Archive | 2012

“Điện Biên Phủ trên không”: Sống lại để tự hào hơn

(VOV) – Những cuốn sách, triển lãm, các chương trình kỷ niệm 40 năm “Điện Biên Phủ trên không” tiếp thêm niềm tự hào dân tộc cho hôm nay.

Ký ức về Hà Nội những ngày tháng 12 năm 1972 chưa bao giờ phai mờ trong lòng những người đã trải qua những ngày tháng ấy. Đúng 40 năm sau, chiến thắng Điện Biên Phủ trên không được nhắc nhớ bằng nhiều hoạt động kỷ niệm, để người dân Hà Nội cũng như cả nước không nguôi niềm tự hào vì đã kiên cường, dũng cảm lập nên một kỳ tích của thế kỷ XX.

Không thể nào quên

Trong ký ức của ông Phùng Tửu Bôi, một cán bộ lâm nghiệp thì cuộc sống người dân Hà Nội những ngày cuối năm 1972 gắn liền với hình ảnh những căn hầm và chiếc xe đạp. Thời ấy Hà Nội có đủ các dạng hầm, là nơi trú ẩn, căn nhà thứ hai của mọi người trong những trận bom. Có hầm cá nhân, hầm công cộng, hầm trong mỗi căn nhà, hầm ở ngoài đường phố…  Chiếc xe đạp thì gắn với mọi hoạt động di chuyển của con người: đi làm, đi học, đi sơ tán, cứu thương…

Ông Phùng Tửu Bôi chia sẻ những kỷ niệm trong buổi ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B52”

Ông Bôi không thể nào quên ngày đầu tiên Hà Nội bị ném bom, ông từ Sơn La là nơi sơ tán về Hà Nội họp. Ông vừa về đến cơ quan thì có còi báo động, tất cả cùng chạy xuống hầm. Sau những tiếng nổ ù tai, khi có còi báo yên, chui ra khỏi hầm thì ông và đồng nghiệp thấy một quả bom đang nằm ngay ở cửa hầm, còn chỗ vừa ngồi họp thì tất cả đều nát bét.

Những nguy hiểm luôn rình rập như thế nhưng người dân Hà Nội vẫn gắn bó với thủ đô. Dù đi sơ tán hay ở lại, họ vẫn thiết tha yêu thương mảnh đất này. Ngoài những lúc bom rơi, cuộc sống vẫn diễn ra bình thường như thể không có bóng dáng của chiến tranh. Những làng hoa ngoại thành vẫn ngát hương, khoe sắc, đêm Noel Hà thành vẫn tấp nập nam thanh nữ tú hẹn hò nhau…

Hình ảnh Hà Nội đời thường trong chiến tranh như thế được tái hiện trong cuốn sách “Đối mặt với B52”, ra mắt vào những ngày đầu tháng 12 này. Cuốn sách là kết quả cuộc điều tra kéo dài hơn 2 năm của một nhóm các nhà báo. Họ đi tìm lại những ký ức của người dân Hà Nội và miền Bắc về cuộc chiến 12 ngày đêm năm 1972. Những câu chuyện của 116 nhân chứng trong cuốn sách ghép lại thành một câu chuyện chung, một bức tranh sinh động về chiến thắng Điện Biên Phủ trên không.

Cuốn sách gồm 3 phần: phần 1 là không khí cuộc sống miền Bắc, các hoạt động chuẩn bị cho chiến tranh (chủ yếu là các cấp  lãnh đạp và lực lượng phòng không, không quân); phần 2 là 12 ngày đêm đối mặt với B52 và phần 3 là Hiệp định Paris và hòa bình cho miền Bắc. Bên cạnh các số liệu và cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội, cuốn sách còn tái hiện cuộc sống bình dị, kiên cường của người dân Hà Nội trong chiến tranh. Đó chính là một phần sức mạnh tinh thần đã làm nên chiến thắng.

Ý chí kiên cường của người Hà Nội

Lòng tự hào còn mãi…

Triển lãm ảnh “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tại 45 Tràng Tiền, Hà Nội thu hút đông đảo người xem, không chỉ những người  lớn tuổi đã sống qua những trận bom B52 mà cả thế hệ trẻ, đông nhất là sinh viên các trường đại học. Trầm ngâm đứng trước tấm ảnh chụp góc phố Khâm Thiên bị bom thả nát, không còn một ngôi nhà nào nguyên vẹn, Nguyễn Hải (sinh viên ĐH Bách khoa) thấy vừa ngạc nhiên lại vừa ngưỡng mộ quân dân Hà Nội đã vượt qua những mất mát, đau thương lớn như vậy để chiến thắng trong trận chiến với B52.

Những cuốn sách, triển lãm, những chương trình biểu diễn nghệ thuật kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” không chỉ nhắc nhớ ký ức mà còn tiếp thêm niềm tự hào cho những thế hệ sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Những bức ảnh trong triển lãm được sắp xếp có chủ đích với một nửa bên này là hình ảnh Hà Nội 12 ngày đêm năm 1972 trong những bức ảnh đen trắng, một nửa đối diện bên kia là hình ảnh Hà Nội phát triển thời bình trong những bức ảnh màu rực rỡ. Những hình ảnh tưởng chừng như đối lập nhưng đều toát lên tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của người dân Hà Nội. Sự đối lập ấy cũng nhắc nhở rằng để có một Hà Nội đẹp đẽ, phát triển như ngày hôm nay, những thế hệ đi trước đã phải chiến đấu, đổ biết bao mồ hôi và xương máu.

Để có một Hà Nội đẹp đẽ, phát triển như hôm nay, bao người đi trước đã phải hy sinh xương máu

Nhà báo Đào Huyền, trong quá trình làm cuốn sách “Đối mặt với B52” đã đi gặp, phỏng vấn hàng trăm nhân chứng của cuộc chiến 12 ngày đêm. Cô hết sức ngạc nhiên và khâm phục vì thấy các nhân chứng kể về cuộc chiến ấy không quá kinh hoàng và ác liệt như mình vẫn hình dung. Sự ác liệt là chắc chắn vì  số lượng bom đạn trút xuống quá nhiều, nhưng qua lời nhân chứng thì cô có cảm giác ấy bởi họ đã đối mặt với nó hết sức kiên cường.

Dù đã đi qua những đau thương mất mát vì bom đạn B52 nhưng những người dân Hà Nội như ông Phùng Tửu Bôi, nhà báo quân đội Nguyễn Xuân Mai vẫn có những tình cảm tốt đẹp với những người dân Mỹ yêu hòa bình, những người đã từng phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Ông Bôi hy vọng mối quan hệ giữa hai nước sẽ ngày một tốt hơn để có thể cùng nhau bù đắp cho những người thiệt thòi, mất  mát do chiến tranh.

Vẻ đẹp tinh thần của quân dân Hà Nội khiến chiến thắng Điện Biên Phủ trên không sau 40 năm vẫn mang đầy ý nghĩa./.

