Archive | Tháng Ba 2012

Xây dựng đạo đức là nhiệm vụ hàng đầu

Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, “là đạo đức, là văn minh” là chủ đề của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2010. Đây cũng chính là điều mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn luôn quan tâm sâu sắc.

Trong công tác xây dựng Đảng, một trong những công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Người cho rằng muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Người luôn đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ đức và tài, trong đó đức là gốc. Theo tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, bất kỳ khó khăn nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách, nghị quyết của Đảng, làm gương cho quần chúng, hòa mình với quần chúng thành một khối, tin – hiểu – lắng nghe ý kiến của quần chúng, thực hiện “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Người coi đạo đức là cội nguồn của người cách mạng. Người chỉ rõ: Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, đòi hỏi người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi nâng cao đạo đức cách mạng phải đi đôi với chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, “là mẹ đẻ ra mọi tính hư, tật xấu”. Người gọi chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” và chống chủ nghĩa cá nhân “là một cuộc cách mạng nội bộ”. Do đó “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã rất chú trọng làm theo lời dạy của Người, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống đã và đang diễn ra là rất nghiêm trọng. Trong đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị đã không làm được bốn điều dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Họ đã gây thiệt hại về kinh tế, xa rời nhân dân, gây phiền hà cho nhân dân, gây mất đoàn kết nội bộ, đặc biệt là làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và tiến hành đại hội đảng các cấp, chuẩn bị tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng là “phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc.

  • Thảo Trân

baobinhdinh.com.vn

Tấm gương soi cho muôn đời

“Những ai muốn biết thế nào là một con người thực sự? Vẻ đẹp của thế giới ở đâu? Ở đâu có mùa xuân? Xin hãy đến thăm cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự tồn tại điển hình của một anh hùng của thời đại chúng ta” – Đó là cảm xúc được viết lên tự đáy lòng của bạn bè quốc tế sau khi tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một Tổng biên tập của một tờ báo nước ngoài, khi được Bác tiếp ở phòng khách của Người đã viết: “Chúng tôi được dẫn vào tầng dưới ngôi nhà sàn của Bác – gọi là phòng khách của một vị nguyên thủ quốc gia mà vô cùng giản dị, có lẽ không khác gì những gian nhà của nông dân VN mà tôi có dịp tới: trong gian phòng này có lẽ chỉ có mỗi bộ ghế mây được coi là nổi bật. Nếu tất cả chúng ta đều học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ thì làm gì có những ông quan mới thăng chức đến nhiệm sở mới, vẫn muốn bắt bỏ đi các tiện nghi của người tiền nhiệm để mua tiện nghi mới theo ý muốn”.

Lo cho dân ăn no, mặc ấm luôn là nỗi lo thường trực trong lòng Bác. Người nói: “Đảng và Chính phủ… phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân… Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay đến mấy cũng không thực hiện được”. Làm gương để cán bộ Đảng, Nhà nước thực hiện lời dạy đó, Bác Hồ đã tự mình thực hành. 15 năm cuối cùng Bác sống ở Hà Nội lúc kinh tế khó khăn, Bác yêu cầu: Chiều thứ 7 hàng tuần để Bác ăn cháo để bớt phần gạo cho dân. Dân, cán bộ ăn cơm độn ngô, khoai, sắn bao nhiêu phần trăm thì độn cho Bác bấy nhiêu phần trăm. Đi công tác Bác mang theo cơm nắm muối vừng để đỡ phiền mọi người. Mùa đông, Bác mặc chiếc áo bông do đồng bào biếu. Vì dùng mãi vỏ áo đã đứt chỉ ở khủy tay và cổ, Bác bảo mạng nó lại…

Theo Tiến sĩ Trần Viết Hoàn- nguyên Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch, con cháu hôm nay học tập Bác, nhưng “không phải là đòi hỏi ta cứ phải ăn cơm độn khi lương thực đã dồi dào, cứ mặc quần áo vá, cứ đi dép cao su khi kinh tế của ta đã khá giả mới là học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Mà là để hiểu tấm gương đạo đức Bác Hồ luôn sống trong hoàn cảnh của nhân dân, đất nước. Bác sống vì dân chứ không sống vì mình, để lòng ta trong sáng hơn, xem xét mình cái gì không xứng đáng với dân với nước để sửa lỗi lầm”.

Cuộc đời và tư tưởng của Bác Hồ giản dị và lớn lao mãi mãi là “tấm gương soi cho muôn đời” của tất cả chúng ta, các thế hệ người Việt Nam hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.

  • Quang Anh

baobinhdinh.com.vn

Hứa với dân

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước, mỗi việc làm của Bác Hồ đều hướng đến nhân dân. Với Người, đã nói là phải làm, đã hứa là phải thực hiện.

Có lần Người đã hứa với nhân dân một địa phương ở Việt Bắc là 2 giờ chiều hôm đó sẽ đến thăm và nói chuyện. Cán bộ và bà con đã tập hợp ở hội trường đông đủ. Nhưng một “sự cố” bất ngờ đã xảy ra. Chiều hôm đó trời mưa rất to. Ai cũng bảo là Bác Hồ không thể nào đến được. Nhưng đúng 2 giờ chiều, Bác xuất hiện trong tấm ni lông và quần xắn đến đầu gối, bước vào hội trường trong tiếng hoan hô vang dậy của bà con. Hôm ấy, nhiều người đã sung sướng chảy nước mắt vì xúc động.

Một lần khác, ghé qua một bản người Thái, một cô bé trong bản nói với Người là em muốn có một chiếc vòng bạc. Sau 9 năm kháng chiến thành công, không ai ở bản đó còn nhớ câu chuyện về cô bé. Bởi chuyện đó quá nhỏ bé, khó có thể nhớ đối với một vị Chủ tịch nước với bao công việc khó khăn, bộn bề. Nhưng Người đã trở lại bản người Thái đó để thực hiện lời hứa của mình là tặng em chiếc vòng bạc đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa.

Qua hai câu chuyện nhỏ này, ta càng thấy rõ lòng nhân ái và phẩm cách vĩ đại của Bác. Lời hứa với một cháu nhỏ, lời hứa trước sự chờ đợi của nhân dân của một vùng núi, vùng sâu, cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc. Nhân cách vĩ đại của Bác, không chỉ đem lại niềm tin cho nhân dân trong nước mà cả nhân dân thế giới. Chính vì có niềm tin đó mà nhân dân ta đã không ngại hy sinh gian khổ, người trước ngã, người sau xốc tới để đưa non sông về một mối, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Trong Di chúc để lại trước lúc đi xa, Bác căn dặn: “Đảng phải có kế hoạch kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”. Đó cũng chính là một lời hứa trước nhân dân mà chúng ta hôm nay có trách nhiệm phải thực hiện cho bằng được như ý nguyện thiêng liêng của Người.

