Archive | Tháng Ba 2012

Nhớ lời Bác dặn: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua Dạy tốt, Học tốt”

65 năm đã qua đi (1045-2010) kể từ ngày Bác Hồ kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, những chỉ dẫn của Người, niềm mong mỏi của Người là phải “làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái” đã từng bước được thực hiện, và trong những kết quả đó, Dạy tốt, Học tốt vừa là nguồn động lực, vừa là mục tiêu của quốc sách giáo dục.

alt

Từ khi nước Việt Nam thân yêu còn đắm chìm trong đêm trường nô lệ, còn nhiều thuốc phiện, nhà tù hơn là trường học, Bác Hồ kính yêu đã đem theo khát vọng giải phóng dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi vòng tốt tăm dốt nát, vươn tới ánh sáng của văn minh, trở thành một dân tộc thông thái trong hành trang bôn ba tìm đường cứu nước của mình.

Thấu hiểu được rằng một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, và mù chữ thì đứng ngoài chính trị, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, trong phiên họp của Hội đồng Chính phủ, thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã nêu một trong sáu nhiệm vụ cấp bách phải làm ngay, đó là xoá nạn mù chữ. Xoá nạn mù chữ là bước khởi đầu của sự nghiệp nâng cao dân trí, để giúp mỗi người dân không chỉ biết đọc, biết viết, tiến đến “phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Động viên toàn dân tích cực hưởng ứng chiến dịch xoá mù, Người nói “các bạn cố gắng diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng” và càng ngày càng cố gắng thi đua diệt giặc dốt để tiến lên một bước nữa.

Đặt niềm tin vào thế hệ măng non, kỳ vọng rằng chính lớp người này ngày mai sẽ đưa dân tộc Việt Nam chiếm lĩnh dần những đỉnh cao tri thức của nhân loại, Bác Hồ đã nói với các em tâm nguyện của mình nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc 5 châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Không dừng lại ở lòng mong mỏi, Người thường xuyên động viên, thăm hỏi khuyến khích mọi người thi đua học tập, trau dồi kiến thức để có đủ năng lực làm chủ, xoá bỏ mặc cảm tự ti của thân phận nô lệ, mù chữ. Học tập để góp ích thiết thực cho độc lập, tự do, và học tập là yêu nước, nên Người luôn tự mình cố gắng học tập và đề nghị mọi người sẽ còn phải cố gắng nhiều hơn nữa trong học tập. Người cũng nói, công việc của cách mạng đòi hỏi mọi người phải luôn luôn cầu thị, vì trong công việc, những kiến thức mới sẽ giúp cho mỗi người “khi thành công thì phải nghiên cứu vì sao thành công để lấy kinh nghiệm, khi thất bại cũng sẽ xem xét tại sao thất bại để mà tránh đi”.

Phong trào bình dân học vụ phát triển, phương pháp dạy và học của Nhà nước Việt Nam mới cũng có nhiều thay đổi. Khác với phương pháp giáo dục nô dịch thực dân, chỉ đào tạo theo lối nhồi sọ, học lấy chút vinh hoa phú quý, thờ ơ với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, trong những năm miền Bắc xây dựng CNXH, đã thực sự tạo ra những cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Đi đôi với việc mở mang các loại hình trường lớp từ nông thôn cho đến thành phố là phong trào thi đua dạy và học. Tại các nhà trường các thầy cô dạy học trò kiến thức mới, tinh thần yêu nước, học tập đời sống mới, tình đoàn kết tương trợ lẫn nhau… , giúp cho các em được tự do học tập và phấn đấu, giúp cho các em vốn tri thức, vốn văn hoá để trở thành những người hữu ích.

Ý thức sâu sắc được tầm quan trọng của dạy và học trong nền giáo dục của nước nhà, Bác Hồ nói rất rõ : “Trách nhiệm vẻ vang của người thầy là chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành những người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sỹ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Không thể có những người trò tốt nếu không có những người thầy tốt. Điểm cốt lõi của vấn đề là phải xây dựng cho được một đội ngũ những người thầy cô yêu trường và yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp trồng người. Dạy học đến Dạy tốt là cả một quá trình phấn đấu khổ luyện của người thầy. Và từ Học đến Học tốt cũng là một sự tự cố gắng, tự vươn lên của bản thân học trò. Cùng với việc tự học, có ý thức học tập, không thụ động nghe giảng, thụ động tiếp thu kiến thức của thầy cô của học sinh, thì những người thầy cô luôn tự mình trau dồi chuyên môn, tu dưỡng đạo đức, khi đứng trên bục giảng, ngoài trái tim người thầy, họ nhất định phải là tấm gương sáng cũng sẽ góp phần quan trọng vào thành công của phong trào thi đuaDạy tốt, học tốt. Hơn ai hết, chúng ta đều thấu hiểu rằng: Dạy tốt phụ thuộc rất nhiều vào nhân cách của người thầy, và nếu không có những người thầy miệt mài gắng sức, luôn xứng đáng là thầy giáo, lặng lẽ chăm sóc, uốn nắn những mầm non của đấy nước qua mỗt giai đoạn kế tiếp nhau từ mẫu giáo đến khi là người đã tốt nghiệp những trường dạy nghề, cao đẳng, đại học và trên đại học, thì không thể có những hiền tài, những nguyên khí của mỗi quốc gia theo đứng nghĩa của nó.

Cùng với những thành tựu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đã làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em, đã thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế, nhà trường, gia đình và xã hội đồng tâm, đồng hướng đào tạo của em thành những con người như mong muốn của Bác Hồ, để “thật thà phụng sự nhân dân”. Có thể nói, cùng với thời gian, lời căn dặn đầy tâm huyết của Bác Hồ nhân dịp bước vào năm học 1968 – 1969: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt học tốt” vẫn luôn là nguồn sức mạnh động viên người thầy và học trò trong sự nghiệp giáo dục. Và hơn bao giờ hết, chúng ta càng nhận thấy rõ rằng: muốn nâng cao chất lượng nền giáo dục nước nhà, muốn những kết quả đào tạo toàn diện của ngành giáo dục về văn hoá, chuyên môn, về lý tưởng, về nhân cách, kỹ năng sống, có trách nhiệm với chính bản thân mình và cộng đồng xã hội,v.v..”ngày càng đạt chuẩn” thì không thể không chú trọng, quan tâm đến phong trào thi đua Dạy tốt, học tốt tại các nhà trường, các giảng đường đại học, cao đẳng, …

65 năm đã qua đi (1945-2010) kể từ ngày Bác Hồ kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, những chỉ dẫn của Người, niềm mong mỏi của Người là phải “làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái” đã từng bước được thực hiện, và trong những kết quả đó, Dạy tốt, Học tốt vừa là nguồn động lực, vừa là mục tiêu của quốc sách giáo dục. Sự phát triển toàn diện, nhanh chóng cả về quy mô, loại hình, chất lượng đào tạo của ngành giáo dục đã góp phần nâng cao dân trí. Chiến lược con người cũng luôn là mối quan tâm bức xúc của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội. Đầu tư cho giáo dục, xã hội hoá công tác giáo dục đào tạo đã thực sự tạo ra những kết quả nhất định, bước đầu trong giáo dục nhà trường. Song chúng ta đều biết, mục tiêu đào tạo những con người có tài và có đức, để kế tiếp cha anh phục vụ Tổ quốc và nhân dân, sẽ luôn gắn liền với phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt tại các nhà trường.

Chế độ đãi ngộ đối với các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo ở vùng xâu, vùng xa, những đổi mới về công tác đào tạo như đào tạo theo yêu cầu của địa phương, ưu tiên đầu vào và cả đầu ra cho con em đồng bào dân tộc thiểu số…. là rất thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cải cách giáo dục bao gồm cải cách về phương pháp dạy, phương pháp học, cải cách sách giáo khoa cho các bậc học, đặc biệt là giảm tải đối với học sinh tiểu học, xây dựng hệ thống trường, lớp chuẩn quốc gia, xã hội hoá công tác giáo dục nhà trường, tránh dạy thêm, học thêm, tránh chạy theo số lượng, chạy theo bệnh thành tích, v.v..sẽ là những điều kiện cần và đủ để thực hiện phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt tại các nhà trường.

Nói Dạy tốt, Học tốt là nền tảng của quốc sách giáo dục trong đường lối chiến lược của Đảng ta, vì Dạy tốt, Học tốt sẽ làm cho các em thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt hôm nay, để mai sau là những người công dân trung thành, những người cán bộ gương mẫu và người chủ của đất  nước, những người sẽ quyết định vị trí của dân tộc ta, đất nước ta trên trường quốc tế. Hiền tài là vốn quý của nước nhà, đào tạo hiền tài là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong chiến lược con người của toàn Đảng, toàn dân ta. Song hiền tài chỉ có được khi phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt tại các nhà trường phát triển cả về qui mô và chất lượng, khi mà mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục đều hướng đến mục đích: vì một dân tộc Việt Nam thông thái như mong muốn của Bác Hồ./.

Ths. Hà Uyên Hương
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

nhoNguoicha

Tôi là người cộng sản như thế này này!

Bác Hồ của chúng ta, từ sau khi bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba tại Đại hội Tua Đảng Xã hội Pháp đêm 30-12-1920, thì cũng từ giờ phút ấy, Người trở thành người cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, như Người đã nói rõ, là do trải qua thực tế đấu tranh và nghiên cứu lý luận, Người đã hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Trong gần 50 năm mang danh hiệu người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn dù khi chỉ là một người thợ ảnh bình thường hay đã trở thành vị Chủ tịch nước đầy uy tín và danh vọng, ở buổi cách mạng thắng lợi giòn giã hay khi bị kẻ thù dồn dập phản kích, lúc nào Bác Hồ của chúng ta cũng tỏ ra là một người cộng sản kiên định, thuỷ chung, nghĩa khí, thắng không kiêu, bại không nản, vô cùng khiêm tốn nhưng cũng rất mực tự hào về danh hiệu người cộng sản của mình.

Đã có thời, có người quá nhấn mạnh phẩm chất siêu việt của người cộng sản, cho rằng đó là những người có một tính cách đặc biệt riêng. Không biết đó có phải là một trong những nguyên nhân đẻ ra cái gọi là “thói kiêu ngạo cộng sản” hay không?

Có điều chắc chắn rằng Bác Hồ của chúng ta không tán thành cách nói thậm xưng đó, nhất là khi Đảng cầm quyền, vào lúc cách mạng đang thuận lợi. Người nói: ”Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân của nhân dân lao động…Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường cho nên Đảng ta rất vĩ đại”.

Người đã từng nói nhiều lần: Người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu.

”Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. ”Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên mình họ có hơi bùn, vết bùn… Cần phải tắm rửa lâu mới sạch”. Vì vậy, Người dạy: Không phải cứ khắc lên trán hai chữ ”cộng sản” là được nhân dân tín nhiệm đâu; phải khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải nhớ mình vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân.

Bác Hồ của chúng ta, trong cuộc đời hoạt động cách mạng đi Âu về Á, đã từng đối mặt với bao gian khổ, khó khăn (hai lần ngồi tù: 1931-1933 và 1942-1943), đã từng lãnh án tử hình vắng mặt (năm 1929); nhưng vì tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân, tin ở chính mình nên lúc nào Người cũng ung dung, tự tại, luôn thể hiện nhân cách cao đẹp của người cộng sản.
Năm 1931, khi Người bị nam trong nhà ngục Vichtoria của đế quốc Anh tại Hồng Kông hoặc khi bị bệnh phải đưa vào nhà thương, nhiều “ông bà” người Anh có quyền thế và cả một số nhân viên người Trung Quốc đã rủ nhau đến xem, ý chừng họ muốn thấy mặt mũi “lạ lùng” của một người cộng sản! Cuối cùng, họ đã bắt gặp một nhân cách lớn mà họ rất khâm phục và sẵn lòng giúp đỡ từ đó.

Năm 1944, tại Liễu Châu, tuy Người được ra khỏi ngục Quốc dân đảng, nhưng vẫn bị quản thúc vì họ biết Người là lãnh tụ cộng sản, hông muốn thả cho về nước. Bác Hồ nói thẳng với Trương Phát Khuê: Tôi là người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam. Chính lòng yêu nước, đức độ và tài trí của Bác Hồ đã làm cho Trương cảm phục, trả 1ại tự do và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Người trở về Việt Nam.

Năm 1946, ở Pari, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa cộng sản đối với Bác, bằng cách đưa ra một câu hỏi:

– Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?

Bác Hồ của chúng ta liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói:

– Tôi là người cộng sản như thế này này !

Đó cũng là điều giúp ta có thể hiểu được vì sao mấy chục năm qua, thế giới có bao sự đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi như một biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa của hoà bình, một kiểu người cộng sản hài hoà giữa yêu nước và quốc tế, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá, phương Đông và phương Tây.
Có thể dẫn ra đây một ý kiến, trong rất nhiều ý kiến của nhà báo Mỹ Saphơlen, viết từ năm 1969:

“Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nếu có ai bảo đấy là một người cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một người cộng sản khác với quan niệm chúng ta vẫn thường nghĩ; và theo tôi, có thể dùng một từ mới: Một người cộng sản phương Đông, một người cộng sản việt Nam”./.

dongthap.gov.vn

Nhớ lời Bác dạy

Hành trang cuộc đời

Tháng 4-1946, phong trào Nam tiến mở rộng, mặc dù đang làm thư ký của Tổng hội viên chức cứu quốc nhưng tôi vẫn viết đơn tình nguyện xin gia nhập Vệ quốc quân để có điều kiện trực tiếp cầm súng đánh giặc. Và duyên nghiệp nhà binh với tôi thực sự bắt đầu khi được cấp trên lựa chọn và cử đi học Khóa 1, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây.

Bác Hồ trao lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân” cho Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) ngày 26-5-1946.Ảnh tư liệu.

Ngày 26-5-1946, mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự lễ khai giảng. Trước 300 học viên, cán bộ huấn luyện của trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao tặng nhà trường lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước, hiếu với dân”. Bác nói: “Trung với nước, hiếu với dân” là bổn phận thiêng liêng, là trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia của nước ta. “Trung với nước, hiếu với dân” là đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Lợi ích cơ bản nhất, cấp thiết nhất của nhân dân lúc này là: “Độc lập dân tộc – Thống nhất Tổ quốc”, phải hết lòng hết sức đấu tranh cho lợi ích đó. Cán bộ là cái gốc của công việc. Phải có đức, trí, nhân, dũng, cần, kiệm, liêm, chính. Phải nhìn rộng, suy kỹ, biết nuôi khí dân, định khí quân. Học phải đi đôi với hành, học để mà hành, hành để mà học. Có học, có hành mới tiến bộ”.

Với giọng ấm áp, quen thuộc, Bác căn dặn: “Làm người cán bộ phải siêng năng. Trời sinh ra con người ai cũng có ngũ quan. Với người cán bộ phải biết tận dụng ngũ quan để làm việc cho cách mạng, cho nước, cho dân. Mắt phải sát thực tế, quan sát kỹ tình hình. Mũi phải siêng ngửi thấy những điều mới mẻ. Tai phải siêng nghe ý kiến của anh em bè bạn, đồng cấp, cấp trên, cấp dưới. Còn phải nghe cả địch để dễ bề đối phó. Tay phải siêng lao động. Chân phải đi sát quần chúng, đi sát bộ đội. Người ta có 2 mắt, 2 tai, 2 tay, 2 chân nhưng chỉ có 1 cái mồm. Nên cần ít nói, chỉ nói những điều cần thiết. Mà đã là cần thiết thì nói đi nói lại trăm ngàn lần vẫn phải siêng càng có lợi cho cách mạng. Cán bộ phải miệng nói tay làm, không ngại cực khổ, không sợ hy sinh; phải biết vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

Đây là lần đầu tiên tôi gặp Bác Hồ và bài học đầu tiên của tôi ở Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn cũng chính từ những câu nói hết sức giản dị của Bác nhưng đó thực sự là hành trang trong suốt cuộc đời binh nghiệp của tôi.

Theo lời Bác dạy

Sáng ngày 15-4-1964, là Trưởng phòng Huấn luyện Pháo binh mặt đất, tôi đang hướng dẫn cho một số giáo viên ôn thi thì nhận được lệnh: “14 giờ có mặt ở hội trường Trường Sĩ quan Lục quân nghe cấp trên nói chuyện”. Có mặt từ sớm, chúng tôi rất mừng khi biết cấp trên đến nói chuyện đó chính là Bác Hồ. Đúng giờ, Chính ủy Lê Quang Hòa dẫn đường đưa Bác tới hội trường nói chuyện. Khi Bác vừa đến chiếc bàn kê giữa hội trường, trực ban chưa kịp hô nghiêm báo cáo, cả hội trường đã đứng dậy vỗ tay không ngớt đón Bác. Đến trước bàn để micro, Bác vẫy tay cho mọi người ngồi xuống và vào chuyện ngay.

Bác nói: “Do không có điều kiện đến thăm từng trường ở khu vực Sơn Tây, Bác nhờ trường Sĩ quan Lục quân mời mỗi trường cử một số đại biểu đến nghe rồi về truyền đạt lại cho anh em ở nhà biết”. Với phong cách giản dị, gần gũi, Bác tóm tắt ngắn gọn một số thắng lợi của hai miền Nam – Bắc từ năm 1960 đến năm 1964. Sau đó, Bác dặn dò tỉ mỉ về nhiệm vụ quân đội và các trường đào tạo sĩ quan.

Bác nhấn mạnh: “Toàn quân hiện đang có phong trào thi đua “Ba nhất”, “Vì miền Nam ruột thịt”, các trường đang có phong trào “Dạy hay, học giỏi” như thế là rất tốt. Nhà trường là nơi đào tạo cán bộ, sĩ quan, các giáo viên nhà trường đang làm một công việc nặng nề nhưng vinh quang. Huấn luyện, giáo dục, đào tạo, rèn luyện người học viên thành người chỉ huy đánh giặc cứu nước, biết chiến thắng kẻ thù. Vậy là học tốt, dạy tốt để đánh thắng. Người giáo viên phải là người mẫu mực về nhân cách, đạo đức, gương mẫu về lối sống, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, luôn nghĩ về lợi ích tập thể, có tình thương và trách nhiệm với học viên.

Người giáo viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ có năng lực chuyên môn giỏi, có lý luận vững vàng, đạo đức tốt, phải thường xuyên rút kinh nghiệm về phương pháp sư phạm để có cách giảng dạy đạt hiệu quả cao. Người giáo viên không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức chuyên môn mà còn phải bồi dưỡng lý tưởng đạo đức cho học viên. Tóm lại, giáo viên phải là người cán bộ vừa hồng vừa chuyên, nhà tâm lý giáo dục, là tấm gương sáng để học viên noi theo học tập. Phải làm cho các nhà trường mẫu mực đi trước đơn vị. Dân tộc Việt Nam có truyền thống tôn sư trọng đạo, quý trọng người thầy. Thầy giáo là một nghề cao quý”.

Vâng theo lời Bác dạy, trong suốt hơn 44 năm đi theo con đường binh nghiệp, trải qua nhiều vị trí khác nhau nhưng với tôi luôn nhớ lời Bác nhắc nhở. Đặc biệt, trong suốt 31 năm công tác tại Trường Sĩ quan Pháo binh, bản thân tôi cùng với Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường đã ra sức thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, giảng dạy của nhà trường. Trong cuộc thi đua “Nâng cao chất lượng giảng dạy” và “Rèn luyện phẩm chất quân đội nhân dân” (1982-1985), Trường Sĩ quan Pháo binh đã có nhiều đổi mới toàn diện, đạt danh hiệu: “Quyết thắng” – trở thành lá cờ đầu, được Bộ Quốc phòng tặng thưởng nhiều huân huy chương các loại. Riêng cá nhân tôi là Hiệu trưởng và giáo viên Đỗ Viết Huy cùng hai học viên giỏi vinh dự được đi gặp và báo cáo thành tích với Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Nguyễn Văn Khiếu

qdnd.vn

Chữ “quan liêu” viết như thế nào ?

Năm 1952, trong một lần đến thăm lớp “chỉnh huấn” chính trị cán bộ trung, cao cấp, anh em quây quần xung quanh Bác, nghe Bác kể chuyện, dặn dò.

Cuối buổi, Bác cầm một cái que nói:

– Các chú học đã giỏi, bây giờ Bác đố chữ này xem các chú có biết không nhé!

Anh em hưởng ứng “Vâng ạ!” “Vâng ạ!”. Người nào biết tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc thì “nhẩm” lại kiến thức của mình, người không biết tiếng nước ngoài thì băn khoăn có chữ gì khó mà lại không đọc được nhỉ?

Bác vẽ một vạch ngang trên mặt đất rồi hỏi:

– Chữ gì nào?

Tưởng chữ “phạn”… chữ “cổ đại” nào chứ chữ này ai mà không biết. Cả lớp hò lên: Thưa Bác, chữ “nhất” ạ.

Bác khen:

– Giỏi đấy.

Rồi Bác lại gạch một gạch nữa dưới chữ nhất. Chưa kịp hỏi, anh em đã ồn lên:

– Chữ “nhị” ạ.

Bác động viên:

– Giỏi lắm…

Người lại gạch thêm một gạch nữa dưới hai gạch cũ.

– Chữ “tam” ạ…

Bác cười:

– Khá lắm.

Rồi Người vạch thêm một vạch nữa dưới chữ “tam”.

– Chữ gì nào?

“Các vị” đớ người ra, nhìn vào vạch đầu tiên thì vừa phải, vạch thứ hai dài hơn đã có hơi lệch một chút, vạch thứ ba dài hơn tí nữa cũng không được “song song” cho lắm, vạch thứ tư dài nhất, có vẻ đã “cong” lắm rồi… Tiếng Pháp thì không phải. Tiếng Hán chữ “tứ” viết khác cơ!
Bác giục:

– Thế nào? Các nhà “mác-xít”?

Bác lại cầm que vạch một vạch, rồi hai vạch dọc từ trên xuống dưới, ban đầu thì thẳng đứng, xuống đến vạch ngang thứ hai đã “queo”, vạch ba thì “quẹo”, vạch bốn như một con giun, loằng ngoằng như cái đuôi chuột nhắt…

Bác đứng dậy:

Chịu hết à? Có thế mà không đoán ra… Các chú biết cả đấy…

Để que xuống đất, Bác nói:

– Chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đúng đắn… Đến tỉnh đã hơi cong, đến huyện đã “tả hữu”, đến xã đã sai lệch. Vì sao? Vì cán bộ không làm đúng, không nắm chắc chủ trương đường lối, không gần gũi dân, không chịu làm “đầy tớ nhân dân” mà chỉ muốn làm “quan cách mạng”. Cho nên chữ ấy là chữ “quan liêu”. Các chú không học những biết và vẫn làm. Còn cái các chú học, thì các chú lại ít làm…

Học viên cả lớp đứng im, khong dám nhìn vào Bác.

tinhdoankhanhhoa.org.vn

Bác Hồ đến với các cháu mồ côi ở trại Kim Đồng

Bác Hồ tới thăm các cháu thiếu nhi miền Nam tập kết ra Bắc ở tỉnh Thanh Hoá (1957)

Một sáng đẹp trời, Bác Hồ đã đến với các cháu ở trại Kim Đồng. Ngay từ phút đặt chân đến cổng trại nhìn bờ rào dăng dây thép gai, trong mắt Bác hiện lên sự nhức nhối. Nói với các cán bộ phụ trách giọng Bác nhẹ nhàng, nhưng vô cùng thấm thía:

– Đây là nơi nuôi dạy các cháu mồ côi, được mang tên liệt sĩ Kim Đồng, sao các cô, các chú lại rào dây thép gai như một nhà tù thế này?

Chú Thuận thưa:

– Dạ thưa Bác, cơ ngơi của thời đại cũ để lại đấy ạ!

Bác lắc đầu: Các cô, các chú phảI tháo gỡ đám dây thép gai ngay. Chế độ cũ nhóm các cháu vào đây, chúng ta tiếp tục nuôi dạy vì tương lai của các cháu.

Bác đi vào từng căn phòng ở, phòng ăn, phòng học, nơi các cháu vui hơi. Bác khen: “Được cái gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, nhưng còn – Bác hỏi cán bộ phụ trách trại – còn thế nào, các cô, các chú biết không?

Mọi người nhìn Bác, vừa xúc động vừa lúng túng. Rồi chú Thuận mạnh dạn đáp:

– Thưa Bác, các cháu ở trại còn chật chội ạ.

Bác Hồ mỉm cười:

– Chú nói mới đúng một phần nhỏ thôi. Đối với các cháu mồ côi, điều lớn nhất là phải bù đắp tình thương. Các cháu đã không còn bố mẹ, thì các cô, các chú ở đây là bố, là mẹ của các cháu. Các cô, các chú nuôi dạy các cháu thì phải đem cả tấm lòng làm mẹ, làm cha mà cư xử, mà săn sóc, mà dạy bảo. Bác thấy ở đây, đối với các cháu, còn cái vẻ “trại lính”, thiếu cái ấm cúng của gia đình. Dạy cho các cháu vào khuôn phép, sống có kỷ luật, trật tự là đúng. Nhưng không được để các cháu mất cái hồn nhiên, mất cái vui tươi, thoải mái. Đừng biến các cháu thành các “ông cụ non”. Các cô, các chú phảI làm sao cho các cháu thấy trại Kim Đồng là gia đình của các cháu, đi xa các cháu nhớ, lúc ở nhà các cháu vui. Được như vậy thì cần gì phải rào dây thép gai, phải canh phòng nghiêm ngặt với các cháu?

Bác lại hỏi:

– Những cháu kém có nhiều không?

– Thưa Bác, còn nhiều lắm ạ.

– Nhiều là bao nhiêu?

Đồng chí phụ trách hơi bối rối. Bác nói ngay:

– Quản lý các cháu thì cần biết cụ thể từng cháu một, biết chắc chắn cái dở, cái hay của mỗi đứa. Có như vậy thì dạy mới có kết quả tốt.

Bác bảo chú Thuận đứng lên:

– Cho Bác gặp cháu nào kém nhất trại.

Em Quốc đứng khoanh tay trước mặt Bác, Bác cúi xuống vuốt ve nhè nhẹ tóc em. Bác hỏI:

– Tên cháu là gì?

– Thưa Bác tên cháu là Quốc lủi ạ!

Bác nhìn em, ái ngại:

– Ai đặt cho cháu cái tên ấy?

– Dạ thưa, các bạn gọi cháu thế ạ.

– Vì sao các bạn gọi cháu là Quốc lủi?

– Thưa Bác… Cháu… Cháu hay trốn trại. Cháu chui qua hàng rào, lủi vào các ngõ phố ạ.

Sao cháu không chịu ở trong trại mà lại trốn ra bên ngoài?

– Thưa Bác… ở trong trại khổ cực lắm ạ.

– Khổ cực như thế nào?

– Dạ chúng cháu bị gò bó đủ thứ ạ.

– Cháu nói rõ sự gò bó cho Bác nghe nào?

– Thưa Bác…

Quốc nhìn Bác Hồ mà nước mắt trào ra, nghẹn ngào không nói lên lời. Bác xoa đầu em, Bác đã hiểu thấu tất cả, dù em chưa nói ra được những điều muốn thưa với Bác. Bác khuyên Quốc: “Từ nay cháu phải phấn đấu bỏ cái tên “lủi”, giữ lại cái tên Quốc…”. Nước mắt càng giàn giụa trên hai má Quốc.