Việt Hòa/VOV online
vov.vn

Chuyện của phi công lái chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi

(VOV) -40 năm đã trôi qua, nhưng những ký ức kinh hoàng đêm 18/12/1972, vẫn ám ảnh tâm trí của vị linh mục 65 tuổi Robert Certain.

“Ý nghĩ đầu tiên thoáng qua trong đầu tôi là phi công phụ đã vô tình chạm vào máy phát, gây mất điện trên máy bay. Nhưng đúng lúc đó, viên phi công phụ bất chợt thét lên qua máy bộ đàm: “Phi công trúng đạn rồi, phi công trúng đạn rồi’. Người sỹ quan điện tử ngồi cạnh xạ thủ súng máy cũng nháo nhác kêu gọi giúp đỡ. Một quầng lửa bùng lên phía sau vị trí tôi ngồi, ngay phía trước khoang chứa bom và dưới thùng nhiên liệu chính trên nóc máy bay”.

Linh mục  Robert Certain chụp hình với PV VOV

40 năm đã trôi qua, nhưng những ký ức kinh hoàng đêm 18/12/1972, một trong những thời điểm đen tối nhất trong lịch sử không quân Mỹ, vẫn ám ảnh tâm trí của vị linh mục 65 tuổi Robert Certain. Từng hình ảnh, từng lời nói, từng hành động vẫn hiển hiện trong ký ức của ông như thể chuyện mới xảy ra hôm qua. Đó cũng là đêm đã thay đổi hoàn toàn số phận của viên sỹ quan hoa tiêu trên chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” hào hùng của dân tộc Việt.

Robert Certain sinh năm 1947 tại bang Georgia, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp cao đẳng, Robert được tuyển vào không quân Mỹ và trở thành sỹ quan hoa tiêu cho máy bay ném bom chiến lược B52, “Pháo Đài bay” mà người Mỹ luôn tự hào là bất khả xâm phạm.

Robert được điều sang Việt Nam và nhận lệnh xuất phát ngay trong ngày đầu tiên của chiến dịch ném bom rải thảm đầy tủi hổ mang mật danh Linebacker II cuối tháng 12/1972. Dù luôn tin vào khả năng “bất khả chiến bại” của loại máy bay ném bom tối tân nhất của không quân Mỹ khi đó, một nỗi sợ hãi mơ hồ cứ lẩn khuất đâu đó trong lòng viên hoa tiêu 25 tuổi suốt chuyến bay 8 giờ đồng hồ từ đảo Guam ngoài khơi Thái Bình Dương tới mục tiêu ném bom tại Hà Nội.

Dưới mặt đất là hệ thống tên lửa đất đối không SAM2 dày đặc, cùng những chiếc MIG tiêm kích nức tiếng đã sẵn sàng vào vị trí xuất kích. Nhưng trên hết, Robert đang phải đối mặt với những con người quả cảm, quật cường, chưa bao giờ biết khuất phục trước bất kỳ thế lực ngoại xâm nào suốt hàng nghìn năm qua. Và nỗi sợ hãi của Robert hoàn không phải vô căn cứ.

“Sau khi tiếp cận mục tiêu, khoảng 15 giây trước khi không kích theo kế hoạch, chúng tôi bắt đầu mở khoang chứa bom. Nhưng chỉ 5 giây sau, chúng tôi đã bị 2 quả tên lửa đất đối không (SAM-2) tấn công. Tên lửa nổ ngay sát máy bay và chúng tôi hứng trọn các mảnh vỡ khi bay xuyên qua chúng. Máy bay của chúng tôi bị hỏng một vài động cơ, có thể là 4 chiếc phía bên trái. 2 thành viên phi hành đoàn bị thương nặng và máy bay bắt đầu bốc cháy, nguy cơ nổ rất cao, buộc chúng tôi phải nhảy dù”.

Thoát khỏi chiếc B52 đã mất khả năng kiểm soát, qua ánh trăng Rằm vằng vặc, viên hoa tiêu nhìn rõ một rặng cây, nơi có thể trở thành chốn ẩn náu tạm thời trước khi tính chuyện liên lạc với đội giải cứu. Nhưng thấp thoáng dưới bóng cây lại là những mái rạ của một làng quê nhỏ. Sợ bị bắt, Robert hướng dù ra một thửa ruộng mới cày ngay cạnh con mương cạn.

Nhưng không lâu khi chạm đất, viên sỹ quan không quân Mỹ đã bị một phụ nữ phát hiện. Trong chốc lát, dân làng vây kín thửa ruộng trong cơn thịnh nộ ngút trời. Robert bắt đầu mường tượng đến một kết cục tồi tệ nhất. Nhưng ông ta không ngờ rằng “đối tượng” lại nhân đạo đến vậy đối với kẻ vừa dội bom tàn phá đất nước họ, sát hại người thân họ, đồng bào họ.

“Dân làng rất giận dữ nhưng các dân quân đã bảo vệ tôi. Tôi được đưa vào một ngôi nhà và thấy một viên chức địa phương đang ghi thông tin từ thẻ căn cước của tôi. Lúc đó, người dân ở bên ngoài không còn tỏ thái độ thù địch với tôi nữa. Dân quân đã lấy một số bàn trong phòng để che cửa sổ, phòng khả năng tôi bị ném từ bên ngoài. Tôi bị đưa về nhà tù Hỏa Lò qua một bến phà trên sông Hồng. Lúc đó tôi rất sợ và đã chuẩn bị sẵn tinh thần. Tôi lo rằng mình sẽ bị ép cung, tra tấn, nhục hình, nhưng điều đó đã không xảy ra”.

Phi công Robert Certain trong hầm trú bom

Robert bị giam tròn 100 ngày tại Hà Nội trước khi được trả tự do theo điều khoản trao đổi tù binh của Hiệp định Paris năm 1973. Ông về nước, mang theo những chấn thương tâm lý mà hầu hết các binh sỹ trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh tại Việt Nam đều gặp phải.

“Tôi gọi đó là bóng ma Giáng sinh trong quá khứ. Khi các binh sỹ tham chiến trở về nhà, tất cả đều thay đổi. Họ chứng kiến những gì mà dân thường không bao giờ được chứng kiến. Họ chứng kiến bạn bè tử trận, chứng kiến hoặc chính tay giết hại người khác. Khi còn nhỏ, chúng ta được cha mẹ dạy không được làm tổn hại đến người thân, đến hàng xóm, không phá đồ chơi hay hủy hoại tài sản của người khác. Thế nhưng khi tham chiến, đây chính là những điều chúng tôi làm, sát hại và phá hủy tài sản của người khác vì mục tiêu chính trị của chính phủ. Tôi hiểu rằng những hành động của tôi đã dẫn đến cái chết của hàng trăm binh sỹ miền Bắc Việt Nam và có lẽ là nhiều dân thường vô tội nữa. Vì vậy, khi  trở về, chúng tôi mang theo cái mà tôi gọi là sự xung đột về mặt đạo đức, giữa những gì chúng tôi được dạy dỗ khi còn nhỏ và những gì chúng tôi không được phép làm khi trưởng thành”.