  • Bích Châu

baobinhdinh.com.vn

Đoàn kết dân tộc

Ảnh minh họa

Xác định làm cách mạng giải phóng dân tộc phải huy động sức mạnh của cả dân tộc, Bác Hồ luôn coi việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược. Người đã chỉ rõ rằng: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta… Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”. Ngay cả với những người ít nhiều có tội với cách mạng mà cách mạng có chính sách khoan hồng, làm cho họ nhận rõ tội lỗi và thức tỉnh lòng yêu nước trong họ, có thể lôi kéo họ đi theo con đường cách mạng.

Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc phải đảm bảo vừa rộng rãi, vừa vững chắc. Để được vững chắc phải lôi cuốn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động, chân tay trí óc, những người đã đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra đời sống vật chất và văn hóa cho toàn xã hội. Để được rộng rãi, phải coi trọng việc vận động cá biệt đối với những vị là nhân sĩ trí thức, là người có uy tín lớn trong các dân tộc, các tôn giáo, các già làng, trưởng bản, trong người Việt Nam ở nước ngoài tham gia mặt trận, phát huy vai trò hiệu triệu quần chúng của họ trong công cuộc dựng nước và giữ nước, chống thù trong giặc ngoài. Có nền tảng vững chắc là điều kiện để mở rộng mặt trận. Có phát huy được vai trò hiệu triệu của những nhân vật tiêu biểu mới lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia thành phong trào.

Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng phải chỉ rõ mục tiêu chung và hướng đi cụ thể cho mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội. Mục tiêu chung là phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Quá trình thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải có phương châm, phương pháp thích hợp. Phương châm là đoàn kết lâu dài, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự, đoàn kết chân thành, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Phương pháp là vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, khêu gợi tự giác tự nguyện, lấy lòng chân thành để cảm hóa.

Phải coi việc giữ gìn đoàn kết trong Đảng là hạt nhân đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc. Để giành thắng lợi cho cách mạng, phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại. Xây dựng Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc phải gắn với thực hiện đoàn kết quốc tế, với việc xây dựng tình hữu nghị với các nước trên thế giới.

Trong công tác mặt trận, Đảng lãnh đạo cần làm nổi rõ vai trò của mặt trận trong xã hội, đề ra chương trình hành động sát hợp, biết khéo vận động những nhân vật tiêu biểu, khéo thực hiện nguyên tắc dân chủ hiệp thương. Công tác dân vận và công tác mặt trận có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải đồng nhất.

Trong Di chúc, Bác Hồ một lần nữa khẳng định: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng, của dân ta”.

  • Trọng Tân

baobinhdinh.com.vn

Nền tảng văn hóa

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực chất là cuộc vận động văn hóa để xây dựng đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo động lực tinh thần cho sự phát triển và hiện đại hóa xã hội nước ta.

Năm 2010, cuộc vận động có chủ đề “xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, là đạo đức là văn minh”. Đây là một nội dung vô cùng quan trọng đối với Đảng và toàn thể đảng viên trong thời kỳ phát triển hiện nay của cách mạng nước ta.

Hồ Chí Minh chỉ dẫn “văn hóa không ở bên ngoài mà ở trong kinh tế và chính trị”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, “dân tộc Việt Nam phải trở thành một dân tộc thông thái”… do đó, chúng ta cần phải rất chú trọng giáo dục nhận thức, nâng cao trình độ tư tưởng, rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho toàn Đảng, toàn dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức của Người chứa đựng trong đó sức mạnh của trí tuệ, động cơ và mục đích cao thượng, tình yêu thương vô hạn và không bao giờ thay đổi của Người đối với đồng bào dân tộc mình và cả nhân loại trên thế giới. Đó là ngọn nguồn mãnh liệt và bền bỉ dẫn tới nghị lực phi thường, tình cảm trong sáng, chân thành của Người. Nó thấm đượm chất nhân văn vị tha và khoan dung, biểu hiện một tâm hồn tinh tế và phong phú, lộng gió thời đại. Lối sống giản dị, tự nhiên của Hồ Chí Minh được tạo nên từ những giá trị đó, là sự kết tinh và thể hiện một bản lĩnh văn hóa. Đạo đức và đời sống đạo đức của Hồ Chí Minh đã đạt tới sự mẫu mực của văn hóa đạo đức, hài hòa Chân – Thiện – Mỹ, ở đó quyện chặt truyền thống, bản sắc dân tộc với tinh hoa văn hóa thế giới và tinh thần thời đại.

Vì vậy, hưởng ứng cuộc vận động là một quá trình công phu giáo dục và thực hành văn hóa đạo đức đối với từng tổ chức và từng cán bộ, đảng viên. Nói và làm phải đi đôi với nhau, đã nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động, cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cho nước, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý một cách cao cả nhất. Làm “công bộc” trung thành, tận tụy của dân là thực hành một lẽ sống cao thượng nhất. Cái gì có lợi cho dân thì quyết làm cho bằng được, cái gì có hại tới dân thì quyết tránh cho bằng được.

Đó là những chỉ dẫn rất quý báu của Hồ Chí Minh đối với chúng ta. Sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, sự nhất quán giữa nói và làm là thước đo quan trọng bậc nhất của tính trung thực đạo đức, của sự trưởng thành đạo đức và nhân cách ở mỗi con người. Đó cũng chính là thước đo văn hóa mà lúc sinh thời, Hồ Chí Minh coi như triết lý nhân sinh và hành động – ở đời thì phải thân dân, làm người thì phải chính tâm.

Xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức là văn minh” chính là đặt cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững những giá trị văn hóa tinh thần trong Đảng và trong các tầng lớp nhân dân, trong các thế hệ người Việt Nam. Đây thực chất là một cuộc vận động văn hóa để xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và nhân cách, từ cán bộ, đảng viên đến quần chúng nhân dân, tạo động lực tinh thần cho sự phát triển đất nước.

  • Đỗ Lê Văn

baobinhdinh.com.vn

Văn hóa “Vì nhân dân phục vụ”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa có ý nghĩa vô cùng to lớn và giữ vị trí đặc biệt quan trọng, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Theo Người, xã hội thế nào thì văn hóa thế ấy, văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế.

Trong rất nhiều bài nói và bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc phải giữ gìn và phát huy những truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng dân tộc Việt Nam được hun đúc nên qua hàng ngàn năm lịch sử. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu… Bên cạnh việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, biết gạn đục khơi trong, nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, biết chọn lọc, sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh và đặc tính của dân tộc mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tấm gương cho mọi thế hệ Việt Nam, trong đó có tuổi trẻ noi theo.

Với nhận thức là văn hóa có nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc và nhân dân, xuất phát từ quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân” chúng ta phải xây dựng nền văn hóa thấm nhuần sâu sắc quan điểm “Vì nhân dân phục vụ” và phát huy sứ mạng của toàn dân làm văn hóa. Làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người là yêu cầu rất cấp bách cho cả trước mắt và lâu dài. Để làm được điều đó, mọi tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức chính trị, xã hội, các đoàn thể, tôn giáo, nhà trường và gia đình… phải tham gia tích cực, thường xuyên, liên tục, bền bỉ nhằm xây dựng nền văn hóa mới trong xã hội ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đã và đang là định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta. Nó mãi là ánh sáng soi đường cho công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta với mục tiêu “tất cả vì nhân dân phục vụ”. Đây không chỉ là phương châm hành động mà còn là phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Văn hóa được xây dựng và bồi đắp nên trong suốt chiều dài lịch sử, nó làm nên nền tảng tinh thần của một xã hội, giữ vai trò quan trọng vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Với tinh thần học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta quyết tâm học tập và noi theo tư tưởng văn hóa của Người để làm tốt công việc của người cán bộ, đảng viên theo đúng phương châm “tất cả vì nhân dân phục vụ”.

  • Thảo Trần

baobinhdinh.com.vn

Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (28-1-1941/28-1-2011)

Thấm thoắt, 70 năm đã trôi đi với biết bao biến cố, đổi thay vĩ đại trên quê hương Việt Nam. 70 năm trước, vào một ngày xuân năm 1941 (ngày 28-1), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng một số cán bộ thân cận từ nước ngoài trở về đến Pác Bó, một bản biên giới thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng (Cao Bằng). Sau ngót 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân, Người trở về đúng thời điểm lịch sử, vạch ra phương châm chuyển hướng chỉ đạo chiến lược lãnh đạo cách mạng đi đến Cách mạng Tháng Tám thành công…

Nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân vừa có cuộc hành quân về nguồn Pác Bó, thấy như đâu đây, đất rừng Pác Bó quê hương vẫn còn ấm dấu chân Người.

Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

QĐND – Chúng tôi quyết định thực hiện chuyến hành quân về nguồn Pác Bó khi tâm trạng còn lâng lâng hạnh phúc với niềm vui vừa có gần chục ngày tham gia tuyên truyền về diễn biến và thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Niềm vui ấy, khiến chúng tôi quên khuấy nỗi lo đặt ra khi khởi bước lên đường là cả tổ phóng viên, chưa có ai biết đường lên Pác Bó. Xe đến thị xã Cao Bằng, đứng trước bốn năm ngã rẽ, chúng tôi mới bối rối thực sự. Đành gọi điện, hỏi thăm các đồng nghiệp ở Báo Cao Bằng. Đúng là “khôn ngoan chẳng lọ thật thà”, vì Ban biên tập Báo Cao Bằng vui vẻ cử hẳn nữ phóng viên Hoàng Hồng Xiêm, một người con Pác Bó, rất am hiểu lịch sử quê hương, làm người dẫn đường kiêm “hướng dẫn viên” đưa chúng tôi về với mảnh đất cội nguồn cách mạng.

Ban đầu, Hồng Xiêm tỏ ra bẽn lẽn trước các “nhà báo lính” mà cô chưa quen. Thấy cô họ Hoàng, chúng tôi hỏi câu chuyện làm quà: “Nghe nói ở Pác Bó có hai dòng họ là họ Hoàng và họ Dương. Trong thời gian Bác Hồ về đây, họ Dương nổi tiếng với những chiến công bảo vệ Bác khỏi những đợt đi càn của lính Tây, lính dõng; còn họ Hoàng thì đùm bọc, chở che, đưa cơm nuôi dưỡng cán bộ các lớp học do Bác Hồ mở trong hang?”. Nghe câu hỏi ấy, Hồng Xiêm hào hứng hẳn lên, hỏi lại: “Các anh đã tìm hiểu về Pác Bó, có nghe tên nữ lão thành cách mạng Hoàng Thị Hoa bao giờ chưa?”. “Cụ Hoàng Thị Hoa, cô chị cả của ba chị em Hoa, Khìn, Bách hằng ngày vẫn đưa cơm cho Bác Hồ?”. “Đúng, chính xác, em chính là cháu nội bà Hoàng Thị Hoa”.

Tranh sơn dầu "Bác Hồ về nước" của hoạ sĩ Trịnh Phòng (ảnh chụp lại).

Trời đất! Chúng tôi nghe nữ nhà báo Hồng Xiêm trả lời mà như một tiếng reo mừng thắng lợi. Ba chị em nhà cụ Hoàng Thị Hoa chính là những lão thành cách mạng từng nuôi dưỡng, bảo vệ Già Thu (tên Bác Hồ khi về Pác Bó) còn sống. Và trong thâm tâm, chúng tôi hy vọng chuyến đi về nguồn lần này sẽ được gặp ba chị em, ba cụ bà lão thành cách mạng đã tham gia nuôi dưỡng Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong buổi đầu cách mạng còn trứng nước ấy. Không ngờ, người dẫn đường cho chúng tôi lại chính là cháu gái của cụ Hoa. Cô cháu gái là niềm tự hào của cả họ vì đã tốt nghiệp hai trường đại học, nay đang là một trong những phóng viên xông xáo của Báo Cao Bằng. Càng đặc biệt hơn, Hồng Xiêm rất thích thú với công việc sưu tầm tư liệu lịch sử về vùng quê cách mạng Cao Bằng.

“Các anh có biết vì sao Bác Hồ chọn đất Cao Bằng để về nước xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên?”, nữ đồng nghiệp Hồng Xiêm “kiểm tra” chúng tôi. Cái này thì chúng tôi cũng đã được đọc hồi ký của một số lão thành cách mạng. Đại thể, từ cuối năm 1940, trong nước bắt đầu những ngày cách mạng sục sôi, tình thế cách mạng phát triển thuận lợi, khởi nghĩa giành chính quyền đã trở thành khả năng thực tế. Trong năm bùng nổ ba cuộc khởi nghĩa: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương. Hai cuộc do đảng bộ địa phương lãnh đạo, một cuộc do binh sĩ yêu nước tự nổi dậy, thể hiện ý chí quật khởi của dân tộc, tinh thần tiến công cách mạng quả cảm của những người cộng sản. Các cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng Đảng ta đã rút ra được nhiều bài học quý về tổ chức và chỉ đạo đấu tranh vũ trang. Thời gian này cũng là lúc Thế chiến II đã bùng nổ, thực dân Pháp tham chiến nhưng chính phủ ở chính quốc phút chốc đầu hàng làm tay sai cho phát xít Đức; ở Đông Dương, chúng mở cửa rước quân Nhật vào. Nhân dân ta một cổ giữa hai tròng dưới gót giày đàn áp của đế quốc. Tình hình cấp bách đó, Bác Hồ đi đến quyết định sẽ về hẳn trong nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Bác đã chọn, quyết định về Cao Bằng và điểm dừng chân sẽ là Pác Bó…

“Không! Nếu thế thì đơn giản quá. Để Bác đi đến quyết định chọn Cao Bằng là nơi trở về lãnh đạo cách mạng, tổ chức Đảng và nhân dân Cao Bằng đã có cả một quá trình vận động, tạo nên các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để trở thành địa điểm được Bác chọn đấy các anh ạ” – Hồng Xiêm giải thích và không hề giấu giếm vẻ tự hào. Sự thực là từ cuối tháng 2-1940, được tin Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người. Sau gần 3 tháng, đến tháng 5-1940, đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác. Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh-Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái 2 cán bộ về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường xá.

Nhưng cuối tháng 6-1940, xảy ra sự kiện quân Nhật ném bom khiến đường giao thông Côn Minh-Lào Cai bị tắc nghẽn. Bác Hồ đóng vai thầy cúng đi kiểm tra tình hình thì thấy phong trào cách mạng của quần chúng ở khu vực giáp biên này chưa cao, nên đề nghị các đồng chí trong đoàn tìm hướng khác. Đầu tháng 1-1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng. Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua lối Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và đội ngũ cán bộ ở đây khá vững vàng.

Năm 1961, khi trở lại thăm Cao Bằng, Bác Hồ đã viết những lời đầy xúc động: “Tôi luôn luôn nhớ đến những ngày tôi công tác ở tỉnh ta, cùng mấy đồng chí trong tỉnh trèo đèo lội suối, ở núi, nằm hang. Khi thì cùng 5, 7 anh chị em bí mật tuyên truyền, huấn luyện tổ chức; khi thì cùng các anh em du kích đánh Nhật, chống Pháp, trừ Việt gian; anh em no đói có nhau, đồng lòng một chí. Do đó mà đào tạo những cán bộ quân sự và chính trị. Tôi không bao giờ quên những ngày gian nan cực khổ đó”. Thăm lại hang Pác Bó, Bác viết bài thơ: “Hai mươi năm trước ở hang này/Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây/Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu/Non sông gấm vóc có ngày nay”.

Nghiên cứu báo cáo của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bác Hồ nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi; nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào giữa Thái Nguyên với toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”.

Từ nhận định đó, ngày 6-1-1941, Bác Hồ cùng các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đường về bản Nậm Quang (Tĩnh Tây, Trung Quốc). Tại đây, Bác đã mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho hơn 40 cán bộ từ trong nước cử sang. Lớp học kết thúc đúng vào ngày 30 Tết Tân Tỵ năm 1941. Cũng trong ngày hôm đó, Bác bàn kế hoạch về nước. Người quyết định đi qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Lúc này, ở dọc biên giới, quân Pháp cho bọn lính dõng tay sai tăng cường lùng sục, bắt bớ. Để chắc chắn, Đoàn cán bộ về nước chia làm ba nhóm. Hai nhóm về trước nắm tình hình địch và tổ chức khảo sát đường đi. Ngay khi hai nhóm này lên đường thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây, Trung Quốc) để chờ tin, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi.

Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển, khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ một chiếc va li nhỏ được đan bằng mây tre để đựng quần áo và một chiếc máy chữ xách tay. Những người bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ về nước, ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, đồng chí Lê Quảng Ba còn có các đồng chí: Hoàng Văn Lộc, một cán bộ người dân tộc Tày, có kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp là một thanh niên rất khỏe, giỏi võ và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đường tắt.

Trong bức tranh “Bác Hồ về nước” nổi tiếng của họa sĩ Trịnh Phòng, chúng ta thấy Bác Hồ mặc bộ quần áo đặc trưng của đàn ông dân tộc Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu. Hồi ký của đồng chí Vũ Anh sau này kể rằng: Đó chính là sự ngụy trang rất tinh tế của Bác Hồ. Trước hôm về nước, Bác phân tích: “Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ”. Bác cũng tự lo cho mình một bộ trang phục của “chàng rể già người Nùng”.

Sáng sớm 28-1-1941, tức ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12 giờ trưa thì đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt-Trung, thuộc xã Trường Hà (Hà Quảng, Cao Bằng). Dừng chân ở cột mốc, đứng bên phía khắc dòng chữ An Nam (Pháp) với số hiệu 108, Bác lặng người vì xúc động. Tổ quốc đây rồi! Mảnh đất quê hương mà trong suốt 30 năm qua, Người luôn nghĩ đến không ngừng nghỉ, dù chỉ một phút giây. Đứng trên đỉnh núi, nhìn hai bên biên giới chỉ cách nhau bước chân, cùng màu xanh thẳm mà sao lòng Người nôn nao, bồi hồi, xúc động.

Nhà báo Hồng Xiêm dẫn đường đưa chúng tôi vượt qua hàng nghìn bậc đá, đến bên cột mốc cũ 108, sát cạnh đó là cột mốc mới mà ta và bạn vừa tiến hành cắm. Cột mốc mới mang số hiệu 675. Bất chợt, bốn câu thơ Tố Hữu vang lên trong mỗi chúng tôi: “Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!/Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người/Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/Mà đến bây giờ mới tới nơi”.

——————-

Bài và ảnh: Nhóm phóng viên CTĐ, CTCT
Bài 2: Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

qdnd.vn

Bài 2: Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (28-1-1941/28-1-2011)

QĐND – Chúng tôi rời cột mốc 108 trong sự bồi hồi, xúc động khi được đến nơi mà 70 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt dấu chân đầu tiên lên mảnh đất Tổ quốc sau 30 năm xa cách. Trở lại thôn Pác Bó, chúng tôi đến thăm gia đình bà Hoàng Thị Hoa, gia đình đã nuôi dưỡng và tham gia bảo vệ Bác Hồ trong thời gian Người ở Pác Bó. Bà Hoa đã theo con cháu về sống ở thành phố Thái Nguyên nhưng rất may, chúng tôi đã gặp hai người em của bà và cũng là hai lão thành cách mạng: Bà Hoàng Thị Khìn (88 tuổi), bà Hoàng Thị Bách (87 tuổi). Câu chuyện của hai bà như thước phim quay chậm, với những hình ảnh sống động, chân thực về Già Thu giản dị mà vĩ đại.

“Mãi về sau này, chúng tôi mới biết Già Thu chính là Bác Hồ kính yêu, chứ ngày đó không hề biết “Già” là vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Ngay cả Bác về làng tôi lúc nào, tôi cũng không hay. Bởi vì ban đầu, Bác đến ở gia đình ông Máy Lỳ, rất xa nhà tôi, gần hang Cốc Bó bây giờ. Cái điều đặc biệt nhất ở Cụ Hồ là sự giản dị, gần gũi, hiền hậu. Hồi đó, tôi mới 17 tuổi, chưa đủ lớn khôn để biết đó là “cán bộ thượng cấp” nhưng qua những lần vào đưa cơm cho Bác, được Bác dạy chữ, tôi đã nhiều lần tự hỏi: Sao cái ông cụ người Nùng này lại đáng kính, đáng mến đến thế. Chỉ được gặp Cụ vài lần là cánh thanh niên chúng tôi đã cam kết với nhau là dù có chết cũng phải bảo vệ Cụ đến cùng” – bà Hoàng Thị Bách, bắt đầu câu chuyện với chúng tôi như thế.

Gia đình nhà ông Máy Lỳ mà bà Bách nhắc đến, chính là nhà ông Lý Quốc Súng, người dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy mà đồng chí Hoàng Đình Giong đã dày công giác ngộ. Nhà ông Máy Lỳ là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Hiện gia đình ông chẳng còn ai, nhiều cán bộ lão thành trở lại tìm vết tích ngôi nhà, xác định được đúng vị trí khi ngôi nhà chỉ còn lại cái nền. Cái nền nhà này cũng đã được công nhận là di tích lịch sử trong quần thể di tích Pác Bó. Khách đến thăm hang Cốc Bó, chỉ cần rẽ trái chếch vài trăm mét trước cửa hang thì sẽ thấy nền nhà.

Hồi đó, gia đình ông Máy Lỳ không lấy gì làm sung túc, nhưng căn nhà của ông nằm độc lập bên ngọn núi nhỏ. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc xảy ra. Các cán bộ đi trong đoàn, ông Máy Lỳ biết gần hết. Chỉ có “ông Ké” là lần đầu ông được gặp. Tuy nhiên, ngay từ lần đầu ấy, ông Máy Lỳ đã rất quý “ông Ké”. Khách đến nhà vào đúng mùng 2 Tết nên ông Máy Lỳ làm một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác lặng yên vì Người vẫn rất xúc động với cảm xúc được về với mảnh đất quê hương.

Ở nhà ông Máy Lỳ được mươi hôm, Bác thấy đoàn cán bộ đông mà nhà ông thì chật. Hơn nữa, vấn đề bí mật, an toàn trong hoạt động cũng chưa thật bảo đảm nên ngỏ ý chuyển đi. Biết ý Bác, ông Máy Lỳ liền nói: “Ở trên núi có một cái hang rộng, tôi vẫn thường giấu của quý trên đó để tránh bọn Tây vào ăn cướp. Hay Cụ và các cán bộ vào đó ở”.

Bác kiểm tra, thấy rất ưng ý nên cùng đoàn cán bộ chuyển vào làm việc trong hang Cốc Bó. Ngày vào hang, Bác đã khắc chữ, đánh dấu ngày 8-2-1941. Chính vì thế mà trước đây, có một số tài liệu nhầm đó là ngày Bác về nước.

Hang Cốc Bó là đầu nguồn nước, nơi ấy có dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát ra từ hang núi đá lớn, Trước đấy, dân làng gọi là suối Giàng. Bác cùng các đồng chí cán bộ đổi tên là suối Lê-nin. Phía trên hang đá Bác ở là một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi Các Mác. Đồng chí Đặng Văn Cáp, người “bác sĩ kiêm vệ sĩ” luôn đi bên cạnh Bác, tức cảnh làm một bài thơ: “Suối Lê-nin cuồn cuộn/Từ núi Mác chảy ra/Suốt ngày đêm chẳng dứt/Tưới khắp cả gần xa”. Bác đứng gần, nghe được, Người gật gù và khe khẽ ngâm: “Non xa xa nước xa xa/Nào phải thênh thang mới gọi là/Đây suối Lê-nin, kia núi Mác/Hai tay gây dựng một sơn hà”.

Bà Hoàng Thị Khìn, một lão thành cách mạng từng tham gia nuôi dưỡng, bảo vệ Bác Hồ cùng các cháu thiếu niên Pác Bó. Ảnh: Hồng Hải

Bà Hoàng Thị Khìn kể lại: Khi Bác về làng tôi, đời sống người dân châu Hà Quảng lúc đó vô cùng cực khổ, lương thực chủ yếu chỉ là ngô. Có những gia đình thiếu đói, vào những ngày giáp hạt phải vào rừng để đào củ mài kiếm sống qua ngày. Có người vào rừng đào củ mài, đào chưa xong thì đã chết gục bên hố. Lại có những gia đình bốn đời truyền nhau một tấm áo chàm, miếng vá nọ chồng lên miếng vá kia, đến khi nhìn lại thì không còn nhận ra đâu là miếng vải may từ lúc đầu tiên nữa.

Khó khăn đủ bề, lại sống dưới ách áp bức của thực dân, phong kiến, nhưng người dân Pác Bó đã hướng về cách mạng và bảo vệ Già Thu – người mà dân làng cũng chỉ biết đại khái đó là một cán bộ cách mạng cấp cao. Có lần, giặc Pháp dẫn lính dõng về bao vây Pác Bó vì nghi là có cộng sản nằm vùng. Chị dâu của đồng chí Dương Đại Lâm, một thanh niên ở làng Pác Bó được Bác Hồ giác ngộ, đã mưu trí đi đường tắt đến báo để Bác và các cán bộ rút lui an toàn. Quân Pháp rất tức tối, vì bao lần càn vào Pác Bó mà không hề phát hiện được dấu vết cán bộ. Để thị uy, chúng bắt được một tên thổ phỉ bèn giết đi, bêu đầu và rêu rao đó là đầu cán bộ bắt được ở Pác Bó. Bà Khìn, bà Hoa cùng mấy người nữa trong “Phụ nữ cứu quốc hội” đến tận nơi xem, biết đó là tên thổ phỉ nên đã tổ chức tuyên truyền cho dân làng yên tâm.

