giữ bí mật, thì:

l. Phải dùng cách tiểu tổ;

2. Chớ gọi là hội dân cày, nhưng gọi là phường lợp nhà, phường đánh cá, phường chung lúa, vân vân để mà che mắt thiên hạ. Vả trong làng xã An Nam hiện bây giờ cũng có nhiều phường hội như thế, muốn tổ chức dân cày thì nên theo hoàn cảnh mà lợi dụng những phường ấy. Cốt làm sao cho người ngoài đừng chú ý là tốt.

Khi hội đã vững, hội viên đã đông, lại nên đặt các bộ chuyên môn 1 như:

Bộ tập thể thao;

Bộ cải lương nghề cày cấy 2 ;

Bộ người cày thuê (đi cày thuê gặt mướn cho người ta, mình không có đất ruộng trâu bò gì cả);

Bộ người cày rẽ;

Bộ thủ công nghiệp (thợ thuyền trong làng tuy không cày ruộng, hoặc nửa cày nửa thợ, cũng phải cho vào hội dân cày);

Bộ thanh niên, bộ phụ nữ, bộ giáo dục, vân vân.

8. Có nông hội rồi đã khỏi những sự cực khổ nói trên chưa?

Sự tự do, bình đẳng phải cách mệnh mà lấy lại, hội nông là một cái nền cách mệnh của dân ta. Nếu thợ thuyền và dân cày trước tổ chức kiên cố, sau đồng tâm hiệp lực mà cách mệnh thì sẽ khỏi những sự cực khổ ấy. Dẫu chưa cách mệnh được ngay, có tổ chức tất là có ích lợi. Như mỗi nǎm Tây nó bắt dân ta hút 150 vạn kilô a phiến, nó lấy 1.500 vạn đồng lời. Nó bắt ta mua 173.000.000 lít rượu, nó lấy l000 triệu phrǎng lời. Nó vừa lấy lời vừa làm cho ta mất nòi mất giống. Nếu dân cày tổ chức mà khuyên nhau đừng uống rượu, đừng hút a phiến, thì đã cứu được nòi giống khỏi mòn mỏi, mỗi nǎm lại khỏi đem 1.000.000.000 phrǎng và 15.000.000 đồng bạc cúng cho Tây. Tây nó áp bức ta vì ta không thương yêu nhau, vì ta ngu dốt. Có hội hè rồi trước là có tình thân ái, sau thì khuyên nhau học hành. Chúng ta đã biết “cách mệnh” tinh thần, “cách mệnh” kinh tế, thì “cách mệnh” chính trị cũng không xa.

cpv.org.vn

“Rủ nhau đi làm cách mạng…”

TT – Đã 83 tuổi nhưng bác Sáu Chí (Nguyễn Văn Chí) hồ hởi ra mặt khi nghe nhắc chuyện Cách mạng Tháng Tám. “Ui chao, không khí những ngày ấy tuyệt vời lắm. Ngày ấy chúng tôi gọi là: rủ nhau đi làm cách mạng”. Câu chuyện về những ngày tổng khởi nghĩa cứ thế cuốn theo cái đà “rủ nhau” ấy…

Tham gia cách mạng và vào Đảng từ phong trào Nam kỳ khởi nghĩa 1940, đến thời kỳ tổng khởi nghĩa tôi làm bí thư quận Trung, tỉnh Chợ Lớn (một phần Long An bây giờ). Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, phong trào bị đàn áp nhưng cái mầm để khôi phục rất lớn, rất khỏe.

Tại Sài Gòn, hàng triệu đoàn viên và thanh niên trong cả nước đã hăng hái đi đầu trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945 (ảnh tư liệu)

Nhà nào cũng cất giấu cờ đỏ sao vàng, bà con nào cũng say mê tấm ảnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Dân tản cư từ Sài Gòn ra để tránh bom đạn của liên quân cũng rất đông. Chính sách tàn bạo của Nhật thì ai cũng biết và khiếp sợ. Chúng tôi cứ dựa vào đó để dấy lên phong trào.

Các tổ chức đoàn hội bán công khai dưới danh nghĩa cứu tế được thành lập, thanh niên được vận động trốn lính, giúp dân từ việc làm ruộng đến việc tang ma. Chúng tôi giúp dân không lấy công, không ăn cơm nên họ rất tin tưởng. Những buổi tối, buổi trưa vãn việc, thanh niên trí thức lại tập họp dân chúng lại đọc báo, phổ biến tình hình cho bà con.

Từ những buổi nói chuyện này, chủ trương cách mạng đã được tuyên truyền tới nông dân, và tổ chức cũng nhận ra được những người nòng cốt, sẵn sàng sống chết với cách mạng. Tôi nhớ mãi hôm chúng tôi tổ chức đọc thư của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào cả nước. Trước đó, hết Pháp rồi Nhật loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết khiến mọi người hoang mang, thất vọng.

Rồi thư của Người đến: “Cơ hội giải phóng đã đến rồi. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết. Ai là người Việt Nam đều phải gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, có của góp của, có sức góp sức, có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành độc lập, dù phải hi sinh tính mệnh cũng không nề”.

Người đọc cao giọng ở trên, người nghe sụt sùi ở dưới, nhưng sau đó là một không khí bừng bừng phấn khích. Mấy bà má tìm tôi: “Vậy là Nguyễn Ái Quốc còn sống, thế là yên tâm rồi”.

Thời bây giờ mà nhớ lại những ngày hoạt động ấy thì thấy buồn cười. Chúng tôi đi làm cách mạng mà cứ rủ nhau như là rủ ra ruộng làm đồng, hẹn giờ bằng đồng hồ mặt trời. Tình hình toàn cục thì cứ mua BáoDân Chúng để theo dõi, vì tài liệu của tổ chức đưa theo đường dây rất chậm, giao liên toàn đi bộ mà. Việc đảm bảo bí mật hoàn toàn dựa vào lòng tin và sự lan truyền của những người cùng dòng họ.

Thế mà việc cướp chính quyền lại thành công mỹ mãn. Đa số nhân dân không biết đọc, nhưng chỉ sau một đêm họp phổ biến bản Hiệu triệu của Xứ bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, đi đến đâu cũng nghe bà con râm ran đọc thuộc lòng “Họ quyết tâm đưa chúng ta làm bia đỡ đạn cho họ. Quân đội họ nắm, kinh tế họ chiếm, ngoại giao họ lo, chính trị họ cầm cả. Cứu ta chỉ có ta thôi, trông cậy vào người là chết”.

Rằm tháng bảy năm ấy (tức khoảng 22, 23-8), nửa đêm Ủy ban Khởi nghĩa đánh trống quân tập hợp dân đi cướp chính quyền. Khắp các làng mọi người đổ ra, rầm rập tay đuốc, tay vũ khí, mà chỉ là dao, mác, roi tre, gậy tầm vông. Đội Thiếu niên tiền phong đã được tập từ trước nên hàng ngũ rất tề chỉnh. Không khí ấy khiến đám hương ước, hội tề trong làng rất kinh hoảng không dám chống cự.

Chúng tôi chiếm đóng nhà làm việc, và đến sáng thì chính quyền mới đã thành lập xong, đầy đủ các chức vị chủ tịch, ủy viên hành chính, quân sự, an ninh…, các chính sách lớn như bỏ thuế thân, tự do hội họp được công bố khiến bà con rất phấn khởi.

