Archive | 2012

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)

38

(Ảnh nguồn: Internet)

“Muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói. Do ý kiến và đề nghị lẻ tẻ của dân chúng, ta phải khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngăn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành. Như vậy, vừa nâng cao trình độ của dân chúng, mà cũng nâng cao kinh nghiệm của mình.

Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh.

Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và  họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thuẫn. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy.

Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình.

Đối với cán bộ cũng vậy. Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do cách so sánh đó, mà họ biết rõ ràng.

Vì vậy, để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm.

Cố nhiên, dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu.

Tuy vậy, khi đem vấn đề ra bàn trước dân chúng, họ đem các ý kiến khác nhau so sánh. So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành. Ý kiến đó, lại bị họ so sánh tỉ mỉ từng đoạn, họ thêm điểm hay vào, bỏ điểm dở đi. Ý kiến đó trở nên ý kiến đầy đủ, thiết thực.

Sau khi bàn bạc, so sánh, thêm thắt thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công. Làm không kịp ý kiến đó, là đầu cơ, nhút nhát. Làm quá ý kiến đó là mạo hiểm, hẹp hòi, “tả”.

Có nhiều cách hỏi ý kiến dân chúng. Nói chuyện với từng người. Nói chuyện với đông người. Khai hội, nói chuyện với tầng lớp này, nói chuyện với tầng lớp khác, với mọi tầng lớp.

Nếu ta chịu khó, chịu suy nghĩ, bất kỳ nói chuyện với ai cũng có ích cho tư tưởng của ta. Cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo. Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình so sánh. Nghĩa là đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Tìm ra mối mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng.

Thế gọi là: Tập trung ý kiến, ra sức thi hành. So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học. Mỗi công việc, chúng ta đều phải làm như thế. Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm.

Nghĩa là: Nói chuyện và bàn bạc với cán bộ như thế cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng.

Từ trước đến nay, nhiều nơi công việc không chạy, chính vì cán bộ không thực hành theo nguyên tắc đó. Nếu không làm theo nguyên tắc đó, thì dù chính sách hay trăm phần trăm, cũng hóa ra vô dụng.

Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây:

1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.

3. Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

4. Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân.

5. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr.295-298).

“Tư cách người công an cách mệnh là :

Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tụy.

Đối với địch, phải cương quyết, không khéo.

(“Tư cách người công an cách mệnh”,Tháng 3 năm 1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.2, tr.406-407).

“Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

(“6 điều không nên và 6 điều nên làm”, 05/4/1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.410).

“Trong mọi việc, chúng ta chỉ có một mục đích, là phụng sự đồng bào, phụng sự Tổ quốc. Chúng ta chỉ có một phương châm, là chí công vô tư”.

“Thư gửi các ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, các tỉnh, quận và xã ở Nam Bộ”, 15/9/1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.498).

“Học để làm việc, làm người, làm cán bộ.

Học để phụng sự Đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”.

Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.

(“Lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương”, tháng 9 năm 1949, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.684).

“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

(“Dân vận”, 15-10-1949, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.698).

“Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn”.

“Nói về công tác huấn luyện và học tập”, tháng 5 năm 1950, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.50).

“Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:

Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.

“Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”, 2/9/1950, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.498).

“Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Những người mà:

– Giàu sang không thể quyến rũ,

– Nghèo khó không thể chuyển lay,

– Uy lực không thể khuất phục.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Tặng phim Bác Hồ với Tây Nguyên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh

 Chiều 16/10, Bộ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Bắc Son đã trao bộ phim tài liệu “Bác Hồ với Đồng bào Tây Nguyên” cho Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum.

Bộ phim tài liệu “Bác Hồ với Đồng bào Tây Nguyên được Cục Báo chí và hợp tác Quốc tế của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện trong thời gian 6 tháng. Dù Bác Hồ khi còn sống chưa bao giờ đến với mảnh đất Tây Nguyên nhưng Người vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho mảnh đất này.

Các nhà làm phim đã phải rất vất vả khi tìm lại những lá thư, những kỉ vật mà thời còn sống vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đã dành cho Tây Nguyên. Những thước phim cũng ghi lại những tài liệu về các làng bản Tây Nguyên, những con người đang sống giữa mảnh đất này dù chưa một lần gặp được Bác nhưng đã đổi sang họ Hồ để thể hiện sự kính trọng với Người.

Có mặt tại buổi lễ, Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son đã trao tặng bộ phim tài liệu này cho Bảo tàng Hồ Chí minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum. Ông hy vọng bộ phim sẽ được trình chiếu ở nhiều nơi.

Bộ phim tài liệu được thuyết minh sang 5 thứ tiếng khác nhau như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc và sẽ được trình chiếu tại những đài truyền hình của Tây Nguyên cùng với những buổi chiếu phim miễn phí cho Đồng bào Tây Nguyên ngay tại làng bản.

Vĩ Lam
vietnamnet.vn

Bác Hồ với điện ảnh Việt Nam

Ngành điện ảnh Cách mạng Việt Nam đã được Bác Hồ quan tâm, chú trọng từ những ngày còn trong trứng nước. Khi điều kiện có thể, Người đã quyết định thành lập Doanh nghiệp Quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam. Những bộ phim đầu tiên ra đời, Bác Hồ luôn dành thời gian xem phim. Đáp lại, Điện ảnh nước nhà cũng đã ghi lại được rất nhiều hình ảnh quý báu về Người trong những năm tháng kháng chiến… Và Điện ảnh cũng đã ở bên Bác trong những giờ phút cuối cùng trước khi Người vĩnh biệt chúng ta… 

Ngày 20/10/1946, chiến hạm Daymôngđuêcvin cập bến Hải Phòng đưa Bác trở về sau khi Người sang Pháp “làm thượng khách”. Bác dành nhiều phần “quà” cho điện ảnh. Bác nói: “có bột sẽ gột nên hồ”. Phần quà gồm: Hai bộ phim do Kiều bào Võ Quý Huân và Mai Trung Thứ quay: Phái đoàn Phạm Văn Đồng tại hội nghị Phôngtennơblô và Sức sống 25.000 kiều bào tại Pháp cùng bộ máy chiếu lưu động 16 ly Pallné và Débrie, bộ máy ghi tiếng vào đĩa mềm hiện đại. Hai bộ phim này đã được Ban ĐANA (điện ảnh, nhiếp ảnh ban đầu chỉ có 2 anh em Phan Nghiêm, Hoàng Thái sau thêm 4 người) đem chiếu lưu động suốt miền Bắc và miền Trung.

