Archive | 2012

Sầm Nưa ngày ấy…

Nhà báo Khắc Tiếp (bên phải) phỏng vấn Đại úy Coong-le, chỉ huy quân nổi dậy chống Mỹ ở Cánh Đồng Chum năm 1960. Ảnh do tác giả cung cấp

Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài, trong mấy chục năm làm Báo Quân đội nhân dân, tôi hình như có duyên với đất Phật Triệu Voi. Lúc ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum, lúc ở đường số 9 Sê-pôn. Lúc đi cùng quân tình nguyện ở Lào, lúc đi với quân Pa-thét Lào. Có lần còn đi với quân “trung lập” của lực lượng nổi dậy. Lúc bám sát diễn biến hội nghị 3 phái (yêu nước-trung lập-thân Mỹ) ở thung lũng Văng Viêng, lúc giúp Báo Quân đội nhân dân Lào ở Thủ đô Viêng Chăn… Biết bao kỷ niệm đẹp về mối duyên Lào-Việt, mà năm tháng trôi qua không dễ làm cho phai mờ.

Tôi nhớ nhất những ngày đại quân Lào-Việt xuất trận xuân hè 1953. Lần đầu tiên, những đại đoàn thiện chiến của Việt Nam đồng loạt lên đường sang phối hợp cùng quân đội bạn. Hoàng thân, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, Bộ trưởng Quốc phòng Cay-xỏn Phôm-vi-hản (sau này là Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào), Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đã thân chinh ra trận, đi cùng đại quân; có đêm tôi còn thấy các vị cưỡi ngựa đội mưa đi qua hàng quân đang xốc tới chiến trường. Đường qua Tây Bắc sang Lào dài hơn 300 cây số. Núi cao đèo dốc hiểm trở. Quân chiến đấu mang vác nặng đã đành, báo chí, điện ảnh đi theo cũng vất vả không kém. 11 ngày gạo tẻ, 2 ngày gạo nếp, vũ khí nhẹ… ngót nghét hơn 20kg trên vai. Không ai biết đi đâu và đánh ở đâu trên Tây Bắc mênh mông bí hiểm này. Đến Mộc Châu mới biết chiến trường là Sầm Nưa trên đất bạn. Vùng biên cương hai nước, chiều chưa đến, sương mù đã dày đặc. Có đêm mệt quá tôi bước hụt, tụt xuống một hố khá sâu gần ngập đầu (chắc là hố tránh phi pháo của các đơn vị đi trước), và cứ nguyên ở đó, ngủ thiếp đi một giấc dài, tỉnh dậy phải vắt chân lên cổ để đuổi kịp đoàn quân đã đi xa.

Đề phòng địch có thể đánh bài chuồn nếu phát hiện đại quân ta đang tiến sát, bộ chỉ huy chiến dịch đã ra lệnh cho các cánh quân tăng hết tốc độ hành quân, để kịp bao vây tiêu diệt. Thế mà vẫn không kịp. Khi đơn vị đi đầu đến sát Sầm Nưa thì đã thấy lửa bốc cao ngùn ngụt trong các cứ điểm địch. Thì ra toán địch đầu tiên bỏ chạy đã được 19 giờ, toán cuối cùng cũng đã được 8 giờ, trước khi đại quân ta đến.

Thế là cuộc tiến công Sầm Nưa lập tức biến thành cuộc truy kích đường dài, lớn chưa từng có của quân đội ta. “Đuổi địch đến cùng, nó chạy xa 200, 300 cây số cũng đuổi, hết lương thực cũng đuổi, có máy bay địch cũng đuổi”. Đó là quyết tâm của đại quân ta suốt 7 ngày 7 đêm liên tục, bất chấp đèo cao dốc đứng, thủy thổ xa lạ, mưa nắng thất thường, thiếu cơm thiếu nước. Chưa đầy một tháng trên đất bạn, chiến dịch Thượng Lào kết thúc đại thắng. Gần 3.000 tên địch, bằng 1/5 tổng số binh lực địch ở Lào bị tiêu diệt. Toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phông Sa Lỳ bằng 1/5 diện tích nước Lào với 30 vạn dân được giải phóng. Và điều quan trọng nhất là sinh lực của ta hầu như còn nguyên vẹn, đầy sức chiến đấu. Từ đây, Việt Bắc-Tây Bắc của Việt Nam và Thượng Lào đã được nối liền một dải, hậu phương kháng chiến của hai dân tộc được mở rộng.

Tại cầu Hỉn Hợp chia đôi hai miền Lào trong chiến tranh năm 1961: Bên trái là chiến sĩ cảnh giới Pa-thét (Lào), bên phải là phóng viên Báo Quân đội nhân dân. Ảnh do tác giả cung cấp

Sầm Nưa là một thị trấn xinh đẹp, hầu như còn nguyên vẹn. Những căn nhà cổ kính, những hàng cây xanh tươi, những vườn hoa đầy hương sắc. Lễ chiến thắng được tổ chức tại một tòa nhà giữa thị trấn. Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nói trong buổi lễ: Sầm Nưa giải phóng là kết quả của tình đoàn kết Việt-Lào, của giúp đỡ không điều kiện của nhân dân và quân đội Việt Nam tiêu diệt kẻ thù chung. Ông có kể lại là trước khi triển khai chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh có gửi tặng ông hai món quà làm kỷ niệm: một tấm lụa và một thanh gươm. Tấm lụa là tượng trưng cho tình nghĩa bền chặt đoàn kết keo sơn. Thanh gươm là tiêu biểu của tinh thần chiến đấu kiên cường chống kẻ thù chung của hai dân tộc.

Gọi là tiệc cho đúng chữ nghĩa. Thực sự là một buổi vui gia đình-đại gia đình Lào-Việt. Bà Xu-pha-nu-vông – cô gái xứ Thanh xinh đẹp-tự tay chuẩn bị bữa ăn cho các bạn Việt Nam: món xôi được nấu theo kiểu của Hoàng gia. Mọi người hát dân ca Lào, múa lăm-vông đến khuya. Tôi được đồng nghiệp Hoàng Thái giao cầm đuốc soi sáng cho anh quay phim. Nhà văn Vũ Cao còn nhắc tôi “cẩn thận không cháy râu của cụ Xu” (trong kháng chiến, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông thường để râu rất dài).

Đại quân ta chiến thắng lần lượt trở về nước. Chỉ để lại mấy trung đoàn, tiểu đoàn giúp bạn bảo vệ, củng cố vùng giải phóng. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân cùng nhà quay phim Hoàng Thái được lệnh ở lại, tiếp tục công việc của mình. Đi vào các bản làng, ghi hình ảnh và lấy tài liệu. Về lịch sử các dân tộc Lào, về phong cảnh đất nước, lòng dân, về tình gắn bó keo sơn Lào-Việt. Gặp gỡ các tình nguyện quân Việt Nam đã nằm gai nếm mật ở đây hàng năm; các chiến sĩ Pa-thét Lào đã bám dân, bám đất bất chấp sự dụ dỗ mua chuộc, khủng bố của kẻ thù; các chị, các mẹ Lào đã nuôi dưỡng che chở Bộ đội Cụ Hồ như con cháu ruột thịt… Những thước phim nhựa của anh Hoàng Thái là vô cùng quý giá, có một không hai. Những tài liệu tôi thu thập được đã giúp tôi viết được một số bài và ra được một cuốn sách nhỏ “trên đất nước Triệu Voi” sau đó.

Một tháng “du ngoạn” của hai phóng viên trên vùng Xiềng Khọ tuyệt đẹp. Lạ nước, lạ dân, vùng giải phóng chưa được mấy ngày, nhưng chúng tôi không gặp một nguy hiểm nào, không một lúc nào bị đói. Số là sau buổi liên hoan chiến thắng, trước khi lui về căn cứ, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đã gặp các phóng viên ở lại xem có yêu cầu gì không, có khó khăn gì không? Chúng tôi bộc bạch tấm lòng: gian khổ không ngại, khó khăn không sờn, ở bao lâu cũng được, chỉ lo… đói thôi. Vì chúng tôi hoạt động đơn độc, không chốn ở cố định, trên không có thủ trưởng, dưới không có hậu cần. Hoàng thân cười tươi: “Có gì đâu, dễ thôi”. Và tự tay ông viết giấy giới thiệu, nội dung rất đặc biệt: “Các huyện trưởng, xã trưởng có nhiệm vụ dẫn đường, cung cấp thức ăn, bố trí nơi ở, bảo vệ an toàn cho các phóng viên Việt Nam”. Dĩ nhiên, các huyện trưởng, xã trưởng nói đây đều là của chính quyền cũ-số đông họ đều được giữ lại làm việc, vì vùng mới giải phóng quá rộng lớn, quá mới mẻ, nên cách mạng chưa có đủ cán bộ phụ trách. Nhờ lá bùa hộ mệnh đó, chúng tôi ung dung làm việc, hoàn thành nhiệm vụ trên giao, không những không đói giữa rừng thiêng mà còn nhiều lần được “ăn cơm Tây”, ngủ giường nệm tại nhà các chức sắc chính quyền cũ vốn có nhiều kinh nghiệm tiếp đãi các quan Tây đóng đồn hay các phìa tạo đi tuần tra. Càng thấy thấm thía uy tín của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, của cách mạng Lào lớn đến thế nào.

Mấy tuần lễ trôi qua, thước phim cuối cùng của Hoàng Thái đã hết. Giấy bút tôi mang theo cũng đã cạn. Chúng tôi tự đánh giá là đã hoàn thành “xuất sắc” nhiệm vụ và tự quyết định cho phép mình về nước. Lễ buộc chỉ cổ tay kết nghĩa đầy lưu luyến. Những giỏ xôi thơm phức trao tay. Những ánh mắt yêu thương như muốn nhìn nhau mãi. Chúng tôi vượt qua biên giới hai nước lúc nào cũng không biết (vì làm gì có mốc như bây giờ). Sông núi, cảnh vật, con người hai nước sao mà hòa quyện với nhau đến thế.

Khắc Tiếp
qdnd.vn

Về một bài báo và bóng dáng tác giả

Nhà báo Trần Việt. Ảnh tư liệu

“Đường số 4 biên giới tháng 10-1950, bản làng cháy đen, và rừng còn ngút lửa. Một trận đánh lớn vừa chấm dứt. Ven theo núi đá, hai cỗ quan tài đẽo thân cây gỗ, một vòng hoa dại hái dưới chân đèo và hàng trăm tù binh quân Pháp vây quanh. Phần lớn bọn họ là thương binh, đã được ta chăm sóc băng bó. Trong quan tài là thi hài Thiếu tá Sơ-crê-tanh (Scrétin) và thi hài Trung úy Pi-e Bác-ba-ra (Pierre Barbara) do vết thương quá nặng đã qua đời trong trạm quân y của ta. Việc khâm liệm có mặt hai võ quan Pháp, Đại úy Tít-xi-ê (Tissier), Trung úy Ma-ti-ơ (Mathieu) và đông đảo tù binh Âu, Phi. Trước khi chuyển quan tài tới núi 703 để trao trả cho Hội Hồng thập tự Pháp, một võ quan Việt Nam đã đặt vòng hoa và nói bằng tiếng Pháp tự nhiên, lưu loát:

“Ngày hôm qua các anh còn là kẻ thù của chúng tôi, xung kích của chúng tôi đã xông lên để tiêu diệt. Sau trận đánh, các anh bị thương và đã hạ khí giới. Chúng tôi không còn coi các anh là kẻ thù nữa và đã hết sức chạy chữa. Những người của chúng tôi hôm qua là xung kích thì hôm nay lại đi tìm gỗ ván để khâm liệm các anh. Và lát nữa chính họ sẽ khiêng các anh để trả lại cho Hội Hồng thập tự Pháp trao trả cho gia đình các anh. Cử chỉ này của chúng tôi chứng tỏ một lần nữa rằng chúng tôi không căm thù người Pháp. Chúng tôi chỉ chiến đấu chống bọn thực dân. Biết bao làng mạc chúng tôi bị đốt phá, bao thanh niên Việt Nam và thường dân Việt Nam đã hy sinh! Và biết bao thanh niên Pháp, Phi, Trung Âu đã bỏ mình ở Việt Nam! Chúng tôi và các anh chỉ là nạn nhân của một chính sách thực dân đã lỗi thời. Máu của các anh và máu của chúng tôi đã đổ vì bọn đế quốc. Trong thâm tâm chúng tôi và các anh chắc cũng đều cầu mong cho chúng ta được sống hòa bình, thân ái. Xin vĩnh biệt các anh”.

Hai cỗ quan tài ấy lên vai bộ đội ta ra chỗ hẹn. Nhưng đại biểu Hồng Thập tự Pháp lỡ hẹn không đến. Chờ đến 22 giờ đêm ngày 11-10, ngay chân đèo Lũng Phầy, bộ đội chúng ta đã mai táng thi hài các võ quan nói trên. Lúc hạ huyệt, Trung úy Ma-ti-ơ ôm mặt khóc, Đại úy Tít-xi-ê run tay làm dấu thánh giá. Hơn ba trăm tù binh có mặt rơm rớm nước mắt…”.

Phần giới thiệu trên đây là tôi dẫn theo bài ghi chép của phóng viên Trần Việt đăng trên Báo Quân đội nhân dân.

Trích đoạn bài viết của Trần Việt đăng trong số 1 Báo Quân đội nhân dân.

Thật lạ lùng là cho đến tận mãi gần đây tôi mới tìm đọc được bài ghi chép đặc biệt đó trên tờ Báo Quân đội nhân dân đã ố và sờn rách. Thực khó tả sự ngạc nhiên và xúc động khi tôi lần theo từng dòng chữ của Trần Việt. Bài anh Việt viết ngay sau khi chôn cất hai sĩ quan Pháp, ngày 11-10-1950 và đưa in trên Báo Quân đội nhân dân số ra mắt đầu tiên, “số 1, ngày 20-10-1950”. Đúng 60 năm rồi.

Đập mạnh vào tôi là những lời thẳng thắn, rõ ràng, ta tuyên bố trước hàng trăm quân lính Pháp đã hạ vũ khí.

Sáng suốt và nhân hậu là lời vĩnh biệt của anh sĩ quan Việt Nam trước quan tài hai sĩ quan quân đội thực dân Pháp, những lời nói đã biến thành con chữ xuất hiện trên giấy trắng mực đen của Báo Quân đội nhân dân xưa mà đến nay vẫn lung linh thời sự.

Năm 1950, tôi ở chiến trường miền Nam mới ra, vừa trình diện ở Báo Quân đội nhân dân thì được huy động đi phục vụ Chiến dịch Biên giới, “làm bất kỳ việc gì họ cần”. Còn anh Trần Việt thì đã là một cây bút chuyển từ Báo Quân du kích sang Báo Quân đội nhân dân. Với chúng tôi, anh thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp vào loại “siêu”. Có những trường hợp anh giao tiếp với sĩ quan địch đã trở thành giai thoại. Nhưng anh luôn khiêm tốn. Cụ thân sinh anh, xưa đã yêu cầu anh phải cố thi vào trường Tây mà học cho giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp để hiểu con người và văn hóa Âu Mỹ.