Sau khi trở lại Mỹ, Robert dành 3 năm tu học tại một trường dòng và trở thành linh mục, theo cách mà ông nói là để sám hối và chuộc lỗi. Robert tin rằng cuộc chiến tại Việt Nam đã giúp ông chiêm nghiệm cuộc sống và học hỏi nhiều điều về các mối quan hệ, về tính nhân văn của con người.

Hiện nay, Robert là Giám đốc điều hành Hiệp hội Cha tuyên uý trong quân đội Mỹ với nhiệm vụ giúp đỡ về tâm lý cho các cựu chiến binh cũng như các quân nhân đang tại ngũ và gia đình họ. 40 năm qua, Robert vẫn đau đáu với ý nguyện mà ông chưa thực hiện được là tới thăm lại Việt Nam.

“Lẽ ra chúng tôi cần thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngay sau khi cuộc chiến kết thúc để có thể xây dựng và phát triển tình hữu nghị trong hòa bình. Điều đó đã kéo dài quá lâu. Tôi rất vui vì vấn đề đó đã được giải quyết và Việt Nam đã tái thống nhất. Cách đây vài năm, vợ tôi mua cho tôi một chiếc áo sơ mi. Khi về nhà, tôi nhìn tấm mác gắn đằng sau thì thấy dòng chữ “được sản xuất tại Việt Nam”. Đó chính là sự khác biệt giữa quá khứ và hiện tại. Bộ quần áo lần trước tôi mặc được sản xuất tại Việt Nam chính là bộ đồng phục sọc đen trắng trong tù. Thực sự, tôi muốn đến Việt Nam cùng với  vợ tôi. Tôi nghĩ đó sẽ là cơ hội để thực hiện một sự kiện cuối cùng trong đời mình, một sự kiện có hậu. Cháu trai của vợ tôi đã nhận 2 trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Vì vậy mà giờ đây tôi đang có một gia đình từ Việt Nam. Tôi muốn trở lại Việt Nam để biết mọi người ở đó giờ ra sao và để hiểu rõ hơn về hành trình đi đến hòa bình của người dân Việt Nam./.

Nhật Quỳnh-Huy Hoàng/VOV (từ Washington)
vov.vn

Mig21 do Phạm Tuân lái trở thành ‘bảo vật quốc gia’

Máy bay Mig 21 do anh hùng Phạm Tuân điều khiển bắn hạ B52 năm 1972 và xe tăng T54B tham gia tấn công dinh Độc lập vừa được công nhận là “bảo vật Quốc gia”.

>Trưng bày nhiều tư liệu Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Hai bảo vật này đang được trưng bày tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tại 28A Điện Biên Phủ, Hà Nội.

Máy bay MiG-21 số hiệu 5121, từng được biên chế vào đội hình tiêm kích của Trung đoàn 921, Sư đoàn 371 Không quân từ tháng 7/1972. Đêm 27/12/1972 (ngày thứ mười của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không), máy bay này do anh hùng Phạm Tuân lái, xuất kích bất ngờ từ sân bay Yên Bái…

Đến vùng trời Sơn La, Phạm Tuân phát hiện mục tiêu B52 và xin phép vào công kích. Do địch chưa phát hiện Mig 21 “bám đuôi”, Phạm Tuân nhanh chóng vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích yểm hộ của địch, bám được B52, công kích bằng 2 quả tên lửa.

Chiếc B52 thứ hai trong đội hình bị trùm trong ‘biển lửa’. Ngay sau đó, Phạm Tuân điều khiển máy bay thoát ly, quay về sân bay Yên Bái hạ cánh an toàn. Ngoài bắn hạ một chiếc B52, chiếc Mig21 còn bắn rơi 4 máy bay khác.

Buồng lái, nơi phi công Phạm Tuân điều khiển máy bay Mig 21, góp phần vào thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không”.

“Bảo vật quốc gia” khác được trưng bày là xe tăng T54 số hiệu 843 dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 tham gia tấn công Phủ Tổng thống Sài Gòn (nay là Dinh Độc lập) ngày 30/4/1975.

Xe tăng do Liên Xô chế tạo, tháp pháo có gắn súng 12,7 ly, được trưng bày ở vị trí trang trọng trong bảo tàng.Tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam còn có nhiều hiện vật giá trị khác như chiếc Jeep mang biển số 15770, đã tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975

Bá Đô
vnexpress.net

Xác máy bay B52 ‘phơi’ giữa thủ đô

Cùng với máy bay ném bom hạng nặng tầm xa bị xé làm đôi, nhiều kỷ vật trong cuộc chiến 12 ngày đêm năm 1972 đang được trưng bày tại Bảo tàng chiến thắng B52, phố Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội).

>‘Giọng nói nổi tiếng nhất thủ đô’ giữa mưa bom B52Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

Bảo tàng Chiến thắng B52 trưng bày các loại vũ khí, khí tài, hiện vật của quân và dân thủ đô. Nổi bật nhất là xác máy bay B52 bị bắn rơi trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972.

Vào dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, bảo tàng liên tục đón khách tới tham quan, đặc biệt là các cựu binh từng có mặt trong cuộc chiến chống Mỹ 12 ngày đêm khói lửa.

Giữa khuôn viên Bảo tàng là xác chiếc máy bay B52 từng bị quân và dân thủ đô bắn rơi trong cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam tháng 12 năm 1972.

Xác chiếc B52 bị chia làm đôi, nhiều mảnh vỡ vụn.

Gần đó là những vỏ bom mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam từ những năm 1964 đến 1972.

Xác các loại máy bay chiến thuật của Mỹ bị quân dân thủ đô bắn rơi cũng được xếp chất đống tại đây.

Bên trong tủ kính là mảnh vụn của xác một chiếc máy bay khác của Mỹ.

Loa truyền thanh của lực lượng phòng không nhân dân dùng để thông báo hoạt động của máy bay Mỹ thời kỳ chống chiến tranh phá hoại 1965 – 1968.

Mũ rơm của bà Nguyễn Thị Năm ở Nghĩa Đô, Từ Liêm, đan tặng cho bộ đội trực chiến.

Tủ điều khiển tên lửa của Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257 dùng điều khiển tên lửa bắn rơi máy bay Mỹ trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Ghế ngồi và dù của phi công Mỹ.

Cuốc, thuổng, đòn sóc, lựu đạn, mìn, bàn chông của du kích xã Nam Hồng dùng đào địa đạo chiến đấu.

Những hiện vật thời chiến của người dân thủ đô

Súng 12,7 mm của dân quân xã Trâu Quỳ, Gia Lâm từng dùng bắn rơi tại chỗ máy bay F105 của Mỹ ngày 21/8/1967.

Súng tiểu liên tự tạo của tự vệ Hà Nội dùng chiến đấu trong 60 ngày đêm bảo vệ Liên khu 1 (1946 – 1947).

Cờ quyết tử quân của Ban chỉ huy liên khu 1 tặng đội quyết tử sau trận đánh.

