Archive | 2012

Ngành Hậu cần Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm theo lời Bác dạy

Thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công việc cung cấp cũng quan trọng như công việc trực tiếp đánh giặc trước mặt trận. Cung cấp có đủ súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận….. Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên thuốc, một tấc vải phải đi thẳng tới chiến sĩ. Đó là bổn phận của các chú”. Năm 2012, ngành Hậu cần Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”.

Nganh HCBan Chỉ đạo ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy sơ kết năm 2012.

Ngay từ đầu năm, phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện đúng chủ trương “Một tập trung” và “Ba khâu đột phá”. Tập trung: “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng cơ quan, đơn vị hậu cần vững mạnh toàn diện”. Toàn ngành Hậu cần đã làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục và tổ chức cho 100% cán bộ, đảng viên đăng ký, giao ước thi đua nêu gương làm theo Bác về tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; hết lòng vì công việc, vì bộ đội để phục vụ. Đã tổ chức đăng ký, giao ước chỉ tiêu thi đua và thực hành đúng quy định về quản lý, sử dụng kinh phí, cơ sở vật chất trang bị chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Bước “làm theo” tấm gương của Bác được theo dõi, tổng hợp, đánh giá, nhận xét cụ thể thông qua công việc hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ. Trong đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), Đảng ủy và các chi  bộ trong Đảng bộ cơ quan Hậu cần đều nghiêm túc kiểm điểm đánh giá: “Từ năm 2010 đến nay, ngành hậu cần đã có sự chuyển biến tiến bộ về nhận thức tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và năng lực, phương pháp tác phong công tác. Cán bộ, đảng viên trong Ngành đã nêu cao tinh thần phục vụ tận tình chu đáo, văn minh, lịch sự. Không có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm phẩm chất đạo đức lối sống, vi phạm đạo đức nghề nghiệp”.

Nganh HC Nghi le 275Ngành Hậu cần bảo đảm quân phục nghiệp vụ
cho bộ đội thực hiện nghi lễ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong năm, giá cả lương thực, thực phẩm liên tục tăng cao, ngành Hậu cần đã thực hiện tốt khâu đột phá thứ nhất: “Nâng cao chất lượng bảo đảm ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khoẻ bộ đội và vệ sinh môi trường”. Tập trung đầu tư triển khai Dự án DT275 nhằm xây dựng doanh trại chính quy, tu sửa khu vực cơ quan Bộ Tư lệnh và doanh trại Đoàn 275 khang trang, sạch đẹp. Thông qua sự chỉ đạo của Phòng Hậu cần, từng cơ quan, đơn vị đã chủ động triển khai các biện pháp giữ vững chất lượng bữa ăn cho bộ đội, tích cực tăng gia quanh bếp, quanh nhà bảo đảm thực phẩm, rau xanh cho bộ đội. Đoàn 285 đã đảm bảo 100% rau xanh ăn tại bếp. Tất cả 6/6 bếp ăn của các đoàn, Viện 69 và cơ quan Văn phòng đều đạt “Bếp nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”. Đồng thời quan tâm xây dựng và quản lý doanh trại “chính quy, xanh, sạch, đẹp”, triển khai trồng nhiều cây ăn quả, cây leo giàn, cây lấy gỗ, tạo cảnh quan môi trường. Đoàn 195, Đoàn 595 đã động viên mọi người đóng góp kinh phí, cây cảnh, xây dựng giàn hoa lan ở doanh trại. Công tác chăm sóc, bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội luôn được quan tâm chu đáo. Cán bộ, nhân viên quân y các đơn vị đã quán triệt, thực hiện đúng tiêu chuẩn “Đơn vị Quân y 5 tốt”, chủ động thực hiện chu đáo các khâu, các bước phòng bệnh, phát hiện bệnh, điều trị bệnh và gửi lên tuyến trên kịp thời, không để xảy ra dịch bệnh, hoặc ngộ độc thức ăn, bảo đảm quân số khoẻ đạt 99,54%.

Thực hiện chủ trương tiết kiệm của Bộ Tư lệnh, ngành Hậu cần đã tích cực triển khai khâu đột phá thứ hai: “Thực hành tiết kiệm; chống tham ô lãng phí; chấp hành nghiêm chế độ, tiêu chuẩn bảo đảm hậu cần” gắn liền với các biện pháp “Xây dựng đơn vị quản lý tài chính tốt”; thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất hậu cần, tài chính; thực hành tiết kiệm điện, nước, điện thoại. Các ngành thường xuyên duy trì nề nếp, chế độ công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, kinh phí hậu cần, quỹ phúc lợi chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Đã ứng dụng đưa 2 bếp ở Đoàn 275 và Đoàn 285 từ đun than chuyển sang bếp cấp nhiệt lò hơi cơ khí, tiết kiệm được hơn 147 triệu đồng đưa vào cải thiện bữa ăn bộ đội; triển khai các biện pháp tiết kiệm điện, nước gần 160 triệu đồng; tiết kiệm xăng dầu theo quy định được gần 190 triệu đồng. Song song với thực hành tiết kiệm, đơn vị đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất tập trung ở khu vực K84 và tận dụng mặt bằng, khai thác dịch vụ ở hầu hết các cơ quan, đơn vị hiệu quả, phục vụ công tác chính sách hậu phương quân đội, đạt bình quân 1.550.000đ/người/năm, vượt 93% so với năm 2011.

Nganh HC Tang gia 285Công tác tăng gia sản xuất tại Đoàn 285

Khâu đột phá thứ ba được toàn ngành đã thực hiện tốt là: “Đẩy mạnh cải cách hành chính; duy trì nề nếp chính quy công tác hậu cần, bảo đảm an toàn giao thông”. Ngành Hậu cần đã đi đầu trong việc đổi mới phương pháp tác phong công tác, làm việc theo kế hoạch; tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, bám sát cơ sở, bám vào nhiệm vụ và các hoạt động của bộ đội, tránh chồng chéo, gây rối bận. Hàng tuần đều có cán bộ, nhân viên hậu cần đi chỉ đạo, giúp đỡ cơ sở. Hàng quý đều sơ kết, đánh giá, chấm điểm thi đua Ngành Hậu cần đối với từng cơ quan, đơn vị, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều nỗ lực cố gắng trong công tác. Trong năm, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đã biểu dương, khen thưởng 2 tập thể, 8 lượt cá nhân tiêu biểu trong ngành Hậu cần; đề nghị Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” và “Đơn vị Quân y 5 tốt” cho Đoàn 275.

Năm 2012, phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” đã trở thành mục tiêu, động lực thúc đẩy mỗi cán bộ, nhân viên, chiến sỹ ngành Hậu cần ra sức thi đua làm theo lời Bác bằng cả nhiệt huyết từ trái tim mình. Từ những việc làm bình dị của những chiến sỹ quân y, quân trang, nuôi quân, tài chính, kế toán, thủ kho, doanh trại….đã góp phần xây dựng ngành Hậu cần của đơn vị ngày càng vững mạnh, góp phần vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới. Đúng như kết luận của đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập – Phó Tư lệnh, Trưởng ban Ban Chỉ đạo phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị sơ kết năm 2012: “Phong trào thi đua ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy trong đơn vị đã tạo sự chuyển biến toàn diện cả về nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp và năng lực tiến hành của đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sỹ ngành Hậu cần. Công tác hậu cần đã phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, bảo đảm đầy đủ, kịp thời chế độ tiêu chuẩn ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khoẻ bộ đội; cải tạo, sửa chữa doanh trại khang trang, sạch đẹp; tích cực tăng gia, sản xuất, khai thác dịch vụ hiệu quả, trực tiếp góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của đơn vị”./.

Hữu Mạnh, Ngọc Hà
bqllang.gov.vn

Cảnh giác, chủ động phòng, chống tự diễn biến

TS Hoàng Tương
Để ngăn chặn những biểu hiện tự diễn biến, trước hết phải bắt đầu từ chính mỗi cá nhân. Từng người phải có ý thức danh dự, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung, tránh vì tư tưởng thiển cận, thiếu tầm nhìn xa, trông rộng mà làm ảnh hưởng đến năng lực và sức chiến đấu của cơ quan, đơn vị.

Tự diễn biến là sản phẩm và là biểu hiện cụ thể của chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Chúng xác định nội bộ là trọng điểm có tính quyết định trong việc xóa bỏ Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Ý đồ của chúng là tấn công vào nội bộ để phá hoại, lũng đoạn, tác động chuyển hóa từ bên trong trên tất cả các lĩnh vực, chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, Công an, Quân đội; gia tăng các hoạt động tình báo gián điệp, đẩy mạnh các hoạt động phá hoại ngầm. Vậy làm gì để ngăn ngừa tự diễn biến(?).

Việt Nam chưa bao giờ nằm ngoài kính ngắm của chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Để đẩy nhanh việc thực hiện chiến lược này, chúng sử dụng tổng hợp các hình thức, biện pháp và thủ doạn hoạt động, tập trung trước hết vào lĩnh vực tư tưởng và lý luận. Tự diễn biến (TDB) có thể tồn tại trong mỗi tổ chức, thậm chí trong mỗi con người, bởi vậy TDB vô cùng nguy hiểm và khó lường.

Trên thực tế những biểu hiện của TDB bộc lộ ở nhiều góc độ khác nhau. Chẳng hạn như trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên CNXH ở nước ta. Một số khác có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận, phê phán lịch sử một cách thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng theo kiểu dân chủ phương Tây, cổ xúy cho những mô hình xa rời thực tiễn Việt Nam. Trong giới trí thức cũng xuất hiện một số người khi phân tích, đánh giá, đưa ra giải pháp về các vấn đề xã hội thường rơi vào tình trạng phiến diện, thiếu cái nhìn đa chiều và tính biện chứng, lập blog cá nhân, đăng tải các thông tin không được kiểm chứng, kèm theo các bình luận có tính xuyên tạc sự thật. Có thể nói, đối tượng mà các thế lực thù địch sử dụng để thực hiện mục tiêu TDB trong lĩnh vực tư tưởng và lý luận là đông đảo.

Ở đâu có những phần tử bất mãn, cơ hội và cả những cán bộ, đảng viên và người dân chưa hiểu biết thấu đáo, thì ở đó xuất hiện những nhân tố để kẻ địch lợi dụng. Tất nhiên, những biểu hiện TDB trên không diễn ra một cách độc lập, khép kín mà xuyên thấm vào nhau rất tinh vi, phức tạp, có thể biến thành một thế lực có sức công phá ghê gớm và khôn lường nếu chúng ta đấu tranh ngăn chặn không hiệu quả. Hơn hai mươi năm trước đây khi lá cờ đỏ búa liềm trên điện Kremli bị kéo xuống, đã có không ít lời tiên đoán về ngày “đắm thuyền” không thể tránh khỏi ở Việt Nam. Và vài năm gần đây khi cơn địa chấn chính trị-xã hội đang tàn phá tại Bắc Phi-Trung Đông, các thế lực thù địch, phản động coi đó là “thời điểm vàng” để thực hiện “chiến dịch chuyển cách mạng màu về Việt Nam”. Tuy nhiên, mưu đồ đó đã và đang thất bại. Lực lượng Công an đã tổ chức đấu tranh thắng lợi hàng trăm vụ án gián điệp, phản động; đẩy lùi và vô hiệu hóa các âm mưu hoạt động tình báo, gián điệp, tập hợp lực lượng, hình thành tổ chức phản động, phá hoại tư tưởng, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam của các thế lực thù địch; đấu tranh làm thất bại hoàn toàn các chiến dịch chống phá nước ta của các tổ chức phản động lưu vong; đập tan hàng chục chiến dịch chiến tranh tâm lý, tuyên truyền kích động chống chế độ. Những chiến công đó của lực lượng CAND không chỉ góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn dịnh chính trị đảm bảo cho đất nước phát triển bền vững mà còn là câu trả lời đanh thép nhất cho những lời tiên đoán xằng bậy, những mưu toan của các thế lực thù địch đưa TDB sâu vào nội bộ.