Anh đã tham gia hoạt động trước ngày Cách mạng Tháng Tám, là chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô ngày khói lửa Toàn quốc kháng chiến, rồi vào vùng địch tìm hiểu chiến tranh du kích.

Anh là ưu tiên số một được chọn mỗi khi đi gặp gỡ tù binh Pháp để tìm hiểu, tranh luận, thuyết phục. Anh không chỉ là người đứng ngoài ghi chép, mà là người trực tiếp nhập cuộc, trong việc chôn cất hai sĩ quan Pháp ngày 11-10. Anh là linh hồn của lời phát biểu nhân hậu, sáng suốt trước quan tài hai kẻ địch xấu số.

Không lạ gì, mấy năm sau khi chuyển sang Điện ảnh Quân đội, anh đã dựng lên hàng loạt phim tài liệu trong chiến tranh đuổi Mỹ. Sinh động, sâu sắc, hình ảnh và lời bình có lý, có tình, cùng một nhịp đập chính nghĩa như thời chống Pháp và phim anh đã giành được một loạt giải Bông Sen Vàng.

Phú Bằng
qdnd.vn

Máy bay ta ném bom chiến hạm Mỹ

QĐND – Trong những trang vàng của lịch sử lực lượng không quân nhân dân Việt Nam có một trận đánh được cho là độc đáo nhất từ trước tới nay: Máy bay ta ném bom tàu Mỹ. Đó là trận chiến Mig -17 đánh tàu Hepeer của Hạm đội 7 của hai phi công Lê Xuân Dị và Nguyễn Văn Bảy (B) ngày 19-4-1972. Kết quả, cả 4 quả bom đều đánh trúng mục tiêu, 2 tàu khu trục địch bị đánh hỏng, trong đó tàu Hepeer bị hỏng nặng, 2 máy bay ta về hạ cánh an toàn. Người trong cuộc trận đánh ấy bây giờ ở đâu?

Từ cuốn nhật ký bạc màu…

Hình ảnh minh họa trận đánh chiều 19-4-1972.

Trận đánh “Mig -17 đánh tàu Hepeer của Hạm đội 7 Mỹ” được Bảo tàng Phòng không -Không quân chọn giới thiệu trong Triển lãm “17 trận đánh độc đáo của Bộ đội Phòng không -Không quân” vào tháng 10-2011. Ngày ấy, không quân ta còn non trẻ lắm! Sau bao năm, những người lính tham gia trận đánh giờ ở đâu? Lục tìm trong sử liệu, tôi mới hay, đáng chú ý trong trận đánh này có hai gương mặt phi công Lê Xuân Dị và Nguyễn Văn Bảy (B). Thế nhưng, không may là hơn 2 tháng sau chiến thắng đó, trong một trận đánh trên bầu trời Thanh Hóa, máy bay của phi công Nguyễn Văn Bảy đã trúng đạn và anh đã anh dũng hy sinh. Chỉ còn ông Lê Xuân Dị. Tôi rất háo hức khi được tin ông vẫn còn sống, nay ở quê nhà Bắc Ninh. Mừng hơn nữa, tôi tiếp tục tìm ra manh mối về ông Bảy (B) khi được Trung tá Nguyễn Thị Thanh Lương – Trưởng Ban sưu tầm Bảo tàng Phòng không -Không quân cho hay, hơn 5 năm về trước, gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) có tặng Bảo tàng một cuốn nhật ký và đã được Bảo tàng lưu giữ rất cẩn thận. Cầm cuốn nhật ký trên tay, trong tôi dâng trào một niềm xúc động. Ngoài những bài viết của đồng đội và các tác giả liên quan đến trận đánh, có rất nhiều bài văn, bài thơ, những bức thư, tấm ảnh liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B). Các tư liệu trong cuốn nhật ký được sắp xếp theo trình tự thời gian từ thuở thiếu thời cho đến lúc anh hy sinh.

Kế hoạch táo bạo

Từ những thông tin trong cuốn nhật ký đã giúp tôi lần tìm ra các tư liệu và nhân chứng trong cuộc. Trận đánh diễn ra mau lẹ, song quá trình chuẩn bị rất công phu, tỉ mỉ và bí mật đến giây phút cuối cùng. Cuốn “Lịch sử Quân chủng Phòng không -Không quân” ghi: “Suốt tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1972, các tàu chiến của Hạm đội 7 ngày đêm pháo kích vùng đông dân ven biển Quảng Bình làm cho nhân dân hết sức hoang mang, gây khó khăn cho việc tiếp tế cho tiền tuyến miền Nam bằng đường biển. Trước tình hình đó, Bộ đội Không quân được lệnh đánh tàu chiến Mỹ với mục đích là để chúng giãn xa bờ, không đánh phá được tiếp tế của ta cho miền Nam”.

Để chuẩn bị cho kế hoạch này, vào năm 1971, một số phi công MiG -17 được tuyển chọn để huấn luyện bay biển và ném bom mục tiêu trên biển. Tháng 3 năm 1972, sau khi hoàn thành các khoa mục bay chiến đấu trên biển, các phi công đã cơ động bằng đường bộ vào Gát (Quảng Bình) để nghiên cứu về quy luật hoạt động của máy bay và tàu chiến địch. Sân bay Gát thực ra chỉ có một đoạn đường băng bằng đất nện và một khu vực cất giấu máy bay. Trong suốt thời gian thi công cho tới khi hoàn thành, sân bay Gát giữ được bí mật tuyệt đối. Địch không phát hiện được, kể cả các trang thiết bị, phương tiện và các mặt bảo đảm cho máy bay hoạt động đã được tập kết ở khu vực xung quanh sân bay.

Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không -Không quân đã tổ chức cuộc họp bàn phương án đánh địch trên biển. Phương tiện tác chiến là MiG -17, Trung đoàn Không quân 923 là đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Bộ tư lệnh Quân chủng bố trí một tổ chỉ huy bổ trợ tại sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh Hải quân, một đài quan sát tại Cửa Dinh và đặt Trạm Ra -đa 403 đối hải ở cửa Nhật Lệ, thu thập tin tình báo trên biển cung cấp cho sở chỉ huy. Ngày 18-4-1972, sau khi nghiên cứu quy luật hoạt động của địch, Bộ tư lệnh quyết định cơ động MiG -17 vào sân bay Gát. Lúc 15 giờ 45 phút, 2 chiếc MiG -17 do hai phi công kỳ cựu là Lê Hồng Điệp và Từ Đễ đã cất cánh từ Kép (Bắc Giang) bay về Gia Lâm (Hà Nội), rồi từ đó bay tiếp vào sân bay Vinh (Nghệ An). Tới đây, để đảm bảo bí mật, sở chỉ huy tiền phương điều hành cho từng chiếc một vào Gát. Hai chiếc máy bay sau khi hạ cánh đã được các nhân viên kỹ thuật kiểm tra và chuẩn bị đầy đủ các mặt bảo đảm, đồng thời cất giấu vào vị trí an toàn, đợi lệnh chiến đấu.

MiG-17 tấn công hạm đội 7

Về diễn biến của trận đánh này, Đại tá Phi công Lê Xuân Dị kể lại: “Ngày 19-4-1972, tôi và Nguyễn Văn Bảy (B) được giao nhiệm vụ trực ban chiến đấu. Từ 9 giờ 30 phút, các trạm ra -đa quan sát đã phát hiện các tốp tàu địch ở xa ngoài khơi. Các sở chỉ huy không quân và hải quân, các đài bổ trợ, trạm quan sát liên tục theo dõi, bám sát các hoạt động của địch. Đến 15 giờ, một tốp 4 chiếc tàu địch đã vào đến đông đèo Lý Hòa 15km, một tốp 3 chiếc ở đông Quảng Trạch 18km. Đặc biệt, một tốp 2 chiếc đã tới Đông Nhật Lệ 7km, các tàu chiến của Hạm đội 7 nã pháo vào thị xã Đồng Hới. Cấp trên nhận định, đây là thời cơ thuận lợi để tiến công địch. Lúc 16 giờ 5 phút, tôi và Nguyễn Văn Bảy (B) được lệnh xuất kích, mỗi chiếc máy bay mang 2 quả bom dưới cánh. Chúng tôi bay đến cửa sông Gianh thì bị sương mù cản trở tầm nhìn. Chúng tôi được dẫn bay chếch về bên trái điểm cao 280, cách bờ biển Quảng Bình 10km rồi vòng phải liên lạc trực tiếp với sở chỉ huy Đồng Hới. Sau khi vượt qua cửa Lý Hòa, chúng tôi giữ độ cao 500m trên mặt biển, tốc độ 800km/h và tập trung quan sát tìm mục tiêu. Cách khoảng 10 đến 12km, biên đội nhìn thấy hai vệt sáng trắng di chuyển trên mặt biển xanh, xác định đó là 2 chiếc tàu địch đang chạy. Tôi thông báo cho sở chỉ huy đã phát hiện mục tiêu và xin phép công kích. “Cho phép công kích!” – lệnh của cấp trên vừa dứt, tôi chỉnh lại đường ngắm rồi cắt bom, cả hai quả bom nổ sát thân tàu. Vòng máy bay về, tôi còn nhìn rõ cột nước vọt lên cao. Sau loạt bom đó địch phát hiện bị MiG đánh, chúng phóng tên lửa và báo động toàn Hạm đội 7. Vì giãn cách đội hình hơi xa nên Nguyễn Văn Bảy (B) không quan sát được tôi, Bảy tiếp tục bay vòng ra phía biển. Khi bay qua cửa Dinh, phát hiện 2 tàu địch phía dưới, Nguyễn Văn Bảy (B) lập tức vòng lại công kích. Cách mục tiêu 750m, anh báo cáo về sở chỉ huy và cắt bom. Đúng vào lúc Bảy vừa cắt bom chúng tôi mới liên lạc được với nhau. Sau đó, biên đội được dẫn về hạ cánh xuống sân bay Gát lúc 16 giờ 22 phút”.

Như vậy, sau 17 phút chiến đấu, biên đội đã trở về an toàn. Theo quan sát và sự thú nhận của địch, cả 4 quả bom đều trúng mục tiêu. Hai tàu khu trục địch bị đánh hỏng, trong đó tàu Hepeer bị hỏng nặng.

Ngay sau khi máy bay ta vừa về hạ cánh, địch đã vào đánh phá dữ dội sân bay Đồng Hới. Ngày 20-4, chúng cho máy bay đánh sân bay Vinh. Và phải tới ngày 22-4, chúng mới phát hiện và tập trung đánh phá hủy diệt sân bay Gát. Một chiếc MiG -17 bị đánh hỏng, chiếc còn lại bay được về sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn. Biên đội sau đó đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng gặp mặt và khen thưởng.

Sự thú nhận từ phía bên kia

Thú nhận về sự thất bại này, ngày 20-4-1972, hãng AP đưa tin: “Khoảng 6 giờ, tàu Hepeer cùng liên đội đảm nhiệm của Hạm đội 7 hoạt động ở vùng biển tỉnh Quảng Bình, Bắc Việt Nam. Hepeer là khu trục hạm vừa được Tổng thống Nixon tuyên dương vì đã vào gần vùng biển Hải Phòng cứu các phi công Mỹ bị bắn rơi ngày 16 tháng 4 năm 1972. Chiếc Hepeer đang pháo kích thì MiG bay tới… Hai quả bom đánh trúng tàu, boong sau của hạm đội bốc cháy, một đoạn lớn của hông bị phá toang, ụ súng chứa đầy đạn nổ tung, tiếng la hét, kêu cứu thất thanh, quang cảnh thật buồn thảm, các khẩu pháo lớn vỡ toác như cái loa kèn. Cuộc tấn công này thật nghiêm trọng vì đây là lần đầu tiên Bắc Việt Nam dùng MiG tấn công Hạm đội 7 của Mỹ. Tin về cuộc tấn công này được loan truyền nhanh chóng trong Quốc hội Mỹ giữa lúc các nghị sĩ Mỹ đang tranh cãi về những bất đồng trong cuộc chiến tranh Việt Nam”.

Bài và ảnh: Nguyễn Thành Trung
qdnd.vn

Ia Đrăng trận đánh làm chấn động nước Mỹ

LTS: Trận Ia Đrăng là trận đánh then chốt quyết định nhất của chiến dịch Plây-me, là cuộc đụng độ quy mô lớn lần đầu của chủ lực ta với quân đội Mỹ. Trận đánh đã đi vào lịch sử, đánh dấu sự thất bại đầu tiên của Mỹ trên chiến trường miền Nam. Chúng tôi xin trích đăng bài viết của cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An, nguyên Phó tư lệnh chiến dịch Plây-me, người chỉ huy trực tiếp trận đánh tại thung lũng Ia Đrăng 45 năm trước…

Mắt tôi vẫn dõi theo những đám khói xám đang tan để lại một vệt dài dọc theo sườn núi những cây cối đổ ngang ngửa. Từ hồi còn ở ngoài miền Bắc tôi đã đọc nhiều tài liệu tham khảo về nền quân sự Hoa Kỳ, bây giờ tận mắt nhìn thấy và đang đụng đầu với nó. Một chiếc B52 chở được 25 tấn bom, riêng ngày hôm nay chúng dùng 24 chiếc nối đuôi nhau quần xung quanh khu vực Chư Pông này. Tôi suy nghĩ về đối tượng tác chiến mới là một đội quân được trang bị rất mạnh, rất hiện đại mà đứng trước đối thủ là một đội quân “đói ăn” trang bị lạc hậu như vậy thì sự chủ quan “trong một thời gian ngắn sẽ đánh gẫy xương sống Việt Cộng” và việc đổ bộ ào ạt hiện nay để “cất vó” chủ lực của Tây Nguyên là điều dễ hiểu. Tôi ra lệnh dừng lại khu vực địch vừa ném bom B52 xong để nắm địch, nắm ta và chỉ huy trận đánh.

Tháng 10-1993, tại Ia Đrăng, Thượng tướng Nguyễn Hữu An (giữa) gặp tướng H. Mua-rơ (bên trái), nguyên trung tá chỉ huy lực lượng kỵ binh bay của Mỹ trong trận đánh ở thung lũng này vào tháng 11-1965. (Ảnh chụp lại)

Mãi tới chiều hôm ấy tôi mới gặp cán bộ chỉ huy Trung đoàn 66 – anh Lã Ngọc Châu, Chính ủy Trung đoàn. Châu cho biết đội hình trung đoàn bị địch chia cắt chưa liên lạc được, anh chỉ nắm được Tiểu đoàn 7 và tình hình địch ở gần Tiểu đoàn 7.