Ông Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí), sinh năm 1921, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Hiện ông là ủy viên thường trực Ban chỉ đạo hội đồng biên soạn “Lịch sử Nam bộ kháng chiến”

Nhưng tất cả việc đó vẫn chỉ là hình thức của cách mạng. Cái lớn nhất mà công cuộc tập hợp nhân dân cướp chính quyền đã đạt được chính là điều được nhấn mạnh trong thư của Nguyễn Ái Quốc: Toàn dân đoàn kết.

Sự đoàn kết, thương yêu lẫn nhau trong những ngày ấy đạt đến mức gần như tuyệt đối. Đi đến đâu chúng tôi cũng gặp những gương mặt tươi cười, hào hứng, sẵn sàng đem tất cả những gì mình có để giúp người khác.

Những xích mích về bờ giậu, khoảnh ruộng, bờ ao mới hôm trước còn là những việc tày đình thì hôm nay mọi người vui cười bỏ qua trước sự chứng kiến của mặt trận Việt Minh. Các gia đình chia nhau nấu cơm cho anh em tự vệ, trước cửa nhà làm việc lúc nào cũng có mấy bà má xởi lởi mang sang rổ khoai, mớ bánh ú. Chuyện cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút mới cách đó ít lâu còn đầy rẫy thì nay bỗng vắng bóng.

Trong quy định của Việt Minh còn có khoản cấm rượu chè, nhưng ở tỉnh Chợ Lớn có làng Gò Đen nổi tiếng, dân địa phương quan niện “vô tửu bất thành lễ”. Biết không thể cấm được, chúng tôi đưa ra khuyến cáo “không được say xỉn”. Thế là cảnh thanh niên, đàn ông mặt mày đỏ gay, đi lại ngật ngưỡng không thấy xuất hiện nữa.

Tối tối, các lớp học bình dân rộn ràng tiếng đánh vần, ai cũng đi học, từ con nít đến ông bà già. Họ bảo nhau: “Không đi học làm sao đọc được thư của lãnh tụ”. Sáng 2-9, chúng tôi cũng tổ chức lễ độc lập, chủ tịch tỉnh đứng lên đọc các văn bản được tổ chức gửi xuống, đọc các tin tức trên báo chí.

Nghe tên Hồ Chí Minh, mọi người rất xôn xao, nhao nhao hỏi: “Hồ Chí Minh là ai?”. Chúng tôi giải thích đó là tên mới của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, rồi phải mang ảnh ra so sánh làm bằng chứng mọi người mới tin. Và từ đó lại càng nô nức đi học.

Những ngày tuyệt vời ấy tiếc thay lại chỉ có 29 ngày ngắn ngủi. Pháp quay trở lại. Đã biết kinh nghiệm của những ngày phong trào Nam kỳ khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu, một số người có tư tưởng hoang mang, dao động, chúng tôi lại tập họp, giải thích rằng lần này chúng ta đã có Nhà nước, có Chính phủ, thủ đô vẫn còn, Bác Hồ vẫn đó, chiến khu Việt Bắc đã được chuẩn bị sẵn…

Nghe đến tên Bác Hồ, mọi người lại yên tâm, lại bừng bừng khí thế và cứ thế nô nức đi thẳng đến những ngày Nam bộ kháng chiến…

PHẠM VŨ ghi
qdnd.vn

Ký ức những ngày tháng 8 lịch sử của vị đại tá già

(Dân trí) – Cách mạng về làng, từ “cậu ấm”, Nguyễn Đồng trở thành chiến sỹ cách mạng và gắn bó trọn đời mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những ngày tháng 8 lịch sử, ký ức về ngày đầu tham gia cách mạng lại sôi sục trong ông.

Đại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng TámĐại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng Tám

Trong những ngày cả nước cùng kỷ niệm ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8 (19/8/1945), ở căn nhà nhỏ tại xã Nghi Phú (Tp Vinh, Nghệ An), đại tá Nguyễn Đồng cũng sống dậy với ký ức hào hùng của bước đầu tham gia hoạt động cách mạng. Sinh năm 1927 tại làng Dương Liễu, tổng Nam Kim, huyện Nam Đàn (nay là xã Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An), với gia đình khá bề thế của mình, Nguyễn Đồng đi ra đường được người dân cung kính gọi bằng “cậu”. Với một ít vốn liếng chữ Quốc ngữ cộng với gia thế của mình, chàng thanh niên trẻ này cũng được định hướng làm Hương lý của làng.Lấy vợ khi cách mạng trong nước đang có những chuyển biến rõ rệt, Nguyễn Đồng cũng “bâng khuâng đứng giữa 2 dòng nước”. Ông nhớ lại: “Hồi đó phong trào thanh niên Phan Anh của Chính phủ Trần Trọng Kim cũng hoạt động hết sức sôi sổi, nó khác hoàn toàn với chế độ phong kiến đang tồn tại nên tôi có ý định tham gia. Tuy nhiên ý định của tôi đã bị bố và bác can ngăn. Đúng lúc đó, ông Nguyễn Trọng Trường (con địa chủ, tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm – PV) về làng tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Nhận thấy phong trào yêu nước của Việt Minh có nhiều tiến bộ ưu việt, tôi quyết định tham gia”.

Thời kỳ tiền khởi nghĩa, tổ chức của 30 thanh niên trong xã dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Trọng Trường hoạt động dưới mô hình như đội tự vệ đỏ của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930. Do yêu cầu của tổ chức nên đội hoạt động hết sức bí mật, chủ yếu sinh hoạt vào ban đêm, mặc dù vậy vẫn hết sức nghiêm túc. “Chúng tôi được hướng dẫn cách hoạt động du kích, cách đánh giặc, được tập hát các ca khúc cách mạng. Ai cũng say sưa hát những bài như Diệt phát xít, Quốc tế ca… Chúng tôi hoạt động ở đình làng, bí mật lắm, đến nỗi vợ tôi cũng không hề biết tại sao cứ đến tối là chồng lại biến mất”, ông Đồng kể.

Đại tá Nguyễn Đồng tái hiện không khí của những ngày Cách mạng tháng Tám“Nếu không có cách mạng, có khi tôi sẽ trở thành Hương lý, đứng ở chiến tuyến đối chọi với người dân”

“Đầu tháng 8/1945, ông Trương cho biết, thời cơ cách mạng đã chín muồi, sẽ có một cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, anh em ai cũng phấn chấn lắm. Chúng tôi tự trang bị vũ khí, chủ yếu là dao găm, giáo mác. Hết thời hoạt động bí mật, chúng tôi chuyển sang hoạt động công khai. Anh em vác vũ khí trên vai, rùng rùng kéo đi cướp chính quyền ở xóm, xã. Lúc này chính quyền phong kiến đã hết sức rệu rã nên việc cướp chính quyền hết sức thuận lợi. Quân khởi nghĩa đi đến đâu, Hương lý run rẩy nộp hết con dấu, giấy tờ sổ sách tới đó. Lực lượng cách mạng đứng hai bên đình, chứng kiến cuộc trao con dấu, báo cáo quỹ của lý trưởng cho chính quyền mới quản lý. Giây phút đó chúng tôi hiểu rằng cuộc đời của người dân cùng khổ đã bước sang trang mới, được làm chủ cuộc sống của mình, thoát khỏi ách kìm kẹp của chế độ phong kiến và tay sai”.

