Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách mệnh Pháp

l. Vì sao Pháp có phong triều cách mệnh?

Hồi thế kỷ thứ 18, vua thì kiêu xa dâm dật, quý tộc và bọn cố đạo thì hoành hành; thuế nặng dịch phiền, dân tình khốn khổ.

Phần thì Canađa và ấn Độ, nguyên là thuộc địa Pháp, nay bị Anh vơ mất.

Phần thì những người học thức như ông Môngtexkiơ (1755), Vônte và Rutxô (1778) tuyên truyền chủ nghĩa tự do bình đẳng 52 .

Phần thì phong triều cách mệnh Anh (ông Krômven chém vua Anh và lập cộng hoà chính phủ nǎm 1653) còn mới, và phong triều dân chủ Mỹ (1776) vừa qua.

Nhất là vì tư bản mới bị tụi phong kiến ngǎn trở, dân thì bị vua, quý tộc và cố đạo áp bức. Vậy nên tư bản mới liên hiệp với học trò, dân cày và người thợ để phá phong kiến.

2. Cách mệnh Pháp khởi từ bao giờ? 53

Vua thấy dân chộn rộn, thì bắt bớ những người tuyên truyên và tổ chức. Dân thấy vậy thì tức quá, đến ngày 14 tháng 7 nǎm 1789 kéo nhau đến phá khám lớn (Baxti) 54 . Vua đem lính về giữ kinh đô; dân lại tổ chức cách mệnh đội để phòng chống lại. Vua lui ra ở tại tỉnh Vécxây.

Ngày 5 tháng 10 nǎm ấy, thợ thuyền đàn bà con gái Pari kéo nhau đến Vécxây bắt vua về khai hội, và ký tờ tuyên ngôn:

l. Là bỏ chế độ phong kiến, giải phóng nông nô.

2. Là đem của các nhà thờ đạo làm của Nhà nước.

3. Là cho dân tự do làm báo, tổ chức, vân vân.

4. Là lập hiến pháp, nghĩa là vua không được chuyên quyền.

1792, vì vua cầu cứu với ngoại quốc và thông với bọn phản cách mệnh, dân mới bỏ vua mà lập ra cộng hoà.

1793, ngày 21 tháng l làm án vua và vợ con vua là phản quốc tặc 1 , rồi đem ra chém.

3. Các nước Âu châu đối với cách mệnh Pháp thế nào?

Dân các nước thì đều mừng thầm và tán thành. Nhưng vua và quý tộc các nước thì sợ dân mình bắt chước dân Pháp, cho nên bên ngoài chúng nó liên binh đánh cách mệnh mà bên trong thì giúp cho tụi phản cách mệnh.

Dân Pháp tuy lương thực ít, súng ống thiếu, nhưng chỉ nhờ gan cách mệnh mà trong dẹp nội loạn, ngoài phá cường quyền. Hồi ấy lính cách mệnh gọi là “lính không quần” 2 , người không có nón, kẻ không có giày, áo rách quần tua, mặt gầy bụng đói. Thế mà lính ấy đến đâu, thì lính ngoại quốc thua đấy, vì họ gan liều hy sinh quá, không ai chống nổi.

Thế thì biết: một người cách mệnh có gan, hơn một ngàn người vô chí.

4. Pháp cách mệnh đến mấy lần?

Nǎm 1792 đến 1804 Cộng hoà lần thứ 1. Nǎm 1804 Napôlêông phản cách mệnh lên làm hoàng đế.

Nǎm 1814 các nước đánh Napôlêông thua rồi đem dòng vua cũ lên ngôi đến 1848.

Nǎm 1848 lại cách mệnh lần thứ 2 3 .

Nǎm 1852 cháu Napôlêông lại phản cách mệnh lên làm vua.

Nǎm 1870 nhân thua Đức, Napôlêông thứ 3 bỏ chạy, Pháp lại lập lên Cộng hoà lần thứ 3.

5. Pari Công xã (Commune de Paris) là gì 55 ?

Nǎm 1871 vua Pháp thua chạy rồi, lính Đức tới vây kinh đô Pháp là Pari. Tư bản Pháp cắt 2 tỉnh cúng cho Đức để cầu hoà. Vì giặc giã mà chết nhiều người, hại nhiều của. Dân không bánh ǎn, thợ không công làm. Ngày 18 tháng 3, thợ thuyền Pari nổi lên làm cách mệnh cộng sản (Công xã).

Vì thợ thuyền còn non nớt, tổ chức không khéo, vả lại Đức giúp cho tư bản Pháp đánh lại thợ thuyền, nên cuối tháng 5 thì cách mệnh thất bại.

6. Mục đích Công xã ấy thế nào?

Khi vừa lấy được Pari rồi, thì Công xã lập lên Chính phủ dân 1 và tuyên bố rằng Công xã sẽ thực hành những việc này:

1. Bao nhiêu cơ quan sinh sản 2 riêng đều đem làm của công.

2. Tất cả trẻ con trong nước, bất kỳ con trai con gái, đều phải đi học. Học phí Nhà nước phải cho.

3. Dân có quyền tự do tổ chức, làm báo, khai hội, xuất dương, v.v..

4. Bất kỳ đàn ông đàn bà, ai cũng được quyền chính trị, tuyển cử và ứng cử.

5. Chính phủ tự dân cử lên, và dân có quyền thay đổi Chính phủ.

7. Kết quả Công xã ra thế nào?

Tư bản Pháp khi ấy như nhà cháy 2 bên, bên thì Đức bắt chịu đầu, bên thì cách mệnh nổi trước mắt. Tư bản Pháp thề chịu nhục với Đức, chứ không chịu hoà với cách mệnh. Đức thấy cách mệnh cũng sợ, cho nên hết lòng giúp tư bản Pháp đánh lại cách mệnh. Lúc Pháp vừa hàng, thì Đức bắt bỏ hết lính, chỉ cho 40.000 culít 3 mà thôi. Khi cách mệnh nổi lên, Đức lại cho phép tư bản Pháp thêm lên 100.000 lính để dẹp cách mệnh.

Xem vậy thì hiểu rằng: “Tư bản không có Tổ quốc”.

Dẹp được cách mệnh rồi thì tư bản ra sức báo thù. Nó giết hết 30.000 người cả đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con. Nó đày 28.000 người. Nó bắt giam 650 đứa trẻ con, 850 người đàn bà, 37.000 người đàn ông.

8. Cách mệnh Pháp đối với cách mệnh An Nam thế nào?

a) Trong 3 lần cách mệnh, 1789, 1848, 1870, đều vì dân can đảm nhiều, nhưng trí thức ít, cho nên để tư bản nó lợi dụng.

b) Pari Công xã vì tổ chức không khéo và vì không liên lạc với dân cày, đến nỗi thất bại.

c) Tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân.

d) Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục 1 công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy.

9. Cách mệnh Pháp làm gương cho chúng ta về những việc gì?

Cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta:

1. Dân chúng công nông là gốc cách mệnh, tư bản là hoạt đầu 2 , khi nó không lợi dụng được dân chúng nữa, thì nó phản cách mệnh.

2. Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới thành công.

3. Đàn bà trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều.

4. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại.

5. Cách mệnh Pháp hy sinh rất nhiều người mà không sợ; ta muốn làm cách mệnh thì cũng không nên sợ phải hy sinh.

cpv.org.vn

—————————————

53. Cách mạng Pháp (1789-1794) là cuộc cách mạng tư sản điển hình nhất ở châu Âu. Nó đã xóa bỏ chế độ phong kiến chuyên chế – một chế độ mục nát bị nhân dân lao động và giai cấp tư sản Pháp hết sức cǎm ghét,- mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở Pháp và một số nước châu Âu. Cuộc cách mạng này có ảnh hưởng lớn đến các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu trong thế kỷ XIX. Nhưng vì là cách mạng tư sản, cho nên nó vẫn duy trì chế độ tư hữu và chế độ bóc lột. Thực chất của nó chỉ là việc đưa một nhóm người thuộc giai cấp tư sản bóc lột này vào chính quyền thay thế một nhóm người thuộc giai cấp phong kiến trước kia mà thôi. Đó chính là điều khác nhau cǎn bản giữa cách mạng tư sản với bất cứ cuộc cách mạng vô sản nào. Tr.271.

54. Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ ngày 14-7-1789 ở Pari. Sự kiện quần chúng Pari chiếm được nhà tù Baxti đánh dấu thắng lợi của cách mạng. Vua Lu-i XVI và vợ lui về Vécxây, tiếp tục cầm đầu bọn quý tộc trong nước, liên kết với các thế lực phong kiến bên ngoài để chống phá cách mạng. Vì vậy nhân dân rất cǎm phẫn và ngày 5-10-1789 đã tự động nổi dậy kéo đến cung điện Vécxây buộc vua và bè lũ phải trở về Pari để dễ kiểm soát. Tr.271.

Lịch sử cách mệnh Nga

l. Nguyên do cách mệnh Nga từ đâu ra?

Nga là một nước rất rộng, nửa nằm về châu á, nửa nằm về châu Âu. Dân Nga hơn 90 phần là dân cày, không đầy l0 phần là thợ thuyền. Khi trước theo chế độ nông nô, nghĩa là bao nhiêu đất ruộng và dân cày đều ở dưới quyền địa chủ. Địa chủ xem nông nô như súc vật, nó cho sống được sống, nó bắt chết phải chết, khi nó cần tiền, thì nó đem nông nô đi bán như bán trâu bán bò. Nông dân không được bỏ xứ này qua xứ khác.

Chừng nửa thế kỷ thứ 19, tư bản mới hơi phát đạt, nó vừa mở lò máy, nó cần người làm công, nó mới vận động bỏ chế độ nông nô để cho dân cày tới làm với nó, đến nǎm 1861, chế độ nông nô mới bỏ.

Tư bản mới và địa chủ từ đấy mới sinh hiềm khích to, mà phong triều cách mệnh công nông cũng từ đấy mọc ra.

2. Nông nô được giải phóng rồi thì làm gì?

Được giải phóng rồi, người thì ra thành phố làm công, người thì ở lại làm ruộng.

Đi làm công thì tiền công ít, giờ làm nhiều, phải làm nô lệ cho tư bản, ở lại cày thì đất ruộng ít, trâu bò thiếu, phải chịu lòn tụi phú gia 1 . Dân tiếng tự do tuy được, kỳ thực cứ kiếp nô lệ: người thợ thì cực khổ, dân cày cũng chẳng sướng hơn.

Những người có lòng cách mệnh thì lập ra đảng để liên hiệp dân cày lại, nhưng mà không chú ý đến thợ thuyền.

Nǎm 1875 mới có đảng cách mệnh gọi là “Công nhân giải phóng”. Nǎm 1878 lại có một đảng mới gọi là “Công đảng”.

Nhưng hai đảng ấy người ít sức hèn, lại bị Chính phủ bắt bớ nhiều, sau hoá ra đảng kịch liệt, chỉ lo đi ám sát vua và các quan.

3. Kết quả hai đảng ấy ra thế nào?

ám sát là làm liều, và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết? Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2,3 anh vua, 9,10 anh quan mà được. Hai đảng ấy tuy hy sinh hết nhiều người, làm được nhiều sự ám sát oanh liệt, nhưng vì đi sai đường cách mệnh, không có sức dân chúng làm nền, cho nên bị Chính phủ trị mãi đến nỗi tan.

Nǎm 1883, ông Plêkhanốp lập nên đảng “Lao động tự do” 56 . Đảng này tổ chức theo cách ông Mã Khắc Tư 1 dạy, nghĩa là liên hiệp cả dân cày và thợ thuyền làm cả kinh tế và chính trị cách mệnh.

4. Đảng này làm việc cách mệnh thế nào?

Đảng này lấy thợ thuyền làm cốt cách mệnh, và dân cày phụ vào.

Làm việc rất bí mật.

ở Nga, ma tà, mật thám nhiều quá, nên cơ quan Đảng phải lập ở ngoại quốc (Luân Đôn).

Nǎm 1894, ông Lênin vào Đảng 2 .

Nǎm 1898, Đảng khai hội một lần trong nước 57 , chẳng may Chính phủ dò ra, bắt hết nhiều đảng viên. Tuy đảng viên bị bắt, nhưng lời tuyên ngôn của Đảng đã truyền khắp cả nước, cho nên phong triều cách mệnh càng ngày càng cao. Những người chưa bị bắt thì hết sức bí mật tuyên truyền và tổ chức.

ít lâu đổi tên là “Xã hội dân chủ đảng”, sau lại đổi tên ra “Cộng sản đảng”.

Nǎm 1904-1905, Nga với Nhật đánh nhau, nhân lúc dân tình xục rục, Đảng ra sức vận động cách mệnh.

5. Sao mà biết dân tình xục rục mà vận động?

a) Trước khi đánh Nhật, vua phỉnh tư bản xuất tiền, lừa họ rằng đánh được thì kinh tế sẽ phát đạt, và tư bản sẽ được lợi to. Sau đánh thua thì tư bản mất tiền nhiều mà chẳng được gì, cho nên oán vua.

b) Thợ thuyền ghét vua đã sẵn nay vì đánh thua lại bị áp bức thêm, lại thêm ghét vua.

c) Dân cày ghét vua xưa nay, bây giờ đi lính chết chóc nhiều, vả lại thuế má nặng thêm, lòng ghét vua cũng càng ngày càng to.

Ba hạng ấy mục đích tuy khác nhau, nhưng lòng ghét vua thì như nhau. Đảng biết vậy thì vận động cách mệnh đuổi vua.

6. Lúc bấy giờ vua xử trí thế nào?

Vua biết thợ thuyền là hǎng hái cách mệnh nhất, thì đặt cách làm cho tư bản, dân cày và thợ thuyền rời nhau. Nó xúi một người cố đạo ra tổ chức công hội, một là để lung lạc thợ thuyền, hai là để dò ai hǎng hái thì bắt.