Thấu hiểu tấm lòng cũng như nỗi khổ của đồng bào, tại hang Pác Bó, Bác Hồ tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, đun nước lá cây ổi uống thay chè. Bác tự kê mấy hòn đá thành cái bàn để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng… Bác kêu gọi mọi người tăng gia để tự túc lương thực. Ở Pác Bó cho đến bây giờ, người dân vẫn coi trọng trồng hai loại cây mà Bác đem về trồng ở Pác Bó là cây cải xoong và cây ớt. Cuộc sống của Bác kham khổ đạm bạc cũng chỉ cháo ngô và rau rừng như đồng bào quanh vùng. Thấy Bác đã có tuổi, vất vả ngày đêm, lại phải ăn cháo ngô sợ không đủ sức khỏe nên các đồng chí cán bộ bàn nhau mua gạo để nấu riêng cho Bác. Biết vậy, Bác kiên quyết không đồng ý. Có lần ngô non xay để lâu ngày mới dùng đến, nấu cháo bị chua, mấy cán bộ đề nghị Bác cho nấu cháo gạo để Bác dùng, Bác vẫn không nghe. Bác hỏi anh em: “Có cách nào làm cho bắp non khỏi bị chua không?”. Mọi người trả lời: “Nếu rang lên thì có thể ăn được nhưng không ngon”. Bác bảo: “Không ngon cũng được, thế thì rang lên mà ăn, không nên bỏ phí. Một hạt bắp lúc này cũng quý”.

Đầu tháng 4-1941, một số cán bộ bẫy được chú gà lôi. Các anh xin phép Bác được thịt gà. Bác nhất trí. Anh em hớn hở vì nghĩ hôm nay sẽ được cải thiện một bữa ra trò. Nhưng khi thịt gà, Bác chỉ cho phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn tất cả băm thật nhỏ cho nhiều muối và ớt rang mặn lên để vào ống tre ăn dần trong các bữa sau. Bác còn dặn, nhớ để phần cho những chú đang đi công tác cơ sở chưa về. Chỉ một miếng ăn nhỏ lạ miệng, Người cũng không quên anh em vắng nhà.

Có lần, cụ Dương Văn Đình (bố đồng chí Dương Đại Lâm) thấy Bác gầy yếu, tóc bạc, ai cũng xót xa. Cụ Dương Văn Đình đã cho người nhà nấu cháo và bưng đến một bát cháo trứng gà mời Bác. Bác hỏi: “Ở đây một ngày ăn mấy bữa hả cụ?”. “Dạ, một ngày ăn ba bữa, bữa sáng thì ăn cháo”. “Thế ai cũng được ăn cháo đánh với trứng à?”. Mọi người phải thú thực vì thấy Bác mệt nên mới làm mời Bác thôi. Bác không bằng lòng bảo với mọi người: “Các đồng chí làm cách mạng, tôi cũng làm cách mạng, tại sao tôi lại được đặc biệt hơn các đồng chí? Cách mạng gian khổ phải cùng nhau chịu đựng, mọi người ăn sao tôi ăn vậy”.

Nói rồi, Bác đứng dậy, bưng bát cháo trứng đến mời bà cụ cố của đồng chí Dương Đại Lâm. Bác nói: “Đây mới là người cần được bồi dưỡng. Bà cố đã sống gần trăm tuổi rồi, cực khổ vất vả đã nhiều, cần ăn ngon để sống với con cái đến ngày nước nhà độc lập, vui hưởng thái bình”. Nghe Bác nói vậy ai cũng thấy sống mũi cay cay. Thương Bác và càng thêm cảm phục Bác. Chưa bao giờ Bác đòi hỏi phải có sự ưu tiên cho riêng mình. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào Bác cũng đều nghĩ cho người khác và quan tâm đến tất cả mọi người xung quanh.

Câu chuyện bà Khìn, bà Bách kể với chúng tôi đang hồi cảm động thì từ trong nhà, con cháu các bà ùa ra giữa sàn, đùa nghịch rất ồn ào, vui vẻ. Bà Bách là người sáng dạ, được Bác Hồ và đồng chí Hoàng Văn Lộc dạy chữ, về sau đi làm cán bộ thoát ly nên mỗi câu chuyện kể, bà có vẻ triết lý nhiều hơn. Nhắc lại chuyện Bác Hồ kiên quyết không nhận sự ưu tiên dành cho riêng mình, bà chép miệng: “Ấy, cái sức cảm hóa của Cụ Hồ được hình thành ngay từ buổi ban đầu ở với dân là thế đấy cháu ạ. Bây giờ, Đảng ta mở Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, bà nghĩ, nếu mỗi cán bộ biết nghĩ đến dân trước khi nghĩ đến mình và gia đình mình thì chắc chắn Cuộc vận động sẽ thành công, cháu nhỉ!”.

——————-

Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Bài 3: Nơi ra đời quyết định chuyển hướng chiến lược
Bài và ảnh: Nhóm phóng viên CTĐ, CTCT

qdnd.vn

Bài 3: Nơi ra đời quyết định chuyển hướng chiến lược (Tiếp theo và hết)

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (28-1-1941/28-1-2011)

QĐND – Trong hành trình “lịch sử bằng vàng” của mình, Đảng ta đã có nhiều quyết sách chiến lược sáng suốt, kịp thời chớp lấy thời cơ đưa cách mạng tiến lên. Trong đó, phải kể đến quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược tại Hội nghị Trung ương 8 do Bác Hồ triệu tập và chủ trì, chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh. Giờ đây, lịch sử đã công nhận vai trò quan trọng, tầm vóc lịch sử của Hội nghị Trung ương 8 nhưng ít ai ngờ, hội nghị lịch sử đó diễn ra trong một cái lán nhỏ trên dòng Khuổi Nậm, một địa điểm Bác Hồ ở nhiều nhất trong thời gian Người làm việc tại Pác Bó.

Như trên đã nói, Bác Hồ quyết định về hẳn trong nước lãnh đạo cách mạng vì Người nhận thấy tình thế cách mạng đã xuất hiện nhiều yếu tố đủ điều kiện chuyển dần thành thời cơ cách mạng.

Chậm trễ lúc này là có tội với lịch sử!

Vì vậy, bên cạnh việc đào tạo cán bộ, xây dựng Pác Bó thành căn cứ địa vững chắc, điều Bác Hồ quan tâm, đốc thúc đội ngũ cán bộ tại Pác Bó nhiều nhất là thảo luận những nội dung và chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 8.

Suối Lê-nin nằm trong khu di tích Pác Bó.

Ở hang Pác Bó hơn một tháng, xét thấy tính cơ động không cao, Bác cho anh em cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nậm, cách phía trước hang Pác Bó chừng một cây số. Địa điểm này tiện lợi đi lại, không phải lội qua suối, nếu có động cũng dễ thoát nhanh chóng. Tại đây, từ ngày 10 đến 19-5-1941, Bác Hồ triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Người nhận định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”.

Đây là hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Sau hội nghị, Bác tự tay thảo ra bức thư “Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc.

