Archive | 2012

Cha con nhà tình báo và bức ảnh cô bé ngồi trong lòng Bác Hồ

Cô bé Đào Thị Minh Vân sinh đúng vào đêm 19/12/1946, khi tiếng súng Toàn quốc kháng chiến chống Pháp  vừa nổ. Cha cô là Đào Phúc Lộc, một  người dường  như sinh ra là để làm công tác tình báo, phản gián. Từ năm 1939, căn nhà thuê ở hẻm Cô Ba Chìa, Hải Phòng, nơi chị em ông tá túc đã thành nơi nuôi giấu, trị bệnh cho đồng chí Tô Hiệu, đồng thời cũng là nơi bí mật gặp gỡ, hội họp bàn bạc kế hoạch của nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại đây, giữa năm 1939, Đào Phúc Lộc đã được đồng chí Tô Hiệu kết nạp vào Đảng. Năm đó, anh mới 16 tuổi.

Tháng 5 năm 1945, được sự tiếp sức của Quốc Dân đảng Trung Quốc, lực lượng Việt Cách tại Quảng Ninh do Vũ Kim Thành chỉ huy đã đánh chiếm thị xã Móng Cái. Với chiêu bài hợp tác chống Nhật, chúng đã đề nghị hợp tác với đội vũ trang tuyên truyền của Việt Minh, nhưng đầy dã tâm. Ngay sau đó, chúng trở mặt, bắt, giam lỏng và  âm mưu thủ tiêu toàn đội.

Bằng bản lĩnh và tài thuyết khách, Đào Phúc Lộc tay không tấc sắt đã một mình vào tận hang ổ Việt Cách ngăn chặn được âm mưu của chúng và lập kế phục rượu cho cả đám Việt Cách say mềm, giải thoát cho 33 chiến sỹ. Trong số này có chị Hoàng Minh Phụng, sau này đã trở thành vợ anh. Lấy họ của chị, anh đã đặt cho mình một cái tên mới là Hoàng Minh Đạo, hàm nghĩa là “con đường sáng”, con đường cứu nước.

Ngày 27/5/1948, Minh Vân mới 18 tháng tuổi, bà Hoàng Minh Phụng đã qua đời vì bạo bệnh tại chiến khu Việt Bắc. Ông Hoàng Minh Đạo gửi cô về Hà Nội nhờ một cơ sở cách mạng là gia đình bà Nguyễn Thị Kíu, một thương gia giàu có ở 41 Lò Sũ, Hà Nội nuôi hộ. Với vai trò Trưởng phòng Phản gián thuộc Cục Tình báo Trung ương vừa được tổ chức lại, tháng 10 năm 1948, Hoàng Minh Đạo được Bộ Quốc phòng biệt phái vào miền Nam giữ vai trò Trưởng ban Quân báo Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Kể từ đó, ông không một lần có dịp trở lại thăm con. Minh Vân cũng không một lần còn được thấy mặt cha. Nhà tình báo xuất sắc Hoàng Minh Đạo đã hy sinh trên dòng Vàm Cỏ Đông ngay vào đêm Noel 24/12/1969.

Theo yêu cầu của chính đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Linh, Trung ương Cục miền Nam đã hai lần tổ chức tìm kiếm dấu vết thi thể ông. Cả hai cuộc tìm kiếm ròng rã đều do Tư lệnh Phân khu I Sài Gòn – Gia Định Tám Lê Thanh (sau này là Trung tướng Tám Lê Thanh, Chính ủy Bộ đội Biên phòng Việt Nam) trực tiếp chỉ huy, đều không mang lại kết quả.

Khi hy sinh, Hoàng Minh Đạo đang là Bí thư Phân khu I Khu Sài Gòn – Gia Định kiêm Chính ủy Lực lượng Biệt động Sài Gòn. Trước đó, trong một thời gian dài, ông đã từng là người thiết lập nên cả một mạng lưới tình báo cách mạng ở miền Nam, từng giữ trọng trách Phó ban Binh vận Trung ương Cục. Đêm hy sinh, ông đang trên đường về Trung ương Cục dự Hội nghị. Trong hành lý mà ông mang theo có một bộ tài liệu tuyệt mật, độc bản đánh giá đầy đủ về thắng lợi, tổn thất, tương quan lực lượng giữa ta và địch sau Tết Mậu Thân 1968. Đó là tài liệu hết sức quan trọng với cả ta lẫn địch. Nếu đoạt được nó, chắc chắn phía địch sẽ triệt để khai thác tuyên truyền để tạo ra sự phá hoại mang tính chiến lược đối với phong trào cách mạng và công cuộc giải phóng miền Nam.

Thế nhưng, cho đến tận ngày chiến tranh kết thúc và hơn 5 năm sau đó, phía ta không tìm lại được tập tài liệu nhưng phía địch vẫn chưa bao giờ có một câu một dòng nào đề cập đến nó, chứng tỏ chúng không thu giữ được, cũng không hề hay biết gì về tập tài liệu này. Đến tận phút cận kề cái chết, Hoàng Minh Đạo vẫn dùng chút hơi thở cuối cùng để cất giấu hoặc tiêu hủy tài liệu, bảo vệ bí mật của Đảng, của cách mạng. Và ông đã là người chiến thắng!

Vài ngày sau đêm bão lửa, ông Năm Tờ, một người dân sống bằng nghề đóng giàn đáy trên sông Vàm Trảng, một nhánh chia  nước từ sông Vàm Cỏ Đông đã phát hiện ra một xác chết đang trôi bập bềnh theo con  nước. Lúc này, lính bảo an và dân vệ đang ráo riết tuần tra lục soát. Đoán chắc đó là cán bộ cách mạng đã hy sinh trước đó mấy đêm, ông Năm Tờ đã cùng một số người dân ấp An Thới, xã An Hoà, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh tìm cách đánh lừa địch, giấu cái xác trên sông nhiều ngày. Đợi đến khi địch ngừng cuộc lùng sục, họ đã vớt thi thể lên, bí mật đưa về tẩm liệm, chôn cất trên phần đất của bà Tư Khánh, một người dân thôn An Thới. Ngôi mộ bí mật, không mộ chí quanh năm không khi nào vắng bóng khói hương.

Sau nhiều năm tháng tìm kiếm, ngày 4/4/1998, cô con gái Đào Thị Minh Vân mới tìm được nơi người cha của cô yên nghỉ. Nhờ 2 chiếc răng bọc bạc ở hàm dưới, những đồng chí đồng đội của cha cô đi cùng cô trong chuyến kiếm tìm đã nhận ra ngay người dưới mộ là Hoàng Minh Đạo – người anh lớn, người thầy, người đồng chí đồng  đội mà họ hằng kính trọng, yêu quý.

Tất nhiên, những trang tư liệu hào hùng về nhà tình báo, liệt sỹ Hoàng Minh Đạo, thì phải mãi sau này bà Minh Vân mới có dịp tìm hiểu tường tận. Còn suốt những năm tháng tuổi thơ, ngoài cái tên thật là Đào Phúc Lộc, cô hầu như không biết gì về thân phận và nhiệm vụ của cha mình.

cha con nha tinh baoBé Đào Thị Minh Vân ngồi trong lòng Bác Hồ.

Sau năm 1954, cô mới biết cha mình hoạt động cách mạng, vì nhiệm vụ nên còn phải ở lại miền Nam chiến đấu lâu dài. Minh Vân có thêm nhiệm vụ là chăm sóc bé Đào Minh Ngọc, em cùng cha khác mẹ được đưa từ miền Nam ra và cũng được gửi nhờ gia đình bà Kíu nuôi nấng.

Bà Bùi Ngọc Hường, người vợ thứ hai của Hoàng Minh Đạo, mẹ kế của Minh Vân chỉ tập kết ra Bắc một thời gian ngắn, sau đó lại quay về Nam tham gia chiến đấu. Người con thứ hai của bà với Hoàng Minh Đạo tên là Đào Thị Minh Thu, ngày mẹ xuống tàu tập kết (tháng 10 năm 1954) chỉ mới hơn một tháng tuổi nên đành phải gửi nhờ một gia đình cơ sở ở Cần Thơ nuôi hộ.

Tháng 6 năm 1961, sau  khi bà Hường trở về Nam, hai người có thêm một con gái nữa, đặt tên là Đào Thị Minh Hồng. Như thể định mệnh, những người con của nhà tình báo Hoàng Minh Đạo đều phải dự phần chia ly với cha mẹ. Từ tấm bé, mỗi người được gửi một phương, chẳng ai được sống sum vầy cùng cha mẹ.

Ở miền Bắc, họa hoằn lắm Minh Vân mới một lần được nhận thư cha. Thư chuyển bằng đường giao liên bí mật, đi mất nhiều tháng trời mới đến tay người nhận nên cô bé cũng chẳng thể biết chính xác cha viết thư cho mình từ đâu. Trong bức thư nhận được vào cuối năm 1962, ông Năm Thu (một bí danh  khác của Hoàng Minh Đạo) thông báo cho Minh Vân biết: “Ba hiện làm ăn ở Nam Vang. Ba bị bệnh gan to, lách to… Ba nhớ các con nhiều và yêu hai con lắm!”. Phần tái bút, ông ghi: “Ba đã nhận được tấm ảnh con ngồi trong lòng Ông Nội. Ba rất hạnh phúc và phấn khởi!”.

Đọc thư, Minh Vân rất sung sướng  nhưng… không hiểu gì cả. Cô nói với bạn bè: “Ông nội mất trước khi ba mẹ mình lấy nhau. Vậy mà ba lại bảo đã nhận được ảnh mình ngồi trong lòng ông nội. Không khéo công việc nhiều quá, ba mình lẩm cẩm mất rồi”.

Sau ngày miền Nam giải phóng, cô cán bộ ngành Ngoại giao Đào Thị Minh Vân được cử vào miền Nam công tác. Cô đã có dịp gặp rất nhiều đồng chí, đồng đội, những  người anh em thân thiết của cha mình. Các bác Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Hai Văn (Phan Văn Đáng, Phó Bí thư Trung ương Cục), Tư Thắng (Huỳnh Việt Thắng, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao), Bảy Dự (Nguyễn Võ Danh, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh), Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Mai Chí Thọ, Thượng tướng Cao Đăng Chiếm, Thượng tướng Lâm Văn Thê, Trung tướng Hà Ngọc Tiếu, Thiếu tướng Cao Pha… đều nhắc đến cha cô với tất cả sự kính trọng, khâm phục và tiếc thương. Người cha đã khuất, qua hồi ức của những bạn bè đồng chí thân thiết nhất đã sống lại trong lòng cô con gái như một nhân cách lớn, một đời đầy phấn đấu hy sinh với những đóng góp lớn cho cách mạng và dân tộc.