Ngày 9 tháng 1 nǎm 1905 58 , anh cố đạo ấy (tên là Gapông) đem thợ thuyền đến chỗ vua ở thỉnh nguyện. Vì anh ta quên báo trước, và vì vua thấy đông người thì sợ bạo động, nên sai lính ra dẹp, bắn chết mất nhiều người. Gapông bỏ chạy ra ngoại quốc. Thợ thuyền các tỉnh nghe tin ấy thì bãi công và bạo động, lập ra công nhân hội nghị.

Cách mệnh chống nhau với vua và Chính phủ từ tháng 1 đến tháng 10. Vua một đường thì dùng lính dẹp cách mệnh, một đường thì giả tuyên bố lập ra nghị viện cho đại biểu dân bàn việc nước.

7. Vì sao cách mệnh 1905 thua?

1. Vì khi đầu tư bản muốn lợi dụng thợ thuyền đập đổ vua; sau nó thấy thợ thuyền hǎng hái quá, nó sợ đập vua rồi lại đập cả nó, cho nên nó phản thợ thuyền mà giúp cho vua.

2. Vì thợ thuyền với dân cày không nhất trí. Khi thợ thuyền nổi lên thì dân cày không theo ngay. Thợ thuyền thua rồi, dân cày mới nổi lên, để cho vua nó trị thợ thuyền rồi nó trở qua trị dân cày.

3. Thợ thuyền chưa có kinh nghiệm nhiều, và tổ chức chưa hoàn toàn.

4. Chưa vận động lính và súng ống khí giới của dân ít quá.

8. Cách mệnh 1905 thất bại, thợ thuyền và Đảng có ngã lòng không?

Không. Trải qua lần thất bại ấy, Đảng nghiên cứu lại, phê bình lại, sai lầm ở đâu, vì sao mà thất bại? Biết rõ ràng những chỗ khuyết điểm mà sửa sang lại. Cũng như rèn một con dao, thử cắt mới biết chỗ nào sắc, chỗ nào cùn; sau cứ theo chỗ cùn mà mài, con dao mới tốt.

Nhờ chuyến thất bại 1905, thợ thuyền mới hiểu rằng: một là phải tổ chức vững vàng, hai là phải liên lạc với dân cày, ba là phải vận động lính, bốn là không tin được tụi đề huề 1 , nǎm là biết tư bản và vua cùng là một tụi, muốn đuổi vua thì phải đuổi cả tư bản.

Cách mệnh 1905 thất bại làm gương cho cách mệnh 1917 thành công.

9. Lịch sử cách mệnh 1917 thế nào?

Cách mệnh 1917 có mấy cớ sau này:

l. Khi Âu chiến 2 , đế quốc chủ nghĩa Anh và Pháp lợi dụng vua Nga đánh lại Đức. Nhưng vua Nga lôi thôi, tiêu hết nhiều tiền, chết hết nhiều lính, tất bị Đức đánh thua mãi. Các đế quốc chủ nghĩa ấy giận và giúp cho tư bản đẩy vua đi.

2. Tư bản giận vua chỉ tín dụng 3 bọn quý tộc cầm binh quyền, bọn quý tộc lại vô tài, đánh đâu thua đó. Vả tư bản bên Nga phần nhiều là chung với tư bản Anh và Pháp; nếu Nga thua Đức, thì chẳng những tư bản Nga, mà tư bản Anh và Pháp cũng nguy; và nếu cứ để vua thì chắc thua. Vậy nên tư bản cũng muốn đẩy vua.

3. Thợ thuyền và dân cày đối với vua như đối với thù địch đã đành.

4. Bọn hoạt đầu 59 nhân cơ hội ấy, thì lợi dụng 2 bọn này đuổi vua cho tư bản Nga và đế quốc chủ nghĩa Anh và Pháp. Tư bản và đế quốc chủ nghĩa lại lợi dụng bọn hoạt đầu.

10. Bọn hoạt đầu làm thế nào?

Nhân dịp lính chết nhiều, dân gian đói khổ, thợ thuyền thất nghiệp, Chính phủ lôi thôi; bọn hoạt đầu xúi dân rằng bây giờ cách mệnh đuổi vua đi, thì ruộng đất sẽ về dân cày, công xưởng sẽ về người thợ, nhân dân sẽ được quyền Chính phủ 1 , chiến tranh sẽ hoá ra hoà bình.

Chẳng ngờ lúc tháng 2 đuổi vua đi rồi, tụi hoạt đầu và tụi tư bản lên cầm chính quyền, bao nhiêu lời nguyền ước chúng nó quên hết. Chúng nó cứ bắt lính đi đánh; ruộng đất cứ ở tay địa chủ, lò máy cứ ở tay nhà giàu; công nông cũng không được dự vào Chính phủ.

11. Sao Đảng Cộng sản không ra tay làm?

Khi cách mệnh đuổi vua, Đảng Cộng sản vẫn đứng đầu dân chúng. Nhưng lúc ấy đảng viên hẵng còn ít, và hoàn cảnh chưa đến, nên chưa giựt lấy chính quyền 60 .

Cách mệnh xong lúc tháng 2. Từ tháng 2 đến tháng 4, dân nhiều người còn tưởng rằng Chính phủ mới chưa kịp thi hành những việc lợi dân, vì chưa có thì giờ.

Đến tháng 4 thì ông Lênin và nhiều đồng chí ở ngoại quốc về. Từ tháng 4 đến tháng 11, Chính phủ mới thì mỗi ngày mỗi lộ mặt phản cách mệnh ra. Còn đảng viên cộng sản phần thì đi tuyên truyền cho dân rằng: “Đấy, các anh xem đấy, tụi hoạt đầu là thầy tớ của tư bản và đế quốc chủ nghĩa, chúng nó chẳng hơn gì vua…”, làm cho ai cũng oán Chính phủ mới, phần thì lòn vào nông, công, binh, tổ chức bí mật để thực hành cộng sản cách mệnh.

12. Cộng sản cách mệnh thành công bao giờ?

Cuối tháng 10, đâu cũng có tổ chức cả rồi, ai cũng muốn cử sự. Nhưng ông Lênin bảo: “Khoan đã! Chờ ít bữa nữa cho ai ai cũng phản đối Chính phủ, lúc ấy sẽ cử sự”. Đến ngày 5 tháng 11, chính phủ khai hội để ban bố phép luật 1 mới, mà phép luật ấy thì lợi cho tư bản mà hại cho công, nông. Ông Lênin nói với đảng viên rằng: Mồng 6 cử sự thì sớm quá, vì dân chưa biết hết luật lệ xấu ấy, mà chưa biết luật lệ ấy thì chưa ghét Chính phủ lắm. Mồng 8 cử sự thì muộn quá vì khi ấy thì Chính phủ đã biết rằng dân oán và đã phòng bị nghiêm nhặt rồi.

Quả nhiên ngày mồng 7 Đảng Cộng sản hạ lịnh cách mệnh, thì thợ thuyền ào đến vây Chính phủ, dân cày ào đến đuổi địa chủ. Chính phủ phái lính ra dẹp, thì lính ùa theo thợ thuyền mà trở lại đánh Chính phủ.

Từ bữa ấy, Chính phủ hoạt đầu bỏ chạy, Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng 2 .

13. Cách mệnh Nga đối với cách mệnh An Nam thế nào?

Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi 3 , nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa 4 làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới.

Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng 5 (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin.

cpv.org.vn

————————–

56. Nǎm 1883, Plêkhanốp thành lập nhóm Giải phóng lao động – nhóm mácxít đầu tiên ở Nga. Nhóm này đã tiến hành một công tác rộng lớn chống chủ nghĩa dân tuý và truyền bá chủ nghĩa Mác ở nước Nga. Nhưng nhóm Giải phóng lao động lại mắc phải một số sai lầm nghiêm trọng như còn mang những tàn tích của quan điểm dân tuý, đánh giá thấp tinh thần cách mạng của nông dân, đánh giá quá cao vai trò của giai cấp tư sản tự do. Những sai lầm đó là mầm mống của các quan điểm mensêvích về sau này của Plêkhanốp và của các thành viên khác trong nhóm. Hoạt động của nhóm Giải phóng lao động đã có tác dụng trong việc hình thành ý thức cách mạng của giai cấp công nhân Nga, mặc dù trong thực tiễn, nhóm đó không liên hệ với phong trào công nhân. Lênin đã chỉ rõ, nhóm Giải phóng lao động chỉ mới đặt cơ sở lý luận cho Đảng Công nhân xã hội – dân chủ và tiến một bước đầu để xích lại với phong trào công nhân. Tại Đại hội II của Đảng Công nhân xã hội – dân chủ Nga (tháng 8- 1903), nhóm Giải phóng lao động tuyên bố giải tán. Tr.276.

57. Nǎm 1898, đại biểu của Liên minh chiến đấu giải phóng giai cấp công nhân ở các tỉnh và thành phố của Nga đã họp tại Minxcơ để thành lập Đảng Công nhân xã hội – dân chủ Nga, Lênin không dự được vì đang bị đầy ở Xibia. Đại hội ra bản tuyên ngôn của Đảng nêu rõ: Giai cấp vô sản Nga sẽ lật đổ ách chuyên chế để rồi lại tiếp tục đấu tranh, với nhiều nghị lực hơn, chống chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản cho đến khi chủ nghĩa xã hội thắng lợi hoàn toàn. Ngay sau đó, các đại biểu đều bị bắt nên trên thực tế, Đảng chưa hoạt động được. Nǎm 1903, Đảng họp Đại hội lần thứ hai. Trên thực tế đến Đại hội này, Đảng Công nhân xã hội – dân chủ Nga mới thực sự trở thành chính đảng của giai cấp công nhân Nga. Đại hội đã thông qua cương lĩnh, điều lệ và bầu ra cơ quan trung ương của Đảng. Tr.276.

58. Ngày 9-1-1905, cuộc cách mạng dân chủ tư sản lần thứ nhất ở Nga bùng nổ. Trước sự bất mãn ngày càng tǎng của công nhân, tên thầy tu tay sai của cảnh sát là Gapông dụ dỗ công nhân tiến hành một cuộc biểu tình hoà bình, mang cờ xí của nhà thờ và rước ảnh nhà vua đến cung điện Mùa Đông, đệ đơn thỉnh nguyện xin cải thiện đời sống. Mặt khác, Gapông giúp bọn cảnh sát của Nga hoàng bố phòng cẩn mật để tiêu diệt công nhân. Nắm được âm mưu đó, những người bônsêvích ra sức khuyên công nhân không tham gia cuộc biểu tình. Nhưng lúc này, phần lớn công nhân còn tin vào Sa hoàng, nên cuộc biểu tình vẫn diễn ra theo kế hoạch. Khi họ vừa xuất hiện ở quảng trường Cung điện Mùa Đông thì Sa hoàng hạ lệnh xả súng bắn giết họ. Trên một nghìn người chết và hơn nǎm nghìn người bị thương. Ngày này được gọi là Ngày chủ nhật đẫm máu. Bộ mặt thật của Chính phủ Nga hoàng đã lộ rõ. Nhân dân cǎm phẫn nổi dậy đấu tranh, nêu cao khẩu hiệu đả đảo chế độ chuyên chế!, mở đầu cuộc cách mạng tư sản dân chủ Nga 1905-1907. Tr.277.

59. Bọn cơ hội chủ nghĩa, tự nhận là cách mạng nhưng không tuân theo nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin, thoả hiệp với tư sản và phong kiến. Chúng lợi dụng cuộc cách mạng Nga tháng 2-1917 để nắm chính quyền, lập chính phủ lâm thời, tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, không chịu giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, truy lùng Lênin và những người bônsêvích, đàn áp đẫm máu các cuộc bãi công và biểu tình của công nhân. Tr.279.

60. Đoạn này tác giả nói về thời cơ khởi nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga nǎm 1917. Giữa lúc Chính phủ lâm thời ở Nga đang bị khủng hoảng nghiêm trọng, Đảng đã ra nghị quyết về khởi nghĩa vũ trang và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa đó. Bọn cơ hội chủ nghĩa ở trong Đảng đã phản bội, tiết lộ cho kẻ thù biết kế hoạch khởi nghĩa. Chính phủ lâm thời quyết định tấn công trước vào lực lượng cách mạng. Ngày 6-11 chúng ra lệnh đóng cửa toà báo Con đường của công nhân. Các đội Cận vệ đỏ chiến đấu bảo vệ toà báo và đến trưa hôm đó, tờ báo đã ra lời kêu gọi khởi nghĩa, lật đổ Chính phủ lâm thời. Đêm 6-11 (tức ngày 24 tháng Mười, lịch Nga), Lênin đến điện Smônnưi trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa. Người đã chỉ thị về thời cơ cách mạng Nga như sau: Vô luận bằng cách nào cũng không được để chính quyền nằm trong tay Kêrenxki và bè lũ đến ngày 25, việc đó tuyệt đối phải quyết định ngay chiều hôm nay hay đêm nay. Lịch sử sẽ không tha thứ những người cách mạng hôm nay có thể chiến thắng (và nhất định sẽ thắng lợi hôm nay), mà lại chậm trễ vì đợi đến ngày mai, không khéo họ lại bị mất hết cả. Ngày 7-11, cuộc khởi nghĩa thắng lợi ở Pêtơrôgrát, đánh dấu thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. Tr.279.

Quốc tế

l. Quốc tế là gì?

Quốc tế nghĩa là người trong thế giới, bất kỳ nước nào, dân tộc nào, có một mục đích như nhau, hợp sức nhau để làm cho đến mục đích ấy. Như các đế quốc chủ nghĩa liên lạc nhau, để đè nén các dân hèn yếu (Pháp liên lạc Tây Ban Nha để đánh lấy An Nam, liên lạc Nhật để giữ An Nam, v.v.), các tư bản liên lạc nhau để tước bác 1 thợ thuyền (tư bản Anh, Mỹ, Pháp liên lạc tư bản Đức để tước lục thợ thuyền Đức). Thợ thuyền các nước liên lạc nhau để chống lại tư bản (như Hội công nhân quốc tế). Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như Đệ tam quốc tế).