Toàn quốc kháng chiến, Ban ĐANA còn nằm trong Nha thông tin tuyên truyền trực thuộc Bộ Thông tin dời lên hang Chùa Trầm. Đúng giao thừa tết kháng chiến đầu tiên năm 1947, Bác đến thăm Ban ĐANA, Ban Vô tuyến điện, động viên anh em khắc phục thiếu thốn, đoàn kết nhau một lòng. Chợt Bác nhìn sang kỹ sư Pham Nghiêm – Người được giao xây dựng Ban ĐANA thấy anh mặc một chiếc áo vét tông có miếng rách ở vai đang điều khiển máy ghi âm. Bác chỉ vào chỗ rách và hỏi nhỏ Trần Kim Xuyến: “ở đây có cháu gái nào không?”…

Bác Hồ góp ý về nghiệp vụ cho nghệ sĩ điện ảnh cũng rất khéo léo và sâu sắc. Tại chiến khu Việt Bắc, có lần đạo diễn Phạm Văn Khoa đi quay tài liệu Bác Hồ thăm bà con ở Thái Nguyên. Đạo diễn bố trí xong mời Bác ra nói chuyện với bà con ở bên chiếc chõng tre có để sẵn nải chuối, ấm nước. Rất tự nhiên, Bác tới chiếc chõng và vui vẻ nói: “Đạo diễn mời Bác cháu ta đóng phim đấy!”. Nhưng rồi, máy quay trục trặc. Bác vui vẻ nói với bà con: chúng ta chiều chú Khoa làm lại lần nữa. Sau khi xong việc, Bác gọi đạo diễn tới: “Các chú có biết người làm nghề này ở Pháp họ gọi là gì không? Họ gọi là người săn hình ảnh. Đã săn thì phải sẵn sàng. Có cảnh tốt là quay, còn bố trí sẽ mất tự nhiên”.

Bác Hồ cũng đã từng làm người thuyết minh “chữa cháy” cho điện ảnh. Đó là dịp đạo diễn Vũ Phạm Từ và Nguyễn Hùng đem phim chiếu phục vụ Lớp Chỉnh huấn Trung cao tại Tân Trào. Hý hửng vì có một bộ phim nước ngoài, hai nghệ sĩ đem phim ra chiếu. Phim chưa có thuyết minh nên người xem chẳng hiểu gì. Bác bình tĩnh xem xong cuốn 1 rồi nói đưa micro cho Bác. Bác bắt đầu thuyết minh: đây là bộ phim Hoa bông của Liên Xô… cứ vậy khi chiếu hết từng cuốn Bác lại thuyết minh. Cuối buổi, Bác tới bên hai nghệ sĩ đang dọn máy: “Hôm nay Bác nghe được tiếng Nga nên thuyết minh giúp. Từ nay nếu chưa rõ nội dung phim thì đừng chiếu. Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!”.

Theo sát những bộ phim tài liệu, những bộ phim truyện đầu tiên nhưng không bao giờ Bác “phê phán” hay áp đặt ý kiến chủ quan của mình. Nhiều nghệ sĩ như: Vũ Năng An, Vũ Phạm Từ, Bùi Đình Hạc, Lý Thái Bảo… khi đem phim lên chiếu phục vụ Bác, đều kể: Bác ngồi xem rất chăm chú. Trong khi đó, các nghệ sĩ lại chăm chú quan sát xem thái độ của Bác như thế nào. Hết phim, các nghệ sĩ đều nhao nhao xin Bác nhận xét. Đáp lại, Người quay sang hỏi những chiến sĩ bảo vệ, những người cùng xem… cảm tưởng của họ. Rồi Bác nói: “Các chú làm phim là để chiếu cho nhân dân xem. Phải lắng nghe ý kiến của nhân dân để làm cho hay cho tốt. (Bác cười vui vẻ). Nếu chỉ chờ nghe ý kiến của Bác thì… Bác khen các chú tự mãn, Bác chê thì các chú buồn”.

Đoàn kết là lời căn dặn của Bác không chỉ với các chiến sĩ. Với các nghệ sĩ điện ảnh, ngay từ những buổi đầu còn là học sinh Bác cũng rất quan tâm. Đó là khoá học của những nghệ sĩ tên tuổi sau này: Trà Giang, Lâm Tới, Trần Nga, Phi Nga, Lịch Du, Minh Châu, Ngọc Điệp… do giáo sư chuyên gia Azidaibe Paghimôp – đạo diễn Công huân của nước Cộng hoà Adécbaidan, giảng dạy. Khi tiễn Bác ra cổng, Người chưa lên xe ngay mà quay lại hỏi: “cháu nào hãy nói cho Bác nghe chiếc xe Bác đi đây, bộ phận nào quan trọng nhất?”. Học sinh trả lời: người thì nói cái đầu máy, người thì nói xăng dầu, bốn cái lốp… rồi chẳng ai chịu ai cứ nhao nhao lên. Cuối cùng tất cả quay lại nhờ bác phân định. Bác cười, chỉ tay vào những chiếc đinh vít ở bánh xe hỏi: “nếu không có những cái này xe có chạy được không? Như vậy có quan trọng không?”. Rồi Bác ôn tồn: “Ngôi sao sáng nhờ có trời tối. Nếu không có quay phim, không có những người sản xuất ra phim, không có những người ánh sáng thì ai thấy được các cháu là ngôi sao màn bạc. Vậy thì không có lý do gì những ngôi sao sáng kia lại xem thường một vòm trời tối. Rồi đây, các cháu sẽ thể hiện những con người mới để dân noi theo, những con người xấu để dân soi mình tránh. Nếu các cháu không khiêm tốn học hỏi để làm tốt, làm đúng thì dân sẽ bảo là bọn xướng ca vô loài. Các cháu học tốt tới đâu mà dân còn nói như vậy thì Bác sẽ không thấy vui…”.

Bác Hồ quan tâm, chăm lo nhiều đến ngành điện ảnh cũng là điều dễ hiểu. Ngay từ những năm bôn ba nước ngoài, Người đã hiểu sức mạnh của một ngành nghệ thuật mới. Ngoài ra, ít ai biết, Bác còn là bạn thân với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng trên thế giới như: Hăngri Bác buýt, hoạ sĩ Picatxô, Pôn Vayăng Cutuyariê… và đặc biệt với vua hề Sác Lô từ cuối năm 1911 tại Mỹ…

Trong bài viết này, chúng tôi không thể nói hết được những quan tâm của Bác Hồ với ngành điện ảnh Việt Nam, Nhưng những gì Bác đã dạy bảo sẽ in đậm mãi trong trái tim các thế hệ nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam.

Nguyễn Thắng (CTV)
cpv.org.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)

38

“Lãnh đạo nhân dân vì sức mạnh của họ không thể thiếu được đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Dân chúng vốn ít học, ngây thơ, dễ bị lừa và bị mua chuộc. Vậy người cách mạng mẫu mực phải giáo dục họ, sửa chữa cho họ và chiếm được sự tin cậy của dân chúng để có thể sử dụng sức mạnh của họ đúng lúc.

… Xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

… Không cục bộ, bởi vì cách mạng phải vì lợi ích của dân tộc chứ không phải của một cá nhân. Vì vậy, nếu một người cách mạng tìm cách cục bộ thì tham vọng của anh ta sẽ khiến anh ta hành động vì mình chứ không vì mọi người.

… Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình.

… Kiên trì và nhẫn nại. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại, thì những khó khăn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền”.

(“Người cách mạng mẫu mực”, 18/9/1926, Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, tr.450).

“Người xưa nói: quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì tránh.

Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt vào các Ủy ban đó.

Ủy ban nhân dân là Ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ đó”.

“Chính phủ là công bộc của dân”, 19/9/1945, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.22-23).

“Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý.

Ngoài ra, đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có thái độ mềm dẻo khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và làm được.

Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.

“Sao cho được lòng dân”, 12/10/1945, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.47-48).

“Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.

… Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm.

Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.

Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

(“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, 17/10/1945.Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.56-57).

“Đối với nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng cũng có việc dân không muốn mà phải làm như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ. Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân.

Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”.

(“Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa”, 20/2/1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.55).

“Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước.

Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.

(“Đời sống mới”, 20/3/1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.104).

“Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

… Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng.

Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.249).

“Lợi ích của dân tộc, gồm có lợi ích của Đảng. Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.

Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ xung phong. Đó là do sự “tự giác”, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Đã vậy, thì mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc.

Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.253).

““Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”.

Câu đó nghĩa là gì ?

Nghĩa là: Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình.

Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng.

Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng””.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.2, tr.258).

“Làm theo cách quần chúng. Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm.

Như thế hơi phiền một chút, phiền cho những người biếng học hỏi và giải thích. Nhưng việc gì cũng nhất định thành công.

Có người nói rằng: Mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân. Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc, và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy, nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ.

Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm, cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên sửa đổi. Không làm như vậy, tức là cán bộ không phụ trách trước nhân dân, mà cũng không phụ trách trước Đảng và Chính phủ.

Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân. Thế là phụ trách trước nhân dân.

Trái lại việc gì cũng dùng cách quan liêu, cũng chỉ ra mệnh lệnh, thế là không phụ trách trước nhân dân. Thế là đem hai chữ “mệnh lệnh” làm thành một bức tường để tách rời Đảng và Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Chính phủ.

Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân chúng, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ làm theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn.

Làm cách đó, thì dù việc đó có lợi cho dân chúng, nhưng một là vì không có ý kiến và lực lượng của dân chúng giúp đỡ nên làm rõ, nên việc đó không được lâu dài, bền vững.

Vì vậy, việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, và giải thích cho dân chúng.

Có người thường cho dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi. Vì vậy, họ không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng.

Đó là một sự sai lầm nguy hiểm lắm. Ai có sai lầm đó, phải mau mau sửa đổi. Nếu không sẽ luôn luôn thất bại”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr. 294-295).

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích

Là người học trò, người cộng sự gần gũi và tin cậy, nhiều năm được sống và làm việc bên Bác Hồ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết:

“Xem một đôi bức ảnh Hồ Chủ tịch, có người nói mắt Người có hai con ngươi và tin rằng vì chỗ đó Người là một ông thánh. Làm gì có chuyện hoang đường như thế! Mắt Hồ Chủ tịch cũng như mắt mọi người, sáng hơn mắt mọi người nhiều lắm đã đành, nhưng sáng hơn vì Người biết nhìn, nên nhìn thấy những điều người khác không nhìn thấy: Hiện tại, tương lai…”.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước những điều mà một đảng cầm quyền nếu không quyết tâm rèn luyện, giáo dục, nếu không thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình thì rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, làm hại cho sự nghiệp cách mạng.

Không biết bao nhiêu lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, đã viết, đã căn dặn chúng ta về phê bình và tự phê bình. Bác nói: “Trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ ta phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế nghĩa là phải chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau, phê bình mình là chính”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” tháng 10 năm 1947, Bác Hồ đã viết:

“Ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người, mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công.

Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.

Và Bác nhấn mạnh:

“Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó”.

Nói về tư cách của một đảng chân chính cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra 12 điều. Trong đó, điều thứ 8 là: “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”. Điều thứ 10 là: “Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra ngoài”.

Cũng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết:

“Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư, mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt ngày càng thêm ra”.

Và những tính tốt ấy theo Bác Hồ gồm có 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

1. Nhân: Là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà cương quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân… Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải, họ đều làm được.

2. Nghĩa: Là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

3. Trí: Vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc, vì vậy biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

4. Dũng: Là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc.

5. Liêm: Là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Học tập và nghiên cứu các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Bác luôn luôn coi trọng phẩm chất con người. Đồng thời chúng ta cũng thấy Người luôn luôn có thái độ dứt khoát, kiên quyết, thể hiện một quyết tâm chính trị lớn trước những tệ nạn quan liêu, tham ô, lãng phí và những biểu hiện của những suy thoái đạo đức khác. Không bao giờ thấy Bác nói “Đẩy lùi tham nhũng” mà chỉ thấy Bác nói: Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác của chủ nghĩa xã hội. Tham ô, lãng phí là một tội ác, là kẻ thù của nhân dân, người cách mạng phải tiêu diệt nó.

Song Bác Hồ cũng nói:

“Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo” lên lợi ích cá nhân, nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể. Lợi ích của cá nhân luôn gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với lợi ích của tập thể thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”.

Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI của Đảng đề ra là hợp với lòng dân. Nhân dân ta đang hy vọng và chờ đợi. Tất nhiên đây là một công việc khó khăn, song dù khó khăn cũng phải phấn đấu làm cho thành công, vì xây dựng Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta.

Một Đảng cách mạng, một người cách mạng phải luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng!

Mác đã từng nói: “Hạnh phúc chân chính của con người là phải hoà nhịp với hạnh phúc của hàng triệu người khác”.

Còn Lê-nin trong những ngày khó khăn của Cách mạng Tháng Mười, Hội đồng dân uỷ được phân phối mỗi người một pút khoai tây. Khi đọc bảng phân phối thấy ghi: “Lê-nin 2 pút, Crupxcaia 1 pút” Crupxcaia là vợ Lê-nin. Lê-nin đã lấy bút chữa lại: “Lê-nin 1 pút, Crupxcaia 0” và ông ghi Crupxcaia không ở Hội đồng dân uỷ.

Những người cách mạng chân chính bao giờ cũng biết quên mình vì hạnh phúc của nhân dân. Và để trở thành những người cán bộ tốt, đảng viên tốt, chúng ta hãy nhớ lời Bác căn dặn: “Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích”.

Một nhà thơ đã viết:

“Ta hãy tự trả lời ta – Bạn hỡi

Khi ta vui và cả lúc ta buồn

Tâm hồn ta có trong sáng đẹp hơn

Trước phút đi xa, Bác Hồ căn dặn

Không đáng sợ kẻ thù trước mặt

Sợ nhất kẻ thù ẩn náu trong ta!”.

Theo Bùi Công Bính/ baonamdinh.com.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

‘‘Ao cá Bác Hồ’’ trên cao nguyên

Giữa núi rừng đất đỏ, trong cái nắng mùa khô như thiêu như đốt, hồ nước mang hình con thuyền khổng lồ vẫn đầy ăm ắp, trong xanh, mát rượi. Những hàng cây buông tán lá tựa những mái tóc dài. Từng đàn cá tung tăng bơi lội vui mắt. “Ao cá Bác Hồ” như một con rồng nước nối liền hai xã Tân Khai và Thanh Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước không chỉ là nơi nuôi cá mà còn là một danh thắng trên cao nguyên…

Huyền tích ‘‘Ao cá Bác Hồ’’

Sau hơn nửa ngày hành trình đường rừng mệt lử trên chiếc xe U-oát, chúng tôi mới tới được doanh trại của Ban Chỉ huy quân sự huyện Hớn Quản. Huyện mới tái lập, doanh trại còn đơn sơ, nhà tranh vách tôn nhưng trên con đường đất đỏ dẫn vào cổng doanh trại, một không gian xanh mát, trữ tình mở ra. Đó là một cái ao, đúng hơn là một cái hồ rộng gần 38.000m2, trong đó diện tích mặt nước hơn 24.000m2, phía đầu bờ có chiếc cổng gắn tấm bảng đã ngả màu thời gian với dòng chữ đắp nổi: Ao cá Bác Hồ. Khung cảnh ở đây sơn thủy hữu tình, tạo ấn tượng sâu đậm cho khách từ xa tới. Thiếu tá Nguyễn Xuân Thụy, Chính trị viên phó Ban Chỉ huy quân sự huyện Hớn Quản cho hay, “Ao cá Bác Hồ” vừa mới được Ủy ban nhân dân huyện bàn giao quyền quản lý, sử dụng, khai thác cho Ban Chỉ huy quân sự huyện, tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ cải thiện đời sống. Đây là công trình thanh niên được xây dựng ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trải qua gần 36 năm, “Ao cá Bác Hồ” đã được cải tạo, tu bổ nhiều lần, nhưng những dấu ấn của thời kỳ đầu “mở đất” thì vẫn còn nguyên vẹn.