Kết thúc cướp chính quyền ở xóm, xã, chuẩn bị cho cuộc cướp chính quyền ở huyện, ông hồi hộp thức trắng đêm. Cả làng không ngủ, đàn ông chuẩn bị vũ khí, phụ nữ chuẩn bị cơm nắm, nước chè xanh để ngày mai kéo lên huyện. “Hồi đó, phụ nữ trong làng đều mặc váy đụp. Nghe bảo thời đại mới mặc váy người ta cười cho, phải mặc quần, phụ nữ trong làng thức trắng đêm để… may quần. Vợ tôi tháo cái áo cưới may được 2 cái quần dài, một cho mẹ, một cho mình để sáng mai đi cướp huyện lỵ”, ông hóm hỉnh kể lại câu chuyện chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa ở làng mình.

Sáng ngày hôm sau, đoàn biểu tình làng Dương Liễu, tổng Nam Kim kéo nhau theo đê sông Lam tiến lên huyện lỵ. Các bà, các cô gánh thêm những gánh cơm nắm muối vừng để phục đoàn biểu tình. Đi qua đò, cơm bị nhúng nước, nát vụn. Đoàn quân mang theo cờ đỏ búa liềm rợp đỏ cả dòng Lam rồi nhập vào đoàn biểu tình của các xã khác kéo dài đến hàng km. “Chúng tôi vừa đi vừa hô khẩu hiệu, hát các bài hát cách mạng, quên cả mệt. Lên đến nơi đúng lúc chính quyền lâm thời công bố Phạm Nghiêm – làng Đông Sơn làm chủ tịch huyện, trong làng tôi có ông Nguyễn Hoài Sâm – làm ủy viên quân sự huyện.

Phấn khởi quá, giờ mình đã làm chủ cuộc sống của mình rồi. Sau khi cướp chính quyền, chúng tôi được tập trung nghe phổ biến chủ trương của chính quyền non trẻ. Khỏi phải nói, lần đầu tiên người dân thấy được quyền làm chủ của mình, được thông báo, được tham gia ý kiến vào các hoạt động của chính quyền non trẻ, nên ai cũng hăng hái tham gia ủng hộ tuần lễ Vàng, bình dân học vụ, các hoạt động bài trừ mê tín dị đoan và tham gia vào các đoàn thể xã hội. Nếu không có cách mạng thì biết đâu tôi sẽ làm hương lý, đứng vào hàng ngũ đối chọi với người dân. Cách mạng đã cho tôi nhiều rất nhiều thứ…”, đôi mắt của người chiến sỹ cách mạng bước sang tuổi 85 như có lửa khi nhớ về những ngày đầu tham gia cách mạng.

Giới thiệu cuốn hồi ký những ngày hoạt động cách mạng với phóng viênGiới thiệu cuốn hồi ký những ngày hoạt động cách mạng với phóng viên

Cướp chính quyền thành công, ông được giao làm Bí thư đoàn thanh niêm kiêm đội trưởng đội tự vệ xã. Vốn có ít chữ nghĩa, ông được phân công tham gia giảng dạy lớp bình dân học vụ. Năm 1947 ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng và được phân công đi học quân sự của huyện. Năm 1948, kết thúc lớp học chi ủy viên ở huyện, ông được cử làm Phó Bí thư Đảng ủy xã Khánh Tân (được hợp nhất từ 2 xã Tân Hợp và Khánh Tân). Đầu năm 1949, ông được cử làm Trợ lý dân vận huyện nhưng chỉ được 1 tháng sau lại được điều lên Văn phòng Tỉnh ủy phụ trách công tác văn thư.

Chuẩn bị cho cuộc tổng phản công đánh đuổi giặc Pháp, năm 1950, ông được cử đi học lớp chính trị viên đại đội rồi gia nhập quân đội, tham gia chiến dịch Hòa Bình (1951), chiến dịch Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Kết thúc kháng chiến chống Pháp, ông có 10 năm làm việc ở Tổng cục chính trị trước khi tham gia chiến trường B. Kết thúc chiến tranh, ông về địa phương đảm nhận nhiều chức vụ trong quân đội. Trước khi về hưu, ông Nguyễn Đồng với hàm đại tá, là phó Sư đoàn trưởng về chính trị của Sư đoàn 348 Quân khu 4. Về hưu năm 1986, ông tiếp tục tham gia công tác địa phương từ xóm trường, bí thư chi bộ, hội cựu chiến binh…

Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi ông dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho người vợ của mình, bà Phạm Thị Sáu (SN 1927). Công việc của tổ chức phân công, ông đi suốt nên mọi công viêc đồng án, kinh tế trong nhà, dạy dỗ 4 đứa con khôn lớn đều một tay bà lo toan để ông yên tâm hoạt động cách mạng. 45 lấy nhau nhưng thời gian bà sống gần chồng rất ít. “Chiến tranh mà, bao nhiêu người phụ nữ đều phải chấp nhận như thế chứ có phải một mình tôi đâu”, bà cười đáp lại những lời nói tốt đẹp chồng dành cho mình.

Những ngày cuối đời, ông bà có thể mỉm cười hài lòng với những gì mình đang có. 4 người con của ông bà đều thành đạt, có vị trí trong xã hội. Với ông, được quây quần với các cháu chắt trong ngôi nhà nhỏ ở xóm “gia binh” là hạnh phúc tuổi già.

Hoàng Lam
dantri.com.vn

Cách mạng Tháng 8: thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân

Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc. Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã lật nhào chính quyền tay sai của phát-xít, thực dân, phong kiến, giành chính quyền cách mạng trên cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa lịch sử của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðó là thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới cho Việt Nam: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh, mở đường cho hàng loạt thắng lợi vẻ vang của dân tộc hơn 60 năm qua.

Thời cơ lớn để Tổng khởi nghĩa là lúc phát-xít Nhật thua trận. Thời cơ đó đã được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Khuổi Nậm (Cao Bằng) năm 1941, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ và đã xác định những công việc lớn cần xúc tiến như phát triển lực lượng chính trị, lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, các căn cứ địa. Không có chuẩn bị, không có lực lượng thì không nắm được thời cơ thuận lợi. Nhiều nước ở châu Á năm 1945 cùng đứng trước thời cơ lịch sử này nhưng không nổi dậy được. Rõ ràng nội lực là yếu tố quyết định thắng lợi. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 8 (1941), Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp ở Ðình Bảng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường-Chinh ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, đã ra chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!”. Chỉ thị ngày 12-3-1945 đã nói rõ: “Dù sao ta không thể đem việc quân Ðồng Minh đổ bộ vào Ðông Dương làm điều kiện tất yếu cho Tổng khởi nghĩa của ta, vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu giặc Nhật mất nước, như Pháp năm 1940 và quân viễn chinh Nhật mất tinh thần, thì khi ấy, dù quân Ðồng Minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”.