Nắm được tình hình qua Chính ủy Châu và báo cáo của trinh sát, chúng tôi biết bọn địch đứng sát Tiểu đoàn 7 là Tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc Lữ 3 kỵ binh bay. Tôi và anh Đặng Vũ Hiệp, Chính ủy Sở chỉ huy tiền phương hội ý chớp nhoáng quyết định dùng Tiểu đoàn 7 cơ động nhanh đánh vào Tiểu đoàn 1 Mỹ…

Tiểu đoàn 7 đã nổ súng tập kích địch từ 5 giờ rưỡi sáng 15-11. Khoảng 15 phút đầu, địch hỗn loạn nhưng sau đó chống trả quyết liệt. Chúng tôi nghe khá rõ tiếng súng liên thanh, lựu đạn nổ dữ dội. Trên bầu trời kể cả ngày lẫn đêm không phút nào vắng sự gào thét của các loại máy bay, đây đó tiếng bom lấn át mọi âm thanh khác.

Những quả pháo sáng soi rõ từng ngọn cỏ lối đi. Không gian chiến trường tưởng như trong nồi hơi, khí nén đã quá mức, lại còn tiếp tục dồn nén. Đầu óc, cơ thể mọi người dù chỉ là ngồi một chỗ cũng thấy căng thẳng như sợi dây đàn.

Tiểu đoàn 7 tiếp tục tiến công địch. Khoảng 12 giờ máy bay địch tới bắn phá, thả bom na-pan trùm cả lên đội hình của quân Mỹ. Tiểu đoàn 7 để lại một đại đội làm nhiệm vụ bao vây khống chế không cho địch rút chạy hoặc cơ động đi nơi khác. Số còn lại tạm rời trận địa lui lại phía sau để chấn chỉnh đội hình.

Sau một hồi lâu bắn phá, địch đổ bộ thêm một đại đội còn lại của Tiểu đoàn 1.

Ở Sở chỉ huy tiền phương chúng tôi lúc này nắm được tình hình chắc hơn. Dưới Trung đoàn 66 cho biết: Tiểu đoàn 9 đã liên lạc được với Tiểu đoàn 7. Như vậy tương quan lực lượng trong khu vực nhỏ này, mỗi bên có hai tiểu đoàn, nếu tính số lượng quân Mỹ trội hơn, chưa kể hai đại đội pháo và không quân chi viện.

Tối 15 tôi lệnh cho Chính ủy Lã Ngọc Châu (trung đoàn trưởng đi lạc chưa về) nhanh chóng củng cố lực lượng, cố gắng tập kích ở tọa độ X vào sáng ngày 16. Cùng thời điểm đó tôi cử Đồng Thoại, trợ lý tác chiến đi bắt liên lạc với Trung đoàn 33, gặp được tiểu đoàn nào thì giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn ấy tập kích vào hai trận địa pháo ở Quynh-co-la để phối hợp với Trung đoàn 66.

Tôi cho một tốp trinh sát đem lệnh cho Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) nhanh chóng quay về đường cũ, sẵn sàng đánh địch đang hành quân ngược về phía Tiểu đoàn 8.

Tiểu đoàn 7 đã nổ súng khoảng 3 giờ sáng 17-11. Sau ít phút chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 7 đã đánh trúng tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng hai đại đội quân Mỹ. Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33 bị lạc đường không thực hiện được ý định đánh vào trận địa pháo.

Thấy Tiểu đoàn 1 có nguy cơ bị tiêu diệt, Lữ 3 kỵ binh bay hạ lệnh cho số còn lại hành quân bộ chạy về phía tây Ia Mơ co cụm ở gần trận địa pháo chờ lệnh.

Tôi ra lệnh cho các đơn vị (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33) để khỏi bị lạc đường phải liên tục đánh địch cả ban ngày và ban đêm; gặp địch là khẩn trương tổ chức đánh ngay, bám thắt lưng địch mà đánh.

Trưa ngày 17, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) nhận được lệnh hành quân quay lại, đang nghỉ ăn cơm dọc sông Ia Đrăng thì có tin của trinh sát báo cáo: “Quân Mỹ đang tới gần”. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi bình tĩnh đôn đốc tiểu đoàn nhanh chóng triển khai đội hình chiếm trận địa có lợi trước mặt và hai bên, hình thành thế bao vây ép địch vào giữa hai gọng kìm của tiểu đoàn. Sau khi dùng hỏa lực súng cối chế áp ngắm vào đội hình địch, quân ta dũng cảm đồng loạt xung phong chia cắt đội hình và đánh giáp lá cà với địch. Cả đôi bên lúc này đội hình xen kẽ nhau đến độ chỉ cho phép dùng tiểu liên bắn găm, dùng lưỡi lê, lựu đạn mà chiến đấu.

Nhà báo Gan-lau Uây đã miêu tả trận đánh: “…Khi các khẩu súng cối của họ phát hỏa, quân chính quy Bắc Việt Nam đang vận động dọc theo đội hình quân Mỹ, lập tức quay vòng lại và tiến công. Ở trung tâm của đội hình, đại đội Sác-li phải chịu hậu quả tồi tệ nhất, bị chết 20 và bị thương một số còn đông hơn thế ngay từ phút đầu tiên. Một số quân ta bắn như điên như dại về tứ phía và có đại đội khác đã phàn nàn là họ đã bị bắn bởi chính hỏa lực của quân mình.

Mãi đến lúc này, khi quân Bắc Việt Nam đang tăng cường sức ép tiến công mà Mắc Đết, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Lữ 3 Mỹ vẫn còn ngộ nhận tin rằng sự việc đang diễn ra chính là do quân Mỹ bắn loạn xạ vào nhau… Trung úy Slau-ren Guyn kể lại là Mắc Đết đã gọi điện đài lệnh cho các đơn vị ngừng bắn. Tình hình đã xấu lại trở nên xấu hơn. Đến bây giờ quân Bắc Việt Nam đã có mặt ngay trong hàng ngũ quân Mỹ và trên các ngọn cây cao. Bất cứ ai vận động lên đều bị bắn chết. Thiếu tá Hen-ry và trắc thủ pháo binh đã cố gắng dùng điện đài của họ để gọi pháo binh và không quân chi viện. Điều này đã làm giảm bớt sự chết chóc, nhưng với đội hình kéo dài giữa bãi cỏ cao rậm thì các quả đạn pháo và na-pan sát thương quân Bắc Việt Nam đồng thời cũng sát thương cả người Mỹ. Đơn vị đi đầu, đại đội An-pha phân tán rải ra khắp đoạn rìa của khu vực phát quang trước khi bị tiến công đã mất đúng hai trung đội, 50 người trong những phút đầu. Đến lúc rút ra khỏi khu vực này, nó chỉ còn lại 20 người trong tổng số 160 người. Đại đội Sác-li lúc tập hợp ở khu vực “tia X” để hành quân có 110 người thì lúc này đã bị chết 50 và bị thương 50”…

Mỹ đổ quân xuống thung lũng Ia Đrăng tháng 11-1965. Ảnh tư liệu

Nhận được lệnh của tôi, Trung đoàn 33 đã cho một tiểu đoàn hành quân cấp tốc ngược về phía Chư Pông. Trên đường hành quân Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 33) nghe thấy tiếng súng nổ phía trước mặt, biết chắc chắn quân ta đang chặn đánh địch, không ai bảo ai họ cố gắng vượt lên nhanh. Tới gần sát địch, một đại đội của Tiểu đoàn 1 gặp địch đang chạy lui về phía Chư Pông. Thế là hai đơn vị phối hợp đánh mạnh vào sau lưng tiểu đoàn Mỹ. Sự hiệp đồng tuyệt đẹp của cả hai tiểu đoàn, khiến đội hình quân Mỹ đang rối ren, nhanh chóng bị quân ta tiêu diệt.

Trận đánh kéo dài suốt từ 14 giờ ngày 17 đến 20 giờ ngày 18 mới kết thúc. Theo nhà báo Gan-lâu Uây đi theo hai tiểu đoàn 1 và 2, Lữ đoàn 3 quân Mỹ thì Tiểu đoàn 2 bị chết 155 người, 125 người bị thương và 5 bị mất tích. Như vậy trong 3 tiếng đồng hồ Tiểu đoàn 2 quân Mỹ đã mất 285 người trong tổng số 400, mặc dầu con số này còn xa sự thật. Ngay Đại tướng Oét-mo-len cũng phải thừa nhận đây là một tổn thất rất nghiêm trọng.

Trong ngày 18 địch vội vã điều động lực lượng tới nhiều nơi hy vọng sự giảm nhẹ nguy kịch của Tiểu đoàn 2 kỵ binh bay đang có nguy cơ bị tiêu diệt.

Ở Quynh-co-la địch đổ thêm Tiểu đoàn 3 và 2 đại đội pháo.

Hai trung đoàn dù ngụy nằm trong lực lượng tổng dự bị tức tốc được điều từ Sài Gòn tới cùng với một tiểu đoàn Mỹ hành quân bằng ô tô rồi tiến vào hướng đông nam Đức Cơ, bắc dãy núi Chư Pông để yểm trợ phía sau, đồng thời cố tạo ra một áp lực giả tạo làm thuốc an thần cho quân Mỹ. Rất tiếc Trung đoàn 320 ở hướng đó chỉ đánh tiêu hao, không diệt gọn được tiểu đoàn Mỹ nào.

Ngày 19, hàng chục máy bay tới ném bom bắn phá hồi lâu xung quanh Quynh-co-la, rồi cho trực thăng xuống bốc toàn bộ số quân còn lại về Bầu Cạn. Cuộc hành quân lần đầu tiên của quân Mỹ vào Tây Nguyên đã kết thúc bi thảm.

Kết quả cuối cùng ta đã giành được thắng lợi to lớn vượt xa dự kiến ban đầu, khoảng 1.200 tên Mỹ bị thương vong, ta tiêu diệt Tiểu đoàn 1 và 2 của Lữ đoàn 3 kỵ binh bay, tiêu hao nặng Tiểu đoàn 3 và một số đại đội, bắn rơi 26 máy bay và thu nhiều súng đạn.

Trận đánh ở Ia Đrăng đã làm chấn động đến toàn nước Mỹ, báo hiệu sự thất bại không thể tránh được của quân đội viễn chinh Mỹ. Tôi xin mượn câu nói của nhà báo Mỹ Gan-lâu Uây viết cho Tuần tin tức Mỹ sau đây: “Trận chiến đấu ở thung lũng Ia Đrăng đã làm cho nước Mỹ suy thoái vào một thập kỷ sa lầy đẫm máu, đã dẫn 58.000 người Mỹ vào những chiếc quan tài bằng nhôm sáng bóng do quân đội sản xuất, đã làm hỏng một đời tổng thống, đã mang lại vết nhơ sâu sắc cho các đời tổng thống khác và đẩy cả dân tộc đến chỗ đối lập với chính bản thân mình”.

Cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An
qdnd.vn

65 năm trước Hội Hữu nghị Việt – Mỹ ra đời

Sau khi Thế chiến II kết thúc, đầu tháng 10-1945, Tổng thống Mỹ Tru-man tuyên bố chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời hậu chiến gồm 12 điểm, trong đó có đề cập Đông Dương là “không chống cũng không giúp Pháp lập lại sự kiểm soát ở Đông Dương”. Với kinh nghiệm của một nhà cách mạng từng trải, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có ảo tưởng vào chính sách đó. Nhưng trong tình cảnh Hoa Kỳ đang có vai trò lớn ở khu vực Thái Bình Dương, Hồ Chí Minh cố gắng khai thác mặt tích cực trong Tuyên bố đó. Vì lẽ đó, ngày 12-10-1945, Người với tư cách Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước ta, đã gửi cho Tổng thống Mỹ Tru-man một bức thư hoan nghênh chính sách đối ngoại của Mỹ nhằm tranh thủ sự ủng hộ cho nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Bức thư được gửi qua Bộ Quốc phòng, đến Văn phòng Tổng thống hồi 11 giờ sáng ngày 2-11-1945. Cũng trong ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu với các nhà báo về chính sách đối ngoại 12 điểm của Tổng thống Mỹ:

“Nhân dân Việt Nam đối với lời tuyên bố của Tổng thống Tru-man rất hoan nghênh và chắc rằng nước Mỹ sẽ làm cho những lời tuyên bố ấy thực hiện ngay (1).

PGS.TS Phạm Xanh Lãnh tụ Hồ Chí Minh và đồng chí Võ Nguyên Giáp với nhóm đặc nhiệm “Con Nai” thuộc tổ chức OSS (Mỹ) tháng 7-1945. Ảnh tư liệu

Trong bối cảnh đặc biệt đó, Hội Hữu nghị Việt – Mỹ ra đời tại Hà Nội ngày 17-10-1945. Sự ra đời của Hội là kết quả của sự nỗ lực chung của những người Việt Nam yêu nước và có thiện cảm với nước Mỹ và những người lính Mỹ trong toán Con Nai của Cơ quan Phục vụ Chiến lược (OSS) đã từng sát cánh với Việt Minh chống phát xít Nhật trong rừng Việt Bắc. Cũng xin nói thêm rằng trên phương diện ngoại giao nhân dân, ngoại giao phi chính phủ, Hội Hữu nghị Việt-Mỹ là Hội Hữu nghị đầu tiên được thành lập trong lịch sử ngoại giao của nước Việt Nam mới.

Một cuộc gặp gỡ được tổ chức nhân dịp Hội ra mắt. Tham gia cuộc gặp gỡ thân mật này có những cán bộ cao cấp của ta, có tướng Ga-lâu-gơ, người đang có mặt bên cạnh quân đội Trung Hoa của tướng Lư Hán, các sĩ quan Mỹ khác và khoảng 200 quan khách. Ông Trần Văn Bính (Trịnh Văn Bính), Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Mỹ mở đầu bữa tiệc bằng một bài diễn văn ngắn gọn:

“Người Việt Nam đang sống ở nước ngoài tin rằng, tổ chức này được thành lập sẽ là môi trường giao tiếp sâu rộng giữa người Mỹ và người Việt. Hội sẽ làm cho nhân dân Việt Nam tiến tới hiểu biết người Mỹ và người Mỹ tiến tới hiểu biết Việt Nam… Chúng tôi rất quan tâm tới việc gửi sinh viên Việt Nam sang Mỹ và chúng tôi làm những gì tốt đẹp nhất để đạt được một trong những mục đích thiết tha của chúng tôi là trao đổi sinh viên giữa hai nước” (2).

Tiếp đó, tướng Ga-lâu-gơ đã đáp từ. Ông cảm ơn người Việt Nam đã tiếp đãi rất thịnh tình và xin lỗi vì bổn phận của ông nên không thể ở lại lâu. Tướng Ga-lâu-gơ kết thúc lời đáp từ bằng khẳng định rằng việc trao đổi sinh viên giữa hai nước là một ý tưởng tốt đẹp.