Để ngăn chặn những biểu hiện TDB, trước hết phải bắt đầu từ chính mỗi cá nhân. Từng người phải có ý thức danh dự, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung, tránh vì tư tưởng thiển cận, thiếu tầm nhìn xa, trông rộng mà làm ảnh hưởng đến năng lực và sức chiến đấu của cơ quan, đơn vị. Một tập thể và mọi thành viên gắn bó tin tưởng lẫn nhau, tự ý thức cao về sự tồn tại và phát triển của chính mình, của đất nước, Tổ quốc mình thì những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng chính trị sẽ không có đất để tồn tại. Mặt khác, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần nêu gương bằng hành động thực tế, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở, phát hiện và giải quyết thấu đáo mọi vướng mắc, lệch lạc về tư tưởng chính trị, nhờ đó mà khắc phục được căn bệnh tư tưởng-nguyên nhân tiềm ẩn của TDB, không để nó mặc sức lây lan. Làm được như vậy chắc chắn chúng ta sẽ xây dựng được nhiều tập thể vững mạnh, vì thế mà đẩy lùi được nguy cơ TDB.

Giữ vững ổn định và phát triển bên trong là điều kiện tiên quyết đánh bại âm mưu và thủ đoạn TDB của các thế lực thù địch. Và do đó, cảnh giác, chủ động phòng, chống TDB không một phút lơ là, sao nhãng là trách nhiệm, nghĩa vụ của chúng ta, đảm bảo cho đất nước phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN

H.T.
cand.com.vn

This entry was posted on Tháng Mười Hai 2, 2012, in Chính luận.

Họa sĩ Trần Mai vẽ Bác Hồ

Hơn 40 năm miệt mài sáng tạo, họa sĩ Trần Mai là người vinh dự được vẽ tranh cổ động cho 7 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc liên tiếp và đã được rất nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế về thể loại tranh này: Giải Ba cuộc thi vẽ tranh cổ động kỷ niệm Chiến thắng Moncada (Cu-ba) – năm 1978, giải Ba cuộc thi tranh cổ động quốc tế tại Liên Xô (cũ) – năm 1984, giải vàng Festival thanh niên sinh viên Thế giới tổ chức tại Bình Nhưỡng – năm 1989, giải Nhì cuộc thi sáng tác mẫu tem chào mừng 1000 năm Thăng Long-Hà Nội…

Trung tuần tháng 9 vừa qua, tại Nhà triển lãm Mỹ thuật ở 16 Ngô Quyền-Hà Nội, đã khai mạc triển lãm “79 mùa xuân” của họa sĩ Trần Mai. 79 bức tranh cổ động về Bác Hồ là tâm huyết suốt một đời cầm bút của người họa sĩ lão thành.

Họa sĩ Trần Mai quê gốc ở Thái Bình, nhưng sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Với tình yêu hội họa từ nhỏ, ông đã không quản nắng mưa, hằng ngày đi bộ từ bãi Phúc Tân vào nội thành Hà Nội, lân la tại các phòng tranh, hóng chuyện các họa sĩ, nghệ nhân để học lỏm những yếu tố cơ bản của hội họa như hình họa, màu sắc, bố cục, phối màu, trang trí… Có thể nói, sự trưởng thành về hội họa của Trần Mai là do cuộc sống, do ông biết xả thân vào thực tiễn để tôi luyện cây bút vẽ của mình.
Họa sĩ Trần Mai bên một tác phẩm sắp hoàn thành

Được biết đến với nghề vẽ tranh cổ động từ trong kháng chiến chống Pháp, trở thành Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam từ năm 1957 nhưng “kỷ lục” đầu tiên của Trần Mai là vào những năm kháng chiến chống Mỹ, nhất là những năm tháng Mỹ leo thang phá hoại miền Bắc ác liệt, mỗi ngày ông đều cho ra đời một bức tranh cổ động. Trong ký ức của nhiều người Hà Nội thời bấy giờ còn nhớ rõ hình ảnh những tấm pa-nô, áp-phích trên tường nhà Bưu điện Hà Nội vào mỗi sáng vẽ những chiếc máy bay B52, những “thần sấm”, “con ma” của Mỹ bị quân dân ta bắn rơi. Đó vừa là tấm pa-nô tuyên truyền, vừa như bảng thông tin về thắng lợi của quân dân miền Bắc. Thuở ấy, ít nhà có đài nên mọi người chỉ nghe thông tin chiến sự qua loa truyền thanh và những tấm pa-nô như thế. Tác giả của những tấm pa-nô đầy chất thời sự đó chính là họa sĩ Trần Mai. Ngày nào ông cũng nghe ngóng tình hình chiến sự rồi đêm đến lại chong đèn vẽ suốt đêm để sáng hôm sau anh em có tranh cổ động kịp thời treo lên cho nhân dân ngắm nghía, trầm trồ bàn tán…

79 bức tranh cổ động-79 bức chân dung-79 mùa xuân dâng lên Bác, đó là tâm nguyện lớn lao trong suốt cuộc đời cầm bút vẽ của họa sĩ Trần Mai. Ông tâm sự: “Trong hai năm qua, hình ảnh Bác Hồ chiếm lĩnh gần như mọi suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của tôi. Đấy không chỉ là tình cảm đặc biệt của cá nhân tôi dành cho Bác, mà Người cũng chính là nguồn cảm hứng sáng tạo vô biên của tôi và đây sẽ là bộ sưu tập quý giá nhất trong hơn 40 năm cầm bút vẽ của tôi”.

Tuy nhiên, suốt những năm miệt mài đắm chìm vào từng nét cọ, không phải lúc nào ông cũng thành công. Có những bức ông buộc lòng phải bỏ đi, hoặc có những bức phải vẽ đi vẽ lại nhiều lần cho giống, cho đúng chủ đề và cái quan trọng là truyền được cảm xúc của mình vào đó. Ông nói: “Vẽ về Bác rất khó! Làm sao phải toát lên được phong thái, cốt cách của Người. Vì vậy trong mỗi tác phẩm, tôi đều cố gắng thể hiện được hình ảnh của Bác, từ khuôn mặt, nụ cười, dáng ngồi, đôi tay…”. Hơn nữa, dòng tranh cổ động vốn mang tiếng là “khô khan”, bởi vậy, không chỉ truyền được cảm xúc của mình vào với các mảng màu, đường nét, hình khối, ông còn phải tìm cách làm “mềm hóa” những bức tranh ấy. Những câu thơ đã quen thuộc trong lòng nhân dân ta như: “Lời Bác dạy chúng con nghe rõ/ Mỗi lời Người vang vọng núi sông”, “Con cá rô ơi chớ có buồn/ Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn” hay “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”, “Mong manh áo vải hồn muôn trượng”… được Trần Mai dùng để đặt tên cho mỗi tác phầm của mình, để những bức tranh đi vào lòng người xem một cách tự nhiên và có sức sống lâu bền.

Với 79 bức tranh, họa sĩ Trần Mai đã cố gắng để vẽ nên cuộc đời của một con người vĩ đại. Suốt từ khi Bác ra đi tìm đường cứu nước, đến khi tìm được lý tưởng cách mạng, rồi dẫn dắt nhân dân ta từ thân phận nô lệ lên làm người tự do, mỗi một thời điểm, một chặng đường trong cuộc đời Bác đều được họa sĩ Trần Mai tìm tòi, thể hiện bằng những hình ảnh đặc trưng, không trùng lặp nhau về ý tưởng, chủ đề. Cuộc đời giản dị và cao đẹp của Bác cũng được tái hiện trong tranh với hai gam màu chủ đạo là màu nâu và vàng. Điều đáng trân trọng là, dù sức khỏe không còn nhiều, nhưng họa sĩ Trần Mai vẫn cố gắng vẽ tất cả những bức tranh này bằng chính bàn tay cầm cọ của mình suốt hơn 40 năm qua, với những màu sắc tự nhiên chứ không dùng màu “ảo” và kỹ thuật đồ họa trên máy vi tính.

Bài và ảnh: HƯƠNG GIANG
qdnd.vn

Chuyến viếng thăm Lăng Bác của vị khách đặc biệt từ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

Sáng 25/11/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đón một vị khách đặc biệt tới viếng Bác. Đó là Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt, Chủ tịch Liên minh Phật giáo Lào. Năm nay, Hòa thượng đã trên trăm tuổi. Theo lời mời của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng sang dự Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII. Nhân dịp này, Hòa thượng bày tỏ tâm nguyện được vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi với Hòa thượng có Đoàn đại biểu của Liên minh Phật giáo Lào. Thay mặt đơn vị, Đại tá Nguyễn Văn Thanh, Phó Chánh Văn phòng đã tiếp Đoàn.

hoa thuong lao a3Đại tá Nguyễn Văn Thanh đón tiếp Đoàn

hao thuong Lao a2Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt, Chủ tịch Liên minh Phật giáo Lào vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ CHí Minh

Do tuổi cao, phải ngồi xe lăn, song với gương mặt phúc hậu, ánh mắt nhìn ấm áp và nụ cười hiền từ, Hòa thượng mang đến cho tất cả chúng tôi cảm giác gần gũi, thân thiết khi được tiếp xúc trò chuyện. Giọng nói trầm ấm, Hòa thượng kể đã nhiều lần được gặp Bác Hồ trong thời gian Bác hoạt động cách mạng tại Lào và Thái Lan. Tận đáy lòng, Hòa thượng luôn giữ mãi kỷ niệm sâu sắc về lần đầu tiên được gặp Bác tại tỉnh Udon, Thái Lan cùng với các đồng chí lãnh đạo Lào và được nghe Bác tuyên truyền vận động về đường lối đấu tranh giành độc lập cho ba nước Đông Dương. Hòa thượng khắc sâu lời Bác dạy: Lào, Việt Nam, Campuchia phải luôn sát cánh bên nhau trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, giữ trọn lãnh thổ. Ghi nhớ lời Bác, Hòa thượng đã rất tích cực tham gia vào phong trào cách mạng tại Lào và có nhiều đóng góp to lớn xây dựng Liên minh Phật giáo Lào.

Ánh mắt nhìn xa xăm đầy hoài niệm, dáng điệu trầm tư trong hồi tưởng, Hòa thượng chậm rãi nói, sang Việt Nam lần này, Hòa thượng mong được vào viếng Bác như người con lâu ngày mong được về thăm cha.

Đồng chí Nguyễn Văn Thanh đã bày tỏ sự xúc động và vinh dự được đón tiếp Hòa thượng tại Ban Quản lý Lăng. Đồng chí đã giới thiệu với Hòa thượng về nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và hơn 40 năm qua thi hài Bác vẫn luôn được giữ gìn ở trạng thái tốt nhất để nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế được đến với Người. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đang tỏa sáng và được đời đời con cháu học tập và làm theo, trong đó có sự kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị thủy chung lâu đời giữa hai nước Việt Nam, Lào, như Bác Hồ đã từng nói:

Việt – Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.