Ngày 20-7-1945, tỉnh Quảng Yên; ngày 15-8-1945, tỉnh Quảng Ngãi đã khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh thành lập ra “Quân lệnh số 1”, hạ lệnh cho quốc dân đồng bào cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa. Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào gồm 60 đại biểu bắc, trung, nam và đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại diện các đảng phái, đoàn thể nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, đoàn thể nhân dân, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Tổng bộ Việt Minh. Ngày 19-8-1945, Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi; đến ngày 25-8-1945, Sài Gòn khởi nghĩa thắng lợi. Như vậy là, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta từ bắc chí nam, hầu như đã đồng loạt vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi vẻ vang, tái sinh ra sức mạnh thống nhất của cả nước, của các dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo thống nhất của một Ðảng duy nhất. Việt Nam là một nước trên một dải đất dài, có 54 dân tộc anh em, lại bị thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị, những thủ đoạn lừa bịp về độc lập giả hiệu, khối đại đoàn kết Ðông Á của phát-xít Nhật mê hoặc, đi đôi với sự đàn áp tàn bạo những người yêu nước, cho nên phải có một Ðảng thống nhất lãnh đạo, vừa kiên cường vượt qua mọi thử thách, vừa thể hiện tập trung ý chí và tầm cao trí tuệ của dân tộc, mới giành được thắng lợi nhanh gọn khi có thời cơ thuận lợi. Ðảng có cơ sở tổ chức trên toàn quốc làm nòng cốt lãnh đạo các địa phương vùng lên kịp thời, chớp được thời cơ “ngàn năm có một” đã giành được chính quyền cách mạng trên cả nước.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám-1945 là sự vùng lên của hàng chục triệu nhân dân cả nước, cả ở rừng núi, nông thôn và thành thị, đập tan chính quyền phản động, mà đòn quyết định cuối cùng là ở các thành thị lớn. Lực lượng cách mạng của quần chúng đã áp đảo lực lượng phản động, làm nổi bật sức mạnh “xoay trời chuyển đất” chưa từng có của khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ bắc đến nam. Lực lượng vũ trang cách mạng tuy còn nhỏ nhưng đã là những đội quân xung kích, đã từng đánh Pháp, đánh Nhật với những trận nổi tiếng như Phai Khắt – Nà Ngần, Tam Ðảo, Sơn Dương, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Quảng Yên… Các đội vũ trang cách mạng đã hỗ trợ, bảo vệ quần chúng biểu tình, tuần hành thị uy, tiến công các đồn bốt, các trại bảo an, trấn áp bọn Việt gian, bọn phản động, chiếm các công sở, phá các nhà tù, kho súng. Không có lực lượng vũ trang cách mạng, chính quyền tay sai Nhật không tan rã nhanh chóng, không hạn chế được sự chống đối của kẻ thù cầm súng. Không có lực lượng vũ trang cách mạng không thể làm tăng thêm sức mạnh tiến công của lực lượng chính trị của quần chúng, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh gọn. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là cuộc khởi nghĩa vũ trang, song lực lượng chính trị của quần chúng có sức mạnh quyết định.

Cách mạng Tháng Tám đã thể hiện nổi bật sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc mới xuất hiện, sau một thời gian dài hàng trăm năm bị phân tán, chia rẽ, xói mòn. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đã mở ra bước ngoặt trong việc tập hợp lực lượng toàn dân tộc ở nước ta. Ngày 20-11-1941, Mặt trận Việt Minh đã nêu rõ mục tiêu là làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do. Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với tiến bộ xã hội. Ðánh đuổi được Nhật, Pháp, nước ta xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa, thực hiện phổ thông đầu phiếu, ban bố các quyền tự do dân chủ, nam nữ bình đẳng, các dân tộc thiểu số có quyền tự quyết, thực hiện giảm tô, chia lại công điền, thực hiện ngày làm 8 giờ, phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, khuyến khích trí thức phát triển y tế, giáo dục, văn hóa văn nghệ, thể dục – thể thao… Mặt trận Việt Minh tập họp mọi lực lượng yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, trên nền tảng liên minh công nông và lao động trí óc, đoàn kết với mọi tầng lớp, không phân biệt ngành nghề, sắc tộc, tôn giáo, mọi nhân sĩ, không thành kiến với quá khứ, cùng hợp tác vì mục tiêu cao nhất là độc lập, thống nhất cho đất nước. Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào là một hình ảnh tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc. Trong cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, tại Bắc Bộ Phủ, ta bắt được Ngô Ðình Diệm, muốn ông ta cùng phấn đấu cho nước nhà độc lập, nhưng Diệm từ chối và ta đã trả tự do cho ông ta. Chính phủ lâm thời nước ta lập nên sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, gồm những nhà cách mạng từng trải và các nhân sĩ, trí thức, cả những người từng tham gia chính phủ Trần Trọng Kim theo Nhật. Thực hiện được đại đoàn kết dân tộc là do Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có chính sách đúng, vừa coi trọng củng cố nền tảng vững chắc là công nông liên minh, vừa ra sức mở rộng Mặt trận, xác định đúng quyền lợi và nghĩa vụ với mọi tầng lớp, phát huy mọi khả năng phục vụ Tổ quốc, không thành kiến, hẹp hòi, lắng nghe các ý kiến khác nhau – coi đó là lẽ thường tình, chỉ trừ những kẻ chống đối, có ý kiến và hành động chống lại nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc.Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc, của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của dân tộc Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám.

Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công! Khẩu hiệu đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra và thực hiện một cách tuyệt vời trong lãnh đạo cách mạng.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã mở đường cho những thắng lợi vẻ vang của nước ta trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp đổi mới ngày nay.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo của Ðảng, đồng thời xây dựng các nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ðó là:

– Sự lãnh đạo của một Ðảng duy nhất – lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

– Một Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

– Một Mặt trận đại đoàn kết dân tộc.

– Một quân đội cách mạng kiên cường chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Mối quan hệ quốc tế gắn liền Việt Nam với thời đại, tiến kịp với thời đại. Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đồng thời ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các nước.

Ngày 21/08/2009
Ban biên tập Website
(Theo báo Nhân dân)

impe-qn.org.vn

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)

(BGĐT)- Những năm 1943, 1944 cơ sở Đảng và quần chúng cách mạng ở Bắc Giang được phát triển rộng. Các đoàn thể cứu quốc được tổ chức chặt chẽ hơn. Thời gian này, bộ máy thống trị của địch bắt đầu bị lung lay. Nhiều địa phương, chính quyền địch đã bị tê liệt.

Bến đò năm xưa qua sông Cầu thuộc địa phận huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) đã từng đưa đón cán bộ cách mạng của ta trước Cách mạng tháng Tám- 1945. Ảnh tư liệu.

Các cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng cách mạng ở vùng Hiệp Hoà, Yên Thế đã hoạt động nửa công khai, nửa bí mật. Bọn hào lý hầu như không đàn áp như trước. Có nơi bọn chúng gặp Việt Minh để xin giao lại quyền giải quyết mọi công việc của địa phương. Trong khi đó, một số địa phương các đảng phái phản động, thổ phỉ nổi lên tranh giành quyền lực với Việt Minh như ở Phủ Lạng Thương, Việt Yên, Yên Dũng, Lục Ngạn, làm ảnh hưởng đến việc mở rộng phong trào cách mạng của ta.

Những năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 sắp kết thúc, Liên Xô và phe đồng minh tiến công vào xào huyệt của phát xít Đức. Ở nước ta mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp tiến lên gay gắt, ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp chiếm Đông Dương.

Ở tỉnh Bắc Giang, bộ máy thống trị của thực dân Pháp đã nhanh chóng hạ vũ khí đầu hàng phát xít Nhật. Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12-3-1945 của Ban thường vụ Trung ương Đảng đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang trong suốt cao trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Thấy điều kiện vận dụng được chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể ở Hiệp Hoà, đồng chí Lê Thanh Nghị, Nguyễn Trọng Tỉnh đã quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, phá các kho thóc của Nhật- Pháp để giải quyết nạn đói cho nhân dân, động viên tinh thần cách mạng của đông đảo quần chúng ở Bắc Giang.

Một địa điểm hoạt động của cán bộ ta trước Cách mạng tháng Tám 1945 ở huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Ảnh tư liệu.