2. Đệ tam quốc tế là gì?

Muốn biết Đệ tam 2 quốc tế là gì thì trước phải biết Đệ nhất 3 và Đệ nhị 4 quốc tế đã.

Từ thế kỷ thứ 18 trở xuống, tư bản phát đạt rất thịnh, áp bức thợ thuyền rất nghiệt. Thợ thuyền bị áp bức thì tính cách phản đối, như tổ chức công hội, bãi công bạo động. Nhưng hầu hết tỉnh nào biết tỉnh nấy, nước nào biết nước nấy mà thôi, cho nên sức không mạnh lắm.

Nǎm 1840, thợ thuyền Đức lập ra một hội tên là Nhân quyền hội 6 . Khẩu hiệu hội ấy là “Trong thế giới ai cũng là anh em”. Khẩu hiệu ấy tuy rất hay, nhưng không đúng; vì bọn tư bản đế quốc chủ nghĩa và phản cách mệnh là thù địch dân, gọi chúng là anh em sao được?

Nǎm 1847, hội ấy sửa lại gọi là:”Toàn thế giới vô sản giai cấp liên hợp hội” – ông Mã Khắc Tư và Ǎngghen vào hội ấy. Nhờ hai ông ấy sửa chương trình lại, và khẩu hiệu hội là: Đập đổ tư bản chủ nghĩa – thợ thuyền giành lấy chính quyền – làm cho thế giới đại đồng.

3. Hai hội ấy có phải Đệ nhất và Đệ nhị quốc tế không ?

Không phải. Trong hai hội tuy là có thợ thuyền Đức và Pháp vào, nhưng hội viên có ít, sức lực còn yếu chưa làm được gì. Chẳng qua là biểu hiện rằng thợ thuyền các nước phải giúp đỡ lẫn nhau và bắc cầu cho Đệ nhất quốc tế đi.

Nǎm 1862 ở kinh đô Anh (Luân Đôn) mở hội đấu xảo; tư bản các nước phái công nhân qua xem xét các máy móc. Công nhân lại gặp những người cách mệnh Nga, Đức, Pháp và các nước khác trốn ở đấy. Hai bên bàn bạc lập một hội cách mệnh thế giới.

Nǎm 1864, (ngày 28 tháng 2) mới lập thành Đệ nhất quốc tế.

4. Đệ nhất quốc tế làm được những việc gì?

Hội ấy tuy có nhiều người cầm đầu thợ thuyền các nước vào, nhưng vì:

1. Người còn ít,

2. Các công hội trong các nước còn yếu,

3. Không thống nhất cho nên chỉ tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản mà chưa làm được việc gì lớn.

Không thống nhất là vì ba chủ nghĩa chống nhau:

1. Chủ nghĩa Pruđông (Pháp);

2. Chủ nghĩa Bacunin (Nga);

3. Chủ nghĩa Mã Khắc Tư (Đức) (xem đoạn chủ nghĩa cách mệnh thì biết).

Sau lúc Pari Công xã thất bại, nhiều hội viên bị chết, bị bắt, nên hội tiêu điều dần, đến 1874 thì giải tán.

Đệ nhất quốc tế tuy chỉ đứng được 10 nǎm, nhưng khẩu hiệu “Toàn thế giới vô sản giai cấp liên hợp lại!”và tinh thần cách mệnh

vẫn truyền đến bây giờ. Tuy không làm được nhiều việc, nhưng cái công dạy cho thợ thuyền trong thế giới cách mệnh thì rất to.

5. Đệ nhị quốc tế lập ra bao giờ?

Đệ nhất quốc tế tan rồi, vừa lúc tư bản phát đạt lắm, công nhân vận động cũng phát đạt. Trong khoảng 15 nǎm ấy (từ 1874 đến 1889) 62 trong các nước nhiều công đảng mới lập lên, và đảng nào cũng hiểu rằng thợ thuyền các nước không giùm giúp lẫn nhau không được.

Nǎm 1889, đại biểu các công đảng hội nhau tại Pari, lập nên Đệ nhị quốc tế.

Từ khi lập ra, đến ngày âu chiến, khai hội chín lần bàn bạc và nghị định:

1. Nước nào cũng phải lập ra công đảng;

2. Mỗi nǎm đến ngày 1 tháng 5 thợ thuyền cả thế giới đều bãi công và thỉnh nguyện;

3. Tất cả công nhân trong thế giới ra sức đòi chỉ làm công mỗi ngày 8 giờ mà thôi;

4. Phản đối đế quốc chủ nghĩa;

5. Các công đảng không được đề huề với tư bản;

6. Đảng viên không được ra làm quan với tư bản;

7. Nếu các đế quốc chủ nghĩa có sự chiến tranh, thì thợ thuyền các nước đều bãi công và kiếm phương thế cách mệnh để giành lấy chính quyền. Vấn đề thứ 7, thì trong 9 lần đại hội đều có bàn đến cả 63 .

6. Vì sao Đệ nhị quốc tế lại hay bàn đến việc chiến tranh?

Vì đương lúc ấy, tư bản đã hoá ra đế quốc chủ nghĩa, và đế quốc chủ nghĩa, hoặc thường đánh nhau để giành thuộc địa, hoặc đi cướp nước hèn yếu làm thuộc địa. Như:

Nǎm 1894, Nhật đánh với Tàu;

1895, Anh đánh với Êgýptơ 1 ;

1896, Pháp đánh với Mađagátxca;

1898, Mỹ đánh với Tây Ban Nha để giành Philíppin;

1900, Anh đánh với Nam Phi châu;

1904, Nga đánh với Nhật;

1912, các nước Bancǎng 1 đánh nhau, vân vân.

Thợ thuyền thấy vậy, thì biết rằng các đế quốc chủ nghĩa sẽ có trận đánh nhau lớn. Vậy nên kiếm cách dè trước đi. Ngờ đâu đến 1914 các nước đánh nhau, thì phần nhiều hội viên Đệ nhị quốc tế đều giúp cho đế quốc chủ nghĩa, công đảng nước nào cũng khuyên dân đi đánh.

7. Đệ tam quốc tế lập ra từ bao giờ ?

Vì bọn hoạt đầu trong Đệ nhị quốc tế đã phản mục đích hội mà hoá ra chó sǎn cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa, hoá ra phản cách mệnh; những người chân chính cách mệnh như ông Lênin, ông Các Lípnếch, Rôda Luyxǎmbua, vân v., cho Quốc tế ấy như chết rồi, phải lập ra Quốc tế khác. Nǎm 1915 và 1916, những người cách mệnh hội nhau tại nước Suít (Thuỵ Sĩ) sắp sửa lập Đệ tam quốc tế, để nối theo chủ nghĩa Đệ nhất quốc tế 2 mà làm cộng sản cách mệnh.

Nǎm 1917, Nga cách mệnh cộng sản thành công.

Nǎm 1919, Đệ tam quốc tế thành lập tại kinh đô Nga là Mosku (ngày 6 tháng 3). Khi khai hội lần đầu, có đại biểu đảng cộng sản trong 24 nước dự hội.

Trong lời tuyên ngôn Đệ tam quốc tế xướng rõ ràng rằng:

1. Thế nào cũng đập đổ tư bản chủ nghĩa nhất thiết không đề huề như Đệ nhị quốc tế;

2. Thế nào cũng quyết làm cho chính quyền về tay công nông.

8. Từ khi lập ra đến giờ (đầu nǎm 1927) Đệ tam quốc tế khai hội mấy lần?

Nǎm 1920 khai Đại hội lần thứ II 64 , có 31 nước dự hội. Tụi hoạt đầu Đệ nhị quốc tế thấy hội này mạnh, muốn xen vào để “theo đóm ǎn tàn”, cho nên Đại hội đặt ra cách tổ chức rất nghiêm; ai thừa nhận theo 21 điều quy tắc mới được vào. (Xem sau cùng đoạn này).

Nǎm 1921, Đại hội lần thứ III 65 . Từ lúc có Đệ tam quốc tế, thợ thuyền các nước chia ra hai phái, phái theo cộng sản (Đệ tam quốc tế), phái theo đề huề (Đệ nhị quốc tế). Vì vậy mà sức kém đi; cho nên Đại hội định rằng khi phấn đấu với tư bản thì hai phái phải hợp sức nhau lại không được chia hai .

Nǎm 1922, Đại hội lần thứ IV 66 . Nhân cách mệnh phong triều trong các nước rầm rộ, tư bản chủ nghĩa toan cùng đường, chúng nó lập ra đảng fasity 1 phản đối cách mệnh tợn lắm. Đại hội định cách đối đãi đảng ấy.

Nǎm 1924, Đại hội lần thứ V, có đến 61 nước dự hội. Vì nhiều người lầm tưởng rằng tư bản lại tới hồi thịnh vượng như trước khi Âu chiến. Đại hội đem chứng rõ ràng rằng thịnh vượng ấy là thịnh vượng giả; kỳ thực tư bản trong thế giới gần đến mạt lộ 2 , và công nông cách mệnh phải sắp sửa ra tay.

9. Đệ tam quốc tế tổ chức thế nào?

a) Mỗi nǎm hay cách vài nǎm, đại hội một lần. Đại hội có quyền đoán định tất cả các việc các đảng trong các nước.

b) Đại hội cử một hội trung ương 24 người. Hội này thay mặt đại hội. Các đảng trong các nước đều phải theo mệnh lịnh Trung ương.

c) Có Thanh niên bộ, để xem về việc vận động thanh niên; Phụ nữ bộ, xem việc vận động phụ nữ; á – Đông bộ xem về việc cách mệnh các thuộc địa bên á – Đông. Tuyên truyền, tổ chức, cứu tế v.v., đều có một bộ riêng.

d) Đệ tam quốc tế là một Đảng Cộng sản thế giới. Các đảng các nước là như chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lịnh và kế hoạch Đệ tam quốc tế thì các đảng không được làm.

10. Đệ nhất quốc tế và Đệ tam quốc tế giống nhau cái gì? khác nhau cái gì? 67

Đệ nhất quốc tế với Đệ tam quốc tế khác nhau.

a) Đệ nhất quốc tế nhỏ, Đệ tam quốc tế to;

b) Đệ nhất quốc tế chỉ lý luận, Đệ tam quốc tế đã thực hành;

c) Đệ nhất quốc tế không thống nhất, Đệ tam quốc tế chỉ huy tất cả các đảng cộng sản trong các nước phải theo;

d) Đệ nhất quốc tế chỉ nói: “Thế giới vô sản giai cấp liên hợp”; Đệ tam quốc tế nói thêm “Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại”. Đệ nhất quốc tế không bắt hội viên giúp dân thuộc địa chống lại đế quốc chủ nghĩa như Đệ tam quốc tế.

ấy là vì hoàn cảnh hai Quốc tế ấy khác nhau. Như việc dân tộc bị áp bức, Đệ nhất quốc tế nói đến ít, vì lúc ấy đế quốc chủ nghĩa chưa phát đạt mấy. Vả lại, Đệ tam quốc tế sinh ra sau thì có nhiều kinh nghiệm hơn Đệ nhất quốc tế.

Đến như chủ nghĩa làm cách mệnh cho đến nơi, làm cho thế giới đại đồng, thì hai Quốc tế vẫn như nhau; chẳng qua Đệ nhất quốc tế làm không đến nơi, mà Đệ tam quốc tế chắc là làm được, nhờ nay Nga cách mệnh đã thành công để làm nền cho cách mệnh thế giới.

11. Đệ nhị quốc tế và Đệ tam quốc tế khác nhau cái gì?

Đệ nhị quốc tế trước vẫn là cách mệnh, nhưng vì kỷ luật không nghiêm, tổ chức không khéo, để tụi hoạt đầu xen vào nhiều quá; sau hoá ra phản cách mệnh. Hai Quốc tế ấy khác nhau những điều sau này:

Đệ tam quốc tế chủ trương đập đổ tư bản làm thế giới cách mệnh.

Đệ nhị quốc tế chủ trương đề huề với tư bản.

Đệ tam quốc tế giúp dân thuộc địa chống lại đế quốc chủ nghĩa.

Đệ nhị quốc tế giúp đế quốc chủ nghĩa đè nén dân thuộc địa

(toàn quyền Varen là hội viên Đệ nhị quốc tế).

Đệ tam quốc tế dạy cho vô sản giai cấp trong thế giới – bất kỳ nòi giống nào, nghề nghiệp gì, tôn giáo gì – hợp sức làm cách mệnh.

Đệ nhị quốc tế xui dân nước này chống dân nước kia, nghề nghiệp này chống nghề nghiệp khác.

12. Đệ tam quốc tế đối với cách mệnh An Nam thế nào?

Xem trong cách tổ chức Đệ tam quốc tế, có đặt ra một bộ riêng, chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mệnh bên á – Đông.

Xem khẩu hiệu Đệ tam quốc tế, chẳng những rằng “vô sản giai cấp” mà lại thêm câu “… và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại”.

Xem quy tắc Đệ tam quốc tế trong 21 điều, điều thứ 8 nói rằng: “Các đảng cộng sản, nhất là Đảng Cộng sản Pháp … phải hết sức giúp dân thuộc địa làm cách mệnh”.

Xem đương lúc Pháp đánh Marốc và Xyri, vì giúp hai nước ấy mà Đảng Cộng sản Pháp hy sinh mấy mươi đảng viên bị bắt, bị tù, Đảng bị phạt hơn l00 vạn đồng bạc.

Xem cách mệnh Nga giúp cho cách mệnh Tàu, Thổ Nhĩ Kỳ, Pécsia 1 , Mông Cổ.