Và bữa tiệc trở thành một cuộc liên hoan đầy thú vị. V-A F.A Review (Tạp chí Hội Hữu nghị Việt – Mỹ) của Hội ra đời sau đó ít hôm đã tường thuật không khí buổi lễ ra mắt của Hội:

“Bữa tiệc được tiếp nối với sự góp mặt của các cô Kim Chung, Ái Liên, Lan Phương và bà Thân. Mỗi người hát một giai điệu và được yêu cầu hát lại. Trung úy Un-gơ, sĩ quan phụ tá của tướng Ga-lâu-gơ hát một bài tình ca bằng tiếng Pháp. Nhưng thành công lớn nhất thuộc về tướng Ga-lâu-gơ, ông theo đề nghị của sĩ quan phụ tá, một lần trong đời đã bước tới trước mi-crô và biểu diễn hết sức sôi nổi” (3).

Cuộc vui kéo dài đến tận 7 giờ tối.

Không đầy hai tuần lễ sau khi thành lập Hội, ngày 1-11-1945, Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Chí Minh gửi cho Ngoại trưởng Mỹ Giêm Biếc-nơ bức thư bày tỏ lòng mong muốn gửi sinh viên Việt Nam sang du học tại Mỹ. Lá thư có đoạn:

Nhân danh Hội Văn hóa Việt Nam, tôi xin bày tỏ nguyện vọng của Hội được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định, một mặt, thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ và mặt khác, để xúc tiến việc tiếp xúc nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác.

Nguyện vọng mà tôi đang chuyển tới Ngài là nguyện vọng của tất cả các kỹ sư, luật sư, giáo sư Việt Nam cũng như những đại biểu trí thức khác của chúng tôi mà tôi đã gặp” (4).

Thiện cảm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam mong muốn Hội Hữu nghị Việt – Mỹ phát triển mạnh mẽ theo tôn chỉ của nó là “gieo trồng tình hữu nghị giữa hai dân tộc” đã không được đáp lại. Nước Mỹ từ thời Tổng thống Tru-man đã quay lưng lại và sa vào vũng lầy của cuộc chiến tranh chống lại nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Phải nửa thế kỷ sau, với việc Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn bãi bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, một tinh thần hữu nghị Việt – Mỹ đã được nhen nhóm trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít trước đây đã trở thành hiện thực như lòng mong muốn của các nhà cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ lợi ích của hai dân tộc và của nhân loại.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr. 83.

(2) Tạp chí Hội Hữu nghị Việt-Mỹ, tháng 10-1945 (Tiếng Anh)

(3) Như trên.

(4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr.80-81.

Anh chủ nhiệm kiêm “kiến trúc sư”

QĐND – Nhiều người gọi Đại tá Trịnh Văn Thiện, Chủ nhiệm Kho 858 Quân chủng Hải quân, người đã 17 năm liền được bầu là “Chiến sĩ thi đua” cấp toàn quân và toàn quốc như vậy bởi chính anh là người đóng vai trò chính trong việc kiến tạo nên sự thay đổi kỳ diệu ở Kho 858. Từ một đơn vị bộn bề thiếu thốn, nhờ người chủ nhiệm biết lo toan và nhiều sáng tạo, Kho 858 đã thật sự “lột xác”, được đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ đổi mới…

Chủ nhiệm lái máy cày và làm… “kiến trúc sư”

Anh về nhận công tác tại Kho 858 Hải quân từ năm 1976 với chức Trợ lý Kế hoạch tổng hợp. Hồi mới về, kho của Mỹ để lại chỉ là dãy nhà cấp 4 mái tôn xập xệ, thấp lè tè. Gọi là kho, nhưng thực chất là nơi lính Mỹ dùng thay quân, hoặc nghỉ ngơi sau mỗi lần đồn trú. Vùng đất hoang hóa, bạc màu, không có cây xanh, chỉ có nắng và gió…

13 năm sau, anh nhận chức Chủ nhiệm kho vẫn chưa có gì thay đổi nhiều so với trước. Thời kỳ bao cấp, đời sống nhân dân và quân đội còn nhiều khó khăn. Những người lính thợ cũng không ngoại lệ. Hồi đó, hơn 300 cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên Kho 858 sống trong cảnh thiếu nước, thiếu điện, thiếu lương thực, thực phẩm. Khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, lương “ba cọc, ba đồng” không đủ sống, một số đồng chí có biểu hiện bi quan, chán nản.

Đại tá Trịnh Văn Thiện thường xuyên sâu sát động viên anh em làm việc kiểm tra đơn vị.

Thầm nghĩ: “Bộ đội phải có cái ăn, cái mặc, mới yên tâm công tác”, anh Thiện quyết định tổ chức cho bộ đội đào ao lấy nước ngọt phục vụ sinh hoạt hằng ngày, tưới cây, thả cá; cải tạo đất đai trồng mía, khoai, sắn; nuôi bò, dê, lợn, gà…Thương bộ đội oằn lưng cuốc đất, bàn tay rộp phồng, bỏng rát, anh Thiện lặn lội vào miền Nam trực tiếp mua rồi tự tay lái máy cày chạy từ Tây Ninh về Cam Ranh. Thế nên mọi người mới gọi anh là “Chuyên gia…lái máy cày”. Ngày đó, phương tiện sản xuất cũ, nát, hằng ngày anh xuống phân xưởng cơ khí cặm cụi sửa chữa, sáng chế các loại nông cụ, máy móc. Anh trực tiếp xắn tay áo nhặt từng viên gạch, vần từng khối bê tông, xới từng luống đất…Thấy chủ nhiệm kho vất vả, anh em công nhân làm theo, thành phong trào lớn. Người không phụ đất, chất chẳng phụ người, sau một thời gian tích cực tăng gia, sản xuất, hệ thống ao hồ cung cấp đủ nước cho sinh hoạt và chăn nuôi, cứu hỏa. Đàn bò, dê, lợn, gà ngày càng sinh sôi. Cây cối sum sê, đâm chồi nảy lộc. Đời sống cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên được cải thiện đáng kể. Nhờ vậy mọi người yên tâm công tác, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện…

Mãi tới năm 2000, Kho 858 mới được Quân chủng Hải quân đầu tư nâng cấp. Song, nhìn chung hạ tầng cơ sở vẫn còn thiếu đồng bộ. Mùa mưa, lũ ngập trắng đồng, nước tràn vào kho. Trước tình hình đó, anh Thiện đã đề xuất phương án xây dựng bờ kè và đắp đê chống lũ. Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chạy đua với thời gian đắp một con đê dài 3,8km, hai bề ta -luy và mặt đê được lát bằng những tấm bê tông tận dụng từ các công trình tháo dỡ, gắn xi măng chắc chắn. Để có được con đê ấy, anh Thiện và cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên toàn đơn vị đã nạo vét, khơi thông và kè ta -luy suối với chiều dài 1, 5km với khối lượng 3.600m3 bê tông, đào đắp hàng ngàn mét khối đất đá và huy động hàng ngàn ngày công, hàng trăm chuyến xe và ca máy phục vụ suốt ngày, đêm… Công trình trị giá hàng chục tỷ đồng khánh thành và đưa vào sử dụng đã góp phần ngăn lũ, bảo vệ an toàn hệ thống kho tàng, tài sản của Nhà nước và Quân đội…

Giữa không gian bao la, tràn ngập màu xanh cỏ cây, hoa lá chúng tôi được nghe anh em kể về tài năng thiết kế của vị “kiến trúc sư bất đắc dĩ” – Trịnh Văn Thiện. Dạo đó, Ban chỉ huy kho có ý định thuê người ngoài vào thiết kế không gian, quần thể văn hóa. Nhưng khi kiến trúc sư vào khảo sát tình hình rồi ra giá thù lao với khoản kinh phí quá cao, đơn vị không thể đáp ứng nổi. Không còn cách nào khác, Chủ nhiệm kho kiêm luôn chức “kiến trúc sư”. Gần một tháng trời, anh Thiện tự tay viết vẽ, thiết kế, sau đó tham khảo ý kiến anh em. Cuối cùng “đề án” đã được Ban chủ nhiệm “chuẩn y”. Xây dựng đề án đã khó, thực hiện đề án càng khó khăn hơn. Để có được khuôn viên Câu lạc bộ Quân nhân trên 8000m2 (gồm nhà thủy tạ, ao cá, vườn hoa, hòn non bộ); sân tennis; nhà truyền thống… đích thân Đại tá Trịnh Văn Thiện xắn tay áo chỉ đạo anh em sử dụng nguyên liệu tại chỗ như bê tông, gạch ngói tận dụng, cây cảnh, cây ăn quả huy động anh em đóng góp. Cứ cần mẫn tích cóp như con ong thợ mất mấy năm, cán bộ, chiến sĩ Kho 858 Hải quân đã xây nên một “công viên xanh” giữa vùng cát cháy.

Bằng tình yêu của người lính thợ và tinh thần tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, cán bộ, chiến sĩ Kho 858 đã làm nên những công trình bạc tỷ, trở thành lá cờ đầu của Quân chủng Hải quân trong thực hiện phong trào “xanh – sạch – đẹp”…

Chính quy như… “bộ đội ông Thiện”

Đó là cảm nhận không chỉ riêng cán bộ, chiến sĩ các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn huyện Cam Lâm và thành phố Cam Ranh (Khánh Hòa) mà còn cả nhân dân địa phương trong vùng.

Đến Kho 858, ấn tượng đầu tiên là hình ảnh chiến sĩ đứng trên chòi canh cách xa gần cây số, nhưng khi thấy có khách là đứng nghiêm giơ tay chào. Giữa trưa trời nắng chang chang, từng tốp cán bộ, công nhân viên vạt áo ướt đầm mồ hôi trên đường từ kho về nhà nghỉ, thấy xe chở chúng tôi vẫn đứng nghiêm chào đúng điều lệnh…

Nhà báo Đăng Khoa – Phóng viên Chuyên mục Quốc phòng – An ninh, Đài Truyền hình Khánh Hòa còn kể cho tôi nghe câu chuyện khá thú vị về “bộ đội ông Thiện”. Cuối năm 2011, anh Khoa vào Cam Lâm thực hiện phóng sự, thấy tốp lính áo quần xộc xệch, chân đi dép lê. Anh Khoa buột miệng nói với đồng nghiệp: “Chắc là bộ đội Kho 858 Hải quân đây mà!”.

Nghe vậy, mấy người dân đứng gần đó quả quyết: “Không phải đâu! “Bộ đội ông Thiện” bao giờ cũng đội mũ, đi giày, mang mặc đúng tác phong!”.

Trong lần đến thăm đơn vị gần đây, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam cũng đã khen ngợi công tác xây dựng nền nếp chính quy và chấp hành kỷ luật ở Kho 858.

Gắn bó máu thịt với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương từ những ngày gian khó nhất, nên anh Thiện vẫn thường nhắc nhở cấp dưới: “Nhiệm vụ của người lính thời bình là phải gần dân, lo cho dân như chính lo cho mình!”. Thế nên, mọi hoạt động của địa phương, đơn vị đều tham gia, đóng góp. Chỉ tính mấy năm gần đây, Kho 858 đã trích gần 150 triệu đồng thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, hộ nghèo trên địa bàn huyện Cam Lâm và thành phố Cam Ranh (Khánh Hòa); huy động 1.200 ngày công lao động giúp dân đào đắp đường liên thôn, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; tặng 2.000kg gạo, 200 bộ quần áo cho người nghèo trong mùa giáp hạt; quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt, xây dựng nhà tình nghĩa hơn 100 triệu đồng… Vào mùa nắng hạn, anh Thiện chỉ đạo đơn vị cho xe bồn chở hàng trăm mét khối nước ngọt phục vụ đồng bào… Người dân Cam Lâm vẫn thường kể chuyện “lính ông Thiện” nhiều lần giúp dân cứu hỏa nhưng chưa bao giờ nhận quà. Dũng cảm dập cháy xong là tập hợp lên xe về ngay đơn vị. Đến nỗi bà con không kịp hỏi tên, tuổi, chỉ biết là “bộ đội ông Thiện”!. Mới đây, Kho 858 vinh dự được Quân chủng Hải quân đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới, trong thành tích chung ấy, có đóng góp lớn lao của Đại tá Trịnh Văn Thiện!

Bài và ảnh: Phan Tiến Dũng
qdnd.vn

Chuyện kể sau ngày toàn thắng

Đại tướng Phạm Văn Trà:

QĐND – Trước, trong và sau ngày toàn thắng 30-4-1975, những người lính Trung đoàn 1 U Minh (Quân khu 9) đã làm gì, ở đâu? Lằn ranh giữa cái sống và cái chết, niềm vui ngắn chẳng tày gang, lính đồng bằng bỗng nhiên xông pha nơi biển đảo… Nhân dịp kỷ niệm 37 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã dành cho phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần cuộc trò chuyện về ngày toàn thắng…

Ngày ấy, ở miền Tây

Đại tướng Phạm Văn Trà kể: Tôi chiến đấu nhiều năm ở địa bàn Quân khu 9, nơi mà sau Hiệp định Pa -ri, tập trung lực lượng địch rất nhiều. Nhiều nơi im tiếng súng sau năm 1973 nhưng Quân khu 9 thì không. Có lúc khu vực U Minh – Hậu Giang tập trung tới 75 tiểu đoàn địch, riêng lực lượng đối đầu với Trung đoàn 1 U Minh do tôi làm trung đoàn truởng lên tới 18 tiểu đoàn. Chúng muốn đẩy chủ lực ta ra khỏi miền Tây, bình định Tây Nam Bộ…

Đại tướng Phạm Văn Trà. ảnh: Nguyễn Hòa

Những ngày cuối tháng 4-1975, trung đoàn tôi đang tập trung chặn cắt, khống chế địch ở lộ 4, sẵn sàng giải phóng Vĩnh Long thì tôi nhận lệnh về Bộ tư lệnh tiền phương của Quân khu họp. Buổi sáng hôm ấy, chừng 18-20 tháng Tư, tôi cùng một số anh em bí mật cuốc bộ đi họp thì lọt vào ổ phục kích của địch. Hàng trăm tên địch bất ngờ nhảy xổ ra từ các lùm cây, nổ súng định tiêu diệt và đuổi theo chúng tôi. Mỗi người một hướng, tôi và mấy anh em chạy ngược lại phía sở chỉ huy trung đoàn. Chúng tôi chạy thục mạng, mặc đạn bay vù vù bên tai xen lẫn tiếng reo hò của bọn địch: “Bắt sống Ba Trà, bắt sống Ba Trà!”…May mà chúng vừa đuổi vừa bắn nên không chính xác. Tôi chạy về tới gần sở chỉ huy trung đoàn thì đã thấy thấp thoáng các tay súng đồng đội trong lùm cây sẵn sàng chi viện cho mình. Biết rõ điều đó, tôi vội lăn xuống đất. Lập tức hàng chục cây súng của ta nhả đạn. Bọn địch nhiều tên bị trúng đạn, số còn lại kinh hoàng quay đầu bỏ chạy. Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể hiểu tại sao mình có thể thoát chết trong tình huống cực kỳ nguy hiểm đó, lại trước ngày toàn thắng chỉ hơn chục ngày.