Đồng chí Nguyễn Văn Thanh đã tặng Hòa thượng và các thành viên trong Đoàn huy hiệu Bác Hồ và tấm ảnh Bác, chúc Hòa thượng sức khỏe và tuổi thọ, tiếp tục có những đóng góp quý báu cho tình hữu nghị Việt – Lào. Nâng niu tấm hình Bác trên tay, Hòa thượng nghẹn ngào nói: Không chỉ riêng tôi mà Đảng và nhân dân Lào đều tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là vị cha chung của dân tộc Việt Nam và Lào.

hoa thuong lao a1Đại lão Hòa thượng viết cảm tưởng về chuyến viếng thăm Lăng Bác

Kết thúc buổi gặp mặt, Hòa thượng đã rất xúc động tự tay viết lên những dòng cảm tưởng trong chuyến viếng thăm Lăng Bác lần này. “Thay mặt Đoàn Liên minh Phật giáo Lào tới đất nước Việt Nam dự Đại hội Đại biểu Phật giáo và được đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất xúc động. Trong đời, tôi đã từng được gặp Bác Hồ và nay lại được đến viếng thăm Người, tôi luôn cầu nguyện cho Người được yên nghỉ trong an lạc”.

Chuyến viếng thăm đặc biệt của Đại lão Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt càng khẳng định tầm vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất, không chỉ đối với nhân dân Việt Nam, mà còn đối với nhân dân toàn thế giới./.

Bùi Thu Nga
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu đồng bào Công giáo Thủ đô đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng 28/11/2012, Đoàn đại biểu tham dự Đại hội đại biểu những người Công giáo Thủ đô xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VI nhiệm kỳ 2012-2017 đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đồng bào Công giáo Thủ đô đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Dai hoi Cong giao 2012Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội sẽ được tổ chức trong hai ngày 27- 28/11/2012. Đây là dịp Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2007-2012 và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào công giáo Thủ đô trong 5 năm qua; xác định nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm tới; thảo luận và đóng góp vào dự thảo Điều lệ sửa đổi; hiệp thương bầu Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2012-2017… Nội dung trọng tâm nhiệm kỳ tới là tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong giới Công giáo Thủ đô như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, sống tốt đời đẹp đạo”; “Mỗi người Công giáo Thủ đô là một công dân tốt”, tham gia tích cực vào xây dựng nông thôn mới, thực hiện nếp sống văn minh và đền ơn đáp nghĩa.

Trong nhiệm kỳ 2012-1017, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội sẽ xem xét kiến nghị Ủy ban Đoàn kết công giáo Việt Nam quyết định công nhận các Ban Đoàn kết Công giáo ở 28 quận, huyện, thị; quy tụ những doanh nhân, trí thức Công giáo sinh hoạt chung theo chuyên đề để giúp nhau sản xuất, kinh doanh, bồi dưỡng tri thức và củng cố đức tin.

Ông Phạm Huy Thông, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hà Nội, cho biết: “Đại hội lần thứ VI tiếp tục củng cố, đổi mới và hiệp thông. Củng cố tổ chức của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hà Nội, củng cố những thành tựu mà nhiệm kỳ trước đã đạt được. Chúng tôi tiếp tục đổi mới về nhân sự, trẻ trung hơn, có trình độ văn hóa hơn, có uy tín cả trong đạo và đời. Cùng với đó là đổi mới về phương thức hoạt động, như tổ chức giao lưu công tác với các đơn vị bạn để có thể học tập kinh nghiệm lẫn nhau…”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Quan điểm sai trái về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

(ĐCSVN) Vấn đề nhân quyền đã trở thành tiêu điểm trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, ngoại trừ những người có thiện ý muốn bảo vệ nhân quyền cho các dân tộc, còn có những kẻ ác ý muốn lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào nội bộ các quốc gia. Họ vu cáo, dựng lên những câu chuyện hoang đường về đàn áp tôn giáo, dân tộc thiểu số để gây chia rẽ nội bộ, kích động nổi loạn ở các quốc gia khác. Trong nhiều năm nay, Hạ Nghị sĩ Smith, Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ liên tục đưa ra cái gọi là dự thảo “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” và năm nào cũng bị thất bại.

Ngày 14/7/2004, Hạ viện Mỹ đã tổ chức điều trần để thông qua “Dự luận Nhân quyền Việt Nam 2004 ” – có số hiệu HR.1587 do Hạ nghị sĩ Xmít – Phó Chủ tịch UB Đối ngoại Hạ viện đệ trình.

Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2004 nhấn mạnh, trong năm qua “không có tiến bộ nào trong việc giải quyết thoả đáng đối với các trường hợp được coi là tù nhân chính trị và hoạt động tôn giáo tại Việt Nam; còn đàn áp tự do tôn giáo, với những vụ ngược đãi tín đồ Phật giáo, Công giáo…”; “Đàn áp người Thượng biểu tình ở Tây Nguyên”; Phá rối sóng đài châu á tự do”.

Dự luật HR.1587 yêu cầu: hàng năm, Tổng thống phải chứng nhận tiến bộ hoặc thiếu sót của Việt Nam trong những vấn đề nêu trên. Và đặt các điều kiện cho việc nhận khoản viện trợ không phải nhân đạo, Việt Nam phải:

+ Đạt được tiến bộ quan trọng trong việc trả tự do cho các tù nhân chính trị và tôn giáo đang bị giam giữ.

+ Đạt tiến bộ trong tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tham gia các hoạt động tôn giáo mà không bị chính quyền cản trở, trả lại các tài sản nhà thờ mà Chính phủ chiếm giữ. Cho phép người dân Việt Nam tham gia các hoạt động giành cho người tỵ nạn của Mỹ.

+ Phải đạt được tiến bộ trong việc tôn trọng nhân quyền đối với dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Tây Bắc.

Khác với trước đây, trong cuộc tranh luận năm nay có một số Hạ nghị sĩ Mỹ đã có thay đổi thái độ theo hướng tích cực hơn đối với Việt Nam. Và đây cũng là lần đầu tiên tại Hạ viện Mỹ đã có những ý kiến ủng hộ Việt Nam khá mạnh mẽ, cho thấy kết quả vận động, đấu tranh của ta có ý nghĩa và hiệu quả thiết thực. Một số Hạ nghị sĩ như Ivơn, Si-mon, Côn bê… cho rằng, việc thông qua “Dự luật nhân quyền 2004” không phải là một giải pháp tích cực mà làm tổn hại đến quan hệ 2 nước.

Ngày 15/9 trong báo cáo về nhân quyền toàn cầu, Bộ Ngoại giao Mỹ lại xếp Việt Nam là nước thuộc các quốc gia đặc biệt quan tâm theo đạo luật đặc biệt tự do tôn giáo quốc tế

Thực ra, từ lâu, các thế lực thù địch đã có âm mưu sử dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp, thực hiện ý đồ phá hoại cách mạng nước ta. Họ tổ chức nhiều hội nghị, đưa ra nhiều bản phúc trình. Họ vu cáo Việt Nam là “điển hình của đàn áp tôn giáo và người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”. Họ đòi Việt Nam phải thả hết “tù nhân lương tâm”. Các báo cáo hàng năm của Bộ ngoại giao Mỹ về vấn đề nhân quyền đều tăng trang để vu cáo và bôi nhọ vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.
Ai cũng biết rằng, đế quốc Mỹ đã từng gây chết chóc cho nhân dân Việt Nam bằng cuộc chiến tranh tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại. Xa hơn nữa, họ cũng đã từng gây ra các cuộc chiến tranh thế giới làm hàng chục triệu người. Họ đã từng áp bức các dân tộc thuộc địa, áp bức các người da màu, họ cũng đã từng đàn áp bóc lột ngay công dân trên đất nước họ. Khi xâm lược các nước làm thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc đã gây ra biết bao đau khổ tang tóc cho các dân tộc. Chỉ riêng cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc chủ nghĩa quân phiệt đã giết chết 21 triệu người Trung Quốc. Chỉ một kế hoạch của kẻ thù, 2,5 triệu người Việt Nam chết đói. Chính những thế lực đã đem trên 3 triệu lượt lính, hàng triệu tấn bom đạn, hàng triệu lít chất độc để giết hại dân thường và môi trường sống của Việt Nam trong những năm 1954 – 1975, thì ngày nay lại lớn tiếng hơn ai hết về cái gọi là bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Thực tế đã chứng minh nước vi phạm nhân quyền nhất thế giới, xâm lược, diệt chủng tàn bạo nhất thế giới, lại được coi là “xuất khẩu nhân quyền”.

Mỹ là quốc gia điển hình về phân biệt chủng tộc. Người Mỹ da đen chiếm 13% dân số, nhưng chiếm có 5% trong số các quan chức. Tỷ lệ thất nghiệp người da đen gấp 2 lần người da trắng. Số người da đen bị kết án tử hình gấp 4 lần người da trắng.

Nước Mỹ xâm phạm thô bạo quyền của các nước khác trên thế giới. Chỉ trong 10 năm cuối của thế kỷ XX, Mỹ đã gây ra 40 cuộc chiến tranh để trừng phạt những quốc gia không phục tùng Mỹ. Chính vì vậy, mà năm 2001, Mỹ đã bị gạt ra khỏi Uỷ ban nhân quyền của Liên hợp quốc. Ngày 22/9/2004, Tổ chức Ân xá quốc tế đã ra tuyên bố trong đó có đoạn: “Mỹ không đủ tư cách để nhận xét nhân quyền các nước”.

Nhìn lại chặng đường lịch sử hơn 70 năm qua của dân tộc Việt Nam, chúng ta có thể tự hào hẳng định rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân dân Việt Nam đã lập nên những chiến công vĩ đại mang ý nghĩa lịch sử và thời đại; góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ nhân quyền trên thế giới.
Cuộc Cách mạng Tháng tám thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á, đưa dân tộc ta từ kiếp nô lệ thành người làm chủ, góp phần xoá bỏ chủ nghĩa thực dân trên toàn cầu.

Đánh thắng các cuộc chiến tranh tàn bạo của những tên đế quốc, phản động hung bạo nhất bảo vệ hoà bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, góp phần quan trọng làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên toàn thế giới.

Chúng ta nhận thức rằng, hiện nay các quyền cơ bản của con người như quyền được sống, quyền bình đẳng, mưu cầu hạnh phúc được ghi trong các bản Tuyên ngôn dân quyền của nước Mỹ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền của nước Pháp (1789), các quyền chống áp bức, độc lập dân tộc, bảo vệ môi trường được ghi trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc (1948), các công ước quốc tế 1960 về quyền chính trị – dân sự – kinh tế xã hội văn hoá vv… là thành quả đấu tranh trong nhiều thế kỷ của nhân dân lao động. Những quan niệm mới nhất về nhân quyền thể hiện trong Báo cáo về phát triển con người toàn cầu thì tự do văn hoá là một quyền cơ bản của con người… Xét trên bình diện đó thì Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn vào sự nghiệp bảo vệ quyền con người. Chúng ta không những đã thực hiện mà còn góp phần vào việc phát triển các quan điểm về nhân quyền, Liên hợp quốc đã công nhận sự đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ nhân quyền của Hồ Chí Minh khi phát triển quyền tự do cá nhân thành quyền độc lập dân tộc được nêu trong bản Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945. Hồ Chí Minh viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Việt Nam đã đóng góp vào thành quả bằng cuộc chiến đấu gian khổ vì độc lập dân tộc. Chúng ta cũng đã ký và phê chuẩn nhiều công ước quốc tế về nhân quyền. Ta là nước thứ 2 trên thế giới ký vào Công ước về quyền trẻ em 1989, ta cũng là nước thực hiện chính sách nhân đạo sau chiến tranh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp tử hình 5.000 người cộng tác với đối phương. Chúng ta đã không tử hình một người nào trong số 98.000 người trong lực lượng của kẻ thù chống lại nhân dân, trong đó có rất nhiều tên có nợ máu.

– Tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những thành tựu vĩ đại này là những cống hiến quan trọng của dân tộc ta vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển quyền con người. Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao trên thế giới (bình quân trên 7%/năm). Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã có mức thu nhập bình quân 480 USD (2003), cả nước có 23 triệu người đi học, đã phổ cập tiểu học và trên 1/3 số tỉnh phổ cập trung học cơ sở, tuổi thọ bình quân 69,1. Vị trí HDI của Việt Nam đã đứng thứ 122 trên 177 quốcgia. Việt Nam được Liên hợp quốc thừa nhận đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc xoá đói, giảm nghèo, mỗi năm tạo được 1,5 triệu chỗ làm, tỷ lệ hộ nghèo từ 18% năm 2000 giảm xuống còn 9,5% năm 2003, tôn trọng quyền của các dân tộc thiểu số, tôn trọng tự do tín ngưỡng.

Các nghị quyết Trung ương lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của nhân dân, đạo đức của tôn giáo phù hợp với chủ nghĩa xã hội. Do đó việc tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Các nghị quyết nói trên cũng đã nêu rõ chính sách đại đoàn kết dân tộc của Việt Nam. “Hiện nay, trên đất nước Việt Nam sinh hoạt tôn giáo đang diễn ra tốt đẹp”1. Tự do tôn giáo: Hiện nay, cả nước có 20 triệu người theo các tôn giáo. Có sáu tôn giáo chính và 60 loại tín ngưỡng, tôn giáo Kinh, chính thống đang tự do hoạt động. Nhà nước Việt Nam đã giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, chỉ riêng năm 2000 đã chi 20 tỷ đồng để nghiên cứu phục hồi văn hoá Cồng chiêng ở Tây Nguyên. Hiện nay, hàng năm Chính phủ cấp ngân sách cho các tỉnh ở Tây Nguyên trên 5.000 tỷ đồng để đầu tư phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng.

– Thực hiện tự do báo chí. Cả nước có hơn 650 tờ báo, năm 2001, chúng ta đã in 600 triệu bản báo, 270 triệu bản sách, 155 triệu bản sách giáo khoa. Đang phấn đấu mỗi người dân đạt bình quân 4 cuốn sách/đầu người.

– Về đối ngoại Việt Nam đã có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, đã hy sinh để cứu nhân dân Campuchia khỏi hoạ diệt chủng.

Có thể nói, một trong những thành tựu của Việt Nam là đã đem lại nhân quyền cho Mỹ. Theo nhóm nghị sĩ vì quan hệ Mỹ – Việt thì Việt Nam và Mỹ đã xây dựng được mối quan hệ mới trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Tính đến tháng 5 – 2004 Việt Nam và Mỹ đã tiến hành 93 đợt tìm kiếm chung và đã tìm được 822 di vật của các binh sĩ Mỹ còn bị mất tích trong chiến tranh (MIA), xác định được thi hài của hơn 500 binh sĩ Mỹ và trao trả cho gia đình họ. Việt Nam đã cho phép Mỹ tiếp cận hồ sơ lưu trữ liên quan đến vấn đề MIA. Việc làm nhân đạo đó, phải chăng đã làm dịu bớt nỗi đau cho nhân dân Mỹ. Đó là một thành tựu nhân nhân quyền lớn của Việt Nam.

Đó là những thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam mà không ai có thể bác bỏ được. Việt Nam đang được giới thiệu vào vị trí uỷ viên uỷ ban Nhân quyền thế giới.

Vậy thì tại sao, những kẻ vi phạm nhân quyền lại lớn tiếng đòi nhân quyền ở những người đang bảo vệ nhân quyền? Thực ra, từ lâu họ đã vẫn theo đuổi mục tiêu thống trị toàn thế giới. Một trong những biện pháp giành quyền đó là sử dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào nội bộ các nước.

Dày công nghiên cứu, các thế lực thù địch nhận ra rằng, chính những người cộng sản là những người triệt để bảo vệ nhân quyền, song vì nền dân chủ XHCN mới ra đời, trong những điều kiện kinh tế xã hội còn phức tạp cho nên về cơ chế cũng như luật pháp bảo đảm cho nền dân chủ còn chưa hoàn chỉnh, ở nơi này, nơi khác còn có những thiếu sót. Chính họ tìm mọi cách khoét sâu những thiếu sót đó, xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ để tạo ra, tạo dựng những lực lượng chính trị đối lập nhằm xoá bỏ XHCN từ bên trong. Còn đối với các nước khác, kể cả đối với các chính quyền do họ dựng lên, nhưng khi có biểu hiện không phục tùng, họ cũng bị Mỹ lật đổ bằng các thế lực đối lập.

Thủ đoạn của chúng là tách riêng một số yếu tố của quyền con người, khuếch đại yếu tố đó lên. Ví dụ họ chỉ ra rằng nhân quyền mang tính nhân loại, tính toàn cầu. Tự do chính trị là cốt lõi của nhân quyền, còn kinh tế là thứ yếu. Họ làm cho người ta hiểu nhầm rằng: quyền con người chỉ có thế, rồi tác động vào các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra những lực lượng chống đối, thù địch với chính quyền.

Đối với nước ta, họ tâng bốc người này hay người kia như là những chiến sĩ bảo vệ nhân quyền, họ đòi thả người này, người nọ đã bị bắt vì vi phạm pháp quyền, họ đấu tranh cho các thế lực ly tâm. Trong bản “Đạo luật về nhân quyền ở Việt Nam” năm 2001 đã ghi rõ: Những nạn nhân gần đây của tình trạng ngược đãi này, thể hiện sự vi phạm quyền tự do biểu đạt và tự do lập hội được Tuyên ngôn toàn cầu về nhân quyền công nhận. Hiện nay, các thế lực phản động đang kích động một số người Thượng ở Tây Nguyên vượt biên trái phép sang Campuchia để chuẩn bị lâu dài chống phá ta, đồng thời vu cáo Việt Nam đàn áp người thiểu số ở Tây Nguyên. Chúng cố tình gây chia rẽ trong nội bộ, dùng sức ép kinh tế đổi lấy tự do cho dân chủ không giới hạn cũng chỉ là nhằm mục tiêu tạo dựng những lực lượng đối lập, những ngọn cờ nhằm dẫn tới đa nguyên chính trị, tiến tới chia cắt đất nước, hòng thành lập Nhà nước Đề-ga độc lập, nhà nước Khơ me tự do, Nhà nước Mông Đông Dương…Họ lợi dụng mạng Internet để vu cáo, bịa đặt bôi nhọ Đảng và Nhà nước ta, bịa đặt ra vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Tinh thần cảnh giác của nhân dân ta, những thành tự về nhân quyền của Việt Nam đã làm thất bại âm mưu thâm độc đó.

Những điều về cái gọi là vấn đề nhân quyền Việt Nam đã bị chính những người Mỹ có lương tri phản bác. Ông Andoe Sauvageot thành viên Ban Cố vấn thương mại Mỹ – Việt Nam đã khẳng định vào tháng 12-2003 “Tình hình nhân quyền ở Việt Nam tương đối tốt trong 192 quốc gia trên thế giới, Việt Nam về cơ bản là một đất nước vị tha đối với mỗi công dân của mình, cho dù họ thuộc sắc tộc nào, hay tôn giáo nào. Phụ nữ người dân tộc thiểu số đang chiếm tỷ lệ cao trong đại biểu Quốc hội”. Ông viết tiếp: “Người Việt Nam đang được hưởng 100% quyền tự do tôn giáo của mình. Đạo Phật, đạo Cơ đốc, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Hoà Hảo và đạo Cao Đài, tất cả đều đang được quyền tự do hoạt động. Không có áp lực nào đối với bất cứ hoạt động tôn giáo nào”./.

Minh Thư
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Hai 2, 2012, in Chính luận.

Phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo quan niệm của Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, người sáng lập ra Đảng ta. Trong quá trình rèn luyện, dẫn dắt Đảng ta lãnh đạo phong trào cách mạng, Người rất quan tâm đến việc truyền bá, giảng dạy và học tập lý luận. Ngay từ ngày đầu của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động… Việc học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận… là những việc cần kíp của Đảng. Vì vậy, giảng dạy và học tập lý luận là nhiệm vụ rất quan trọng đối với cách mạng.

Hồ Chí Minh là người đầu tiên của nước ta quan tâm tới lý luận cách mạng và thực hành kiên trì, bền bỉ việc giáo dục lý luận chính trị cho các thế hệ người Việt Nam yêu nước. Người đã để lại cho cách mạng Việt Nam cả một di sản to lớn về giáo dục lý luận chính trị. Đó là cả một hệ thống quan điểm của Người về khái niệm giáo dục chính trị, về vị trí và mục đích của giáo dục lý luận chính trị, cũng như về nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục lý luận chính trị.

Nói về phương pháp dạy và học lý luận chính trị Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một số phương pháp cơ bản, chủ yếu như sau:

Thứ nhất, dạy và học lý luận chính trị phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải biết tự động học tập, phải lấy tự học làm cốt.

Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Người cho rằng: Học tập ở trường của đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập. Phải giành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu làm đề cương, thảo luận, tranh luận… theo sự hướng dẫn của giáo viên.

Như vậy, bằng phương pháp này của Hồ Chí Minh nếu được thực hiện tốt ở các trường Chính trị nói chung, Trường Chính trị Hậu Giang nói riêng thì sẽ chuyển từ phương pháp cũ, từ cách truyền thụ kiến thức một chiều – thầy giảng, trò ghi, sang cách tổ chức quá trình nhận thức năng động của người học. Người học và người dạy cùng làm việc trên lớp, trong thảo luận hoặc người học tự làm việc theo hướng dẫn của giảng viên.

Thực hiện phương pháp này bắt buộc người học phải chuẩn bị kỹ nội dung qua các khâu học tập trên cơ sở giáo trình, giáo khoa và tài liệu tham khảo có liên quan. Người nói: phải khiêm tốn, thật thà trong học tập, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói là không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập. Mặt khác cũng phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ phải hoàn thành cho được… nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Thực hiện phương pháp này cũng đòi hỏi người giảng viên phải có sự đầu tư và chuẩn bị thật chu đáo từ khâu soạn bài giảng, thực hiện bài giảng, thảo luận… Đồng thời, người giảng viên phải không ngừng cập nhật, bổ sung kiến thức về lý luận cũng như thực tiễn để không ngừng nâng cao tri thức của người thầy. Như vậy mới có thể “biết mười dạy một” mà những điều dạy đó lại phải là kết quả của sự chọn lọc, gợi mở hướng dẫn cho học viên biết tự động học tập nâng cao hiểu biết. Người dạy: Trong khi giảng dạy cần phải khơi dậy tính chủ động của người học. Đặc biệt là gợi ý để trao đổi những kinh nghiệm công tác (cả kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại), từ đó gom lại thành bài học quý. Bởi vì mỗi cán bộ ở các lĩnh vực công tác khác nhau đều có những bài học kinh nghiệm bổ ích, nếu biết tập hợp lại và đem ra trao đổi sẽ làm cho hiệu quả công tác của các đồng chí khác cao hơn, tránh những sai lầm đã gặp phải.

Hai là, trong dạy và học lý luận chính trị, phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”

Đối với phương pháp này Người yêu cầu người học cần phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì cần phải đặt câu hỏi Vì sao?  đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyêt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Chỉ có như vậy mới tránh được bệnh giáo điều và việc học mới có ích cho cách mạng.

Đối với người dạy Hồ Chí Minh cho rằng, không phải ai cũng làm công tác huấn luyện được, muốn huấn luyện được người khác phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc… Về chuyên môn, để trở thành người huấn luyện lý luận giỏi thì người dạy phải nắm chắc lý luận trong giảng dạy cần xác định nội dung cốt lõi, nội dung chính, trọng tâm cần nắm vững và vận dụng; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng, tình trạng chung chung, đại khái, chỉ biết rừng mà không biết các loại cây cụ thể. Đồng thời trong huấn luyện phải chú ý vào rèn  phương pháp, kỹ năng, tạo cho người học nắm được bản chất linh hồn của các quan điểm lý luận, có thể độc lập, tự chủ xử trí đúng công việc trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ba là, công tác giáo dục lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng, với thực tiễn.