Lại xem kế hoạch về vấn đề thuộc địa là tự tay ông Lênin làm ra.

Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế.

cpv.org.vn

—————————–

62. Trong khoảng 15 nǎm (từ 1874 đến 1889), nhiều chính đảng của giai cấp công nhân được thành lập. Chính đảng đầu tiên của giai cấp công nhân được thành lập ở Đức nǎm 1869 – Đảng Xã hội dân chủ Đức. Chỉ vài nǎm sau khi Công xã Pari thất bại và Quốc tế thứ nhất giải tán, phong trào công nhân ở châu Âu lại phục hồi và phát triển nhanh chóng. Nhiều chính đảng của giai cấp công nhân được thành lập ở Mỹ (1877), Pháp (1879), Bỉ, Italia(1885), áo (1888)… Việc xuất hiện các đảng đánh dấu một bước tiến mới của giai cấp công nhân và cũng đề ra yêu cầu thành lập một tổ chức quốc tế mới. Tr.283.

63. Các Đại hội của Quốc tế thứ hai đã thảo luận vấn đề thái độ của giai cấp vô sản đối với cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa sắp bùng nổ. Đặc biệt là tại Đại hội Xtútga (1907), Côpenhagơ (1910) và Balơ (1912), Quốc tế thứ hai đã bàn cãi sôi nổi vấn đề này. Bọn cơ hội chủ nghĩa đưa ra những luận điệu bênh vực chính sách chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc. Lênin và những người mácxít kiên quyết đấu tranh chống nguy cơ chiến tranh, đòi bác bỏ ngân sách quân sự, kêu gọi công nhân các nước đoàn kết ngǎn chặn chiến tranh bùng nổ, vạch trần tính chất ǎn cướp, đế quốc chủ nghĩa của cuộc chiến tranh và đưa ra khẩu hiệu Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng để lật đổ giai cấp tư sản trong nước, giành lấy chính quyền và xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản. Tr.283.

64. Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản họp vào tháng 8-1920. Tại Đại hội này, Lênin đã nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân để giữ vững nguyên tắc mácxít trong các đảng cộng sản. Đại hội đã thông qua 21 điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản và thông qua bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do Lênin dự thảo, nhằm vạch ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc cho nhân dân các dân tộc bị áp bức. Tinh thần cơ bản của 21 điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản là đòi hỏi các đảng vô sản các nước muốn được kết nạp vào Quốc tế Cộng sản, phải có thái độ dứt khoát chống lại đường lối và tổ chức của Quốc tế thứ hai, phải đấu tranh kiên quyết về mặt tư tưởng cũng như về những biện pháp hoạt động cụ thể, chống mọi hình thức của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xét lại. Các đảng đó phải nghiêm chỉnh thực hiện và tuyên truyền giáo dục quần chúng về đường lối và quan điểm của chủ nghĩa Mác, phải đổi tên là đảng cộng sản, phải có kỷ luật chặt chẽ và triệt để tuân theo những nghị quyết của Quốc tế Cộng sản. Về vấn đề giải phóng dân tộc, điều 8 của vǎn kiện ghi rõ: Đảng nào muốn ở trong Quốc tế thứ ba đều buộc phải thẳng tay vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của bọn đế quốc nước mình trong các thuộc địa, ủng hộ trên thực tế chứ không phải bằng lời nói mọi phong trào giải phóng ở thuộc địa, đòi hỏi phải trục xuất bọn đế quốc của nước mình ra khỏi các thuộc địa ấy; gây trong lòng công nhân nước mình thái độ anh em chân thành với nhân dân lao động các nước thuộc địa và các dân tộc bị áp bức; và tiến hành tuyên truyền thường xuyên trong quân đội nước mình chống mọi sự áp bức các dân tộc thuộc địa. Tr.284.

65. Đại hội lần thứ III của Quốc tế Cộng sản họp vào tháng 6-1921. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cấp thiết của các đảng cộng sản là phải đánh tan ảnh hưởng của bọn xã hội dân chủ trong quần chúng, phải tranh thủ quần chúng công nhân đi theo cách mạng. Lênin nêu lên rằng nếu không tranh thủ được quần chúng thì không thể đánh đổ được chủ nghĩa tư bản và do đó không thiết lập được chuyên chính vô sản. Muốn tranh thủ quần chúng, phải tham gia tích cực nhất vào cuộc đấu tranh kinh tế hằng ngày của công nhân, phải chiến đấu kiên trì trong các công đoàn để biến nó thành tổ chức chiến đấu của giai cấp công nhân và trục xuất bọn cơ hội chủ nghĩa khỏi phong trào, phải chuẩn bị cho quần chúng đấu tranh để thực hiện chuyên chính vô sản. Lênin đề ra sách lược về mặt trận thống nhất nhằm đoàn kết các lực lượng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chung. Tr.285.

66. Đại hội lần thứ IV của Quốc tế Cộng sản họp vào tháng 11-1922. Khi đó, Chính quyền Xôviết đã tồn tại và lớn mạnh được 5 nǎm, phong trào công nhân phát triển rầm rộ. Đồng thời, bọn phát xít bắt đầu hoạt động trong nhiều nước châu Âu. Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ chủ yếu của các đảng cộng sản là kiên trì tiến hành công tác quần chúng trên cơ sở của sách lược về Mặt trận công nhân thống nhất. Tr.285.

67. Do điều kiện lịch sử khác nhau, hoạt động của Quốc tế thứ nhất và Quốc tế thứ ba có những điểm khác nhau: Quốc tế thứ nhất ra đời giữa thế kỷ XIX là lúc chủ nghĩa tư bản còn đang phát đạt, phong trào công nhân mới ra đời, cho nên số lượng thành viên tham gia Quốc tế thứ nhất còn ít, tư tưởng chưa thống nhất. Quốc tế thứ nhất phải tiến hành đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng để xác định tính chất cách mạng đúng đắn của học thuyết mácxít. Khẩu hiệu đấu tranh của Quốc tế là Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!. Quốc tế thứ ba ra đời đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản đã thắng lợi ở nước Nga. Do đó, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, số thành viên tham gia Quốc tế thứ ba ngày càng đông. Quốc tế thứ ba tiến hành đấu tranh quyết liệt trên lĩnh vực tư tưởng, đồng thời lãnh đạo cuộc đấu tranh thực tiễn của giai cấp công nhân. Quốc tế thứ ba đoàn kết các đảng cộng sản thành một khối thống nhất có sự lãnh đạo thống nhất. Trong thời đại mới, phong trào giải phóng dân tộc gắn bó chặt chẽ với cách mạng vô sản. Lênin đã đề ra khẩu hiệu Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!. Tr. 286.

Phụ nữ Quốc tế

l. Vì sao lập ra Phụ nữ quốc tế ?

Ông Các Mác nói rằng: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào ?”.

Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ǎn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”.

Những lời ấy không phải câu nói lông bông. Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sáclốt Coócđây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, như bà Luy Misen ra giúp tổ chức Pari Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1.854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước.

Vì vậy Đệ tam quốc tế tổ chức Phụ nữ quốc tế.

2. Lịch sử Phụ nữ quốc tế thế nào ?

Nǎm 1910, bà Clara Détkin (cộng sản Đức) đề nghị trong Đại hội Đệ nhị quốc tế rằng: Mỗi nǎm đến ngày 8 tháng 3 thì làm một ngày phụ nữ vận động gọi là “Ngày đàn bà con gái” 68 . Sau ngày ấy đổi ra một tuần. Khẩu hiệu tuần ấy là: “Đòi quyền tuyển cử cho nữ giới”.

Nǎm 1917, ngày 23 tháng 2, đàn bà ở kinh đô Nga nổi lên “đòi bánh cho con” và đòi “giả chồng chúng tôi lại cho chúng tôi” (vì chồng phải đi đánh). Sự bạo động này làm ngòi cho cách mệnh Nga 69 .

Mồng 8 tháng 3 nǎm 1920, Đệ tam quốc tế phái bà Détkin tổ chức Phụ nữ quốc tế. Khẩu hiệu là: “Đàn bà con gái công nông phải liên hợp với Đệ tam quốc tế, để làm thế giới cách mệnh”.

Nǎm 1923, nữ giới Nga ǎn mừng “ngày 8 tháng 3” thì mở 66 nhà nuôi trẻ con, 36 ấu trĩ viên, 18 nhà nuôi đồng tử, 22 nhà thương và nhà nghỉ, 15 nhà nuôi đàn bà sinh cữ, 15 nhà ǎn chung cho 10.000 người; 27 nhà hiệp tác xã dùng đến 1.300 người đàn bà làm công, 11 cái công viên có nhà nghỉ cho những người có bệnh.

3. Cách tổ chức của Phụ nữ quốc tế ra thế nào ?

Quy tắc và chương trình thì đại khái cũng như Đệ tam quốc tế. Nhưng bên này thì chỉ chuyên trách về mặt tuyên truyền, tổ chức và huấn luyện đàn bà con gái, và giúp về đường giáo dục trẻ con công nông.

Mỗi đảng cộng sản phải có một bộ phụ nữ, trực tiếp thuộc về Phụ nữ quốc tế. Nhưng đảng viên đàn bà trong các đảng phải theo mệnh lịnh Quốc tế, khi phái để làm việc gì dẫu khó nhọc, nguy hiểm mấy cũng phải làm. Thí dụ: Đảng viên A không phải là làm thợ, nhưng khi Quốc tế bảo phải xin vào làm việc trong lò máy nào để vận động phụ nữ trong ấy, thì tất phải bỏ nghề cũ mà vào làm trong lò máy.

Nói tóm lại là quy tắc rất nghiêm, hành động rất thống nhất, và việc làm cũng rất khó. Vì phần nhiều đàn bà con gái còn có tư tưởng thủ cựu. Tuy vậy, ai cũng hết lòng, cho nên tiến bộ mau. Nhờ Phụ nữ quốc tế mà các đảng cộng sản mới lập ra như đảng ở Java 1 , đảng viên đàn bà mỗi ngày một thêm nhiều.

An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công, mà nữ giới An Nam muốn cách mệnh thì phải theo Phụ nữ quốc tế chỉ bảo.

cpv.org.vn

————————–

68. Ngày 8-3 là ngày đoàn kết quốc tế của phụ nữ các nước trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, giành các quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị và xã hội. Ngày 8-3-1899, nữ công nhân ngành dệt và ngành may ở Sicagô (một thành phố lớn ở Mỹ) đã đứng lên bãi công, biểu tình đòi tǎng lương, giảm giờ làm. Mặc dù bị bọn chủ đe doạ và khủng bố, chị em công nhân vẫn tiếp tục bãi công, đấu tranh. Cuối cùng, bọn chủ đã phải nhượng bộ và thoả mãn phần lớn những yêu sách của chị em. Nǎm 1910, Hội nghị quốc tế phụ nữ xã hội chủ nghĩa lần thứ II họp ở Côpenhagơ (Đan Mạch), theo đề nghị của Clara Détkin, đã quyết định hằng nǎm lấy ngày 8-3 làm Ngày phụ nữ quốc tế. Tr.288.
69. Tháng 2-1917 (theo lịch cũ của Nga) ở nước Nga đã nổ ra cuộc Cách mạng dân chủ tư sản, lật đổ chế độ Nga hoàng chuyên chế. Trong cuộc cách mạng này, phụ nữ công nhân ở Pêtrôgrát đã giữ một vai trò nổi bật. Ngày 23-2 theo lịch Nga (tức là Ngày phụ nữ quốc tế 8-3), hưởng ứng lời kêu gọi của Ban chấp hành bônsêvích Pêtrôgrát, các nữ công nhân đã cùng công nhân các nhà máy ở Thủ đô bãi công, xuống đường biểu tình giương cao các khẩu hiệu: Đả đảo chiến tranh!, Bánh mỳ!, Hoà bình!, Tự do, Đả đảo chế độ chuyên chế. Trong ngày hôm đó, hơn 128 nghìn người (chủ yếu là nữ công nhân ngành dệt và công nhân luyện kim) đã tham gia bãi công. Cuộc bãi công chính trị đã biến thành cuộc tổng biểu tình chính trị chống chế độ Nga hoàng. Tr.289.

67 năm Cách mạng tháng 8 – Kỳ 5: Bữa tiệc ngoại giao đầu tiên

Ngày 25.8.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về tới Hà Nội. Trưa 26.8.1945, Người mời cơm vị thiếu tá trưởng phái đoàn Mỹ ở Đông Dương. Đây có thể coi là “bữa tiệc ngoại giao” đầu tiên của Chủ tịch nước Việt Nam mới.

Câu chuyện bắt đầu từ ngày 13.4.1945, Archimede Patti, khi đó còn mang hàm đại úy, Đội trưởng đội OSS (The Office of Strategist Services, tiền thân của CIA, Cục Tình báo trung ương Mỹ) được phái đến Côn Minh (Trung Quốc) để tìm cách giải cứu và bảo vệ những quân nhân Mỹ trong cuộc chiến với quân Nhật. Theo A.Patti, lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh được nhắc đến trong một bức điện ngày 31.12.1942 của Đại sứ Mỹ (ở Trùng Khánh) thông báo việc bắt và giam Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Quảng Tây. Cái tên này dần trở nên quen thuộc và quan trọng hơn với người Mỹ trong trận chiến với Nhật ở nam Trung Hoa và Đông Dương khi đó. Người Mỹ đã “phát hiện ra Hồ Chí Minh” đại diện cho một phong trào chính trị đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam. Mặc dù đã xác nhận rằng “ông Hồ là cộng sản” song người Mỹ vẫn coi lực lượng dân tộc do Hồ Chí Minh lãnh đạo thuộc về “phe mình” và hai bên có thể hỗ trợ nhau để cùng đạt lợi ích. Phía Mỹ là cứu các phi công, thu thập tin tức quân Nhật và từng bước thiết lập ảnh hưởng tại Đông Dương. Phía Việt Minh là sự ủng hộ vật chất cụ thể cho cuộc chiến đấu, xa hơn là sự công nhận chính thức từ phía Mỹ và Đồng minh quyền và vị thế của dân tộc Việt Nam độc lập.