Sức khỏe của Bác, do ăn uống kham khổ, điều kiện sinh hoạt trong hang, trên lán không được tốt nên giảm sút rất nhiều. Trong khi đó, điều kiện của cách mạng đòi hỏi Bác phải có chuyến đi bắt liên lạc, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế và chuẩn bị cho khởi nghĩa. Biết vậy nên Bác rất chăm chỉ rèn luyện. Chị Hoàng Thị Huệ, hướng dẫn viên Bảo tàng Pác Bó, tập hợp từ hồi ký của các đồng chí cán bộ ở cùng Bác, kể lại: Sáng nào Bác cũng dậy sớm tập thể dục. Ở Khuổi Nậm không có đất, Bác cũng tạo một mặt phẳng đứng tập. Bác đẽo bốn cái chày, hai cái vừa, hai cái to và nặng để thay tạ tập hằng ngày. Sáng sớm, Bác vẫn thường tập leo núi. Bác chọn những quả núi quanh vùng cao nhất để leo lên với đôi bàn chân không. Khi thì một hai đồng chí đi theo Bác, khi thì Bác tập một mình. Một lần Bác bị lạc, anh em lo lắng phân công nhau đi tìm, mãi trưa Bác mới về đến nhà. Leo núi đối với Bác không chỉ có mục đích tập luyện mà còn là dịp để tìm hiểu địa hình nhằm ứng phó linh hoạt nhất khi quân thù bất ngờ ập đến. Có đồng chí nhắc Bác: “Leo núi Bác đi giày vào cho khỏi đau chân”. Bác đáp: “Tôi tập leo núi chân đi giày không quen”. Sau giờ tập Bác tắm nước lạnh để luyện khả năng chịu đựng với giá rét. Để luyện bàn tay đánh máy, Bác chọn hai hòn đá như trứng gà khi nghỉ đánh máy Bác bóp tay vào đá.

Núi Các Mác nằm trong khu di tích Pác Bó.

Sống ngay cạnh Bác, ai tinh ý lắm mới biết được Bác mệt. Người có một nghị lực khác thường, mỗi khi mỏi mệt là Bác đứng dậy đi đi, lại lại hoặc làm một việc gì đó, trừ trường hợp không đi lại được nữa, Người mới chịu nằm nghỉ. Có lần Bác bị sốt rét, người gầy đi nhiều, nhưng Bác cũng không chịu nghỉ. Mỗi khi lên cơn sốt, Bác lại leo núi cho mồ hôi vã ra như tắm. Lau chùi thân thể sạch sẽ xong, Bác tiếp tục làm việc.

Thời gian ở Pác Pó lúc nào Bác cũng mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, đi giày vải, chẳng khác gì một ông cụ người địa phương.

Bác rất chú ý tiết kiệm. Bác dặn kỹ đồng chí Lộc quản lý và tất cả cán bộ là ăn uống tuyệt đối không được để thừa hoặc đổ đi. Đồng chí nào mang quà về hoặc có quà quần chúng gửi cho, phải dành đến bữa mới được ăn. Bác làm việc có kế hoạch, ăn đúng giờ. Cũng như anh em, Bác không ăn sáng, ngày nghỉ chỉ có hai bữa vào lúc chín rưỡi mười giờ và bốn rưỡi năm giờ chiều. Bác ăn chung với mọi người, thức ăn chỉ có rau măng và một chút thịt muối băm (một cân thịt rang khô với nửa cân muối và vài lạng ớt chỉ thiên để ăn dần).

Các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng hiện đang sống ở Pác Bó nay đều đã vào tuổi 90 nhưng ai cũng còn nhớ và kể lại: Sau Hội nghị Trung ương 8, Bác càng làm nhiều việc, hăng say hơn. Bác tổ chức lớp huấn luyện chính trị-quân sự ngắn hạn cho cán bộ địa phương, viết thư kêu gọi chiến sĩ cách mạng, viết bài “Hoan nghênh thanh niên học quân sự”, khuyên đồng bào mua báo Việt Nam độc lập, Xã luận, Thế giới đại chiến và phận sự của ta… Qua đó, người đọc thấy, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Bác vẫn làm nhiều bài thơ như: Việt Nam độc lập, Dân cày, Trẻ con, Công nhân, Bài ca Phụ nữ, Ca binh lính…; viết tác phẩm Cách đánh du kích, gồm 13 chương, nội dung mỗi chương nêu ngắn gọn, dễ hiểu để cán bộ, nhân dân nhận thức đúng và thực hiện được…

Trời tối, lán Khuổi Nậm không có đèn nên anh em thường ngồi quây quần nghe Bác kể chuyện. Một lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến tranh lớn và tình hình thế giới, trong nước rồi phỏng đoán là độ 3-4 năm nữa, Thế chiến II sẽ bước vào giai đoạn quyết định và lúc đó sẽ là một cơ hội rất tốt cho chúng ta. Đặc biệt, Bác viết cuốn Lịch sử nước ta bằng thơ lục bát, ghi lại tất cả những phong trào chống ngoại xâm từ trước đến nay. Cuối bài, Bác viết: “Nay ta đã có Việt Minh/Đủ tài lãnh đạo dân mình đấu tranh/45 sự nghiệp hoàn thành”.

Anh em cán bộ xúm vào tranh luận xem Bác đoán thế là thế nào. Cũng không ai ngờ, 4 năm sau, sự phỏng đoán của Bác diễn ra đúng như vậy.

Tháng 8-1942, Bác rời căn cứ địa Cao Bằng đi Trung Quốc bắt liên lạc với phong trào cộng sản quốc tế. Một đồng chí giao thông đi trước; đồng chí Lê Quảng Ba đi giữa; Bác lại giả thành ông già người Nùng, chống gậy đi sau. Sang Trung Quốc, đồng chí Lê Quảng Ba bắt liên lạc, nhờ một cơ sở của Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa Bác đi.

Bác đến Điền Đông thì bị quân lính Tưởng Giới Thạch bắt. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp, Vũ Anh ở nhà nghe tin, ai nấy đều giật mình, thảng thốt. Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang trải qua những thử thách vô cùng ác liệt để tiến tới thắng lợi thì vị lãnh tụ vĩ đại lại sa vào tay giặc.