Tất nhiên, ông không hề lẩm cẩm. Một hôm, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã mời Minh Vân đến, trao lại cho cô một tập tài liệu cá nhân lẫn hình ảnh của liệt sỹ Đào Phúc Lộc mà ông đã cẩn trọng gìn giữ hàng chục năm ròng. Chọn riêng một tấm ảnh sáng, rõ nhất trong toàn bộ xấp ảnh, đồng chí Nguyễn Văn Linh nói với cô: “Vì công tác, ba cháu thường  xuyên phải vào ra vùng địch nên đã gửi những tấm ảnh này lại cho bác Út (tức bác Nguyễn Văn Linh) giữ giùm. Tấm ảnh này Bộ Quốc phòng gửi vào cho ba cháu hồi đầu năm 1962. Nhiều chú bác, ở Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam rồi Thành ủy Sài Gòn – Gia Định đã từng chuyền tay nhau ngắm tấm ảnh đặc biệt này. Giữa rừng sâu gian khổ hay dưới địa đạo tối tăm, bức ảnh này đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với tất cả cán bộ, chiến sỹ tại cơ quan đầu não của cách mạng ở miền Nam. Với những cô chú có con em tập kết hoặc được gửi ra miền Bắc học tập, tấm ảnh càng quý giá. Nó đã giúp nhiều người tăng phần yên tâm tin tưởng, rằng con em mình ở miền Bắc đang được Bác Hồ, Đảng, Chính phủ và đồng bào ngoài đó hết lòng quan tâm chăm sóc. Với riêng ba Đạo của cháu, đó là một vinh dự lớn. Giờ bác giao lại cho cháu. Cháu hãy sống xứng đáng với tư cách là người có mặt trong tấm ảnh. Ba cháu sẽ không mong gì hơn thế”.

Đỡ tấm ảnh, cô gái xúc động trào nước mắt. Không cần ai gợi nhớ hay giải thích, Minh Vân cũng nhận ra ngay cô bé đang ngồi giữa lòng Bác Hồ trong tấm ảnh ấy chính là mình. Năm 1958, Minh Vân chưa đầy 12 tuổi. Cô là học sinh nhỏ nhất trong số 98 học sinh Việt Nam được gửi sang Tiệp Khắc học tập tại Trường Thiếu nhi Quốc tế của nước Bạn. Một hôm, Bác Hồ và Chủ tịch nước Tiệp Khắc cùng khá đông cán bộ cao cấp của hai Nhà nước đến thăm trường. Một cán bộ trong đoàn khách hỏi anh Đoàn Minh Dũng, người phụ trách Đoàn học sinh Việt Nam: “Cháu Minh Vân là cháu nào?”. Anh Dũng gọi ra, Minh Vân đã hết sức sung sướng khi bất ngờ nhận được thư và quà của cha mình. Quà là một chiếc bấm móng tay, một chiếc kéo nhỏ và một chiếc bút máy. Lá thư chỉ có mấy dòng, ghi trong một tờ giấy nhỏ bằng những con chữ cũng nhỏ li ti: “Có chú làm ăn ở chỗ ba ra, ba gửi cho con mấy món quà nhỏ mà ba nghĩ là con gái ba cần dùng đến. Ba yêu con và nhớ con nhiều. Ký tên: Lộc”.

Sau những tiết mục văn nghệ, đoàn học sinh được Bác Hồ chia kẹo. Khi chụp ảnh, ai cũng cố chen vào để được đứng ngồi gần Bác. Minh Vân bé quá, không làm sao chen được, suýt nữa đã oà khóc. Bất ngờ, người cán bộ chuyển thư và quà lúc nãy đã tìm, bế bổng Minh Vân lên và đặt cô bé ngồi vào lòng Bác. Sung sướng quá, ngỡ như được ngồi giữa lòng một ông Tiên, đầu óc Minh Vân cứ bồng bềnh, không để ý gì đến bao nhiêu ánh đèn flash của máy quay phim, máy ảnh đang loé lên liên hồi đến loá cả mắt.

Thời khắc đó, cô bé nhớ như in. Nhưng còn quá non nớt, cô lại không kịp nhận ra nỗi xúc động của cha mình khi viết trong thư là “đã được nhìn thấy ảnh con ngồi trong lòng Ông Nội”. Phải gần 20 năm sau, ký ức mới có dịp vỡ oà. Có lẽ, để đến được tay người cha – người lính đang chiến đấu ở miền Nam, bức ảnh ấy đã phải chu du gần nửa vòng trái đất, vượt trăm sông nghìn núi với muôn trùng lửa đạn, đủ biết tấm lòng của hậu phương lớn miền Bắc đối với đồng bào, đồng chí ở miền Nam sâu nặng đến mức nào.

Bức ảnh đó là một thời khắc lịch sử, là kỷ vật vô giá của người cha để lại. Với bà Minh Vân, cho đến khi mái đầu đã bạc, mãi mãi vẫn là kỷ vật thiêng liêng nhất

Nguyễn Hồng Lam
Theo Báo Công an nhân dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

 

 

 

Tượng đài Hồ Chí Minh tại Hungary (Châu Âu)

Nằm cách Thủ đô Budapest chừng 220km, Zalaegerszeg là một đô thị nhỏ, thủ phủ của tỉnh Zala (khu vực Tây – tả ngạn sông Danube), được biết đến như một trong những thành phốnhiều cây xanh và hoa lá nhất của Cộng hòa Hungary. Tuy nhiên, đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, thành phố có hơn 700 năm tuổi này lại mang một ý nghĩa đặc biệt khác: Tại đây, cho đến giờ, vẫn tọa lạc một tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, có lẽ là độc nhất vô nhị trong vùng Đông – Trung Âu!

H1Đất nước Hungary

Hồ Chủ tịch trong lòng các bạn Hungary

Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề xa lạ với người dân Hungary. Dẫn đầu phái đoàn Việt Nam trong chuyến thăm chính thức Hungary kéo dài 4 ngày vào mùa hè năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc trong lòng những bạn bè Hungary. Trong các hồi tưởng, nhiều ký giả, chính khách Hungary đã cảm nhận ở Bác hình ảnh của một nhà ái quốc vì dân vì nước, một vị hiền triết phương Đông với những tư tưởng thâm trầm.

Sự tôn trọng mà đất nước Hungary dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiện cảm của người dân nước này với cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam đã khiến Hungary trở thành một người bạn thân thiết với Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Hungary đã có những hỗ trợ đáng kể và quý báu cho miền Bắc, trong phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam, trong việc đào tạo nhiều thế hệ du học sinh – trong đó, có nhiều học viên quân sự – để nhiều người trong số họ trở thành các chuyên gia đầu ngành, phục vụ hiệu quả cho cuộc chiến tranh vệ quốc.

Trong những năm tháng ấy, tên của Hồ Chủ tịch đã được đặt cho Trường Cao đẳng Sư phạm ở thành phố Eger, tại nhiều vùng trên toàn quốc, những pho tượng bán thân, phù điêu mang hình Bác được đặt ở những Quảng trường, vườn hoa… Tuy nhiên, tượng đài kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Zalaegerszeg là món quà quý báu duy nhất của nhân dân Hungary đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian và thời cuộc.

Để tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của tượng đài Hồ Chí Minh cách đây hơn 3 thập niên, chúng tôi đã có dịp trao đổi với ông Hóbor József, một người bạn nhiệt thành của Việt Nam, người đã có những “hệ lụy” sâu sắc với tượng đài. Ông cho biết:

“Dạo ấy, Việt Nam rất được yêu quý ở Hungary: Một năm sau ngày thống nhất, đất nước của các bạn được coi như xứ sở được ưa chuộng nhất trong khối Xã hội chủ nghĩa. Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đồng nghĩa với tự do, ái quốc, với sự thống nhất của những lý tưởng cánh tả và xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã trở thành một khái niệm, từ đó đến giờ, và ngay cả những địch thủ của ông cũng không thể nói được gì xấu về ông”.

“Cũng trong thời gian ấy, tại Xí nghiệp May ở thành phố Zalaegerszeg (gần nơi tượng đài tọa lạc), có rất nhiều phụ nữ Việt Nam làm việc. Đây có lẽ cũng là một lý do khiến thành phố quyết định dựng tượng Bác Hồ”.

Một tác phẩm lớn từ tay một điêu khắc gia lớn

Những năm 70 thế kỷ trước, Zalaegerszeg là một trong số các thành phố phát triển năng động nhất của Hungary, đồng thời, cũng là một đô thị rất để tâm đến những giá trị văn hóa. Trong khuôn viên của thành phố, có rất nhiều pho tượng giá trị và khi nảy ra ý định dựng tượng đài Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo thành phố cũng đã “cầu viện” tới một bậc thày trong nền điêu khắc Hungary: Ông Marton László (1925-2008).

H2Ông Marton László

Được coi là một trong những điêu khắc gia vĩ đại nhất của Hungary trong mọi thời đại, từng được Giải Kossuth (phần thưởng cao quý bậc nhất cho những đóng góp xuất sắc trên bình diện văn hóa và nghệ thuật), Marton László là tác giả của chừng 150 pho tượng trên toàn quốc, trong số đó, có hơn 40 pho tượng đặt tại Budapest.

Các tác phẩm của ông được trưng bày tại Phòng Trưng bày Quốc gia Hungary và nhiều thành phố lớn trên thế giới, như Paris, London, Berlin, Vatican…, cũng như, trong những bộ sưu tập cá nhân của các nhân vật nổi tiếng như Hoàng đế Nhật Bản, hoặc Hoàng tử xứ Wales. Pho tượng đồng thi hào József Attila, đặt bên cạnh Nhà Quốc hội Hungary, hướng ra bờ sông Danube, là một kiệt tác nổi tiếng của ông.

Có thể đặt tượng đài Hồ Chí Minh trong loạt các tác phẩm khắc họa những danh nhân Hungary và quốc tế của Márton László. Thể hiện hình tượng Bác Hồ một cách dung dị, nhưng rất sắc nét và có hồn, mang dáng dấp một “Ông Ké Cao Bằng”, dẫn đường cho quần chúng lao khổ, nhà điêu khắc Hungary đã tránh được lối mòn của trường phái “hiện thực xã hội chủ nghĩa” thịnh hành thời ấy, với những nét khoa trương, lên gân không cần thiết.

Được khai trương đúng vào dịp kỷ niệm 1 năm Ngày Việt Nam thống nhất (30-4-1976), tượng đài Hồ Chí Minh đã đoạt giải của Bộ Văn hóa Hungary năm 1977 và trở thành một phần của nét văn hóa thành phố Zalaegerszeg. Sau khi Hungary thay đổi thể chế chính trị, nhiều pho tượng thời xã hội chủ nghĩa đã bị dẹp bỏ, nhưng đúng như nhận xét của ông Hóbor József, “bằng một cách nào đó, vẻ đẹp của bức tượng và hình tượng Hồ Chí Minh đã không cho phép người ta đụng vào tượng đài”.