Tháng 8.1945, A.Patti gặp Đại tướng Võ Nguyên GiápTháng 8.1945, A.Patti gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Chiều 22.8.1945, A.Patti dẫn đầu nhóm OSS đáp xuống sân bay Gia Lâm. Ấn tượng đầu tiên của A.Patti là người Hà Nội “vẫn đi bộ, đi xe đạp nhộn nhịp với một dáng tự hào và tin tưởng nhưng vẫn trật tự”… và một biển cờ đỏ, biểu ngữ tràn ngập các đường phố.

Trong buổi sáng chủ nhật đầu tiên A.Patti ở Hà Nội, lễ đón phái bộ Mỹ đã được tổ chức trọng thể ở vườn hoa nhỏ trước khách sạn Metropole. Thiếu tá A.Patti đứng cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Dương Đức Hiền, Khuất Duy Tiến đang xúc động nhìn Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được kéo lên cùng Quốc kỳ của bốn cường quốc Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc. Cũng lần đầu tiên giai điệu hào hùng “Đoàn quân Việt Nam đi…” vang lên bên cạnh quốc thiều của bốn nước Đồng minh.

Sau buổi lễ, A.Patti được mời tới ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang. Gặp lại sau 4 tháng, ông đã thực sự ngạc nhiên trước “thân hình xương xẩu trái ngược với cái trán khá rộng với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt” của Hồ Chí Minh. Bữa tiệc diễn ra ở một căn phòng trên tầng hai với rượu Vermouth khai vị. Bà Hoàng Thị Minh Hồ – người lo toan việc bếp núc cho bữa tiệc – nhớ lại rằng bà đã đặt món ăn ở các hiệu lớn trên phố Hàng Buồm, Hàng Bông. Các nhà hàng tới nấu luôn đồ ăn trong sân, sau đó người nhà chuyển lên gác.

Theo trí nhớ của A.Patti, cùng tiếp khách với Chủ tịch nước Việt Nam mới còn có Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và có thể cả Nguyễn Khang. A.Patti và Hồ Chí Minh đã có một cuộc trò chuyện thân mật như những người bạn cũ. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ở Hà Nội, ông Patti còn nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 29.8, trong cuộc gặp, Hồ Chí Minh đã đọc cho A.Patti nghe dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.

Chiều 1.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mời A.Patti và Grelecki dự bữa cơm thân mật trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam tại Bắc Bộ phủ. Cùng dự còn có Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám. Qua những người bạn Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ sự hoan nghênh và coi trọng mọi sự ủng hộ vật chất và tinh thần mà phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam đã nhận được từ Mỹ và Đồng minh. Người cũng đánh giá cao và cảm ơn sự giúp đỡ của OSS. Người nhắc đến các ông Chennault, Helliwell, Glass, Thomas, Holland và mong tinh thần “hợp tác hữu ái” sẽ tiếp tục phát triển.

Chiều 2.9.1945, A.Patti không dự ngày lễ Độc lập trọng đại của nhân dân Việt Nam trên vị trí một quan khách. Ông đi lẫn trong đám đông hồ hởi cờ hoa và bạt ngàn biểu ngữ, áp phích: “Việt Nam của người Việt Nam”, “Thà chết không nô lệ”, “Hoan nghênh Đồng minh”, “Hoan nghênh phái đoàn Mỹ”…  Cả toán OSS cũng len lỏi trong đám đông, chụp ảnh, ghi chép các nhóm người, các sự kiện, các khẩu hiệu.

Trong những ngày mùa thu cách mạng 1945, thiếu tá tình báo Mỹ A.Patti đã chứng kiến niềm vui và ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Những ấn tượng tốt đẹp của ông với những người cách mạng Việt Nam, đặc biệt là với Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến A.Patti nhận ra một điều quan trọng. Đó là tình hữu nghị cần có giữa hai dân tộc Việt – Mỹ.

Archimedes Patti sinh năm 1914 tại New York, gia nhập quân đội năm 1941.

Từ cuối năm 1944, ông làm việc tại Cục Tình báo chiến lược (OSS – Office of Strategic Services, tiền thân của CIA sau này), là Trưởng ban Đông Dương thuộc Pháp của OSS, hàm đại úy.

Tháng 4.1945, A.Patti có những cuộc tiếp xúc đầu tiên với Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Côn Minh.

Tháng 8.1945, ông được thăng hàm thiếu tá, được cử làm trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Mỹ, thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc thu vũ khí của quân Nhật tại Bắc Đông Dương. A.Patti đến Hà Nội vào ngày 22.8 và thực thi nhiệm vụ của mình cho đến ngày 30.9.1945.

Năm 1980, A.Patti xuất bản cuốn hồi ký Why Vietnam: Prelude to America’s Albatross (Tại sao Việt Nam: Khúc dạo đầu chim hải âu của nước Mỹ). Cuốn sách này đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam. Ông qua đời ngày 23.4.1998.

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 4: 6 khẩu súng ngắn tướng Mỹ tặng Bác Hồ
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 3: Chủ động khởi nghĩa thành công
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 2: Người mang lệnh Tổng khởi nghĩa vào Nam
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945
>> Nga duyệt binh kỷ niệm 67 năm Ngày Chiến thắng phát xít Đức
>> Các nước trên thế giới kỷ niệm 67 năm ngày chiến thắng phát xít Đức

67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 4: 6 khẩu súng ngắn tướng Mỹ tặng Bác Hồ

Trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai đang lan rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực thiết lập những mối quan hệ với các lực lượng chống Nhật ở vùng nam Trung Quốc.

Lực lượng Đồng minh chống Nhật gần Việt Nam nhất khi đó là Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch đang đóng tại Trùng Khánh. Bên cạnh và đằng sau lực lượng này là Mỹ.

Những tiếp xúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với lực lượng Mỹ được thiết lập sau sự kiện trung úy R.Shaw được Việt Minh cứu thoát ở vùng núi Cao Bằng ngày 2.11.1944 và đưa trở lại Côn Minh. Ngày 29.3.1945, tại Côn Minh, Bác Hồ gặp tướng S.Chenault – Tư lệnh Quân đoàn không quân số 14 của Mỹ. Kết thúc cuộc gặp, Bác Hồ muốn có một bức ảnh chân dung của vị tướng. Tướng S.Chenault đã vui vẻ tặng Bác một bức chân dung cỡ 8 x 10 cm, ghi và ký ở phía sau: Thân ái – S.Chenault. Ngoài bức ảnh trên, trong số “quà” Bác Hồ mang về cho các đồng chí của mình ở chiến khu Việt Bắc sau khi gặp vị tướng không quân Mỹ còn có 6 khẩu súng ngắn “đời mới”. Điều quan trọng không phải là số vũ khí đó mang bao nhiêu uy lực, vấn đề là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang về Việt Bắc bằng chứng quan trọng về sự ủng hộ của lực lượng Mỹ cho cuộc kháng chiến chống Nhật của Việt Minh.

Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp ảnh cùng biệt đội Con nai tháng 8.1945 - Ảnh tư liệuBác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp ảnh cùng biệt đội Con nai tháng 8.1945 – Ảnh tư liệu

Hồ Chủ tịch đã làm cho người Mỹ hiểu hơn về Việt Minh và cuộc chiến đấu giành độc lập của người Việt Nam. Mặc dù các nguồn tin từ cả phía Pháp và Trung Quốc xác nhận rằng Hồ Chí Minh là người chống Pháp và là cộng sản nhưng người Mỹ vẫn nhận ra rằng Hồ Chí Minh không phải là người chống Pháp cực đoan. Người Mỹ bắt đầu coi Việt Minh như một lực lượng đồng minh chống Nhật tích cực mà họ có thể phối hợp các nỗ lực. Một số đội du kích của Việt Minh ở Cao Bằng đã nhận được những sự hỗ trợ về vũ khí, phương tiện thông tin liên lạc và được một số chuyên gia của Đồng minh huấn luyện quân sự. Những hoạt động thu thập tin tức tình báo chống Nhật, mở rộng mạng lưới tìm kiếm và cứu phi công Mỹ của OSS lúc này đều nằm trong vùng căn cứ của Việt Minh – đã được mở rộng từ Cao Bằng tới các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn và Thái Nguyên.

Cho đến đầu tháng 5.1945, hai sĩ quan OSS đã có thể đều đặn gửi báo cáo về từ Tân Trào và người Mỹ càng ngày càng đánh giá cao vai trò của Bác Hồ cũng như tổ chức Việt Minh. Một trong hai sĩ quan này khi trở về tổng hành dinh của mình đã tuyên bố: “Người Pháp tại Đông Dương coi như đã kết thúc. Khi chiến tranh chấm dứt, Việt Minh chắc chắn sẽ nắm được chính quyền. Và lúc đó Hồ Chí Minh có thể làm được nhiều việc để giúp chúng ta”(1). Đại úy A.Patti – là người phụ trách SI (tình báo) của Tổ đặc trách Đông Dương và sau này là chỉ huy của OSS tại Đông Dương, trong tháng 5.1945, đã đánh giá: “Đây (Việt Minh – N.V.A) là thành phần quan trọng nhất, được ủng hộ rộng rãi nhất từ nhân dân Việt Nam”. Cần nói thêm rằng A.Patti viết điều này khi đã biết rõ về khuynh hướng chính trị của Việt Minh: “họ theo chủ nghĩa Mác” nhưng “mối quan tâm trực tiếp của họ là đánh đuổi Nhật”(2).

Ngày 17.7.1945, đội tình báo Mỹ mang biệt danh Con nai gồm 5 người do thiếu tá A.Thomas chỉ huy đã nhảy dù xuống Tân Trào. Họ huấn luyện các kỹ năng quân sự cho 40 người được chọn từ số 110 quân du kích của Đàm Quang Trung. Đầu tháng 8.1945, trung đội Bộ đội Việt – Mỹ (tên đặt chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh) được thành lập và ngày 20.8.1945 đã tham chiến ở Thái Nguyên dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp.

Việc hỗ trợ trang bị và huấn luyện chiến đấu cho một lực lượng trên dưới 100 người địa phương trong vùng núi Việt Bắc không giữ vai trò đáng kể về mặt quân sự trong việc kết thúc chiến tranh với Nhật ở Đông Dương. Người Mỹ biết rõ điều đó. Bác Hồ cũng biết rõ điều đó. Điều quan trọng hơn của những mối quan hệ với lực lượng Mỹ mà Bác Hồ chủ trương chính là tạo ra những tiền đề cho việc xác lập vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế sau này.

Những nỗ lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đưa cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam đồng hành cùng cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ chống chủ nghĩa phát xít đã gắn kết những giá trị dân tộc với những giá trị nhân loại. Kết quả của những hoạt động đó là những đóng góp thiết thực của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chung chống phát xít của nhân dân thế giới. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Việt Nam là dân tộc đầu tiên tự giải phóng được mình trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu thuộc địa, bị áp bức. Thắng lợi của cuộc cách mạng ở Việt Nam cũng mở ra một tương lai, gây một niềm tin, động viên, tiếp sức cho các dân tộc còn đang bị áp bức đấu tranh giành độc lập cho mình.

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

(1) Dixee R.Bartholomew-Feis – OSS và Hồ Chí Minh Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến đấu chống phát xít Nhật (Lương Lê Giang dịch), NXB Thế giới, Công ty văn hóa & truyền thông Võ Thị, Hà Nội, 2007, tr.319

(2) Dixee R.Bartholomew-Feis – Sđd, tr.293; 296

>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 3: Chủ động khởi nghĩa thành công
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 2: Người mang lệnh Tổng khởi nghĩa vào Nam
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945

67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 3: Chủ động khởi nghĩa thành công

Các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8.1945 của toàn dân Việt Nam đã lan nhanh trong cả nước “như một mồi thuốc súng”. Ở nhiều tỉnh, lệnh Tổng khởi nghĩa từ trung ương chưa kịp chuyển tới nhưng đã kịp thời, kiên quyết khởi nghĩa và giành thắng lợi… Hội An và Quảng Nam khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn từ ngày 18.8.1945.

Khi nhận được tin Nhật đã đầu hàng quân Đồng minh (15.8.1945), Tỉnh ủy Quảng Nam căn cứ vào những dự kiến tình hình trong bản chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12.3.1945) trước đó của trung ương, đã nhanh chóng quyết định: gấp rút huy động toàn dân, kịp thời nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Bộ phận hăng hái tích cực nhất trong các lực lượng cứu quốc được trang bị thêm vũ khí, chuyển thành lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho quần chúng khởi nghĩa. Các ủy ban Việt Minh, ủy ban Cứu quốc được chuyển thành các ủy ban bạo động… Tỉnh ủy lập tức viết các chỉ thị bổ sung về chủ trương và hướng dẫn cụ thể, gửi hỏa tốc cho các ủy ban bạo động các phủ, huyện và thị xã Hội An.