Tối 12-3-1945, tại xã Xuân Biều (huyện Hiệp Hòa) một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại đình có 30 tự vệ và hơn 300 quần chúng tham gia. Tại cuộc mít tinh, ta công bố thủ tiêu chính quyền bù nhìn, lập uỷ ban dân tộc giải phóng. Đây là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi cấp xã đầu tiên của tỉnh Bắc Giang, thực hiện chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương Đảng về khởi nghĩa từng phần, tạo điều kiện tiến tới tổng khởi nghĩa. Ngay đêm 12-3-1945, kế hoạch phá kho thóc, đồn điền Vát của TáctaRanh được đặt ra. Tiếp theo cuộc phá kho thóc đồn điền Vát, hàng chục các kho thóc của Nhật- Pháp phá ở Chàng (Việt Yên), Gió (Hiệp Hoà), Bến Bò (Lục Ngạn), Nhã Nam (Yên Thế)…Chính quyền cách mạng được thành lập ở Vân Xuyên, Lạc Yên, Trung Định (Hiệp Hoà). Chính quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân diệt trừ trộm cướp và nhiều tên phản cách mạng, an ninh trật tự xóm làng được ổn định.

Khí thế cách mạng của quần chúng ở Hiệp Hoà hừng hực, binh lính ở đồn Trị Cụ rút lui hoàn toàn. Ngày 16,17-3-1945, ban cán sự tỉnh Bắc Giang đã họp hội nghị tại Đồng Điều (Yên Thế) rút kinh nghiệm diễn biến vừa qua ở Hiệp Hoà và phổ biến chỉ thị ngày 12-3-1945 của thường vụ Trung ương Đảng, hội nghị đã quyết định phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn tỉnh và đề ra một số công tác lớn: Phá kho thóc Nhật, Pháp để cứu đói, chống thu thuế, phá việc trồng đay của Nhật; diệt trừ lưu manh trộm cắp, phản động, bảo vệ an ninh trật tự; mở rộng cơ sở cách mạng; tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển các đội tự vệ địa phương; đẩy mạnh việc huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ; đẩy mạnh tuyên truyền cách mạng. Ngay sau đó, đội du kích thoát ly được thành lập gồm các tự vệ chiến đấu trung kiên và một số thanh niên lao tù cứu quốc. Đó là đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh gồm 13 người với 12 khẩu sung do đồng chí Lương Văn Đài uỷ viên ban cán sự Tỉnh trực tiếp phụ trách.

Để đẩy mạnh phong trào cách mạng lên cao hơn nữa, từ sáng 9-3-1945, Trung ương và xứ uỷ Bắc Kỳ tăng cường cho Bắc Giang các đồng chí Hồ Công Dự, Phạm Yên, Hồ Công Lạng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Quỳ… Từ cuối tháng 3-1945, cơ sở cách mạng tỉnh đã được mở rộng ở huyện Hiệp Hoà phát triển xuống Lương Phong, Đoan Bái, Đông Lỗ… Ở huyện Việt Yên cơ sở được xây dựng tại tổng Tự Lạn, Hoàng Mai, Dĩnh Sơn, Mật Ninh, Thiết Sơn, Tiên Lát…Tự vệ Hùng Lãm, My Điền chặn các đoàn xe trở thóc của Nhật để lấy thóc chia cho dân. Tại Bích Động, Việt Minh cũng tổ chức phát thóc gạo cứ đói cho dân. Ở đây, cao trào cách mạng của quần chúng đã làm tê liệt bộ máy chính quyền của địch.

(Còn nữa)

Nam- Thanh
baobacgiang.com.vn

Đại đoàn kết – Bài học tuyệt vời từ Cách mạng Tháng Tám

Đến thời điểm này, những bài học quý báu mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Trong đó, bài học tuyệt vời nhất chính là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tính đến thời điểm này, sau 66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới.

Sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là tiền đề tốt cho ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định một chân lý: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.

Ảnh minh họaCách mạng Tháng Tám năm 1945 một dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam- Ảnh: Tư liệu

Theo GS Lê Mậu Hãn, việc tuyên bố chủ quyền trong “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2/9/1945 đã thể hiện rõ ràng một chân lý: Khi một dân tộc kiên quyết đứng lên chiến đấu cho độc lập tự do thì không một kẻ thù nào có thể chiến thắng. “Việc chọn ngày 19/8 để mở đầu cho thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám 1945 cũng là một dịp để khẳng định với thế giới về tư tưởng mỗi dân tộc có quyền chọn con đường để giành độc lập tự do riêng và các dân tộc có quyền tự quyết của mình. Riêng dân tộc Việt Nam trong tình thế này chủ trương là thay đổi chiến lược cách mạng, đó là giải phóng dân tộc, đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập tự do”, GS Lê Mậu Hãn nói.

Cũng theo GS Lê Mậu Hãn, một điểm đặc biệt khác của Cách mạng tháng Tám 1945 mà chúng ta ít nhắc đến đó là một cuộc cách mạng không đổ máu. Thể hiện ở việc ngày 30/8/1945, Hoàng đế Bảo Đại – vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này. Việc thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại đã khiến cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc của Việt Nam càng rõ ràng và khác hẳn các cuộc cách mạng khác trên thế giới.

Đến thời điểm này, những bài học mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự như bài học về nắm bắt thời cơ, bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong đó, theo GS Lê Mậu Hãn, bài học tuyệt vời nhất là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. “Thắng lợi lớn lao của cách mạng Việt Nam là không tạo ra giai cấp, khi mọi người đều bình đẳng thì tất cả sẽ dấn thân để giành thắng lợi cuối cùng”, GS Hãn nói.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16/8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17/8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Trong ngày 17/8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19/8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn,v.v.. Ngày 19/8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Ảnh minh họaThắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng là thắng lợi của việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Ảnh: Tư liệu

Từ bài học Cách mạng tháng Tám 1945 để lại, trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị; vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế

Nguồn : vnmedia.vn
tinmoi.vn

Viết về lịch sử: Cẩn trọng không thừa

Chúng ta đang sống trong những ngày lễ trọng đại: Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Nhân dịp này, tôi tìm đọc một số tư liệu về những ngày mùa thu lập quốc trên trang điện tử của một số báo. Có những bài viết do nhà báo ghi lại và cả những bài do nhà nghiên cứu viết, tôi thấy có nhiều chi tiết chưa được chính xác, cần trao đổi lại…

Có những sự kiện, có những nhân vật chưa được nhắc đến, nhà báo viết về họ mang tính khai phá. Nhưng sự kiện và nhân vật ấy đều thuộc về lịch sử. Vì vậy, đôi lúc người viết đừng ngần ngại kiểm tra lại các thông tin ở sách vở. Thêm một thao tác để tránh những sai sót không đáng có không bao giờ là việc thừa.

Hai bài viết “Những giây phút không thể nào quên” trên trang điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam (19/8/2009) của tác giả Việt Đức và bài viết “Ký ức ngày tổng khởi nghĩa ở Thủ đô” trên trang điện tử Vnexpress (19/8/2011) của tác giả Hoàng Thùy, tuy cách nhau hai năm, đề tên hai tác giả khác nhau, song có cùng chung một nội dung hỏi chuyện ông Lê Đức Vân – thành viên của Ban liên lạc Việt Minh cứu quốc Hoàng Diệu. Nội dung bài viết cùng có đoạn: “Buổi chiều 17/8/1945, tại Nhà hát lớn, Chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh với sự tham gia của hàng chục nghìn người. Khi chúng mới chỉ kịp tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên cướp micro”.