Hồ Chí Minh cho rằng công tác giảng dạy phải xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước, của địa phương phù hợp với từng đối tượng cán bộ công tác ở cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, cấp huyện, thị… Theo Người, việc huấn luyện cốt yếu ở thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều. Việc cốt yếu là phải làm cho người đọc thấu hiểu vấn đề. Nhưng thấu hiểu vấn đề cũng có nhiều cách: có cách thấu hiểu thật tỷ mỉ, nhưng dạy theo cách đó tốn rất nhiều thì giờ. Trái lại, cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học thấu hiểu được vấn đề.

Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liện hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương, đơn vị công tác của họ. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng lưu ý rằng giảng dạy và huấn luyện phải gắn lý luận với thực tế trong quá trình giảng dạy. Phải dạy người học cả kỹ năng tiếp cận và phương pháp thực hành để vận dụng lý luận đó vào cuộc sống và thực tế công tác của họ. Nếu chỉ dạy lý luận mà không dạy thực hành thì mới chỉ đạt một nử a yêu cầu mà thôi. Người viết, lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy.

Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội ngũ và chất lượng giảng viên làm công tác đào tạo.

Hồ Chí Minh cho rằng: không phải ai cũng huấn luyện được nhất là người huấn luyện của Đoàn thể cần phải có trình độ hiểu biết chuyên sâu. Người đã đặt vấn đề “phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó”, người huấn luyện phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc…

Hồ Chí Minh cho rằng, do chức năng của mình, một đặc trưng, phẩm chất của người giảng dạy lý luận chính trị là phải không ngừng học tập, người giảng viên phải có lòng đam mê, khiêm tốn học tập, không có thái độ kỳ thị, học thêm mãi, biết kết hợp và làm giàu trí tuệ của mình. Người giảng viên nào tự cho mình là đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nát nhất và người đó không thể làm công việc giảng dạy được. Người giảng viên lý luận chính trị phải thực hiện học không biết chán, dạy không biết mỏi. Nếu ngưng học tập thì kiến thức lý luận đó sẽ trở nên cũ, xơ cứng, nó không phản ánh thực tiễn sinh động nên làm cho việc dạy và học không có hiệu quả.

Năm là, tổ chức quản lý học viên trong quá trình đào tạo.

Muốn huấn luyện lý luận chính trị trước hết phải có tổ chức, có lãnh đạo sâu sát tỉ mỉ và chu đáo.

Tổ chức huấn luyện phải bám sát cả yêu cầu số lượng và chất lượng; đồng thời, Hồ Chí Minh quan tâm đến cách thức tổ chức lớp. Người chỉ ra một khuyết điểm cần sữa chữa ngay trong việc huấn luyện, đó là “tham làm nhiều mà không chu đáo”. Rõ ràng nhất là trong việc mở lớp huấn luyện: lớp quá đông; Mở lớp lung tung… Người căn dặn: chúng ta mở lớp nào phải cho ra lớp nấy, lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận, đừng mở lớp lung tung.

Người phê phán việc mở lớp lung tung, chồng chéo lẫn nhau và lớp học quá đông, tốn sức, tốn của của Đảng, Nhà nước và nhân dân mà kết quả lại không đâu vào đâu. Người cho rằng: chúng ta không được mở lớp tràn lan. Vì mở nhiều lớp sẽ thiếu người giảng nên người đi giảng lúc nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như chuồn chuồn đạp nước, dạy không chu đáo được. Thậm chí có người giảng sai lại có hại cho học sinh, hại cho đoàn thể. Mặt khác, lớp đông sẽ có sự chênh lệch lớn về trình độ của người học, nên nhận biết của họ không đều. Do vậy, phải mở lớp nào cho ra lớp đó, lựa chọn người dạy và không mở lớp tràn lan.

Các lớp huấn luyện phải được tổ chức thường xuyên; chương trình, giáo trình phải có tính hệ thống theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. “ Sắp xếp thời gian và bài học phải logic, mạch lạc với nhau mà không xung đột với nhau”. Phải xem giáo dục lý luận là công việc thường xuyên của Đảng, của đoàn thể; là nhu cầu thường trực của cán bộ, đảng viên, gắn liền với quá trình hoàn thiện nhân cách nói chung.

Đối với người học, Hồ Chí Minh cho rằng, vì nhiệm vụ cách mạng mà ai cũng phải học lý luận. Đối tượng cần huấn luyện bao gồm: Cán bộ, hội viên của đoàn thể, cán bộ các ngành chuyên môn của chính quyền và nhân dân. Trong đó huấn luyện cán bộ là quan trọng nhất, vì cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Cán bộ tốt thì thành công, cán bộ không tốt thì hỏng việc.

Sáu là, để giáo dục lý luận chính trị đạt hiệu quả cao cần chuẩn bị tốt các phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên.

Ngoài nguồn lực con người như là nhân tố quyết định, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị còn phụ thuộc vào phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc dạy và học. Đó là các loại giáo trình, giáo khoa, lớp học, phương tiện hỗ trợ giảng dạy…

Theo Hồ Chí Minh, tài liệu là một trong những yếu tố giữ vai trò cơ bản và có ý nghĩa quyết định đến kết quả, chất lượng giáo dục lý luận chính trị.

Hồ Chí Minh cho rằng: “Phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác – Lênin làm gốc. Tài liệu phải được lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có lợi gì.

Người còn chỉ ra rằng, ngoài những tài liệu có sẵn như trên, còn có những tài liệu thiết thực khác. Đó là những kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Những kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại tức là những bài học quý, không phải cứ chờ đồng chí cấp trên đến nói chuyện thì mới là bài, là học. Việc trao đổi gom góp kinh nghiệm này phải có tổ chức hẳn hoi chứ không phải mạnh ai nấy nói.

Tóm lại, Hồ Chí Minh vạch rõ: “Chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết phải tự cải tạo bản thân chúng ta”. Phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo tư tưởng của mình và giúp vào việc cải tạo xã hội; phải nâng cao nhận thức chính trị để có lập trường vững vàng và xem xét đúng đắn các vấn đề quốc tế cũng như trong nước. “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình.

Truong chinh tri hau giang
Tam trang (st)
bqllang.gov.vn

Sự sai trái của quan điểm “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”

“Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, ”Nhân quyền không biên giới”, ”Chủ quyền hạn chế”, ”Can thiệp nhân đạo”… là những cách diễn đạt khác nhau của cùng một tư tưởng lý luận và ý đồ chính trị của các thế lực cực hữu phương Tây dùng dân chủ, nhân quyền làm công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước XHCN và các quốc gia đi theo con đường độc lập dân tộc.

Để bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, chúng ta cần phân tích luận điểm này một cách có hệ thống trên cả hai bình diện: tư tưởng chính trị và pháp lý quốc tế.

Xét về tư tưởng chính trị, quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Tất cả các quốc gia dân tộc đều có những đóng góp vào giá trị đó. Quyền con người là thành quả của các cuộc đấu tranh: đấu tranh giai cấp, chống áp bức, bóc lột; đấu tranh giành độc lập dân tộc và đấu tranh chống lại sự suy thoái về đạo đức, lối sống, hướng đến sự hoàn thiện phẩm giá con người. Với chúng ta, bảo đảm quyền con người chân chính thuộc bản chất của chế độ xã hội XHCN của Đảng và của Nhà nước ta.

Nói đến ”quyền” là nói đến pháp luật. Nói đến pháp luật không thể không nói tới vai trò của Nhà nước.

Là một dân tộc có bề dày lịch sử và một nền văn hiến rực rỡ, có truyền thống nhân đạo, bảo vệ con người, vào thế kỷ XI, dưới thời nhà Lý, chúng ta đã có “Bộ luật hình”. Trong đó đã có nhiều điều bảo vệ quyền con người – tất nhiên còn nhiều hạn chế bởi các điều kiện kinh tế và quan điểm giai cấp. Vào thời nhà Lê, thế kỷ XV, chúng ta có bộ luật ”Quốc triều hình luật”, còn gọi là bộ luật “Hồng Đức”. Bộ luật có tới 712 điều, trong đó không chỉ chứa đựng những quy phạm xã hội tiến bộ mà còn thể hiện những tư tưởng nhân đạo, nhân quyền sâu sắc như bảo vệ quyền của bị can, bị cáo, tư tưởng về bình đẳng trước pháp luật, về quyền của phụ nữ, về sự khoan dung đối với người già và người chưa thành niên…

Như vậy, có thể nói, trong xã hội nô lệ, phong kiến tuy chưa có chế định quyền con người, nhưng đã có những chế định pháp luật có nội dung bảo vệ con người.

Chủ nghĩa Mác- Lênin đã đặt quyền con người vào trong tiến trình lịch sử, rằng, những quyền đó gắn liền với Nhà nước và pháp luật. Quyền con người, do đó không thể không in dấu ấn giai cấp, nhất là khi vận dụng nó trong cuộc đấu tranh giai cấp cũng như đấu tranh giành độc lập dân tộc. Quyền con người đã từng là vũ khí đấu tranh của giai cấp tư sản nhằm lật đổ sự thống trị bởi vương quyền, thần quyền và dùng để củng cố địa vị thống trị của mình.

Xét trên phương diện pháp lý quốc tế trước khi tổ chức Liên hợp quốc ra đời, quyền con người chỉ tồn tại trong Luật Hiến pháp, có nghĩa chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi nội bộ của mỗi quốc gia. Từ khi Liên hợp quốc thành lập (1945) cùng với Hiến chương Liên hợp quốc và các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người ra đời, quyền con người đã trở thành một chế định trong Luật quốc tế. Từ đây, quyền con người được bảo đảm bởi cả hai cơ chế, cơ chế quốc gia và cơ chế quốc tế. Đây chính là cơ sở lịch sử – chính trị của luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người gồm những yếu tố sau:

– Hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc bao gồm: Đại hội Đồng Liên hợp quốc; Hội đồng kinh tế – xã hội, Ủy ban nhân quyền, Cao ủy nhân quyền, các ủy ban nhân quyền của một số công ước… Hội đồng Bảo an cũng có vai trò quan trọng, là tổ chức ra quyết định có can thiệp bằng quân sự khi xuất hiện tình trạng vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, phổ biến ở một quốc gia nào đó không?

– Cùng với sự ra đời hệ thống các cơ quan nhân quyền là hệ thống các văn kiện pháp lý về quyền con người, đó là Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, các công ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là hai công ước – Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966). Ngày nay, giới lý luận xem Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và hai công ước trên là ”Bộ luật quốc tế về quyền con người”.

Bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” cần phân tích mối quan hệ giữa độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết với cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người.

V.I.Lênin đã đề cập tới quyền dân tộc tự quyết trên tinh thần cách mạng và khoa học. Người nói:

”Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là sự phân lập của các dân tộc đó, với tư cách là quốc gia, ra khỏi tập thể các dân tộc khác, có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập”. Người còn nhấn mạnh, quan điểm của chủ nghĩa xã hội đối với các dân tộc bị áp bức là: ”Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải lập nên chế độ dân chủ hoàn toàn và do đó, không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình đẳng với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức”. Thực tiễn lịch sử ghi nhận, nhà nước Xô-viết đã giành quyền dân tộc tự quyết cho các dân tộc chung sống trong Liên bang cộng hòa XHCN Xô-viết bao gồm cả quyền tách khỏi Liên bang như trưởng hợp Phần Lan.

Tiếp nối và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin về quyền dân tộc tự quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Tuyên ngôn độc lập”, không chỉ nói đến ”quyền phân lập” với ”mẫu quốc” mà nhấn mạnh đến quyền đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng thời khẳng định dân tộc Việt Nam có đủ điều kiện và quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó. Điều đó có nghĩa, Việt Nam không cần đến cái gọi là ”chế độ quản thác” của bất cứ ai, kể cả Liên hợp quốc.