Trưa 30-4, trung đoàn tôi ở thị xã Vĩnh Long. Lúc này mặc dù ở Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng. Sau đó, vào 2 giờ chiều, tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh vùng 4 chiến thuật và Quân đoàn 4 ngụy đã đầu hàng song tại Vĩnh Long, địch vẫn ngoan cố chống cự, buộc chúng tôi phải vừa đánh vừa tích cực gọi hàng. Phải đến xế chiều 30-4, sau khi trinh sát thông tin của ta bắt được sóng đài địch, qua điện đài, ta kêu gọi tên tỉnh trưởng Vĩnh Long đầu hàng, nếu không sẽ phải đền tội dù cách mạng không muốn điều đó. Mãi đến 5 giờ chiều 30, tên này mới chấp nhận đầu hàng sau khi xin ta giữ lời hứa bảo toàn tính mạng…

Hòa bình, biển Tây Nam lại nổi sóng

Toàn thắng, trung đoàn tôi về đứng chân ở bến phà Mỹ Thuận, chưa hưởng trọn niềm vui cùng bà con cô bác Vĩnh Long thì lại bất ngờ nhận mệnh lệnh lên đường chiến đấu. Thì ra, chỉ 3 ngày sau khi “ngụy nhào”, ngày 3-5-1975, vùng biển Tây Nam bất ngờ nổi sóng, tập đoàn phản động Pôn Pốt đưa quân đánh chiếm phần phía bắc đảo Phú Quốc, các đảo Hòn ông, Hòn Bà, Thổ Chu, giết hại hơn 500 đồng bào ta sống lâu đời ở đây. ít ai ngờ rằng thời điểm kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đã gắn với điểm khởi đầu của một cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc không kém phần ác liệt như thế…

Ngày 25-5, trung đoàn tôi hành quân tới Rạch Giá, Kiên Giang để đi tàu ra Phú Quốc chiến đấu. Lần ra trận này không phấn chấn như những ngày đánh Mỹ mà trĩu nặng ưu tư, trăn trở. Trước đó, mặc dù hải quân và quân khu đã giải phóng đảo Thổ Chu, bắt 300 tên địch, nhiệm vụ của chúng tôi là giải phóng đảo Hòn ông, Hòn Bà. Khó khăn lớn nhất với chúng tôi là không một ai biết hòn đảo này như thế nào, nằm ở đâu, tình hình địch ra sao. Phải qua 2 ngày trinh sát, dựa vào dân, tìm được một lão ngư phủ đã ra hai đảo này đánh cá trước đó vài tháng, chúng tôi mới hiểu được sâu hơn về hai hòn đảo. Qua trinh sát, ta cũng nắm được lực lượng địch gồm 2 tiểu đoàn và nhiều vũ khí như ĐKZ 82mm, 75mm, cối, đại liên… Để tác chiến, chúng tôi được giao phối hợp chặt chẽ với hải quân và không quân bàn cách đánh và triển khai nhiệm vụ. Lúc này, hải quân ta mặc dù đã có các hạm đội nhưng trang bị còn rất mỏng, cả hạm đội chỉ có hai chiếc tàu cao tốc, mấy khẩu 12, 7mm và 37mm, vài tàu “há mồm”… Lái tàu lại là lính ngụy trước đây, nay được ta giáo dục để họ nhận nhiệm vụ…

Giải phóng Hòn ông, Hòn Bà đã để lại cho tôi nhiều bài học kinh nghiệm quý trong chỉ đạo tác chiến cũng như xây dựng lực lượng hải quân sau này. Lúc đó, phía các anh hải quân cho rằng quân Pôn Pốt rất yếu, cùng lắm chỉ bằng quân ngụy trước đây nên ta có thể đánh “bài bản”, đổ bộ trực tiếp vào bãi cát rộng rồi dùng hỏa lực, xung lực tiến công địch. Nhưng tôi cho rằng ta chưa nắm chắc tình hình địch, hỏa lực, trang bị của ta cũng mỏng, quân Pôn Pốt lại rất thâm hiểm nên muốn thắng địch phải thận trọng, đánh chắc, tiến chắc. Tôi nói là tôi chưa ra biển bao giờ, nhưng tôi sẽ “đánh theo cách của tôi”. Tranh cãi mãi, các anh hải quân cũng “chịu thua”. Trung đoàn sẽ hành quân đêm, vòng xuống phía nam đảo đi ngược lên, lợi dụng ngược gió để địch không nghe được tiếng máy tàu, rồi đổ bộ nơi bão đá hiểm trở, chứ không phải bãi cát. Khi ta nổ súng, nơi bãi cát đúng là chỗ địch bố trí trận địa phòng ngự hỏa lực mạnh, anh Hán, chỉ huy hải quân xúc động nói với tôi:

– May quá, nhờ có anh chưa ra biển bao giờ mà lại đi guốc trong bụng chúng!

Sau nhiều ngày chiến đấu, đến ngày 14-6-1975, trung đoàn đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, riêng số bị bắt là 782 tên, thu hàng nghìn khẩu súng. Trung đoàn tôi hy sinh 18 đồng chí và bị thương hơn 80 đồng chí. Vậy là hòa bình chưa đầy hai tháng mà những người lính trung đoàn U Minh đã phải tiếp tục hy sinh, đổ máu vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Qua đó cũng thấy được vấn đề chủ quyền biển đảo luôn “nóng” nếu chúng ta thiếu quan tâm, thiếu đi chiến lược xây dựng và bảo vệ.

Lòng dân là vũ khí mạnh nhất

PV: Sau 37 năm nhìn lại ngày toàn thắng, Đại tướng thấy tâm huyết nhất điều gì?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Điều tôi tâm huyết và trăn trở nhất là phải làm sao giữ được “thế trận lòng dân”. Miền Tây không có dân thì bộ đội không sống được. Dân là tường thành, là chỗ dựa vững chắc, lòng dân mênh mông như nước sông Tiền, sông Hậu. Không có dân, tổ chức Đảng cũng không tồn tại được. Trung đoàn tôi không có dân thì đã bị 18 tiểu đoàn ngụy “nhổ cỏ” từ lâu. Miền Tây sình lầy, trống trải, sông ngòi chằng chịt không thích hợp với tác chiến hiệp đồng quy mô lớn mà rất phù hợp với chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích. Dựa vào dân nên chúng tôi “lai vô ảnh, khứ vô tung” như Bác Hồ đã dạy. Dựa vào dân nên Tư lệnh Quân khu Lê Đức Anh cũng ở sát bốt địch mà địch đâu biết, cứ ngỡ ổng ở mãi U Minh. Vì vậy, bây giờ hòa bình rồi là lúc phải nghĩ đến dân, lo cho dân. Quân đội tham gia xây dựng nông thôn mới hiện nay lại ở gần dân nơi vùng sâu, vùng xa, phải làm sao giúp dân được nhiều nhất.

PV: Vậy để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay, cần lưu ý đến những vấn đề gì nhất?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Muốn đất nước vững chỉ xây dựng quân đội mạnh thì chưa đủ. Quân đội Liên Xô cũ mạnh thế mà cũng để mất chế độ. Trong nền quốc phòng toàn dân, thứ nhất là phải xây dựng Đảng thật mạnh, Đảng được lòng dân, có chính sách cho dân. Thứ hai, chính quyền phải vì dân. Thứ ba, kinh tế phải phát triển, mọi người dân được hưởng từ thành quả phát triển đó. Thứ tư, giáo dục quốc phòng, truyền thống yêu nước. Thứ năm, phải chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang. Thứ sáu, xây dựng công nghiệp quốc phòng, tiềm lực quốc phòng. Thứ bảy, xây dựng các công trình phòng thủ mạnh.

Cần chú trọng xây dựng công nghiệp quốc phòng mạnh để hiện đại hóa quân đội. Nếu không sản xuất được, cái gì cũng phải đi mua thì không bao giờ đủ tiền. Một quả tên lửa có bao nhiêu sắt, thép đâu mà tới 2 triệu USD, máy bay tiêm kích giá hàng chục triệu USD… Phải chủ động sản xuất thì mới có tiềm lực. Công nghiệp quốc phòng cũng chi phối, hỗ trợ công nghiệp khác trong nước, giúp phát triển kinh tế.

PV: Thế hệ của Đại tướng đã hoàn thành sứ mệnh đánh đuổi ngoại xâm, thu non sông về một mối nhưng vừa qua, cũng đây đó còn có người phân tâm, đòi “xét lại quá khứ” hoặc có những phát ngôn, hành xử chưa tốt, không có lợi cho sự nghiệp cách mạng chung? Đại tướng có suy nghĩ gì về hiện tượng này?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Số đó không nhiều, chỉ là cá biệt. Bởi tôi nghĩ đã là người sĩ quan, người Đảng viên Cộng sản thì phẩm chất hàng đầu là trung thành với Đảng. Không giữ được cái đó thì anh không xứng đáng ở trong hàng ngũ rồi. Trong một vài vụ việc có người phát ngôn, hành xử chưa phù hợp theo tôi cái tâm của họ cơ bản vẫn là tốt, mong muốn vì sự phát triển của đất nước nhưng có thể do thiếu thông tin nên xử lý chưa tốt, lại bị kẻ xấu tung tin hỏa mù, kích động nữa nên việc xử lý thông tin càng hạn chế. Tôi thấy các cựu chiến binh, cán bộ hưu trí hiện nay còn thiếu thông tin nhiều, thiếu cả báo để đọc nữa. Trong chống tham nhũng, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 hiện nay cũng vậy, cần phải có thông tin đúng, đừng để kẻ xấu lợi dụng kích động lên là quá mù ra mưa, hỏng việc và gây thiệt hại khó lường…

PV: Xin cảm ơn và kính chúc Đại tướng mạnh khỏe!

Nguyên Minh – Nguyễn Hòa
qdnd.vn

Nghe chuyện “chung sức…” ở Sư đoàn 325

QĐND – Tôi “vào đề” với Đại tá Mai Hồng Đại, Trưởng phòng Tuyên huấn Quân đoàn 2: Chuyện huấn luyện và chiến đấu của Binh đoàn Hương Giang tôi đã được nghe nhiều rồi. Được biết, một trong những hoạt động “mới” của quân đoàn trong tháng qua là phát động hưởng ứng và thực hiện phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”. Lần này tôi muốn tìm hiểu phong trào này của quân đoàn ta?

Đại tá Mai Hồng Đại nói: Đây đúng là một phong trào mới nhưng cũng không phải là mới, bởi lâu nay thực hiện chức năng “Đội quân công tác”, các đơn vị trong toàn quân vẫn làm. Tuy nhiên, lần này “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” là một phong trào lớn của Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp phát động và đề ra những tiêu chí cụ thể. Theo đó, Bộ Quốc phòng đã có Chỉ thị và Tổng cục Chính trị đã ra Hướng dẫn toàn quân phát động phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”. Như vậy, phong trào này là một trong những nội dung nhiệm vụ quan trọng trong Phong trào Thi đua Quyết thắng hằng năm của toàn quân. Vừa qua, Cục Chính trị Quân đoàn 2 đã quán triệt cho lãnh đạo và chỉ huy các đơn vị nắm được những “nét mới” này, nhằm tiếp tục khẳng định vai trò của quân đội trong sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội của đất nước; góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất -tinh thần của nhân dân trên từng địa bàn, đặc biệt là những địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… Việc “chung sức” phải theo phương châm “phát huy nội lực là chính”, phù hợp với khả năng của cơ quan -đơn vị và thực tiễn của địa phương; bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh phô trương hình thức… Sư đoàn 325 là một trong ba đầu mối trực thuộc được Bộ tư lệnh Quân đoàn đã chọn “làm điểm” phát động phong trào này.

Đoàn đại biểu thị trấn Ba Đồn (Quảng Trạch -Quảng Bình) thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ Trung đoàn 18, nhân kỷ niệm 60 năm giải phóng Ba Đồn (1952-2012). Ảnh: Đình Hùng

Vậy là tôi xin phép xuống ngay Sư đoàn 325 – Đoàn Bình Trị Thiên anh hùng. Sau đây là ý kiến của một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp đơn vị và cơ quan, trao đổi xung quanh mục đích, yêu cầu, nội dung, chỉ tiêu, biện pháp… thực hiện phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” ở Sư đoàn 325.

Đại tá Nguyễn Ngọc Triển, Phó chính ủy Sư đoàn: Từ những ngày đầu ra đời trên mảnh đất Bình Trị Thiên ác liệt, gian khổ, thiếu thốn mọi bề… sư đoàn đã có truyền thống về công tác dân vận; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy và chính quyền địa phương, dựa vào dân và gắn bó máu thịt với nhân dân để xây dựng địa bàn an toàn và đơn vị vững mạnh toàn diện. Từ ngày chuyển ra phía Bắc, đơn vị tiếp tục có nhiều hoạt động thiết thực xây dựng mối đoàn kết quân -dân, tham gia phát triển kinh tế -xã hội địa phương, xây dựng cơ sở vững mạnh. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết 8B của Trung ương khóa VIII và Nghị quyết 152 của Đảng ủy Quân sự Trung ương về công tác dân vận trong tình hình mới, chất lượng công tác vận động quần chúng của sư đoàn có bước chuyển biến và về lượng và chất. Trong 5 năm (2005-2010) Sư đoàn 4 lần được TCCT và UBND tỉnh Bắc Giang tặng Bằng khen, 41 tập thể và cá nhân được khen thưởng vì thành tích dân vận, giúp dân sản xuất và khắc phục hậu quả thiên tai… Những kết quả và kinh nghiệm trên đây là tiền đề quan trọng để sư đoàn hưởng ứng và thực hiện tốt phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, một hình thức cao hơn của công tác dân vận trong thời kỳ mới!