Trong một tài liệu mang tên “Trước giờ Tổng khởi nghĩa” của Trần Quảng Vận, tức nhà báo Trần Lâm – nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, được in năm 1946, có đoạn viết: “Mọi người đang chăm chú nghe tuyên bố khai mạc. Ba giờ đúng” (trang 23, “Vẫn chưa hết bài diễn văn. Ba giờ hai mươi nhăm, Lâm nhìn đồng hồ bắt đầu sốt ruột” (trang 25), “Lời diễn giả báo cho chàng biết giờ khởi sự sắp đến. Chàng lùi lại, đưa mắt nhìn hai tự vệ. Nhanh như cắt hai bạn đứng thế thủ. Lâm biến vào phòng sau, rồi lại ra, cầm theo gói cờ không bọc giấy. Diễn giả vẫn chưa dứt. Lâm lại phải giấu tạm vào một góc tường, phía trong. Rồi tiếng vỗ tay hoan hô vang dậy. Diễn giả vừa ngừng” (trang 26).

Bạn đọc có thể thấy, ngoài lời tuyên bố khai mạc, Chính phủ Trần Trọng Kim còn có một bài diễn văn dài đến nửa giờ đồng hồ, chứ không phải mới chỉ kịp tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên cướp micro.

Không riêng các nhà báo trẻ, không riêng các nhân chứng cao tuổi, ngay nhà nghiên cứu có khi cũng lẫn lộn. Trên Báo điện tử Chính phủ (18/8/2010) kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám có bài viết “Chớp thời cơ, đem sức ta mà giải phóng cho ta” của nhà nghiên cứu lịch sử Trần Thái Bình có một số nhầm lẫn.

Bộ “Tổng tập hồi ký” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chứa đựng những tư liệu chân xác, rất đáng để các nhà nghiên cứu và bạn viết trẻ tham khảo khi tìm hiểu về nhiều sự kiện lịch sử.

Về những ngày khởi nghĩa Tháng Tám 1945, nhà nghiên cứu Trần Thái Bình viết: “Đêm 19/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Tổng Bộ Việt Minh thành lập đã hạ lệnh Tổng khởi nghĩa. Thay mặt Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, đồng chí Võ Nguyên Giáp, với bí danh Văn, đã ký Quân lệnh số 1 gửi cho toàn quốc, rồi ngay sau đó trực tiếp chỉ huy một đơn vị giải phóng quân Nam tiến, đánh quân Nhật đang chiếm đóng Thái Nguyên, để mở đường tiến về Hà Nội”.

Trong vòng nửa tháng, chỉ với 5.000 đảng viên, mà làm nên Cách mạng Tháng Tám với khí thế thần tốc, chớp thời cơ quân Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngay từ ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã được triệu tập tại Tân Trào. Ngay sau đó, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào từ ngày 14 đến 16/8/1945, nhiều đại biểu lên đến chiến khu không kịp dự đại hội đã phải về ngay địa phương để chỉ đạo khởi nghĩa. Vậy mà đêm 19/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Tổng Bộ Việt Minh thành lập mới hạ lệnh Tổng khởi nghĩa thì thời cơ nghìn năm có một đâu còn?

Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết rất rõ về sự kiện này như sau: “Ngày 11, 12, tin vô tuyến điện cho biết có hiện tượng nguy ngập tan rã trong quân đội Nhật. Ngày 13 tháng 8, có tin Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Nhật ở các nơi đã ngừng chiến đấu. 11 giờ đêm ngày 13, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng hạ mệnh lệnh khởi nghĩa cho nhân dân và bộ đội”.

Về Quân lệnh số 1 gửi cho toàn quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại như sau:

“Chiều 16 tháng 8, một đơn vị Giải phóng quân tập hợp dưới cờ làm lễ xuất phát tiến về phía Nam. Các đại biểu về dự Quốc dân đại hội đều có mặt dưới cây đa cổ thụ, cạnh ngôi nhà Hội đồng cứu quốc xã Tân Trào để tiễn đưa bộ đội lên đường chiến đấu (…). Những chiến sĩ Giải phóng quân, quần áo đủ kiểu, mang trên người dấu vết của những cuộc vật lộn ác liệt với quân thù trên các nẻo đường rừng, trên các triền núi đá Việt Bắc, tề tựu nghiêm trang dưới cờ nghe đọc bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp chú thích cẩn thận: “Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa do anh Trần Huy Liệu khởi thảo”.

Cả hai đoạn tư liệu được dẫn ở trên, tôi đều sử dụng trong hồi ký “Từ nhân dân mà ra” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, do nhà văn Hữu Mai thể hiện, được in lại trong bộ “Võ Nguyên Giáp – Tổng tập hồi ký” (NXB Quân đội Nhân dân, 2006)

Mai Kiều
vnca.cand.com.vn

Chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ

QĐND Online-  Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút” giành thắng lợi quyết định. Bước tiếp theo là “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đó là quá trình đấu tranh quyết liệt và phức tạp trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quốc tế để buộc Nguyễn Văn Thiệu phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris của các lực lượng, diễn ra mạnh mẽ, phong phú và đa dạng. Tiêu biểu là Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp đã có các hoạt động vận động các nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh thống nhất đất nước. Quá trình đó, có một câu chuyện thú vị tại Pháp đã nói lên một chân lý sáng ngời.

Quảng Trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc vận động một số nước ở châu Phi có quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại sứ ta tại Pháp có nhiều cuộc gỡ với đại sứ các nước ở Paris và đi đến các nước để chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước đó. Quá trình đó, Đại sứ ta luôn tranh thủ vận động họ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những hoạt động đó đã đạt kết quả tốt đối với một số nước như Bê Nanh, Công Gô, Angola,… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu. Đối với một số nước khác mặc dù chưa có kết quả ngay do điều kiện của họ, nhưng hầu hết đều đã bày tỏ tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với nước Mađagatca có câu chuyện khá thú vị như sau: Nhân dịp ông Ratsiraca Ngoại trưởng nước Mađagatca (sau này trở thành Tổng thống Mađagatca) có chuyến công tác qua Paris, đồng chí Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp xin gặp và đặt vấn đề Mađagatca công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cách nói thân thiết của một người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Võ Văn Sung hỏi lý do vì sao? Ông Ratsiraca trả lời “vì Mađagatca đã có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn”1. Ông Ngoại trưởng còn khẳng định: “Đối với chúng tôi thì nước Việt Nam là một, chỉ có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của “Bác Hồ”2. Vì vậy, “nếu công nhận bất kỳ một chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước Việt Nam là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”3. Đồng chí Võ Văn Sung giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát,… Thấy ông Ratsiraca còn phân vân, đồng chí Võ Văn Sung đã phải nói rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi Việt Nam tái thống nhất thì vẫn phải là hai”4. Khi hiểu ra vấn đề, ông Ratsiraca hứa sẽ báo cáo về Chính phủ. Hơn một tuần sau đó, Đại sứ quán Mađagatca ở Paris báo cho Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp biết là Mađagatca đồng ý công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.

TS Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

——————————

1,2. Võ Văn Sung (2005), Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nxb QĐND, tr.88.
3, 4. SĐD, tr.88-89.