Vùng đất này xưa được gọi là xứ Bình Long. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, lực lượng thanh niên xung phong, công nhân xứ Bình Long nô nức bắt tay vào công cuộc kiến thiết quê hương, đẩy mạnh lao động, tăng gia sản xuất. Một trong những công trình thanh niên trọng điểm được chính quyền huyện Bình Long phát động là đào, đắp một ao thả cá lớn, tạo nguồn cung cấp thực phẩm thủy sản cho các nông trường trong khu vực. Việc đào ao thả cá ở vùng rừng núi được coi là một quyết định lớn, thể hiện quyết tâm sắt đá của thế hệ thanh niên cao nguyên lúc bấy giờ. Bà Năm Thị Gái kể: “Năm 1976, tôi được tuyển vào làm công nhân Nông trường cao su Sa Trạch. Thanh niên các tổ chức Đoàn từ các nông trường, địa phương được vận động đóng góp công sức, kinh phí để xây dựng ao thả cá. Hàng nghìn đoàn viên thanh niên đã tham gia lao động trong nhiều tháng. Để tạo động lực cho thanh niên hăng say lao động, những người tổ chức đã đặt tên cho công trình là “Ao cá Bác Hồ”. Những ngày lao động, thanh niên cắm cờ, treo khẩu hiệu, làm việc rất khí thế. Cái tên ấy trở thành tên gọi đầy thiêng liêng, tự hào của lớp thanh niên chúng tôi ngày đó”.

Đất đào ao được đắp thành một con đê chạy dọc theo chiều dài công trình. Sau khi hoàn thành, “Ao cá Bác Hồ” là niềm tự hào của tuổi trẻ Bình Long. Lãnh đạo huyện đã chỉ đạo tổ chức nuôi cá mang lại nguồn lợi kinh tế cao. “Ao cá Bác Hồ” là một trong những mô hình tăng gia sản xuất có hiệu quả nhất thời kỳ đó ở miệt rừng cao nguyên. Điều thú vị là bà Năm Thị Gái, một trong những nữ đoàn viên thanh niên tham gia xây dựng “Ao cá Bác Hồ” ngày đó, chính là vợ của ông Phan Văn Năm, người quản lý “Ao cá Bác Hồ” từ năm 1990 đến nay. Sự sát cánh, hỗ trợ của bà giúp ông Năm có thêm niềm tin, nghị lực và tình yêu đối với công việc thầm lặng suốt hơn hai thập kỷ qua.

Hơn hai thập kỷ bên ‘‘Ao cá Bác Hồ’’

Ông Đặng Lịch, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chơn Thành, nguyên cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện Bình Long kể: “Năm 1990, phòng Nông nghiệp được Ủy ban nhân dân huyện Bình Long giao quản lý “Ao cá Bác Hồ”. Là cán bộ nông nghiệp có nhiều kinh nghiệm về nuôi trồng thủy sản, ông Phan Văn Năm là lựa chọn số một của Phòng Nông nghiệp huyện đảm nhiệm nhiệm vụ này.

Ông Năm tiếp chuyện chúng tôi trong căn nhà cấp 4 đơn sơ được dựng ngay trên bờ ao. Đây là mái ấm của gia đình ông hơn hai mươi năm nay. Ông và vợ con sinh sống giữa một không gian toàn cây và cá. Khoảng sân trước nhà cũng được ông be bờ, quây bạt làm nơi nuôi và cung cấp cá giống. Ông kể: “Sau khi nhận nhiệm vụ cấp trên giao, tôi về vận động vợ con đến dựng nhà sinh sống cạnh bờ ao để tiện cho việc quản lý, nuôi cá. Hàng ngày, bên cạnh việc chăm sóc ao cá, tôi cùng vợ con ươm cây trồng dọc triền đê và xung quanh bờ ao”.

Những hàng cây, vườn cây, ông Năm và gia đình trồng đã tạo nên một không gian xanh đẹp mắt, trữ tình. Ao cá dài và rộng nên công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ khá vất vả. Những năm đầu, việc nuôi cá diễn ra thuận lợi. Về sau, do thời tiết biến đổi, vùng cao nguyên xuất hiện nhiều trận lũ quét, lũ ống. “Ao cá Bác Hồ” nhiều lần bị ngập, tràn đê. Nhìn đàn cá bị dòng lũ cuốn đi, ông Năm đau như cắt từng khúc ruột. Nhiều người khuyên ông từ bỏ ao cá, đi làm rẫy có thu nhập ổn định hơn, nhưng ông Năm không thể rời bỏ. “Công trình đã mang tên “Ao cá Bác Hồ” thì dù khó khăn, gian khổ đến mấy cũng phải giữ gìn, bảo vệ” – ông nói.

Việc nuôi cá ngỡ như bình lặng, vậy mà vợ chồng ông Năm đã không ít lần bị đe dọa cả mạng sống. Nhắc đến những kỷ niệm hơn hai mươi năm gắn bó với “Ao cá Bác Hồ”, bà Gái kể, giọng bổi hổi: “Năm 1992, trong một lần cuốc dọn bờ ao, tôi đào trúng một quả đạn to như nắm tay của Mỹ sót lại từ thời chiến tranh. Một tiếng nổ rung chuyển cả mặt ao, làm đổ một cây mít cạnh đó. Tôi bị hất văng ra xa mấy mét, nằm ngất lịm. Cứ tưởng tan xác rồi nhưng nhờ trời, tôi chỉ bị thương nhẹ. Sức ép từ vụ nổ làm tôi bị ảnh hưởng thần kinh, đau đầu trong một thời gian dài”.