Sau “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam 15 năm, vào những năm 60 của thế kỷ XX, cộng đồng quốc tế mới chính thức thừa nhận quyền dân tộc tự quyết trong “Văn kiện Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa”. Điều này còn được khẳng định lại trong hai công ước: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966.

Với hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966, Tuyên bố Viên và Chương trình hành động, 1993, quyền dân tộc tự quyết chẳng những được khẳng định trong Luật quốc tế nói chung mà còn là quyền tập thể trong hệ thống quyền con người. Các văn kiện nói trên còn lưu ý rằng, việc bảo đảm các quyền con người trước hết thuộc trách nhiệm của các quốc gia.

Như vậy là luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” trên phương diện Luật quốc tế, không có căn cứ bởi vì chủ thể của Luật quốc tế là các quốc gia, chứ không phải là các cá nhân. Không phủ nhận rằng, trong Luật quốc tế về quyền con người, tư cách pháp lý của cá nhân cũng có thể được xác lập với điều kiện có sự cam kết của các chính phủ tham gia Nghị định thư không bắt buộc thứ nhất. Song, cho đến nay, Việt Nam và nhiều quốc gia chưa thừa nhận Nghị định thư này. Xét về nội dung việc bảo đảm các quyền con người ở mỗi quốc gia theo Công ước quốc tế còn phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước. Pháp luật quốc tế không cho phép bất cứ quốc gia nào hay tổ chức quốc tế nào được phép can thiệp vào vấn đề nhân quyền của mỗi nước. Những mâu thuẫn hoặc khác biệt nào đó giữa các quốc gia trên lĩnh vực này chỉ có thể được giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và đối thoại xây dựng.

Nhằm ngăn chặn ý đồ thông qua vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia cũng như việc áp đặt hệ tư tưởng tư sản, đại diện của Liên Xô đã bác bỏ những đề xuất ban đầu của Tiểu ban soạn thảo Tuyên ngôn ở một số điểm sau:

Thứ nhất, bác bỏ khái niệm ”Công ước” quốc tế về quyền con người mà thực chất là Bộ luật quốc tế về quyền con người Nói cách khác là bác bỏ tính ràng buộc về mặt pháp lý của Văn kiện này. Cuối cùng các thành viên đã nhất trí tính chất của văn bản là ”Tuyên ngôn”, một văn kiện không ràng buộc về mặt pháp lý.

Thứ hai, bác bỏ tư cách cá nhân của các thành viên tham gia Tiểu ban soạn thảo, thay vào đó là tư cách đại diện của mỗi quốc gia.

Thứ ba, mặc dù không đưa ra nguyên tắc đa số hay đồng thuận, song trên thực tế, nguyên tắc đồng thuận là nguyên tắc làm việc của Tiểu ban (vì lúc đó trong Tiểu ban chỉ có một đại diện của Nhà nước XHCN – đó là Liên Xô).

Thứ tư, về nội dung các quyền, đại diện Nhà nước Xô-viết bác bỏ quan điểm tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và quyền tự do cá nhân… thay vào đó là sự bảo đảm hài hòa giữa các quyền dân sự, chính trị với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa… Tuy nhiên, văn kiện này đã để ”ngỏ” vấn đề chủ quyền quốc gia.

Mặc dù còn một số hạn chế, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người vẫn là một Văn kiện chứa đựng những tư tưởng lớn, tiến bộ, có giá trị bền vững trên lĩnh vực quyền con người. Hiện nay, cùng với Hiến chương Liên hợp quốc, Văn kiện này được tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, mặc nhiên thừa nhận và xem đó như một Văn kiện mang tính đạo lý và có tính pháp lý mà các quốc gia cần phải tôn trọng.

Vào thập kỷ 60, thế kỷ XX do phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã thu được những thành tựu to lớn, chủ nghĩa đế quốc không thể phát động chiến tranh xâm lược, Hoa Kỳ đã đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình đối với các nước XHCN. Ngoại giao nhân quyền được xem là phương thức quan trọng của chiến lược đó.

Luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” là một trong những nội dung cơ bản của cuốn sách “Ngoại giao nhân quyền” do D.Niu sơn viết và xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1966. Các lực lượng cầm quyền Hoa Kỳ cho rằng, hệ tư tưởng tư sản với tự do, dân chủ nhân quyền là thế mạnh của họ. Hoa Kỳ có thể giành được ưu thế chính trị nếu biết dựa trên quan niệm dân chủ, nhân quyền trong hoạt động đối ngoại.

Chính sách ngoại giao nhân quyền của Hoa Kỳ lấy quan niệm dân chủ, nhân quyền của họ ”làm nền tảng”. Tùy theo tương quan lực lượng và điều kiện khách quan, chủ quan mà họ đề cập tới vấn đề nhân quyền với quốc gia nào và ở mức độ nào. Đôi khi Hoa Kỳ đặt vấn đề nhân quyền là điều kiện tiên quyết để thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, bản chất ngoại giao nhân quyền là dùng khái niệm dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Trên lĩnh vực tư tưởng, ngoại giao nhân quyền hướng vào phê phán, bài bác các quan điểm nhân quyền mác-xít, truyền bá quan điểm nhân quyền tư sản nhằm làm biến đổi ý thức hệ Mác-Lênin từ đó làm thay đổi tận gốc chế độ xã hội XHCN ở các quốc gia, áp đặt một xã hội theo ”hình ảnh” của họ.

Trong chiến lược ”diễn biến hòa bình”, ngoại giao nhân quyền là một vũ khí lợi hại của chủ nghĩa đế quốc. Vào những năm 1918 – 1922, khi nước Nga Xô-viết vừa ra đời, đứng giữa vòng vây và cuộc can thiệp quân sự của nhiều nước đế quốc nhưng nước Nga Xô-viết vẫn tồn tại và phát triển. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồng quân Liên Xô là lực lượng chủ yếu đánh bại chủ nghĩa phát xít, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, đồng thời còn góp phần giải phóng cho nhiều dân tộc khác. Thế nhưng, với chiến lược truyền bá tư tưởng ”dân chủ”, ”công khai”, ”đa nguyên, đa đảng”, ”nhân quyền”… các thế lực đế quốc đã làm sụp đổ ý thức hệ Mác-Lênin ở Liên Xô, Đông Âu. Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ một bộ phận quan trọng của hệ thống XHCN vào những năm 1989 – 1991.

Sau khi Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, đế quốc Mỹ thúc đẩy chiến lược ”diễn biến hòa bình” và ngoại giao nhân quyền, sử dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Năm 1991, Hoa Kỳ dùng quân sự can thiệp vào cuộc chiến tranh Irắc – Côoét. Năm 1999, Hoa Kỳ và NATO kiếm cớ bảo vệ nhân quyền của người An-ba-ni xâm lược Nam Tư. Năm 2001 , họ xâm lược Áp-ga-ni-xtan và năm 2003 họ xâm lược I-rắc cùng với những lý do dân chủ, nhân quyền.

Đối với Việt Nam, sau khi buộc phải rút quân, Hoa Kỳ đã áp dụng nhiều chiến lược phá hoại, từ các ”kế hoạch hậu chiến”, nuôi dưỡng những phần tử có hận thù với cách mạng, xây dựng lực lượng chính trị, quân sự trong nước và ngoài nước… đến việc đưa biệt kích xâm nhập nội địa, mưu toan gây bạo động chính trị, vực dậy lực lượng phản động trong nước… nhưng họ đã bị thất bại. Trong mục tiêu chiến lược đánh đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kịch bản ”diễn biến hòa bình”, dựa trên lợi dụng dân chủ, nhân quyền như đã từng diễn ra ở Liên Xô, Đông Âu (1989 – 1991) được xem là phương thức chủ yếu, là điều mong muốn nhất của họ.

Khác với các giai đoạn trước đây, điểm mới trong chiến lược ”diễn biến hòa bình” cũng là điểm mới trong việc sử dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” của Hoa Kỳ là song song với việc truyền bá hệ tư tưởng tư sản, lối sống, văn hóa là áp đặt pháp lý đơn phương nhằm gây khó khăn, từng bước làm biến đổi chế độ xã hội ta.

Liên tiếp từ năm 2001 đến nay, không kể Báo cáo nhân quyền hàng năm, lực lượng cực hữu Hoa Kỳ đã áp đặt nhiều Dự luật đối với Việt Nam, mở đầu là ”Đạo luật nhân quyền Việt Nam”, HR2368, tiếp đó là Hạ viện bang Viếc-gi-ni-a thông qua đạo luật cho phép công sở treo cờ ba sọc của ngụy quyền Sài Gòn, rồi đến ”Dự luật thúc đẩy tự do thông tin 1019”, ”Dự luật nhân quyền Việt Nam 2003”, HR1587 và ”Một số khoản bổ sung Dự luật chi đối ngoại của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 2004 – 2005”, HRI950 – trong đó, họ đòi Việt Nam phải phóng thích tất cả tù nhân ”chính trị và tôn giáo” và yêu cầu Chính phủ Mỹ cung cấp tài chính cho đài phát thanh châu Á tự do, cho lực lượng ”đấu tranh” dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam…

Có thể nói về chiến lược của chủ nghĩa đế quốc hiện nay là lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, lợi dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào vấn đề dân tộc, tôn giáo, phá hoại đại đoàn kết toàn dân tộc làm trọng tâm; lấy việc xây dựng tổ chức, tạo dựng ngọn cờ và gây bạo loạn chính trị, tạo cớ móc nối với các thế lực bên ngoài làm khâu đột phá.

Ảo tưởng thành lập ”Nhà nước Đêga độc lập” ở Tây Nguyên, ”Nhà nước Khmer Rôm” ở Tây Nam Bộ; ”Vương quốc H’mông tự trị” ở Tây Bắc; ”Vương quốc Chăm” ở Nam Trung Bộ cùng với mưu đồ xây dựng các tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo phi pháp như ”Tin Lành Đêga”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, ”Ủy ban liên tôn đấu tranh vì tự do tôn giáo”… là những kịch bản đầy tham vọng của họ.

Bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” trong bối cảnh chính trị quốc tế hiện nay, chúng ta cần nhận thức đầy đủ, toàn diện về mục tiêu, chiến lược cách mạng của Đảng, về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời chúng ta cần nắm chắc đặc điểm của tình hình quốc tế liên quan đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người.

Như trên đã trình bày, đặc điểm của tình hình quốc tế liên quan tới quyền con người hiện nay đó là sự hình thành cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người với hệ thống các cơ quan nhân quyền rộng lớn có sự tham gia (ở những mức độ khác nhau) của các thành viên Liên hợp quốc. Hiện nay, Việt Nam đang là một thành viên tích cực. Chúng ta đã tham gia Ủy ban nhân quyền và đang tiếp tục ứng cử làm thành viên ủy ban này trong nhiệm kỳ tới. Các chuẩn mực cơ bản về quyền con người, được xem như Bộ luật quốc tế đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ đã hình thành tổ chức nhân quyền khu vực bao gồm cả Tòa án Nhân quyền. Nhân quyền đang trở thành mối quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế.

Trong điều kiện cơ chế quốc tế đã hình thành, hiện nay, giải quyết những vấn đề nhân quyền chúng ta cần phải tính đến các nhân tố quốc tế. Cuộc đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình” nói chung, đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ nhân quyền là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Cuộc đấu tranh này cần phải phục vụ cho mục tiêu nhiệm vụ của chiến lược cách mạng hiện nay: xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế, văn hóa đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế, bảo vệ quốc gia và an ninh xã hội.