Người tung cờ đỏ sao vàng ở Nhà hát Lớn

QĐND Online – Ngưỡng mộ tên tuổi ông đã lâu, nhưng chỉ đến khi ông nghỉ hưu ở Đài Tiếng nói Việt Nam, về lập ra tờ tạp chí Việt Nam Hương Sắc, tôi mới có vinh hạnh được gặp Nhà báo Trần Lâm; nhất là khi ông bàn giao hẳn công việc cùng chức danh Tổng biên tập cho người khác, thời gian gần gũi ông càng nhiều hơn. Mỗi khi có một thông tin mới, một bài viết hay, tôi đều chạy ngay tới ông, thong thả đọc từng câu viết và lắng nghe ông chỉnh cho từng chữ:

– Lại văn rồi. Chỉ đọc đến chữ ấy thôi. Viết báo cần ngắn gọn, xúc tích, dễ đọc, dễ hiểu, chứ dài dòng làm gì.

– Thế hả bác? Tôi lần nào cũng vậy.

Nhà báo Trần Lâm chậc lưỡi, kéo dài chữ ở cuối câu:

– Ấy thế, chứ còn gì nữa …

Cuộc gặp gỡ trao đổi chỉ có vậy. Nhưng, tùy theo tính chất bài viết của tôi có tác dụng tới đâu trong dư luận mà Nhà báo Trần Lâm đã cử phóng viên khác, làm những công việc tương tự như tôi, bảo vệ tôi, bảo vệ tiếng nói của chính nghĩa. Mãi sau này, khi mọi việc đã êm, ông chỉ cho tôi có bài báo đăng ở báo nọ, báo kia. Tôi mới chợt hiểu và reo lên:

– A! Bác làm như vậy là để bảo vệ cháu. Đúng không bác?

Nhà báo Trần Lâm gật đầu. Tôi xúc động. Trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng này, hoạt động đơn phương độc mã của người viết báo thường gặp nguy hiểm, nếu không có những tấm lòng hiệp nghĩa như của Nhà báo Trần Lâm. Từ ngày bị thương cổ xương đùi, ông ít đi lại, chỉ ngồi nghe và viết. Ông ghi nhận xét hàng ngày cho Đài truyền hình Trung ương, viết báo, làm cố vấn cho một số tờ báo. Ông thường bảo: – Cái đầu con người ta phải như cái dao của ông thợ cạo, càng mài bao nhiêu càng sắc, không đọc, không viết tự nó cùn đi…

Mít tinh tổng khởi nghĩa ở Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội 8-1945. Ảnh tư liệu.

Chưa đến chương trình thời sự, ông hay kể cho tôi về thời kỳ hoạt động sôi nổi. Mái tóc dài trắng như cước của bác gái vừa búi gọn ghẽ sau gáy, bác mỉm cười nhắc bác trai đến giờ uống thuốc. Nét đẹp trời phú, dịu dàng của người con gái Hàng Đào với nước da trắng, mắt bồ câu long lanh, sống mũi dọc dừa trên gương mặt tròn ấy, đã hút hồn chàng sinh viên trường Luật Đông Dương năm nào.

– Tôi là con nhà nghèo, có mỗi đôi guốc mộc đi vẹt cả gót. May “trồng cây si” bảy năm, được ông cụ thương học trò nghèo, có chí, gả con gái cho! Tôi có được bà ấy như có cô tiên trong nhà. – Nhà báo Trần Lâm nhìn bác gái cười khà khà.

– Ở Đài, có phát thanh viên Vân Yến là ai, bác nhỉ? – Tôi hỏi.

– Tên bà ấy đấy. Khi đọc phát thanh, bà ấy lấy tên Vân Yến. – Ông nói.

– Dạo ấy, ở Đài ít người, chỉ có chị Dương Thị Ngân và bác đọc phát thanh. Ít lâu, chị Ngân chuyển sang biên tập tin bài, giỏi lắm. Bác đọc nhiều quá, đến năm 1961 bị chùng thanh đới, không nói được mới thôi, phải điều trị mất hai năm ở bệnh viện Việt Xô cơ mà. Tính chưa đủ hai mươi năm nên không được phong nghệ sĩ ưu tú. – Bác gái quay sang tôi, tiếng nói vẫn trong trẻo. – Sau bác làm ở văn phòng. Bác đánh máy tiếng Anh, tiếng Pháp nhanh lắm …

Tôi rót nước dâng trà hai bác:

– Bác ơi, bác kể chuyện hồi còn sinh viên trường Luật tung cờ ở Nhà hát Lớn đi bác.

Mái tóc muối tiêu cắt ngắn của ông nghiêng hẳn sang phía tôi, đôi mắt to sáng lên hào khí cả một thời sôi nổi:

– Năm 1944, tôi học ở trường Luật, dạy thêm ở trường Gia Long và tích cực tham gia phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ do cụ Nguyễn Văn Tố (Viện trưởng Viện Khảo cổ học) làm Chủ tịch. Nhờ sớm tiếp cận với Việt Minh, nên cuối năm bốn tư, tôi gia nhập Đội Tuyên truyền xung phong nội thành Hà Nội, một tổ chức của Đảng Dân chủ Việt Nam (ông Dương Đức Hiền làm Bí thư). Tôi vừa học hết chương trình của đại học Luật thì nổ ra sự kiện “Nhật đảo chính Pháp” (9/3/1945). Người Nhật gọi sinh viên trường Luật chúng tôi, tập trung học khẩn trương hai tháng, đào tạo thành quan tri huyện mới của Nhật, thay thế cho lớp tri huyện cũ của Pháp. Tất cả anh chị em sinh viên trường Luật khóa tôi đều tẩy chay hết. Đội tuyên truyền xung phong của tôi hoạt động ngày càng mạnh và có hiệu quả trên địa bàn Hà Nội. Chúng tôi bí mật nghe đài nước ngoài, chọn lọc tin tức, viết thành tài liệu, viết khẩu hiệu, biểu ngữ, rải truyền đơn khắp Hà Nội, ủng hộ Việt Minh. Tôi khoái nhất là đột nhập nhà hát, rạp xinê cắt cầu dao điện, lên diễn thuyết vài ba phút, căng khẩu hiệu rồi nhanh chóng rút ra cửa sau.

Ngày 17/8/1945, tổ tuyên truyền xung phong của chúng tôi được phân công hai việc: Một là, treo lá cờ đỏ sao vàng cực lớn (6m x 8m = 48 mét vuông, do chị Lê Thị Tý là vợ anh Nguyễn Dực may) từ thành cửa sổ khoang giữa tầng hai trải phủ xuống khoang giữa cửa ra vào Nhà hát Lớn, ngay trên đầu ban tổ chức mít tinh của Tổng hội viên chức chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Hai là: chiếm diễn đàn đọc lời hiệu triệu của Việt Minh.

Việc thứ nhất, do tôi và anh Nam thực hiện. Cuộc mít tinh bắt đầu, tôi giấu lá cờ, giả làm thợ điện đi lên tầng hai. Khi tới ban công, tôi tung lá cờ đỏ sao vàng lên. Anh Nam giúp tôi một tay buộc vào lan can. Lá cờ đỏ sao vàng to rộng, sáng chói nổi bật trên cao, làm đảo lộn tình thế.