Vỏ đạn súng máy 14,5mm của Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, bắn rơi chiếc F111A của Mỹ đêm 22/12/1972.

Chiếc vại của bà Ngô Thị Vịnh, xã Nam Hồng dùng đựng gạo nuôi du kích trong kháng chiến chống Pháp.

Một số giấy tờ, chứng nhận và ngôi sao cài mũ của quân đội Việt Nam.

Dép cao su, giầy vải, áo, bát sắt… của tự vệ nhà máy dệt 8/3 dùng trong những năm tháng chống Mỹ.

Máy bay Mic 21 của không quân Việt Nam số 5033 chiến đấu bảo vệ Hà Nội từng bắn rơi 3 máy bay F4 của Mỹ năm 1972.

Súng máy phòng không 14,5mm của tự vệ nhà máy điện Yên Phụ tham gia bắn rơi máy bay F4 của Mỹ ngày 10/5/1972.

Hoàng Hà
vnexpress.net

12 ngày đêm chống Mỹ của quân dân thủ đô

Những bức ảnh ghi lại khoảnh khắc hào hùng của quân và dân thủ đô trong đợt chống lại cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ năm 1972 vừa được ra mắt tại Triển lãm Mỹ thuật và nhiếp ảnh.

‘Mắt thần’ truy tìm B52Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

50 tác phẩm hội họa, điêu khắc và 30 bức ảnh của 80 tác giả miêu tả cuộc chiến đấu chống lại cuộc tập kích 12 ngày đêm vào Hà Nội của không quân Mỹ năm 1972 được ra mắt người xem tối 18/12 tại Bảo tàng chiến thắng B52 Hà Nội. Trong ảnh là Trung đoàn tự vệ nhà máy dệt 8/3.

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đến thăm Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm – Hai Bà Trưng, đơn vị bắn rơi máy bay F111A của Mỹ ngày 22/12/1972.

Nhân dân Hà Nội đi sơ tán.

Máy bay B52 của Mỹ bị quân dân thủ đô bắn rơi đang bốc cháy dữ dội tại hồ Hữu Tiệp, làng Ngọc Hà, đêm 27/12/1972.

Máy bay B52 của Mỹ bị bắn rơi ở làng hoa Ngọc Hà, Ba Đình hồi 23h05 ngày 27/12/1972.

Bộ đội bắn trả quyết liệt máy bay Mỹ tháng 12/1972.

Tự vệ Hà Nội sát cánh cùng bộ đội pháo cao xạ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thủ đô năm 1972.

Ngoài B52, hơn 1.000 máy bay chiến thuật trong đó chủ yếu là F4 và F111 ném hơn 100.000 tấn bom laze và bom vô tuyến xuống thủ đô.

Phi công lái B52 Mỹ dự liên hoan tại Guam trước giờ đi đánh phá Hà Nội tháng 12/1972.

Tự vệ Hà Nội bắt sống phi công Mỹ John McCain tại hồ Trúc Bạch.

Máy bay chiến lược B52 bị bắn tan xác rơi trên đường Hoàng Hoa Thám ngày 27/12/1972.

Tự vệ Hợp tác xã Quang Vinh, thị xã Hà Đông, bố trí trận địa trên nóc nhà cao tầng bắn rơi máy bay F105 của Mỹ.

Tự vệ Suối Hai chiến đấu giỏi, bắn rơi máy bay Mỹ, bắt sống phi công.

Cuộc chiến đấu khốc liệt tại phố Hàng Đường.

Thủ tướng Fidel Castro đến thăm sư đoàn 304 tại căn cứ 241 Tân Lâm, Quảng Trị ngày 15/9/1973.

Phi công Mỹ Le Blanc bị dân quân xã Vạn Thái, Ứng Hòa bắt sống ngày 22/12/1972.

Khánh Huyền
vnexpress.net

Sinh viên An ninh đạt giải đặc biệt tìm hiểu ‘Điện Biên Phủ trên không’

Với bài dự thi tâm huyết có giá trị như một công trình nghiên cứu gồm 11 cuốn sách, một cuốn tranh vẽ tay, một cuốn tâm ngôn…nhóm Sáng tạo trẻ của Học viện An ninh giành giải đặc biệt cuộc thi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – 40 năm oanh liệt và tự hào”.

Bạn trẻ tạo mô hình tên lửa SAM2

Phạm Thị Quỳnh Trang, trưởng nhóm Sáng tạo trẻ. Ảnh: Hoàng Thùy.

Phạm Thị Quỳnh Trang, trưởng nhóm Sáng tạo trẻ cho biết, ngày 10/10, các em đọc được tin giới thiệu cuộc thi tìm hiểu về chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Một ngày sau, nhóm Sáng tạo trẻ họp 10 tổ trưởng lên ý tưởng tham dự và phân công công việc. Mỗi tổ trưởng đảm nhận một nhiệm vụ riêng, như năm câu hỏi thì mỗi tổ phụ trách một câu, ngoài ra còn có tổ ảnh, tổ vẽ tranh, tổ sưu tầm…

Trong hơn một tháng làm việc, 100 sinh viên xuất sắc của các khoa ở Học viện An ninh nhân dân đã hoàn thành công trình bài thi. Trang cho biết, các thành viên đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu, sưu tầm những thông tin, tài liệu về chiến thắng Điện Biên Phủ trên không với mong muốn trang bị, trau dồi thêm kiến thức cho mỗi thành viên về 12 ngày đêm chiến đấu với không quân Mỹ.

“Từ quá trình tìm kiếm thông tin, chúng em ý thức và tự giác hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ của thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay để xứng đáng với hi sinh, cống hiến của thế hệ đi trước”, Trang nói.

Cô sinh viên chuyên ngành Điều tra giới thiệu, công trình bài dự thi của nhóm gồm có 11 quyển sách trong đó phần trả lời 5 câu hỏi dự thi được thể hiện trong 5 quyển, một cuốn tranh vẽ tay do các thành viên trong nhóm dày công sáng tạo, một bộ sưu tập các bài viết với chủ đề “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không – Bản hùng ca vang mãi”, bộ sưu tập tranh với chủ đề “Điện Biên Phủ trên không – Hà Nội xưa và nay” và bức tranh sơn dầu “Bài ca chiến thắng”.

Đặc biệt, nhóm còn có một cuốn Tâm ngôn tập hợp ý kiến đóng góp, lời hưởng ứng tham dự cuộc thi “40 năm huyền thoại Điện Biên Phủ trên không” của đại diện Đảng ủy, Ban Giám đốc, cán bộ, giáo viên, lãnh đạo ngành Công an đang học lớp bồi dưỡng chức danh và sinh viên Học viện An ninh nhân dân, các lực lượng trong Quân đội, Bí thư Đoàn Thanh niên, sinh viên các trường đại học trên địa bàn Hà Nội.

Sinh viên an ninh nhận giải đặc biệt cuộc thi tìm hiểu “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – 40 năm oanh liệt và tự hào”. Anh: Hoàng Thùy.