Trong khi kiên quyết và kiên trì cuộc đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, an ninh quốc gia, chúng ta cần phải chống lại âm mưu và thủ đoạn bôi nhọ, hạ thấp hình tượng cao đẹp của Việt Nam đã hình thành trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc. Chúng ta có thể và cần phải đấu tranh chống lại âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền cô lập Việt Nam, cản trở và ngăn chặn Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế.

Để giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, chúng ta phải chủ động; hợp tác trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đối thoại bình đẳng. . . Đồng thời, giải quyết ngày càng tốt hơn các quyền công dân và quyền con người cho người đần; xử lý kiên quyết đối với những phần tử cơ hội, phản động trong nước và đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thể lực thù địch nước ngoài./.

Theo Cao Nguyên, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận tháng 5/2005
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Hai 2, 2012, in Chính luận.

Xuất bản sách “Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”

(ĐCSVN– Để phục vụ cho việc nghiên cứu, quán triệt, học tập và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tháng 5/2011, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sách “Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”. Sách do PGS, TS Lê Minh Quân, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn.

Ngoài lời mở đầu và kết luận, cuốn sách gồm 9 chương: Chương 1 – Dân chủ và dân chủ hóa – những lý thuyết và mô hình chủ yếu; Chương 2 – Những xu hướng phát triển mới của thế giới với dân chủ hóa hiện nay; Chương3 – Quá trình dân chủ hóa trên thế giới hiện nay; Chương 4 – Dân chủ hóa trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay; Chương 5 – Xây dựng nhà nước pháp quyền với dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay; Chương 6 – Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực với dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay; Chương 7 – Phát triển xã hội công dân với dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay; Chương 8 – Mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng với dân chủ hóa xã hội ở Việt Nam hiện nay; Chương 9 – Dân chủ hóa ở cơ sở nước ta hiện nay.

Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm và khái niệm lý thuyết và mô hình dân chủ hóa, những yếu tố tác động và quá trình dân chủ hóa trên thế giới, cuốn sách phân tích nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Tác giả đã phân tích làm rõ dân chủ luôn là ước vọng của con người trong mọi thời đại. Nó cần như cơm ăn, áo mặc, nước uống hằng ngày. Dân chủ là thước đo chất lượng cuộc sống văn minh xã hội và năng lực quản lý của một nhà nước. Dân chủ không phải tự nhiên mà có. Lịch sử đất nước ta đã chứng minh, muốn có nó phải đấu tranh, thậm chí phải hy sinh xương máu.

Dân chủ và cuộc đấu tranh vì dân chủ hay dân chủ hóa, cũng như hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển, là một xu thế lớn của thời đại. Cuộc đấu tranh vì dân chủ, cũng như vì hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển mặc dù còn gặp nhiều khó khăn và thử thách, nhưng đã và đang có những bước tiến mới. Hơn thế, dân chủ và dân chủ hóa còn ngày càng trở thành mục tiêu và động lực, nội dung và phương thức của phát triển xã hội theo hướng bền vững.

Ở nước ta hiện nay, dân chủ trở thành mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới. Vấn đề dân chủ và dân chủ hóa ngày càng có tầm quan trọng to lớn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Những thành tựu của quá trình dân chủ hóa đang góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, những khó khăn, thách thức trong quá trình dân chủ hóa cũng cản trở công cuộc phát triển đất nước. Nhận thức về vấn đề dân chủ đã khó khăn và phức tạp, nhưng nhận thức về dân chủ hóa hay quá trình hiện thực hóa những mơ ước, những giá trị dân chủ trong đời sống còn khó khăn và phức tạp hơn. Những vấn đề về mục tiêu, động lực, nội dung, hình thức và phương pháp; nguyên nhân, kinh nghiệm, nguyên tắc, phương châm và bước đi của dân chủ hóa luôn là những vấn đề khó khăn và mới mẻ đòi hỏi phải giải quyết./.

VM
cpv.org.vn

Núi Thành –Trận đầu đánh Mỹ

QĐND Online – Đến đầu năm 1965, cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam nước ta leo thang lên một bước mới, chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, xuất con chủ bài quân viễn chinh xâm lược Mỹ, từng bước phản công hòng giành lại quyền chủ động, giành thắng lợi quyết định về chiến lược. Lúc này, vấn đề nóng bỏng và bức thiết nhất được đặt ra là: quân và dân ta liệu có khả năng đánh được quân viễn chinh Mỹ không? Đánh Mỹ và thắng Mỹ bằng cách nào?

Trên chiến trường Quảng Nam, sau khi quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, Tỉnh uỷ, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam nhận được thông báo của Bộ Tư lệnh Quân khu V về tình hình chiến sự và dự kiến cửa biển An Hoà là một trong những địa điểm Mỹ có thể đổ quân. Quân khu chỉ thị cho Tỉnh phải chuẩn bị tư tưởng cho các lực lượng vũ trang với tinh thần sẵn sàng cao nhất để đánh Mỹ. Ngày 7 tháng 5 năm 1965, Bộ Tư lệnh Quân khu V giao nhiệm vụ cho Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam, phải nhanh chóng phát động chuyển tư tưởng bộ đội, du kích từ đánh nguỵ sang đánh cả nguỵ lẫn Mỹ. Tổ chức lực lượng hình thành vành đai bao vây, tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ ở khu vực Kỳ Liên, Kỳ Hà; hạn chế không cho chúng phát triển nhanh ra vùng giải phóng. Trước mắt quyết diệt gọn cho được một đại đội lính Mỹ. Mục tiêu đánh, đơn vị thực hành trận đánh do Tỉnh lựa chọn, quyết định.

Quán triệt nhiệm vụ trên giao, Tỉnh đội Quảng Nam đã chọn đại đội lính thuỷ đánh bộ Mỹ chốt giữ núi Thành làm mục tiêu tiến công.

Núi Thành thực chất là một quả đồi dài 1.250 m, rộng 60 m, có hai mỏm chính: mỏm đông cao 50 m, mỏm tây cao 49 m. Hai mỏm đông, tây cách nhau 500m bởi một “yên ngựa”. Núi Thành có độ dốc thoai thoải, đất đá, cây cối lúp xúp ngang ngực, xen kẽ nhiều loại dây leo chằng chịt. Sáng ngày 17 tháng 5 năm 1965, quân Mỹ càn quét lên vùng giải phóng của ta ở phía tây xã Kỳ Liên và chiếm giữ núi Thành. Đây là vị trí có tầm quan sát xa, khống chế rộng 3 xã Kỳ Sanh, Kỳ Liên, Kỳ Khương và một số điểm chốt khác trong dãy núi răng cưa làm thành hệ thống chốt tiền tiêu bảo vệ cho sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà, kiểm soát quốc lộ Số 1, đoạn từ An Tân đến dốc Sỏi. Đại đội lính thuỷ đánh bộ Mỹ chốt giữ núi Thành có 140 tên, chia làm 3 cụm chốt. Cụm chốt điểm cao 50 có ban chỉ huy đại đội và hai trung đội (thiếu 1 tiểu đội), có trận địa súng ĐKZ 75mm, trận địa súng cối 81mm. Cụm chốt điểm cao 49 có một trung đội, một trận địa súng ĐKZ 75 mm. Cụm chốt ở mỏm phụ ở phía bắc đồi 50 có một tiểu đội. Trang bị chủ yếu của quân Mỹ ở đây là súng đại liên M60, phóng lựu 79, súng Gơ – răng M2 và lựu đạn M26. Trận địa chốt của chúng được bố trí theo kiểu hình vòng bậc thang từ thấp lên cao; các cứ điểm, trận địa bên trong có thể chi viện các trận địa vòng ngoài bằng cả lực lượng và hoả lực. Chiến hào của chúng sâu đến thắt lưng, xen kẽ có các công sự. Ban ngày, chúng căng bạt che nắng, ban đêm dỡ ra. Giữa các công sự dọc chiến hào là các hố cá nhân. Cách chiến hào ngoài cùng khoảng 5m, chúng rải một lớp rào kẽm gai bùng nhùng xen kẽ trong những bụi gai tạo nên vật cản khiến quân ta khó tiếp cận. Đóng quân trên núi Thành, quân Mỹ không lùng sục, tuần tra rộng mà chỉ trong phạm vi phía trong rào kẽm gai. Ban ngày, chúng dùng ống nhòm để quan sát, nếu phát hiện được mục tiêu hoặc nghi ngờ thì gọi máy bay, pháo binh bắn phá, hoặc dùng súng ĐKZ, súng cối bắn vào mục tiêu. Ban đêm, chúng ở yên trong các công sự, canh gác tại chỗ, tránh phát ra tiếng động, không bắn pháo sáng nhằm đề phòng trinh sát của ta xác định thế phòng ngự và chi tiết phòng ngự. Mọi sinh hoạt từ cung cấp lương thực, thực phẩm, nước uống đến vũ khí, trang bị…, chúng đều dựa vào máy bay trực thăng.

Qua quá trình theo dõi, trinh sát nắm chắc các quy luật hoạt động của quân Mỹ, ta rút ra kết luận:quân Mỹ tuy đông, hoả lực mạnh, chốt giữ trên điểm cao có rào kẽm gai, công sự bố trí nhiều tầng để hỗ trợ nhau, có pháo binh, không quân sẵn sàng chi viện… nhưng điểm yếu vẫn là cơ bản. Đấy là, lính thuỷ đánh bộ Mỹ mới đến chiến trường Việt Nam, còn nhiều bỡ ngỡ. Chúng được huấn luyện tốt về đổ bộ đánh chiếm đầu cầu trong chiến tranh hiện đại, nay bị đẩy lên chốt giữ điểm cao là trái sở trường, lại phải đối phó với chiến tranh nhân dân rộng khắp của ta nên bị động. Công sự, vật cản dã chiến của chúng đã đơn giản lại nằm sâu trong vùng đất giải phóng của ta nên dễ bị cô lập, chia cắt. Nếu ban dêm, ta dùng lực lượng tinh nhuệ, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật giỏi, bất ngờ tiến công, đánh gần, đánh nhanh thì có thể hạn chế đựơc sức mạnh hoả lực của địch, kể cả pháo binh và không quân, nhất là chúng không thể dùng xe tăng, bộ binh ứng cứu trong đêm tối. Từ phân tích, đánh giá về địch và căn cứ vào khả năng, trình độ tác chiến tập trung của các đơn vị, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam quyết định sử dụng Đại đội 2, tiểu đoàn 70, có tăng cường Phân đội đặc công V.16, làm lực lượng chủ công trong trận đánh Mỹ ở núi Thành. Phương án tác chiến là sử dụng chiến thuật đặc công hoá, bộ đội bí mật tiềm nhập, khắc phục vật cản, áp sát mục tiêu, hình thành thế bao vây, bất ngờ đồng loạt nổ súng; đánh gần bằng lựu đạn, thủ pháo, tiểu liên, kiên quyết thọc sâu vào tung thâm, phát triển chia cắt từng cụm quân địch, từng đoạn chiến hào để tiêu diệt, không cho địch co cụm chống trả.

Sau một thời gian ngắn gấp rút huấn luyện bổ sung và làm công tác chuẩn bị, sáng 25 tháng 5 năm 1965, tại thôn 2, xã Kỳ Thanh, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, Đại đội 2 và Phân đội đặc công V.16 làm lễ xuất quân đánh Mỹ. dồng chí Hoàng Minh Thắng, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam tham dự lễ giao nhiệm vụ đánh Mỹ cho đơn vị và trao lá cờ Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của Đảng bộ Tỉnh cho Đại đội trưởng Võ Thành Nam, để cắm lên núi Thành vào giờ phút chiến thắng.