Việc thứ hai, do chị Nguyễn Khoa Diệu Hồng và anh Ngô Quang Châu thực hiện. Cả hai việc, chúng tôi đều hoàn thành xuất sắc. Sau chị Diệu Hồng còn có một đại biểu của Phụ nữ Cứu quốc Hà Nội nhảy lên diễn đàn hô hào nhân dân ủng hộ Việt Minh! Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim! Cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh, chuyển thành cuộc diễu hành của hàng vạn người từ Quảng trường Nhà hát Lớn qua Tràng Tiền, Bờ Hồ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Phan Đình Phùng (lúc ấy có tên là Carnot), qua dinh Toàn quyền (lúc ấy là Tổng hành dinh quân Nhật), vòng về Cửa Nam rồi chia ra nhiều ngả …

Đỉnh cao của lòng dân khát khao độc lập tự do là ngày 19/8/1945! Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội. Giành được chính quyền về tay nhân dân. Đây là những ngày sôi động nhất của cuộc đời tôi. Những ngày tràn đầy sự kiện ấy, khi tổ chức giao việc là làm ngay, làm hối hả, làm đến nơi đến chốn. Một lời nói của người chỉ huy, một bàn tay ấm nóng vỗ vai với nụ cười tin cậy là mệnh lệnh, là quyết định hành động.

Hà Nội, 8/2011

Trần Minh Thu – (Để tưởng nhớ anh linh Nhà báo Trần Lâm)
qdnd.vn

Thư từ Ấn Độ (17-3-1928)

Trước khi Uỷ ban Ximông (1) tới, Chính phủ ấn Độ đã cho ban hành điều 144 của Hình luật, cấm những cuộc biểu tình hay rước xách, phân phát truyền đơn, dán áp phích nhằm tổ chức lễ Háctan (tổng bãi công và quốc tang) và tẩy chay Uỷ ban.

Về phần mình, các ông hiệu trưởng đã báo rằng, mọi sinh viên vắng mặt tại trường trong thời gian lễ Háctan đều bị nghiêm trị.

Tất cả các lực lượng quân sự và cảnh sát đều được huy động; có những kẻ chuyên khiêu khích đã được cử đi khắp nơi để ca ngợi Uỷ ban và phỉ báng Háctan.

Để đáp lại những hành động khiêu khích đó, “Đại hội toàn ấn” 2 kêu gọi các sinh viên và công chức hãy bỏ trường và bàn giấy, các thợ thuyền hãy đình công, các khách sạn, quán cơm, nhà hát, rạp chiếu bóng hãy đóng cửa, tất cả các công dân hãy đến dự lễ Háctan với lá cờ đen và treo quốc kỳ ở khắp mọi nhà.

Không những các tổ chức tiến bộ mà cả những tổ chức của tư sản như các hội bảo hiểm, các phường thương nhân, các phòng thương mại, v.v. đều đáp lại lời kêu gọi này.

Phụ nữ Mađrat hội họp ở Gokhale và ra một lời kêu gọi, kết thúc bằng câu: “… Ta phải tỏ cho thế giới biết rằng cả nước một lòng, chỉ có một nền độc lập hoàn toàn mới thoả mãn được dân tộc”.

Ngày 3 tháng 2, khi các thành viên của Uỷ ban lên bờ, họ được đông đảo dân chúng mang cờ đen đón tiếp và những bǎng vải đỏ với các dòng chữ “Hoan nghênh khách đến”, “Ximông cút đi”, “Đả đảo đế quốc Anh!”, v.v..

Trong thành phố, giao thông bị đình trệ hoàn toàn, thợ thuyền bỏ nhà máy biểu tình trên các đường phố. Họ tập trung tại đại lộ Phôrát thành một cuộc mít tinh khổng lồ, đốt hình nộm của Bandin, Ximông và Mắcđônan 1 .

Dù các ông hiệu trưởng có đe dọa đi nữa thì l0.000 sinh viên cũng vẫn tham gia biểu tình. Cảnh sát bắt tay vào hoạt động. Hơn 80 người bị thương, trong đó nhiều người bị thương nặng, và độ một trǎm người biểu tình bị bắt.

ở Bombay, Mađrat, Amêđabat, v.v., tất cả các công sở đều đóng cửa, mọi việc đều bị dừng lại. Tại những trung tâm lớn có những cuộc mít tinh đông đến 50.000 người. Nhiều tốp lính và cảnh sát vũ trang canh gác những địa điểm chiến lược trong các thành phố, ô tô bọc thép tuần tiễu trên đường phố. ở Mađrat, cảnh sát nổ súng vào những người biểu tình, hai người chết và bị thương độ 20 người.

Các quan toà tại Toà án Mađrat buộc phải đình các phiên xử. Ông cố vấn của Chính phủ đang đi chơi bằng ô tô bị giữ lại, xe của ông ta bị lật và đốt cháy.

Chưa bao giờ – ngay cả trong thời kỳ mà phong trào bất hợp tác theo chủ trương của Gǎngđi lên tới tột đỉnh – tinh thần của đất nước sôi động đến mức đó. Nữ tiến sĩ Bidan, một cụ bà bảy mươi tuổi người Anh, trở thành một người dân tộc chủ nghĩa ấn Độ đầy

nhiệt tình, rất tích cực trong phong trào dân tộc và được nhân dân ấn Độ rất yêu mến, đã đưa ra lời kêu gọi vang dội: “Hỡi những người con của ấn Độ! Hãy đứng lên và đoàn kết lại! Tổ quốc cần đến tất cả các người!”.

Phong trào sôi động đó đã buộc Ximông và những đồng sự của y trong Công Đảng phải lùi bước. Ngay khi tới, Chủ tịch Uỷ ban đã công bố là đồng ý cho phép có một “Joint Free Conference” (Hội nghị tự do của đông đảo quần chúng). Nhưng các lãnh tụ ấn Độ cương quyết đáp lại: “Chúng tôi chẳng liên quan gì với Uỷ ban Ximông, dù ở thời kỳ nào và dưới hình thức nào”. Mặt khác, ông Kale, thành viên của Hội đồng Lập pháp Bombay, đã đưa một kiến nghị nhắn ông Thống đốc báo với Chính phủ Anh rằng: “Hội đồng chẳng có một chút tín nhiệm nào đối với Uỷ ban Ximông… và cũng chẳng muốn liên quan gì với Uỷ ban…”.

Trong một cuộc mít tinh lớn, ông tổng thư ký Uỷ ban tỉnh Bombay của Đại hội toàn ấn đề nghị một chương trình hoạt động:

a) Tẩy chay hàng hoá;

b) Tổ chức thanh niên trong nước;

c) Từ chối trả thêm thuế đất;

d) Tổ chức quân đội của nhân dân và các binh đoàn tình nguyện;

e) Nếu có chiến tranh, không cho nước Anh một người, một xu!

WANG

———————————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 28, ngày 17-3-1928
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí trong Quốc tế cộng sản (12-4-1928)

Đồng chí thân mến,

Tôi gửi cho đồng chí một bản sao bức thư tôi gửi cho Ban phương Đông để đồng chí được biết. Đồng thời tôi rất cảm ơn về việc đồng chí quan tâm đến vấn đề của tôi và nhanh chóng trả lời tôi. Đồng chí có thể hình dung nổi tôi đang sống trong một tình trạng tinh thần và vật chất như thế nào không: biết là có nhiều công việc nhưng không thể làm gì được, ǎn không ngồi rồi, không có tiền, sống ngày nào hay ngày ấy mà không được phép hoạt động, v.v..

Ngay cả khi những sự vận động của đồng chí không có kết quả, đồng chí cũng viết cho tôi một chữ gửi Uỷ ban Trung ương KPD (1) để tôi liệu quyết định. Hôm nay là ngày 12-4, tôi hy vọng nhận được tin tức của đồng chí vào ngày 24 tới. Tôi tin cậy ở đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

NGUYỄN ÁI QUỐC
12-4-1928

———————

Thư đánh máy bằng tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn