Archive | 2012

Chí nhân thay cường bạo

Trong mắt người nước ngoài

QĐNDLTS: Báo chí và nhiều nguồn thông tin khác của Mỹ chỉ rõ tính tổ chức chặt chẽ và tình người của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chăm sóc, chữa trị thương binh, bệnh binh, chính sách đối với thương binh, tử sĩ, kể cả đối với tù binh của đối phương…

Từ đầu cuộc chiến tranh tổng lực của Mỹ giữa thập kỷ 60 thế kỷ 20, tác giả Ku-nô Knô-bơn (Kuno Knoebl) trong cuốn “Việt Cộng: Bộ mặt của cuộc kháng chiến ở Việt Nam” (Victor Charlie: The face of war in Viet Nam, Nxb Frederick A.Praeger, 1967), cảnh báo: “Kẻ thù của cách mạng miền Nam (quân đội Mỹ) điều hành một bộ máy chiến tranh hiện đại, yểm trợ đường không với trực thăng, máy bay ném bom, yểm hộ pháo binh và tiếp tế vô cùng dồi dào. Một lính Mỹ bị thương có được mọi cơ may để tới một quân y viện nhanh chóng và có một cơ hội lớn hơn so với thương binh Quân Giải phóng để có thể sống sót, dù bị thương nặng đến mức nào. Đối với chiến sĩ Quân Giải phóng, cùng lắm cơ hội sống chỉ đến khi được đưa về căn cứ gần nhất trong rừng, hoặc làng nào gần nhất có người dân theo cách mạng, thông thường đều nằm cách mặt trận nhiều cây số. Nhiều thương binh bị chết do không được cấp cứu đúng lúc. Các cơ hội để cho cán binh Quân Giải phóng bị vây thoát chết là gần như không có”.

Ku-nô Knô-bơn nhấn mạnh rằng, trong khi các đơn vị của quân đội Mỹ có thể sửa sai nhiều lần, bất chấp thương vong, các lực lượng Giải phóng “thua xa” đối phương về vũ khí, trang bị, quân số, nên đã chọn cách đánh hiệu quả, tiết kiệm sinh lực, trang bị, “góp gió thành bão”. Tác giả viết: “Họ (Mặt trận giải phóng) bù chỗ yếu bằng chiến lược và bằng lập kế hoạch vô cùng tỉ mỉ… Họ thỉnh thoảng mắc sai lầm, nhưng không bao giờ lặp lại hai lần…

Trang 225 thuật lại một cuộc trao đổi của Ku-nô Knô-bơn với một đại diện của Mặt trận Giải phóng. Câu hỏi vì sao Quân Giải phóng hiếm khi để lại thương binh, xác tử sĩ tại chiến trường, có một câu trả lời là: Cần cố mang theo “xác đồng chí của mình và chôn cất họ càng gần quê cha đất tổ của họ càng tốt”, theo ước nguyện của các chiến sĩ trước khi vào trận đánh.

Một mặt trận tranh đấu mất còn

Trong sách “Bộ đội Việt Nam – một thiên chính sử” (Inside the VC and the NVA the real story of North Armed Forces, Nxb Ballantine Books, 1993), chương 8, các tác giả Mai-cơn Li Lan-ninh (Michael Lee Lanning) và Đan Crác (Dan Cragg) viết khá tỉ mỉ về hệ thống quân y của Quân Giải phóng.

“Cung cấp về y tế là vô cùng gay go đối với các đơn vị Quân Giải phóng, thường hoạt động trong rừng, thường xuyên phải vận động chiến, hành quân xa vất vả. Bộ đội thường bị Quân đội Mỹ và Quân đội Sài Gòn tấn công trên bộ và từ trên không, tồn tại với một suất ăn tối thiểu, dễ bị các bệnh truyền nhiễm nhiệt đới tại các vùng địa hình khác nhau thuộc Đông Nam Á. Hiện chưa có số liệu về sự thiếu thốn thuốc men ở miền Bắc, nhưng yêu cầu phục vụ chiến đấu và phòng, chống tật bệnh trong điều kiện chiến trường miền Nam đã đặt đội ngũ y, bác sĩ Quân Giải phóng vào tình thế vô cùng khó khăn cho thực hiện chức trách của mình.

Ngoài sự hết lòng vì thương binh, bệnh binh, các giải pháp được áp dụng là tận dụng tất cả các nguồn cung cấp thuốc men từ viện trợ các nước “phe cách mạng” (các nước XHCN), giúp đỡ nhân đạo từ một số nước thứ ba (thường ở bán đảo Scandinavia), mua tại các thị trường tạm bị chiếm ở Nam Việt Nam, mua ở Lào và Cam-pu-chia. Cơ sở vật chất tại chỗ được tận dụng theo phương châm Đông-Tây y kết hợp”.

Chăm sóc thương binh trong Quân y viện dã chiến, năm 1969. Ảnh: Lưu trữ Đông Dương, Hoa Kỳ.

Tài liệu Hậu cần cộng sản tại chiến trường miền Nam (của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn in năm 1970), nêu các nguồn cung cấp thuốc vào miền Nam cho Mặt trận Giải phóng, như những mục tiêu cần ngăn chặn, kiềm tỏa. Quân đội Sài Gòn cũng theo sát các xưởng dược của Trung ương Cục, Chiến khu Dương Minh Châu, Khu ủy các Khu, các trường đào tạo dược sĩ, dược tá của Miền và các nguồn “xâm nhập” của chuyên gia y dược vào miền Nam. Tài liệu này khái toán chi phí mua thuốc của Mặt trận năm 1966 lên tới 200 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng hòa, tương đương với 2,5 triệu USD.

Quân Mỹ – Sài Gòn thường chú trọng tìm các bệnh xá, trạm xá quân dân y, các kho – xưởng, cơ sở bào chế thuốc để đánh vào. Theo các sách được dịch sang Anh ngữ, như cuốn Nhật ký của liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm về một trạm xá bị quân Mỹ – Sài Gòn tìm diệt như một mục tiêu quan trọng bậc nhất. Một tác phẩm khác được những người đọc phương Tây chấm 5 sao là bút ký “Tây Nguyên ngày ấy” của cố GS, bác sĩ Lê Cao Đài, đã làm rung động tâm tưởng độc giả trên từng trang sách, trên từng số phận của thương binh, bệnh binh và những người chăm sóc họ trong quân y viện trong rừng. Các trạm xá, bệnh xá, quân y viện… đều cố gắng tồn tại, trụ bám bằng mọi giá, để làm “điểm chờ” cho hy vọng bảo tồn sinh mạng của đồng đội bị thương.

Thầy thuốc như mẹ hiền

Mai-cơn Li Lan-ninh và Đan Crác viết tiếp: “Một yếu tố cực kỳ quan trọng để đảm bảo tinh thần chiến đấu trong bất kỳ quân đội nào là chất lượng điều trị… Nhiều người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam coi hệ thống y tế của “Việt Cộng” là cực kỳ nguyên thủy. Điều này không đúng. Một bác sĩ Mỹ viết năm 1966, “xu hướng hạ thấp quy mô và hiệu quả của hoạt động y tế của “Việt Cộng” là cần tránh… Nếu toàn bộ sự thật được công bố, tất cả chúng ta sửng sốt vì chất lượng y tế mà họ cung cấp được cho bệnh binh và thương binh của mình”.

Một quân y sĩ Quân Giải phóng cho biết cương lĩnh của nghề mình: “Lương y như từ mẫu. Có nghĩa là các chiến sĩ ở xa cha mẹ họ, nên quân y sĩ phải thay mặt cha mẹ của chiến sĩ. Người quân y sĩ có nhiệm vụ làm giảm nỗi đau khi chiến sĩ đau ốm, phải an ủi chiến sĩ khi họ không vui, phải cư xử như bạn tâm tình của chiến sĩ”.

Buồng mổ trong mùa nước nổi tại quân y viện dã chiến Nam Bộ. Sách: “Chân trần chí thép: Những ký ức từ bên kia chiến tuyến” (Bare Feet, Iron Will ~ Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields), tác giả James G.Zumwalt, Nxb Forits Publishing, 2010.

Sơ cứu được thực hiện nhờ các thứ thuốc trong túi thuốc cá nhân, có thể gồm cả các thuốc kháng sinh, vi-ta-min, các vị thuốc đông y. Khi việc cứu chữa tại chỗ không giải quyết được, thương binh, bệnh binh được chuyển tới các quân y viện. Các quân y viện như thế thường được triển khai một cách có cân nhắc, chẳng hạn, thuộc một Binh trạm trên đường Trường Sơn, tại một vùng đất biên giới Cam-pu-chia”.

Các tác giả tiếp tục mô tả một bệnh viện dã chiến có 3 phòng mổ nằm dưới mặt đất, có khá nhiều thuốc men, nằm trên diện tích khoảng 0,4ha. Dưới bệnh viện là hệ thống địa đạo. Địa đạo khá rộng, sâu tới 2m, dài hơn 20m, rộng khoảng 15m, có thể mắc võng…

Một bệnh viện dã chiến tuyến trên có thể được xây trên mặt đất, có ba khoa, trên chu vi một chiều 200m, chiều kia 100m, chứa được 70-80 giường mỗi khoa. Viện có máy X quang, khoảng 4 bác sĩ và nhiều quân y sĩ, y tá, có thể giải phẫu và điều trị nhiều bệnh và thương tật.

Nhưng việc sơ tán thương binh khỏi chiến trường là rất khó khăn. Có trường hợp thương binh nặng phải chuyển lên tuyến trên bằng thuyền mất đôi ba ngày đường. Nhưng điều kiện điều trị là tốt. Một thương binh kể: “Thức ăn ở quân y viện có dinh dưỡng cao. Hàng ngày, bệnh nhân nhận được khẩu phần có cả sữa, chanh, thịt lợn, gà, bò… Bác sĩ phẫu thuật chính được thương binh, bệnh binh yêu mến vì ông luôn coi cưa cắt là phương án cuối cùng, luôn cố cứu, không để thương binh bị tàn phế”.

Sách cũng mô tả một quân y sĩ Quân Giải phóng là giàu lòng nhân ái và gương mẫu, so với chuẩn mực của bất kỳ bên nào.

Chí nhân thay cường bạo

Theo hồ sơ lưu trữ “Khó khăn, bất cập trong thực hiện chính sách và thực tiễn của Việt Cộng” (Contradictions between offial policy and VC, năm 1967) của tình báo Mỹ, Quân Giải phóng phải đảm bảo chữa trị, đối xử tốt với tù binh đã bị thương của phe Mỹ.

Nhiều tác giả phương Tây, như W.Bớc-sét (Wilfred Burchett) đã viết, bất kỳ cán bộ, chiến sĩ cách mạng nào, dù bị thương, đau ốm, “nếu bị quân đội Mỹ bắt, sẽ nhất định bị tra tấn ngay lập tức”. Từ 1965, sách “Việt Cộng: Bộ mặt của cuộc kháng chiến ở Việt Nam” đã tả cảnh một chiến sĩ Quân Giải phóng bị thương, bị bắt và bị tra tấn dã man. Phía Mỹ cho rằng, người lính này khẳng định chỉ chiến đấu vì lòng yêu nước. Nhưng tác giả Ku-nô Knô-bơn đã nhận thấy khuôn mặt của người lính Quân Giải phóng đã bừng sáng khi tên anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh được nhắc đến. Từ chối cung khai “tổ chức biên chế của Việt Cộng”, người thương binh đã hy sinh tại trận vì cực hình tàn khốc của kẻ thù.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn

Hồng y Spen -man và cuộc “Thánh chiến” ở Việt Nam

QĐND – LTS: Việc tham chiến trực tiếp của Mỹ đã đẩy chiến tranh Việt Nam vào thời ác liệt nhất. Trong khi Tòa thánh Vatican đã chuyển sang tìm kiếm giải pháp hòa bình cho cuộc chiến thì một hồng y giáo chủ ở Hoa Kỳ vẫn kích động chiến tranh. Đó là Phran -xít Spen -man (Francis Spen-man), “cha đẻ” của nền “đệ nhứt cộng hòa”, theo nhiều tác giả Mỹ. Còn phong trào chống chiến tranh ở phương Tây thậm chí còn gọi cuộc chiến phi nghĩa này của Mỹ là “cuộc chiến tranh của Spen -man”.

Chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ đâu?

Hồng y Phran -xít Spen -man (1889-1967) là một chủ đề không mệt mỏi của văn học không hư cấu Hoa Kỳ, nhưng những gì người đọc nhớ được đều là sách bình phẩm, thường khá chua chát, về quãng đời hoạt động của ngài. Đó là các sách như Lễ cầu hồn nước Mỹ: Chúa trời, cha tôi, và cuộc chiến giữa chúng tôi (An American Requiem, God, My Father, and the War that Came Between Us, NXB Mariner Books, 1997), được giải thưởng văn học cao nhất của Mỹ, Vì sao chúng ta đến Việt Nam? Câu chuyện gây sốc về vai trò của Giáo Hội Thiên Chúa trong khởi động cuộc chiến tranh ở Việt Nam (Vietnam Why did we go?: The Shocking Story in the Catholic “Church’s” Role in Starting the Vietnam war; NXB Avro Manhattan), và nhất là cuốn Vị Giáo hoàng của Huê Kỳ: Cuộc đời và thời thế của giáo chủ áo đỏ Spen -man (The American pope: The Life and Times of Francis Cardinal Spen-man, NXB The New York Times Book Co., Inc., 1984) của Giôn Cu -nây (John Cooney). Tác giả Cu -nây đã sử dụng tư liệu từ chính nhật ký của Spen -man, những hồ sơ về Spen -man đã giải mật của FBI, và phỏng vấn nhân chứng để viết cuốn tiểu sử Spen -man được đánh giá rộng rãi là rất có giá trị về lịch sử.

Sách Biến thế giới thành cõi an lạc cho đạo đức giả, dùng hình vẽ Hồng y Spen -man làm bìa minh họa.

Trong cuốn Biến thế giới thành cõi an lạc cho đạo đức giả (Making the World Safe for Hypocrisy, NXB Swallow Press, 1972) tác giả ét -uốt So -ren (Edward Sorel) dùng họa phẩm nổi tiếng Trải qua Giáo hoàng Đề cao vũ khí (Pass the Lord and Praise the Ammunition) của ông, vẽ hình đức Hồng y Spen -man, làm bìa sách. Bức họa này cũng được chú thích dưới là “Cuộc chiến tranh của Spen -man năm 1965” (Spelly’s War in Vietnam 1965), ngụ ý cuộc đổ quân Mỹ vào miền Nam đầu chiến tranh cục bộ [1].

Các bài báo đáng chú ý nói về sự “dính líu” của ngài với chiến tranh Việt Nam thì ta khó có thể điểm hết trong khuôn khổ một bài báo. Ai đó sẽ cãi rằng đó là vì Spen -man đã là vị Tổng tuyên úy của quân đội Mỹ từ trước Thế chiến II, và ngược lại, sẽ có người nhấn mạnh, rằng sinh thời, Ngài còn cổ vũ vài cuộc “binh đao” khác: Như các cuộc xâm lược Cu -ba (Vịnh Con lợn, năm 1961 thời Ken -nơ-di), hay Cộng hòa Dominica (1965-1966 thời Giôn -xơn)

Tuy nhiên, đức Hồng y Spen -man hẳn là giáo chủ đầu tiên “bị” con chiên tới biểu tình trước giáo đường “đại bản doanh” lẫn dinh thự riêng. Nguyên do là chiến tranh ở Việt Nam, một cuộc chiến lần đầu tiên được đặt tên là “cuộc chiến tranh của Spen -man”.

Giêm-xơ Ke -rôn (James Caroll), tác giả cuốn Lễ cầu hồn nước Mỹ…, sinh ra trong gia đình quen biết riêng với Hồng y Spen -man cũng khẳng định: “Chiến tranh ở Việt Nam do chính Spen -man khởi động (The Vietnam War began as Spen-man’s).

Các tác giả nghiên cứu về Hồng y Spen -man nghĩ rằng, ngài đã có ảnh hưởng lớn lao để Tổng thống Ai -xen-hao (Eisenhower) công bố thuyết Domino: “Đang tiềm tàng một chuỗi các sự kiện nối nhau, éông Dương mất, sẽ đến lượt Miến Điện, Thái Lan, các nước vùng bán đảo (ý nói Ma -lai-xi-a, Xin-ga-po), rồi In -àö-nê-xi-a”.

Trong sách “Vị Giáo Hoàng của Huê Kỳ: Cuộc đời và thời thế của giáo chủ áo đỏ Spen -man”, tác giả dành hàng chục trang nói về chủ đề Spen -man và Việt Nam, khẳng định, nếu Spen -man không tìm kiếm những “chí sĩ” như Ngô Đình Diệm để tài trợ, người ta không thể dựng lên cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Sách “Dòng Jesuit và sự bội phản của giáo hội La Mã” (The Jesuits: The Society of Jesus and the Betrayal of the Roman Catholic Church, NXB Linden, Simon & Schuster, 1987), của tác giả Ma -la-chi Mar-tin, người đã rời bỏ áo lễ thày tu sau nhiều chức vụ quan trọng ở Giáo hội chỉ ra Spen -man (và Tòa thánh Vatican) đã dẫn đường người Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên, và dấn vào “đoạn trường” ở Việt Nam.

“Con nuôi” đại giáo chủ

Từ điển wikipedia cho hay Spen -man học cùng với Ngô Đình Thục ở Trường truyền giáo Roma trước những năm 30 [2]. Họ gặp lại nhau ở Sài Gòn ngay trước ngưỡng cửa thập kỷ 50 [3], khi Spen-man đã hào hùng với ảnh hưởng cả trong lẫn ngoài quân lực Mỹ. Sử liệu tiếng Việt cho rằng Tổng giám mục Sài Gòn người Pháp Giăng Cát -xen (Jean Cassaigne) đã mời Tổng giám mục Vĩnh Long Ngô Đình Thục lên dự buổi tiếp đón Spen -man tại Sài Gòn, 25-5-1948 trong một tái ngộ mang tính định mệnh. Đây hẳn là một cú huých quyết định để Ngô Đình Thục quyết mang ông em Ngô Đình Diệm, đã hàng chục năm rời khỏi chính trường, sang Hoa Kỳ và Rô -ma, tiếng là để dự năm thánh 1950. Cuộc tráng men “lực lượng thứ ba” (vừa chống cộng, vừa chống Pháp) ở Vatican và nhất là ở Hoa Kỳ sẽ dẫn tới sự tái xuất của chính khách lưu vong Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn vào đúng lúc ông chủ Pháp vừa ngã ngựa ở thung lũng Điện Biên.

Nhiều nghiên cứu trong ngoài nước nhất trí cho rằng, ông Ngô Đình Diệm có ít nhất hai vị “cha nuôi” người Hoa Kỳ quyền oai tối thượng: Hồng y Spen -man, và… trùm CIA A -len Đa -lớt (Allen Dulles).

Một biên niên của “Đệ nhứt Cộng hòa”

Các tác giả nghiên cứu về mối quan hệ “cha – con” của Đức Hồng y giỏi việc binh đao, và ngài chí sĩ họ Ngô sắp xếp một niên biểu khái lược như sau:

Năm 1951 Diệm sang Mỹ gặp Spen -man. Vị Hồng y lần lượt giới thiệu viên cựu quan triều Nguyễn, Ngô Đình Diệm với thẩm phán tối cao pháp viện Uy -li-am Đâu -glát (William O. Douglas); thượng nghị sĩ Mai -cơn Man -xphiu (Michael Mansfield); Ken-nơ-đi (Kennedy) tổng thống tương lai và phụ thân của ông này; rồi sếp CIA A -len Đa -lớt [4] … Theo Vị Giáo Hoàng của Huê Kỳ …, tr. 242, Spen-man xúc tiến cẩn thận việc sắp xếp chiến dịch nặn ra chế độ Diệm.

Giữa tháng 6-1954, theo hồi ký của Bảo Đại, phía Mỹ ép cựu vương này phong thủ tướng cho Diệm tại Pa -ri. Diệm được Mỹ đưa về Sài Gòn một tháng trước khi Hiệp định Geneva được ký kết.

Năm 1955 nhóm CIA của “phù thủy” ét -uất Len -xđên (Edward Landsdale) phù phép trong “trưng cầu dân ý” phế truất Bảo Đại, tôn phò Ngô Đình Diệm. Diệm lên ngôi “quốc trưởng” với tỷ lệ 92,2%, con số cao hơn cả tổng số cử tri đi bầu (!), theo Stan-lây Kác -nâu (Stanley Karnow) trong Việt Nam, một thiên sử (Vietnam A History, NXB Viking, 1983 trang 239).

Cùng kỳ, theo J. Dunn-gan và A. No -fi, trong Những bí mật nhỏ bẩn thỉu của cuộc chiến tranh Việt Nam, (Dirty Little Secrets of the Vietnam war, NXB Thomas Dunne Books, 1999, tr. 257), Tổng thống Mỹ Eisenhower gửi công hàm chính thức Ngô Đình Diệm cho biết từ đây Mỹ, chứ không còn là Pháp, sẽ viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn. Từ đó, hàng năm Mỹ viện trợ khoảng 500 triệu đô -la cho chính quyền Diệm.

Các sử liệu cho hay, ngoài viện trợ của chính quyền Mỹ qua quỹ Dịch vụ cứu nạn của Nhà thờ Ki -tô giáo (Catholic Relief Services), đích thân Hồng y Spen -man thăm Sài Gòn, tài trợ thêm cho quỹ này 100 nghìn USD để giúp tái định cư người di cư. …

Tới 1963, Ngô Đình Diệm “thất sủng” chưa từng có. Tháng 11-1963, Spen-man đã làm ngơ (có nguồn nói bật đèn xanh) cho vụ diệt “con nuôi” Ngô Đình Diệm.

Cuốn Truyền thống nhân đạo trong kỷ nguyên Việt Nam (The human tradition in the Vietnam era, NXB Scholarly Resources, 2000) của Đê -vít An -àú-xơn (David L. Anderson), viết tại trang 3: “Uyn-xơn Mít -xcam-bơ khám phá đời sống của Spen -man và vai trò của ông ta như một phát ngôn viên của tâm lý chống cộng trong văn hóa chiến tranh lạnh ở Mỹ. Mít -xcam-bơ cũng khảo sát quan hệ của Spen -man với Ngô Đình Diệm, Tổng thống miền Nam, cũng là một kẻ sùng đạo dòng La Mã. Ngay cả sau khi Diệm chết năm 1963, Spen-man tiếp tục vai “Cha tuyên úy trưởng cho chiến tranh Việt Nam” (unofficially – không được chính thức tấn phong). Ngay cả sau khi Diệm chết, vị Hồng y này vẫn sắt đá bảo vệ “sự chính nghĩa” của cuộc can thiệp vào Việt Nam của Mỹ, bất chấp tâm lý chống chiến tranh lan rộng.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn

[1] http://granddesignexposed.com/who/rules.html
[2] http://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Dinh_Thuc
[3] http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%AAr%C3%B4_M%C3%A1ctin%C3%B4_Ng%C3%B4_%C4%90%C3%ACnh_Th%E1%BB%A5c
[4] Vì sao chúng ta đến Việt Nam, chương 7, Những nhân vật đứng đằng sau cuộc chiến tranh Việt Nam. http://www.reformation.org/chapter7.html

Chủ quyền của Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa biển đông dưới thời Tây Sơn

QĐND – Thành tựu to lớn bậc nhất của phong trào Tây Sơn là đã phá bỏ được ranh giới chia cắt Đàng Trong, Đàng Ngoài, bước đầu và đặt cơ sở nền tảng cho sự nghiệp thống nhất đất nước trên phạm vi rộng lớn tương đương với nước Việt Nam ngày nay, trong đó có đường bờ biển chạy dài từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan với hàng nghìn hòn đảo ven bờ cùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Giống như các chúa Nguyễn trước đây, nhà Tây Sơn vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác các vùng quần đảo giữa Biển Đông.

Ngày nay chúng ta biết về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải chủ yếu thông qua sách Phủ Biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn. Lê Quý Đôn viết Phủ Biên tạp lục vừa bằng nguồn tư liệu lưu trữ của chúa Nguyễn, vừa bằng nguồn tư liệu mắt thấy, tai nghe. Lúc này cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã bùng nổ được 5 năm đang phát triển rất mạnh mà quân Trịnh sau gần 2 năm tiến vào Nam đang gặp nhiều khó khăn, Nguyễn Nhạc chủ động hòa hoãn với quân Trịnh để tập trung lực lượng đánh đổ chế độ chúa Nguyễn. Quân Trịnh đã chấp thuận yêu cầu này và rút về Phú Xuân, nên toàn bộ khu vực từ Quảng Nam trở vào Nam lại thuộc quyền kiểm soát của quân Tây Sơn. Vì thế rất nhiều nội dung hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải được Lê Quý Đôn phản ánh chính là những câu chuyện mà mắt thấy, tai nghe trong khuôn khổ hoạt động của Vương triều Tây Sơn, khi ông làm Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hóa năm 1776.

Thuyền buồm của đội Hoàng Sa vào thế kỷ 17-18. Ảnh: Kỷ yếu Hoàng Sa.

Tương tự như Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Quýnh là người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là xã Song Lộc, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh), đỗ Tiến sĩ năm 1772, làm quan nhà Trịnh và năm 1775 cũng được điều vào Thuận Hóa đánh chúa Nguyễn. Từ năm 1783 cho đến năm 1785, ông được thăng chức Đốc thị Thuận Quảng và bị chết trận tại đây vào năm 1785. Trong khoảng thời gian hơn 10 năm ở Thuận Quảng, ông đã tập hợp các nguồn tư liệu và hoàn thành cuốn Quảng Thuận đạo sử tập. Sách có bản đồ Cù Lao Ré và phần chú nói rõ trên hòn đảo này có đội Hoàng Sa Nhị được tổ chức riêng “hàng năm thường cử 8 thuyền ra biển nhặt của quý về nộp tại Phú Xuân”. Những hình ảnh thực tế của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải mà Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Quýnh phản ánh cũng chính là hình ảnh của các lực lượng khai thác và bảo vệ Biển Đông trong thời Tây Sơn và của Vương triều Tây Sơn.

Phong trào Tây Sơn sau khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773 đã kiểm soát được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam cho đến tận Bình Thuận. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải, từ rất sớm, đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn. Nguồn tư liệu thư tịch đương đại khai thác được ở Cù Lao Ré (huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) là minh chứng sinh động cho thực tế này.

Vào ngày 15 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775), Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn), xã An Vĩnh về kho Nội thuộc Hà Bạc, huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi là Hà Liễu làm đơn trình bày: “Nguyên xã chúng tôi xưa đã có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn tâu xin, được cho lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và Quế Hương Hàm với nhân số 30 người. Hàng năm thường nạp thuế bằng 10 (thạch) đồi mồi, hải ba, 5 lượng quế hương. Đến năm Quý Mão (1723), vâng lệnh truyền rằng: Dân trong thuộc Hà Bạc ai có bằng son, đơn son thì nạp thuế biệt nạp và mang theo sổ sách. Thế là dân số phải bổ sung, dân binh cũng bắt đầu. Đến đó quân nhân xã chúng tôi còn 23 người, phải bổ sung người và chi tiền đi đường như trước, nên cai đội mới đốc suất được công việc từ đó đến nay. Bây giờ (năm 1775), chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng, thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm nhặt báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp. Xin dốc lòng làm theo sở nguyện chẳng dám kêu ca. Chúng tôi cúi đầu mong ơn”. Tờ đơn này đã được chính quyền Tây Sơn (Thái Đức – Nguyễn Nhạc) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Đây là tài liệu chính thức và xác thực xác nhận đội Hoàng Sa đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XVII, hoạt động liên tục trong các thế kỷ XVII, XVIII, thể hiện rõ vai trò, chức năng khai thác và bảo vệ chủ quyền dưới danh nghĩa chính thức thực thi các nhiệm vụ được Vương triều Tây Sơn (Thái Đức) giao phó và quản lý.

Thuyền buồm của đội Hoàng Sa vào thế kỷ 17-18. Ảnh Tư liệu.

Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được bản Chỉ thị ngày 14-2 năm thứ 9 niên hiệu Thái Đức (1786) của Thái phó Tổng lý Quản bình dân chư vụ Thượng tướng công “Sai Hội Đức hầu, Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi 4 chiếc thuyền câu vượt biển thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, cá quý… đều chở về kinh, tập trung nộp theo lệ”. Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê “Chuẩn cho”. Văn bản chép rõ: “Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)” và “niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801)”. Tờ đơn của phường An Vĩnh trên đảo Cù Lao Ré xin được tách ra khỏi xã An Vĩnh trong đất liền đề ngày 11-2 năm Gia Long thứ 3 (1804) cho biết, dưới thời Tây Sơn cũng như thời các chúa Nguyễn trước đó, việc tổ chức các đội Hoàng Sa Đại Mạo là công việc chung của cả phường An Vĩnh lẫn xã An Vĩnh. Đến đây, phường An Vĩnh mới được chính thức tách ra khỏi xã An Vĩnh trong đất liền, được miễn các nghĩa vụ đắp đê hay đền bù phần sưu thuế thiếu hụt do dân xã An Vĩnh phiêu tán không đảm đương hết, được phép tuyển lập các đội khai thác và bảo vệ các vùng biển đảo không phụ thuộc vào xã An Vĩnh nữa.

J. Barrow là phái viên thuộc của phái bộ của Bá tước Macartney viếng thăm xứ Đàng Trong kể lại trong cuốn Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793: “Các tàu thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa), thuộc nhiều kiểu dáng khác nhau…”. Nguồn thông tin này xác nhận những mối liên quan mật thiết và chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là thuộc về chính quyền Đàng Trong (lúc đó là chính quyền Quang Toản), cũng như sự có mặt thường xuyên của tàu thuyền Tây Sơn tại vùng quần đảo này.

Những tư liệu trên đã góp phần xác định hoạt động thực thi chủ quyền trên các quần đảo giữa Biển Đông dưới thời Tây Sơn thật phong phú, liên tục, không chỉ dừng lại ở các chủ trương của nhà nước, mà trong thực tế đã được chính quyền và nhân dân địa phương thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh.

Chiến thắng triều Tây Sơn, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách tiến ra biển, khẳng định và giữ vững chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị… đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức và biện pháp như vãng thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết… Tất cả các hoạt động này đều đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất và chặt chẽ của nhà nước. Những đóng góp đỉnh cao và đặc biệt quan trọng của Vương triều Nguyễn vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông chính là sự tiếp nối và nâng cao chính sách của Vương triều Tây Sơn cũng như của Chúa Nguyễn trước đó.

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc – Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
qdnd.vn

Tập đoàn kẻ cướp

Để hút đến giọt máu cuối cùng của đất nước khốn khổ chúng tôi, nghề ǎn cướp thực dân như con bạch tuộc, đang xiết chặt bằng nhiều cái vòi hút độc quyền không biết chán: độc quyền muối, độc quyền rượu, độc quyền thuốc phiện, v.v..

Ông Combane, một nhà thám hiểm Pháp viết: Nói về các món độc quyền, người ta có thể hình dung Đông Dương như một con nai béo đẹp bị trói chặt tàn nhẫn và đang hấp hối dưới những cái mỏ quắm của bầy diều hâu rỉa móc mãi không biết chán.

Trong số những người có cổ phần ở công ty độc quyền rượu, có nhiều nhân vật cao cấp nhất ở Đông Dương; tất cả các ngành cai trị đều có những ngài tai to mặt lớn ở trong công ty. Phần đông các quan lớn này, hơn những kẻ khác, đều rất có lợi cho công ty không ai chối cãi được.

Để giải quyết những vụ lôi thôi với những kẻ phải đóng thuế, công ty có ở ngành tư pháp:

2 Chưởng lý
1 Biện lý
1 Lục sự

Để đàn áp những cuộc phiến loạn có thể xảy ra chống lại chế độ độc quyền, công ty có ở ngành quân sự

1 Thiếu tướng
1 Trung tá
2 Quân y sĩ cao cấp
1 Thiếu tá
2 Đại uý

Được sự ân cần dễ dãi của ngành hành chính là điều bảo đảm nhất cho kết quả của việc kinh doanh nên công ty có:

1 Công sứ
1 Chủ sự tài chính
1 Tổng giám đốc ngân khố
1 Thanh tra bưu chính
1 Chủ sự trước bạ
1 Quan cai trị
2 Giáo sư

và cuối cùng là ngài dân biểu và nghị viên hội đồng thuộc địa. Những nhà máy rượu được Nhà nước cho phép ở Bắc Kỳ chỉ nấu rượu độ cao (80 độ) rồi pha thêm nước lã vào để rút xuống độ hợp pháp là 40 độ.

Trước đây, một khi cần dùng, người bản xứ chỉ quen mua một ít rượu thôi; họ mang chai thế nào đi đựng cũng được. Nhưng nay người ta đặt ra chai có đóng dấu số. Rượu chỉ bán trong chai được Nhà nước công nhận nửa lít hay một lít mà thôi. Người An Nam quen dùng rượu từ 20 đến 22 độ; ngày nay người ta bắt họ uống thứ rượu nặng từ 40 đến 42 độ. Chưa hết. Người bản xứ cũng chú ý đến hương vị của rượu nữa; cái đó cũng chính đáng thôi. Họ quen dùng một thứ rượu có hương vị thơm dịu do nguyên liệu cất rượu tốt, đặc biệt là bằng thứ gạo tốt hạng nhất. Bây giờ, người ta làm thế nào? Người ta đã thay thế những nguyên liệu ấy bằng thứ gạo xấu nhất, bán trên thị trường rẻ tiền nhất. Thứ rượu mà hiện nay người ta tống vào họng người An Nam đã được nấu bằng những nguyên liệu như thế đấy.

Ông Đềbô, người chiếm độc quyền, có ra một bản thông tư bắt tất cả nhân viên phải pha thêm nước vào rượu đem ra bán, cứ một trǎm lít rượu thì pha thêm tám lít nước lã.

ở Đông Dương, mỗi ngày bán được 500.000 lít rượu, như thế tính ra có 4.000 lít nước lã; 4.000 lít nước lã, mà mỗi lít ba hào, thế là 1.200 đồng một ngày, 36.000 đồng một tháng. Thế là chỉ bán nước lã không thôi, mỗi nǎm công ty độc quyền đã thu một món lời nhỏ là 432.000 đồng, nghĩa là l.080.000 phrǎng.

Dân Đông Dương chẳng ưa dùng thứ rượu ấy chút nào. Nhưng người ta làm đủ cách để tống vào họng họ.

Người ta cưỡng bức người An Nam phải chịu chế độ ấy. Chính phủ phải luôn luôn chi tiêu những khoản cấp bách, phải trả những món kinh phí cứ tǎng lên mãi của phủ toàn quyền, những khoản vay nợ lớn, những công trình dân dụng hay quân sự ở khắp nơi mà chẳng bao giờ hoàn thành cả, phải cần thiết xoay xở những món tiền, nếu không phải để cho những công vụ thật sự – thì ít ra cũng là để đài thọ hàng bầy công chức từ Pari tống sang. Cho nên Chính phủ phải tìm đủ mọi cách thúc đẩy các công chức, nhân viên, từ quan công sứ đến người nhân viên hạng bét, bắt dân tiêu thụ thêm rượu.

Đây là một câu chuyện đầy ý nghĩa về một viên chức làm thủ hiến tỉnh Sơn Tây (Bắc Kỳ).

Dân số tỉnh này có độ 200.000 người. Nhưng khi cần tǎng mức tiêu thụ rượu lên, dân số tỉnh này đột ngột tǎng lên nhanh chóng: người ta cho nó lên ngay 230.000 người. Nhưng vì số 230.000 dân đó uống còn ít rượu quá, nên quan lớn công sứ Sơn Tây còn phải xoay xở, đẩy số rượu tiêu thụ cả nǎm lên đến 560.000 lít.

Lập tức Ngài được thǎng chức; Ngài được khen thưởng nữa.

Ông Đờ C. khẳng định rằng một viên công sứ khác đã đưa ông xem một bức thư của cấp trên, trong đó nói: “Số rượu tiêu thụ ở phủ X. tính bình quân theo số đã định cho dân, đã tụt xuống kém mức Z rồi. Ông có nghĩ rằng cần phải làm gương cho các nơi khác hay không?”.

Viên công sứ bị khiển trách như thế liền họp hào lý lại, giải thích cho họ nghe là sở dĩ họ tiêu thụ ít rượu thế là vì họ có nấu rượu lậu. Để được yên thân, các làng liền mua ngay đủ số rượu của Nhà nước mà các phòng giấy đã quy định cho họ tính theo dân số.

Tuy không phải bằng cách hợp pháp, nhưng thực tế người ta đã quy định cho mỗi người dân bản xứ hằng nǎm phải tiêu thụ bao nhiêu rượu, và khi người ta đã nói MỗI NGƯờI DÂN BảN Xứ, thì chớ có tưởng rằng người ta chỉ tính những người lớn mà thôi, mà người ta tính TOàN Bộ DÂN Số, từ người già, đàn bà, trẻ em, đến cả những đứa còn đang bú mẹ; người ta buộc họ hàng thân thuộc uống thay cho những người này, mà uống thay chẳng những một lít mà đến hai ba lít kia.
Dân một làng thuộc Bắc Kỳ, vì bị đe doạ, buộc phải uống rượu, đã đến kêu với quan của họ: “Chúng tôi biết làm thế nào? Chúng tôi không có tiền để ǎn cho đủ no nữa là…”. Quan của họ đáp: “Chúng mày thường ǎn mỗi ngày ba bữa; chúng mày chỉ bớt đi một bữa, hay nếu cần thì bớt đi một bữa rưỡi, là có thể mua rượu của Nhà nước được chứ gì”.

Đấy, ông Ph.đơ Prétsǎngsê nói chuyện trước nghị viện như vậy đấy.

Người ta có một kho hình phạt đầy đủ ghê gớm để giáng xuống đầu những người dân bản xứ cứng đầu cứng cổ. Có những khoản phạt tiền từ 200 đến 3.000 đồng. Có những án phạt tù lên tới ba nǎm. Lại còn có điều luật mới mẻ này nữa định rằng mỗi lần bị tuyên án phạt tiền, thì người bị phạt lại phải chịu một khoản bồi thường cho công ty rượu bằng số tiền phạt!

Không phải là quan toàn quyền không biết rằng người An Nam chẳng bao giờ đóng nổi những món tiền to đến thế. Nhưng ngài vẫn muốn cứ làm tiền cho kỳ được, nên con người khôn ngoan khéo léo ấy đã dự kiến rằng làng xã có thể phải liên đới chịu trách nhiệm với người can phạm (điều 4).

Bạn có thể bảo: Muốn kết án cả làng xã, thì dù sao cũng phải xác định rằng làng xã ấy có đồng lõa đã chứ.

Không đâu. Với điều 4 thì chẳng cần phải là như thế. Làng nào không kiếm cách ngǎn giữ cho người ta khỏi phạm pháp, thì khi Nhà nước bắt được, làng ấy phải chịu trách nhiệm về khoản tiền phạt của kẻ phạm tội.

Thật là quỷ quái hiểm độc, vì chỉ cần những tay sai của bọn chủ trưng thuế, – chúng nó được thuê tiền để phát giác ra cho được thật nhiều vụ phạm pháp, – khai ra là làng đó chẳng làm gì để ngǎn ngừa các vụ ấy, thế là đủ để buộc tội cho cả làng rồi.

Tiết 3 trong điều luật đã quy định cách thức lập biên bản về những vụ phạm pháp mà bọn tay sai của chủ trưng thuế có quyền làm.

Nhưng khoản này có trở ngại. Vì những tên tay sai ấy dốt nát thường làm biên bản không hợp lệ. Người ta khắc phục khó khǎn ấy bằng cách cho viên chức nhà đoan ở tỉnh lỵ làm biên bản, cǎn cứ trên báo cáo của bọn tay sai của chủ trưng thuế. Bọn này bắt được một vụ phạm pháp cách xa tỉnh lỵ 15 hay 50 kilômét, chúng làm báo cáo. Một nhân viên nhà đoan, ở Hà Nội chẳng hạn, mắt không được chứng kiến sự việc xảy ra, lập biên bản làm cơ sở cho việc xử án. Thật khó mà tưởng tượng được rằng lại có sự vi phạm tất cả hình luật của nước Pháp, truy tố người ta dựa trên biên bản của một nhân viên mắt không được chứng kiến sự việc và chẳng có chút trách nhiệm gì, chẳng có một bảo đảm gì về mặt pháp lý cho bị cáo.

Khi bị xét thấy là phạm pháp, người An Nam bị bắt và giải về Hà Nội hay Hải Phòng, những thành phố cách xa biên giới Trung Quốc từ 200 đến 250 kilômét, để xét xử ở đó, nghĩa là để bị kết án.

Không có tổ chức gì để người bị cáo có thể tự bào chữa cho mình cả.

Báo chí Bắc Kỳ thường thuật lại tình cảnh những người khốn khổ ấy – có lúc đến trǎm người, – bị điệu đi lên toà án Hà Nội hay Hải Phòng vì phạm tội buôn lậu (thường mới chỉ bị tình nghi buôn lậu). Có một tờ báo viết: “Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên – mà kể cũng đáng ngạc nhiên thật khi thấy cảnh binh giải về Hà Nội hay Hải Phòng, từng đoàn dài ông già, đàn bà có mang, trẻ con, cứ hai người một trói vào với nhau, để trả lời về tội vi phạm thuế thương chính”.
Nhưng thế cũng chưa thấm vào đâu so với các tỉnh, nhất là các tỉnh Trung Kỳ, ở đây viên công sứ kết án và bỏ tù hàng loạt, già có, trẻ có.

Và một đoạn khác nói: “Người An Nam thừa hiểu rằng người Pháp là những kẻ mạnh hơn, nhưng không phải là những kẻ công bằng, đạo đức hơn”.

Cũng tờ báo ấy, trong một số khác, nói một cách cảm động và buồn rầu về những người bà con thân thuộc khổ não, lật đật theo sau đám tù như sau:

“Ông già, đàn bà, trẻ con, tất cả đám người ấy đều bẩn thỉu, rách rưới, mặt hốc hác, mắt đỏ ngầu vì đang lên cơn sốt, trẻ con bị lôi theo vì bước không kịp. Tất cả những con người đã kiệt sức ấy, mang theo đủ mọi thứ, nào nón, nào quần áo rách, cơm nắm, thức ǎn đủ thứ, để lén lút đưa cho người bị cáo là cha, là chồng, là người nuôi sống gia đình, hầu hết là chủ gia đình”.
Đau xót hơn nữa là thấy các vụ ấy đều bị xử bất công và kết án một cách tàn nhẫn.

Ông Combane, mà tôi đã nói đến ở trên, bảo rằng: Những người nông dân bị tình nghi không kể là oan hay đúng đã nấu rượu lậu hay buôn rượu lậu có lẽ phải thèm cái số phận những người Nga bị cảnh binh Nga hoàng lùng bắt vì bị cho là những người đi khủng bố. Ông còn nói tiếp:

Bị xúc phạm về tín ngưỡng và quyền lợi, bị ép phải uống một thứ rượu khốn nạn làm bằng tấm gạo mục, nếu không cả làng bị khủng bố…, còn đợi gì nữa mà người ta không nổi dậy chống lại.

Dù có diễn tả thế nào đi nữa vẫn chưa nói hết được sự thật một nhà vǎn ở thuộc địa, bây giờ đã lạc hậu, đã phải kêu lên như thế. Chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách độc ác trơ tráo đến thế.

Về vấn đề này, ông Mítximi, nghị sĩ và cựu bộ trưởng, đã viết: Công chức và nhân viên nhà đoan, khi đuổi theo người buôn lậu, có quyền đi qua cả đất đai nhà tư của người ta. Một biên bản, bắt đầu lập lúc còn ban ngày, vẫn có thể tiếp tục làm ban đêm ở ngay nhà người bị cáo, nghĩa là bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm, nhà đoan muốn làm khổ người An Nam cũng được cả.
Không phải chỉ có những cuộc khám nhà thường xuyên mà còn có những cuộc khám xét thân thể người bản xứ ở bất kỳ chỗ nào, bất kỳ là nam hay nữ nữa. Nhân những cuộc khám xét thân thể, người ta đã lạm dụng ghê gớm biết chừng nào! Nhân viên nhà đoan vào nhà người bản xứ, thấy có đàn bà và con gái, bắt họ lột hết quần áo trước mặt chúng, và khi họ đã trần truồng như nhộng thì chúng giở trò tinh nghịch đến nỗi đem cả con dấu nhà đoan đóng lên người họ!.

Ông Đờ C. kể chuyện rằng ông đã được gặp ở miền Bắc Trung Kỳ một viên quản đoan say sưa như điên cuồng với việc đàn áp những người An Nam lậu thuế. Hắn nói về các cuộc hành trình xông xáo ở các làng mạc với vẻ thích thú vô cùng mọi rợ; nghĩ đến lúc đi bao vây các túp lều tranh khi còn mờ sáng, hắn lấy làm khoái trá. Tất cả lý lẽ của hắn chỉ còn là cái dùi cui mà hắn vung lên. Những nhân viên như thế chắc hẳn phải làm cho đời sống của nhân dân được ấm êm lắm đấy, nhất là lúc chúng vào nhà họ sục sạo, đảo lộn ngược xuôi mọi thứ lên, lục soát cả đến bàn thờ tổ tiên.

Ở Pháp, người ta chỉ dùng những biện pháp thật chính đáng và thật ôn hoà đối với những vụ gian lậu, và dân có quyền nấu rượu nếu chỉ dùng những nguyên liệu do mình sản xuất lấy, ấy thế mà cũng có nhiều vụ phản đối dữ dội xảy ra. ở bên Pháp nếu cũng áp dụng một chính sách giống như ở Đông Dương thì nhất định không tránh khỏi đổ máu. Dân tộc An Nam phải là nhẫn nhục và điềm tĩnh quá đáng mới không nổi loạn.

ở khắp các nước vǎn minh, người ta cấm dùng thuốc phiện, thế mà ở Đông Dương, nhà nước lại nấu, chuyên chở và bán thuốc phiện.

Những người thành thạo trong việc nấu thuốc phiện sống, trong việc chế biến nhiều lần, quả quyết rằng công ty trưng thầu thuốc phiện đã dùng nước lã thay cho rượu cồn tinh khiết, rằng người ta cứ để nguyên trong thuốc phiện các chất độc đáng lẽ phải lọc ra, rằng người ta rắc cả vào thuốc phiện một thứ bụi kim loại đặc biệt làm cho nó nặng cân lên.

Bài xích thuốc phiện về phương diện vệ sinh, nhưng người Pháp lại hết sức làm cho việc hút thuốc ấy lan tràn ra khắp nơi để công quỹ được thǎng bằng. Trong lúc bão lụt tàn phá Đông Dương, giữa lúc đói kém, Nhà nước chỉ có một mục đích: bán mạnh thêm thuốc phiện và rượu. Người ta đánh giá các quan cai trị không phải bằng tài cai trị khôn khéo, mà bằng việc bòn rút người bản xứ… Đó là tất cả công ơn của nền vǎn minh giả nhân giả nghĩa, nó đã đẩy người bản xứ vào mọi thứ bê tha có lợi cho nó, mà người đời ai cũng phỉ nhổ.

Để kết luận, tôi thấy cần phải trích dẫn bản thông tư của ông Anbe Xarô, khi ông làm toàn quyền Đông Dương, gửi cho tất cả các viên công sứ như sau:

“Kính gửi ông công sứ,

“Tôi trân trọng yêu cầu ông hết sức giúp đỡ Nha thương chính đặt thêm đại lý thuốc phiện và rượu, theo chỉ thị của ông tổng giám đốc Nha thương chính Đông Dương.

“Để công việc tiến hành có kết quả, tôi xin gửi ông một bản danh sách những đại lý cần đặt trong các xã đã kê tên; tới nay phần đông các xã này vẫn hoàn toàn chưa có rượu và thuốc phiện.

“Thông qua các quan và các xã trưởng Cao Miên, ông có thể dùng ảnh hưởng lớn của ông để làm cho một số tiểu thương người bản xứ thấy rằng buôn thêm rượu và thuốc phiện là rất có lợi.

“Về phần chúng tôi thì những viên chức lưu động trong lúc đi kinh lý cũng tìm cách đặt đại lý, trừ khi nếu ông công sứ muốn họ chờ ông vận động các quan chức địa phương trước đã, thì họ phải chờ. Trong trường hợp ấy, tôi xin ông vui lòng báo cáo cho tôi biết.

“Chúng ta chỉ có thể đạt được kết quả mỹ mãn, nếu chúng ta đồng lòng phối hợp chặt chẽ và liên tục, vì lợi ích tối đa của công khố.

Ký tên: Anbe Xarô
Toàn quyền Đông Dương

Nên chú ý rằng lúc đó, trong 1.000 làng đã có 1.500 đại lý rượu và thuốc phiện, mà trường học thì vẻn vẹn có 10 cái; mỗi nǎm, người ta đầu độc dân bản xứ, cả đàn bà lẫn trẻ con, bằng 23 tới 24 triệu lít rượu và hơn 100.000 kilôgam thuốc phiện! Bán những thứ thuốc độc ấy mỗi nǎm lời gần 130 triệu phrǎng.

Cũng trong thời kỳ ấy, người ta chỉ tiêu cho ngành y tế không đầy 400.000 phrǎng và chỉ có 1 triệu phrǎng cho ngành giáo dục, nghĩa là cho công việc xã hội một phần trǎm số thu nhập của việc đầu độc, thế không phải là một chế độ kỳ diệu lắm sao!

Muối là vật phẩm tối cần cho dân chài lưới, thế mà dân An Nam đã phải đặc biệt xót xa vì muối!

Lúc đầu thuế muối chỉ có 5 xu, rồi đến 3 hào, lên dần đến 5 hào, đến 1 đồng, rồi đến 1 đồng sáu. Trong vòng không đầy bảy nǎm, thuế muối đã tǎng lên gấp mười lần. Bây giờ họ bắt người làm muối An Nam phải cung cấp muối cho Nhà nước theo giá 17 xu một tạ. Nhà nước bán lại cho những người tiêu thụ bản xứ 1 đồng 7.

Kết quả cho An Nam là nghề đánh cá bị phá sản. Cho đến nay ở nhiều nơi, dân đánh cá và dân làm muối hợp tác với nhau thành phường, nhờ đó họ làm nước mắm không cần phải vốn. Nhà nước độc quyền giải tán những phường ấy chẳng chút bồi thường. Mặt khác, giá muối tǎng lên quá quắt làm cho người đánh cá không sẵn vốn không thể mua trữ được đủ số muối cần thiết cho một chuyến đi cá. Vì thế, phần lớn những người làm cá đã phải bỏ nghề.

Nghề làm muối trước kia là một công nghiệp phát đạt nhất ở Đông Dương; người ta đã cố tình làm cho nó suy đồi, chỉ để lại số ruộng muối cần thiết cho việc ǎn uống. Việc xuất cảng muối bị đình chỉ hẳn. Suốt trong thời kỳ chiến tranh, nước Nhật xin mua muối chẳng được.

Tệ hơn nữa, vì người ta không thể tính được số ruộng muối cần thiết cho việc ǎn uống, thành ra hằng nǎm nhà đoan lại phải mua muối của Trung Quốc. Trước kia, An Nam xuất cảng muối (l00.000 tấn trong nǎm 1896), bây giờ lại phải nhập cảng để tiêu dùng.

Xưa kia, ở vùng đồng bằng Bắc Kỳ, không có nǎm nào là hoàn toàn mất mùa. Khi nước lụt tràn ngập đồng ruộng, thì cá theo nước vào nhiều; người bản xứ lại làm mùa cá. Bây giờ thì không thể được, vì không có muối. Mặt khác, dân chúng trước thì ǎn quen một thứ muối thôi, bây giờ thì bất cứ thứ nào, họ cũng phải nhận vậy. Các bạn thử tưởng tượng xem người quen ǎn muối nhỏ trắng bây giờ phải ǎn muối đen khó chịu như thế nào. Hơn nữa muối chuyên chở từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ phải chịu tiền vận tải khá đắt, nhà đoan liền tǎng giá muối bán cho công chúng. Người ǎn phải trả đắt hơn từ 20 đến 25% cho một thứ muối mình chẳng ưa chút nào.

Kho muối rất ít mà lại ở cách quãng rất xa nhau, nên người bản xứ ở các làng phải nhờ người Hoa chuyên chở về cho và những người này lại lợi dụng tự tiện tǎng giá muối lên, nhiều ít tuỳ chỗ xa gần.

Khi đặt ra thuế muối, người ta quyết định tư nhân không được tích trữ quá 15 kilôgam. Để kiểm soát, nhân viên nhà đoan phải khám xét, mà họ khám xét tuỳ theo sở thích của họ. Chỉ cần có kẻ tố cáo là họ khám xét đảo lộn cả nhà người ta lên.

Dân chúng khiếp sợ nhân viên nhà đoan đến nỗi khi vừa được tin các ngài tới, họ liền bỏ cửa bỏ nhà ra đi, mặc cho các ngài muốn làm gì thì làm. Thấy đàn bà con gái ở nhà, các ngài liền xử sự theo thói của kẻ chiến thắng trên đất nước chiến bại. (Đại tá Bécna).

Chính sách độc quyền muối nhắc người ta hồi tưởng đến một chính sách bị nguyền rủa nhất của chế độ cũ ở nước Pháp: thuế muối. Nhưng cái thuế muối ở Đông Dương này không phải như thuế muối đóng góp cho quốc gia ở Pháp, mà là một thứ thuế muối do những con người không biết cả tiếng nói nước mình bắt mình phải đóng góp cho một ông chủ người ngoại quốc.

Một bầy ǎn cướp đã làm cho cả một dân tộc đói khát khốn cùng, đã làm cho cả một công nghệ quốc gia bị phá sản như thế đấy.

cpv.org.vn

Cải cách… tiền thưởng?

QĐND – Cuối năm 2011, tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương xảy ra vụ bắt cóc trẻ sơ sinh khiến dư luận bàng hoàng. Ngành chức năng lập chuyên án đặc biệt, huy động lực lượng khá lớn… ráo riết truy tìm mấy ngày đêm. Cuối cùng, nhờ tin báo và sự hướng dẫn trực tiếp của một tài xế tắc -xi, thủ phạm đã bị bắt tại một địa bàn khá xa Hà Nội. Người tài xế đã được lãnh đạo Ban chuyên án biểu dương và thưởng “nóng” hai trăm năm mươi ngàn đồng (250.000 VND), theo đúng quy định của ngành (!)

Trung tuần tháng 6-2012 vừa qua, nhóm 5 thầy trò một trường THPT ở Sóc Trăng đoạt hai giải thưởng cuộc thi cấp quốc gia về sáng kiến kỹ thuật bảo vệ môi trường. Đó là hai đề tài “Lọc nước bằng than vỏ gòn” và “Xử lý nước thải bằng hệ thống lọc đa năng” có giá trị thực tiễn rất lớn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. 5 thầy trò đã phải vay mượn 16 triệu đồng để ra Hà Nội nhận giải, vì theo quy định họ phải tự túc tiền tàu xe, ăn nghỉ… Và trị giá của hai giải thưởng họ nhận được tổng cộng là… 5 triệu đồng (!)

Ai cũng thấy giá trị của những khoản tiền thưởng trên đây là quá thấp so với thời giá hiện nay và so với giá trị nhiều mặt mà những việc làm, những sáng kiến trên đây mang lại. Nhưng cũng không thể trách ai, vì đấy là quy định chung, không thể “vượt rào, phá ngưỡng”.

Lại có người so sánh những món tiền thưởng trên đây với hàng chục, hàng trăm triệu đồng tiền thưởng các cuộc thi người đẹp, thi thời trang và những trò “vui chơi có thưởng” đang được quảng bá rầm rộ trên các phương tiện truyền thông. So như thế cũng không ổn, vì một bên là tiền thưởng “chính thống”, giải thưởng “quốc doanh”; còn một bên là tiền thưởng do các doanh nghiệp, doanh nhân, tổ chức… đóng góp theo phương thức xã hội hóa.

Tuy nhiên từ sự so sánh trên đây, cho thấy việc khen thưởng trong phong trào thi đua yêu nước ở một số cấp, ngành, lĩnh vực… cũng cần được xã hội hóa để huy động được nguồn kinh phí dồi dào nhằm khen thưởng kịp thời và xứng đáng những tấm gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến có những thành tích nổi bật, những đóng góp xuất sắc… Chẳng hạn, những “Quỹ khen thưởng phòng, chống tội phạm”; “Quỹ khen thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật” v.v… là rất cần thiết.

Mặt khác, các ngành chức năng cần nghiên cứu cải tiến chế độ tiền thưởng hiện nay theo kịp với thời giá và mặt bằng kinh tế -xã hội nói chung; đừng kéo dài tình trạng chênh lệch quá lớn giữa nhiều giá trị giải thưởng “chính thống” với giá trị các giải thưởng xã hội hóa. Hiện tượng này cùng với sự bất hợp lý của chế độ tiền lương Nhà nước hiện nay, chính là một trong những nguyên nhân của nhiều vấn nạn tiêu cực, kìm hãm phong trào thi đua yêu nước -một động lực quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển!

Tuyên Hóa
qdnd.vn

Chưa thể “thả nổi”!

QĐND – Hơn 90% khán giả đến rạp xem phim hiện nay là thanh niên và thiếu niên, trong đó chủ yếu là đối tượng học sinh -sinh viên (HS-SV). Đó là kết quả khảo sát được đưa ra trong một hội thảo khoa học về điện ảnh gần đây. Tuy nhiên, trong khoảng một thập niên gần đây, rất hiếm có những bộ phim về đề tài nhà trường dành cho lứa tuổi HS -SV, hay còn gọi là “phim học đường”. Các em đến rạp chủ yếu để xem “phim người lớn”, phim giải trí, phim nước ngoài… Đó là một thực tế rất đáng phải suy nghĩ.