Đúng 0 giờ 30 ngày 26-5-1965, Đại đội 2 và Phân đội đặc công V16 đã nổ súng tiến công quân Mỹ ở núi Thành. Trận đánh diễn ra trong vòng 30 phút. Với cách đánh thích hợp, tiến công bất ngờ và tinh thần chiến đấu ngoan cường, cán bộ, chiến sĩ ta đã lập nên chiến công vang dội: tiêu diệt gọn Đại đội 2, thuộc Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ, thu 14 súng, phá huỷ 2 súng ĐKZ 75mm, 1súng cối 81mm, 3 máy thông tin vô tuyến và nhiều trang thiết bị chiến tranh khác. Đây là đòn phủ đầu choáng váng không những đối với Bộ Tư lệnh Lữ đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đóng ở căn cứ Chu Lai, mà còn là nỗi sợ hãi chung của sĩ quan, binh sĩ Mỹ mới chân ướt, chân ráo nhảy vào tham chiến trên chiến trường miền Nam.

HÀ THÀNH
qdnd.vn

Địa đạo Long Phước – “núm sữa” nuôi dưỡng phong trào cách mạng

QĐND Online – Xã Long Phước thuộc thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách trung tâm thị xã 7km về phía đông bắc. Do có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự, chính trị và kinh tế nên Long Phước luôn là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta với địch suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong những năm tháng ác liệt của chiến tranh, chính nơi đây đã hình thành hệ thống địa đạo nổi tiếng, một công trình sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân do Đảng ta lãnh đạo.

Khởi đầu từ phong trào đào hầm bí mật tại nhà ông Năm Hồi năm 1948, chi bộ Long Phước đã vận động nhân dân phát triển thành hệ thống địa đạo ở cả 5 ấp trong xã: ấp Đông, ấp Tây, ấp Nam, ấp Bắc và ấp Phước Hữu. Các cụm địa đạo được nối liền với nhau bởi đường xương sống, có hầm bí mật chứa lương thực dự trữ, các công sự chiến đấu để đánh trả địch. Đường địa đạo xương sống cách mặt đất 2-3m, lòng địa đạo cao 1,5-1,6m, rộng 0,6-0,7m, bảo đảm đi lại vận động khá dễ dàng. Tuyến địa đạo ấp Đông dài 360m có nhiều công sự chiến đấu, trạm cứu thương, kho vũ khí và lương thực.

Trong kháng chiến chống Mỹ, hệ thống địa đạo Long Phước được khôi phục và phát triển thành hệ thống liên hoàn vững chắc. Địa đạo được đào sâu xuống lòng đất tới 6m, đường xương sống mở rộng 0,7-0,8m, cao 1,6-1,8m, có nhiều cửa ngăn và lỗ thông hơi, nhiều ụ chiến đấu. Khu địa đạo ấp Bắc, ấp Tây dài tổng cộng 3,6km, hai bên phía trên mặt đất có giao thông hào, công sự chiến đấu, hầm chông, bãi mìn… là các bẫy tử địa với quân giặc.

Qua 27 năm (1948-1975) hình thành và phát triển – từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ – địa đạo Long Phước là nơi bám trụ đánh giặc kiên cường của lực lượng cách mạng, góp phần giữ vững căn cứ hoạt động của Khu ủy và các cơ quan Đảng, chính quyền từ tỉnh đến huyện, xã.

Dựa vào hệ thống địa đạo liên hoàn cùng với các ụ chiến đấu, quân và dân huyện Long Phước đã sát cánh cùng bộ đội C.445 (tỉnh) và C.20 (huyện) kiên cường chiến đấu giáng cho Mỹ-ngụy những tổn thất nặng nề. Điển hình là trận chiến đấu kéo dài 44 ngày đêm (từ 5/3 đến 11/4/1963) chống địch càn quét vào Long Phước, du kích xã và bộ đội địa phương đã gây cho địch nhiều thiệt hại, loại khỏi vòng chiến đấu 243 tên, phá hủy 12 xe M113. Ngày 25/3/1966, liên quân Mỹ – Úc và quân ngụy Sài Gòn có xe tăng, máy bay, pháo binh yểm trợ mở cuộc hành quân càn quét vào Long Phước hòng phá hủy hệ thống địa đạo, tiêu diệt lực lượng cách mạng. Nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại trước sức chiến đấu kiên cường của lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và quân dân Long Phước. Trong trận này, địch chết và bị thương 800 tên, 6 xe quân sự bị phá hủy. Vùng giải phóng của ta được giữ vững và mở rộng.

Từ năm 1974, nhờ khôi phục lại địa đạo, bố trí thành trận địa, nên lực lượng ta tuy ít nhưng vẫn liên tục đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng dù chúng đông hơn gấp nhiều lần về quân số và được trang bị vũ khí hiện đại hơn hẳn, góp phần vào thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tháng 4/1975 trên quê hương Bà Rịa-Vũng Tàu.

Trải qua bao mưa bom, bão đạn, hủy diệt của quân thù, địa đạo và quân dân Long Phước vẫn đứng vững kiên cường, xứng danh vùng đất một thời đạn bom, vẫn được xem như “núm sữa” quan trọng nuôi dưỡng phong trào cách mạng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Tháng 1/1990, Nhà nước ta đã ra quyết định công nhận Di tích lịch sử địa đạo Long Phước. Tháng 2/1992, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã quyết định khởi công khôi phục và tôn tạo khu di tích địa đạo Long Phước, xây dựng phòng trưng bày lưu niệm di tích để giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân và làm nơi tham quan của khách du lịch trong nước và quốc tế.

Đến với địa đạo Long Phước là thăm lại chiến trường xưa. Những chứng tích và di vật lịch sử sẽ gợi lên trong tâm tưởng du khách nét độc đáo của chiến tranh nhân dân. Ta sẽ hiểu vì sao một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn lại đánh thắng được những tên thực dân, đế quốc hùng mạnh. Hãy xuống lòng địa đạo để cùng sống lại những năm tháng hào hùng, bám trụ đánh giặc, chúng ta sẽ thấy những âm vang chiến thắng dường như còn dội trong lòng đất.

Quang Vân
qdnd.vn

Chu Lai và việc hình thành “Vành đai diệt Mỹ”

Chu Lai là một căn cứ quân sự do Mỹ xây dựng năm 1965 bên bờ vũng Dung Quất, cách thành phố Đà Nẵng 84 km về hướng Đông-Nam, nay thuộc xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Căn cứ Mỹ ở đây gồm: sân bay Chu Lai có đường băng xi măng (dài 3.050m, rộng 45m) và đường băng phên nhôm (dài 2.400 m, rộng 30m); cảng quân sự Kỳ Hòa.

Ngay khi quân chiến đấu Mỹ đổ bộ vào Chu Lai (10-5-1965), Bộ Tư lệnh Quân khu V giao cho tỉnh đội Quảng Nam: Nhanh chóng phát động chuyển tư tưởng bộ đội, du kích từ đánh ngụy sang đánh cả ngụy lẫn Mỹ. Tổ chức lực lượng hình thành vành đai bao vây tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ ở Chu Lai, hạn chế không cho chúng lan nhanh ra vùng giải phóng… Căn cứ vào lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đang hoạt động ở khu vực Tam Kỳ, ở phía trong (giáp căn cứ Chu Lai) có một đại đội bộ binh, một trung đội trinh sát; ở phía ngoài (cách căn cứ Chu Lai 5-20km) có Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 42, Đại đội 706, Tiểu đoàn Đặc công 409 (Quân khu tăng cường); ở phía nam Chu Lai có Đại đội 21 (bộ đội địa phương huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) phối hợp. Ban Chỉ huy tỉnh đội Quảng Nam giao nhiệm vụ cho các đơn vị và huyện Nam Tam Kỳ: Tổ chứcVành đai diệt Mỹ là nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh của Mỹ- ngụy trong căn cứ, làm chúng bối rối ngay từ đầu, buộc chúng lo giữ vị trí, không càn quét rộng ra được. Đồng thời, thiết kế trận địa, bố trí hầm chông, cạm bẫy, bắn tỉa ngăn chặn và đánh những quân nống lấn ra ngoài, tạo điều kiện cho bộ đội đánh những đòn phủ đầu tiêu diệt lớn, làm lung lay ý chí xâm lược của chúng ngay từ đầu, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng.

Sự chủ động tiến công của quân và dân Quảng Nam, Quảng Ngãi vào căn cứ Chu Lai được chính phía Mỹ thừa nhận. Trong thời gian (từ 1965-1967), các trận đánh với quân Mỹ ở vùng ven căn cứ Chu Lai đã đưa chiến tranh nhân dân địa phương ở đây lên đỉnh cao. Đây là mô hình tổ chức tiêu biểu cho hoạt động tổng hợp của các lực lượng chính trị, vũ trang địa phương cùng bộ đội chủ lực nhằm ngăn chặn, hạn chế sự tiến công của kẻ thù; tiêu hao, tiêu diệt địch, giữ vững vùng giải phóng. Nây Shi-han -Sử gia quân sự Mỹ- viết: “Với sự giúp đỡ của nông dân, Cộng sản biến mỗi làng thành một pháo đài. Các con đường đi qua đồng lúa và những chỗ trống khác được khống chế tỷ mỷ bằng những điểm hỏa lực phối hợp với nhau do những khẩu súng tự động đặt trong các chốt có những lớp cát bảo vệ phía trên. Các chốt được xây dựng bằng những thanh sắt phá ra từ đường xe lửa dọc bờ biển và buộc lại bằng dây thừng lớn để chống đỡ những bao cát. Các hầm cá nhân được ngụy trang trong giao thông hào thật tài tình. Một cái hốc được khoét vào bên hông, trong đó lính có thể ẩn nấp vào để tránh bom đạn và pháo giống như lính ở các chốt vậy. Cũng có những giao thông hào hình chữ chi để những người chỉ huy có thể tiếp viện, tiếp tế đạn dược và chuyển người bị thương ngay trong trận đánh. Họ có nhiều thời gian để sắp đặt những gì cần thiết trước khi lính Kỵ binh bay (Mỹ) tới”.(Nây Shihan: Sự lừa dối hào nhoáng. Bản dịch tiếng Việt. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, T2, tr248).

Tiếng súng đánh Mỹ trên “Vành đai diệt Mỹ” Chu Lai khởi đầu bằng trận thắng oanh liệt của Đại đội 2, tiểu đoàn 70 tiêu diệt một đại đội Mỹ ở Núi Thành đêm 25 rạng sáng 26-5-1965. Tiếp đến, ngày 10-6-1965, du kích xã Kỳ Sanh do Xã đội trưởng Lê Văn Tâm chỉ huy, bố trí trận phục kích tại chợ Cả Dó, chặn đánh một đại đội Mỹ từ đồi 69 (xã Kỳ Khương) càn quét ra vùng giải phóng, diệt 11 tên; sau đó dựa vào làng chiến đấu đánh quần lộn với địch diệt thêm 6 tên nữa… Những chiến công đánh Mỹ vang dội trên “Vành đai diệt Mỹ” Chu Lai nối tiếp nhau cho đến khi quân chiến đấu Mỹ phải rút hết về nước.

Ngày nay, cùng với Khu công nghiệp Dung Quất (Quảng Ngãi) đang được đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, Chu Lai (Núi Thành, Quảng Nam) cũng đang được xây dựng để trở thành khu kinh tế mở. Trong tương lai gần, khu vực Núi Thành sẽ có bước phát triển mới về kinh tế, đồng thời nhiệm vụ củng cố quốc phòng-an ninh sẽ hết sức nặng nề. Bài học đánh Mỹ năm xưa có giá trị thời sự đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Đấy là, phải tạo được sự nhất trí cao trong việc quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và trong mọi tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người toàn tâm, toàn ý, kiên định con đường xây dựng CNXH mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

THU TRANG
qdnd.vn