Biểu tượng của tình hữu nghị Hungary – Việt Nam

Đối với cộng đồng Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg chỉ được biết đến một cách rộng rãi từ năm 2005 qua một dịp rất ngẫu nhiên và lý thú.

H3Tượng đài Hồ Chí Minh ở thành phố Zalaegerszeg

Trong lễ kỷ niệm 60 năm thoát khỏi ách phát-xít Đức (tổ chức tại Nhà Quốc hội Hungary), đã có sự hiện diện của Đại sứ Việt Nam Trần Hữu Tùng, cũng là một cựu du học sinh Việt Nam tại Hungary thập niên 60 thế kỷ trước. Ông Hóbor József hồi tưởng: “Bỏ qua mọi nghi lễ ngoại giao, tôi đã tiến đến trò chuyện với ngài đại sứ và cho ông biết rằng, tại nơi tôi ở, thành phố Zalaegerszeg, có một tượng đài Hồ Chí Minh rất đẹp, mời các bạn Việt Nam đến thăm và nhân cơ hội đó, có thể thắt chặt mối quan hệ giữa thành phố Zalaegerszeg và Việt Nam”.

Vài bữa sau, tại Ngày Thơ ca Hungary (12 tháng 4 hàng năm) tổ chức ở Zalaegerszeg, được biết Hồ Chủ tịch đồng thời cũng là một nhà thơ, ông Balogh Mikós, một chính khách Đảng Xã hội Hungary, khi ấy là nghị sĩ Quốc hội và thành viên Hội đồng thành phố, đã đến đặt hoa tại tượng đài và đọc một số thi phẩm của Bác. Thành phố Zalaegerszeg có một truyền thống đẹp là mỗi thành viên Hội đồng thành phố đều nhận phần gìn giữ, chăm sóc một pho tượng đặt tại thành phố, và ông Balogh Miklós – cũng là một người bạn Hungary có mối giao tình đẹp đẽ với Việt Nam – đã nhận phần chăm sóc tượng đài Hồ Chí Minh.

Nhờ sự tích cực của các ông Hóbor József và Balogh Miklós, cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hungary, tượng đài Hồ Chí Minh tại Zalaegerszeg đã trở thành một điểm đến hàng năm của các đoàn thể Việt Nam tại Hungary và trong nước.

Theo Tienphong.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Nghệ nhân đan ghế mây tặng Bác Hồ

“Suốt cuộc đời làm nghề mây tre đan, hạnh phúc lớn nhất của chúng tôi là được đan ghế tặng Bác Hồ. Hiện nay, chiếc ghế tinh xảo vẫn đang được trưng bày trang trọng ở nhà sàn của Bác”, nghệ nhân 70 tuổi Nguyễn Văn Minh tự hào về đôi tay tài hoa của mình.

Trong căn nhà cấp 4 đơn sơ nằm cuối con ngõ nhỏ của làng Ngọc Động xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên (Hà Nam), nghệ nhân Nguyễn Văn Minh, tóc đã ngả màu muối tiêu nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, đôi tay thoăn thoắt vừa đan ghế mây vừa hào hứng kể về những ngày tháng hạnh phúc nhất của cuộc đời.

nghe nhan 1
Nghệ nhân Nguyễn Văn Minh luôn tự hào
về những ngày đan ghế mây tặng Hồ Chủ tịch.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm nghề mây tre đan, từ nhỏ, ông Minh đã sớm theo nghề của gia đình. Năm 10 tuổi, ông Minh trở thành thợ lành nghề trẻ nhất của làng Ngọc Động. Năm 1957, khi vừa bước sang tuổi 16, làng Ngọc Động được tin khánh thành ngôi nhà sàn ở Phủ Chủ tịch. Suốt đêm, những nghệ nhân của làng cứ trằn trọc, thao thức không biết tặng Hồ Chủ tịch cái gì. Sau khi ý tưởng tự làm ghế mây để tặng được cả làng thông qua, toàn bộ dân Ngọc Động cùng nhau thi đua tay nghề, chọn ra tốp thợ giỏi nhất để làm bộ ghế đặc biệt. Vượt qua những nghệ nhân kì cựu, chàng trai Nguyễn Văn Minh trở thành thợ trẻ nhất trong tốp 7 người được làm ghế mây để tặng Bác.

Sau khi họp bàn, phân công người chọn mây, uốn khung, kéo sợi, sơn màu, người thợ trẻ được phân công khâu quan trọng nhất của chiếc ghế là kéo sợi mây. Trong mấy tháng, những người thợ thay nhau vào các khu rừng già ở vùng Tây Bắc và Thanh Hóa để chọn những cây mây có tuổi đời trên 20 năm, không bị cụt ngọn, không bị kiến đục, thân phủ màu vàng óng. Sau khi xử lí bằng cách ngâm dưới bùn nhão và phơi khô, cây mây được kéo thành các sợi nhỏ rồi chuốt thật bóng và dẻo.

Tiếp theo, các nghệ nhân phải đi chọn những cây gỗ quý, có tuổi đời trăm năm, không mối mọt để làm khung ghế. Trong hơn 1 tháng, những sợi mây nhỏ xíu nhưng vàng óng được đan thành một bộ ghế với những đường nét tinh xảo. Đến khâu cuối cùng, các nghệ nhân phải lên vùng Phú Thọ hái quả cây sơn để lọc mủ và đun 3 ngày 3 đêm trên lửa để làm nên một loại sơn dầu đen bóng, phủ lên khung chiếc ghế mây.

Bộ ghế salon mây 6 chiếc và một ghế chao dài 1,8 mét, rộng nửa mét, hai bên có tay vịn, khung ghế có thể lắc lư qua lại được hoàn thành trong sự ngỡ ngàng của người dân Ngọc Động. Bộ ghế hoàn thành, cả làng kéo đến xem và trầm trồ khen ngợi.

Sau đó, những người làng Ngọc Động cùng nhau mở hội, đưa chiếc ghế theo đường xe lửa đến Phủ Chủ tịch. Cuối năm 1957, Hồ Chủ tịch về ở và làm việc tại nhà sàn, chiếc ghế chao được kê ở tầng 1 dành cho Bác nghỉ ngơi sau những giờ phút làm việc căng thẳng.

“Ngày bộ ghế được đặt trong Phủ Chủ tịch, được Bác Hồ sử dụng, những người thợ Ngọc Động chúng tôi mừng đến rơi nước mắt. Tài năng của những nghệ nhân chúng tôi được Bác Hồ và Chính phủ ghi nhận, điều mà không phải làng nghề nào cũng may mắn có được”, lão nghệ nhân 70 tuổi mân mê chiếc ghế chao mây trong nhà riêng vừa tâm sự.

Cụ Minh cho biết, chiếc ghế mây cụ đang sử dụng chính là phiên bản của chiếc ghế chao trong nhà sàn Bác Hồ. Sau khi đóng xong chiếc ghế tặng Bác, nghệ nhân Minh đã đo lại tất cả các thông số và kích thước, vài năm sau, cụ Minh đã làm thêm một chiếc ghế y nguyên để làm kỉ niệm.

nghe nhan 2
Chiếc ghế mây trong nhà ông Minh được
làm theo nguyên bản chiếc ghế trong Phủ Chủ tịch.

Năm 1958, Hợp tác xã Việt Tiến của tổ hợp làng nghề Ngọc Động nhận được một món quà 50 đồng và lá thư của Hồ Chủ tịch với lời nhắn: “Bác đã nhận được quà của các chú. Bác trích tiền tiết kiệm của Bác dành dụm được tặng các chú 50 đồng làm vốn để các chú khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan ở địa phương”. Số tiền Hồ Chủ tịch tặng được dùng để mở rộng xưởng sản xuất. Từ đó, các thế hệ nghệ nhân của làng nghề Ngọc Động luôn quyết tâm phát triển nghề mây tre đan như là một hướng thoát nghèo và vươn lên làm giàu.

Hiện nay, Ngọc Động là một trong những làng nghề mây tre đan nổi tiếng cả nước, hàng triệu sản phẩm mây tre đan của làng nghề đã vươn sang các thị trường khó tính ở Châu Âu, Châu Mỹ, Tây Á…

Năm 1990, nhân kỉ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghệ nhân Nguyễn Văn Minh cùng nhóm nghệ nhân gồm Nguyễn Văn Truyền, Nguyễn Văn Bính và Nguyễn Thế Chính được mời ra Hà Nội để sửa lại bộ ghế mây trong nhà sàn. Nhìn lại bộ sản phẩm ngày xưa vẫn được đứng cạnh những món quà khác của bạn bè khắp năm châu trong ngôi nhà sàn giản dị, những người thợ làng Ngọc Động xúc động đến nao lòng. Một số sợi mây bị đứt nhanh chóng được các nghệ nhân sửa lại theo nguyên bản. Sau đợt này, ông Minh được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh.

nghe nhan 3
Tốp thợ làm ghế mây trong một lần ra thăm nhà Bác.

“Với chúng tôi, được đan ghế tặng Bác Hồ là niềm tự hào lớn nhất. Những ngày sinh nhật, ngày giỗ Bác, những người thợ Kim Động năm xưa lại bồi hồi xúc động. Bác Hồ không chỉ là vị lãnh tụ mà còn là người cha rất đỗi thân thương”, lão nghệ nhân Nguyễn Văn Minh bồi hồi tâm sự.

Nguyên Khoa
Theo 
vnexpress.net

Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Tình Bác nâng những cánh bay

Đã qua hơn nửa thế kỷ nhưng ông Nguyễn Sỹ Hưng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty Hàng không Việt Nam vẫn không quên những ngày ở Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội, đặc biệt là kỷ niệm các lần được gặp Bác Hồ kính yêu khi Người đến thăm nhà trường. Tình yêu thương và lời dạy ân cần của Bác luôn hiện hữu và đồng hành trong suốt cuộc đời người phi công, người cán bộ chủ chốt ngành hàng không Việt Nam này…

Cháu nào ho thế?

Thật tình cờ mà cũng là một may mắn khi chúng tôi được chứng kiến cuộc gặp mặt cảm động giữa hai cô trò của Trường mẫu giáo đầu tiên của quân đội. Cô Phan Thanh Hòa năm nay đã 80 tuổi, tóc bạc da mồi nhưng còn khá nhanh nhẹn và sôi nổi. Trò Nguyễn Sỹ Hưng tuổi cũng đã ngoài 60, nói chuyện vẫn thưa cô, xưng con một cách lễ phép, kính trọng. Câu chuyện của họ ngược thời gian trở về những ngày ở chiến khu Việt Bắc…

Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội ra đời từ cuối năm 1951 theo gợi ý của Bác Hồ. Trường có 100 cháu hầu hết mới 4-5 tuổi là con cán bộ cao cấp trong quân đội lúc bấy giờ. Do điều kiện chiến tranh, bố mẹ các cháu giao hẳn con cho các cô, có cháu vài năm sau mới gặp lại gia đình, có cháu không bao giờ gặp lại người thân. Trường được xây dựng với những căn nhà lá xinh xắn, núp kín đáo dưới rừng cọ ở thôn Tỉn Hóa, bản Piềng, xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Trường cách nơi ở và làm việc của Bác Hồ khoảng hơn một cây số. Người đã nhiều lần đến thăm và dành cho trường sự quan tâm đặc biệt. Cô giáo Phan Thanh Hòa và người học trò Nguyễn Sỹ Hưng nhớ nhất lần đầu tiên Bác đến vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 63 của Người.