Nói chính xác thì thời gian qua cũng có một số bộ “phim học đường” đã được trình chiếu, nhưng đó toàn là phim của các hãng tư nhân và số lượng cũng vô cùng ít ỏi. Điều đáng nói hơn là vì phim tư nhân nên họ chỉ tung ra vào các dịp Tết, dịp hè tại các thành phố lớn để có doanh thu cao. Nội dung phim cũng nặng về giải trí và vì vậy hiệu quả nghệ thuật rất hạn chế. Thực tế là hầu hết các bộ phim này đều có đời sống nghệ thuật rất ngắn ngủi.

Rõ ràng thời gian qua, ngành điện ảnh nước ta đã để trống một đối tượng khán giả đông đảo là HS -SV. Đây cũng là đối tượng cần được chăm lo giáo dục, bồi dưỡng những phẩm chất cao đẹp của con người mới XHCN để đảm đương trọng trách của thế hệ chủ nhân tương lai đất nước. Điện ảnh, với những lợi thế đặc trung của bộ môn nghệ thuật thứ bảy, có tác dụng rất lớn trong công tác giáo dục, bồi dưỡng ấy.

Nhìn sang các lĩnh vực nghệ thuật khác cũng có tình trạng tương tự. Ngày nay, việc phân biệt các sản phẩm “nghệ thuật Nhà nước” và “nghệ thuật tư nhân” là hết sức khiên cưỡng và lạc hậu. Tuy nhiên, bên cạnh chức năng giải trí, văn học -nghệ thuật còn có chức năng nhận thức và thẩm mỹ. Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định “văn nghệ là vũ khí tư tưởng sắc bén”. Trong bối cảnh kinh tế -xã hội hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế hội nhập; việc giáo dục, định hướng những mục tiêu, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ trong cơ chế thị trường… chắc chắn chưa thể “thả nổi” cho các tổ chức kinh doanh văn hóa, cho các “sân chơi” nghệ thuật nặng tính thương mại. Các ngành chức năng Nhà nước và các tổ chức chính trị -xã hội cần phải quan tâm đầu tư thích đáng hơn nữa cho văn học -nghệ thuật để vũ khí tư tưởng ấy phát huy hiệu quả thiết thực.

Mai Nam Thắng
qdnd.vn

Tâm địa thực dân

Một nghị sĩ Pháp đã nói về Angiêri: “ở trên thế giới, không có dân tộc chiến bại nào bị kẻ chiến thắng ngược đãi hành hạ bằng dân tộc thuộc địa !”. Điều ấy đúng với người “Bicô” (1) ở Angiêri và cũng đúng với người “Nhà quê” (2) ở Đông Dương. Một người Pháp khác viết: “Chúng ta trở nên đáng ghét không chịu được … Hình như chúng ta chỉ làm cho người bản xứ không ai chịu nổi sự có mặt của ta. ở châu Âu, người ta coi giống người da vàng như là chứa đựng tất cả những thói lừa lọc xảo trá. ấy thế mà chính chúng ta cũng rất ít chú ý tỏ ra là mình ngay thẳng thành thật”.

Đời sống ở thuộc địa chỉ làm những tật xấu của con người phát triển: những kẻ đã quen mùi chiến tranh lại càng không còn gì là ý thức đạo đức, càng truỵ lạc, bất lương và độc ác; bọn con buôn và những tay lưu manh khác càng thích thú cướp bóc và trộm cắp. ở bên Pháp, họ ít có dịp để làm những việc đó, và họ sợ cảnh sát hơn! ở Đông Dương nhiều khi bọn này chỉ có một mình với vài người An Nam trên một con thuyền hay trong một làng hẻo lánh nào đó, nên họ càng cướp bóc tàn bạo hơn tên cướp châu Âu ở giữa chợ búa đông người, và họ càng tàn nhẫn hơn với những người dân quê dám kháng cự lại họ.

*

*     *

Tất cả những người Pháp sang Đông Dương đều nghĩ rằng người An Nam là hạng người hèn hạ hơn họ và phải làm nô lệ cho họ. Họ coi người An Nam như những súc vật phải điều khiển bằng roi vọt.

Phần đông người Pháp ở đây đã quen tự cho mình là thuộc một tầng lớp quý tộc mới, có đặc quyền.

Nhà du lịch xa lạ chưa am hiểu xứ này sẽ rất đỗi ngạc nhiên thấy người Âu, dù là binh sĩ hay thực dân, họ thường chẳng có cách đối xử nào khác với người bản xứ hơn là cách đối xử với tôi tớ của họ. Đối với họ, hình như người bồi là đại biểu cho cả chủng tộc da vàng. Phải được tai nghe người Pháp ở Đông Dương nói về người “da vàng” thì mới biết được họ khinh bỉ người ta đến thế nào. Phải được mắt thấy cách đối xử của người Pháp khi họ gặp người bản xứ, ngay cả ở những nơi người này được có quyền như họ, thì mới biết họ thô bạo đến đâu!

Người Âu nào cũng rất quan tâm đến thái độ phục tùng và cung kính của người bản xứ. Người An Nam ở thành thị cũng như ở thôn quê đều bắt buộc phải ngả nón trước mặt họ. Quá quắt hơn, người ta dùng cả đến gậy hay bắt bỏ tù người bản xứ nào sơ suất không tỏ lòng cung kính đối với họ!

Dù có kính cẩn và ngoan ngoãn đến đâu chǎng nữa, người An Nam cũng chẳng làm vừa lòng chủ mình được. Nếu phạm lỗi hay chỉ sai lầm đôi chút, họ làm sao mà giảng giải, mà phân trần nổi lòng thành thật của mình ? Nhưng nếu người Pháp nói nǎng khó hiểu thì chẳng lẽ một người da trắng lại phải tự nhận lỗi ư? Có một cách dễ hiểu nhau đơn giản hơn: đó là cái batoong. Và lúc nào người ta cũng dùng đến nó.

*

*     *

Một nhân viên quân sự viết rằng: Người An Nam rất hiền lành, rất ngoan ngoãn; tuy thế, người ta chỉ nói chuyện với họ bằng những cái đá đít. Anh ta lại nói thêm: Suốt ngày người ta vác gậy và dùng sống gươm để nện người An Nam bắt họ làm việc.

Người ta đã trông thấy các viên sĩ quan hành hạ các cụ già hiền lành và túm râu thầy cúng mà kéo trong khi họ đang hành lễ.

*

*     *

Ông Cuốctelơmǎng kể chuyện một cách mỉa mai: Tôi có quen một Ngài có một lối khai hoá thật đáng học tập. Khi Ngài ta ra khỏi cửa, các xe kéo, theo một thói quen như những người đánh xe ngựa ở bên Pháp, xô đến mời Ngài. Bực mình quá, Ngài nắm chắc batoong trong tay, quật vào những người culi, và thừa biết rằng những người culi khốn khổ này chẳng thể ǎn miếng trả miếng với Ngài, Ngài ta càng ra tay quật. Buổi chiều Ngài muốn đi chơi, nhưng culi xe đã biết tính Ngài, không dám lại gần Ngài nữa. Thế là Ngài lại với họ, rồi cầm cái gậy quý hoá của Ngài, quật lên lưng họ để dạy dỗ cho họ biết phải đến hầu Ngài. Ngài ấy bảo: “Vả lại, biết làm thế nào được với cái hạng người ấy, dù chúng đã gần gũi chúng mình bấy lâu nay mà vẫn chưa dám ǎn thịt quay!”. Người ta nghe thấy vô số người Pháp, và không phải là hạng kém cỏi gì đâu- lý luận như thế đấy.

… Khi “những người từng ở Bắc Kỳ” vui đùa trên tàu thì dưới mạn tàu phía bên phải có vài chiếc thuyền bán hoa quả, ốc hến. Để đưa hàng đến tận tay chúng tôi, những người An Nam buộc giỏ đựng hàng vào đầu ngọn sào rồi giơ lên. Chúng tôi chỉ việc chọn mà thôi. Nhưng đáng lẽ phải trả tiền, thì người ta lại có nhã ý bỏ vào giỏ đủ thứ như sau: những ống tẩu thuốc lá, khuy quần, mẩu thuốc lá. (Có lẽ họ làm như thế để dạy cho người bản xứ tính ngay thật trong việc mua bán chǎng!). Đôi khi, để mua vui, một anh sốp phơ nào đó hắt cả một thùng nước sôi xuống lưng những người bán hàng khốn khổ. Lập tức có những tiếng rú lên vì đau đớn, những mái chèo vung lên loạn xạ để bơi tránh, làm cho những chiếc thuyền va sầm vào nhau.

Ngay phía dưới tôi, một người An Nam bị bỏng từ đầu đến chân, phát điên lên, muốn lao xuống biển. Người anh của anh ta, quên cả nguy hiểm, buông tay chèo ôm lấy anh ta và ra sức đè anh ta xuống lòng thuyền. Cuộc vật lộn chưa đầy hai giây vừa kết thúc thì một thùng nước sôi nữa được hắt bởi một bàn tay chuẩn xác lại dội xuống kẻ bất hạnh. Tôi thấy anh ta lǎn lộn trong thuyền, vết thương trơ cả thịt với những tiếng kêu không còn gì là của con người nữa! Và cảnh đó khiến chúng tôi cười; với chúng tôi, điều đó có vẻ cực kỳ ngộ nghĩnh. Quả thật chúng tôi đã có tâm hồn thực dân!…

*

*     *

Một người lính khác kể: “Trong thời kỳ tôi ở đó (Bắc Kỳ) không có tuần nào là không có vài cái đầu rơi.

Trong tất cả những cảnh tượng đó, tôi chỉ còn nhớ được một điều, là chúng ta còn tàn bạo, còn dã man hơn cả những tên cướp biển. Tại sao lại có những hành vi quái ác đến thế đối với một kẻ bị kết án sắp phải chết? Tại sao lại có những cuộc hành hạ thể xác, tại sao phải giải những đoàn tù đi bêu khắp các làng mạc?”.

cpv.org.vn

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước. Tr.1.

Thông cảm với… sự yếu kém?

QĐND – Nhiều năm nay, xe bus Hà Nội và một số thành phố khác bị gọi là “hung thần” bởi chất lượng phục vụ kém; nổi cộm là phương tiện cũ nát và tình trạng bỏ bến, chậm chuyến, phóng nhanh, vượt ẩu, dùng còi hơi tùy tiện, thiếu tôn trọng hành khách…

Những hiện tượng trên đây có một phần nguyên nhân khách quan, như: Thiếu vốn đầu tư, đường sá chật hẹp, mạng lưới giao thông đô thị chưa đồng bộ, lượng khách quá tải, ý thức giao thông một bộ phận nhân dân còn kém v.v… Vì vậy, nhiều lần lãnh đạo Tổng công ty vận tải Hà Nội (Transerco) đã trần tình mong dư luận “thông cảm”.

Dư luận sẵn sàng cảm thông, chia sẻ những khó khăn, yếu kém khách quan trên đây. Nhưng có những hành vi, hiện tượng của xe bus, như: Vi phạm luật giao thông, thiếu tôn trọng -thậm chí đánh đập, nhục mạ hành khách -thì thật khó lòng thông cảm. Tuần trước, lại thêm vụ nhân viên xe bus đánh đập một hành khách đang trên đường đến bệnh viện để chạy thận, chỉ vì người này không đi từ cuối xe lên đầu xe để mua vé theo yêu cầu của nhân viên…

Phải chăng những hình thức kỷ luật từ trước tới nay của Transerco đối với các hành vi trên đây chưa đủ mức để răn đe những cá nhân vô ý thức, thiếu đạo đức và văn hóa? Phải chăng công tác tuyên truyền giáo dục của ban lãnh đạo và các đoàn thể ở đây chưa đủ độ để làm chuyển biến nhận thức và hành vi của một bộ phận cán bộ, nhân viên? Phải chăng công tác nhân sự ở đây đang “có vấn đề”, để lọt vào đơn vị những thành phần yếu kém cả năng lực và phẩm chất?