Chủ động khởi nghĩa thành côngĐồng chí Võ Chí Công (trái) người lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa ở Hội An trong ảnh chụp cùng thư ký riêng – Ảnh: tư liệu

Theo kế hoạch ban đầu, Quảng Nam sẽ khởi nghĩa ngày 21.8.1945. Cách thức khởi nghĩa là giành chính quyền ở các phủ, huyện trước, sau đó tập trung lực lượng về giành chính quyền ở tỉnh lỵ. Tuy nhiên, khi đi kiểm tra tình hình tại Hội An (là tỉnh lỵ của Quảng Nam khi đó) trong đêm 17.8.1945, đồng chí Võ Chí Công nhận thấy tình hình ở đây đã có những chuyển biến nhanh theo hướng thuận lợi cho cách mạng: trong đồn bảo an, cách mạng đã có cơ sở nội ứng; Tỉnh trưởng Tôn Thất Giáng thể hiện rõ thái độ lưng chừng, không quyết tâm chống lại cách mạng; phần lớn lực lượng vũ trang của Nhật đã rút ra Đà Nẵng, số còn lại ở Hội An chưa đến 10 tên. Thêm nữa, một số lực lượng chính trị khác ở đây cũng đang gấp rút chuẩn bị vũ khí, may sắm cờ quạt, chạy đua giành chính quyền với lực lượng Việt Minh. Ngay lập tức, đồng chí đề nghị Thường trực Ủy ban Bạo động tỉnh cho Hội An khởi nghĩa trước. Tại Hội An, đồng chí Võ Chí Công triển khai ngay lực lượng quần chúng, sẵn sàng hành động. Đồng thời phối hợp với cuộc khởi nghĩa ở Hội An, Ủy ban bạo động tỉnh huy động lực lượng ở Tam Kỳ chặt cây cản đường để chặn xe chở quân Nhật từ Quảng Ngãi ra. Lực lượng ở Hòa Vang cũng chặn đường quân Nhật có thể kéo vào từ Đà Nẵng.

“Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 12.3.1945 được khởi thảo khi tiếng súng Nhật đảo chính Pháp còn đang nổ. Sau khi nêu nhận xét tình hình; điều kiện mới do tình thế mới gây ra; chiến thuật của Đảng đã thay đổi; công việc cần kíp… Bản Chỉ thị nhấn mạnh:

– Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa…

– Sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện…

– Nếu cách mạng Nhật bùng nổ, và khi chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và đội quân viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi (1).

Chỉ trong bốn giờ, đến rạng sáng ngày 18.8, cuộc khởi nghĩa ở Hội An đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lực lượng quần chúng khởi nghĩa đông đảo đã nhanh chóng chiếm được đồn bảo an, kho bạc, cơ quan mật thám, bưu điện… và giành chính quyền trong toàn thị xã. Liền ngay sau đó, đồng chí Võ Chí Công giao lại việc ổn định trật tự, tổ chức lực lượng bảo vệ chính quyền trong thành phố cho Thị ủy và Ủy ban Bạo động Hội An. Sau khi huy động một đoàn xe để chở tiền bạc và các tài liệu từ Hội An đưa vào huyện Duy Xuyên, sẵn sàng đưa lên căn cứ, đồng chí Võ Chí Công trực tiếp tổ chức một đoàn xe khác đưa lực lượng quần chúng vũ trang bằng vũ khí lấy được từ kho súng của lính bảo an, tiếp tục hỗ trợ cho các huyện khác giành chính quyền. Khi gặp quân Nhật chặn đường lực lượng khởi nghĩa ở Vĩnh Điện, đồng chí Võ Chí Công nói rõ chủ trương của quân khởi nghĩa không tấn công lực lượng Nhật đã đầu hàng và sẽ trở về quê hương sau đó nên toán quân Nhật để đoàn xe đi qua mà không xảy ra xung đột. Đây lại là một thắng lợi nữa của lực lượng cách mạng khởi nghĩa ở Quảng Nam. Chỉ trong ngày 18.8, cả tỉnh Quảng Nam đã giành được chính quyền. Quảng Nam là một trong những tỉnh (cùng với Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Mỹ Tho) giành được chính quyền sớm nhất cả nước trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8.1945.

Diễn biến khởi nghĩa ở Hội An và ở cả tỉnh Quảng Nam cho thấy sự tích cực chuẩn bị lực lượng khá đầy đủ từ những năm trước, đến cao trào kháng Nhật cứu quốc, tiến tới tổng khởi nghĩa. Sự chuẩn bị này “tích điện” cho sự bùng nổ ở thời điểm quyết định. Sự nhạy bén nắm bắt tình hình, nhanh chóng  quyết định phương án táo bạo, linh hoạt khởi nghĩa theo cách có lợi nhất của bộ phận chỉ huy khởi nghĩa là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi hoàn toàn của cuộc khởi nghĩa trong cả tỉnh chỉ trong một ngày.

Phương thức khởi nghĩa giành chính quyền thành công ở Hội An và Quảng Nam cũng gần giống như cách Hà Nội giành chính quyền thắng lợi chỉ một ngày sau đó. Việc tránh được xung đột với lực lượng Nhật ở Quảng Nam cũng tương tự như tình huống gặp phải của lực lượng khởi nghĩa ở Hà Nội. Cuộc khởi nghĩa thắng lợi trọn vẹn ở Quảng Nam còn in rõ nét dấu ấn chỉ đạo nhạy bén và sáng tạo, kiên quyết nhưng khôn khéo của một cán bộ lãnh đạo xuất sắc: Đồng chí Võ Chí Công – người con ưu tú của quê hương Quảng Nam.

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

>> 67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945
>> 67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 2: Người mang lệnh Tổng khởi nghĩa vào Nam

67 năm Cách Mạng tháng 8 – Kỳ 2: Người mang lệnh Tổng khởi nghĩa vào Nam

Tên thật của chị là Cái Thị Tám nhưng mọi người thường biết đến chị với tên Nguyễn Thị Kỳ – phu nhân của đại tướng Văn Tiến Dũng. Chị kể cho chúng tôi về một thời gian khổ và anh hùng trong nỗi nhớ người chồng thân yêu…

Chị là con gái Hà Nội, sinh ra và lớn lên ở làng Đồng Nhân (nay thuộc Q.Hai Bà Trưng), tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, làm công tác binh vận dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Văn Thụ rồi làm giao thông viên giữa Xứ ủy Bắc kỳ và T.Ư Đảng.

Bà Nguyễn Thị Kỳ bây giờ Bà Nguyễn Thị Kỳ bây giờ – Ảnh: Ngô Vương Anh

Từ cuối năm 1943, chị thoát ly gia đình, tạm xa đàn em còn chưa kịp trưởng thành. Với gánh chè trên vai như người bán chè rong qua các làng dọc tuyến ATK của T.Ư và Xứ ủy từ Hưng Yên, Bắc Ninh qua Phúc Yên, Đông Anh về Từ Liêm, Thượng Cát, chị giữ mối liên lạc thường xuyên giữa đồng chí Trường Chinh – Tổng bí thư của Đảng và đồng chí Văn Tiến Dũng – Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ. Trong gánh chè trên vai cô gái trẻ xinh đẹp đó là báo Cờ giải phóng, báo Cứu quốc, truyền đơn – những “hàng nặng”, có lần đến cả chục cân. Chỉ thị, thư từ liên lạc giữa các đồng chí lãnh đạo thì được cuộn chặt lại như con sâu kèn rồi cuốn kỹ trong khăn vấn đầu. Bước chân cô gái len lỏi khắp vùng ATK: bến đò Tiếu, chợ Keo, chợ Bỏi, Cổ Loa, Dâu, Xù, Gạ, Đặng, vực Dê, ao Cả…  Có những ngày gánh bộ dọc đường đê gần 50 km từ Bần (Hưng Yên) về đến làng Gạ (Phú Thượng, Hà Nội)… Không ít phen thoát hiểm trong gang tấc ở chợ Cổ Loa, ở vườn hoa Cửa Nam… nhưng khó khăn, gian khổ, nguy hiểm không làm cho chị nhụt chí.

Vợ chồng đại tướng Văn Tiến Dũng - Nguyễn Thị Kỳ thời trẻ Vợ chồng đại tướng Văn Tiến Dũng – Nguyễn Thị Kỳ thời trẻ – Ảnh tư liệu do gia đình cung cấp

Con gái Hà Nội vừa xinh vừa trắng dù ở chùa cố làm ra vẻ thôn dã nâu sồng vẫn chẳng tránh khỏi mấy gã trai lẵng vnhẵng vơ ẩn: “Lại cắc cớ sao mới phải đi tu đây”. Thậm chí, gã lý trưởng nhất định đòi lấy về làm lẽ. Lúc ở làng Bỏi (Đông Anh) lại gặp một tên háo sắc là em trai của lý trưởng. Gã này luôn mò đến tán tỉnh, săm soi, mò cả vào buồng lục lọi đôi quang gánh của chị. Lần đó chị vừa chuyển đôi ru lô (con lăn dùng để in truyền đơn trên bàn in đá) về. Tên em trai lý trưởng thần hồn nát thần tính dù chẳng biết quả bom hình thù ra sao, thấy đôi ru lô đen sì vội chạy bán sống bán chết và hét tướng lên: “Bom… bom…”. Chị phải lập tức cất giấu tài liệu đồ dùng và chuyển đi.

Cuối tháng 3.1945, đồng chí Trường Chinh giao nhiệm vụ cho chị mang tài liệu và chỉ thị của T.Ư vào Nam. Ngày 5.4, một ngày trước khi lên đường, chị Kỳ được đồng chí Tổng bí thư bố trí gặp “anh Hoài” – Văn Tiến Dũng tại một điếm canh đê ở làng Dâu. Từ giữa năm 1944, anh Hoài đã trở thành người chồng thân yêu của chị Kỳ nhưng hai vợ chồng chỉ có ba tháng cùng công tác với nhau thì anh Hoài bị bắt. Hai vợ chồng gặp nhau được ít phút, mừng mừng tủi tủi, chẳng kịp nói hết chuyện, rồi hôm sau lại chồng Bắc vợ Nam…

Đây là chuyến vào Nam công tác đầu tiên của người giao thông viên T.Ư. Hành lý chỉ gồm hai vali, một chiếc có hai đáy để giấu tài liệu. Đến Touran (Đà Nẵng), một tên Nhật sinh sự bắt chị Kỳ xuống tàu giao cho bọn hiến binh. Anh Lý Chính Thắng giữ chiếc vali hai đáy nhưng cũng kịp dặn chị Kỳ “Thuyền 103 sông Hương là cơ sở tốt”. Ở Touran, tên thông ngôn người Việt nhận chị Kỳ là người nhà và bảo lãnh cho chị Kỳ với điều kiện chị nhận lấy hắn. Chị Kỳ nhờ tên thông ngôn đưa ra khỏi Sở hiến binh để đến chiều trốn khỏi nhà hắn, thuê xe trở ra Huế. Gặp lại anh Lý Chính Thắng ở nhà thuyền 103, hai người tiếp tục cuộc hành trình quan trọng. Đến Phan Rí, đường lại tắc. Một viên sĩ quan Nhật gặp tại khách sạn nói với anh Thắng: “Chưa bao giờ tôi gặp một cô gái Việt Nam đẹp như thế. Nếu ông bằng lòng gả cô em cho tôi, tôi sẽ đưa về Nhật để ăn học…”. Tên Nhật cũng về Sài Gòn và nhận chở hai người về cùng bằng chiếc xe mô tô thùng nhà binh của hắn. Đoạn đường còn lại của hai người ít nguy hiểm hơn từ phía lính Nhật nhưng lại canh cánh nỗi lo bị các đồng chí mình trong rừng cao su tưởng nhầm là Việt gian mà quẳng cho vài trái lựu đạn. Đến Sài Gòn, vali tài liệu được chị Kỳ chuyển đến tận tay các đồng chí Hà Huy Giáp và Ung Văn Khiêm.

Sau chuyến “giao liên xuyên Việt” đó, chị Kỳ còn được T.Ư cử đi hai chuyến nữa đưa cán bộ và tài liệu từ T.Ư vào, khi trở ra lại đưa đại biểu Nam kỳ ra họp Hội nghị Tân Trào rồi lại trở vào mang chỉ thị Tổng khởi nghĩa của T.Ư đến miền Nam. Dọc đường đi chuyến này chị Kỳ đã chứng kiến làn sóng giành chính quyền cuồn cuộn từ Bắc chí Nam. Rất nhiều tỉnh dù chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa  từ T.Ư nhưng căn cứ vào bản chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã nhạy bén sáng tạo phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thành công. Vai trò, ý nghĩa của bản chỉ thị lịch sử đó được đánh giá cao không chỉ ở thời điểm nó ra đời mà cho tới cả những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng 8. Dù mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa trên đường từ Bắc vào Nam chỉ đi cùng, thậm chí đi sau các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh nhưng tinh thần nhanh chóng nắm thời cơ để khởi nghĩa kịp thời đã được chuyển vào từ trước đó bởi cùng một người.

Trong không khí sục sôi tiến tới tổng khởi nghĩa, chị Kỳ đi Nam mấy chuyến liên tiếp, hai vợ chồng chẳng gặp được nhau. “Anh Hoài” về chỉ huy giành chính quyền ở chiến khu Hà – Ninh – Thanh. Sau ngày Độc lập, đồng chí Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đoàn cán bộ của T.Ư tăng cường cho Nam bộ kháng chiến gặp chị Kỳ ở Nam bộ, đồng chí giục: “Anh Văn Tiến Dũng đang đợi cô ở trụ sở Ủy ban Ninh Bình đấy”. Chuyến ra Bắc lần này của chị rợp cờ đỏ sao vàng và ngập tràn không khí hân hoan mừng nền độc lập…

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

>> 67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945

Công nhân Quốc tế

l. Lịch sử Công nhân quốc tế thế nào ?

Trước phải biết qua lịch sử công nhân vận động, sau sẽ nói đến lịch sử công nhân.