Ngày 19-5-1953, Bác Hồ thăm Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội (cô giáo Phan Thanh Hòa phía sau bên trái Bác Hồ, Nguyễn Sỹ Hưng hàng ngồi đầu tiên ngoài cùng bên phải). Ảnh tư liệu

Buổi sáng hôm ấy cô Hòa đang cặm cụi dán những bài báo lên tường nhân ngày 19-5 theo chủ đề mừng thọ Bác thì nghe thấy tiếng nói: “Cô giáo đang dán báo tường?”. Cô quay lại và sững người khi Bác đã đứng trước mặt. Được tin Bác đến, các cháu cũng ùa ra để đón Bác và vui sướng được Bác chia kẹo, chụp ảnh, rồi cùng Bác dự buổi sinh hoạt, kể chuyện. Tiết học đó, cô Hòa xúc động được vị Chủ tịch nước “dự giờ”. Cô kể chuyện: “Những ngày còn ở Pháp, Bác Hồ rất nghèo, phải đi làm thuê lấy tiền sinh sống và hoạt động cách mạng. Mùa đông nước Pháp rất lạnh, đêm ngủ không có chăn đắp, Bác Hồ phải nướng viên gạch cho nóng rồi bọc trong giấy báo, ôm vào người cho ấm”. Nghe đến đây, Bác Hồ giơ tay rồi đứng dậy nói: “Cô Hòa cho Bác ý kiến. Cô kể như vậy là chưa đúng lắm đâu. Mùa đông nước Pháp đúng là rất lạnh, lúc ấy Bác cũng có chăn nhưng không đủ ấm nên phải nướng thêm viên gạch nóng ủ cho ấm người”.

Trước lúc ra về, Bác có nghe thấy một cháu bé ho. Người hỏi: “Cháu nào ho thế?”. Cô giáo trả lời: “Thưa Bác, cháu Bích Nga ạ!”. Hôm sau, Bác gửi sang cho trường một chai mật ong vàng óng để các cháu chữa ho.

Tình Bác nâng những cánh bay

Tháng 11-1954, Trường mẫu giáo nội trú quân đội chuyển về Hà Nội. Cũng như các bạn khác, Nguyễn Sỹ Hưng tiếp tục theo học phổ thông ở các lớp của Thủ đô. Ông kể: “Về Hà Nội tôi và nhiều bạn học cùng trường thỉnh thoảng vẫn còn được vinh dự gặp Bác Hồ. Được Người gọi vào Phủ Chủ tịch cho kẹo, xem phim… Khi chụp ảnh, chúng tôi ào đến quanh Bác, ai cũng muốn được gần Bác. Lúc ra về, Bác còn căn dặn: “Các cháu phải ngoan, học thật giỏi để lần sau Bác lại gọi đến chơi và chụp ảnh”. Trong suy nghĩ thơ bé lúc ấy, tôi đã quyết tâm học thật giỏi để còn được vào gặp Bác…”.

Thực hiện lời Bác dạy: “Phải học thật giỏi”, Nguyễn Sỹ Hưng đã liên tục phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn để trưởng thành. Có thể nói cuộc đời của anh là quá trình liên tục học và học. Năm 16 tuổi anh khám tuyển và trúng phi công, sau đó đi học ở Trung Quốc và Liên Xô 6 năm. Sau đó, anh làm giáo viên ở Trung đoàn không quân 951, Sư đoàn 371. Từ năm 1976 đến 1981 anh học ở Học viện Lê-nin. Thời gian này anh học cùng với 5.000 học viên là các cán bộ của Liên Xô và các nước XHCN. Anh tốt nghiệp thủ khoa của khóa, là một trong hai người (một của Liên Xô) nhận huy chương và được khắc tên lên bức tường danh dự của trường. Về nước, anh làm giảng viên Học viện Không quân được 4 năm thì lại tiếp tục đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Năm 1990, Nguyễn Sỹ Hưng chuyển ngành sang Tổng Công ty Hàng không Việt Nam và gắn bó với môi trường này từ đó đến nay.

Ở lĩnh vực mới, Nguyễn Sỹ Hưng và đồng nghiệp đã vượt qua nhiều trở ngại để khẳng định thương hiệu Việt Nam Airlines. Thời điểm 1991-1994, hàng không Việt Nam đứng trước nhiều thách thức. Máy bay ta đang dùng chủ yếu là của Nga so với phương Tây khá lạc hậu, vừa ồn, lại tốn nhiên liệu. Nhờ sự năng động, quyết liệt của thế hệ lãnh đạo lúc ấy và sự ủng hộ của Chính phủ, chúng ta đã tiến hành chuyển giao công nghệ thành công.

Trong hơn 10 năm làm Chủ tịch Hội đồng quản trị thì hai năm vừa qua cũng là thời điểm rất khó khăn với Nguyễn Sỹ Hưng và Việt Nam Airlines. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng lớn tới ngành hàng không các nước. Nhiều hãng hàng không lớn của các nước lao đao, thậm chí bên bờ của sự phá sản. Vậy nhưng Việt Nam Airlines vẫn đứng vững và phát triển. “Một trong những biện pháp mà chúng tôi quan tâm nhất là vấn đề tiết kiệm. Nói đến tiết kiệm là tôi nghĩ đến Bác Hồ. Hồi còn ở Việt Bắc, Bác dặn chúng tôi: “Các cháu ăn cơm phải hết, không nên để thừa trên bát. Còn hạt nào là lãng phí…”. Học Bác và vận dụng vào thực tiễn, chúng tôi đã triệt để thực hành tiết kiệm. Từ những việc cụ thể như tổ chức nắn lại các đường bay để mỗi chuyến bay tiết kiệm thời gian được vài ba phút. Ngắn ngủi vậy thôi nhưng một năm với hàng trăm ngàn chuyến bay, chúng tôi đã tiết kiệm được tới hơn chục triệu đô-la rồi”.

Theo anh Hưng, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam hiện nay đang tiếp tục được hiện đại hóa với 70 máy bay loại mới, tiên tiến, bảo đảm chất lượng và an toàn. Đến năm 2020 phấn đấu có 160 chiếc máy bay, trở thành một trong những hãng hàng không đứng ở tốp đầu khu vực và có uy tín trên thế giới.

Trong câu chuyện với chúng tôi, Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Sỹ Hưng nói nhiều về cô Phan Thanh Hòa và các bạn thuở cùng mái trường nội trú quân đội ở Việt Bắc ngày trước. Anh tâm sự:

– Trong bước đường đi lên của cuộc đời, chúng tôi luôn tự hào vì có một thời ở “vườn ươm” này, được Bác Hồ, các cô giáo quan tâm, dạy dỗ. Mọi người đều có ý thức tự lập. Nhiều người trưởng thành trở thành lãnh đạo cấp cao, tướng lĩnh trong quân đội.

Hoàng Trung
qdnd.vn

Bác sống mãi trong lý tưởng thanh niên

Thế kỷ XX đầy giông bão mà vĩ đại này đã sản sinh ra những con người vĩ đại. Có một con người mà tiểu sử giống như những trang huyền thoại lung linh ánh sáng, thu hút tình cảm ngưỡng mộ, kính yêu của hàng triệu, hàng triệu trái tim của nhân loại tiến bộ bằng cuộc sống hào hùng, hoạt động phong phú và sự nghiệp to lớn của mình. Có một con người mà với tài năng và đức độ đã trở thành một biểu tượng hoàn thiện tuyệt vời về cả sức mạnh chiến thắng lẫn lòng nhân ái mênh mông mà ngay cả kẻ thù cũng không thể không tỏ lòng khâm phục. Người đó ai cũng biết đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

BH
Ảnh Tư liệu

Nếu trong tâm lý học, lý tưởng được định nghĩa như là một mục tiêu cao cả, đẹp đẽ được phản ánh vào đầu óc con người dưới hình thức một hình tượng hoàn chỉnh, mẫu mực về một con người, một sự vật nào đó và có tác dụng lôi cuốn toàn bộ cuộc sống cá nhân vào hoạt động để vươn tới trong một thời gian lâu dài, thì Bác Hồ của chúng ta là một hình tượng như thế – một đối tượng của lý tưởng về con người.

Thật vậy, Bác Hồ đã trở thành con người lý tưởng, một mục tiêu cao đẹp lôi cuốn sự phấn đấu vươn tới của mấy thế hệ từ Cách mạng Tháng Tám đến nay những thế hệ Hồ Chí Minh.

Đặt vấn đề như trên cốt để khẳng định một điều là việc giáo dục toàn dân đặc biệt là thanh niên học tập tu dưỡng theo gương Bác được xem như một quá trình, một nội dung giáo dục xuyên suốt mọi hoạt động giáo dục, được các lực lượng giáo dục phối hợp tiến hành một cách lâu dài, có kế hoạch và phải tuân theo những quy luật nghiêm ngặt, phức tạp của khoa học tâm lý. Đó là công tác giáo dục lý tưởng về con người – con người cộng sản. Không nên và cũng không được phép xem nó đơn giản như là một khẩu hiệu kêu, một lời hô hào hấp dẫn hay một cái tên làm đẹp cho một phong trào, một đợt hoạt động đột xuất.

Lý tưởng của cá nhân là sự phản ánh hiện thực khách quan trong đầu óc con người. Nó là một hiện tượng tâm lý mà trong đó có sự hòa hợp cao độ của nhận thức sâu sắc, tình cảm mạnh mẽ và ý chí vững vàng. Thông qua quan sát, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu biết bao nhiêu con người khác nhau trong cuộc đời thực, trong lý luận sách vở và nhiều khi cả trong tiểu thuyết nữa, cá nhân rút ra những đặc điểm được coi là tốt đẹp, ưu việt để rồi tưởng tượng, khái quát nên hình tượng về con người lý tưởng của riêng mình.