Nghĩa tình và tâm nguyện

Những năm gần đây, do lũ lụt, thiên tai liên miên nên mỗi năm ông Năm chỉ thả nuôi cá một vụ, thu hoạch trước mùa mưa. Dẫn chúng tôi rảo bộ dọc bờ ao, ông Năm hồ hởi nói về ý tưởng xây dựng “Ao cá Bác Hồ” thành một điểm đến của du lịch sinh thái, giải trí trên cao nguyên. Muốn vậy, cảnh quan xung quanh hồ nước cần phải cải tạo, nâng cấp, xây dựng một số công trình phục vụ du khách hai bên bờ. “Gần một phần ba đời người gắn bó với “Ao cá Bác Hồ”, tôi coi đây là niềm tự hào, hạnh phúc của bản thân và gia đình. Nhưng sức tôi có hạn, trong lúc “Ao cá Bác Hồ” đang rất cần được tu bổ, gia cố để phát triển. Lâu nay, tôi vẫn mong muốn có cơ quan, đơn vị nào đó đứng ra đảm nhiệm công việc này. Nay, Ủy ban nhân dân huyện Hớn Quản quyết định bàn giao “Ao cá Bác Hồ” cho Ban Chỉ huy quân sự huyện, tôi rất mừng. Tôi tin các chú bộ đội sẽ chăm lo chu đáo “Ao cá Bác Hồ”. Tôi mong muốn được một lần ra Hà Nội, vào Lăng viếng Bác và đến thăm Ao cá Bác Hồ. Giá như có thể đưa được giống cá từ Ao cá Bác Hồ ở Hà Nội đem vào thả nuôi ở cái ao này thì tuyệt vời biết bao. Đó sẽ là một ý tưởng rất hay để đưa “Ao cá Bác Hồ” trở thành một điểm du lịch hấp dẫn và độc đáo ở miệt rừng cao nguyên này” – ông Năm tâm sự.

Phan Tùng Sơn
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm lần đầu Bác Hồ về thăm biển

Ngày 30-3-1959, lần đầu tiên Bác về thăm Hải quân.

Ngày đó, tôi là Hiệu trưởng Trường Huấn luyện bờ bể (sau đổi tên Trường Sĩ quan chỉ huy Kỹ thuật Hải quân, nay là Học viện Hải quân). Giữa tháng 3 năm 1959, tôi được triệu tập lên Bộ Tổng Tham mưu để nhận một nhiệm vụ đặc biệt: “Chuẩn bị kế hoạch đưa Bác Hồ đi thăm biển, đảo tại Hải Phòng và Quảng Ninh”. Nhiệm vụ này yêu cầu phải được giữ bí mật. Trên đường về, lòng tôi vô cùng bồi hồi chờ đến ngày đón Bác.

Trời hôm đó thật đẹp. Nắng ấm. Đúng tám giờ sáng, đoàn xe của Bác dừng tại cổng trường. Cán bộ, chiến sĩ đều bất ngờ khi nhìn thấy Bác Hồ bước ra. Bác đội mũ cát trắng, mặc bộ quần áo bà ba màu gụ, chân đi dép cao su giản dị. Những tiếng reo hò vang dậy. “Bác Hồ! Bác Hồ! Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Cờ hoa rực rỡ phấp phới bay trên các tàu.

Tôi chấn chỉnh lại hàng ngũ, đi nghiêm, định đến báo cáo với Bác mọi việc đã sẵn sàng cho chuyến đi, kính chúc Bác và đoàn mạnh khỏe. Bác vẫy tôi lại gần, nhẹ nhàng: “Đi công tác với Bác lần này, Bác miễn cho các chú mọi thủ tục và nghi lễ chính quy nhé!”.

ky niemBác Hồ chụp ảnh kỷ niệm với cán bộ, chiến sĩ Trường Huấn luyện bờ bể (đồng chí Nguyễn Thế Trinh thứ 2 từ phải sang-hàng ngồi). Ảnh tư liệu

Nhiều đồng chí xúc động, rưng rưng nước mắt, lần đầu được gặp Bác, được nghe Bác nói chuyện, dạy bảo. Như Người cha lâu ngày về gặp gỡ đàn con, Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe mọi người. Ở mỗi nơi đến thăm, Người luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Bác nhắc nhở: “Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên phải coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ huy, phục vụ tốt chăm lo cải thiện đời sống tinh thần, vật chất của đơn vị; giáo viên, học viên của trường thực hiện dạy tốt, học tốt, nâng cao chất lượng trong tiếp thu kỹ thuật tàu thuyền”. Bác còn căn dặn mọi người dù ở cương vị nào cũng phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu không ngừng để bản thân tiến bộ và xây dựng Hải quân mau chóng trưởng thành. Thăm nơi ở, bếp ăn, Bác nhắc nhở: “Nuôi quân là quan trọng lắm, quân có khỏe thì mới học tập được”.

Tàu 154 thuộc Đại đội 3 được giao nhiệm vụ đưa Bác và các đồng chí cán bộ cao cấp đi thăm và kiểm tra một số đơn vị trên vùng biển Hạ Long. Bác đã truyền lại kinh nghiệm đi biển cho các cán bộ, chiến sĩ trên tàu, từ cách chống sào, cuộn dây mồi sao cho đẹp, cho chặt mới ném đi được xa và cả những động tác của người thủy thủ khi tàu rời bến, cập bến. Ai cũng biết rằng, Bác Hồ của chúng ta đã từng là một thủy thủ trên con tàu ra đi tìm đường cứu nước năm xưa nên đã truyền lại kinh nghiệm đi biển cho các chiến sĩ.

Ngày 31 tháng 3, tàu đưa Bác đến thăm trận địa pháo trên đảo Hòn Rồng. Đây là một trận địa pháo của Đại đội 34, thời gian này thuộc Quân khu Tả Ngạn, làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển Hạ Long. Tàu vừa tới đảo buông neo, Bác nhanh nhẹn bước xuống chiếc xuồng nhỏ vào sát bờ rồi lội lên bãi cát. Bác tươi cười rảo bước nhanh về phía các chiến sĩ đang hò reo chạy xuống đón Bác. Với giọng ân cần Bác nói: “Bác và anh Cả (đồng chí Nguyễn Lương Bằng) thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra thăm các chú”. Không chờ đơn vị báo cáo tình hình, Bác hỏi ngay: “Các chú thiếu nước ngọt và sách báo lắm phải không?”. Các chiến sĩ trả lời: “Thưa bác, vâng ạ!”. Bác quay lại bảo đồng chí cán bộ Tổng cục Hậu cần về nghiên cứu bảo đảm sao cho mỗi tuần anh em có thể tắm hai lần nước ngọt. Bác dặn dò anh em phải biết tiết kiệm điện, nước: “Vì những thứ này trên tàu quý lắm”. Sau đó, đi xem nơi ăn ở sinh hoạt, nấu nướng, Bác vui vẻ hỏi: “Củi đun các chú lấy ở đâu?”. Một chiến sĩ trả lời: “Thưa Bác, chúng cháu tăng gia đấy ạ!”. Bác nói vui: “Không phải, trời tăng gia đấy, các chú chỉ chặt về đun thôi”. Mọi người cười vang. Các chiến sĩ đã biếu Bác trứng gà và su su của đơn vị tăng gia được.

Khi đơn vị đã ngồi quây quần xung quanh Bác ở sân doanh trại, Bác bắt đầu hỏi chuyện về đảo. Chuyện học tập, công tác, chuyện hậu phương, Bác khuyên nhủ cán bộ, chiến sĩ cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, tích cực học tập chính trị, quân sự, văn hóa: “Không được chủ quan, thỏa mãn; phải đoàn kết nội bộ; đoàn kết quân dân; giữ gìn vũ khí trang bị máy móc…”. Trong việc xây dựng lực lượng, Người nhấn mạnh: “Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không quên những truyền thống đánh giặc xưa kia của tổ tiên. Các chú phải nhớ xây dựng Hải quân của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam chứ không phải Hải quân của thế giới”. Bác hỏi: “Các chú chưa có đài phải không? Bác sẽ gửi tặng các chú một chiếc!”. Mọi người reo lên sung sướng, khi đồng chí phóng viên đề nghị Bác chụp ảnh lưu niệm, toàn đơn vị tập trung ngồi bên Bác, ai cũng muốn ngồi thật gần Bác và muốn giữ mãi giây phút thiêng liêng, tự hào đó. Nghe các chiến sĩ thì thầm với đồng chí phóng viên, Bác hiểu ý và nói với đồng chí phóng viên: “Chú gửi tặng mỗi người một tấm”.