Lịch sử công nhân vận động chia làm 3 thời kỳ: a) trước Âu chiến, b) đương lúc Âu chiến, c) khi Âu chiến rồi.

a) Trước khi Âuchiến: Bên Âu và Mỹ có chừng 16 triệu thợ thuyền có tổ chức và có một hội gọi là “Vạn quốc công hội” 70 . Nhưng 16 triệu người ấy không vào “Vạn quốc công hội” cả. Những đoàn thể vào lại chia ra nhiều phái biệt:

1. Công đoàn chủ nghĩa 71 Anh và Mỹ chỉ lo sao thợ thuyền sinh hoạt khá, mà không nói đến đánh đổ tư bản.

2. Vô chính phủ công đoàn 72 các nước Latinh 1 , thì không muốn lập chính đảng.

3. Cải lương chủ nghĩa 73 thì chủ trương công hội nên giúp chính đảng, nhưng không nên hợp với chính đảng 1 .

4. Trung lập chủ nghĩa 74 chủ trương rằng công nhân không phải là nền cách mệnh.

5. Cộng sản chủ nghĩa, chủ trương đập đổ tư bản, công nhân là nền cách mệnh, phải có chính đảng để dắt công hội làm cách mệnh.

Vì mục đích và chủ nghĩa lộn xộn không thống nhất như thế, cho nên hội không có lực lượng.

b) Khi âu chiến: Hội này đi theo Đệ nhị quốc tế, nghĩa là công hội nước nào giùm tư bản nước ấy.

Vả lại, tiếng là Vạn quốc nhưng chỉ có thợ thuyền Âu và Mỹ, còn thợ thuyền á, Phi, úc thì không vào.

c) Sau khi âu chiến: Phần thì thợ thuyền cực khổ, phần thì phong triều cách mệnh Nga, công hội càng ngày càng to. Như:

Nǎm 1913 Nǎm 1919

Anh chỉ có 4.000.000 người 8.000.000 người

Pháp chỉ có 1.000.000 người 2.500.000 người

Tất cả các nước: 15.000.000 người 50.000.000 người

Công hội bên á – Đông cùng rầm rầm rột rột lập lên (Tàu, Nhật, ấn Độ, Java, Philíppin, vân v.).

2. Phong triều ấy kết quả ra thế nào ?

Tư bản các nước thấy thợ thuyền thịnh thì sợ, và kiếm cách làm cho êm dịu xuống. Nǎm 1919 có khai đại hội bên kinh đô Mỹ, để giải quyết việc thợ thuyền trong thế giới. Trong hội ấy có đại biểu các chính phủ, các tư bản, và các công hội các nước. Nhưng nó chỉ cho bọn Đệ nhị quốc tế đại biểu cho thợ thuyền. Nước nào công nhân thịnh đã đòi được 8 giờ (như Anh, Pháp), thì đại biểu Chính phủ nước ấy yêu cầu các nước kia cũng phải dùng 8 giờ làm lệ chung (vì sợ tư bản nước kia được lợi hơn tư bản nước nó).

Sau tư bản lập ra hội Vạn quốc, lại lập thêm một bộ công nhân, có 12 đại biểu cho các chính phủ, 6 đại biểu cho tư bản, và 6 đại biểu cho thợ thuyền. Nó lại dắt mấy anh công tặc 1 làm đại biểu thợ thuyền!

3. Tư bản làm như vậy, thợ thuyền các nước có làm gì không ?

Thợ thuyền có 31 quốc tế.

29 quốc tế nghề nghiệp, nghĩa là nghề nghiệp nào có riêng quốc tế nghề nghiệp ấy; 1 quốc tế gọi là Quốc tế Amxtécđam hay là Quốc tế “vàng” và 1 Quốc tế đỏ.

Quốc tế nghề nghiệp có đã lâu, ước chừng 20.000.000 hội viên. Trong 29 quốc tế ấy, nghề sắt to hơn hết (3.000.000 người); hai là nghề than (2.500.000 người); ba là thợ làm nhà máy (2.300.000 người), vân v..

Lúc Âu chiến, các quốc tế ấy cũng tan, Âu chiến rồi lập lại, nhưng vì bọn hoạt đầu cầm quyền, nên công việc không ra gì. Như nǎm 1921, 1.000.000 người đào than Anh bãi công, vì người đào than Mỹ, Đức và các nước không giúp mà thua. Qua nǎm 1922, 500.000 thợ đào than Mỹ bãi công, cũng vì không ai giúp mà thất bại. Nói tóm lại là các quốc tế ấy có danh mà không thực.

4. Sao gọi là Quốc tế Amxtécđam hay “vàng”?

Vì Quốc tế ấy lập ra tại Amxtécđam (kinh đô Holǎng 1 ). Trong tiếng mới, phản cách mệnh gọi là sắc vàng; cách mệnh gọi là sắc đỏ.

Nǎm 1919, các công hội theo Vạn quốc công hội hội nhau tại Amxtécđam lập nên quốc tế này. Khi đầu rất to, nhưng sau nhiều công hội bỏ vào Quốc tế “đỏ”, nay chỉ còn lại công hội 23 nước, tất cả 14.400.000 người.

Quốc tế này theo bọn hoạt đầu Đệ nhị quốc tế đề huề với tư bản, và làm nhiều việc phản cách mệnh như:

1. Tán thành điều ước Vécxây của đế quốc chủ nghĩa bắt Đức đền 400.000.000 đồng.

2. Đức không gánh nổi, Mỹ lại đặt ra kế hoạch (gọi là kế hoạch Đạo Uy Tư) 2 bắt Đức đền 132.000.000.000 đồng. Kế hoạch ấy làm cho công nông Đức hoá ra nô lệ. Thế mà Quốc tế Amxtécđam cũng tán thành.

3. Không cho công hội Nga vào.

4. Phản đối cộng sản rất kịch liệt, mà đối đãi fasity rất hoà bình.

5. Sao gọi là Công nhân quốc tế đỏ?

Quốc tế vàng đã đề huề với tư bản, những thợ thuyền thiệt cách mệnh kiếm cách lập ra quốc tế khác.

Nǎm 1920, tháng 7, chỉ có mấy người công nhân Anh, ý, Pháp, Tây Ban Nha và Nga lập ra một cơ quan tuyên truyền. Nǎm 1921, đã có nhiều công hội bỏ bên kia theo bên này. Ngày mồng 3 tháng 7 nǎm ấy, Công nhân quốc tế đỏ lập thành.

Quốc tế đỏ theo về Đệ tam quốc tế, quyết làm giai cấp cách mệnh.

Nay đã có công hội 47 nước, 11.750.000 người vào.

Tháng 5 nǎm 1925 bên á – Đông có những hội này vào:

Tàu: 450.000 người;

Java: 35.000 người;

Nhật: 32.000 người;

Cao Ly: 5.000 người;

Mông Cổ: 5.000 người;

Thổ Nhĩ Kỳ: 20.000 người;

An Nam: 000.

6. Quốc tế này đối với cách mệnh An Nam ra thế nào?

Xem trong Quốc tế vàng không có công hội á – Đông nào, Quốc tế đỏ thì có 8 hội thuộc địa vào.

Khi thợ thuyền Java, ấn Độ bãi công, Quốc tế đỏ hết sức giúp, còn Quốc tế vàng thì không ngó đến.

ở Tàu, thợ thuyền Thượng Hải bãi công hơn ba tháng, Hương Cảng bãi công hơn một nǎm rưỡi, Quốc tế đỏ đã giúp tiền bạc, phái đại biểu qua yên ủi, lại sức công hội các nước giúp. Quốc tế vàng chỉ in vài tờ tuyên ngôn rồi làm thinh.

Vậy thì biết nếu thợ thuyền An Nam biết tổ chức thì chắc Quốc tế đỏ sẽ hết lòng giúp cho mà làm cách mệnh. Nhưng muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã.

cpv.org.vn

—————————-

71: Công đoàn vô chính phủ). Tr.290.

72. Tức là chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ – một trào lưu cơ hội chủ nghĩa trong phong trào công nhân, chịu ảnh hưởng về tư tưởng và chính trị của chủ nghĩa vô chính phủ. Những người theo chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ cho rằng công nhân không cần tiến hành đấu tranh chính trị, phủ nhận sự cần thiết phải có một đảng chính trị độc lập của giai cấp công nhân, phủ nhận công đoàn phải đặt dưới sự lãnh đạo của đảng, phủ nhận sự tất yếu của chuyên chính vô sản. Họ cho rằng công đoàn là hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và đấu tranh kinh tế là phương pháp đấu tranh duy nhất phù hợp với lợi ích của giai cấp công nhân, coi tổng đình công kinh tế là hình thức đấu tranh cao nhất giúp cho các công đoàn có thể thủ tiêu được chủ nghĩa tư bản mà không cần đấu tranh cách mạng, để tước đoạt các tư liệu sản xuất và nắm lấy quyền điều khiển nền sản xuất. Cách mạng Tháng Mười Nga đã giáng một đòn chí tử vào chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ, vạch rõ sự vô cǎn cứ và những hậu quả nặng nề của nó đối với giai cấp công nhân. Tr.290.

73. Chủ nghĩa cải lương là trào lưu chính trị trong phong trào công nhân, đối lập với chủ nghĩa Mác và nhưng lợi ích cǎn bản của giai cấp vô sản. Những người theo chủ nghĩa cải lương chủ trương đấu tranh giành những cải cách nhỏ bé trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản – không động đến cơ sở của chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa – để thay thế cho cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân lật đổ chủ nghĩa tư bản. Mục đích chính của chủ nghĩa cải lương là lừa bịp giai cấp công nhân, điều hoà mâu thuẫn giữa công nhân và tư sản, thực hành lý luận hợp tác giai cấp, hòng đem giai cấp vô sản phục vụ quyền lợi của giai cấp tư sản, làm cho công nhân rời bỏ cuộc đấu tranh giai cấp triệt để giành thắng lợi cho chuyên chính vô sản và cho chủ nghĩa xã hội. Lênin và những người cách mạng chân chính đã đấu tranh không khoan nhượng chống mọi hình thức của chủ nghĩa cải lương, bóc trần bản chất tư sản của nó và chống mọi đại biểu của nó ở các nước. Tr.290.

74. Có thể ở đây tác giả nói đến chủ nghĩa phái giữa, một biến tướng của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân, đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin mà đại biểu về tư tưởng và lý luận của nó là Cauxky. Trong Quốc tế thứ hai, Cauxky và đồng bọn, về hình thức đã giữ lập trường trung gian giữa phái công khai theo chủ nghĩa cơ hội (Bécxtanh) và phái xã hội – dân chủ cánh tả (Ph.Mêrinh, R.Lúcxǎmbua và C.Lípnếch), do đó có tên gọi là phái giữa. Nhưng trong thực tế họ ủng hộ và đầu hàng chủ nghĩa cơ hội, chống lại chủ nghĩa Mác và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân. Lợi dụng những lời lẽ mácxít giả hiệu và núp dưới chiêu bài những người mácxít chính thống, những người theo chủ nghĩa phái giữa mưu toan xoá nhoà bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác, làm lu mờ mâu thuẫn giai cấp giữa công nhân và tư sản, chủ trương đem quyền lợi giai cấp của giai cấp vô sản phục tùng quyền lợi của giai cấp tư sản, phủ nhận sự tất yếu của cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản. Lênin và những người cộng sản chân chính đã phê phán kịch liệt bọn cơ hội chủ nghĩa Cauxky, vạch trần sự trá hình, giấu mặt hết sức nguy hiểm của chúng. Tr.290.

Cộng sản thanh niên Quốc tế

l. Cộng sản thanh niên quốc tế là gì?

Trước kia các đảng xã hội có xã hội thanh niên. Các đảng ấy hợp lại thành Đệ nhị quốc tế. Các thanh niên ấy cũng tổ chức xã hội thanh niên quốc tế. Khi Âu chiến, phần nhiều Đệ nhị quốc tế đề huề với tư bản, phần nhiều thanh niên cũng bắt chước đề huề.

Những người thanh niên cách mệnh bỏ hội ấy cũng như ông Lênin và những người chân chính cách mệnh bỏ Đệ nhị quốc tế ra.

Đến tháng 11 nǎm 1919, thanh niên cách mệnh 14 nước bên Âu hội nhau tại kinh đô Đức (Béclin) lập ra Thanh niên cộng sản quốc tế.

Nãm 1921 đã có thanh niên 43 nước theo vào.

Nǎm 1922 có 60 nước, 760.000 người.

Nǎm 1924 có hơn 1.000.000 (thanh niên Nga chưa tính).

2. Cách tổ chức ra thế nào?

Đại khái cũng theo cách tổ chức Đệ tam quốc tế. Thanh niên các nước khai đại hội, cử ra một Hội uỷ viên; Hội uỷ viên có quyền chỉ huy, và thanh niên các nước nhất thiết phải theo kế hoạch và mệnh lịnh Hội ấy.

ước chừng 16 đến 20 tuổi thì được vào Hội. Trước lúc Hội cho vào thì phải thử, công nông binh thì 6 tháng, học trò thì một nǎm, làm việc được mới cho vào.

Mục đích Cộng sản thanh niên quốc tế là:

1. Thế giới cách mệnh;

2. Bồi dưỡng nhân tài để đem vào đảng cộng sản;

3. Chuyên môn về việc kinh tế và chính trị, có quan hệ cho bọn thanh niên;

4. Tuyên truyền tổ chức và huấn luyện bọn thợ thuyền, dân cày, học trò và lính thanh niên;

5. Phản đối mê tín và khuyên dân chúng học hành.

3. Cách họ làm việc thế nào?

Nơi thì công khai, như ở Nga, nơi thì nửa công khai, nửa bí mật, như ở các nước Âu và Mỹ. Nơi thì bí mật như ở Cao Ly, Java, vân v..

Tuyên truyền và tổ chức thì theo hoàn cảnh. Phái người lòn vào ở lính, hoặc làm thợ, hoặc đi cày, hoặc đi học để tuyên truyền và kiếm đồng chí. Khi kiếm được một ít đồng chí rồi, thì lập ra tiểu tổ chức. Hoặc lập ra hội học, hội đá bóng, hội chơi để lựa đồng chí và tuyên truyền.

Nói tóm lại là họ làm hết cách để xen vào trong dân chúng.