Cá nhân cũng có thể xây dựng con người lý tưởng của mình từ một con người cụ thể nào đó đã hoặc đang tồn tại trong hiện thực với tất cả những đặc điểm tốt đẹp, ưu việt mà xã hội đã lý khẳng định và ngợi ca. Trong quá trình xây dựng lý tưởng, cá nhân cũng tự phân tích, đánh giá bản thân mình và cân nhắc những điều kiện khách quan, những khả năng thực hiện để điều chỉnh cho phù hợp. Quá trình hình thành lý tưởng của cá nhân bao giờ cũng là một quá trình nhận thức căng thẳng, một quá trình suy tư trăn trở, nhiều khi còn dẫn tới sự khủng hoảng tinh thần.

Nói tới tính chất cao cả, đẹp đẽ của lý tưởng cũng như sự hoàn chỉnh, mẫu mực của hình tượng được cá nhân và coi là lý tưởng cũng là nói tới yếu tố tình cảm trong lý tưởng. Lý tưởng của cá nhân bao giờ cũng là một mục tiêu luôn luôn vẫy gọi ở phía trước, đòi hỏi cá nhân sự nỗ lực vươn cao hơn bản thân mình, luôn luôn là một cái gì thuộc về một tương lai đầy hứa hẹn và chắc chắn là tốt đẹp hơn cái đang có trong hiện tại. Trong quá trình xây dựng lý tưởng, cùng với tư duy, tưởng tượng, cá nhân lại tô điểm thêm cho hình tượng tưởng của mình những sắc mầu tươi thắm xuất phát từ những tình cảm yêu mến thiết tha, những ước mơ ấp ủ, những hy vọng sâu xa. Khi đã xác định được lý tưởng của mình, cá nhân thấy cuộc sống đầy ý nghĩa, thấy tương lai hiện ra sáng rạng và dâng lên trong lòng một niềm lạc quan phấn khởi.

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim”

                                (Tố Hữu)

Chính là tâm trạng của một con người đã tìm thấy lý tưởng của đời mình. Nhận thức sâu sắc, tình cảm mạnh mẽ là hai yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng lý tưởng. Tuy nhiên, lý tưởng chỉ có thể trở nên đích thực mà không dừng lại ở mơ ước suông, hy vọng hão huyền và thực sự có ý nghĩa đối với đời sống và sự phát triển của cá nhân cũng như của xã hội khi nhận thức sâu sắc ấy, tình cảm mạnh mẽ ấy thúc đẩy con người hoạt động để vươn tới nó. Hoạt động chính là khâu quyết định để biến lý tưởng từ cái được phản ánh trong đầu óc con người thành cái đạt được trong hiện thực. Cũng chính trong quá trình hoạt động cá nhân thể hiện được bản thân mình tự điều chỉnh, tự cải tạo và để rồi tự sản sinh ra chính bản thân mình như C.Mác đã nói. Trong quá trình này, nhận thức về đối tượng của lý tưởng ngày càng sáng tỏ và trở nên chính xác, tình cảm ngày càng ổn định và được củng cố.

Cũng trong quá trình hoạt động để thực hiện lý tưởng, cá nhân tất yếu gặp phải những khó khăn trở ngại. Càng tiến gần tới mục tiêu, khó khăn càng nhiều, càng lớn. Ý chí luôn luôn được thử thách và ngày càng trở nên vững vàng. Lý tưởng càng lớn ý chí càng phải cao, như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng tâm niệm và chứng tỏ:

“Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần ắt phải cao”

(Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù)

Quan niệm việc giáo dục các đối tượng noi gương Bác Hồ như là một quá trình giáo dục lý tưởng và tìm hiểu các yếu tố tâm lý tạo nên lý tưởng như trên là để từ đó đề ra được những biện pháp giáo dục sinh động, phù hợp với quy luật, đạt được hiệu quả cao, xứng với tầm vĩ đại của Bác. Đó là một quá trình tác động tổng hợp và đồng thời lên đối tượng về cả ba mặt: nhận thức, tình cảm và ý chí hành động. Quá trình tác động ấy cũng còn phải tính đến cả những đặc điểm tâm lý của đối tượng nữa.

Riêng với thanh niên, lứa tuổi cần được giáo dục lý tưởng và cũng có nhu cầu xác định lý tưởng, nhà trường, Đoàn thanh niên, các lực lượng giáo dục khác cần phải quan tâm hơn nữa.

Là lứa tuổi đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, thanh niên luôn luôn có một nhu cầu bức thiết là xác định hướng đi cả cuộc đời mình, tìm hướng phát triển của bản thân trong tương lai. Có một trình độ văn hóa và phát triển trí tuệ nhất định, họ thường xây dựng lý tưởng để đeo đuổi, xác định mục tiêu để vươn tới, bằng lý trí, thông qua sự tìm hiểu thực tiễn cũng như thông qua sách vở.

Về mặt này, thanh niên ngày nay có cái may mắn là được sinh ra trong chế độ mới, lớn lên trong một hiện thực cách mạng lớn lao và sôi động được soi mình vào bao tấm gương sáng chói của biết bao anh hùng, chiến sĩ mà ngay từ buổi thanh xuân của cuộc đời đã hết lòng vì nền độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, tạo nên những hình tượng cao quý, đẹp đẽ, thu hút sự khâm phục, chiêm ngưỡng và noi theo của tất cả mọi người. Tấm gương sáng chói nhất, cao đẹp nhất là Bác Hồ của chúng ta. Họ cũng có cái may mắn là được hưởng sự giáo dục của nhà trường, của Đoàn, của Đảng một cách có hệ thống liên tục từ thuở còn ấu thơ. Tuyệt đại đa số trong họ nhận thức được những yêu cầu của xã hội đối với thanh niên và hiểu được ý nghĩa của những yêu cầu ấy đối với sự phát triển của xã hội cũng như bản thân. Nhận thức đó đã cảm giúp họ sớm định hướng được con đường họ phải đi, cái đích họ phải tới, con người họ phải trở thành… tránh được những trăn trở của suy tư, những dằn vặt bế tắc mà nhiều thế hệ cách mạng đã phải trải qua. Bác Hồ cũng đã nhận xét về điểm này trong Đại hội đại biểu toàn quốc “Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam” họp ngày 15/6/1956: “Nếu so với thanh niên lớp trước, trong đó có cả Bác, thì thanh niên ngày nay tiến bộ hơn, sung sướng hơn nhiều. Đó cũng là thành tích đáng tự hào của công tác giáo dục thanh niên”.

Tuy nhiên, để giáo dục thanh niên noi gương Bác, cần phải làm cho thanh niên hiểu sâu hơn nữa về Bác. Nhà trường, Đoàn Thanh niên cũng như sách báo, phát thanh, truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng khác nay phải có kế hoạch giới thiệu một cách có hệ thống, sinh động cuộc đời hoạt động và những cống hiến to lớn của Bác đối với Đảng với dân tộc để họ hiểu rằng Bác đã chiến đấu hy sinh như thế nào để trở thành một con người tuyệt vời như thế. Phải làm sao để đối với họ – những người được sinh ra khi Bác đã đi xa Người vẫn như còn sống mãi với đời, vẫn là người dẫn dắt họ trong mỗi bước đi, chỉ bảo họ trong mỗi việc làm, khích lệ họ vượt qua những thử thách gian nan. Những người lớn tuổi cũng phải làm sao cho thanh niên thấy được ở mỗi người một phần nhỏ nhoi nào đó thừa kế được ở Bác, chứng tỏ rằng người lớn tuổi giáo dục thanh niên như thế nào thì họ cũng đã sống như thế.

Tuy nhiên, như trên đã trình bày, lý tưởng không dừng lại ở mức độ nhận thức sâu sắc được mục tiêu, xây dựng được một hình tượng lý tưởng, cũng không dừng lại ở chỗ khâm phục, chiêm ngưỡng hay tôn sùng hình tượng ấy mà phải là một quá trình hoạt động tích cực, kiên trì để từng bước, từng bước thực hiện được lý tưởng. Nhận thức sâu sắc là để hành động cho đúng, tình cảm mạnh mẽ cũng là để thúc đẩy hành động cho tích cực. Bởi thế, tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho đối tượng là một khâu được coi là chủ yếu trong toàn bộ công tác giáo dục lý tưởng cũng như công tác giáo dục nói chung.

Chỉ tác động vào nhận thức và tình cảm không thôi là “đánh trống bỏ dùi” không thể đạt đến kết quả cuối cùng của công việc. Lênin cũng đã từng phê phán kịch liệt lối giáo đục chỉ lý thuyết suông rằng: “giáo dục thanh niên cộng sản không phải là nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay là những phép tắc đạo đức. Không phải cái đó là giáo dục”.

Người chỉ ra rằng muốn giáo dục cộng sản cho thanh niên phải gắn liền việc học tập, rèn luyện của họ với cuộc đấu tranh chung của xã hội. Người nói: “Đoàn Thanh niên cộng sản chỉ xứng đáng với danh hiệu của nó là đoàn thể của thế hệ cộng sản trẻ tuổi, nếu biết gắn từng bước học tập, giáo dục và rèn luyện của mình với việc tham gia cuộc đấu tranh chung của những người lao động chống lại bọn bóc lột”.

Cũng với quan điểm ấy, Bác Hồ đã dạy: “Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội”.

Tuổi trẻ là tuổi giàu mơ ước, đầy khát vọng vươn lên và luôn luôn muốn tự khẳng định mình. Đồng thời tuổi trẻ cũng là tuổi tràn trề sinh lực, có nhu cầu hoạt động cao, coi thường khó khăn gian khổ, đúng như lời Bác đã đánh giá trong di chúc của Người: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Giáo dục lý tưởng cho thanh niên, phải biết giúp đỡ họ nuôi dưỡng những ước mơ đẹp đẽ, đáp ứng những khát vọng chính đáng của họ bằng cách tạo nên những môi trường hoạt động phong phú, tập hợp họ lại trong một tổ chức chặt chẽ, đặt mỗi người vào một vị trí nhất định trong sự nghiệp cách mạng chung của toàn xã hội, tạo những điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để họ có thể đứng vững trên vị trí ấy mà xây dựng, củng cố và thực hiện lý tưởng.

Không có một môi trường để hoạt động, không có một chỗ đứng trong guồng máy học tập, sản xuất hay chiến đấu của xã hội thì không thể nói đến thực hiện lý tưởng, không thể nói đến noi gương Bác Hồ được. Trong cuộc đấu tranh cách mạng trước đây, trong các cuộc kháng chiến chống giặc giữ nước vừa qua, chúng ta đã chẳng từng có biết bao nhiêu thanh niên đã sống xứng đáng với tấm gương của Bác, với lý tưởng của mình đó sao?

Không nắm lấy thanh niên, không tạo được môi trường hoạt động cho thanh niên, không thu hút được thanh niên vào những hoạt động bổ ích, có tổ chức, có lãnh đạo không những không khai thác được nguồn sinh lực dồi dào của đất nước, không giúp được họ phát triển con người một cách đúng đắn mà còn dẫn đến những vấn đề xã hội hết sức phức tạp…

Chắc ai cũng phải lấy làm buồn khi thấy còn nhiều thanh niên chưa có việc làm, còn nhiều thanh niên đang sống không xứng đáng với tuổi trẻ đẹp đẽ của họ và thật là đau lòng khi thấy tình hình thanh niên sa vào các tệ nạn xã hội và phạm pháp đang gia tăng cả về số lượng và mức độ.