Khi Bác quay về, các học viên Trường chúng tôi tặng Bác bông hoa đá, Bác nhắc nhở nhẹ nhàng: “Hoa đá đẹp mà không ăn được. Giá các chú biếu Bác quả bầu, quả bí trồng được để Bác mang về nấu canh, rồi mời các đồng chí trong Trung ương cùng ăn thì Bác càng vui hơn”. Lời nhắc nhở của Bác thật tinh tế, nhẹ nhàng, là một bài học sâu sắc về tính thực tế cho đơn vị.

Theo Báo Quân đội nhân dân 
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Mừng cho các cháu, Bác càng thương nhớ mẹ

Một lần trên đường đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), Bác Hồ đã nhắc đến mẹ Bác.

mung 1Bà Hoàng Thị Loan (1868 – 1901)
Thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hôm ấy khi xe ôtô đến Quảng Oai, một đoàn các em bé gái cổ quàng khăn đỏ, em mặc áo hoa, em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng. Nhìn thấy các cháu vui, Bác Hồ cũng vui theo. Người nói với chú Vũ Kỳ và các chú ngồi cùng xe:

– Này! Các chú thấy không, các cháu được ăn mặc đẹp, được đi học, cháu nào cũng vui vẻ phấn khởi, Bác mừng cho các cháu.

Rồi giọng Bác bỗng trầm hẳn xuống.

– Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà.

Mọi người cùng đi không nén nổi cảm xúc trước tình cảm của Bác đối với mẹ Bác là cụ Hoàng Thị Loan.

mung 2

Bác Hồ ra đời tại quê ngoại ở ngôi làng Hoàng Trù (tên nôm na là Cồn Trùa sau thành làng Chùa) huyện Nam Đàn, trong ngôi nhà tranh ba gian. Ngôi nhà nằm gần sát nhà cụ Hoàng Đường, được cụ dựng lên vào dịp lễ thành hôn của con gái Hoàng Thị Loan và ông Nguyễn Sinh Sắc vào năm 1883. 

Đây là gian thứ ba để bộ khung cửi dệt vải. Bà Loan thường khuya sớm dệt vải, dệt lụa giúp gia đình những lúc khó khăn, thiếu thốn. Sát bên là chiếc võng cói dài để bà tiện tay ru con những lúc đang đưa thoi dệt vải. Những lời ru ngọt ngào và âm thanh của khung cửi êm đềm là ký ức khó quên trong quãng thời thơ ấu của ba chị em cậu Nguyễn Sinh Cung ngày ấy.

(Theo Một số lời dạy và mẩu chuyện về
Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh – NxbCTQG)
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 4 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

QH  - canh veVòng hoa viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chuẩn bị chu đáo

QH1Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dẫn đầu đoàn viếng

Nhân dịp khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, sáng 22/10/2012, các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm cùng hơn 500 đại biểu Quốc hội đã đến đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 4 – Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

DSC 0418Đoàn đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XIII, kỳ họp thứ 4 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII khai mạc vào ngày 22 tháng 10 tại Hà Nội và dự kiến bế mạc vào ngày 22/11/2012. Với tổng thời gian làm việc 26 ngày, Quốc hội sẽ tập trung xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước.

Quốc hội sẽ xem xét, quyết định các vấn đề về kinh tế – xã hội, công tác giám sát… Quốc hội sẽ dành nhiều thời gian cho công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là việc cho ý kiến về Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và một số Dự án luật quan trọng được đưa ra lấy ý kiến nhân dân.

Quốc hội sẽ nghiên cứu, thảo luận và xem xét, thông qua Nghị quyết về “việc thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai”.

Một vấn đề được cử tri quan tâm trong kỳ họp lần này là Quốc hội sẽ cho ý kiến về Nghị quyết lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Một nội dung quan trọng khác cũng được đặc biệt cử tri quan tâm đó là Quốc hội sẽ xem xét Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Việc ban hành Nghị quyết này nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng,” Nghị quyết số 271/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Đây cũng là một bước cụ thể hóa các quy định hiện hành của Hiến pháp và luật, khắc phục những hạn chế, bất cập trong quy trình bỏ phiếu tín nhiệm, góp phần đưa các quy định của Hiến pháp và luật về bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn đi vào cuộc sống./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Bữa cơm gia đình

Khoảng cuối năm 1951, trong một lần đến thăm và nói chuyện với học viên lớp chính trị của quân đội ở Việt Bắc. Bác bảo anh Phương – chồng tôi là cán bộ phụ trách lớp.

– Chiều nay, chú cho Bác ăn bữa cơm, vì nói chuyện xong, tối, Bác còn phải đi họp với một chi bộ ở Định Hóa.

– Bấy giờ tôi cũng làm văn thư ở Hiệu bộ, nên anh Phương cử người nhắn tôi chuẩn bị.

Công việc của Bác xong xuôi, Bác về đến cơ quan thì cơm nước cũng đã sẵn sàng. Sinh hoạt ở rừng còn thiếu thốn, kham khổ. Anh em muốn “bồi dưỡng” cho Bác, để Bác khỏe, nhưng lại sợ. Nhưng rồi cũng quyết định thịt một con gà “tăng gia” kiếm ít măng rừng làm cơm mời Bác.

Bác ngồi vào bàn ăn, bảo anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), hai vợ chồng tôi và đồng chí cảnh vệ cùng ăn. Tôi cứ một mực từ chối:

– Thưa Bác cháu ăn rồi. Mời Bác và các anh, các chú xơi cơm đi…

Mãi sau, Bác mới đồng ý và bắt đầu dùng cơm. Vào bữa cơm Bác nói:

– Cô cho Bác xin quả ớt.

Tôi ngại quá, bèn nói thật:

– Thưa Bác, chúng cháu sợ Bác ăn ớt có hại sức khỏe nên không dám cho vào măng nấu ạ.

Bác quay sang anh Phương:

– Chắc chú lệnh cho cô văn thư chứ gì. Thế là chú quan liêu rồi…

Anh Văn chỉ tủm tỉm cười nói thêm:

– Ớt là “vi-ta-min-ơ” của Bác đấy.

Bữa cơm của Chủ tịch nước giản dị, vui vẻ, thân mật như bữa cơm trong một gia đình ấm cúng.

Cơm nước xong Bác hỏi tôi:

– Cô thư ký được mấy cháu, tên là gì?

Anh Phương đỡ lời tôi:

– Thưa Bác, được ba cháu gái đặt tên là Thu Thủy, Thu Thảo, Thu Vân.

Bác cười hiền từ, nói:

– Tôi có hỏi chú đâu! Sao đặt tên “văn chương” thế!

Gọi là “Thu Ngô, Thu Khoai, Thu Sắn” có hay không?