Trung tá Vũ Ngọc Tam, Trưởng ban Tuyên huấn sư đoàn: Cuộc vận động “Chung sức” lần này rõ ràng là một hình thức và nội dung mới của công tác dân vận ở tầm cao hơn. Chẳng hạn, trước đây hoạt động “giúp dân” của đơn vị chủ yếu là tham gia thực hiện các chính sách xã hội, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai v.v.. Nhưng hiện nay, đây là một phong trào lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, có tiêu chí và “lộ trình” cụ thể. Theo đó, phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” phải bám sát các tiêu chí của Chính phủ về xây dựng nông thôn mới, căn cứ vào điều kiện đơn vị và đặc điểm địa bàn để xác định từng giai đoạn, từng tiêu chí và đối tượng cụ thể. Vừa qua, căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên, sư đoàn đã lựa chọn tập trung vào 5 nhóm nội dung chính để triển khai thực hiện phong trào này trong thời gian trước mắt, đó là: Tham gia xây dựng một số hạng mục điện -đường-trường-trạm; Tham gia phát triển một số ngành nghề truyền thống của địa phương; Tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục và đẩy mạnh chương trình quân -dân y kết hợp; Tham gia củng cố cơ sở chính trị và nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể; Tham gia bài trừ tệ nạn xã hội và xây dựng địa bàn an toàn…

Thiếu tá Tạ Văn Thiện, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 18: Còn nhớ năm 1993, thực hiện cuộc vận động “Đẹp người, đẹp doanh trại, đẹp tình quân dân”, Trung đoàn 18 đã được sư đoàn chọn rút kinh nghiệm mô hình xây dựng “thôn – xã điểm” trong công tác dân vận. Đặc biệt, nhiều hoạt động kết nghĩa của tuổi trẻ đơn vị và địa phương đã có “hiệu quả kép”, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cả trong và ngoài doanh trại, được hội nghị cán bộ Đoàn toàn quân đến tham quan và đánh giá cao.

Ngày 12-3-2012, toàn trung đoàn đã tổ chức phát động hưởng ứng và triển khai thực hiện phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”. Từ kết quả và kinh nghiệm của các mô hình kết nghĩa quân -dân trên đây và căn cứ vào nội dung phong trào “chung sức…” hiện nay, trung đoàn đã chọn xã Đồng Cốc của huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) để triển khai làm “điểm”, với một số “hạng mục” cơ sở hạ tầng, vệ sinh môi trường, đối tượng giúp đỡ… cụ thể. Theo đó, các đại đội đăng ký triển khai thực hiện từ 1-2 nội dung; các tiểu đoàn là đầu mối chỉ đạo, theo dõi, kết nối nội dung của các đại đội để phát huy kết quả chung. Các cơ quan căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình để tham mưu cho chỉ huy trung đoàn phối hợp chặt chẽ với địa phương trong quá trình thực hiện các nội dung “chung sức”…

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa, Sư đoàn trưởng: Phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” vừa được Bộ Quốc phòng chính thức phát động từ đầu năm 2012, có nhiều nội dung cần quán triệt rõ để thực hiện đúng và trúng. Đây là phong trào “quân đội chung sức” cùng cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân để tham gia xây dựng nông thôn mới, chứ không phải phong trào tự quân đội phát động và tự làm. Vì vậy, trước khi xây dựng kế hoạch, nội dung và các chỉ tiêu thi đua, sư đoàn đã trao đổi thống nhất với Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của địa phương về những nội dung công việc, công trình và sản phẩm cụ thể, theo 5 nhóm nội dung cần “chung sức” mà sư đoàn đã xác định. Địa bàn đóng quân của sư đoàn là vùng trung du và miền núi với 11 dân tộc sinh sống trên nhiều địa hình phức tạp, điều kiện kinh tế -xã hội nhiều vùng còn khó khăn. Vì vậy, một trong những biện pháp nhằm thực hiện tốt các mục tiêu và nội dung phong trào mà đơn vị đã đề ra, là phải làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân trên địa bàn hiểu rõ và thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới; không nghe theo những luận điệu sai trái, không tham gia các tệ nạn và hủ tục; phấn đấu ngày càng có nhiều làng, xã kết nghĩa quân dân đạt tiêu chuẩn văn hóa. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải là những tấm gương về nếp sống văn hóa, mỗi đơn vị là một điểm sáng văn hóa trên địa bàn.

Đồng Lê
qdnd.vn

Có một thời con gái bên mâm pháo

QĐND – Như bao câu chuyện, bao con người từng góp phần làm nên huyền thoại của một thời ra ngõ gặp anh hùng, một thời “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, những người con gái ấy chìm khuất trong dòng đời mưu sinh hối hả, nghiệt ngã khi cuộc chiến tranh đi qua. Không ai biết những thiếu phụ bán rau, quét rác, sấp ngửa từng buổi chợ đông hay bán mặt cho đất, bán lưng cho trời trên cánh đồng kia họ từng có một thời con gái rất đẹp, rất hào hùng bên mâm pháo cao xạ 37mm để bảo vệ bầu trời thành phố Thái Bình …

Pháo thủ tuổi 16, đại đội trưởng tuổi 18

Một ngày nọ, chị Ngô Thị Hòa, Phóng viên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Thái Bình đến tận trụ sở Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần tìm gặp chúng tôi với lời đề nghị tha thiết: “ở Thái Bình, từng có một đại đội nữ pháo thủ toàn những cô gái mười sáu, mười tám tuổi thời đánh Mỹ. ở khuôn viên bảo tàng Thái Bình nhiều năm nay, vẫn thấy trưng bày 4 khẩu pháo cao xạ 37mm một thời gắn bó với họ. Nhưng đã lâu rồi, ít ai nhắc đến những người con gái này…”.

Một khẩu đội của đại đội nữ cao xạ Thái Bình (năm 2011).

Hàng trăm nữ pháo thủ quê lúa ấy nay ở đâu?

Câu chuyện lập tức kéo chúng tôi tìm về Thái Bình cùng lời hứa hẹn của chị Hòa: Sẽ tập hợp được một phần đại đội. ấy vậy mà khi chúng tôi về thành phố Thái Bình, nơi chị Hòa dẫn chúng tôi đến lại là một… ngôi chùa – chùa Bồ, nằm ven đường Trần Thái Tông, gần nhà máy bia Hương Sen. Lý do thật đơn giản: Chùa Bồ nằm sát các trận địa pháo năm xưa và trong số những người tham gia đại đội nữ pháo thủ có cả sư thầy Thích Đàm Cầm, từng là người vừa tiếp đạn, vừa tiếp phẩm cho đại đội. “Ngày xưa, có báo động thì cả đại đội có mặt ngay dù bom rơi đạn nổ. Nay hòa bình rồi, “tập hợp” mãi mới được hơn chục người, ai cũng mải làm ăn, kiếm sống. Mà cũng đã 43 năm rồi…” – chị Đào Thị Hồng Loan, nguyên đại đội trưởng phân trần. 43 năm, thời gian và bao nỗi gian truân đã lấy đi nét thanh xuân của những nữ pháo thủ tuổi trăng tròn, tuổi đôi tám năm nào. Nữ đại đội trưởng Đào Thị Hồng Loan, “chị cả” của đại đội năm đó mới có 18 tuổi, nay tóc cũng đã điểm bạc. Chị bồi hồi nhớ về cái ngày ra đời của đại đội.

Năm 1969, để tăng cường khả năng phòng thủ bầu trời của lực lượng dân quân tự vệ tỉnh, Quân khu tăng cường cho lực lượng dân quân tự vệ thị xã Thái Bình 4 khẩu pháo cao xạ 37mm. Nhưng lúc này, lực lượng tự vệ thị xã còn rất ít nam giới nên đại đội nữ cao xạ được thành lập. Chị em tham gia đại đội hầu hết là những thiếu nữ trẻ vừa học xong cấp hai, đa số mới mười lăm, mười sáu tuổi, người lớn nhất như chị Loan cũng mới bước sang tuổi 18. Lý do chị Loan trẻ vậy mà trở thành đại đội trưởng cũng rất đặc biệt. Cha chị, ông Đào Văn Thạnh khi ấy là xã đội trưởng. Khi trên bàn giao pháo cùng thời điểm ông Thạnh được điều lên thị đội, chị Loan đã xung phong xin được giữ chức đại đội trưởng 37mm. Tham gia đại đội, dòng họ Đào còn có nhiều thiếu nữ khác như chị Đào Thị Liên, năm ấy mới 16 tuổi, chị Chiến 17 tuổi là chị em con chú con bác. Ngày 11-1-1969, đại đội pháo cao xạ được thành lập, gồm 300 lượt người, chủ yếu là nữ. Đây là những tự vệ thuộc các Công ty Cơ khí 2-9, Công ty Kiến trúc, Công ty Dược phẩm, các phường, xã Kỳ Bá, Quang Trung, Tô Hiệu, Hồng Phong, Đề Thám, Bồ Xuyên, Trần Phú… chia thành các khẩu đội thay nhau trực chiến. Họ vừa lao động, vừa huấn luyện, sẵn sàng bắn máy bay. Tỉnh đội cử đồng chí Phạm Thanh Tịnh ra tập huấn cho mọi người chỉ trong một tháng. “Lúc đó ngoài sự hăng hái “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” thì ai ở hợp tác xã nông nghiệp đi trực chiến sẽ được 15kg gạo /tháng, ai ở hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp sẽ được cộng thêm 15 điểm mỗi ngày” – chị Nguyễn Thị Lan nhớ lại. Mấy năm liền, các nữ tự vệ miệt mài bên mâm pháo, họ đã thành thục từng thao tác.

Pháo đè lưng vẫn vùng lên nổ súng

Rồi những ngày ác liệt cũng đến vào mùa thu năm 1972, máy bay Mỹ điên cuồng đánh phá thị xã Thái Bình. Trận đầu chạm trán máy bay Mỹ là sáng 17-8-1972, 5 chiếc F4H và 5 chiếc AD6 bay vào bầu trời thị xã. Chị Loan hô to: “Bỏ tốp thứ nhất, bắt chiếc đầu của tốp thứ hai”. Địch bổ nhào xuống nhà máy tơ, các khẩu đội dõng dạc nhả đạn nhưng chúng bay lướt qua nhanh quá. Song, ở phía huyện Vũ Thư, một đơn vị dân quân đã kịp nổ súng, hạ một chiếc F4H. Sáng 18-8, tiếp tục có 3 chiếc AD6 từ cửa Ba Lạt bay vào oanh tạc trục đường Tiền Hải. Dân quân huyện Đông Hưng đã hạ một chiếc. Những tin chiến thắng báo về làm cả đại đội thêm náo nức. “Liệu đại đội mình có bắn rơi máy bay được không? Chúng tôi tự hỏi và bảo nhau phải quyết tâm thật cao” – chị Loan kể. “Rồi ngày chiến đấu thứ 3 cũng tới. 7 giờ sáng 19-8, đúng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công, 5 chiếc F4H từ cửa Ba Lạt qua trục đường 39 vào vùng trời thị xã Thái Bình, ném bom phá cầu Bo, trụ sở tỉnh ủy và nhiều nhà máy. Khi trắc thủ phát hiện, hô “8000, 6.500, 4000”, tôi đã lệnh “bỏ chiếc thứ nhất, bắt chiếc thứ hai, điểm xạ dài”. Sau loạt đạn dứt khoát, một chiếc F4H bỗng phụt khói, bốc cháy rồi lảo đảo rơi xuống hướng cửa Ba Lạt, cách trận địa khoảng 30km, tên phi công Mỹ nhảy dù xuống huyện Tiền Hải cũng nhanh chóng bị ta bắt. Các tốp máy bay khác thấy vậy kinh hoàng, cuống cuồng kéo nhau bay ra phía biển chạy trốn. Nhưng trước khi bỏ chạy, chúng điên cuồng ném bom vào trận địa. Loạt bom rơi rất may chệch các mâm pháo gần cạnh bờ đê, tạo cột nước bốc cao và gây sức ép rất mạnh, đẩy và hất tung các khẩu pháo. Chị Loan bị hất ngã, khẩu pháo đè lên lưng, day qua day lại. Người con gái nhỏ thó chỉ chừng 40kg tưởng như ngất đi, song chị đã vùng dậy tiếp tục chỉ huy trận địa.

Hôm ấy là một ngày dữ dội và tang tóc ở thị xã Thái Bình. Rất nhiều cán bộ và nhân dân hy sinh, trong đó có cả đồng chí phó chủ tịch thị xã. Đau thương chắc sẽ nhiều hơn nếu không có sự chiến đấu kiên cường và tiêu diệt máy bay của đại đội nữ pháo thủ. Chị Nguyễn Thị Ngần, pháo thủ nạp đạn khi thao tác bị hộp đạn kẹt mất hai đốt của ngón út, máu tuôn chảy. Vậy mà không nao núng, sau khi băng vết thương, chị vẫn không rời trận địa. Còn chị Đào Thị Liên và chị Nguyễn Thị Lan, pháo thủ tiếp đạn, lúc đó đều mới 16 tuổi, chỉ nặng chừng 40kg song khi đang lúc chiến đấu, đơn vị sắp hết đạn đã dũng cảm lao qua cánh đồng Bồ Xuyên, băng băng khiêng các hòm đạn nặng hơn 70kg trở về. Anh Vũ Văn Phương, một trong số ít “mày râu” tham gia đại đội kể: “Tôi lúc đó 18 tuổi, là bí thư Đoàn xã, tham gia đại đội ở vị trí nạp đạn. Qua chiến đấu, tôi rất khâm phục các chiến sĩ nữ. Họ nhỏ bé mà rất kiên cường. Lòng yêu nước đã khiến họ lớn hơn, mạnh hơn rất nhiều so với cái tuổi 16, 17 “ăn chưa no, lo chưa tới”.

Tin đại đội nữ cao xạ hạ máy bay loan nhanh khắp tỉnh. Trưa hôm đó, Thượng tá Đoàn Văn Vang, Tỉnh đội trưởng đã tới thăm trận địa, khen ngợi và thưởng “nóng” cho đại đội… một con bò. Cũng trong ngày, tỉnh đội trưởng đã ký quyết định tặng bằng khen cho đại đội và nhiều chiến sĩ tiêu biểu. Ba ngày sau, đại đội vinh dự được đón đồng chí Phi -đen Ca -xtơ-rô và đại biểu Đoàn thanh niên Grát của Liên Xô đến thăm. Phi -đen ôm lấy các nữ chiến sĩ nhỏ bé, tự hào nói: “Các đồng chí là biểu tượng quyết chiến quyết thắng của phụ nữ Việt Nam, dân tộc Việt Nam!”. Phi-đen còn tặng đại đội một lá cờ và nhiều huy hiệu.

Ngày gặp lại

Năm 1973, sau Hiệp định Pa -ri, trên lệnh cho đại đội tạm dừng trực chiến nhưng các cô gái vẫn cử các ca trực thay nhau bảo vệ pháo cho tới năm 1974, các khẩu pháo được kéo về bàn giao cho thị đội. Những nữ pháo thủ trở về với đời thường, không nhiều người thành đạt, có cuộc sống sung túc. Phần lớn số họ làm ruộng, buôn thúng bán mẹt, có tới 17 chị sau này quá lứa lỡ thì, không xây dựng gia đình. Mãi đến năm 2006, chị Ngô Thị Hòa, “em út” của đại đội nay đã trở thành… nhà báo và được biết có chế độ 290, trợ cấp một lần cho những người tham gia kháng chiến như các nữ pháo thủ, chị đã nhiệt tình cùng chị Loan đi tìm, tập hợp đơn vị, lập nên ban liên lạc. Họ đã được nhận trợ cấp một lần, dù ít ỏi nhưng cũng là niềm động viên, một vài người đã được công nhận là thương binh, nhưng cũng còn nhiều người chưa được công nhận. Nữ đại đội trưởng Loan bị pháo đè lên lưng sáng 19-8 song đã để lại dị tật cả đời, khiến chị bây giờ không thể ngồi xổm được.