Tình hình nghiêm trọng đến mức đích thân ông Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã nhiều lần trực tiếp làm việc với Transerco để tìm cách khắc phục. Trong cuộc làm việc gần đây nhất vào cuối tháng 4-2012 vừa qua, ông Chủ tịch yêu cầu Transerco “phải nỗ lực quyết tâm làm thay đổi và cải thiện hình ảnh của xe bus, để xe bus thực sự làm nòng cốt, chủ lực trong vận tải hành khách công cộng của Thủ đô”.

Tất nhiên, chất lượng dịch vụ xe bus được cấu thành bởi nhiều yếu tố, vì vậy phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp mới có thể cải thiện được tình hình hiện nay. Nhưng yếu tố quyết định vẫn là chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngành xe bus. Chỉ khi tất cả đội ngũ này đều đồng lòng, đồng sức “nỗ lực, quyết tâm” thì mới mong dư luận chia sẻ, cảm thông với những khó khăn, bất cập hiện nay của xe bus!

Tuyên Hóa
qdnd.vn

Ǎn bám và hỗn độn

Ông Vinhê Đốctông, nguyên nghị sĩ Pháp nói: “Nếu đem so sánh với bọn viên chức thuộc địa, thì những quân cướp đường còn là những người lương thiện!”. Ông ấy nói chí lý đấy.

Người nông dân An Nam đóng được một trǎm đồng bạc thuế, thì đến bảy mươi đồng bị ngốn ngay vào việc trả lương và kinh phí thuyên chuyển cho viên chức, ấy là chưa kể các khoản trợ cấp cho quỹ hưu bổng làm cho người dân càng bị hút máu tàn nhẫn thêm nữa.

Người ta cấp học bổng cho các cậu ấm hay cô chiêu – con các quan cai trị tại chức lương khoảng từ 20 đến 25 ngàn phrǎng – về Pháp học khỏi phải mất tiền, trong khi trẻ con An Nam không sao kiếm được chỗ học trong nhà trường Pháp – Nam hiếm có ở An Nam, nên phải chịu dốt nát.

Ngân sách hàng tỉnh bị cướp giật một cách vô liêm sỉ cho việc chi tiêu riêng của những kẻ có quyền định đoạt cách sử dụng.

ở các nước khác, cử tri hay đại diện của họ được quyết định về ngân sách do chính họ đóng góp vào; ở đây người ta để cho vài trǎm người Âu sống ở thuộc địa, có quyền cao hơn và bất chấp cả Nhà nước, tuỳ ý sử dụng công quỹ do hàng triệu người bản xứ đóng góp.

Nhiều phiên họp của hội đồng thuộc địa chỉ là để bàn cách cướp giật công quỹ một cách khôn khéo. Riêng một ông chủ tịch hội đồng đã được lĩnh thầu những công việc trị giá hơn hai triệu phrǎng. Một ông đổng lý sự vụ, làm đại diện của Chính phủ trong hội đồng đã xin tǎng lương mình lên gấp đôi và đã được chấp thuận.

Nếu két bạc thấy hơi vơi đi thì cũng chẳng khó khǎn gì mà các quan cai trị không làm cho nó đầy lại được. Tự quyền các ngài đó báo cho dân bản xứ biết là Nhà nước cần một khoản tiền nhất định, rồi các ngài bổ cho các làng phải đóng góp. Làng xã phải vội vàng tuân lệnh để khỏi bị trừng phạt ngay lập tức.

*

* *

Cần tiền ư? Các ngài công sứ cố gắng tìm phương lập kế, và vì các ngài quan tâm đến việc thǎng quan tiến chức của các ngài hơn là túi tiền của dân bị trị, nên các ngài sốt sắng bày đặt ra các thứ phải đánh thuế, nâng hạng một số ruộng để nã tiền thuế nhiều hơn. Người ta kể có một tỉnh nào đó ở Bắc Kỳ đã bị kiệt quệ hẳn đi vì tinh thần sốt sắng của một quan công sứ vào loại ấy.

*

* *

ở khắp Đông Dương, những người được cử vào giữ những chức vụ cao nhất thường được lựa chọn trong số những kẻ mưu mô xảo quyệt làm giàu bằng những cách chẳng lương thiện chút nào. Đồng tiền trước hết, dù trong sạch hay dơ dáy, là cái quyết định việc tuyển lựa, cho nên một thằng xỏ lá ba que, coi như cái rơm cái rác ở một nơi khác, lại làm nên một “Ngài chủ tịch” đường bệ đáo để ở xứ thuộc địa này.

*

* *

Khi quan thống sứ có việc phải tiêu pha thì ngài cấp bằng sắc, phẩm hàm. Nhiều việc làm theo kiểu ấy đã vớ được từ 10.000 đến 15.000 phrǎng. Mà những việc như thế không phải là hiếm đâu.

*

* *

ở đường giao thông Vĩnh Long, có một nhân viên làm kế toán một thời gian đã tìm ra một cách đặc biệt tài tình để tǎng lương của mình: mỗi lần có người bản xứ hỏi vay trước ít tiền lương, anh ta bằng lòng ngay, và rồi đến kỳ lương sau anh ta trừ đi, nhưng anh ta giữ món tiền trừ lại cho mình, và cứ như thế, anh ta đã xoáy được số tiền nhỏ mọn là 200 ngàn phrǎng.

Một quan thống sứ đã chi tiêu hết kinh phí về chiếc sàlúp trước thời hạn mấy tháng. Ngài bèn lấy cớ có một cuộc hội hè nào đó mà nhà vua sẽ được mời đến ngự trên sàlúp và quyết định ông ta sẽ phải góp phần vào việc chi phí, và người ta dự đoán rằng phần đóng góp của vị khách sẽ nhiều đấy.

*

* *

Ông Đờ Lanétxǎng, nguyên toàn quyền Đông Dương và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa (1) , thú thật rằng Đông Dương tràn ngập những viên chức Pháp quá đông và thường thường là không được tích sự gì cả.

Phần đông người Pháp đã sống ở thuộc địa đều nói rằng quá nửa số quan đầu tỉnh không có đủ tư cách cần thiết đáng để giao phó những quyền hạn rộng rãi và ghê gớm đến thế.

Một quan cai trị mới đến thay chân một viên quan cai trị cũ, nhất định thấy quan cai trị cũ là một tên dốt đặc hay tệ hơn thế nữa. Thế rồi, đường sá đang làm dở, công trình đang thực hiện, kế hoạch đã nghiên cứu, mọi việc đều quẳng đi, xếp xó cả.

*

* *

Sang Đông Dương, các quan toàn quyền chỉ nhằm có một mục đích: kiếm việc bổ dụng bè bạn, con cái, họ hàng, những kẻ vận động tuyển cử cho những người họ có thể nhờ vả được; thường thường là một tên nợ như chúa chổm, bị chủ nợ sǎn đón, và hắn cần tiền.

*

* *

Nǎm 19.., người ta trả hết 36.300 đồng bạc tiền lương cho viên chức ngồi ǎn không chẳng phải làm gì cả, và nǎm sau nữa hết 300.000.

Nǎm 1909 kinh phí về việc thuyên chuyển viên chức trong nội địa Đông Dương hết 155.000 phrǎng. Việc thuyên chuyển ra ngoài nước chi tiêu hết l.500.000 phrǎng.

Riêng bộ máy cai trị ở phủ toàn quyền đã dùng hết 1.000.000 phrǎng kể cả 50 ngàn phrǎng trả công những người ở và làm vườn.

Viên toàn quyền và hai mươi mốt tên tuỳ thuộc mỗi nǎm lĩnh hơn một triệu phrǎng, chưa kể những món phụ cấp kếch sù chiếm mất 2.500.000 đồng phrǎng của công quỹ.

Người ta bố trí cả một chiến hạm cho viên toàn quyền di chuyển. Việc sắp xếp tốn mất 300.000 phrǎng, ấy là chưa kể những khoản phụ cấp linh tinh lên tới l00.000 phrǎng cho mỗi chuyến.

Ngài toàn quyền chưa vừa ý với những lâu đài nguy nga lộng lẫy của ngài ở Sài Gòn và Hà Nội, Ngài còn muốn có những nhà nghỉ mát và biệt thự ở bãi biển nữa; thế là dân An Nam khốn khổ lại phải nộp hàng trǎm ngàn phrǎng cho hành động ngông cuồng ấy.

Nǎm 19.., ông hoàng V. đơ. Đ. đi viễn chinh ghé qua Sài Gòn. Quan thống đốc nghênh tiếp ông hoàng một cách đế vương. Bốn ngày tiếp đón là bốn ngày lu bù yến tiệc. Và dân Nam Kỳ đáng thương đã phải trả hết 80.000 phrǎng.

Cũng nǎm ấy, trong lúc dân An Nam đang chết đói và dân Nam Kỳ bị nạn lụt, chẳng có chỗ nương thân, thì người ta lại mở yến tiệc linh đình để nghênh tiếp một cách đế vương một hạm đội Anh trong tám ngày và tám đêm liền. Dĩ nhiên là những người nông dân nghèo khổ An Nam phải gánh những phí tổn đó, cũng như mọi lần.

*

* *

Một viên thống sứ lập cả một đội kỵ binh và không bao giờ đi đâu mà không có đội ấy đi hộ tống, và như thế, theo như ngài nói, là để nâng cao uy tín của ngài với xứ bảo hộ.

Theo truyền thống, các viên cai trị là những ông vua con muốn cái gì quanh mình cũng xa hoa tráng lệ. Họ nói có thế mới nâng cao được uy tín của họ đối với dân bản xứ.

Đã có sẵn nhà cửa và đồ đạc không mất tiền, các ngài viên chức Nhà nước lại được công quỹ hàng tỉnh trả cả tiền đèn cho nữa. Có lần, một viên quan cai trị đã không ngần ngại tự ý chi tiêu hẳn một số tiền 50.000 phrǎng để bắc đèn điện ở nhà riêng.

Không những người trông nom quét dọn nhà cửa mà cả người đánh xe ngựa, người giữ ngựa và tất cả những người hầu kẻ hạ, đều do ngân sách địa phương trả tiền công cả. Cả sách báo giải trí cũng được cung cấp không cho những con người tốt số ấy.

ở cả các toà sứ đều có từ 6 đến 9 con ngựa và 5, 6 cỗ xe sang trọng đủ các loại. Ngoài những phương tiện giao thông đã quá thừa ấy, người ta còn sắm thêm những xe hơi làm tốn cho công quỹ hàng chục vạn đồng.

Có những viên nuôi cả một chuồng ngựa đua.

Có những công sứ ở một vài tỉnh đã kê các khoản sắm sửa áo, đồ dùng vệ sinh, đàn dương cầm và các thức ǎn uống vào sổ sách kế toán thành những món mua vật tư cần thiết để tu bổ toà sứ, hay thành một khoản gì tương tự như thế để bắt ngân sách địa phương phải gánh.

Ngoài lương chính đã đế vương lắm rồi, viên chưởng lý còn lĩnh thêm khoản phụ cấp 30.000 phrǎng, viên giám đốc thương chính lĩnh 40.000 phrǎng, viên giám đốc tài chính 20.000 phrǎng, viên giám đốc công chính 30.000 phrǎng, v.v., v.v..

Trong một vài vùng, việc mua đồ đạc cho toà sứ nuốt hết hơn một phần nǎm số thu, còn ngân sách cho việc giáo dục chỉ vẻn vẹn được một phần nǎm mươi.

Có viên giám binh dùng đến 5, 6 người lính khố xanh chǎn dê cho mình; có viên giám binh khác bắt những người lính biết chạm trổ làm cho mình những tượng Phật xinh xắn hay đóng những cái hòm rất đẹp bằng gỗ long não.