Có biết bao người trong số họ cách đây không bao nhiêu lâu đã từng là những cậu học sinh phơi phới yêu đời, là những đoàn viên Đoàn Thanh niên mang tên Bác, là những anh bộ đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Tất cả đã từng có nguyện vọng, có mơ ước trở nên người hữu ích. Những nhà giáo dục không thể không suy nghĩ, những người có trách nhiệm quản lý xã hội không thể không tự hỏi mình đã làm gì để giúp thế hệ trẻ có việc làm, có những điều kiện cần thiết để họ có thể phấn đấu cho lý tưởng mà hàng ngày mình khuyên dạy, giáo dục.

Tóm lại, giáo dục thanh niên học tập gương Bác Hồ là một quá trình giáo dục lý tưởng – lý tưởng về một con người. Đó là một quá trình rèn luyện gian khổ của bản thân thanh niên. Đó là một quá trình giáo dục lâu dài phức tạp và có những quy luật của nó, đòi hỏi những nhà giáo dục phải hiểu biết để vận dụng cho đúng, cho tốt. Đó là một sự nghiệp to lớn của cách mạng cần phải quan tâm đặc biệt và cần phải đầu tư thích đáng.

Theo Tinhdoannghean.vn
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch y án tử hình Trần Dụ Châu

Mùa thu năm 1950, trong khi bộ đội, dân công đang dồn dập hành quân lên Cao Bằng mở chiến dịch Lê Hồng Phong giải phóng vùng biên giới Việt Trung, thì ngày 05/9/1950 ở thị xã Thái Nguyên – Thủ đô kháng chiến, Tòa án binh tối cao đã mở phiên tòa đặc biệt, xét xử vụ án đặc biệt. Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế Chánh án cùng 02 Hội thẩm viên là ông Phạm Ngọc Hải, Giám đốc Tư pháp Liên khu Việt Bắc và ông Trần Tấn, Cục phó Cục Quân nhu, Thiếu tướng Trần Tử Bình ngồi ghế Công cáo ủy viên (Viện Kiểm sát bây giờ) và nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, chính quyền, quân đội, nhân dân địa phương đến dự.

Có 03 bị cáo hầu tòa là nguyên Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu và đồng bọn can tội: “Biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến” bị đưa ra trước vành móng ngựa.

Vụ án được phát hiện từ bức thư của nhà thơ Đoàn Phú Tứ, đại biểu Quốc hội khóa 1 gửi lên Hồ Chủ Tịch. Nội dung bức thư như sau: “Gần đây, Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu đã gây nhiều dư luận bất bình trong anh em quân đội, Châu đã dùng quyền lực “ban phát” ăn mặc, nên Châu đã giở trò ăn cắp (công quỹ), cứ mỗi cái màn cấp cho bộ đội Châu ăn bớt 2 tấc vải xô, nên cứ ngồi lên là đầu chạm đình màn. Còn áo trấn thủ, Châu ăn cắp bông lót rồi độn bao tải vào, nhiều người biết đấy nhưng không dám ho he.

Cháu (nhà thơ Đoàn Phú Tứ) và 1 Đoàn nhà văn đi thăm bộ đội vừa đi chiến đấu trở về, cháu đã khóc nấc lên khi thấy thương binh thiếu thuốc men, bông băng, hầu như hết chiến sỹ đều rách rưới, võ vàng (vì) đói rét, chỉ còn mắt với răng mà mùa đông rét buốt ở chiến khu lạnh lắm, lạnh tới mức nước đóng băng. Cháu được Trần Dụ Châu mời dự tiệc cưới của cán bộ dưới quyền tổ chức ngay ở chiến khu (nhiều tờ báo viết ở phố Thanh Cù, xã Chấn Hưng, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, nơi đồng bào Thủ đô tản cư lên buôn bán khá sầm uất).

Trên những dãy bàn dài tít tắp (bày tiệc cưới) xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, giò chả, nấm hương, thịt bò thui, rượu tây, cốc thủy tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng, hoa Ngọc Hà dưới Hà Nội cũng kịp đưa lên, ban nhạc “Cảnh Thân” được mời từ Khu Ba lên tấu nhạc réo rắt, Trần Dụ Châu mặc quân phục Đại tá cưỡi ngựa hồng, súng lục “côn bát” đến dự.

Trần Dụ Châu ngạo mạn, mời nhà thơ (tức Đoàn Phú Tứ) đọc thơ mừng hôn lễ. Với lòng tự trọng của mình (đương kim là đại biểu Quốc hội) nhà thơ đã thẳng thắn, dũng cảm xuất khẩu thành thơ:

“Bữa tiệc cưới của chúng ta sắp chén đẫy hôm nay,

Được dọn bằng xương máu của các chiến sỹ.”

(Sau khi nhà thơ vừa dứt lời, một vệ sĩ của Châu đã tát vào mặt nhà thơ, quát to: “Nói láo” – Báo Công lý ngày 9/10/2009). Nhà thơ bỏ ra ngoài – và viết thư tố cáo lên Bác Hồ.

Hồ Chủ Tịch đã trao bức thư của nhà thơ cho Thiếu tướng Trần Tử Bình đang là Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Người nói: “Đây là bức thư của một nhà thơ gửi cho Bác, Bác đã đọc kỹ lá thư và rất đau lòng”, rồi Bác giao cho Thiếu tướng chỉ đạo điều tra làm rõ vụ việc để xử lý.

Công tác thanh tra vụ tiêu cực ở Cục Quân nhu được tiến hành khẩn trương, thu thập đủ tài liệu chứng cứ từ Khu Bốn trở ra, Khu Ba gửi lên – Trần Dụ Châu hiện nguyên hình là một tên gian hùng, trác táng, phản bội lại lòng tin của Đảng, của Bác, quân đội và nhân dân.

Trước sự thật đau lòng này, Bác Hồ dứt khoát nói: “Một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ, không để nó lây lan, nguy hiểm”.

Trần Dụ Châu đã bị Tòa án binh tối cao phạt án “tử hình”, đồng thời bị tước quân hàm Đại tá theo công lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, 02 đồng bọn của Châu, mỗi tên bị phạt án tù 10 năm.

Tử tù Trần Dụ Châu gửi đơn lên Hồ Chủ tịch xin tha tội chết. Ngày làm việc với đồng chí Trần Đăng Ninh, Tổng Cục trưởng Tổng cục Cung cấp, xét lá đơn của tử tù, Bác chỉ cho đồng chí Ninh thấy một cây xoan đang héo lá, úa ngọn và hỏi lý do tại sao cây xoan sắp chết?

– Dạ, thưa Bác vì thân cây đã bị sâu đục một lỗ rất to, chảy hết nhựa…

– Thế theo chú muốn cứu cây ta phải làm gì?

– Dạ, thưa Bác phải bắt, giết hết những con sâu đó đi.

Bác gật đầu, nói “Chú nói đúng, với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng thế, nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo”.

Hồ Chủ tịch đã bác đơn xin tha tội chết của Trần Dụ Châu.

Báo Cứu quốc ngày 27/5/1950 đã đăng bài xã luận viết về vụ này một cách công khai để nhân dân biết, vụ án đã cho Chính phủ, Đoàn thể (Đảng) nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng, giáo dục và kiểm soát cán bộ để phục vụ tốt cho kháng chiến, kiến quốc… mặc dù có người e ngại, vì nếu công khai vụ án này sẽ làm cho dân chúng chê trách, kẻ địch lợi dụng để phản tuyên truyền, lợi ít, hại nhiều…(?).

Đoàn thể (Đảng), Nhà nước, Bác Hồ nghiêm khắc xử lý vụ án Trần Dụ Châu hơn nửa thế kỷ trước đây vẫn là bài học quý cho việc chống tham nhũng, lãng phí hiện nay, coi đây là việc làm nhân đạo để củng cố niềm tin của quần chúng.

Hội khoa học lịch sử Sơn La
Theo vksbacninh.gov.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Đại hội Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội báo công dâng Bác

Sáng ngaày 05/10/2012, giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Anh linh của Bác kính yêu, Đoàn đại biểu Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội lần thứ VII gồm 160 đại biểu ưu tú đại diện cho hơn 5 nghìn cán bộ đoàn viên thanh niên, báo cáo lên Bác những thành tích đã đạt được trong 5 năm qua (2008-2012).

Ngan hang quan doiĐoàn đại biểu Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội vào Lăng viếng Bác

Trong giờ phút thiêng liêng của buổi lễ, tuổi trẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Bác, người đã hết lòng chăm sóc, giáo dục, rèn luyện các thế hệ thanh niên Việt Nam. Ghi sâu lời Bác dạy: “Một năm bắt đầu từ mùa xuân, đời người bắt đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội, thanh niên là rường cột của nước nh à”. Tuổi trẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội trong những năm qua không ngừng ra sức thi đua, cố gắng phấn đấu miệt mài trong lao động, học tập, nghiên cứu đưa Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội trở thành một trong những ngân hàng cổ phần hàng đầu của Việt Nam và hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Trong 5 năm qua, tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội có sự phát triển lớn mạnh. Từ 18 Chi đoàn trực thuộc với 1823 đoàn viên thanh niên năm 2008, đến nay, tổ chức đoàn của Ngân hàng đã có 40 Chi đoàn cơ sở, 4 Đoàn cơ sở, 51 Chi đoàn trực thuộc, với 5.494 đoàn viên sinh hoạt rộng khắp trên toàn quốc. Đa số thanh niên có nguyện vọng phấn đấu trở thành đảng viên, mong muốn được phục vụ quân đội lâu dài, có hoài bão, có kỷ luật, có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nhận thức đúng về mục tiêu con đường đi lên CNXH, tin tưởng vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng.

Tuổi trẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã xung kích vào những việc khó trong xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển mạng lưới, mở rộng kinh doanh, xung phong đi công tác tại các thị trường nước ngoài. Phong trào “tuổi trẻ sáng tạo” và hoạt động sáng kiến ý tưởng đã trở thành phong trào có sức lan toả sâu rộng trong cán bộ, đoàn viên thanh niên. 5 năm qua, đã có 3000 ý tưởng, hơn 500 sáng kiến với hơn 3200 lượt cán bộ, đoàn viên tham gia, mang lại giá trị kinh tế cao. Với những thành tích, kết quả nêu trên, 60 tổ chức đoàn và 368 đoàn viên của Ngân hàng đã được khen thưởng, trong đó có nhiều tập thể, cá nhân được khen thưởng cấp Tổng cục Chính trị và Trung ương Đoàn.