Ngày gặp lại, tình đoàn kết một thời bên mâm pháo lại tỏa sáng. Họ thầm lặng giúp đỡ nhau vượt lên gian khó đời thường. Một quỹ “nghĩa tình đồng đội” trị giá hàng trăm triệu đồng được lập ra bằng sự tự nguyện đóng góp của những chị có điều kiện như chị Mai Thị Tuyết, Bùi Minh Nguyệt, Phạm Thị Cầm… Nhờ quỹ này, nhiều chị được vay vốn làm ăn, xây nhà, giúp con cái xuất khẩu lao động. Bận rộn với mưu sinh, song cứ đến ngày 19-8 mang âm hưởng của mùa thu cách mạng, các nữ pháo thủ lại “ới” nhau, vận quân phục kéo ra bảo tàng tỉnh Thái Bình, tới bên các khẩu pháo thân yêu của một thời, hình thành các khẩu đội, thao tác một lần cho đỡ nhớ pháo. Họ hàn huyên chuyện bắn máy bay Mỹ, chuyện nhà cửa, chuyện làm ăn. Loáng thoáng có cả chuyện tình yêu của thời bên mâm pháo. Trong đại đội, có nữ pháo thủ Thảo và nam pháo thủ Bao yêu nhau. Được ít lâu thì anh Bao có lệnh gọi nhập ngũ. Đêm trước ngày anh lên đường, Thảo xin phép đại đội trưởng tới gặp anh một tiếng để chia tay. Nhưng mãi đến 12 giờ đêm cô mới trở về. Đại đội trưởng kỷ luật nghiêm, vẽ vòng tròn bắt Thảo đứng nghiêm suy nghĩ. Bao thương người yêu, đến gặp chị thú tội đã “trót dại”…Ngày ấy, chuyện nam nữ như vậy là một cái gì đó rất ghê gớm nhưng may mà không có chuyện gì phức tạp hơn xảy ra. Bao vào chiến trường rồi hy sinh, Thảo ở vậy không lấy ai. Khi đại đội làm thủ tục công nhận chế độ 290, chị chưa kịp nhận thì bị ung thư, ra đi quá sớm…

Chuyện về họ là như thế và còn bao điều sâu lắng hơn thế mà chúng tôi mới phần nào ghi lại được về những nữ pháo thủ tuổi trăng non, về một thời con gái bên mâm pháo bảo vệ bầu trời thành phố quê lúa…

Ghi chép của Đức Toàn-Minh Khánh
qdnd.vn

Bản Lào nơi đầu nguồn sông Mã

QĐND – Từ thành phố Sơn La, ngược hướng Tây Bắc theo Quốc lộ 4G hơn 150 cây số, rẽ vào con đường tuần tra biên giới, đi độ chục cây số nữa là đến xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Nói thì ngắn gọn vậy, nhưng ô tô chạy sấp ngửa cũng gần nửa ngày, vì đây là chặng đường hiểm trở bậc nhất Tây Bắc, nhiều đoạn men theo thượng nguồn “sông Mã gầm lên khúc độc hành” nghe rợn cả người.

Xã Mường Và có 27 bản, chủ yếu là người dân tộc Thái và Lào. Trong đó có 3 bản toàn bộ là người Lào là: Mường Và, Nà Vèn và Nà Khoang. Bản Mường Và đất rộng người đông nhất, nên tên bản được chọn làm tên xã. Từ đây ra đường biên giới Việt -Lào chỉ non chục cây số theo đường chim bay…

Chúng tôi lên thăm bản Mường Và một ngày cuối tháng 6-2012. ô tô bon bon trên con đường bê tông từ thị trấn Sốp Cộp, dọc theo thung lũng Mường Và về trung tâm bản. Hai bên đường hiện lên một khung cảnh thật hữu tình: Bên phải là những ngôi nhà sàn mái ngói dựa vào chân đồi san sát, nhà nào cũng có vườn cây, vạt rau, bể nước… Bên trái là cánh đồng vàng rực đang vào mùa gặt rộ, có cả những cỗ máy tuốt lúa đang nổ máy giòn giã giữa đồng. Thung lũng trải dọc theo con suối Mường Và nên ruộng bậc thang không dốc đứng như ở nhiều nơi. Đồng ruộng này, làng bản này sao thấy thân quen như một vùng trung du quê kiểng…

Một góc bản Lào ở Mường Và. Ảnh: Thiết Sơn

Nghe tôi nhận xét như vậy, Bí thư Đảng ủy xã Vì Văn Chỉnh hào hứng “khoe”: Cảnh sắc ấy của Mường Và mới dần dần hình thành độ chục năm gần đây thôi. Mường Và là bản cổ của người Lào từ hàng trăm năm nay. Ngôi tháp 5 tầng cao 13m trên ngọn đồi giữa bản, theo các nhà khoa học thì được xây dựng từ hơn 700 năm trước. Tháp Mường Và là một công trình kiến trúc độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa Lào, được xếp hạng Di tích quốc gia từ năm 1960. Là một bản có truyền thống văn hóa, nhân dân cần cù lao động, nhiều năm qua được cấp trên quan tâm đầu tư, giúp đỡ… nhưng do nhiều yếu tố khách quan, chủ quan… nên cuộc sống của bà con ở đây vẫn hết sức khó khăn, tỉ lệ đói nghèo cao. Chỉ từ năm 2002, khi Đoàn Kinh tế -Quốc phòng Sông Mã về Sốp Cộp, những dự án xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135 của Chính phủ mới thực sự mang lại những hiệu quả thiết thực…

Đầu tiên là những công trình điện, đường, trường, trạm… Năm 2009, công trình cấp điện Sốp Cộp -Mường Và khánh thành, một nửa số bản của xã -trong đó có 3 bản Lào -có điện quốc gia. Cuối năm 2010, con đường bê tông từ thị trấn huyện lên Mường Và hoàn thành, thay thế con đường cấp phối lồi lõm, sạt lở mỗi năm chỉ chạy xe được vài tháng mùa khô. Rồi các dự án mương phai thủy lợi, đường ống nước sạch, trụ sở UBND, trạm xá, trường học… cũng dần dần hoàn thiện. Đồng tiền “một ba lăm” của Nhà nước không bị thất thoát, làm sai, làm hỏng… nhờ có “bộ đội Sông Mã” tư vấn, hướng dẫn, giám sát… Cả cánh đồng lúa vàng rực kia cũng là nhờ bộ đội làm “mô hình trình diễn” cho bà con làm theo, từ áp dụng kỹ thuật thâm canh đến chọn giống mới… Rồi những ngôi nhà cao ráo xung quanh có vườn cây, vạt rau, ao cá, chuồng trại chăn nuôi sạch sẽ… cũng đều từ những “mô hình trình diễn” của “bộ đội Sông Mã” mà nhân rộng ra… Với những dự án lớn của Chương trình 135, Đoàn Kinh tế -Quốc phòng Sông Mã chỉ đóng vai trò tham gia phối hợp tư vấn, hướng dẫn, tổ chức thực hiện… Nhưng với các “mô hình trình diễn” về chăn nuôi, trồng trọt, vệ sinh môi trường… thì các đội sản xuất tự vay vốn cấp trên để thực hiện, khi có hiệu quả thì hoàn vốn và tiếp tục tái đầu tư để nhân rộng mô hình. Cũng có nhiều trường hợp, như đội sản xuất số 3, anh em tự trích lương cho một hộ vay hàng triệu đồng làm kinh tế gia đình dưới sự hướng dẫn gần như “cầm tay chỉ việc” của đội. Từ thành công của một hộ mà nhân rộng mô hình tự vươn lên xóa đói giảm nghèo cho nhiều hộ khác…

Bản Lào ở Mường Và bây giờ không chỉ cuộc sống vật chất khấm khá hơn trước mà đời sống tinh thần cũng khởi sắc. Mỗi bản có một đội văn nghệ hoạt động rôm rả lắm. Người Lào vốn thích múa hát mà! Con em trong bản năm nào cũng có vài cháu đỗ đại học, cao đẳng, nhiều trường ở tận các thành phố lớn, như: Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hóa, Thái Nguyên. Nhiều con em bản Lào đỗ đạt, nay là cán bộ của xã, như: Lò Văn Thoong là Phó chủ tịch UBND xã, Lò Văn Hốt là Chủ tịch Mặt trận, Lò Văn Phanh là Chủ tịch Hội nông dân… Cán bộ của các ngành, đoàn thể trong xã là người Lào thì nhiều lắm!

Vâng, kể về những đổi thay tiến bộ của bản Lào ở bản Mường Và hôm nay thì còn nhiều chuyện lắm. Nhưng ngoài kia bà con đang gặt lúa rất đông vui. Năm nay Mường Và được mùa to, chúng mình ra đó là khắc nghe, khắc thấy, khắc biết mọi chuyện. Thế là chúng tôi hăm hở theo đồng chí Bí thư Đảng ủy xã ra thăm cánh đồng Mường Và đang kỳ gặt rộ…

Trần Ngọc Yến
qdnd.vn

Người nữ cứu thương nhân hậu

Trong dịp kỷ niệm 65 năm ngày chiến thắng phát-xít, Hội đồng các Bộ trưởng Quốc phòng thuộc khối SNG đã quyết định tổ chức cuộc thi viết về đề tài: “Chiến công của nhân dân Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh”, kêu gọi các cá nhân và tổ chức tích cực tham gia.

Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng xin đăng truyện “Người nữ cứu thương nhân hậu” của Andrei Saxtkii, tác phẩm tham gia cuộc thi này.

Nữ cứu thương Li-da đang cứu chữa thương binh trên chiến trường. Ảnh tư liệu

Bằng loạt đạn chính xác, khẩu 76mm của hạ sĩ Nur-ga-li A-kim-bê-tốp đã diệt gọn lũ phát-xít đang hùng hổ xông đến. Được gia nhập Hồng quân mùa xuân năm 1943, anh giáo viên toán trường làng A-kim-bê-tốp được điều đi học lớp pháo binh. Vốn sẵn có bẩm sinh toán học, người con tiêu biểu của dân tộc Ka-dắc đã tiếp thu nhanh chóng những kiến thức thông thái của môn khoa học quân sự này, vì thế lúc ra trận anh đã bắn những loạt đạn chuẩn xác vào quân thù, diệt gọn lũ giặc, không để cho chúng có cơ hội thoát thân. Các cấp chỉ huy luôn động viên cổ vũ tài năng của chàng hạ sĩ A-kim-bê-tốp; kết thúc chiến tranh trên ngực anh đã gắn đầy huân chương. Mà chuyện đó sẽ nói đến sau, còn lúc này đang là mùa thu năm 1944.

Công việc chuẩn bị cho cuộc tấn công thần tốc trên khắp mặt trận đang diễn ra gấp gáp. Lúc này quân địch cũng đã đánh hơi thấy mối hiểm họa đang đến gần, chúng bằng mọi thủ đoạn ra sức quấy phá quân ta, nhất là nhằm vào các chiến sĩ pháo binh Hồng quân. Máy bay phát-xít Đức liên tục bắn phá suốt ngày đêm, các trận địa pháo của địch không ngừng hoạt động trên khắp mặt trận, thăm dò những nơi phòng thủ yếu kém của Hồng quân để huy động xe tăng và bộ binh chọc thủng vòng vây, đồng thời tổ chức phản công nhằm ngăn chặn mũi tiến công chiến lược của Hồng quân Liên Xô về hướng Vác-sa-va. Phương diện quân U-crai-na số 1 phối hợp với Phương diện quân Bê-la-rút số 1 đã tổ chức  phòng thủ chặt chẽ trận tuyến trước cửa ngõ Vác-sa-va. Lúc này mật độ quân địch dồn đến mỗi lúc một đông. Chúng điên cuồng tấn công chiến tuyến của ta.

Vào một ngày tháng Mười năm 1944, máy bay Đức đã oanh tạc trận địa pháo Hồng quân. Khẩu đội pháo của hạ sĩ A-kim-bê-tốp bị phá hủy hoàn toàn. Bom địch ném trúng trận địa pháo, tạo ra một hố sâu khủng khiếp. Cỗ pháo giờ đây đã biến thành đống sắt vụn đen nhẻm. Số phận bi thảm của các chiến sĩ pháo thủ cũng không hơn gì.

May mắn thay, mà có thể là do số phận, chỉ một mình A-kim-bê-tốp là còn sống sót, nhưng anh bị trúng đạn vào chân, toàn thân bị liệt, nằm lịm bất tỉnh bao lâu không còn nhớ. Nhưng nhờ có sức khỏe phi thường mà chàng hạ sĩ vẫn còn hy vọng.

“Cảm giác có người lay nhẹ ở sau lưng, cha đã tỉnh lại trong giây lát – một lần anh kể cho đứa con gái nghe chuyện của mình khi còn là một chiến sĩ pháo thủ- Chung quanh lúc này tối đen như mực, ẩm ướt và lạnh lẽo. Hai chân không còn cảm giác. Trong đầu tiếng ong ong vang lên khủng khiếp, vẫn nghe thấy tiếng rú rít trong tai. Bỗng nhiên cha đã nhận ra rất rõ, có người đang kéo lê mình đi đâu đó. Một ý nghĩ khó chịu thoáng hiện trong đầu: “Miễn là không bị bắt làm tù binh… rồi cha lại tiếp tục mê man”.

Trong hoàn cảnh cam go trên trận địa, người nữ cứu thương mảnh mai ấy vẫn dìu đồng đội “trên tay”, mấy ngày liền đã băng qua rừng rậm và sình lầy, đi đường vòng để lẩn tránh bọn Đức đang phòng thủ gần đó. Và rồi một lần nữa số phận lại mỉm cười với anh.

Có lần thấy cô gái quá khổ sở vì phải lê lết kéo một chàng thanh niên to béo tới chỗ chiến hào quân mình, anh đã van xin cô bỏ anh lại trong rừng và khuyên cô hãy thoát khỏi nơi này. Bản thân chàng hạ sĩ khi đó chưa nhớ tới một điều – đó là  đức tính kiên trì, ý thức trách nhiệm đối với đồng đội và sự cưu mang lẫn nhau trong chiến đấu.