Bác Hồ cầm tay em Quốc đi ra chỗ cả trại đang tập hợp đón đợi Bác. Bác thân mật kể cho các em nghe một số gương tốt của thiếu nhi trong kháng chiến chống Pháp, gương tốt của thiếu nhi ở Liên Xô và các nước bạn. Các em đã không cầm được nước mắt khi nghe Bác kể về thời niên thiếu của Bác, Bác đã từng thèm một cái đồ chơi, ước ao một bộ quần áo mới để mặc Tết. Bác cũng đã mồ côi mẹ từ năm lên chín, lên mười. Bác đã phải bế em trèo trẹo bên hông đi xin sữa cho em sau ngày mẹ qua đời.

Bác căn dặn các em như ông dặn cháu:

– Các cháu phải vâng lời các cô, các chú phụ trách. Thiếu nhi thì phải ngoan, phải thật thà, lễ phép với người lớn, kính trọng người già, giúp đỡ người tàn tật yếu đau. Các cháu ở trong tập thể với nhau càng phảI thương yêu nhau như anh chị em ruột thịt. Và phải dũng cảm sửa chữa những khuyết điểm, những thói hư tật xấu để lớn lên làm người chủ của đất nước, đừng để mình là cái gánh nặng của xã hội…

Rồi Bác bảo:

– Các cháu có hứa làm được điều Bác căn dặn không nào?

Một tiếng “có” vang lên, đều khắp và sôi nổi. Bác còn dặn thêm các em là noi gương dũng cảm của liệt sĩ Kim Đồng trong học tập và rèn luyện, em nào đạt kết quả tốt, được ban phụ trách báo lên Bác, Bác sẽ gửi phần thưởng. Và Bác thân mật hẹn: “Nếu cả trại cùng tiến bộ vượt bậc, Bác sẽ còn về thăm các cháu nhiều lần nữa”.

Ngày hôm ấy, Bác đã để lại rất nhiều quà để chia cho các em. Nhận phần quà của Bác cho, nhiều em đã không ăn, cất làm kỷ niệm.

Từ hôm đó trong từng đôi mắt của các em, ngời lên niềm vui nhận quà Bác. Em Quốc không lủi ra ngoài trại nữa mà giữ gìn mình như giữ gìn kỷ niệm của Bác trong trái tim.

Theo sách “Hoa râm bụt”, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1999

tinhdoankhanhhoa.org.vn

Trước hết là cái này

Ngày 19-5-1946, các vị trong Ủy ban đời sống mới đến chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người cảm ơn, mời nước rồi nói:

– Tôi chưa thấy mình già ở cái tuổi ngoài năm mươi này. Vả lại chúng ta đang bận nhiều việc, chưa phải lúc cần đến hình thức lễ nghi chúc thọ.

Chủ tịch đề nghị trong Ban Đời sống mới cho biết công việc đã làm được. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, một ủy viên trong ban thưa:

– Thưa Cụ, ủy ban vận động đời sống mới đã họp liền mấy buổi, trước hết định rõ 3 nguyên tắc: dân tộc, dân chủ, khoa học…

Chủ tịch nước thoáng như có vẻ ngơ ngác, sau đó mỉm cười, nói:

– Nhân dân ta có mấy người hiểu “dân chủ, khoa học”. Tôi hỏi thật nhà văn, nếu đi vận động đời sống mới, nhà văn làm gì trước?

Nguyễn Huy Tưởng sau một phút bối rối, nói nào là ban đầu phải tuyên truyền ý nghĩa, sau đó tổ chức đội ngũ… vân vân và vân vân…

Chủ tịch lắc đầu, nhìn mọi người, rồi khẽ vỗ vào bụng mình nói:

– Trước hết là cái này. Dân chúng cần cái này trước hết. Phải có ăn đã. Nếu không có ăn, cũng không đi tuyên truyền được. Vậy muốn ăn phải làm gì?

– Thưa Cụ phải làm việc ạ.

– Đúng, phải làm việc, phải siêng năng, thế là “cần”. Muốn dùng tiếng gì rõ hơn cũng được, nhưng điều cốt yếu là phải thiết thực. Sau nữa, muốn cho vận động có kết quả thì cán bộ đi vận động, phải làm gì?

Các ủy viên đời sống mới, bàn thế này, luận thế kia, chưa ngã ngũ.

Chủ tịch nghiêm trang nói:

– Phải làm gương.

Và như sợ các ủy viên, cán bộ nghe chưa ra, Cụ nhắc lại:
– Mình phải làm gương.

Đôi mắt sáng hiền mà nghiêm của Cụ lần lượt nhìn mọi người như căn dặn thêm điều vừa nói.

Theo cuốn: Nhớ lời Bác dạy

tinhdoankhanhhoa.org.vn

Từ câu trả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ ngày 11 – 9 – 1946 tại Pari

Trong chuyến thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1946, Hồ Chủ tịch đã có nhiều cuộc tiếp xúc với giới báo chí thế giới đang tập trung “săn tin” về Hội nghị Phôngtennơbơlô.

Ngoài 26 tờ báo với màu sắc chính trị tả hữu khác nhau của Pari và miền Tây nước Pháp, một số tờ báo lớn của nước Mỹ, Anh, Trung Quốc cũng có mặt quanh khu vực Hội nghị Phôngtennơbơlô. Một số nhà báo tên tuổi thế giới và khu vực châu Âu vào thời kỳ đó rất có cảm tình với Hồ Chủ tịch, họ đã gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng phỏng vấn những vấn đề liên quan đến thái độ, lập trường chính trị của phái đoàn Việt Nam. Đáng chú ý là nhà báo Mỹ Đêvítsơnbrum, một nhà báo có ảnh hưởng rất lớn đối với Tổng thống Mỹ Aixenhao, Tổng thống Pháp Đờgôn. Trong cuốn sách của ông được dịch ra tiếng Pháp, tái bản tại Pari năm 1984 đã dành những trang sinh động ghi lại nội dung cuộc phỏng vấn Bác Hồ ngày 11-9-1946 tại Xanh Cờlu (Pari) vào thời điểm nóng bỏng không khí chính trị do phía Pháp kéo dài Hội nghị Phôngtennơbơlô, dây dưa trả lời những đòi hỏi chính đáng về quyền lợi độc lập dân tộc của phái đoàn Việt Nam. Trước khi Bác ký Hiệp ước 14 – 9, nhà báo Đêvítsơnbrum đã bằng mọi cách gặp và xin được phỏng vấn Bác. Dưới đây là cuộc phỏng vấn.

Đêvítsơnbrum: “Chủ tịch nghĩ thế nào mà tính đánh lại người Pháp trong khi chưa có quân đội, chưa có vũ khí hiện đại?”

Bác trả lời: “Chắc chắn sẽ là gay go, nhưng cuối cùng chúng tôi sẽ thắng. Chúng tôi có một đạo quân ít ra cũng mạnh bằng xe tăng, đại bác. Đó là chủ nghĩa dân tộc. Ông chớ nên đánh giá thấp, nhất là người Mỹ các ông. . .”. Rồi Bác điềm tĩnh lý giải sức mạnh đoàn kết của cuộc chiến tranh toàn dân: “. . . Đầm lầy có hiệu quả hơn súng chống tăng. Rừng rậm thì máy bay, bom đạn làm gì được. Có hang trên núi thì chỉ một người nấp bắn có thể cự hàng trăm người và chúng tôi có hàng triệu túp lều tranh, mỗi túp lều đều là một con ngựa thành Tơ roa đặt sẵn đó, sẵn sàng đánh quật lại bất cứ quân xâm lược nào”. Câu trả lời phỏng vấn một nhà báo Mỹ của Bác tại Thủ đô Pari đã được minh chứng sau 9 năm kháng chiến gian khổ, quyết liệt và đã giành được thắng lợi.

Trong lịch sử thông tin báo chí trên thế giới, ít có một nhân vật được báo chí phía đối lập chế độ chính trị phản ánh với một thái độ trân trọng, khách quan như Bác Hồ của chúng ta. Tổng kết về sự thất bại cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và Việt Nam, riêng ở Mỹ đã có hàng nghìn đầu sách. Và cuốn sách nào cũng đề cập vai trò quyết định của Hồ Chủ tịch tới mỗi chủ trương, quyết sách có quan hệ đến vận mệnh đất nước, dân tộc Việt Nam.

Bất cứ tờ báo tư bản nào mà chẳng bảo vệ quyền lợi chính trị của giai cấp tư sản. Ấy thế mà khi nhắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyệt nhiên không có tờ báo tư bản nào lại có giọng điệu thiếu nhã nhặn. Đương nhiên tính chất của báo chí tư sản không vì thế mà thay đổi nội dung chính trị vốn có.

Còn nhớ khi Bác Hồ “đi theo cụ Lênin, cụ Cácmác” vào tháng 9 – 1969, tờ “Thế giới hàng ngày”, một trong những tờ báo lớn của Mỹ đã đăng bài ca tụng trên mười số với tiêu đề “Di sản của Hồ Chí Minh”. Số báo ra ngày 20-9-1969 đăng bài với nội dung: “. . . Hồ Chí Minh không những tìm ra con đường đi tới tự do mà còn sáng lập và xây dựng công cụ lãnh đạo là chính Đảng Mác – Lê nin. Chính Đảng đó đã lãnh đạo toàn diện cuộc đấu tranh của quần chúng nhằm đánh đổ ách thống trị của bọn xâm lược và đưa Nhà nước mới có chủ quyền tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa và trước hết tạo ra cho dân tộc Người ý chí và nghệ thuật bảo vệ linh hồn và lãnh thổ của mình chống lại các cuộc xâm lược của lực lượng quân sự viễn chinh được trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại bậc nhất và vô lương tâm chưa từng thấy…”.

Một tờ báo có số lượng phát hành hàng chục triệu bản và ảnh hưởng rất lớn ở Mỹ – tờ “Bưu điện Hoa Thịnh Đốn” đã viết về Bác Hồ với sự thành kính đặc biệt: “Không một nhà hoạt động lớn nào trong thập kỷ cách mạng dân tộc đầy sôi động này lại sống lâu, có ảnh hưởng lớn trên thế giới, thực hiện nhiều sách lược và đường lối với nhiều mối thách thức to lớn như vị lãnh tụ cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh. Con người mảnh khảnh đó với đôi mắt bốc lửa đã trải qua nhiều nghề nghiệp từ khi còn là người bồi bàn trên tàu thủy, làm nghề rửa bát, làm cấp dưỡng, giáo viên, làm ảnh để rồi trở thành nhà tổ chức không mệt mỏi, vươn lên trên cả những nhân vật đương thời”.

Sau hai ngày Bác Hồ kính yêu của chúng ta ra đi vào cõi vĩnh hằng, ngày 04-9-1969, tờ “Thời báo Niu Oóc” đăng bài viết: “Trong số các chính khách của thế kỷ 20, Hồ Chí Minh là nhân vật nổi bật về tính bền bỉ dẻo dai và lòng kiên nhẫn trong việc tìm kiếm mục tiêu độc lập cho Việt Nam và về sự thành công trong việc dung hòa giữa Chủ nghĩa cộng sản với Chủ nghĩa dân tộc…”.

Hẳn không thể có lời bình luận gì hơn về sự ghi nhận, đánh giá, khẳng định tôn trọng một cách thẳng thắn của giới báo chí tư bản, đặc biệt là báo chí nước Mỹ đối với Bác Hồ của chúng ta.

* Văn Hiền (Nguồn: Những mẩu chuyện làm báo của Bác Hồ NXB Thanh Niên)

tinhdoankhanhhoa.org.vn

“Hình ảnh Bác Hồ là niềm tin đưa tôi đến với đam mê hội họa”

Dù chưa một lần được gặp Bác Hồ nhưng Trần Hòa Bình dành cho Bác một tình cảm đặc biệt bằng tấm lòng của người đam mê hội họa. Sau 40 năm gắn bó với nghệ thuật, ông đã vẽ hơn 500 bức tranh về Bác Hồ.

Căn phòng vẽ tranh sơn dầu của họa sỹ Trần Hòa Bình khá nhỏ và đơn sơ, nằm ở một góc nơi thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Lúc chúng tôi ghé thăm, ông vẫn đang say sưa với những nét vẽ Bác Hồ trong thời gian Người đang làm việc tại nước Nga.

Hơn 40 năm vẽ tranh về Bác Hồ

Sinh năm 1955 trong một gia đình có truyền thống lâu đời về vẽ tranh và chép tranh truyền thần, từ bé Trần Hòa Bình đã được làm quen với công việc vẽ tranh. Cha ông, cố họa sỹ Nam Phong (sinh năm 1917) vốn nổi tiếng đất Bắc là họa sỹ vẽ tranh truyền thần, trong đó phải kể đến bức tranh “Đức mẹ Việt Nam” mà hiện nay đang được trưng bày tại Italia.

Họa sỹ Trần Hòa Bình đang vẽ bức tranh Bác Hồ khi Người đang làm việc ở nước Nga

Ngay từ khi mới lên 8 tuổi, Trần Hòa Bình đã thể hiện rõ sự đam mê hội họa. Cứ mỗi buổi tối khi cha vẽ tranh xong, ông thường gom nhặt những mảnh giấy và mực màu cũ không dùng nữa để tập vẽ. Ban đầu, những nét vẽ của ông nguệch ngoạc, tay cứng đờ, vẽ cả ngày mà bức tranh nhìn không ra chủ thể gì. Không nản chí, ông vẫn kiên trì tập vẽ tranh và có thể vẽ ở bất cứ thời điểm nào nếu có thể, đặc biệt ông yêu thích những bức tranh về Bác Hồ và dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu và vẽ tranh truyền thần về Bác.

Sau nhiều năm khổ luyện, cố gắng với không ít lần thất bại, Trần Hòa Bình bắt đầu cho ra đời những bức tranh truyền thần độc đáo. Những bức tranh chân dung về Bác Hồ của ông rất đẹp và không hề thua kém tranh của cha mình. Dấu ấn đầu tiên trong sự nghiệp hội họa là năm ông 16 tuổi, tác phẩm “Bác Hồ đang làm việc” của ông được gửi tặng đến huyện Kim Sơn để trưng bày trong tiền sảnh UBND.

Bức tranh về Bác Hồ đã hoàn thiện, giống hệt một bức ảnh Bác Hồ đã chụp trước đây

Thời gian đó, Trần Hòa Bình đứng trước nhiều nguy cơ phải nghỉ nghề do kinh tế gia đình khó khăn, bốn con nhỏ đang tuổi đến trường mà nghề hội họa chỉ là niềm đam mê chứ không thể làm giàu được. Gánh nặng “cơm áo gạo tiền” khiến ông nhiều đêm mất ngủ. Những tưởng ông sẽ bỏ công việc vẽ tranh để đi làm kinh tế, nhưng ông đã biết khắc phục khó khăn bằng cách ban ngày vẫn đi làm việc và tối về lại tiếp tục cống hiến cho nghệ thuật. Có hôm, ông thức cả đêm để hoàn thiện bức tranh Bác Hồ, khi bức tranh hoàn thiện, một niềm tin, sức sống mới lại bừng sáng trong ông, xua tan đi mọi mệt nhọc.

Cha mất, họa sỹ Trần Hòa Bình được kế thừa căn phòng tranh cổ kính truyền thống của gia đình cùng kho tàng ảnh tư liệu quý báu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhiều họa sỹ khác cho rằng Trần Hòa Bình mang nặng cái duyên với Người. Bởi lẽ, những hình ảnh về phẩm chất, nghị lực phi thường của vị lãnh tụ vĩ đại đã đưa ông đến với con đường hội họa. Vẽ tranh về Bác Hồ rất khó nên ít người theo mảng tranh này, bức tranh về Bác Hồ phải thể hiện được cái thần của người lãnh tụ yêu nước cũng như phong thái, nụ cười ung dung của Người với nhân dân.

“Hình ảnh Bác Hồ là niềm tin, sự đam mê đưa tôi đến với hội họa”

Vẽ tranh cũng cần có sự tâm huyết, lòng đam mê và tấm lòng của người cầm bút mực, chính vì thế nhân vật trong tranh cũng trở nên sinh động và có thần thái hơn. Hơn 40 năm gắn bó với nghề, Trần Hòa Bình đã nổi tiếng cùng những bức tranh truyền thần về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kỷ lục vẽ 520 bức tranh truyền thần về Bác Hồ

Đã hơn nửa cuộc đời gắn bó với duyên nghề hội họa, họa sỹ Trần Hòa Bình không thể nhớ hết được bao nhiêu bức tranh ông đã vẽ, riêng tranh về Bác Hồ thì ông nhớ như in. Tính đến tháng 10/2010 ông đã vẽ 520 bức tranh về Bác ở nhiều thời kỳ cách mạng đã được công nhận. Từ đó đến nay, con số những bức tranh truyền thần về Bác Hồ đã lên đến gần 600 bức vẽ.

Họa sỹ Trần Hòa Bình cho biết: “Nhìn bức tranh Bác Hồ đơn giản nhưng vẽ thì rất khó, khó đến từng chi tiết nhỏ. Khi vẽ phải nhập tâm để thể hiện được thần thái của Người, đôi mắt phải sáng, bộ râu mềm mại và nụ cười nhẹ nhàng ấm áp như tình yêu thương của Bác dành cho nhân dân. Bức tranh truyền thần về chân dung Bác Hồ chỉ cần sai sót một chi tiết nhỏ thì coi như bỏ đi, phải vẽ lại bức khác”.

Căn phòng vẽ tranh của ông khá đơn sơ nhưng có truyền thống hàng trăm năm về hội họa

Trong căn phòng vẽ tranh có truyền thồng lâu đời của gia đình họa sỹ Trần Hòa Bình vẫn còn lưu giữ khá nhiều bức tranh truyền thần cổ kính, có bức tranh đã gần thế kỷ nhưng màu sắc không bị phai nhạt. Riêng tranh sơn dầu về Bác Hồ thì trong xưởng vẽ tranh của ông chỉ còn duy nhất 1 bức và 1 bức ông đang vẽ. Ông tâm sự: “Tranh sơn dầu về Bác Hồ được rất nhiều người yêu thích, đặc biệt các văn phòng, công sở Nhà nước thường mua về trưng bày lấy Bác làm tấm gương học tập. Chính vì thế ngoài những bức tranh khách đặt hàng, mình vẽ xong bức nào về Bác là vài ngày sau lại có người đến xin mua lại để làm kỷ niệm hoặc làm quà biếu người thân”.

Những bức tranh truyền thần về chủ tịch Hồ Chí Minh của họa sỹ Trần Hòa Bình được nhiều người biết đến, từ Nam ra Bắc. Có người ở tận Cần thơ, Cà Mau vẫn tìm ra Bắc đặt tranh của ông. Mấy năm trước, đã có người đặt ông vẽ 5 bức tranh truyền thần Bác Hồ để đưa sang Pháp tặng người thân.

Họa sỹ Trần Hòa Bình bên bức tranh mới nhất về Bác Hồ

Họa sỹ Trần Hòa Bình có bốn người con và đều nối nghiệp gia đình theo nghề hội họa. Thế nhưng điều khiến họa sỹ Trần Hòa Bình trăn trở nhất là số họa sỹ có thể vẽ tranh, chép tranh về Bác Hồ còn rất ít, thế hệ trẻ thì càng khó thành công ở lĩnh vực này.

“Tôi đặt hy vọng nhiều ở người con trai cả Thế Anh, hiện cháu đang vẽ tranh cho một Trung tâm thương mại ở Hà Nội. Tôi mong sẽ truyền lại được sự đam mê, tình yêu thương với những bức tranh truyền thần về Bác Hồ để cháu nối nghiệp. Còn bây giờ tôi vẫn tiếp tục vẽ tranh về Bác, chỉ mong sao con cháu thế hệ sau mãi biết đến, học tập và làm theo tấm gương Bác – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc”, họa sỹ Trần Hòa Bình bày tỏ.

Theo Báo Dân Trí Trực tuyến

hcmpc.com.vn

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 3)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Có lần Bác đến dự cuộc họp cán bộ cấp cao, khi nghỉ giải lao các đồng chí vào phòng giải khát riêng, còn anh em khác không thuộc diện tiêu chuẩn đứng ngoài uống nước trà, thấy vậy Bác ra mời anh em vào hết, Bác bảo: “Ai đến họp đều có phần như nhau”. Cứ mỗi lần chiêu đãi khách khi tan tiệc Bác bảo “Theo tục lệ Việt Nam, khi đi ǎn cỗ thì phải có phần mang về, các chú nhớ lấy phần về chia cho người ở nhà cho các cháu, người được ǎn phải nhớ người ở nhà” . Việc đó thành nếp mãi về sau. Ai được Bác chiêu đãi đều có phần mang về cho người ở nhà.

Về tặng thưởng của Bác thì có nhiều với mọi đối tượng. Hồi mới đầu kháng chiến có một phóng viên nước ngoài gửi tặng Bác mấv bức ảnh, Người không quên gửi tặng lại ảnh có tựa đề thân thiện, Ai có thành tích kháng chiến Bác gửi thư khen ngợi gửi tặng quà là chiếc áo mà đồng bào tặng Bác Khi cấp dướí ốm đau Bác biết, Bác đến tận giường bệnh hỏi thǎm Người yêu thơ gửi thơ tặng Bác, Bác gửi tặng lại thơ những bài thơ đó thường là thơ tức cảnh, là cảm xúc thực, dung dị, xuất phát từ hoàn cảnh thực mà ai nhận được cũng cảm thấy gần gũi, xúc động bởi trái tim và tấm lòng Bác quá bao la, soi rõi tận tâm can xúc cảm của con người. Những ngày cuối cuộc kháng chiến, Bác nhận được thơ của hai cháu thân quen là Hà, Hạnh (con gái nhà vǎn Đặng Thai Mai). Bác viết thư trả lời và gửi kèm “Bài thơ tức cảnh khi thức giấc”:

Kìa bãi cát, nọ rừng thông,
Nước nước, non non, khéo một vùng,
Đang đợi người thơ cùng bạn vẽ,
Đến chơi cảnh trí với rừng sông.
Tay đàn, cặp sách, ông đầu bạc.
Hồ rượu, xâu nem, ả má hồng.
Được phép ngao du cùng tuế nguyệt
Vì rằng kháng chiến đã thành công.

Khi biết tin chị Hà có thai, Bác viết thư cǎn dặn. “Phải cẩn thận, nếu không cần kíp lắm thì không nên cưỡi ngựa, lội suối trèo đèo và làm gì nặng nề mệt nhọc quá. Bao giờ có dịp Bác sẽ đến thǎm cháu…”. Có lẽ món quà quý nhất đối với người nhận là mấy lời Bác dặn dò chân tình, là câu thơ, bài thơ được Bác viết tặng với một nỗi niềm tâm sự, một cảm xúc tràn đầy tình người, một niềm hy vọng về tương lai tươi sáng cho người nhận cho tất cả đất trời, nhân loại. Khi biết tin cụ già ở Hải Phòng tuổi đã trên trǎm, vẫn cùng con cháu cầm bút cắp sách đi “diệt giặc dốt”, Bác viết thư khen ngợi “Cụ đã nêu tấm gương sáng cho con cháu noi theo…”. Đọc báo Bác biết tin đội dân quân gái, đội lão dân quân có thành tích bắn rơi máy bay Mỹ, Bác gửi thư, tặng cờ khen thành tích. Giặc Mỹ ném bom ra miền Bắc? Bác tặng cờ thưởng luân lưu cho quân và dân Quân khu IV, cho các tỉnh tuyến đầu “Cờ thưởng luân lưu” của Bác dành thưởng cho những đơn vị bắn rơi nhiều máy bay nhất trong ngày, trong tháng, trong nǎm, Cho nên cờ được chuyền tay nhau đi đến các trận địa nơi nóng bỏng nhất như thêm sức mạnh cho các chiến sĩ “nhằm thẳng quân thù mà bắn”, quyết vít cổ “thần sấm”, “con ma” thật nhiều dâng Bác, dâng Tổ quốc.

Hàng tháng Bác dặn đồng chí Vượng phụ trách khen thưởng Phủ Thủ Tướng, tổng kết lại trong tháng mỗi tỉnh, mỗi ngành, mỗi bộ, mỗi trường học, đoàn thể được Bác thưởng bao nhiêu huy hiệu. Có con số cụ thể để điều tra xem xét. Vì sao nơi này nhiều nơi kia ít Vì sao ít, có phải vì phong trào kém hay vì chưa có báo cáo kịp thời, để nhắc nhở những nơi đó. Hàng ngày Bác đọc báo, có tin người tốt việc tốt Bác thấy thưởng được huy hiệu là Người vòng tròn bên cạnh, đồng chí giúp việc Bác dựa trên những dánh dấu đó mà gửi tặng huy hiệu. Đặc biệt khi thưởng huy hiệu Bác chú ý nhất là những người đi đầu khởi xướng phong trào, còn khi đã thành phong trào thì phải có thành tích cao và liên tục. Chị Phạm Thị Vách người đi đầu trong phong trào thuỷ lợi của tỉnh Hải Hưng Bác gửi thưởng huy hiệu cho chị Vách, còn sau đó đã thành phong trào có người đạt thành tích cao hơn chị Vách nhưng Bác chưa thưởng. Lúc đầu chuyên gia nước bạn sang giúp ta còn ít, Bác tặng huy hiệu của Người. Về sau sang đông, nhiều nước khác nhau, ta chủ trương tặng huy hiệu hữu nghị. Họ không thích, họ bảo huy hiệu Bác Hồ quý hơn. Đi xuống địa phương để khuyến khích phong trào trồng cây, Bác chỉ cây đa to ngoài đồng với các đồng chí cán bộ địa phương: “Các chú biết không khi xưa các cụ ta trồng cây đa ngoài đồng là để khi làm mệt, trời nóng người ta tránh nóng, hồi xưa các cụ đã làm được thế, ngày nay chẳng lẽ con cháu không biết noi theo, trồng nhiều cây hơn để khi đi trên đường đâu cũng có bóng mát. Khi biết những nơi chưa có phong trào trồng cây tốt có nơi trồng nhiều nhưng không chǎm sóc để cây chết và bị hỏng nhiều, nên hiệu quả thấp, thấy vậy Bác phát động phong trào “Các cụ trồng, các cháu chǎm”, Từ đó miền Bắc phong trào trồng cây phát triển vững chắc hơn.

Bác đặc biệt quan tâm đến ngành giáo dục, vì nước muốn mạnh dân trí phải cao. Đầu tư, quan tâm đến giáo dục là việc làm cho tương lai, sau khi cách mạng thành công Bác viết lá thư đầu tiên là lá thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới. Trong số lần đi thǎm các cơ quan đơn vị, địa phương… Bác dành nhiều lần, nhiều thời gian về thǎm các trường học. Bác quan tâm đến ngành giáo dục không chỉ trên giấy tờ mà ở những chính sách. Bác cǎn dặn các cán bộ từ Trung ương đến địa phương, các ngành, các đoàn thể phải xem giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, thể hiện ở trong các chủ trương, chính sách phải được thực thi trong cơ chế thích hợp. Bác tặng thưởng cho giáo viên dạy giỏi, cho học sinh học giỏi. Giải thưởng là một cuốn sổ đặt tên là “Giải thưởng Bác Hồ”. Khi làm cuốn sổ thưởng Bác dặn, đây là giải thưởng nhưng nên có giấy cho các cháu dùng, sổ phải kẻ hàng cho các cháu dễ viết, in tên trường, lớp, tên học sinh. Trên trang đầu in 5 điều Bác Hồ dạy thiếu nhi. Những quyển sổ giải thưởng đó ra đời nǎm đầu tiên của chính quyền cách mạng, là nguồn động viên lớn lao cho thầy và trò lập thành tích trên mặt trận giáo dục. Sau này ngành giáo dục đề ra tiêu chuẩn đạt giải thưởng Bác Hồ” quá cao, các môn học phải đạt điểm 10 và đạo đức tốt. Bác có ý kiến đối với các cháu học sinh dân tộc ít người nên châm chước có thể có điểm 9 vẫn được thưởng. Từ khi phát động phong trào đến nǎm 1968 tổng kết lại ngành giáo dục đã nhận được 6210 giải thưởng của Bác Hồ, trong đó có 423, giải tặng cho giáo viên dạy giỏi có thành tích tốt.

Món quà Bác tặng, tuy nhỏ bé nhưng mang một ý nghĩa thiết thực, mà Bác gửi gắm vào đó một điều mong muốn, một lời khuyên chân tình. Có lần anh em trẻ mới bổ sung làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, vì chưa quen một số nguyên tắc bảo vệ nên thường có mặt hạn chế. Khi thấy Bác có đôi đũa đẹp, anh em bànnhau dấu đi, mỗi người cắt một khúc giữ trong mình làm kỷ vật. Đồng chí phụ trách phê bình anh em gay gắt. Biết chuyện, Bác lấy tặng mỗi người một cuốn sổ với lời đề tặng. Anh em rất sung sướng và cuốn sổ ngày ngày được anh em dùng ghi những việc làm tốt, những suy nghĩ hay: Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam còn lưu giữ hai kỷ vật Bác tặng, đó là chiếc máy quay đĩa và ghi âm vào đĩa nhựa hiệu Wilox má bà con Việt kiều tặng Bác khi Bác sang Pháp nǎm 1946. Chiếc đồng hồ Rolex Royal do Việt kiều ở Thái Lan tặng Bác, Bác cũng tặng lại đài.

Bác viết hàng nghìn bài báo, khi có nhuận bút vǎn phòng đều gửi vào tiết kiệm, đến nǎm 1967, tổng số tiền lên đến 25.000 đồng (tương đương 60 cây vàng), khi biết, bộ đội pháo binh trực chiến dưới trời nóng, khát nước, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuyển số tiền đó để mua nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không. Bác lo cho con người từ cái nhỏ nhất đến việc lớn, Bác quan tâm từ người cán bộ đến anh em chiến sĩ, dù ở đâu, hoàn cảnh nào. Nhớ lần họp Hội đồng Chính phủ tại thôn Chúc Sơn đầu nǎm 1948, đồng chí Hoàng Hữu Nam nhờ cụ chủ nhà mua hộ cho 20 quả trứng luộc để anh em ǎn về đêm cho đỡ đói Giữa cuộc họp Bác đến, cùng lúc đó rổ trứng được mang đến, Bác biết số trứng không đủ cho số người họp, nhưng nhất định từ chối không được, Bác vờ lấy một quả như mọi người. Có lần nhân ngày sinh nhật Bác, ở chiến khu anh em phục vụ cố gắng cải thiện bữa ǎn tươi. Gần trưa Bác đứng hóng mát ở bóng cây thấy một đồng chí cán bộ đi công tác, phi ngựa qua, Bác cho gọi lại và mời vào ǎn cơm thân mật với Bác và anh em nhân ngày vui. Được biết bố đẻ liệt sỹ Lý Tự Trọng (thời kỳ Bác hoạt động ở Thái Lan, ông này thường mời Bác những món ǎn dân tộc mà Bác rất thích) ra Hà Nội, Bác cho mời vào nơi Bác, trong không khí hàn huyên nhớ thủa hàn vi, Bác mời ǎn những món ǎn xưa như để nhắc lúc nào cũng nhớ về nhau như đôi bạn tri kỷ. Hồi ở chiến khu, Bác tiếp anh hùng La Vǎn Cầu, khi anh qua một trận chíến đấu rất anh dũng. Đến bữa cơm Bác nói chân tình để anh ǎn được nhiều cơm: “Hôm nay Bác thết chú, chú ǎn đừng làm khách nhé, bởi toàn “cây nhà lá vườn” cả, này nhé rau xanh Bác trồng, gà Bác nuôi, trứng là trứng gà Bác nuôi đẻ đấy, chỉ có mǎng muối là phải mua thôi. Chú ǎn thật no đấy!”. Hai Bác cháu chuyện trò vui vẻ bữa ǎn anh Cầu ǎn được nhiều hơn bình thường. Tối đó Bác lưu anh Cầu ở lại ngủ qua đêm. Bác quý, Bác xem anh như con đẻ. Sau này về Hà Nội, tại cuộc họp Quốc hội, khi nghỉ giải lao, Bác gọi anh Cầu lại hỏi thǎm sức khoẻ, gia đình. Biết anh Cầu đã có vợ, con. Vợ anh, là chiến sỹ thi đua ngành công nghiệp giấy Trần Thị Thanh, Bác hỏi anh Cầu: “Thế cô ấy có lớn lên được tý nào không?”. Hôm sau Bác mời cả nhà anh vào thǎm Bác tại Phủ Chủ tịch. Bác ân cần, chu đáo quan tâm đến con người là vậy, nhớ lần Bác đến thǎm bệnh viện Khu tự trị Việt Bắc, Bác hỏi người phụ trách trong bệnh viện có bệnh nhân nào nặng nhất, cho Bác đến thǎm. Bác được dẫn đến chỗ chị cấp dưỡng khu gang thép Thái Nguyên, chị bị bỏng đến 80%, lúc đó chị đã qua cơn nguy kịch nhưng vẫn nằm bất động, Bác đến gần giường ân cần hỏi:”Cháu có đau lắm không?”. Biết bệnh tình nguy kịch Bác rất lo cho tính mạng chị Bác dặn y bác sĩ: “Bệnh nặng thế liệu có chữa khỏi không? Các cô các chú cố gắng cứu lấy chị”. Bác đến thǎm như thêm sức mạnh kỳ diệu cho chị và cả tập thể y bác sĩ, họ đã quyết tâm vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo.

Những chuyến đi xuống thǎm các cơ sở sản xuất, thǎm nhân dân, mặc dầu đã có chương trình bố trí cho Bác đi, nhưng Bác vẫn có cách tiếp xúc trực tiếp với dân. Một lần nhân đầu nǎm mới Bác lên Vĩnh Phú thǎm và chúc tết Các đồng chí cấp tỉnh đã chuẩn bị một số nơi cho Bác đến. Bác biết, nên Bác chưa đến những nơi đó trước. Bác vào thǎm một gia đình của một đồng chí dang chiến đấu ở miền Nam, Bác ân cần hỏi thǎm sức khoẻ gia đình việc học hành của các cháu và sự quan tâm của địa phương ra sao, chị chủ nhà nói những gì có thật, khác xa sự báo cáo của địa phương, Bác không vui, Bác phê bình thế là không tốt với dân, lừa dối cấp trên. Khi tập trung nói chuyện với nhân dân các đồng chí cán bộ thì ngồi gần Bác, còn các cụ thì ngồi phía sau chỗ xa Bác đứng. Bác trực tiếp sắp xếp lại, Bác mời các cụ lên ngồi gần Bác, rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện. Bác rất biết những nhược điểm của một số cán bộ thường mắc bệnh hình thức chủ nghĩa, cho nên khi đi đâu thǎm dân, Bác dặn các đồng chí phục vụ, bảo vệ không được cho cán bộ địa phương biết trước. Một lần Bác xuống thǎm nhà trẻ, Bác đi vào cổng giữa trời nắng chang chang đã thấy hai dãy hàng các cháu, quần áo ǎn mặc chỉnh tề, cháu nào mặt cũng đỏ gay vì nắng. Thấy Bác các cháu rất vui, Bác cùng hoà trong niềm vui với trẻ thơ như để bớt đi nỗi vất vả mà các cháu phải chịu đựng khi chờ đợi Bác. Nhưng khi về Bác phê bình, vì sao “để lộ ra” , vì sao bắt các cháu đứng giữa nắng. Tết nǎm 1962, theo kế hoạch ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội bố trí Bác đi chúc tết một số gia dình, Bác dặn đồng chí phục vụ ngoài chương trình của thành phố bố trí cho Bác đi thǎm một số gia đình còn khó khǎn. Sau khi “hoàn thành” chương trình của thành phố, Bác vào phố hàng Hàng Chĩnh đến thǎm nhà chị Tín. Chị đi gánh nước thuê ra đến ngõ thì gặp Bác, cảm động quá đôi quai thùng rơi xuống đất. Bác đến gần ôn tồn động viên chị, hỏi thǎm sức khoẻ gia đình và học hành của các cháu. Được biết chồng mất sớm, một mình nuôi bốn con còn nhỏ, thiếu ǎn, thiếu mặc nên các cháu thất học. Nhìn trong nhà thấy không có gì cả, Bác hỏi; “Thế mẹ con cô ǎn tết thế nào?”. Chị trả lời trong nước mắt: “Dạ thưa Bác không có gì để đón tết cả, cả nhà chỉ còn một lon gạo để dành sáng mồng một tết nấu cháo cho các cháu ǎn, nên tuy nǎm hết tết đến cũng phải tranh thủ đi gánh nước thuê, kiếm ít tiền mua cái gì cho các cháu”. Nghe vậy, Bác rất cảm động. Bác tặng quà cho các cháu và dặn: “Cố gắng sǎn sóc các cháu”, Chị cảm động nói? “Không ngờ như gia đình cháu mà Bác cũng đến thǎm”. Bác ân cần bảo: “Bác không đến thǎm những gia đình như gia đình cô thì thǎm ai”. Khi xe đưa Bác về đến nhà thì gia đình một số đồng chí cán bộ vui mừng ra đón Bác, chúc tết Bác. Nhưng tất cả bỗng im lặng và đi chậm lại khi thấy Bác đi chúc Tết về mà không vui, vào nhà, Bác kể chuyện đến thǎm gia đình chị Tín cho mọi người nghe, và Bác nhấn mạnh: “Ta có chính quyền trong tay nhưng không sát dân, cho nên phục vụ nhân dân chưa tốt”. Sáng hôm sau mặc dầu mồng một Tết Bác cho gọi đồng chí Chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố lên và nói lại chuyện trên, Người nghiêm khắc nhắc nhở chung cán bộ thành phố chưa sâu sát dân, chưa biết cách tổ chức vận động nhân dân “lá lành đùm lá rách” có nhiều gia đình Tết đến mà không có Tết, đó là lỗi của cán bộ không gần dân, ta có chính quyền nhưng chưa gần và hiểu dân”. Bác đến thǎm dân, Bác tới những nơi cán bộ ít hoặc không bước chân đến, nơi đó người dân phải chịu đựng nỗi vất vả, gian nan.

Nhớ lần Bác đến thǎm một cơ quan Bác đi thẳng vào nhà ǎn, Bác bước xuống chỗ nhớp nháp, trơn, đồng chí cán bộ lãnh đạo cơ quan vội thưa Bác là chỗ đó bẩn, dễ ngã, đồng chí mời Bác đi hướng khác, nhưng Bác không nghe, Bác nói: “Bác đi lối này để chú biết lần sau dọn cho sạch sẽ”. Vào nhà ǎn Bác xem kỹ tường, trần nhà, nền nhà bàn ǎn, Bác chỉ vào chỗ ruồi đang bay, Bác bảo: Hình như có tiếng vè vè của máy bay “trực thǎng”. Bác phê bình, đại ý “hồi xưa thằng Tây nó to, ác như thế, nó có súng to súng nhỏ mà ta còn đánh được, thế mà bây giờ con ruồi nó không có súng, nó không to thế mà các cô các chú không đoàn kết tiêu diệt được nó”. Bác phê bình là vì sức khoẻ của anh em cán bộ, Bác mong mọi người cùng nhau tiến bộ không chỉ ở những công việc lớn lao mà ngay cả những việc tưởng tầm thường nhỏ nhặt. Có lần đến thǎm đơn vị, thấy một đồng chí có vết bẩn ở mặt mà đồng chí không chú ý nên không biết. Bác đến gần ân cần lấy khǎn mặt của mình lau cho đồng chí và phê bình nhẹ:”Lần sau chú phải chú ý hơn”. Tết nǎm 1956, Bác đến thǎm trường thương binh hỏng mắt, Bác vui vẻ nói chuyện với anh em thương binh. Bác rất khen ngợi tinh thần khắc phục khó khǎn, bệnh tật, luôn cố gắng phấn đấu vươn lên Bác rất vui lòng khi được biết số tiền Bác tặng đã được dùng vào trồng rau, nuôi lợn cải thiện bữa ǎn cho anh em. Bác ân cần động viên: Các chú được học chữ, học nghề sau này phục vụ nhân dân được tốt hơn, như vậy các chú “tàn nhưng không phế”. Thời kỳ kháng chiến ở chiến khu, khi nghe tin đôi trai gái Bác quen biết, tổ chức lễ cưới Bác bận không đến được, Bác gửi thiếp chúc mừng:

“Chúc Lương Thuận đoàn kết chặt chẽ. Ký tên Hồ Chí Minh” Lần sau nhân dịp đi công tác Bác ghé thǎm nhà, anh chị là cán bộ tài chính nhưng kinh tế cũng như mọi gia đình khác vào nhà không có bàn ghế ngồi Bác bảo ra ngồi ngoài thềm cho thoáng mát, Bác ngồi xuống vỉa hè bảo chị Thuận và mọi người cùng ngồi cạnh, Bác hỏi thǎm mọi mặt, Bác khuyên nên tích cực tǎng gia sản xuất, thấy cháu bé con chị ngồi trong xe cút kít làm bằng gỗ, Bác bế cháu âu yếm, dỗ dành bón từng thìa cơm cho cháu. Nhớ hồi ở Pác Bó, khi vào bản thǎm bà con thấy các cháu nhỏ nghịch dơ bẩn không tắm giặt, Bác bảo các đồng chí cùng đi tìm một cây gỗ lớn về làm một cái máng đựng nước rồi tắm cho các cháu. Thời kỳ Bác ở Trung Quốc, có lần đến tuyên truyền cách mạng trong anh em công nhân đường sắt Bác ở tạm trong một cơ sở tin cậy, thời gian rỗi Bác thường tham gia lao động giúp gia đình, như chặt củi, hái rau, nấu cơm. Thấy chị chủ nhà vất vả, lo toan mọi việc, Bác không nề hà giúp chị trong những công việc của người phụ nữ. Gia đình có cháu bé hay khóc, Bác dỗ rất khéo tắm giặt sạch sẽ, khéo vỗ về nên khi Bác cho ǎn cháu thường ǎn được nhiều, từ đó, cháu ít khóc, chóng lớn, không những chỉ chủ nhà mà mọi người ai cũng khen và phục tài cúa Bác. Có lần Bác gặp gỡ các anh hùng lực lượng vũ trang, thấy cô gái nhỏ bé, Bác đến gần và hỏi:

“Cháu là gì”, cô gái thưa với Bác: “Dạ thưa Bác, cháu là dân quân” Bác vui vẻ nói: “Là dân quân, cháu vừa là dân, vừa là quân, hai nhiệm vụ nặng nề cháu có vất vả lắm không?”.

Thường thường trước ngày duyệt binh kỷ niệm Quốc khánh 2-9, Bác đến thǎm các lực lượng tham gia duyệt binh thử, Bác nói đại ý, hôm nay Bác đến để các cô các chú nhìn thấy Bác trước, ngày mai tại quảng trường Ba Đình trước toàn dân và khách quốc tế các cô các chú lo làm cho đúng động tác, khỏi ảnh hưởng đến quân thể và uy tín của các lực lượng vũ trang.

Bác Hồ gần với dân là vậy. Không chỉ xuất phát từ nỗi lo toan của vị Chủ tịch nước với dân mà còn là tình thương yêu con người với con người. Bác lo lắng giáo dục đội ngũ cán bộ vừa có tài nhưng phải có đức. Bác theo dõi sự tiến bộ của cán bộ từ học hành, công tác đến các mối quan hệ với dân. Bác thương yêu giúp đỡ những người yếu, những hoàn cảnh khó. Nỗi lo, tình thương ở Bác đã trở thành tâm linh của một vĩ nhân, một bậc thánh hiền.

sites.google.com

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 2)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Nhiều lúc Bác muốn đi dã ngoại bí mật vừa thǎm dân được lâu, rõ hơn và thay đổi không khí. Bác bảo đồng chí phục vụ chuẩn bị thức ǎn, không nói với ai, sáng đi sớm không mang theo bảo vệ và quay phim, chụp ảnh. Hành trình Bác định trước đến đâu thǎm nơi nào, nghỉ ǎn cơm ở đâu, mấy giờ về… Bác thấy đi như vậy thoải mái, thích thú lại đỡ tốn thời gian và tiền bạc. Vì một lần Bác về thǎm một tỉnh nghèo cán bộ tỉnh tổ chức liên hoan linh đình đón Bác, Bác bảo: “Các chú làm thế này thì lần sau dân không ai mong Bác về nữa các chú cho công an, bộ đội đứng gác khắp nơi làm dân họ sợ không dám đến gần Bác. Mà dân có đến cũng là do các chú sắp đặt nên không tự nhiên vui vẻ” . Đến thǎm vào mùa rét Bác đội mũ lông, quấn khǎn kín, hôm đó các đồng chí quay phim nhiếp ảnh đông Bác nói vui, hôm nay Bác không biểu diễn đâu, các chú chẳng có làm ǎn được gì. Hôm đó vui kể chuyện đồng chí bác sĩ người Cửu Long kể ở trong đó có những con tôm to bằng bắp tay, đồng chí Vũ Kỳ không tin, Bác cười góp vui nghe nói Đồng Tháp mười có muỗi to lắm, muỗi đậu ngoài màn người nằm trong màn nắm được chân nó, nó dẫy hai cánh đập như hai cái quạt máy mát lắm, mọi người được phen cười vui vẻ.
Tết nǎm 1966, Bác về thǎm tỉnh Thái Bình. Ngày 30 Tết Bác đi thǎm và nói chuyện một số nơi. Đêm 30 Tết; Bác tranh thủ làm việc, liên quan đến chương trình mồng Một Tết, Gần đến Giao thừa, đồng chí phục vụ mời Bác đi nghỉ. Bác bảo “Còn ít phút nữa bước sang nǎm mới, cộng việc của nǎm cũ không nên để lại”. Xong công việc thời gian đã chuyển sang nǎm mới, biết phòng bên có nhiều người thức dậy đón nǎm mới, Bác xách đèn bão sang thǎm và chúc tết mọi người, sau đó Bác trở về làm việc tiếp. Bác về thǎm tỉnh lần thứ 5, Bác bảo Thái Bình là tỉnh 5 tấn, Bác đã về 5 lần, nếu thêm nhiều tấn nùa Bác sẽ về nhiều nữa.

Lòng tin ở nhân dân trong Bác là tuyệt đối, Bác bảo nếu trong dân còn người xấu, họ chưa yêu cách mạng thì cách mạng phải tỏ rõ lòng khoan dung, thuyết phục chứ tuyệt đối không bắt ép. Có lần Bác về thǎm tỉnh Yên Bái, các đồng chí bố trí mít tinh đón Bác trong doanh trại tỉnh đội Bác không đồng ý, Bác nói mít tinh đón Bác không nên làm trong đơn vị bộ đội, các chú canh gác cẩn mật thì ai dám vào, vả lại nếu mọi người vào được thì còn đâu là cẩn mật. Theo ý Bác nên chọn chỗ nào thuận tiện để mọi người đến được, thành phần đến tham dự là toàn dân. Các đồng chí bảo vệ cứ bǎn khoǎn sợ kẻ xấu lẫn vào, biết được ý nghĩ đó, Bác nói: “Những người xấu cũng cho họ vào, nếu không cho họ nghe chuyện thì làm sao họ giác ngộ được, họ sẽ không làm điều gì xấu đâu”. Lần về thǎm mỏ Quảng Ninh công nhân phấn khởi chạy ào ra đón Bác, có chị cũng vội bế con chạy ra đón Bác, vì vội quá nên không kịp thấy trong tay con mình cầm vật gì. Thấy hai mẹ con chạy vội, Bác ôn tồn: “Đi từ từ kẻo ngã” Bác tiến lại gần hai mẹ con, Bác nhẹ nhàng gỡ con dao nhỏ trên tay đứa bé rồi đưa cho chị và ân cần dặn: “Đừng cho trẻ con chơi dao, nguy hiểm” , lúc đó mọi người mới nhận ra. Bác đi thǎm đảo Vạn Hoa, Bác hỏi các chiến sỹ có được xem phim, xem vǎn nghệ thường xuyên không, các chiến sĩ trả lời Bác là 6 tháng được xem phim một lần, còn vǎn nghệ thì chưa lần nào. Bác quay sang đồng chí Lê Trọng Tấn nói: “Hôm nay có ông tướng đi cùng đây “ông” nghĩ thế nào?”. Đồng chí hứa với Bác là sẽ sửa chữa khuyết điểm, Bác nói ngay: “Chú hứa chung chung quá” đồng chí hứa với Bác là 6 tháng một lần xem vǎn công còn 3 tháng một lần xem phim, Bác gật đầu, cười đồng ý.
Ban Việt kiều đưa lên Bác kế hoạch đón Việt kiều ở Thái Lan về nước Bác phê bình, là chỉ chú trọng đến lễ đón tiếp chứ không chú ý bố trí công ǎn việc làm, nơi ǎn ở cho người về nước, Bác chỉ thị, phải có biện pháp cụ thể cho tương lai của kiều bào, sử dụng hợp lý khả nǎng chuyên môn, công việc của họ, và trường học cho con em Việt Kiều.

Bác giáo dục cán bộ đối với nhân dân không được phân biệt, cách biệt, không được có thái độ cho dân vùng này tốt nơi kia xấu, ở đâu, người nào cũng phải bình đảng, tôn trọng yêu quý nhân dân thì họ mới yêu quý cán bộ. Đối với dân tộc ít người, tôn giáo hay Việt kiều về nước, tinh thần đại đoàn kết của Bác luôn luôn được mọi tầng lớp mọi giới ủng hộ.

Bác đến thǎm huyện Mường Tè, nơi xa xôi của tỉnh Lai Châu, khi thấy nhân dân còn cực khổ lạc hậu, Bác đi bộ xuống tận bản làng nơi nhân dân đang sống theo tập quán cũ, Bác bảo, chúng ta có Đảng, có Chính quyền nhưng chưa mang ánh sáng vǎn minh đến những vùng cao như ở đây, chúng ta còn có lỗi với dân, rồi Bác chỉ thị cho cán bộ địa phương phải có biện pháp cụ thể giúp đỡ đồng bào cải thiện đời sống, lối sống, để họ dần dần tiến kịp miền xuôi, có như vậy cách mạng mới thực sự của toàn dân, công bằng với mọi nơi. Nǎm 1957 , Bác về thǎm Đồng Hới, khi được biết nguyện vọng của đại biểu Phật giáo thiên chúa giáo xin được thǎm Bác. Mặc dầu chương trình rất nhiều, Bác bảo, gặp cán bộ cốt cán, đảng viên thì lúc nào cũng được, bây giờ các chú để Bác được gặp các Cụ. Bác đi bộ đến chỗ các cụ đã tập trung đông đủ, lúc đó có một bà cụ thay mặt mọi người mang bó hoa lên tặng Bác. Bác sung sướng cầm bó hoa và cảm ơn, rồi nhanh nhẹn tách bó hoa làm đôi đi đến tặng cho sư Phổ Minh và cha cố Thông. Những người có mặt lúc đó ai cũng cảm động và quý phục phong cách linh hoạt tài tình của Bác. Một biểu hiện đoàn kết tôn giáo cao quý đẹp đẽ cử chỉ đó của Bác đã nói bao điều mà ai cũng hiểu, ghi nhớ sâu sắc Hai lần về thǎm quê hương Nghệ An, Bác đều đến thǎm Hội Phật giáo, sư bà Thích Dlệu Niệm tặng Bác lẵng hoa làm theo 5 cánh “5 chân lý hợp nhất” và một bài thơ, Bác trân trọng nhận hoa và đọc thơ, xong Bác lấy bút đề tặng lại thơ cho nhà sư nữ và cho cả tǎng ni phật tử Nghệ An. Đến nǎm 1962, Bác đến thǎm trường Hội Phật giáo, lúc đó sư nữ Thích Diệu Niệm cũng ra học, từ xa Bác đã nhận ra, Bác đến nói chuyện hỏi han công việc Hội Phật giáo Nghệ An, nhà sư tặng Bác bài thơ, ý trong bài thơ là làm tốt những điều Bác dặn khi hai lần về thǎm quê, Bác vui vẻ bảo: “Như ri thì sư nhớ lời Bác dặn”.

Bác quý trọng nhân cách con người. dù người đó là ai, tầng lớp nào, bên Bác dẫu một lần ai cũng cảm thấy giá trị của cuộc đời được nâng lên. Bác không bao giờ nói “cho” mà chỉ nói “biếu cô”, “biếu chú”, “tặng cô”, tặng chú”… Bác không ngồi nghe khi người khác đứng nói, sẵn có ghế Bác mời cùng ngồi, nếu không có ghế thì cùng đứng có lần đến thǎm bà con nông dân, có các cụ già đến nghe Bác nói chuyện không có ghế phải ngồi xuống đất, Bác bảo tìm ghế cho các cụ rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện với mọi người.

Khi có chút quà ngon, Bác không dành riêng cho mình, mà dẫu ít Bác cũng chia đều cho anh em phục vụ. Bác không quan niệm “lộc bất tận hưởng” một cách máy móc, mà xuất phát từ tấm lòng quý trọng con người. Có đồng chí đi họp ở Pari về, mang biếu Bác gói kẹo mà ở bên Pháp Bác rất thích. Có kẹo ngon, lạl hiếm, Bác đem chia đều cho mọi người, có người thấy kẹo của Bác chỉ có ít, muốn để dành cho Bác ǎn, nên từ chối không dám nhận, Bác bảo, ít cũng phải chia đều, mỗi người hưởng một ít. ở nhà sàn, buổi trưa xung quanh mọi người ngủ trưa yên tĩnh, có việc lên xuống, Bác ghì quả chuông treo ở cầu thang lên xuống cho nó khỏi kêu, làm anh hưởng đến giấc ngủ mọi người. Bác bận nhiều việc lớn của Đảng, của Nhà nước nhưng việc nhỏ Bác không quên, khi có anh em phục vụ đi phép, Bác đến gửi quà và gửi lời thǎm sức khoẻ gia đình, khi trả phép Bác đến hỏi han tình hình gia đình. Có đồng chí vì bận công tác không về thǎm quê và gia đình được, khi người nhà lên thǎm, Bác biết bao giờ Bác cũng gặp, nếu gặp vào đúng tối thứ bảy có phim, Bác mời xem phim. Có một lần trong buổi xem phim, Bác thấy một cụ già ngồi xem, lúc đó hỏi thǎm không tiện, sau Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ cụ già xem phim là ai mà không báo để Bác biết tiếp chuyện, được biết là bố của bác sĩ Mẫn (người bảo vệ sức khoẻ riêng của Bác ) lúc đó cụ già đã lên đường về quê, vì không gặp được cụ, Bác gửi bác sĩ Mẫn một chai mật ong nhờ chuyển về làm quà biếu cụ. Cụ già ở quê rất cảm động khi đón nhận món quà quý giá của Chủ tịch nước gửi. Hàng nǎm đến tối 30 Tết, anh em không về quê đón Tết. Bác tổ chức gặp mặt tất niên. Bác thường bố trí Bác ngồi một bên bàn còn Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng ngồi đối diện, anh em ngồi quây quần xung quanh, đêm giao thừa có hai Bác và anh em nên không khí trong Phủ Chủ tịch thêm ấm cúng không khí gia đình. Khi mọi người yên chỗ ngồi, Bác đi một vòng xung quanh kiểm tra xem còn thiếu ai. Nếu thiếu Bác dặn đồng chí cấp dưỡng để phần lại cho anh em đi vắng. Những anh em ngồi cạnh Bác lúc đầu thường e dè, không tự nhiên tay cầm đũa cứ lóng ngóng. Bác chủ động gắp thức ǎn và động viên, có khi Bác pha trò một câu gì đó tạo không khí vui vẻ những lúc đó Bác hiện thân một người Cha bên đàn con yêu quý trong giờ phút thiêng liêng chuyển nǎm cũ sang nǎm mới. Xong buổi liên hoan Bác cùng anh em chụp ảnh lưu niệm và vui vǎn nghệ “cây nhà lá vườn” Bác đi thǎm nước ngoài nhiều lần, họ biếu Bác nhiều tiền và quà , Bác cho vào công quý hết, cái nào chia được Bác chia cho anh em. Mỗi lần đi nước ngoài về Bác thường mua quà kỷ niệm cho anh em phục vụ, khi đôi bít tất lúc chiếc khǎn hay gói kẹo.

Bác sống cuộc đời một vị Chủ tịch nước, nhưng mỗi người chúng ta đều thấy một phần cuộc đời mình trong đó, bởi vì Bác là hiện thân cốt cách dân tộc, là cái chung trong mỗi cái riêng.
Bác chu tất với mọi người, mọi việc, có lần Bác đi qua nhà ǎn thấy đồng chí Lơ người nấu ǎn cho Bác đang dùng cát để đánh xoong cho sạch, Bác rẽ vào bày cách đánh xoong nồi chóng sạch lại không bị xước mòn. Hồi ở chiến khu khi đi trong rừng gặp trời mưa vắt nhiều, Bác bày cho cách dùng tàn thuốc lá để chống vắt rất hiệu quả Bác thường xuyên khuyên bác sĩ học cách chữa bệnh bằng thuốc nam, ta là người nam hợp với thuốc nam vì cha ông tổ tiên đã để lại kinh nghiệm quý báu đó ta nên phát huy thêm. Bác kể chuyện hồi xưa Bác đi bộ từ Nghệ An vào Huế. Dọc đường chân bị sưng lên đau không đi được nhờ xoa bóp bằng nước tiểu đỡ đau mới đi tiếp được. Khi về già có lần Bác đau ở bả vai, bác sĩ cho chạy vật lý trị liệu mãi không khỏi, Bác lấy lá ngải cứu vò với nước tiểu xoa vào chỗ đau, chỉ mấy lần làm thấy giảm hẳn.

Đối với khách là người nước ngoài nếu là người quen biết từ trước, Bác tiếp không những trên cương vị Chủ tịch nước mà còn trên tình cảm anh em gần gũi, khách đến tuy là lần đầu Bác cũng rất chu tất, truớc khi khách về nước, Bác đến thǎm, gửi quà… hôm sau Bác lại đến chia tay. Bác bảo họ là khách, mình là chủ làm thế mới có tình có nghĩa. Rời Việt Nam, nhưng khách không quên Việt Nam có Bác Hồ, con người của mọi người. Một lần có vị quan chức của một nước đi thǎm các nước láng giềng quanh ta, người này có cảm tình với Việt Nam. Lúc đó nước ta đang có chiến tranh, có người đến bàn với Bác, ta lấy cớ không có điều kiện tiếp nên không mời, Bác bảo “Khi người anh em đi qua trước ngõ không mời vào nhà chơi là không lịch sự” Bác đích danh mời vị đó vào thǎm. Khi về nước vị khách hết lòng ca ngợi Việt Nam và tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam chiến đấu.

Bác quan tâm con người không chung chung, mà rất cụ thể, không những đối với những người gần gũi bên Bác, những người Bác gặp mà còn đến những người có thể Bác không gặp. Khi đi qua chiếc cầu gập ghềnh hay gặp hòn đá khập khiễng Bác dừng lại cùng anh em sửa sang cho chắc để người đi sau khỏi gặp nguy hiểm. Lội qua suối gặp hòn đá trơn Bác cúi xuống nhặt ném đi xa để người đi sau không bị ngã. Có lần đi chiến dịch, đường đi nhiều ổ gà, phía trước có hòn đá to, đồng chí lái xe cứ cho xe vượt, không ngờ xe va vào hòn đá bị hỏng, Bác xuống xe, chiếu đèn pin giúp cho các đồng chi sửa xe, Bác động viên cứ bình tĩnh chữa cho cẩn thận. Khi xe sửa chữa xong tiếp tục lên đường, bấy giờ Bác mới nói: “Đáng ra lúc nãy chú cho xe dừng lại lǎn hòn đá xuống vực rồi mới đi, có lâu cũng chỉ dǎm phút, không phải dừng sửa chữa mất hơn nửa tiếng, mà lại giúp các xe sau không bị nạn, chú đã “tham đĩa bỏ mâm”.

Trên đường ra trận Bác cùng lǎn lộn với anh em, cùng đổ mồ hôi cùng sôi khí thế. Khi đi chỗ đường trơn, suối đá trơn gập ghềnh, anh em bảo vệ muốn giúp Bác kảo ngã, Bác bảo tự Bác đi dễ hơn, hơn nữa Bác đi nhanh và khéo hơn các chú đấy. Có lần mùa mưa, gặp con suối nước chảy xiết, việc cần gấp phải qua, các đồng chí đang lúng túng không biết làm sao qua được. Bác bảo tìm sợi dây rừng thật chắc buộc chặt vào người rồi dìu dắt nhau qua, Nhớ lần Đại Hội Đảng lần thứ II ở Tuyên Quang, Bác biết chị Quý nhân viên phục vụ Đại hội mới sinh cháu bé được 5 tháng, Bác bảo, Bác sẽ đến thǎm, vì ngại nơi ở xa và chưa chu tất, gia đình muốn bế cháu đến thǎm Bác. Bác bảo, ông phải đến thǎm cháu chứ. Thế rồi Bác tranh thủ thời gian đến thǎm, cho quà và chụp ảnh với cháu. Nhạc sỹ Phong Nhã lên báo cáo với Bác về tình hình thiếu nhi. Nhạc sĩ chuẩn bị nhiều nội dung lớn, nhưng khi lên Bác chỉ hỏi kỹ về việc các cháu con nhà nghèo vào đội ra sao, việc ǎn ở, học hành, vui chơi thế nào, Bác chǎm chú lắng nghe nhạc sĩ kể về các cháu tham gia mít tinh, tuần hành., cổ động. Bác đǎm chiêu nhìn ra trời. nắng nóng và nói, nhưng nhớ đừng để các cháu đi đầu trần dưới nắng dễ bị ốm. Mùa rét Bác chỉ thị cho Bộ Giáo dục khi nhiệt độ xuống 10 độ C thì cho các cháu học sinh cấp I nghỉ học, xuống dưới 10 độ C cho các cấp các trường nghỉ học.

sites.google.com

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 1)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Một lần một người bạn nước ngoài hỏi Bác về tài sản riêng Bác vui vẻ chỉ đàn cá Bác đang cho ǎn và nói. “Đây là tài sản của tôi”. Bác sống trọn cuộc đời cống hiến, ra đi không để lại chút gì riêng tư, từ nguồn vui gia đình sản phẩm tinh thần quý giá của con người bình thường, đến tài sản vật chất.

Suốt cuộc đời Bác chỉ nghĩ đến giải phóng những người lao động cần lao, nghĩ đến nhân dân mình, dân tộc mình. Lo từ việc nhỏ bình thường đến đại sự quốc gia. Quan tâm từ miếng ǎn cho người nghèo đến sự thái bình cho dân tộc. Nhớ hồi làm phụ bếp bên Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ǎn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ǎn xin ngoài đường. Khi dự tiệc chiêu đãi ở Pari, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Khi mùa hè đến? mồ hôi thấm áo, Người nghĩ đến những chiến sỹ phòng không trên trận địa nóng bỏng. Khi đi công tác ở nước ngoài được biết có loại cây lá xanh quanh nǎm không rụng lá, Bác nghĩ tới chị lao công đêm đêm vất vả quét lá nên Bác khuyên tìm cách đưa loại cây ấy về nước. Khi đi thǎm hồ Suối Hai thấy nhà nghỉ của Tỉnh ủy xây to đẹp, Bác bảo phải lo xây nhà cho nhân dân lao động trước. Lúc đi công tác xa lâu ngày Bác nghĩ đến những người phục vụ mình ở nhà, Bác dặn những ngày Bác đi xa các chú tranh thủ về thǎm quê hương gia đình. Đối với người phục vụ, Bác quý trọng xem như những người thân thiết nhất, Bác không có gia đình riêng, họ là những người gần gũi với Bác như những người ruột thịt. Đầu tháng 5- 1948, đồng chí Lộc, người nấu ǎn cho Bác không may bị sót rét ác tính mất. Bác thương xót, và đã khóc như mất đi một người ruột thịt. Đến ngày kỷ niệm sinh nhật Bác, anh em tìm một bó hoa rừng chúc mừng sinh nhật Người. Trong phút giây xúc động, Bác rơm rớm nước mắt:

– Cảm ơn các chú, nhưng bó hoa này ta mang ra đặt lên mộ đồng chí Lộc.

Và Bác kể cho mọi người nghe về cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lộc. Đồng chí vốn là Việt kiều ở Thái Lan, gặp Bác bên đó, đồng chí đã đi theo giúp việc Bác. Hai người thường quẩy hai bồ thuốc giả làm người đi bán thuốc rong, đi đến nơi có bà con Việt kiều để tuyên truyền cách mạng. Bác sang Trung Quốc đồng chí Lộc cũng theo sang, rồi cùng về nước với Bác. Đồng chí lo công việc ǎn uống cho Bác. Hồi đó sinh hoạt khó khǎn, có lúc phải ǎn ngô bung, hoặc cơm độn ngô, đồng chí Lộc bao giờ cũng dành phần nhiều cơm cho Bác. Bữa nào đồng chí cũng chắt lấy nước cơm đặc, nài nỷ Bác uống cho kỳ được. Cách mạng tháng Tám thành công: đồng chí xung phong ở lại xây dựng công binh xưởng cho cách mạng. Theo Bác hoat động cách mạng ở nước ngoài, tới khi cách mạng thành công đồng chí Lộc vẫn an tâm vui vẻ làm một công việc hết sức bình thường – nấu cơm cho Bác.

Phục vụ Bác có nhiều anh em dân tộc ở Cao Bằng. Có đồng chí được một thời gian nhớ nhà và cũng vì hoàn cảnh gia đình nên xin Bác cho về giúp gia đình. Bác rất muốn đồng chí cùng ở lại nhưng vì hoàn cảnh gia đình và ý nguyện của họ, Bác đồng ý. Khi có ai đi công tác lên vùng đó Bác nhờ ghé vào thǎm, nhắc nhở địa phương giúp đỡ đồng chí khi gặp khó khǎn. Thời gian ở Pắc Bó có lần Bác nhận được gói quà có đường và lạc. Bác cho làm kẹo và báo đồng chí Cáp mang vào trong bản phân phát cho các cháu. Mọi người rất muốn để lại cho Bác bồi dưỡng, biết ý Bác nói: “Người già nên để kẹo cho các cháu” trước lý lẽ của Bác, đồng chí Cáp Phải mang kẹo vào cho các cháu. Hồi ở Tân Trào, đồng chí Thắng mới được cử về phục vụ Bác. Đồng chí chí có một: bộ quần áo vải mộc. Khi làm việc với Bác đồng chí cố nén không ho, nhưng vừa ra khỏi nhà đồng chí ho rũ rượi, thấy vậy Bảc bảo: “Chú Thắng ốm à”. “Sao trông người chú khác thế”. Nói rồi Bác đứng dậy lấy chiếc áo trấn thủ của mình đưa cho đồng chí và dặn: “Chú mặc tạm cho đỡ lạnh, mùa đông cốt nhất phải giữ ngực cho ấm”. Đồng chí Tháng ngần ngại không dám cầm, vì thấy Bác không có áo ấm tốt mà Bác cũng phải mặc độn nhiều áo. Thấy vậy Bác giục, rồi Bác hiền từ giúp đồng chí cài từng chiếc nút áo. Có lần Bác đến thǎm đồng chí Lê Trọng Tấn, gia đình làm bánh mời Bác, Bác ǎn một miếng thấy ngon, Bác xin một ít mang về cho anh em phục vụ. Hồi ở Việt Bắc, kỹ sư Trần Đại Nghĩa dồn hết trí tuệ tâm huyết để nghiên cứu vũ khí mới cho quân đội. Biết kỹ sư thường làm việc ban đêm, có khi làm việc suốt sáng, lại nghiện thuốc lá Bác dành một phần thuốc của mình đến biếu kỹ sư. Sau đó Bác chỉ thị cho hậu cần dù khó khǎn cũng cố tìm thuốc lá đủ hút cho kỹ sư. Có lần về ban đêm đồng chí bảo vệ đứng gác nơi ở của Bác không may trượt chân rơi xuống hầm tránh máy bay. Nghe tiếng động Bác vội chạy ra không kịp đi dép và mặc áo ấm Bác giúp đồng chí lên khỏi miệng hầm, Bác nắn bóp chân cho đồng chí ấy rồi ân cần bảo: “Chú cứ ngồi yên cho đỡ đau, để Bác gác cho”. Đồng chí cảm động nói không nên lời, chỉ biết làm theo. Về mùa đông Bác ở gác hai trên nhà sàn nên gió lạnh, cơ quan tìm cho Bác chiếc lò sưởi điện. Một lần nửa đêm gió lạnh, Bác thức giấc dậy nghe tiếng người gác ho phía dưới. Bác cầm chiếc lò sưởi điện và tự tay nối dây điện từ trên gác hai xuống cho đồng chí bảo vệ, và nói: “Bác nằm trên nhà đã có chǎn đắp ấm rồil”. Một buổi trưa, thấy đã quá giờ đổi gác bình thường, Bác mang chuối xuống mời, đồng chí bảo vệ thưa với Bác đang bận gác không đặt súng xuống được, xin Bác lúc khác. Bác bảo đưa súng Bác cầm gác cho: “ǎn đi kẻo đói, cốt là ǎn lúc này”. Đồng chí Tùng vừa được chuyển từ một đơn vị ở chiến trường về làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Một hôm Bác đang cho cá ǎn đồng chí đứng gác từ xa. Bác gọi lại hỏi thǎm sức khoẻ gia đình vợ con… Bác nói” Thế là chú về chỗ Bác được 3 tháng rồi đấy nhỉ? Dạo nàv chú đã hết sốt rét chưa” đồng chí Tùng không cầm được nước mắt không ngờ Bác bận trǎm công nghìn việc mà vẫn chú ý đến một chiến sĩ bình thường như mình. Bác không những nhớ mặt, nhớ tên từng người mà còn hiểu rõ hoàn cảnh gia đình, tâm tư tình cảm của họ. Bác không những quan sát đến đời sống sinh hoạt hàng ngày mà còn lo lắng tới sự tiến bộ trong công tác của từng người – Bác thường nhắc nhở mỗi người mỗi việc cố gắng tiến bộ không ngừng. Bác ân cần hỏi dồng chí Tùng:”Chú về đây đã khá lâu, thế chú có biết cầu thang lên xuống nơi cạnh chú đứng có mấy bậc?” Những việc tưởng bình thường nhưng đối với người công an, bảo vệ càng cần phải tỷ mỉ, sâu sát cụ thể. Một đêm, lúc khoảng hai giờ mưa phùn gió bấc, Bác thức giấc đi xuống cầu thang đến cạnh đồng chí bảo vệ, Bác hỏi: “Chú gác từ mấy giờ?”,”Chú mặc thế có đủ ấm không?”, Bác đến gần sửa lại vành mũ và kéo lại cổ áo cho kín và bảo: “Lần sau chú gác đêm giá lạnh nhớ đi giày, nếu đi dép phải có tất cho đủ ấm, đi dép chân không đêm sương giá lạnh dễ bị ốm”.

Thời gian sau ngày giải phóng, mới về Hà Nội nhân ngày Tết cổ truyền, các đồng chí bảo vệ, phục vụ mang bó hoa đến chúc Tết Bác. Bác rất vui mừng và nói:”Các chú khéo vẽ chuyện, Bác và các chú sống bên nhau hàng ngày, việc gì phải hoa. Từ nay các chú tǎng gia được rau, xu hào, bắp cải, Tết đến chọn mấy cây đẹp cho vào chậu cảnh mang tới biếu Bác, Bác sẽ để trước cửa phòng khách, khách đến Bác sẽ giới thiệu của các chú biếu Bác, thế là Bác có quà tặng, các chú lại được Bác tuyên tryền cho. Hết Tết các chú lại mang về chén, như vậy chẳng mất gì cả”. Từ đó thành thông lệ, hàng nǎm Tết đến anh em chọn 4 cây bắp cải, 4 cây xu hào loại to đẹp nhất tới chúc Tết Bác. Những cây xu hào bắp cải xen lẫn với gốc quất, gốc đào góp thêm thi vị bên ngôi nhà Bác ở. Nhớ lại đầu nǎm 1946, nơi nghỉ của anh em bảo vệ Bác ở Bắc Bộ phủ, về mùa hè nóng ẩm vì ở nhà kho cũ, chật chội. Thấy thế, Bác cho lên phòng khách ngủ cho thoáng mát. ở phòng khách anh em sơ ý làm vỡ mặt đá của chiếc bàn lớn. Đồng chí cán bộ phụ trách cáu gắt nặng nề và không cho anh em lên đó ngủ nữa. Bác nghiêm khắc bảo:”Cái bàn quý hơn hay anh em chiến sỹ quý hơn. Vỡ sau ta tìm cái khác, chỉ cần giáo dục anh em có ý thức bảo vệ của công. Chú mở cửa cho anh em vào ngủ tiếp”. Tuy bận nhưng Bác vẫn thường xuyên xuống nhà bếp, khu vệ sinh để kiểm tra xem có sạch sẽ không. Bữa ǎn có những món gì phải mua, món gì tǎng gia cải thiện được. Nhớ ngày Tết cuối cùng của Bác, Bác và Bác Tôn chụp ảnh chung với anh em trong đội bảo vệ có đồng chí Cương ít tuổi nhất được Bác rất quý. Trước khi chụp ảnh Bác gọi:”Viên kim cương của Bác đâu, lại đây đứng bên Bác”- Bác quan tâm từ cái lớn, sâu sát từ cái nhỏ đời thường của anh em. ở chiến khu việt Bắc, tối ngủ anh em thường để dép lộn xộn khi báo động hoặc sáng dậy, lẫn dép lung tung. Trước khi ngủ Bác đi kiểm tra một vòng, sắp xếp lại gọn gàng đôi nào đôi nấy sáng ra ai cũng ngạc nhiên, sau mới biết tối qua Bác kiểm tra và xếp lại. Từ đó trở đi nội vụ từ đôi dép đến đồ dùng cá nhân anh em đều sắp xếp ngǎn nắp. Bác đi thǎm nhiều nơi, nhưng không qua loa đại khái, Bác quan tâm đến tập thể nhưng không quên cái nhỏ nhất của người dân. Bác không những rất ghét tội tham ô ǎn cắp của dân mà còn phê bình gay gắt bệnh hình thức dối cấp trên lừa dân. Bác đến thǎm một cơ quan thấy đèn trang trí từ cổng vào nhà hội trường sáng trưng, xung quanh khẩu hiệu đèn xanh đèn đỏ loè loẹt, Bác đi thẳng vào nơi ǎn ở khu vệ sinh của cán bộ thấy tối tǎm chật chội. Bác cho tập trung cán bộ chủ chốt trong cơ quan, Bác chỉ nói: “Các chú không thương quần chúng”. Khi duyệt các chủ trương, chỉ thị Bác sửa chữa nhiều nhất chú ý nhiều nhất ở chỗ có quan tâm đến lợi ích, đời sống sinh hoạt của quần chúng hay không. Có lần đồng chí Nguyễn Tạo lên báo cáo Bác về phong trào trồng cây. Khi nghe xong được biết các cụ có thành tích rất lớn, Bác hỏi: “Thế công sá đối với các cụ thế nào”, Đồng chí Tạo trả lời Bác: “Thưa Bác các Cụ ǎn theo công diểm của hợp tác xã ạ” Bác hỏi cụ thể và được biết các loại cây như nhãn, vải, cam, quít. Khi thu hoạch các Cụ không được hưởng phần nào, Bác phê bình, đồng chí thưa với Bác sẽ về nhắc các địa phương dành một phần thu hoạch biếu các cụ Bác nói ngay: “Không phải biếu mà các Cụ có quyền hưởng, người nào làm nhiều hưởng nhiều, hợp tác xã chia cho các Cụ như vậy là không công bằng, không theo nguyên tắc phân phối lao động xã hội chủ nghĩa – ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít”, Nǎm 1963, Bác về thǎm tỉnh Vĩnh Phú, trên đường Bác rẽ vào một gia đình nông dân. Gặp bà cụ già, Bác hỏi thǎm sức khoẻ và kinh tế, Cụ thưa gia đình có 5 người được chia 3 tạ thóc. Bác hói: “Thế có đủ ǎn không?”, Cụ già chưa kịp trả lời thì một đồng chí trong tỉnh uỷ trả lời: ‘Thưa Bác, đấy mới là hợp tác xã chia tạm chưa phải chính thức”. Bác phê bình ngay: “Bác có hỏi chú đâu mà chú trả lời”. Như được thêm chỗ dựa lòng tin, Cụ già thưa thật với Bác hằng nǎm, nếu ǎn uống theo định lượng tằn tiện, độn thêm ngô sắn thì cũng tạm đủ”. Rồi Bác bảo đồng chí có trách nhiệm nghe nói để tính toán lại cho sát đừng để dân quá vất vả thiệt thòi. Nhà nước phải lấy phục vụ dân làm chính. Nǎm 1960, Bác ra thǎm đảo Tuần Châu (Vịnh Hạ Long) khi ca nô vừa rời bến thì trong bờ có tiếng vọng ra: “Sao các ông không cho tôi gặp Cụ Hồ”. Biết chuyện Bác cho ca nô quay lại, trên bờ một cụ già trên 70 tuổi bị mù, Bác vội chạy đến chỗ cụ và nói: “Thưa cụ, tôi đây, Cụ có khoẻ không”. Nghe tiếng Bác, cụ già đứng không vững nữa, khuỵ xuống trên cánh tay nâng đỡ của Bác: “Bác đây ư Bác Hồ, tôi được gặp Bác thật ư! “. Đôi bàn tay xương xẩu của cụ già vuốt trên cánh tay, trên vai Bác, hai dòng nước mắt trào ra từ đôi mắt mù loà của cụ chảy xuống hai gò má nhǎn nheo. Bác đứng lặng hồi lâu, xúc động. Mọi người đứng lặng cảm động trước tình cảm của hai con người. Một lần đến thǎm bệnh viện Bạch Mai mọi người ra đón và tặng hoa, Bác nhận bó hoa rồi đên tặng một cụ già đang trông xe đạp ở cổng bệnh viện. Bác bảo với cụ và mọi người: “Cụ trông xe đạp cũng rất quan trọng, nếu mà trông không cẩn thận mất xe đạp của các cô các chú, hỏi có ai an tâm công tác không?” Một lần đến thǎm một nhà máy thấy cô công nhân đang chạy máy để bộ tóc dài, Bác ra hiệu dừng máy đến gần ân cần nhắc: “Cháu là gái khi lao động vấn tóc lên và đội mũ bảo hiểm để bảo đảm an toàn, bộ tóc là góc con gái”. Lần đi thǎm Vĩnh Phú, trên đường thấy hai chị em ǎn mặc rách rưới, dắt tay nhau đi, Bác cho dừng xe hỏi chuyện hai chị em về hoàn cảnh gia đình, bố mẹ, được biết bố hai em đi bộ đội, Bác hỏi ǎn có đủ không, trưa, sáng ǎn gì, cùng lúc đó có đồng chí tự xưng là cán bộ xã nhanh nhẩu trả lời thay hai em, Bác nhắc nhở: “Bác có hỏi chú đâu, nếu chú là cán bộ xã thì tại sao lại để con cái người đi bộ đội phải ǎn mặc, đói rách thế này”. Dọc đường, thấy cột số Km chỉ ghi rõ chữ số 65 còn chữ địa danh bị mờ, Bác nhắc nhở cán bộ giao thông phải chú ý để sửa lại. Đi qua Cổ Nhuế, thấy dân bón rau phân tươi, Bác nhắc phải đề phòng ruồi, bệnh tật vệ sinh. Đến trạm bơm Chèm, thấy chân đê bị sụt lở, Bác nhắc trồng tre để bảo vệ đê. Khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đai nhà cửa, các đồng chí phân tích người này sai, người kia có khuyết điểm. Bác kết luận, do chỗ ở quá chật chội nên mới sinh ra tranh chấp, chứ phải người ta ghét bỏ nhau đâu. Khi đến thǎm nhà dân nơi chật chội, ổ chuột, bẩn thỉu, Bác phê bình gay gắt cán bộ không sâu sát dân, quan liêu, không thương dân, phải tìm mọi cách vận động, tổ chức bà con dọn vệ sinh, sửa sang nhà cửa, lối ra vào và phối hợp với cơ quan chức nǎng lo nhà cho dân. Khi về hợp tác xã thǎm nông dân, Bác xuống tận các gia đình để biết mức sống của dân chứ không nghe hoàn toàn các báo cáo. Thǎm xã Nam Chính, Bác vào nhà anh Giao một nông dân lao động cần cù, đứng ngoài sân, Bác hỏi mấy câu chuyện làm ǎn sinh hoạt đời sống rồi vào nhà xem vại gạo, cót thóc, vòng ra phía sau xem chuồng lợn, nhà vệ sinh, thấy hai con lợn đang án. Bác khen lợn đẹp, giống lợn thẳng lưng mông to chắc chóng lớn, rồi Bác xem giếng nước, nhà tắm, Bác nhìn xuống giếng và bảo: “Giếng nên có nắp đậy, vừa sạch vừa đề phòng tai nạn”. Xem nhà tắm Bác khen xây thế này là tốt nhưng nên đơn giản hơn trong lúc ít gạch, nhà nào không có gạch nên làm bằng cót, trồng cây dâm bụt xung quanh, khi cót hỏng thì dâm bụt đã tạo thành nhà tắm kín đáo mà đẹp.

sites.google.com

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Tìm về chân lý Mác – Lê Nin trên con đường cứu nước của Bác

Ngày 5/6/1911, trên tàu Đô đốc Latouche Tréville, từ bến cảng Nhà Rồng (thành phố Sài Gòn), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm đường cứu nước.

Gần 10 năm bôn ba, vừa lao động kiếm sống vừa tìm hiểu thực tiễn nhiều nước tư bản và nước thuộc địa, nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản ở các nước Pháp, Anh, Mỹ…Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi; nó đã phá tan gông xiềng của chế độ phong kiến để giải phóng sức lao động của con người, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ hơn chế độ xã hội phong kiến, nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ cực, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn toan tính làm cách mạng. Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy những mặt trái của xã hội phương Tây, thấy được “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của tầng lớp thống trị. Điều đó giúp cho Người nhận thức rằng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Từ những hoạt động thực tiễn phong phú và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin (đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920), Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Luận cương đã giúp cho Người tìm thấy con đường đấu tranh cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc; trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo cách mạng, lực lượng tham gia cách mạng, mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thứ nhất, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm ra con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu phát triển chung của nhân loại và xu thế của thời đại. Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đã đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường cho phong trào đấu tranh cách mạng ở trong nước, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại và trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh. Thứ ba, tìm ra con đường cứu nước và phát triển cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã có những đóng góp to lớn, chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới nói riêng.

Trong hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận con đường cách mạng Việt Nam. Trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động; tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới; vững bước đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quang Lợi (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

snv.binhdinh.gov.vn