Theo nguyên tắc thì một viên giám binh chỉ được lấy một người lính làm lính hầu, thế mà người ta đã kể lại rằng có một ông giám binh nọ đã dùng:

1 người đội làm quản gia

1 đầu bếp

3 bồi

2 bếp

3 người làm vườn

1 hầu phòng

1 người đánh xe

1 người chǎn ngựa

Bà lớn dùng riêng:

1 người thợ may

2 người thợ giặt

1 người thợ thêu

1 người thợ đan đồ dùng bằng tre

Dĩ nhiên là cậu ấm cũng có một người bồi riêng, không lúc nào rời cậu nửa bước. Cộng tất cả là 19 người lính khố xanh. Và những trường hợp như thế không phải là hiếm đâu.

Một người mắt được chứng kiến đã kể lại rằng trong một bữa cơm ở nhà một quan cai trị nọ, – một bữa cơm thường thôi chứ không phải một yến tiệc gì lớn đâu, – sau lưng mỗi người ngồi ǎn đều có một anh lính đứng hầu để chờ thay đĩa và đưa các thứ cần dùng. Và tất cả những người hầu trong phòng ǎn ấy đều do một viên đội nhất chỉ huy.

Một viên chủ tỉnh chơi ngông kỳ quái đến nỗi cho phá cả một cái trường chuyên nghiệp xây mất 50.000 phrǎng; vì cái trường đã phạm đại tội che khuất mất phong cảnh trước dinh quan sứ.

Những chuyện tương tự như thế này, tôi có thể kể hết giờ này sang giờ khác. Nhưng tôi tưởng thế cũng đã đủ để các bạn thấy rõ đồng bào chúng tôi phải sống đoạ đầy dưới một chế độ ǎn bám và lãng phí như thế nào rồi. Trước khi sang chương khác, xin các bạn cho phép tôi gọi là để kết luận, lấy một câu của ông Anbe đơ Puvuốcvin, một nhà cựu thực dân ở Đông Dương, như sau: Chúng ta đã thấy đấy, các quan cai trị của ta ǎn ở ra sao…, anh thì chỉ nghĩ đến việc cho xây nhà nghỉ mát vui chơi thích thú, và ngồi tính toán xem mình được đi bao nhiêu lọng; có anh đã nhiễm ý nghĩ rằng người An Nam nào cũng là kẻ thù cả vì họ có màu da khác anh nên anh ta đốt phá cả một vùng.

cpv.org.vn

Rãnh nước và tình anh em

QĐND – Cách đây ít lâu, Báo Quân đội nhân dân có bài viết kể rằng: Trong một lần đi kiểm tra thi công đường tuần tra biên giới tại tỉnh Sơn La giáp nước bạn Lào, Đại tướng Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã rất chú ý tìm hiểu và biểu dương một công trình “độc đáo”. Đó là những rãnh nước nhỏ, xây sát nền đường trên đỉnh đèo, một bên là đất nước bạn Lào, một bên là đất Việt Nam. Đường làm xong, mỗi khi mưa to, nước mưa theo dốc, chảy về bên đất bạn, có thể làm xói lở đất phía bên nước bạn. Dù phía bạn chưa đề nghị, nhưng bộ đội Việt Nam đã chủ động xây các rãnh nước, lát xi măng để khi có mưa, nước không làm xói lở đất bạn.

Những rãnh nước nhỏ bé nhưng lại là biểu hiện của một tình cảm lớn, một phẩm chất cao đẹp, một biểu hiện sáng ngời của sự kế tiếp truyền thống quan hệ hữu nghị anh em “tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn và vun đắp. Nó còn là biểu hiện của lòng tự trọng và cũng là biểu hiện của sự tôn trọng, một phương châm ứng xử, một nét văn hóa Việt Nam: Chúng ta muốn là bạn của mọi dân tộc trên Trái Đất này và hơn thế, chúng ta luôn chủ động là người bạn tốt!

Không chỉ dừng lại ở những rãnh ngăn nước mà trên thực tế giải quyết vấn đề biên giới khi thi công đường tuần tra biên giới, những người lãnh đạo cao cấp của Nhà nước và quân đội ta như Đại tướng Phùng Quang Thanh, Thượng tướng Phan Trung Kiên, Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên, Trung tướng Phạm Hồng Lợi, Trung tướng Nguyễn Trung Thu… đều rất mẫu mực trong xử lý các vướng mắc. Họ đều đã vào sinh ra tử trong chiến tranh, luôn trân trọng, giữ gìn, bảo vệ quyền làm chủ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc song cũng luôn nghiêm cẩn, tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nước bạn. Đã có những đoạn đường còn vướng mắc, phải tạm dừng chờ các cấp có thẩm quyền của hai quốc gia giải quyết và cũng có đoạn đường được phía ta chủ động “chỉnh sửa” đường biên theo đúng đàm phán giữa hai nước.

Một nhà báo phương Tây mới đây đã đưa ra một câu nói mang tính hài hước nhưng rất thời sự: “Hai nước nhỏ tranh luận, bất đồng biến mất. Nước lớn và nước nhỏ tranh luận, nước nhỏ biến mất. Các nước lớn tranh luận, vai trò các tổ chức quốc tế…biến mất”. Rõ ràng là những năm gần đây, trên thế giới, việc xử lý vấn đề biên giới, lãnh thổ ở nhiều nơi từng xảy ra những vướng mắc, tranh chấp, xung đột và xử lý chúng không dễ dàng. Nhưng bên cạnh những cách nghĩ, cách hành xử cực đoan thì thế giới này vẫn còn rất nhiều điều tốt đẹp. Và câu chuyện cái rãnh nước tuy nhỏ nhưng là một hình ảnh đẹp mang tầm quốc tế hiện nay!

Nguyễn Văn Minh
qdnd.vn

Tri ân, không bao giờ là đủ !

QĐND – Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước ta có khoảng 1, 13 triệu liệt sĩ. Và có lọ, chẳng nơi đâu trên thế gian có những bà mẹ phải chịu nhiều nỗi đau mất người thân trong chiến tranh như ở Việt Nam. Mẹ Thứ, người đã trở thành biểu tượng của người mẹ Việt Nam anh hùng, phải chịu nỗi đau mất 13 người thân. Những bà mẹ Việt Nam khác, cũng có rất nhiều người chồng chất nỗi đau.

Trong số những nỗi đau, thì nỗi đau nhất là không còn đau được nữa. Đó là khi quá nhiều nỗi đau đổ ập tới, khiến lòng chai sạn, khiến mẹ không còn nổi nước mắt để khóc chồng, khóc con. Và, những nỗi đau ấy, đến hôm nay, vẫn chưa thôi day dứt!

Người có tâm, người biết sống hợp với đạo lý, là người biết hàm ơn. Các anh hùng liệt sĩ, những người đã chiến đấu, hy sinh để giành lại nền độc lập, chính là những người có ơn lớn đối với quốc gia, dân tộc. Vì thế, thể hiện lòng biết ơn với họ, mà cụ thể là góp phần xoa dịu những nỗi đau mà những người thân của họ vẫn đang gánh vác, không chỉ là vấn đề trách nhiệm xã hội với mỗi người hôm nay. Đó còn là trách nhiệm, là lương tâm!
Cách đây hơn 20 năm, phong trào xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình các thân nhân liệt sĩ đã được cả nước hưởng ứng. Hàng vạn ngôi nhà đã và vẫn tiếp tục được xây. Thế nhưng, vẫn chưa đủ. Vẫn còn những gia đình liệt sĩ chưa có được một mái ấm khang trang. Lại có những ngôi nhà tình nghĩa trải qua mưa nắng và thời gian, nay đã rất cần nâng cấp.

Ngày 27-7-1947 được lấy làm Ngày Thương binh -Liệt sĩ, tức là công tác chăm lo cho người có công với cách mạng đã được toàn Đảng, toàn dân chăm lo từ 65 năm qua. Tuy nhiên, đến nay, dù đã rất cố gắng nhưng sự chăm lo ấy vẫn mới chỉ bảo đảm được phần nào cuộc sống của các đối tượng chính sách. Những khoản tiền trợ cấp, phụ cấp, trong thời buổi khó khăn này vẫn chưa giúp người có công thực sự được yên tâm.

Tri ân các anh hùng liệt sĩ, những người đã để lại một phần thân thể mình trên chiến trường vì nền độc lập -tự do của dân tộc, không phải là việc từ thiện. Đó là một việc nghĩa, thể hiện đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân ta. Những đồng tiền, những việc làm thể hiện sự biết ơn đã phần nào xoa dịu những nỗi đau. Thế nhưng, không gì có thể so với sự mất mát người thân, sự hy sinh xương máu. Bởi thế, việc tri ân không bao giờ là đủ!

Huy Đăng
qdnd.vn

Mái che từ lòng dân

QĐND – Tỉnh Điện Biên vừa long trọng tổ chức Lễ khánh thành Công trình Mái che hiện vật ngoài trời Khu di tích lịch sử Điện Biên Phủ. Đây là công trình được xây dựng nhằm gìn giữ, bảo quản lâu dài các hiện vật trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Công trình được thiết kế và xây dựng gồm 12 mái che tại 9 địa điểm thuộc 2 phường Mường Thanh và Thanh Trường (thành phố Điện Biên Phủ) để bảo quản các hiện vật gồm 7 khẩu pháo, 4 chiếc xe tăng và mảnh xác máy bay của quân đội viễn chinh Pháp bị ta thu giữ, phá hủy.

58 năm sau ngày 7-5-1954, ý nghĩa của chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, một chiến thắng mang ý nghĩa quyết định sự thất bại của quân đội viễn chinh Pháp tại Việt Nam, vẫn còn nguyên đó. Thế nhưng, những di sản, những chứng tích của chiến thắng ấy, vì sự tàn phá của thời gian, đã mai một đi nhiều.

Ảnh minh họa/ Internet

Hiện trạng ấy, không chỉ xảy ra tại Điện Biên Phủ. Nhiều di sản văn hóa quân sự thời đại Hồ Chí Minh trên khắp cả nước “chưa được bảo tồn hiệu quả, phát huy tác dụng. Nhiều di tích lịch sử quân sự dù đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, vẫn bị xuống cấp nhanh chóng do thời gian bào mòn và do con người xâm hại nghiêm trọng. Không những thế, nhiều di sản quân sự tuy đã được quan tâm phục hồi, tôn tạo, tốn kém nhiều tiền bạc và công sức của nhân dân nhưng vẫn có nhiều “dấu vết” thô vụng, không phản ánh chân thực và không ngang tầm lịch sử” (trích từ loạt bài phóng sự điều tra “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa quân sự thời đại Hồ Chí Minh” trên Báo Quân đội nhân dân từ ngày 20 đến 24-11-2011).

Bảo tồn các di sản văn hóa quân sự là việc làm cấp bách. Bởi lẽ, những di sản ấy không chỉ mang ý nghĩa là những vật thể thuần túy. Nó minh chứng truyền thống chiến đấu và chiến thắng, minh chứng truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt. Và để truyền thống ấy tiếp tục “sống”, tiếp tục phát huy ý nghĩa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, cần phải có thái độ tích cực hơn đối với những di sản văn hóa quân sự.

Trước mắt, để bảo vệ những di sản văn hóa quân sự, cần đến “bàn tay” của các cơ quan chức năng, cần có những mái che vật chất để che mưa, che nắng. Nhưng từng ấy chưa đủ! Thời chiến, lòng dân chính là “mái che” cho bộ đội trước quân thù. Chiến tranh đi qua, những mái che bảo vệ những chứng tích hào hùng của lịch sử dân tộc chỉ thực sự vững bền khi nó đi được vào lòng dân, để lòng dân trở thành những “mái che” vĩnh cửu.

Diệu Mai
qdnd.vn