Trang cho rằng, thanh niên ngày nay cần trau dồi lập trường chính trị vững vàng, nhận thức mọi việc đầy đủ, đúng đắn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cô sinh viên thừa nhận, một bộ phận giới trẻ dường như đang quên đi lịch sử của mình, thế nên nhóm Sáng tạo trẻ – một bộ phận của thanh niên được trang bị kiến thức, tư tưởng đầy đủ phải góp phần giúp các bạn nhìn nhận lịch sử một cách đầy đủ.

Nhóm Sáng Tạo Trẻ (Học viện An ninh nhân dân) là nơi hội tụ, gặp gỡ và giao lưu của sinh viên an ninh. Nhóm thu hút đông đảo thành viên là những gương mặt sinh viên tiêu biểu trong các phong trào học tập tốt, rèn luyện tốt của các chuyên khoa khác nhau trong Học viện.

Từ khi thành lập năm 2009, nhóm từng đạt giải nhì cuộc thi tìm hiểu “Sinh viên Việt Nam với biển đảo quê hương”, giải nhất cuộc thi tìm hiểu “Dân tộc và đại đoàn kết dân tộc” (năm 2010), giải nhất cuộc thi tìm hiểu “50 năm đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” (năm 2011), giải nhất cuộc thi tìm hiểu “Pháp luật về biên giới quốc gia” (năm 2012).

Ngoài giải đặc biệt trao cho nhóm Sáng tạo trẻ, Thành đoàn Hà Nội còn trao 3 giải nhất, 6 giải nhì, 10 giải ba và 20 giải khuyến khích.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Bạn trẻ tạo mô hình tên lửa SAM2

Sáng tạo bài dự thi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: 40 năm oanh liệt và tự hào”, đoàn viên thanh niên thủ đô đã dựng lại mô hình tên lửa SAM 2, máy bay MIG 21, sơ đồ trận chiến 12 ngày đêm trên không…

Trưng bày nhiều tư liệu Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Sáng 26/11, Thành đoàn Hà Nội tổ chức hội thu cuộc thi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: 40 năm oanh liệt và tự hào”. Toàn thành phố có gần 500.000 bài dự thi, trong đó có hơn 1.000 bài được trình bày công phu, chất lượng.

Thí sinh lớn tuổi nhất là ông Mai Văn Báu, 75 tuổi, nhỏ tuổi nhất là em Nguyễn Thị Minh Trang, 7 tuổi. Ngoài ra, các thí sinh khiếm thị cũng tham gia như Phạm Thị Hồng (chi đoàn cơ quan Hội người mù Việt Nam), nhóm thí sinh khiếm thị quận Hoàn Kiếm.

Tổng công ty Điện lực Hà Nội có bài dự thi độc đáo với điểm sáng tạo là dùng ảo ảnh làm nên thước phim đen trắng về cuộc chiến 12 ngày đêm và bản đồ đánh dấu 16 điểm bắn rơi máy bay B52 tại Hà Nội. Bài dự thi là mô hình mô phỏng bệ phóng tên lửa SAM 2 sử dụng trong chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không (kích thước bằng 1/3 so với thực tế).

Mỗi bài thi đều thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc trước chiến thắng vẻ vang của quân và dân. Có bài dự thi được thể hiện trên lá cờ đỏ sao vàng năm cánh.

Hay vẽ tranh “Bài ca chiến thắng” của tác giả Đỗ Trung Kiên (giải A, triển lãm thủ đô).

Nhóm sáng tạo trẻ của HV An ninh nhân dân cũng có bài dự thi độc đáo.

Mô hình diễn biến trận Điện Biên Phủ trên không của trường THCS Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội.

Học viên An ninh nhân dân mang đến cuộc thi 5 mô hình bài dự thi chất lượng cao được đầu tư công phu, khoa học.

Ban tổ chức sẽ chấm và trao 1 giải nhất, 3 giải nhì, 5 giải ba và nhiều giải thưởng khác vào đúng dịp kỷ niệm 40 năm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Trưng bày nhiều tư liệu Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Lần đầu tiên được tổ chức cấp quốc gia, chương trình kỷ niệm 40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không gồm chuỗi hoạt động hội thảo khoa học, gặp gỡ cựu binh, nhân chứng lịch sử, triển lãm lưu động.

Trong buổi họp báo chiều 23/11 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam khẳng định, Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không là một trong mười trận đánh vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, thể hiện đường lối chính trị chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân đúng đắn của Đảng.

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, Bộ Quốc phòng cùng các bộ đã triển khai nhiều hoạt động. Trong đó, có việc tổ chức in sao các phim tài liệu về “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” để phát hành trên toàn quốc, triển khai bộ phim về chiến thắng này phục vụ tuần phim quốc gia.

Nụ cười của cô nữ dân quân bên cạnh xác máy bay kẻ thù.
Ảnh tư liệu: Lichsuvietnam.vn.

Cục tuyên huấn cùng Quân chủng Phòng không Không quân đang tập hợp, in sao bộ ảnh về “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, in pano để tổ chức triển lãm chuyên đề, lưu động trên cả nước.

Điểm nhấn của chương trình kỷ niệm là đêm giao lưu với nhân chứng lịch sử “Hà Nội 12 ngày đêm – Khát vọng và vinh quang” và hội thảo khoa học “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” do Viện lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với quân chủng Phòng không Không quân, các cơ quan tổ chức.

Bộ Quốc Phòng cũng phối hợp với Ban đối ngoại trung ương, Bộ ngoại giao mời Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân Nga, Trung Quốc, tùy viên quân sự các nước Nga, Trung Quốc, Cu Ba và các nước thuộc Liên Xô cũ tại Việt Nam tham gia một số hoạt động.

Máy bay MIG 21 số hiệu 5121 do phi công Phạm Tuân điều khiển đã bắn rơi tại chỗ máy bay B52 được công nhận là bảo vật quốc gia. Các tư liệu lịch sử liên quan đến chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không cũng được trưng bày tại 83 Lý Nam Đế, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bảo tàng Phòng không Không quân.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Các phi cơ Mỹ bị tiêu diệt trong ‘Điện Biên Phủ trên không’

Không chỉ các pháo đài bay B-52, nhiều mẫu phi cơ khác của quân đội Mỹ lần lượt bốc cháy trên bầu trời Hà Nội, trong 12 ngày đêm không thể quên của trận Điện Biên Phủ trên không.

Át chủ bài của lưới lửa phòng không Hà Nội

Người Mỹ tự hào gọi máy bay ném bom B-52 Stratofortress là những pháo đài bay. Loại phi cơ oanh kích chiến lược này bắt đầu được sử dụng từ năm 1955. Trong 12 ngày đêm không quân Mỹ leo thang đánh phá Hà Nội và một số thành phố khác vào tháng 12/1972, B-52 được coi là lá bài chủ lực, nhằm đạt hiệu quả đánh phá cao nhất. Ảnh:USAF

Trong đợt đánh phá ác liệt từ 18 tới 29/12/1972, quân đội Mỹ sử dụng hai mẫu B-52G và B-52D. Trong hình là một chiếc B-52D. Ảnh minh họa: Wikipedia

Người Mỹ gọi chiến dịch đánh phá này là Linebacker II. Họ huy động 197 trên tổng số 400 chiếc B-52, gần một phần hai số máy bay chiến thuật và một phần tư số tàu sân bay.