Đoàn đại biểu Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội, hứa với Bác sẽ quyết tâm rèn luyện,tu dưỡng, học tập lao động hăng say, đóng góp sức trẻ thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh, phát triển bền vững; xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

Sau lễ báo công dâng Bác, tuổi trẻ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội thành kính đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Thư ngỏ gửi ông Anbe Xarô, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa (25-7-1922)

Thưa ngài,

Chúng tôi hoàn toàn hiểu rõ rằng, đối với dân bản xứ ở thuộc địa nói chung và đối với dân An Nam nói riêng, lòng thương yêu của Ngài thật là bao la rộng rãi.

Dưới quyền cai trị của Ngài, dân An Nam đã được hưởng phồn vinh thật sự và hạnh phúc thật sự, hạnh phúc được thấy nhan nhản khắp trong nước, những ty rượu và ty thuốc phiện, những thứ đó song song với những sự bắn giết hàng loạt, nhà tù, nền dân chủ và tất cả bộ máy tinh vi của nền vǎn minh hiện đại, đã làm cho người An Nam tiến bộ nhất châu á và sung sướng nhất trần đời.

Hành động nhân ái ấy đủ để chúng tôi không cần nhắc lại tất cả những hành động khác như: bắt lính và bắt mua công trái, đàn áp đẫm máu, truất ngôi và đầy biệt xứ một ông vua, xâm phạm và làm ô uế những nơi linh thiêng, v.v..

Thật đúng như câu thơ chữ Hán đã tả: Gió âu yếm thổi chiều quạt phẩy, mưa nghĩa nhân đón vết xe lǎn (26) . Được nắm quyền tối cao cai quản các thuộc địa, danh vọng của Ngài càng cao bao nhiêu thì sự quan tâm đặc biệt của Ngài đối với những người Đông Dương càng tǎng lên bấy nhiêu. Ngài đã cho thiết lập ngay ở Pari một cơ quan đặc trách để theo dõi những người bản xứ cư trú trên đất Pháp, đặc biệt là theo dõi những người Đông Dương, như một tờ báo thuộc địa đã nói rõ.

Nhưng chỉ “theo dõi” không thôi thì thấy hình như chưa xứng với tấm lòng thương yêu của Ngài như bậc cha mẹ, nên Ngài còn muốn gia ơn hơn nữa. Vì vậy mà gần đây, Ngài đã ban cho mỗi người An Nam – người An Nam yêu quý, như ngài thường nói – nhiều người “hầu cận” đặc biệt. Tuy những người này còn ấu trĩ trong nghệ thuật của Séclốc Hôm (1) , nhưng họ cũng đã tỏ ra rất tận tụy và rất đáng yêu. Chúng tôi chỉ còn biết khen ngợi họ và ca tụng người cầm đầu họ là Ngài.

Chúng tôi thành thật lấy làm cảm động được Ngài dành cho vinh dự đó, và chúng tôi có lẽ sẽ tiếp nhận vinh dự đó với tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, nếu vinh dự ấy đối với chúng tôi xét ra không phải là có hơi thừa, và không gây ra những sự ghen tị và suy bì.

Trong lúc Nghị viện đang tìm cách tiết kiệm chi tiêu, hạn chế số nhân viên các cơ quan hành chính; trong lúc ngân sách bị thâm hụt nhiều, nông nghiệp và công nghiệp thiếu nhân công; trong lúc phải hạn chế tiền lương của người lao động và trong lúc việc phục hồi dân số đòi hỏi phải sử dụng mọi nǎng lực vào việc sản xuất, – trong lúc như thế, chúng tôi lại cứ tiếp nhận những đặc ân riêng cho cá nhân mình, gây ra lãng phí sức lực của những người công dân bị đày vào cảnh vô công rồi nghề như những người “hầu cận” nói trên, và gây ra sự tiêu phí tiền bạc mà giai cấp vô sản đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mới kiếm ra được, – thì quả là không yêu nước tý nào.

Vì vậy, tuy rằng vẫn là kẻ đội ơn Ngài, chúng tôi cũng trân trọng xin Ngài miễn cho cái đặc ân ấy, đối với chúng tôi thì nó quý hoá thật, nhưng đối với nước nhà thì lại là quá lãng phí.

Nếu Ngài nhất thiết cần biết hằng ngày chúng tôi làm gì thì rất dễ thôi: cứ mỗi buổi sáng chúng tôi sẽ phát hành một bản tin về sự đi lại của chúng tôi và Ngài chỉ việc đọc là biết.

Vả lại, thời khoá biểu của chúng tôi rất giản đơn và hầu như cố định.

Sáng: Từ 8 đến 12 giờ ở xưởng máy.

Chiều: ở phòng báo chí (dĩ nhiên là báo của phái tả), hoặc ở thư viện.

Tối: ở nhà riêng, hoặc dự những buổi nói chuyện bổ ích.

Chủ nhật và ngày lễ: Thǎm nhà bảo tàng hay những nơi bổ ích khác.

Chỉ có thế thôi!

Hy vọng rằng cách này vừa tiện, vừa hợp lý có thể làm Ngài hài lòng được, chúng tôi xin kính gửi Ngài, v.v..

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 25-7-1922.
cpv.org.vn

Khai hoá giết người (1-8-1922)

Cũng trên mục diễn đàn này, gần đây chúng tôi đã nêu lên một loạt những vụ giết người mà thủ phạm là những kẻ đi “khai hóa” của chúng ta, nhưng vẫn không bị trừng phạt. Than ôi! quyển sổ đoạn trường ấy cứ mỗi ngày một dài thêm, thật là đau xót.

Lại mới đây thôi, một người An Nam, trạc 50 tuổi, làm công cho sở xe lửa Nam Kỳ đã 25 năm nay, bị một viên chức người da trắng giết. Sự việc như sau:

Anh Lê Văn Tài điều khiển bốn người An Nam khác làm việc dưới quyền mình. Phận sự của họ là đóng cầu mỗi khi có xe lửa đi qua và mở cầu cho tầu bè qua lại. Theo lệnh đã quy định thì phải đóng cầu 10 phút trước khi xe lửa đi qua.

Ngày 2 tháng 4, hồi 16 giờ 30, một người trong bọn họ mới đóng cầu và hạ tín hiệu xuống, vừa lúc một chiếc thuyền máy công đi đến, trên thuyền chở một viên chức xưởng đóng tàu của hải quân đi săn về. Chiếc thuyền máy kéo còi lên. Nhân viên người bản xứ liền ra đứng giữa cầu, phất cờ đỏ báo cho những người trên thuyền máy biết rằng xe lửa sắp chạy qua và do đó cầu đã đóng rồi. Và sau đây là câu chuyện đã xảy ra: Chiếc thuyền máy ghé sát vào trụ cầu. Người viên chức Pháp liền nhảy lên bờ và hầm hầm tiến về phía người An Nam. Anh này khôn ngoan, chạy trốn về phía nhà ông Tài là “xếp” của mình. Người viên chức kia đuổi theo, lấy đá ném anh ta. Nghe có tiếng ồn ào, Tài liền chạy ra đón vị đại diện của nền văn minh, viên này mắng ngay: “Đồ súc vật, tại sao mày

không mở ra ?”. Vốn không biết tiếng Pháp, Tài chỉ còn biết trả lời bằng cách trỏ vào cái tín hiệu đỏ. Cử chỉ đơn giản ấy làm cho ông cộng tác viên của Ngài Lông nổi xung lên. Không phân phải trái gì, ông ta nhảy xổ vào Tài và sau khi đã “khiền” cho một trận, còn đẩy anh vào một đống than hồng ở gần đó.

Người An Nam gác cầu ấy bị bỏng một cách rùng rợn, được chở đến nhà thương, và sau sáu hôm cực kỳ đau đớn anh đã chết tại nhà thương.

Người viên chức kia vẫn được vô sự không có gì phải lo lắng cả. Trong lúc ở Mácxây, người ta triển lãm cảnh phồn thịnh giả tạo (27) của xứ Đông Dương thì ở An Nam đang có những người bị chết đói. ở bên này, người ta ca tụng lòng trung thành, còn ở bên kia, người ta đang giết người! Như vậy nghĩa là thế nào hỡi Đấng chí tôn Khải Định và Cụ lớn Xarô ?

NGUYỄN A.Q.

T.B.- Trong khi tính mệnh của một người An Nam bị xem như thân con chó, không đáng giá một đồng trinh, thì Ngài Tổng thanh tra Rêna, bị sướt có một chút da ở cánh tay mà được lĩnh 120.000 phrăng tiền bồi thường. Ôi, bình đẳng! Bình đẳng quý hoá thay!

Báo Le Paria, số 5, ngày 1-8-1922.
cpv.org.vn

—————————

(27) Hội chợ triển lãm thuộc địa Mácxây: Nǎm 1922, tại thành phố Mácxây (miền Nam nước Pháp), Chính phủ Pháp mở Hội chợ triển lãm thuộc địa, trưng bày các sản vật mang từ các thuộc địa của Pháp sang, để nói lên sự giàu có của thuộc địa và công lao khai hoá của người Pháp, đồng thời kêu gọi tư bản Pháp bỏ vốn kinh doanh và khai thác ở các thuộc địa. Tr.95.

Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp (1-8-1922)

Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ, lại càng bỉ ổi hơn nữa.

Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi ta thấy rằng vǎn minh dưới nhiều hình thức khác nhau, như tự do, công lý, v.v. – được tượng trưng bằng hình ảnh một người đàn bà dịu hiền và được một hạng người nổi tiếng là hào hoa phong nhã ra sức điểm tô – lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người đàn bà bằng xương bằng thịt và xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hoá, trinh tiết và đời sống của họ.

Thói dâm bạo ở thuộc địa là một hiện tượng phổ biến và tàn ác không thể nào tưởng tượng được. ở đây chúng tôi chỉ tạm nêu ra một vài sự việc mà những người vô tư đã chứng kiến và kể lại những điều tai nghe mắt thấy, để chị em phụ nữ phương Tây hiểu rõ giá trị của cái gọi là “sứ mạng khai hoá” mà bọn tư bản đã giành lấy độc quyền thi hành, đồng thời hiểu rõ nỗi đau khổ của chị em phụ nữ ở thuộc địa.

Một người ở thuộc địa kể lại rằng: “Khi bọn lính kéo đến, dân chúng chạy trốn cả, chỉ còn lại hai cụ già và hai phụ nữ, một thiếu nữ còn tân và một phụ nữ đang cho đứa con mới đẻ bú, tay dắt một em gái nhỏ lên tám. Bọn lính đòi tiền, rượu mạnh và thuốc phiện.