4. Cộng sản thanh niên đối với đảng cộng sản thế nào?

Hai đoàn thể ấy đối với nhau theo cách dân chủ, nghĩa là khi đảng có việc gì thì có đại biểu thanh niên dự hội. Khi thanh niên có việc gì, thì đảng có đại biểu dự hội. Đường chính trị, thì thanh niên theo đảng chỉ huy, nhưng việc làm thì thanh niên độc lập. Nếu đảng và thanh niên có việc gì không đồng ý, thì có hai Quốc tế xử phân.

Thanh niên cộng sản làm việc rất nỗ lực, rất hy sinh.

Trong nǎm 1921, Thanh niên Đức chỉ có 27.000 người và Mỹ chỉ có 4 chi bộ. Nǎm 1922 Đức đã có đến 70.000 người và Mỹ có đến 150 chi bộ.

Hồi lính Pháp đóng bên Đức, vì việc tuyên truyền, phản đối đế quốc chủ nghĩa trong quân đội, mà 120 thanh niên Pháp bị tù. Hồi Pháp đánh Marốc, cũng vì việc ấy mà hơn 3.000 thanh niên Pháp bị bắt.

Việc bãi khoá ở Tàu, vận động ở Cao Ly, bãi công ở Anh, vân v., Cộng sản thanh niên đều đứng đầu đi trước.

Ngày nay nước nào cũng có thanh niên cộng sản.

Chỉ An Nam là chưa !

cpv.org.vn

Quốc tế giúp đỡ

l. Quốc tế giúp đỡ là gì? 75

Nǎm 1921, nước Nga bị đại hạn mất mùa, dân chết đói nhiều. Đế quốc chủ nghĩa lợi dụng cơ hội ấy, bên thì muốn xui dân Nga nổi loạn, bên thì muốn kéo binh vào phá cách mệnh Nga. Phần thì đem các tàu bè vây biển Nga, không cho các tàu bè đi lại chở đồ ǎn bán cho dân Nga.

Những người có lòng tốt như ông Nanxǎn (người khoa học rất có danh tiếng nước Noócve 1 , ông ấy đi tàu bay qua Bắc cực), và các công hội đều có tổ chức hội cứu tế đi quyên tiền, đồ ǎn, và áo quần gửi cho dân Nga. Nhưng vì tổ chức tản mát cho nên sức lực yếu.

Đệ tam quốc tế và Công nhân quốc tế đỏ (mới tổ chức) xướng lên lập một hội Quốc tế giúp đỡ, để tập trung tất cả các hội cứu tế lại. Đệ nhị quốc tế và Công nhân quốc tế vàng không chịu vào, lập riêng ra một hội cứu tế riêng.

Tuy vậy, Quốc tế giúp đỡ cũng lập thành. Từ cuối nǎm 1921, đến nǎm 1922, Quốc tế này quyên được hơn 5.000.000 đồng bạc, và 40.000.000 kilô đồ ǎn cho dân Nga.

2. Khi Nga khỏi đói rồi, quốc tế này làm việc gì?

Nga khỏi đói rồi, Quốc tế này vẫn tiếp tục làm việc mãi. Bất kỳ xứ nào có tai nạn gì, Quốc tế này đều ra sức giúp. Như nǎm 1923 Ailan (Ireland) mất mùa, mấy vạn dân cơm không có ǎn, áo không có mặc, nhờ Quốc tế qua giúp mà khỏi chết đói. Nǎm 1924, thợ thuyền Đức bãi công hơn 60 vạn người, Quốc tế này lập ra nhà ǎn

không mất tiền, mỗi ngày hơn 25.000 người thợ tới ǎn. Lại lập ra nhà thương để nuôi những người bãi công đau ốm; lập ra nhà nuôi trẻ con của thợ thuyền, lập ra đội lữ hành đem trẻ con Đức qua gửi cho công hội các nước nuôi dạy. Lúc bãi công gần rồi mới đem về 1 .

Nǎm Nhật Bản có động đất, Tàu mắc lụt, Quốc tế này cũng chở đồ ǎn, đồ mặc và đồ làm nhà qua giúp.

Nói tóm lại là ở đâu mắc nạn lớn, là Quốc tế này đều giúp cả.

3. Quốc tế giúp đỡ lấy tiền đâu?

Quốc tế này không phải là một hộilàm phúc phát chẩn và bố thí như các hội của tư bản lập ra. Mục đích Quốc tế này là “thợ thuyền và dân cày trong thế giới là anh em, khi anh em xứ này rủi ro, thì anh em xứ khác phải giúp đỡ”, vậy nên, khi có việc thì hội viên ra sức quyên, khi vô sự thì phải góp hội phí. Hội phí tuỳ theo hạng người như thợ thuyền làm ra đồng tiền dễ, thì đóng nhiều hơn, dân cày ít tiền thì đóng ít. Nhưng ai cũng phải đóng.

Vì Quốc tế có chi bộ khắp cả 5 châu, và hội viên rất đông, nhất là ở Nga, cho nên chỉ hội phí góp lại cũng đã khá nhiều.

Quốc tế lại đem tiền ấy làm ra hoa lợi, như mở sở cày, làm hát bóng, mở nhà buôn, sở đánh cá, vân v.. Phần nhiều những công cuộc này đều là ở Nga. Chỉ một chỗ đánh cá ở Atrakan mỗi nǎm đánh được 4-5 triệu kilô cá.

Tiền bán ra đều để dành để giúp đỡ cho thế giới cả.

4. Quốc tế này đối với cách mệnh có ích gì?

Như nước An Nam gặp lúc vỡ đê vừa rồi, hay những khi đại hạn và lụt. Nếu Quốc tế biết, chắc có giúp đỡ. Song:

l. Là vì dân ta chưa ai biết đến mà kêu van;

2. Là Pháp sợ Quốc tế làm cho dân ta biết cách thân ái và liên hợp của vô sản giai cấp trong thế giới;

3. Nó sợ tuyên truyền cách mệnh cho nên nó hết sức giấu dân ta không cho biết rằng trong thế giới có một hội như thế và ngǎn trở Quốc tế ấy lọt vào đến An Nam.

Cái gì Pháp ghét, tất là có ích cho An Nam.

Còn như việc cách mệnh, Quốc tế này cũng giúp được nhiều. Xem như khi dân Nga đói, nhờ Quốc tế này mà không đến nỗi oán Chính phủ cách mệnh. Thợ thuyền Nhật nhờ Quốc tế này mà khôi phục được công hội lại mau. Thợ thuyền Đức nhờ Quốc tế này mà cứ việc phấn đấu, vân v., thì biết rằng Quốc tế này sẽ có ích cho cách mệnh An Nam nhiều.

cpv.org.vn

—————————-

75. Quốc tế giúp đỡ (tổ chức Giúp đỡ của công nhân quốc tế), được thành lập theo sáng kiến của Quốc tế Cộng sản vào tháng 9-1921 tại Béclin (Thủ đô nước Đức), từ cuộc Hội nghị quốc tế của các uỷ ban giúp đỡ nhân dân các vùng bị đói ở nước Nga Xôviết. Sau này tổ chức đó trở thành trung tâm quốc tế giúp đỡ các nạn nhân của chế độ tư bản. Từ nǎm 1935, tổ chức quốc tế này ngừng hoạt động; các chi bộ của nó tham gia vào các mặt trận nhân dân hoặc đấu tranh để thành lập các mặt trận nhân dân ở các nước. Tr.296.

Quốc tế cứu tế đỏ

l. Quốc tế cứu tế đỏ là gì? 76

Quốc tế giúp đỡ thì cứu tế cho dân bị tai nạn, và cũng cứu tế cho những người chính trị phạm nữa. Quốc tế cứu tế đỏ thì chuyên môn giúp đỡ cho chính trị phạm mà thôi.

Bây giờ là hồi tranh đấu; vô sản thì tranh đấu với tư bản, dân bị áp bức thì tranh đấu với đế quốc chủ nghĩa. Tư bản và đế quốc chủ nghĩa về một phe, vô sản và dân bị áp bức về một phe. Hai phe ấy cũng như hai quân đội đánh nhau. Quân đội cách mệnh thì theo cờ Đệ tam quốc tế. Quân phản cách mệnh thì theo cờ bọn nhà giàu. Đánh nhau thì chắc có người phải bắt 1 , người bị thương, người bị chết. Quốc tế cứu tế đỏ là như cái nhà thương để sǎn sóc cho những người bị thương, giùm giúp cho những người bị bắt, trông nom cho cha già mẹ yếu, vợ dại con thơ của những người đã tử trận cho cách mệnh.

2. Quốc tế cứu tế đỏ lập ra bao giờ?

Nǎm 1923, Đệ tam quốc tế khai đại hội, có hội “bị đày chung thân” và hội “những người cộng sản già” đề nghị, và Đệ tam quốc tế tán thành lập ra Quốc tế cứu tế đỏ. Trước hết lập ra tổng bộ tại Nga. Bây giờ nước nào cũng có chi bộ. (Chỉ có An Nam chưa).

Nga bây giờ có 50.000 phân bộ và 9 triệu hội viên. Tất cả công nhân và nhiều dân cày vào hội ấy, hoặc vào từng người, hoặc cả đoàn thể. Tất cả các người cộng sản và cộng sản thanh niên đều phải vào hội ấy.

Khi mới lập ra, ba tháng đầu đã quyên được 300.000 đồng. Bốn tháng sau thì quyên được 4.000.000 đồng. ở tỉnh Quảng Đông, Tàu mới lập chi bộ được 6 tháng mà đã được 250.000 hội viên.

Xem thế thì biết Quốc tế ấy phát triển rất chóng.

3. Quốc tế giúp cách thế nào?

Khi những người cách mệnh hoặc bị đuổi, hoặc bị bắt, hoặc bị tù, hoặc bị chết, thì Quốc tế giúp đỡ:

l. Chính trị;

2. Kinh tế;

3. Vật chất;

4. Tinh thần.

a) Giúp chính trị: Như có người bị bắt, bị giam, thì Quốc tế sức 1 cho các chi bộ khai hội và tuần hành thị uy. Như vừa rồi có hai người cách mệnh ý bị bắt tại Mỹ, toan phải án chết, Quốc tế sức chẳng những là thợ thuyền Mỹ làm như thế, mà lại nước nào, xứ nào có lĩnh sự 2 Mỹ thì thợ thuyền đều khai hội tuần hành và tuyên ngôn rằng: Nếu Chính phủ giết hai người ấy, thì thợ thuyền Mỹ bãi công, và thợ thuyền thế giới sẽ tẩy chay Mỹ. Mỹ thấy vậy thì không dám làm tội hai người ấy.

b) Giúp kinh tế: Hễ bị giam thì thường ǎn uống cực khổ, còn vợ con cha mẹ ở nhà thì không ai nuôi. Quốc tế gửi tiền cho để mua đồ ǎn trong nhà giam và giúp cho người nhà ít nhiều để khỏi phải đói rách. Như vậy thì những người bị giam cầm đã khỏi cực khổ quá, mà lại vui lòng. Hoặc Quốc tế xuất tiền thuê thầy kiện để chống án cho. Hoặc gửi áo quần sách vở cho.

c) Giúp tinh thần: Hoặc phái người hoặc gửi thơ đến thǎm.

1. Người ở giam biết rằng mình tuy hy sinh cho quần chúng mà quần chúng không quên mình, thế thì trong lúc bị giam đã không buồn sau được khỏi lại càng hết sức.

2. Là người ta biết rằng mình tuy phải giam một nơi, nhưng công việc cách mệnh vẫn cứ phát triển, vẫn có người làm thế cho mình.

4. Cách mệnh An Nam nên theo Quốc tế này không ?

Nên lắm. Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Đã là đồng chí, thì sung sướng cực khổ phải có nhau. Huống gì, dân An Nam là đương lúc tranh đấu với đế quốc chủ nghĩa Pháp, chắc là về sau sẽ có nhiều người cách mệnh phải hy sinh, phải khốn khổ, phải cần anh em trong thế giới giúp giùm.

cpv.org.vn

——————————-

76. Quốc tế Cứu tế đỏ: Một tổ chức cách mạng thành lập nǎm 1923 hoạt động theo đường lối của Quốc tế Cộng sản. Mục tiêu chủ yếu của Quốc tế Cứu tế đỏ là đoàn kết các lực lượng cách mạng để đấu tranh chống lại những hành động đàn áp, khủng bố của chính quyền đế quốc, đòi trả tự do cho những nhà hoạt động chính trị của giai cấp công nhân và của phong trào giải phóng dân tộc bị bọn thống trị bắt bớ, giam cầm. Hội còn động viên sự đóng góp của quần chúng lao động để giúp đỡ về tinh thần và vật chất cho những gia đình có người thân hy sinh hay bị tù đày vì hoạt động cách mạng. Quốc tế Cứu tế đỏ có chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới. Nǎm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu tổ chức này và nêu lên sự cần thiết phải thành lập một chi nhánh Cứu tế đỏ ở Đông Dương. Ngay sau khi Đảng ta được thành lập, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 đã quyết định thành lập Hội Cứu tế đỏ Đông Dương, một chi bộ của Quốc tế Cứu tế đỏ. Hội Cứu tế đỏ không phải là một tổ chức từ thiện, mà là một đoàn thể đấu tranh cách mạng, một tổ chức tương trợ cách mạng của đại đa số quần chúng, nên hoạt động của Hội chủ yếu hướng vào quần chúng công nông và những người bị áp bức. Đại hội lần thứ I của Đảng ta (nǎm 1935) ra Nghị quyết về Cứu tế đỏ Đông Dương vận động đã kiểm điểm hoạt động, rút kinh nghiệm và vạch ra những nhiệm vụ cần kíp của Hội. Cứu tế đỏ Đông Dương đã ra sức phát huy vai trò của quần chúng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc ở Đông Dương. Tr.299.