Nhưng điều người Mỹ có được sau 12 ngày đêm năm 1972 không phải là chiến thắng. 34 pháo đài bay B-52 đã bị Việt Nam bắn rơi. Nhiều phi cơ chiến lược khác của Mỹ cũng chịu chung số phận. Ảnh: USAF

Xem thêm: Xác máy bay B52 ‘phơi’ giữa thủ đô

Ít nhất hai chiếc chiến đấu cơ F-111A của không quân Mỹ bị tiêu diệt trong chiến dịch Linebacker II. Ảnh minh họa: Oocities

Máy bay trinh sát RA-5C cũng được hải quân Mỹ sử dụng trong chiến dịch Linebacker II. Ít nhất một chiếc RA-5C bị không quân Việt Nam tiêu diệt. Trong hình là một chiếc RA-5C trong nhiệm vụ trinh sát trên bầu trời Việt Nam vào năm 1967. Ảnh minh họa: US Navy

Hải quân Mỹ cũng triển khai chiến đấu cơ F-4J Phantom II tham gia chiến dịch và ít nhất một chiếc bị tên lửa SA-2 của Việt Nam tiêu diệt. Ảnh: US Navy

Một chiếc trực thăng HH-53 của không quân Mỹ bị Việt Nam tiêu diệt vào ngày 27/12/1972, tức là chỉ một ngày trước khi chiến dịch Linebacker II kết thúc. Trong hình là một chiếc HH-53 hoạt động trên bầu trời Việt Nam vào tháng 10/1972. Ảnh minh họa:USAF

Một máy bay ném bom hạng nhẹ EB-66 của quân đội Mỹ hôm 23/12. Trong hình là một chiếc EB-66 đang bay ra miền bắc của Việt Nam. Ảnh minh họa: Earthlink

Cũng trong ngày 23/12, một máy bay ném bom hạng nhẹ A-7E của hải quân Mỹ bị bắn rơi bởi tên lửa SA-2 của Việt Nam. Trong hình là một chiếc A-7E trong một nhiệm vụ trên bầu trời miền bắc Việt Nam vào năm 1973. Ảnh: US Navy

Ngay trong ngày đầu tiên của chiến dịch (18/12), một phi cơ ném bom hạng nhẹ A-7C đã bị bắn rơi bởi tên lửa SA-2 của pháo binh Việt Nam. Các máy bay A-7C được hải quân Mỹ triển khai tới Việt Nam từ tháng 6/1972 tới 24/3/1973. Trong hình là một chiếc A-7C bay trên bầu trời Việt Nam. Ảnh minh họa: Wikipedia

Tên lửa SA-2 của Việt Nam tiếp tục là khắc tinh của phi cơ Mỹ, khi tiêu diệt một máy bay A-6A vào ngày 20/12. Trong hình là một chiếc A-6A cất cánh từ tàu sân bay USS Saratoga, một trong 6 tàu sân bay được quân đội Mỹ huy động cho chiến dịch Linebacker II. Ảnh: US Navy

Hà Giang
vnexpress.net

Át chủ bài của lưới lửa phòng không Hà Nội

Hàng chục máy bay ném bom B-52 của Mỹ bị bắn rơi trong chiến dịch bảo vệ bầu trời Hà Nội cuối năm 1972. Sát thủ của các “pháo đài bay” này là hệ thống phòng không, được tạo bởi các tên lửa tầm cao SA-2 do Liên Xô sản xuất.

Tên lửa S-75 Dvina do Liên Xô chế tạo, thường được gọi là tên lửa dẫn dường SA-2, tiêu diệt mục tiêu ở tầm cao, có dẫn hướng, thuộc loại đất đối không (SAM). Kể từ khi lần đầu được triển khai vào năm 1957, đây là loại tên lửa phổ biến nhất trong lịch sử nhân loại. SA-2 hạ máy bay lần đầu tiên vào tháng 10/1959 tại Trung Quốc, bằng ba phát tên lửa ở độ cao 20 km.

Hệ thống SA-2 nổi danh lừng lẫy kể từ khi một khẩu đội tên lửa với phiên bản nâng cao về tầm xa bắn hạ một chiếc máy bay trinh thám U-2 tối tân của Mỹ trên bầu trời Liên Xô tháng 5/1960. SA-2 cũng được triển khai tới Cuba trong cuộc khủng hoảng hạt nhân năm 1962, tại đó nó bắn hạ một chiếc U-2 khác của Mỹ, sự kiện suýt nữa châm ngòi chiến tranh hạt nhân Xô – Mỹ.

Trong giai đoạn 1958-1964, người Mỹ phát hiện có tới hơn 600 trận địa tên lửa trên đất Liên Xô, bao quanh các khu trung tâm dân cư, công nghiệp và trụ sở cơ quan chính phủ. Đến giữa những năm 1960, có khoảng 1.000 trận địa tên lửa như vậy ở Liên Xô. Cuối thập niên 60, các hệ thống tên lửa SA-2 được triển khai tới Đông Đức, cũng như các nước trong khối hiệp ước Vacsava, Trung Quốc, Triều Tiên, và cuối cùng là miền bắc Việt Nam.

Năm 1965, Việt Nam được cho là yêu cầu Liên Xô hỗ trợ trong việc đối phó với không lực của Mỹ, bởi hệ thống phòng không Việt Nam khi đó không tiêu diệt được các mục tiêu ở tầm cao. Sau những cuộc thương thảo, SA-2 được lựa chọn để đưa đến Việt Nam. Việc chuẩn bị xây dựng các trận địa này được tiến hành, và vào tháng 4/1965, Mỹ bắt đầu phát hiện. Theo các tài liệu được công nhận rộng rãi trên wikipedia, một số nhà hoạch định chính sách chiến tranh Mỹ yêu cầu đánh bom các trận địa này, nhưng bị phản đối bởi nếu làm như vây có thể gây thương vong cho các công dân Liên Xô.

Pháo cao xạ (ảnh trên) và tên lửa phòng không tạo nên hệ thống lưới lửa dày đặc trên bầu trời Hà Nội, chống các báy bay ném bom và máy bay chiến thuật của Mỹ. Ảnh: wikipediaPháo cao xạ (ảnh trên) và tên lửa phòng không tạo nên hệ thống lưới lửa dày đặc trên bầu trời Hà Nội, chống các báy bay ném bom và máy bay chiến thuật của Mỹ. Ảnh: wikipedia

Tháng 7/1965, Mỹ mở chiến dịch tấn công các trận địa tên lửa của Việt Nam, với việc tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố sẽ ném bom các trận địa. Bộ đội Việt Nam liền đem giấu các hệ thống tên lửa phòng không và xây dựng các mục tiêu giả. Chiến thuật này khiến không lực Mỹ bị lừa và phải chịu nhiều thiệt hại.