Bỗng đầu anh va mạnh vào một vật gì đó không cứng lắm khiến anh hồi tỉnh. Trời bắt đầu hửng sáng. Nhìn quang cảnh chung quanh, A-kim-bê-tốp đã nhận ra mình đang nằm trong chiến hào của quân ta. Qua những tiếng lao xao gần đó, anh nhận ra đó chính là tiếng nói thân thương – tiếng Nga “trọ trẹ”. Lần theo những câu trao đổi của đồng đội, A-kim-bê-tốp hiểu rằng, anh em đang gấp gáp chuẩn bị chuyển mình về hậu cứ cùng với người nữ cứu thương trẻ, cả hai đều đã bị liệt vào danh sách các chiến sĩ tử vong.

Tại chặng dừng chân đầu tiên, A-kim-bê-tốp đã kịp hỏi tên tuổi người nữ cứu thương nhân hậu ấy. Anh nói: “Mình cũng sẽ đặt tên cho con gái mình là Li-da!”.

Quá trình điều trị diễn ra khá lâu. Vết thương ở vùng xương hông đã làm chân anh bị thọt. Lần theo những chuyện kể của các thương binh từ mặt trận chuyển về, A-kim-bê-tốp biết rằng, dưới sự yểm trợ của trung đoàn pháo binh của anh, các chiến sĩ ta đã chiếm gọn Vác-sa-va và nhanh chóng tiến về Béc-lin. Ngoài ra, A-kim-bê-tốp còn biết tin, trong lúc rút khỏi Vác-sa-va, bọn phát-xít đã phá tan tành thành phố Vác-sa-va, sát hại hàng loạt dân lành. Thật đau xót được biết tin này, càng cay đắng hơn khi bản thân anh đang bị cột chặt vào chiếc giường bệnh viện. Tuy vậy, cái tên Li-da vẫn không rời khỏi đầu chàng hạ sĩ. “Không biết cô có còn sống?”. “Ai mà biết, chuyện gì sẽ xảy ra sau khi chiến tranh kết thúc!”.

Chỉ ít ngày sau khi phát-xít Đức hạ bút ký đầu hàng vô điều kiện, hạ sĩ Nur-ta-li A-kim-bê-tốp đã được xuất viện. Cầm trong tay tờ giấy chứng thương, anh mới nhận ra là mình đang ở vùng ngoại vi Béc-lin. “Vậy là cuối cùng cũng đến được tận nơi…” – Chàng thanh niên từ vùng Ka-dắc-xtan trầm ngâm suy nghĩ.

Vài năm tiếp sau đó với cương vị thượng sĩ, A-kim-bê-tốp đã tham gia huấn luyện lớp tân binh trẻ “mũ nồi xanh”, truyền đạt cho họ những kỹ xảo về pháo binh. Năm 1948, thượng sĩ Nur-ta-li A-kim-bê-tốp đã được xuất ngũ, trở về nhà, về vùng Ka-dắc-xtan thân yêu.

Trong suốt thời gian đóng quân trên đất nước Đức, thượng sĩ A-kim-bê-tốp không sao tìm ra được thiên thần cứu sống mình – người nữ cứu thương nhân hậu Li-da. Dù sao đi nữa, anh vẫn nhớ như in rằng cô gái ấy quê ở vùng  Kờ-rát-xnơ-đa. Và lời hứa hẹn với cô trong chiến hào lần ấy trước phút lên đường trở về hậu tuyến, anh vẫn không quên. Chàng pháo thủ  luôn tâm niệm: “Về nhà thu xếp mọi việc ổn thỏa, rồi nhất định lại đi tìm nàng”. Cuối cùng chàng cũng tìm thấy ân nhân của mình!

Những cuộc gặp gỡ nồng nàn đầy nước mắt đã diễn ra nơi xứ sở chan hòa ánh nắng mặt trời của vùng Kờ-rát-xnơ-đa. Biết bao nhiêu lời cảm ơn, chúc tụng hướng về Li-da – người nữ y tá của bệnh viện tỉnh Kờ-rát-xnơ-đa… Nhưng giây phút cảm động hơn cả là lúc trên bàn tiệc xuất hiện một bức ảnh bé gái xinh đẹp – đứa con gái của chàng thượng sĩ Nur-ga-li A-kim-bê-tốp có tên Nur-ga-li A-kim-bê-tốp-va Li-da!

Vũ Huy dịch

(Tạp chí Tri thức quân sự)
qdnd.vn

Sân bay Tân Sơn Nhất – những sự kiện lịch sử

QĐND – Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954), sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn – nay là TP Hồ Chí Minh) chỉ là một phi cảng nhỏ bé. Sau năm 1954, nhất là thời điểm từ cuối năm 1965, khi Mỹ ào ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu trực tiếp vào tham chiến trên chiến trường miền Nam, chúng đã xây dựng Tân Sơn Nhất thành một sân bay có tầm cỡ quốc tế, một căn cứ quân sự chiến lược quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á.

Sân bay Tân Sơn Nhất trước ngày giải phóng 30-4-1975 có chiều dài khoảng 8km, rộng 5km, chiếm 1.922 héc-ta. Sân bay Tân Sơn Nhất là một căn cứ hỗn hợp có nhiều đường bay cho các loại máy bay dân dụng và quân sự. Sân bay có khu sân bay quân sự, khu hàng không dân dụng và khu hàng không quốc tế, có khả năng chứa 400-500 máy bay. Trong sân bay có hệ thống ụ chìm, ụ nổi, các kho chứa bom đạn, xăng dầu… Theo thống kê, năm 1958 sân bay có 30.000 phi vụ cất cánh và hạ cánh thì đến năm 1966 đã tăng đến 50.000 phi vụ. Tại sân bay, có khoảng 20 hãng hàng không quốc tế tham gia sử dụng như: Pan American, American Airlines, Seaborn Transwerld, Continental Airlines, Flying Tiger, Nortwest Airlines, Cathay Pacific, Slich Airlines… và các hãng hàng không khác có hợp đồng với Bộ Chỉ huy không quân Mỹ…

Về mặt quân sự, sân bay Tân Sơn Nhất nằm trong thế bố trí tam giác chiến lược: Biên Hòa – Sài Gòn – Vũng Tàu của Mỹ – ngụy. Trong sân bay, khu nhà phía nam là “hang ổ” của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Mỹ, nhà của tướng Oét-mo-len. Phía đông bắc, có tòa nhà 2 tầng sơn màu trắng của tướng Vốt, Tư lệnh không quân Mỹ ở Đông Nam Á, kiêm Phó tổng chỉ huy lực lượng Mỹ ở Đông Dương. Sân bay cũng là nơi đặt Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh không quân quân đội Sài Gòn, có nhà của tướng Nguyễn Cao Kỳ, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 Không quân, Bộ Tư lệnh quân dù quân đội Sài Gòn.

Để phục vụ cho guồng máy chiến tranh, hằng ngày tại sân bay có hàng ngàn người làm việc, trong đó có quân nhân thuộc Đệ nhất hạm đội và Lục quân Mỹ, nhân viên không lực ngụy Sài Gòn và nhân viên dân chính người Việt. Nhằm ngăn chặn sự “thâm nhập của Cộng sản”, mỗi người vào làm việc tại sân bay đều được điều tra kỹ về an ninh. Sân bay được bố phòng nhiều trang thiết bị hiện đại như máy vô tuyến bán dẫn báo động, xung quanh căn cứ được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai bùng nhùng dày 22 lớp, xen kẽ các lớp rào là các loại mìn sáng, mìn díp, mìn cóc, claymo, các lon đồ hộp treo móc phát hiện tiếng động. Bao quanh sân bay có các đường nhựa bảo đảm cho xe cơ giới tuần tra liên tục ngày đêm. Phía trong hàng rào, sau các lớp hào sâu hơn 2m còn là hệ thống các lô cốt, công sự dã chiến của lực lượng bảo vệ, được trang bị đầy đủ súng ống, đèn pha chiếu sáng rực vào ban đêm. Lực lượng đặc biệt bảo vệ sân bay gồm 1 tiểu đoàn quân cảnh Mỹ có chó béc-giê do bọn Mỹ nói thạo tiếng Việt phụ trách, 1 tiểu đoàn an ninh phi trường, 1 tiểu đoàn quân cảnh trực tiếp canh giữ, bảo vệ nơi ở của các tướng tá Mỹ – ngụy. Bên ngoài sân bay, ngoài biện pháp “tảo thanh”, “phát quang”, tạo “vành đai trắng” luôn có mạng lưới thám báo, gián điệp hoạt động, trà trộn trong dân, dò tìm, phát hiện mọi động tĩnh của lực lượng cách mạng. Ngoài ra, sân bay còn có lực lượng pháo binh ở căn cứ Cổ Loa, Căn cứ Thiết giáp Phù Đổng, Trung tâm huấn luyện Quang Trung ở phía bắc, Yếu khu quân sự Ngã Năm (Vĩnh Lộc), Trại Hoàng Hoa Thám ở phía nam sẵn sàng ứng cứu khi có tình huống xảy ra.

Ngoại cảnh sân bay Tân Sơn Nhất hiện nay.  Ảnh: Tuấn Tú

Đối với lịch sử kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc, Quân khu 7, Quân khu Sài Gòn – Gia Định, sân bay Tân Sơn Nhất là nơi ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng: Ngay từ những ngày đầu quân Pháp núp sau quân Anh gây hấn tái chiếm Nam Bộ (9-1945), sân bay Tân Sơn Nhất, nơi quân Anh làm nhiệm vụ cảnh giới đã bị du kích Sài Gòn tập kích. Tiếp theo là hàng loạt các trận đánh của lực lượng đặc công, Biệt động Sài Gòn vào khu vực sân bay: Trận 15-3-1952, tổ đặc công do Lê Văn Thọ chỉ huy đột nhập dùng mìn đánh kho bom An Hội (Gò Vấp) phá hủy 700 quả bom, diệt 182 tên địch; Trận 31-8-1952, Đại đội quyết tử 3721 (sau đổi tên là Đại đội đặc công 205) “dùng chất nổ hủy diệt 5.200 tấn bom đạn, 3 triệu lít xăng, trên 2.000 thùng dầu nhớt, gây thiệt hại nặng cho đại đội Âu – Phi canh giữ kho”. Đêm 30-5 rạng 1-6-1954, Tổ đặc công Bùi Văn Ba, Phạm Văn Hai gồm 12 người đột nhập kho đạn, xăng dầu Phú Thọ Hòa đặt mìn hẹn giờ “thiêu hủy 9.345 tấn bom đạn, 20 triệu lít xăng cùng 1 đại đội lính Âu – Phi chết và bị thương”. Các trận đánh đã có tác dụng cổ vũ toàn chiến trường Nam Bộ lúc bấy giờ.

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (7-1954). Sau lễ “Trao trả dinh Nô-rô-đôm” cho Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng nên, tướng Ê-ly, Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp cuối cùng, từ sân bay Tân Sơn Nhất cuốn gói về nước, chấm dứt sự có mặt sau gần 100 năm của quân đội xâm lược Pháp ở Đông Dương.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1945-1975), mặc dù được Mỹ-ngụy tăng cường bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng từ năm 1963-1966, sân bay liên tục bị Biệt động Sài Gòn, lực lượng pháo binh miền Đông Nam Bộ tấn công, diệt nhiều phi công Mỹ và nhân viên kỹ thuật, phá hủy hàng triệu lít xăng, hàng chục máy bay các loại. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các trận đánh, thế tiến công của người chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam trên đường băng Tân Sơn Nhất đã được nhà thơ Lê Anh Xuân ca ngợi là biểu tượng cao đẹp cho “Dáng đứng Việt Nam”.

Cùng với những đòn tiến công quân sự của ta, sân bay Tân Sơn Nhất còn là minh chứng sinh động về đòn đấu tranh chính trị – ngoại giao mưu trí và dũng cảm của Phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên tại trại Đa-vít đòi Mỹ-ngụy phải thi hành Hiệp định Pa-ri, diễn ra liên tục 823 ngày đêm, từ tháng 2-1973 đến cuối tháng 4-1975.

Lịch sử được lập lại như đối với quân xâm lược Pháp trước đây. Ngày 15-3-1973, cũng tại sân bay Tân Sơn Nhất, tướng Mỹ 4 sao Uây-en phải làm lễ “Hạ cờ”, rút hết quân Mỹ về nước. Ngày 29-3-1973, những tên lính Mỹ cuối cùng lên máy bay rút khỏi sân bay Tân Sơn Nhất, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm, kể từ năm 1858 khi quân Pháp nổ súng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta, lần đầu tiên trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, quân đội của bọn đế quốc xâm lược đã bị quét sạch.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trước thế tiến công áp đảo của quân và dân ta, ngày 21-4-1975 Tổng thống ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Đêm 25-4-1975, từ sân bay Tân Sơn Nhất, Thiệu chạy trốn ra nước ngoài. Cùng với Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha cảnh sát (Bộ Tư lệnh cảnh sát quốc gia), căn cứ sân bay Tân Sơn Nhất được Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh chọn là mục tiêu chủ yếu. Sau những trận bão lửa của pháo binh ta từ Nhơn Trạch bắn vào sân bay, chiều 28-4-1975, Phi đội Quyết Thắng do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu đã đánh bom xuống khu vực phía tây sân bay, phá hủy nhiều máy bay quân sự địch… 7 giờ 15 phút ngày 30-4-1975, toàn bộ các trận địa pháo của Quân đoàn 3 và Sư đoàn 10 đồng loạt nã đạn vào sân bay làm một số máy bay, kho bom, đạn địch nổ tung, bốc cháy. Từ 9 giờ 5 phút, Tiểu đoàn 1 – Trung đoàn xe tăng 273, các Tiểu đoàn 4, 5, 6 thuộc Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 tiến công vào cửa số 5 và số 4 của sân bay, đánh chiếm các mục tiêu: Khu truyền tin, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 Không quân, Bộ Tư lệnh quân dù, Bộ Tư lệnh Không quân ngụy, bắt liên lạc và bảo vệ an toàn phái đoàn quân sự ta ở trại Đa-vít. 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24 cắm cờ “Quyết Thắng” lên Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Không quân ngụy. Sân bay Tân Sơn Nhất hoàn toàn do ta làm chủ.

Sau ngày giải phóng, sân bay Tân Sơn Nhất – Sài Gòn – Gia Định được đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước từ Thủ đô Hà Nội vào dự lễ mừng chiến thắng, mừng non sông thu về một mối.

Từ một căn cứ quân sự, một phi trường “Bất khả xâm phạm” của Mỹ – ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất ngày nay đã được xây dựng hiện đại, là một trong những biểu tượng của Việt Nam mở cửa, hội nhập và phát triển.

Với ý nghĩa, nội dung lịch sử phong phú như vậy, nên chăng, Thành phố Hồ Chí Minh và Quân khu 7 cần nghiên cứu xây dựng tại khu vực sân bay một tượng đài hoặc bia bảng di tích ghi dấu chiến công, góp phần giáo dục truyền thống, tạo ấn tượng tốt đẹp trước bạn bè trong nước và quốc tế khi đến với thành phố mang tên Bác kính yêu.

Đồng Kim Hải
qdnd.vn