Mọi người cùng cười vui vì biết Bác liên hệ với phong trào tăng gia sản xuất, trồng thêm màu ngô, khoai, sắn… sản xuất nhiều lương thực đóng thuế nông nghiệp, nuôi bộ đội đánh giặc, mà Chính phủ mới phát động.

Lát sau, Bác lại bảo:

– Bác nói vui thế thôi. Những cái tên Việt Nam ấy rất đẹp.

Chưa kịp nghỉ ngơi, Bác đã chuẩn bị lên đường, Bác đeo balô đi trước, hai đồng chí cảnh vệ, anh Văn tiếp bước sau Bác. Mới đông mà sương chiều Việt Bắc đã xuống rất nhanh tụ thành những đám mây lụa mỏng trắng bìa rừng.

Chúng tôi nhìn theo Bác, ung dung, khoan thai như đi dạo cảnh thiên nhiên hùng vĩ, ngỡ ngàng như vừa được qua một giấc mơ đẹp trong một bữa cơm gia đình.

Theo http://www.nvhtn.org.vn

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Bức tượng Hồ Chí Minh trên hòn đảo Châu Phi

Đêm. Gió biển thổi lồng lộng. Đứng trên bến cảng Toamashina của hòn đảo Madagascar, nhìn ra Ấn Độ Dương bao la, tôi hình dung hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đứng trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville dõi mắt xa xăm theo đại dương thăm thẳm, nhớ đến quê hương trên hành trình vạn dặm tìm con đường giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Sóng vỗ vào thân các con tàu trên bến khiến tôi bỗng nhớ câu thơ của Chế Lan Viên viết trong bài “Người đi tìm hình của nước”: “Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương”.

tuongTượng đồng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô Antananarivo.

Sử sách ghi lại người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba đã xin một chân phụ bếp trên tàu Đô đốc Latouche Tréville và đi qua các miền đất Châu Phi. Mỗi khi tàu cập cảng, người thanh niên ấy lại tranh thủ lên bờ, tìm hiểu cuộc sống của vùng đất mới đến.

Năm 2003, Madagascar đã đặt bức tượng Hồ Chí Minh tại Quảng trường cũng mang tên Hồ Chí Minh ở trung tâm Thủ đô Antananarivo. Bức tượng bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương, với tổng chiều cao 3,4m, tại một trong những quảng trường đẹp nhất của Thủ đô Antananarivo, phía bên dưới có tấm biển đồng khắc câu nói nổi tiếng của Người: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Nhiều người bản xứ nói với tôi rằng, Madagascar dựng tượng đài Hồ Chí Minh không chỉ vì Người là anh hùng giải phóng dân tộc, Người đã nhóm lên ngọn lửa đấu tranh đòi tự do cho các dân tộc nô lệ, trong đó có Madagascar. Người dân Madagascar cũng biết rằng, Hồ Chí Minh từng là bạn chiến đấu của lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo trong những năm tháng hoạt động tại Pháp.

Trong Từ điển Bách khoa toàn thư mở có một câu viết: At the beginning of 1924 Ralaimongo was still in Paris meeting others of a socialist view including the future Ho Chi Minh (Đầu năm 1924 Ralaimongo vẫn còn ở Paris và gặp gỡ nhiều người theo quan điểm xã hội chủ nghĩa, trong đó có Hồ Chí Minh).

Giống như Việt Nam, Madagascar từng là thuộc địa của Pháp. Phong trào đấu tranh giành độc lập tại Madagascar bùng nổ sau khi các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi ở Việt Nam và một số nước Đông Nam Á. Đến năm 1947, các cuộc đấu tranh nhỏ lẻ tập hợp thành phong trào đấu tranh vũ trang. Người bản xứ Madagascar giao chiến với quân Pháp, kết quả 8.000 người tử thương. Chính phủ Pháp cố giải quyết và xúc tiến cải tổ hành chánh với Bộ luật Loi Cadre.

Năm 1958 nước Cộng hòa Malagasy ra đời nhưng chỉ được hưởng quy chế một nước tự trị trong cộng đồng Pháp (hậu thân của Liên hiệp Pháp). Thể chế này chấm dứt ngày 26-6-1960 khi Madagascar tuyên bố hoàn toàn độc lập theo Hiến pháp mới soạn thảo năm 1959.

Vào năm 1911, khi con tàu Đô đốc Latouche Tréville đi qua các cảng Châu Phi, quốc đảo này vẫn còn là thuộc địa của Pháp. Hình ảnh người dân nô lệ làm việc dưới đòn roi của những tên thực dân Pháp đã khiến người thanh niên Việt Nam rơi nước mắt khi anh nghĩ đến số phận những người dân mất nước giống như nhân dân mình.

Madagascar đã để lại dấu ấn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Từ rất sớm, bằng thực tiễn cuộc sống, trong đó có hình ảnh người nô lệ Madagascar, Người đã phát hiện một chân lý: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai loại người: Loại người bóc lột và người bị bóc lột”.

Trong thời gian sống tại Pháp, Người đã cùng các bạn châu Phi, trong đó có hai bạn người Madagascar là Jean Ralaimongo, nhà cách mạng yêu nước và Samuel Stephanie, tích cực tổ chức và tham gia lãnh đạo Hội Liên hiệp thuộc địa, tập hợp những người dân thuộc địa của Pháp (cuối tháng 11năm 1921), ra Báo Le Paria (Người cùng khổ) để mở rộng tuyên truyền đến các thuộc địa (tháng 4 năm 1922).

Ngay số đầu phát hành, Báo Le Paria đã khẳng định: Báo “ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Madagascar, ở Đông Dương, ở quần đảo Ăng Ti và Guy An”.

Trung tâm Thủ đô Antananarivo của Madagascar.

Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản tại Paris năm 1925, Bác Hồ với tên Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo hành động man rợ của đội quân viễn chinh Pháp ở Madagascar năm 1895. Người nhắc lại cuộc tàn sát đẫm máu mà thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Madagascar: “Chúng đã thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát một lúc 5.000 người của bộ lạc Sacavala trên bờ biển phía Tây của Madagascar”. Trong buổi trò chuyện với nhà thơ Xô Viết Osip Emilyevich Mandelstam, Nguyễn Ái Quốc cũng nhắc lại “những người anh em Madagascar”.

Giữa Thủ đô Antananarivo có 3 tượng đài: Một tượng đài tưởng niệm nhà yêu nước Madagascar Jean Ralaimongo, bức tượng của Lênin và bức tượng của Hồ Chí Minh. Xúc động nhất là rất nhiều người dân Madagascar mà tôi đã gặp trước tượng đài Hồ Chí Minh đều nói rằng họ biết về Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Dấu chân Người trên các bến cảng Châu Phi đã xóa nhòa vết tích theo thời gian, nhưng dấu chân Người trong tâm trí người dân Madagascar vẫn còn in đậm.

Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành là người đã đặt viên gạch đầu tiên cho mối quan hệ hai nước Việt Nam và Madagascar bằng tình bạn chiến đấu giữa Người với lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo. Việt Nam và Madagascar bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18-12-1972.

Trong những năm qua, các hoạt động ngoại giao giữa hai bên diễn ra khá thường xuyên. Tháng 8 năm 2004 và tháng 10 năm 2008, lần lượt Đoàn Bộ trưởng Công nghiệp, Thương mại và Phát triển kinh tế tư nhân Madagascar và Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp sang thăm Việt Nam. Về phía Việt Nam, tháng 3 năm 2003 và tháng 11 năm 2003, lần lượt Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Phạm Quang Nghị và Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa cũng sang thăm Madagascar.