Trong thời gian giữa 1965 và 1966, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam thực hiện các bước cải tiến cho hệ thống SA-2, như nâng cấp hệ thống radar và chống nhiễu điện tử. Các chuyên gia còn phát triển hệ thống dẫn đường bị động, theo đó tên lửa sẽ bám chặt lấy chính thiết bị gây nhiễu. Ngoài ra họ còn có biện pháp “phóng giả”, trong đó radar theo dõi được kích hoạt nhưng tên lửa không được phóng đi. Điều này cho phép khẩu đội vô hiệu hóa vũ khí của mục tiêu mà không cần tốn tên lửa SA-2.

Mỗi khẩu đội điển hình thường có 6 tên lửa bán cố định, các ống phóng đơn. Các quả tên lửa được bố trí cách nhau từ 60 đến 100 mét, theo hình hoa 6 cánh, trong khi hệ thống radar và dẫn hướng bố trí ở giữa. Cách bố trí này cũng khiến các trận địa rất dễ bị nhận ra trên các ảnh mà máy bay trinh thám chụp. Thông thường, bên cạnh mỗi khẩu đội có các xe tải mang khẩu đội dự phòng ở gần đó.

Tên lửa SA-2 là loại hai tầng, gồm tầng đẩy hoạt động bằng nhiên liệu rắn và tầng cao dùng nhiên liệu lỏng gồm nitric acid và dầu hỏa. Sau khi bắn ra, tên lửa bay với tốc độ Mach 3. Tầng đẩy có bốn cánh, tầng trên có các cánh điều khiển ở trên thân, và một bộ cánh điều khiển ở gần đuôi, một bộ cánh rất nhỏ nữa ở mũi.

Trên một trận địa tên lửa phòng không ở miền bắc Việt Nam với các khẩu đội SA-2. Ảnh: wikipediaTrên một trận địa tên lửa phòng không ở miền bắc Việt Nam với các khẩu đội SA-2. Ảnh: wikipedia

Tên lửa được điều khiển bằng tín hiệu radio, trên một hoặc ba tần số phát đi từ các máy tính dẫn hướng tại trận địa. SA-2 nhận tín hiệu điều khiển nhờ các antenna lắp trên cánh. Mỗi hệ thống dẫn hướng chỉ theo được một mục tiêu, nhưng có thể điều khiển cùng lúc ba tên lửa. Sau mỗi loạt tên lửa bắn đi, hệ thống tiếp tục điều khiển các loạt bổ sung ngay khi tần số của nó rảnh rỗi.

Phiên bản chuẩn của tên lửa SA-2 mang đầu đạn 195 kg, tính cả vật liệu nổ, tiếp xúc và dây cháy. Đầu đạn có bán kính sát thương 65 mét ở độ cao thấp, và bán kính này tăng lên khi nó hoạt động ở tầm cao hơn, do áp suất không khí giảm. Bán kính này có thể lên đến 250 mét. Độ chính xác của tên lửa là 75 mét, điều đó giải thích vì sao các khẩu đội thường bắn hai tên lửa trong một loạt. Đặc biệt, phiên bản SA-2E có thể mang đầu đạn hạt nhân với sức công phá 15 kiloton.

Tầm hoạt động chuẩn của SA-2 là 45 km, trần 20.000 mét. Trong cuộc chiến ở miền bắc Việt Nam, các radar và hệ thống dẫn hướng thường cho SA-2 săn mục tiêu tầm cao. Mục tiêu tầm thấp thường được dành cho pháo phòng không, tạo thành một “lưới lửa” trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, các “pháo đài bay” B-52 của Mỹ bay đội hình thường là tốp ba chiếc gồm máy bay chiến thuật kèm B-52 ở tầm cao. Chúng phải đối mặt với lưới lửa phòng không của quân đội Việt Nam, gồm các tên lửa, pháo phòng không và chiến đấu cơ MiG-21, và loại máy bay được mệnh danh là pháo đài bay đã “chết” nhiều nhất bởi các tên lửa SA-2.

Máy bay ném bom B-52 của Mỹ rải bom ở miền bắc Việt Nam năm 1972. Ảnh: WikipediaMáy bay ném bom B-52 của Mỹ rải bom ở miền bắc Việt Nam năm 1972. Ảnh: Wikipedia

Ánh Dương
vnexpress.net

‘Mắt thần’ truy tìm B52

Trước khi Mỹ dùng B52 tấn công hủy diệt Hà Nội, lực lượng radar đã phát hiện và báo động sớm trước 35 phút, tạo điều kiện cho sở chỉ huy nắm chắc tình hình, sử dụng lực lượng chiến đấu.

>Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ gục ‘pháo đài bay’Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

Nguyên là đài trưởng đài radar P35, thuộc Đại đội 45 (Trung đoàn 291) – đơn vị đầu tiên phát hiện, thông báo sớm B52 bay vào Hà Nội đêm 18/12/1972, đại tá Nghiêm Đình Tích cho rằng công đầu trong chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không thuộc về bộ đội radar phòng không.

Theo đại tá Tích, 19h ngày 18/12/1972, ông cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích phát hiện ba dải nhiễu B52. Ngay lập tức, ông báo cáo cấp trên là B52 địch có khả năng vào miền Bắc. Trung đoàn trưởng Đỗ Năm báo cáo về tổng trạm radar Quân chủng Phòng không Không quân “B52 đang bay vào Hà Nội”. Ngay sau đó, Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu) đã báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và một số tỉnh miền Bắc.

“Đúng 19h40, B52 và máy bay chiến thuật đã đánh liên tiếp 3 đợt vào các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái và một số khu vực”, ông Tích kể và khẳng định bộ đội radar đã không để tổ quốc bị bất ngờ trước chiến dịch tập kích đường không của địch, tạo điều kiện cho các binh chủng đánh thắng B52.

Đại tá Nghiêm Đình Tích khẳng định lực lượng radar đã phát hiện và báo động sớm cho Hà Nội B52 sẽ tấn công trước 35 phút. Ảnh: Hoàng Thùy.

Đại tá cho hay, trong chiến dịch 12 ngày đêm, không quân Mỹ gây nhiễu ghê gớm hơn nhiều so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Họ gây nhiễu từ các hạm tàu, máy bay chuyên gây nhiễu ngoài đội hình EB66 (của Không quân), EA6B, EC121 (của Hải quân), nhiễu của các loại máy bay chiến thuật. Đặc biệt mỗi B52 có 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp B52 gồm ba chiếc, tổng cộng có 45 máy tạo thành nhiễu dày đặc, đan xen, công suất rất lớn, phạm vi rất rộng.

Thời kỳ này hầu hết đài radar, nhất là đài radar cảnh giới, dẫn đường, điều khiển tên lửa, ngắm bắn của pháo cao xạ và radar trên máy bay MIG21 của Việt Nam đều bị nhiễu nặng, rất khó phát hiện được mục tiêu… Mặt khác địch còn tăng cường gây nhiễu, đánh phá đài radar. Chúng sử dụng B52 đánh đêm, trong khi lực lượng đánh đêm của Việt Nam rất mỏng, việc quan sát phát hiện B52 bằng mắt của phi công rất hạn chế.