Không ai hiểu chúng nói gì, thế là chúng nổi giận lấy báng súng nện một cụ già ngất đi, rồi còn một cụ thì trong mấy giờ liền, hai tên trong bọn lính, khi kéo đến đã say bí tỉ, đem thiêu trong một đống củi cành khô làm trò vui với nhau. Trong khi đó, thì những tên khác hiếp hai phụ nữ và em gái nhỏ, chán rồi, chúng giết chết em bé. Lúc đó, người mẹ bồng đứa con kia trốn được, rồi từ trong một cái bụi cây cách đấy độ 100 mét, trông thấy người chị em mình đang bị hành hạ. Duyên cớ làm sao, chị chẳng biết, chị chỉ thấy người thiếu nữ bị đặt ngửa trên mặt đất, tay chân bị trói chặt, miệng bị bịt lại, còn một tên lính thì lấy lưỡi lê cứ từ từ, từng nhát một, chọc vào bụng chị, rồi lại chầm chậm rút ra. Sau đó, chúng chặt ngón tay người thiếu nữ đã chết để cướp lấy chiếc nhẫn và chặt cổ để cướp lấy chiếc vòng.

“Trên mảnh đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: em bé bị lột truồng, thiếu nữ bị mổ bụng, cánh tay trái cứng đờ giơ lên trời vô tình, bàn tay nắm chặt. Còn xác ông cụ già thì ghê gớm làm sao, cũng trần truồng như thế, nhưng vì bị thiêu cháy nên không nhận ra hình thù được nữa, mỡ chảy lênh láng đã đọng lại và da bụng thì bị phồng lên, chín vàng, óng ánh như da con lợn quay vậy”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 5, ngày 1-8-1922.
cpv.org.vn

“Sở thích đặc biệt” (1-8-1922)

Từ khi đến Pari, Khải Định, Hoàng đế nước An Nam đã thành mục tiêu bao vây theo như thường lệ của một số bà buôn son bán phấn. Họ đã dâng lên Ngài Ngự nhiều bức thư nồng nàn tình tứ và nhiều tấm ảnh khêu gợi. Nhưng Khải Định vốn là bậc hiền triết, Ngài Ngự bèn truyền đem tất cả thư và ảnh ấy vứt vào sọt rác, và ai hỏi, Ngài Ngự cũng đều từ chối không trả lời gì hết.

Ông Anbe Xarô đã trả lời một mỹ nhân hỏi về việc đó như sau:

– Ấy, Hoàng thượng Ngài có những sở thích rất đặc biệt.

Bà này rất đỗi ngạc nhiên và muốn hỏi cặn kẽ thêm, nhưng ông Bộ trưởng Bộ Thuộc địa đã đánh trống lảng:

– Hoàng thượng Ngài chỉ thích đọc sách thôi.

Bà ta lại hỏi:

– Thế hiện giờ Hoàng thượng đang đọc gì?

Ông Anbe Xarô trả lời:

– Platông.

(Nghe Lỏm)

Bảo rằng Hoàng đế Khải Định là bậc hiền triết, điều đó ta không nghi ngờ gì cả. Nhưng hiền triết thì cũng không phải là không cần lễ độ, và chúng tôi mạn phép kính tâu Hoàng thượng rằng cử chỉ của Ngài dù uy nghi đến đâu chăng nữa nhưng vẫn hoàn toàn thiếu lịch sự. Riêng chỉ nghĩ rằng những bà lịch sự kia, vì ham chuộng những cái của vua chúa mà bị khinh miệt một cách phũ phàng như thế ắt không khỏi sẽ trút tất cả mối căm thù ghê gớm của các bà vào những đề tài về Hoàng thượng, là người ta cũng đủ run lên rồi. Quan lớn Bộ trưởng vốn có tài ăn nói. Ông lại rất am hiểu chữ nghĩa của nước ông. Vậy mà câu ông trả lời mỹ nhân lại rất mập mờ. Ông dùng chữ “sở thích đặc biệt”, thật ra là muốn nói gì nhỉ? Có phải ngẫu nhiên mà, mặc dầu vừa mới chân ướt chân ráo tới cái thành phố ánh sáng này, Đức Hoàng thượng rất ư thông thái và đầy tâm hồn nghệ sĩ đã làm quen được ngay với một nghệ sĩ nổi tiếng và một thi sĩ lừng danh rồi chăng? Đặt câu hỏi như thế, chính là đã trả lời rồi đó. Sau khi mỹ nhân muốn hỏi cặn kẽ thêm, và sau khi quan lớn Bộ trưởng đánh trống lảng, thì cái câu nói mập mờ rất hùng biện kia vẫn còn tiếp tục thêm rằng: tuy trong chữ Théétète (1) có chữ Thé (như Víchto Huygô từng nói), chúng ta vẫn không tin rằng Hoàng thượng lại hạ cố đến những tác phẩm của người thầy học của Arixtốt, vì Hoàng thượng vẫn luôn luôn phải có người thông ngôn mới hiểu được tiếng Pháp (và cả tiếng Hy Lạp nữa) kia mà. Cho nên khi ông Bộ trưởng nói rằng Hoàng thượng hiện đang đọc Platông là ông chưa nói hết cái chữ mà ông định nói: Chắc là ông định nói chữ Platô…ních (2)đấy mà.

Amicus Plato, sed magis amica veritass1)

Và chúng tôi xin trả lời:

“Ông bạn Platông ơi, Hoàng thượng chỉ thích xem thôi”.

NG.A.Q.

Báo Le Paria, số 5, ngày 1-8-1922.
cpv.org.vn

—————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Thư gửi Khải Định (9-8-1922)

Kính gửi: Hoàng thượng Khải Định An Nam Hoàng đế
Vĩnh biệt V.V.C.

Ngài đã đến – hay nói cho đúng hơn là người ta đã đưa Ngài đến, coi như một món hàng thuộc địa và có thể trưng bày ở Hội chợ. Người ta định đem Ngài bày ít nhất là vài ba tháng trong tủ kính xinh xẻo, nhưng mỏng manh và có thể bị huỷ hoại. Thế mà Ngài lại ra đi, hay nói cho đúng hơn, là người ta đã buộc Ngài phải cuốn gói ra đi. Được ǎn ở sang trọng tại phố Uđinô, được ru êm ấm trong tay của điện hạ Xarô – ông Hoàng An Nam và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa- như trên tay một người cha, thế mà Ngài vẫn kêu là còn rét. Nếu tất cả đồng bào của Ngài – những người đã từng dấn thân trong bùn lầy, sương tuyết và dưới làn mưa đạn trên chiến trường ở nước Pháp, những người đã và đang bị đày đoạ dưới tiết trời rét như cắt da cắt thịt, đã và đang bị đe doạ bởi những kẻ mà họ tấn công, – nếu tất cả những người đó đều nói như Ngài đã vội ch…uồn ngay, chớ chẳng chịu liều mạng – cố nhiên là liều cái mạng không đế vương bằng, nhưng dẫu sao cũng quý báu – thì Ngài có thể lấy đâu ra được để tỏ cái lòng trung quân dễ kiếm và lòng trung thành rẻ rúng để làm vừa ý cái ông chủ của Ngài, như Ngài đã từng tỏ ra ở Nôgiǎng hay ở những nơi khác?

Ngoài vấn đề tình cảm ra, và ngoài mấy con ngựa cái ở trường đua Lôngsǎng cùng những vẻ đẹp cổ đại ở nhà hát Ôpera ra thì Ngài đã thấy gì trong suốt thời gian “tham quan” của Ngài ở cái nước Pháp lạc thú này?

Ngài có thấy được nguyện vọng thiết tha mong muốn công lý, tự do và lao động của quần chúng rộng rãi của dân tộc Pháp này không? Ngài có thấy được tình cảm cao cả yêu chuộng hoà bình và hữu nghị đang làm rung động trái tim của quần chúng đó, – số quần chúng mà, qua những cuộc cách mạng giải phóng, giờ đây đã giải phóng mình khỏi ách của bọn vua chúa, để trở thành kẻ tự mình làm chủ mình đó không?

Qua những lời tán tụng hèn hạ trong những bài diễn vǎn của mấy nhà đương cục và trong những bài báo được trợ cấp tiền của mấy tờ báo “lương thiện” ra, Ngài còn có nghe thấy gì nữa không? Ngài có được nghe người ta nói đến Paxtơ hay Vônte, Víchto Huygô hay Annatôn Phrǎngxơ không? Ngài có được nghe người ta nói đến bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền không? Ngài có được nghe người ta kể lại lịch sử của cuộc cách mạng bất diệt không?

Sau những xúc động mạnh mẽ khi xem những đại bác, xe tǎng hoà bình diễu qua, thì trong cái đầu chít khǎn của Ngài đã vội chớm nở nỗi nhớ nhà, thế là Ngài vội vã cuốn gói ra đi! Ngày mai đây, Ngài sẽ xuống tàu, và Ngài sẽ lại trông thấy những biển cả ven theo đất nước của người Ai Cập và người ấn Độ. Hoà lẫn với tiếng sóng gầm vang, những tiếng thét dữ dội của nhân dân bị áp bức ở các nước này, cũng như của nhân dân nước Ngài, sẽ xé tan bầu không khí yên tĩnh bên tai Ngài. Và nếu như Ngài có đôi chút óc tưởng tượng, Ngài sẽ thấy rằng ý chí của nhân dân – một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực – một ý chí còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bề ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi. Có thể Ngài sẽ tự nhủ rằng cái mà Ngài trông thấy đấy là một chút của nước Pháp đó.

Vĩnh biệt… người đồng hương! Một khi mà những đợt sóng biển vô tình đã lấp kín vết đi của con tàu Ngài ngồi thì nước Pháp sẽ quên Ngài, cũng như Ngài sẽ không còn nhớ chút gì về những người Pháp nữa.

Để giữ kỷ niệm của một nền vǎn minh hiện đại và lớn lao, Ngài mang theo về cung điện của Ngài một chiếc dương cầm, vài cái nhẫn và cả mấy chiếc bật lửa mà Ngài đã đổi được bằng chút ít uy tín mà Ngài để mất mát đi trong trái tim nhân dân của Ngài. Và khi Ngài lại trở về sống giữa đám phi tần và nội thị của Ngài, giữa những sọt giấy lộn và tẩu thuốc phiện của Ngài, thì một vài tên ký lục già sẽ thêu dệt thay Ngài và hộ Ngài để gửi cho nước Pháp mà Ngài không hề hiểu biết một vài câu nịnh hót hay một vài vần thơ lủng củng, dưới đó, những ngón tay đầy nhẫn của Ngài sẽ cầm bút ký cái chữ ký của một vị đế vương là nghệ sĩ và vǎn nhân (!).

Thế là cái ý nguyện bình sinh lớn của Ngài đã được thoả mãn. Và như vậy là hạnh phúc và ấm no của nhân dân An Nam cũng sẽ được xây dựng và củng cố rồi đấy!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Journal du Peuple, ngày 9-8-1922.
cpv.org.vn