Việt Nam và Madagascar hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Về giáo dục, những năm 1980, Việt Nam có 45 chuyên gia giáo dục sang làm việc tại Madagascar.

Về nông nghiệp, năm 1999, Việt Nam đã cử 80 chuyên gia, kỹ thuật viên nông nghiệp và thủy sản sang làm việc tại Madagascar theo mô hình hợp tác 3 bên với sự tài trợ của Tổ chức Nông lương LHQ (FAO).

Hiện nay, Việt Nam còn 3 chuyên gia nông nghiệp đang làm việc tại Madagascar trong khuôn khổ hợp tác song phương. Hai nước cũng đã ký kết một số thỏa thuận song phương: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học và công nghệ (tháng 11 năm 2003).

Về thương mại, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2008 đạt hơn 10 triệu USD, năm 2009 đạt 5,8 triệu USD. Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng như: Sắt thép, dệt may, phân bón… và nhập từ Madagascar chủ yếu sắt thép phế liệu, sản phẩm chất dẻo, phụ liệu may, da giày…

(Tư liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam)

Theo sggp.org.vn
Thúy Hằng
(st)
bqllang.gov.vn

Tột bậc là tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Bác viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước…

……………………………………..

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc năm 1918. Ngày 28 tháng 6 năm 1919, các nước thắng trận và bại trận đã họp Hội nghị tại Versailles, Pháp, để ký kết các hòa ước chính thức, cũng như phân chia các quyền lợi cho các nước thắng trận.

Các nước thắng trận bao gồm Anh, Pháp, Nga, Ytalia, Mỹ. Các nước bại trận bao gồm Đức, Áo – Hungary, và Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại Hội nghị Versailles này, bên cạnh các đoàn đại biểu chính thức, còn có đại diện các dân tộc bị áp bức, đến dự Hội nghị để yêu cầu độc lập và tự do cho dân tộc mình, như đại diện cho người Aixơlen, người Ấn Độ, người Triều Tiên, người Arập… Khi đó người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Pháp, đã tự tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pa-ri, và tại các tỉnh ở Pháp. Ông Nguyễn Ái Quốc đã đến Hội nghị Versailles với danh nghĩa đại diện cho tổ chức này.

Tại Hội nghị Versailles, ông Nguyễn Ái Quốc đã phát cho các đại biểu dự Hội nghị “Bản yêu sách của dân tộc Việt Nam gửi đến Hội nghị Versailles”. “Bản yêu sách” này bao gồm 8 điểm rất ôn hòa, yêu cầu Chính phủ Pháp trao trả một số quyền tự do, dân chủ cơ bản tối thiểu cho nhân dân Việt Nam.

“Bản yêu sách” nổi tiếng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Versaillé năm 1919 đó, bao gồm 8 điểm là:

1 – Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam.

2 – Cải cách nền pháp lý Đông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảo đảm về mặt pháp lý như người Âu, bỏ hẳn Tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất.

3 – Tự do báo chí và tự do tư tưởng.

4 – Tự do lập hội và tự do hội họp.

5 – Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài.

6 – Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.

7 – Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp.

8 – Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bầu ra, ở bên cạnh Nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ”.

Sau “Bản yêu sách 8 điểm” gửi Hội nghị Versailles, lần đầu tiên dư luận ở Pháp, và ở Việt Nam biết đến cái tên Nguyễn Ái Quốc, một thanh niên Việt Nam trẻ tuổi đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Và cũng từ đó, mật thám Pháp bắt đầu để ý, theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của ông Nguyễn Ái Quốc. Bởi vì, với Nhà nước thực dân độc tài, phản dân chủ, thì mọi tiếng nói đòi tự do, dân chủ cho người dân Việt Nam đều bị coi là nguy hiểm cho Nhà nước thực dân.

Nhưng tất cả những yêu sách ôn hòa đó của Nhóm người Việt Nam yêu nước của ông Nguyễn Ái Quốc đều không được Chính phủ Pháp, cũng như các nước trong Hội nghị Versailles quan tâm, để ý. Từ đó, ông Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng rằng không thể trông cậy vào các nước khác, “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.

Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị Versailles năm 1919, chúng ta thấy rằng tư tưởng của Bác Hồ về một thể chế tôn trọng những quyền tự do, dân chủ cho người dân được hình thành từ rất sớm. Khi đó Bác Hồ mới 29 tuổi, và mới sang Pháp được 8 năm. Trong số các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, thì Bác Hồ là người duy nhất sống ở nước ngoài tới 30 năm.

Bác ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, tại bến Nhà Rồng, Sài Gòn, và chỉ đến năm 1941 mới trở về nước, để lãnh đạo Đảng, nhân dân đấu tranh giành chính quyền. Bởi vậy Bác là người hiểu rất rõ những hạn chế, xấu xa của chế độ tư bản, thực dân, nhưng đồng thời Bác cũng hiểu được rất rõ các giá trị của nền văn minh phương Tây, của chế độ tự do, dân chủ phương Tây.

Chính bởi vậy, vào năm 1946, khi Bác Hồ chỉ đạo soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bản Hiến pháp 1946 đó chứa đựng rất nhiều giá trị tiến bộ của nền dân chủ phương Tây. Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng và nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân, nhưng những giá trị của nền văn minh phương Tây, thì cần phải khiêm tốn học hỏi. Đó chính là tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điều 10 của Hiến pháp 1946 qui định: “Công dân Việt Nam có quyền: – Tự do ngôn luận. – Tự do xuất bản. – Tự do tổ chức và hội họp. – Tự do tín ngưỡng. – Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Nội dung của điều 10 này rất giống một phần nội dung 8 điểm mà Bác Hồ đã gửi Hội nghị Versailles cách năm 1946 đó 27 năm.

Hiện nay trong cả nước đang dấy lên phong trào “lao động, học tập gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là phong trào rất hay, rất cần thiết, nhưng theo tôi thiển nghĩ thì chưa đủ. Bởi vì đạo đức Hồ Chí Minh chỉ là một nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Một diểm nhất quán và hết sức quan trọng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là về xây dựng một Nhà nước công bộc của dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Trong thư “Gửi các ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện, và làng” tháng 10 năm 1945, Bác viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Như vậy, Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.

Chừng nào còn có kẻ đánh bạc cả triệu đôla, nhưng cả triệu người dân còn thiếu thốn nhiều bề, chừng nào còn có cán bộ hách dịch, xếch mé với dân, không làm tròn trách nhiệm là công bộc của dân, chừng nào người dân còn chịu oan khuất, phải đi khiếu kiện kêu cầu công lý, chừng nào bộ máy hành chính còn hành dân, thì chừng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh còn chưa được quán triệt trở thành hành động trong thực tế.

Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Bác Hồ cách đây gần 100 năm, và bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Bác Hồ về xây dựng một thể chế tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân.

Từ đó chúng ta thấy rõ rằng cần phải từ phong trào lao động, học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay, nâng cao lên thành phong trào học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước công bộc của dân.

Theo Minh Tuấn (Tokyo, Nhật Bản) – Dân trí

Tuổi trẻ Online