“Có lúc đài radar cảnh giới báo cáo tất cả 360 độ đều nhiễu nặng, không thể phát hiện mục tiêu. Địch âm mưu bịt mắt chúng ta”, ông Tích kể. Không thể ngồi im nhìn địch che mắt, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh chủng đã tập trung chỉ đạo, tổ chức các hội nghị chống nhiễu B52.

Từ ba trận đánh thành công ở Vinh – Bến Thủy, Thanh Hóa, Hải Phòng, địch chủ quan, xem thường lực lượng phòng không của Việt Nam. Chúng huênh hoang động viên phi công rằng khi B52 vào đánh Hà Nội thì hệ thống nhiễu điện tử đã vô hiệu hóa lực lượng phòng không Bắc Việt Nam. Đánh Hà Nội sẽ như một cuộc dạo mát và sẽ trở về an toàn.

Nhưng địch đã sai lầm. Trên cơ sở khẳng định B52 vào đánh Hà Nội từ hai hướng Tây Nam và Đông Nam, Bộ Tư lệnh Quân chủng điều Trung đoàn radar 291 của ông Tích từ Hải Phòng vào Nghệ An, vừa đảm bảo cảnh giới vừa tác chiến phòng không trong khu vực, phát hiện B52 trên hai hướng để báo động B52 từ xa cho Hà Nội, Hải Phòng.

Bộ đội radar của đại đội 45. (Đài trưởng Nghiêm Đình Tích ngồi sau cùng, mặc áo trắng).

Binh chủng radar còn được bổ sung lực lượng, phương tiện và điều chỉnh đội hình mạng radar trên miền Bắc tạo thành trường radar khép kín, vừa có khả năng chống nhiễu tốt, vừa đảm bảo phát hiện liên tục mục tiêu trên các tầng không. Đội hình chiến đấu này được bố trí kết hợp chặt chẽ giữa tuyến và cụm, tập trung lực lượng vào hướng, khu vực chủ yếu, xen kẽ giữa máy cũ và máy mới, giữa khí tài thô sơ với khí tài hiện đại, giữa các đài radar có dải tần khác nhau, giữa đài radar với vọng quan sát mắt. Các đại đội radar dẫn đường vòng ngoài kết hợp với mạng radar ở vòng trong làm tăng khả năng chống nhiễu, bảo đảm dẫn đường cho không quân đánh B52.

“Đội hình radar miền Bắc được bố trí tối ưu và khoa học, đúng tư tưởng chỉ đạo của thiếu tướng Vương Thừa Vũ, người chỉ đạo chiến thuật của Bộ Quốc Phòng là trong tác chiến phòng không hiện đại, kể cả trong điều kiện chiến tranh điện tử và vũ khí công nghệ cao phát triển, đội hình radar phải được bố trí để vừa có lực lượng phát hiện địch từ phía chính diện, vừa có lực lượng phát hiện từ phía cạnh sườn và phía sau”, ông Tích kể.

Ngoài biện pháp chống nhiễu tầm chiến dịch thì Bộ tư lệnh phòng không còn tổ chức chống nhiễu tầm chiến thuật. Đây là tổng hợp các động tác chống nhiễu về kỹ thuật kết hợp với kinh nghiệm cụ thể của từng phiên ban, kíp chiến đấu và của từng đài trưởng, sĩ quan điều khiển, trắc thủ, các chiến sĩ thông tin vô tuyến.

“Tôi có thuận lợi là được học về nguyên lý điều khiển radar do các chuyên gia Liên Xô đào tạo từ năm 1968-1969. May mắn hơn là trước đó chúng tôi từng phát hiện ra B52. Trong năm 1967, địch mở chiến dịch vào Hà Nội cũng gây nhiễu rất nặng, chúng tôi đã xây dựng được quy trình chống nhiễu, phát hiện B52 rất tốt”, đại tá Tích tâm sự.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, đài radar của ông Tích có 6 máy thu sóng nhưng đều bị nhiễu. Qua kinh nghiệm, ông và đồng đội chỉ sử dụng một máy thu, 2 ăng ten trên và dưới hợp lý để chế áp nhiễu. Lúc này, trên màn hình chỉ còn dải nhiễu B52 rất nhẹ, nổi lên 3 điểm sáng bằng đầu tăm. Như vậy, đội đã phát hiện ra có B52.

“Mắt thần” radar không để tổ quốc bị bất ngờ trước cuộc tập kích bằng đường không của Mỹ năm 1972. Ảnh tư liệu.

Nhờ những biện pháp trên, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, Bộ Tư lệnh Binh chủng radar đã phát hiện và xác định chính xác B52, báo động sớm B52 tấn công trong trận đầu, đêm đầu cho Hà Nội 35 phút, các đêm sau từ 50 đến 60 phút. Do được bảo đảm radar tốt, các cấp chỉ huy chiến dịch – chiến lược đã nắm chắc tình hình địch, chiến đấu kịp thời, chính xác, các lực lượng phòng không, không quân được chủ động đánh B52.

Nguyên đài trưởng radar P35 cho hay, bằng sự phối hợp hiệp đồng với radar, bộ đội tên lửa phòng không đã bắn rơi B52 nhiều nhất, ngăn chặn âm mưu của Mỹ đưa Hà Nội, miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá. Chỉ tính trong số 34 chiếc B52 bị bắn rơi thì bộ đội tên lửa phòng không đã bắn rơi 29 chiếc, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ. Bộ đội không quân xuất kích 24 lần, bắn rơi 7 máy bay địch, trong đó có 2 chiếc B52, 4 chiếc F4-D và một chiếc RA5C.

Sau thất bại trong chiến dịch tập kích đường không chiến lược cuối năm 1972, một học giả người Mỹ thừa nhận, một trong ba nguyên nhân dẫn đến tổn thất của máy bay B52 là các radar của Bắc Việt Nam có thể vô hiệu hoá các biện pháp đối phó điện tử của B52. Người này cũng thừa nhận “năm 1972, sau một thời gian xây dựng, Bắc Việt Nam đã có hệ thống phòng không mạnh nhất thế giới, đến mức nhiều người tin rằng các máy bay ném bom hạng nặng át chủ bài B52 của Mỹ khó mà sống sót”.

Clip: ‘Mắt thần’ của không quân trong 12 ngày đêm

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp mặt kíp bắn rơi B52

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Báo Quân đội Nhân dân Điện tử xin giới thiệu tới bạn đọc video clip về cuộc gặp mặt giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp với kíp bắn rơi máy bay B52 (Tiểu đoàn 72) tại Hà Nội ngày 19-11-1997. Tư liệu do ông Nguyễn Đăng Dụ, cựu chiến binh Trung đoàn tên lửa 283, cung cấp. Biên tập: Duy Minh.

Nguồn: qdnd.vn