Hằng tuần, Bác vẫn tìm cách gửi tin từ Tĩnh Tây về. Bác thường viết chữ trong một tờ báo, bằng nước cơm. Các đồng chí ở nhà mang về, bôi cồn i-ốt vào, chữ nổi lên. Trong báo, Bác thường dặn dò ở nhà cứ bình tĩnh, đừng lo cho Bác mà ảnh hưởng đến công việc chung. Một hôm, có tin Bác đã mất trong tù vì cực khổ quá, không chịu nổi, các đồng chí ở căn cứ địa đều bàng hoàng, ai cũng đau đớn, dằn vặt khôn nguôi. Nhưng không lâu sau, ở trong nước lại nhận được một tờ báo của Bác gửi về. Trong đó có bài thơ Tân xuất ngục, học đăng sơn. Đồng chí Đặng Văn Cáp sang xác minh lại, mới biết Bác vẫn còn sống. Bác bị quân Tưởng xích tay, xiềng cổ giải đi trong hơn 12 tháng, qua hơn 30 nhà giam…

Trong cuộc đời hoạt động của Bác, lần bị quân Tưởng bắt là lần cực khổ nhất. Mắt bị mờ, chân bị yếu nhưng Bác vẫn một lòng son sắt hướng về Tổ quốc, tin tưởng vào thành công của cách mạng. Chính trong thời gian này, Bác đã viết tập Nhật ký trong tù.

Trong chuyến trở lại Pác Bó lần này, chúng tôi gặp nhà văn Hoàng Quảng Uyên, một nhà văn chuyên viết về đề tài mảnh đất và con người Cao Bằng. Đặc biệt, trong dịp kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ về nước, ông “trình làng” tác phẩm rất đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, kể về quá trình Bác Hồ về nước, hoạt động tại Pác Bó (Cao Bằng): “Thời gian Bác về nước và hoạt động tại Pác Bó không dài nhưng là khoảng thời gian vô cùng ý nghĩa đối với vận mệnh dân tộc. Pác Bó với ý nghĩa là suối đầu nguồn, thực sự trở thành nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam từ khi Bác trở về. Tôi đặt tên tiểu thuyết của mình là Mặt trời Pác Bó với hình ảnh mặt trời ló rạng báo hiệu bình minh của Tổ quốc cũng vì lẽ ấy” – nhà văn Hoàng Quảng Uyên tâm sự.

Đến với Pác Bó, chúng tôi như thấy trong mỗi góc hang, bờ suối, vẫn đâu đây lưu lại hình ảnh của Bác Hồ. Thấy rõ hơn tài năng và đức độ của Người, vị lãnh tụ đã cùng với Trung ương Đảng vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao phong ba, bão táp đi đến bến bờ thắng lợi. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước-kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Bài và ảnh: Nhóm phóng viên CTĐ, CTCT
Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Bài 2: Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

qdnd.vn

Năm ấy Bác về nước (*)

LTS: Nhân 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (28-1-1941/28-1-2011), Báo Quân đội nhân dân xin trích đăng hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về giai đoạn 1940-1941 khi Đại tướng hoạt động, học tập ở Trung Quốc, được Bác điều về nước cùng với các đồng chí khác xây dựng cơ sở cách mạng.

… Từ khi sang Trung Quốc, tôi càng nhận thấy sâu sắc mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc.

Sau lần gặp Bác ở Thúy Hồ, anh Phạm Văn Đồng và tôi luôn luôn được gặp Bác cùng các anh Phùng Chí Kiên, Vũ Anh. Bác thường nói nhiều đến cuộc chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc.

Một bữa, Bác bảo anh Đồng và tôi:

– Các đồng chí sẽ đi Diên An. Lên trên ấy, vào trường Đảng học tập chính trị, cố gắng học thêm quân sự.

Mấy lần gặp sau, trước khi chúng tôi đi, Bác vẫn dặn đi, dặn lại tôi “cố gắng học thêm quân sự”.

Tháng 9 năm 1940, chúng tôi được tin thực dân Pháp đã cúi đầu trước phát xít Nhật vào Đông Dương. Sự việc đã diễn ra đúng như dự đoán của Đảng mà anh Hoàng Văn Thụ đã nói với tôi trước khi ra đi.

Vào khoảng đó Bác đến Quế Lâm.

Bà con Pác Bó, Cao Bằng vô cùng xúc động được gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 20 năm xa cách (20-2-1961) . Ảnh tư liệu

Chúng tôi tới gặp Bác ở một vùng ngoại ô. Bác cùng chúng tôi đi lững thững như những người nhàn rỗi dạo chơi trên cánh đồng. Tới một bãi cỏ có bóng mát, chúng tôi ngồi lại khai hội… Bác nhận định tình hình chung trên thế giới và ở Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, không nên ở Quế Lâm lâu, phải chuyển về biên giới tìm cách trở về nước ngay để hoạt động.

Ai cũng nóng ruột muốn mau chóng trở về, nhưng chưa có liên lạc với trong nước. Việc về nước lúc này chẳng phải dễ dàng… Trong một buổi họp, Bác nhận định: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”…

Trong những ngày ở Quế Lâm, có lần Bác bàn với chúng tôi: Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng. Ta phải nghĩ đến việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Việt Nam phản đế đồng minh? Hay là Việt Nam độc lập đồng minh, có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ. Những ý kiến Bác nói hồi đó, sau này, đã được thảo luận tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ tám của Đảng ở Pác Bó.

Tin tức về phong trào tại nước nhà ngày càng thúc giục, nhưng vẫn chưa tìm ra cách để liên lạc với Trung ương ở trong nước. Bác chủ trương là nên chuyển về hoạt động ở sát biên giới, rồi tính cách về nước sau.

Một hôm, chúng tôi được tin Trương Bội Công về Tĩnh Tây đã đón được một số thanh niên các dân tộc ở Cao Bằng vì bị đế quốc Pháp khủng bố mạnh, phải vượt biên giới chạy ra ngoài. Bác đã nhìn thấy một cơ hội tốt để tổ chức đường liên lạc về nước. Bác nói: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó, đưa anh em trở về củng cố và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức đường liên lạc về nước”. Cũng từ lúc này, Bác đã nhận định về vị trí của Cao Bằng: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ”.

Từ khi chưa đặt chân vào Cao Bằng, Bác đã vạch ra một cách chính xác tính chất quan trọng của căn cứ địa Việt Bắc sau này.

Cuối tháng 11 năm 1940, chúng tôi về đến Tĩnh Tây. Đầu tháng 12, Bác và anh Phùng Chí Kiên về một làng cách Tĩnh Tây năm chục cây số. Bác cho người đến gọi anh Đồng và tôi về để mở lớp huấn luyện. Chúng tôi lên đường về nơi Bác hẹn gặp. Từ đó còn phải đi bộ khá xa mới đến địa điểm đã chọn để mở lớp huấn luyện. Đường đi toàn đồi núi. Bác đi bộ rất nhanh, tất cả chúng tôi không ai theo kịp. Dọc đường, thỉnh thoảng Bác lại dừng lại đứng chờ.

Lớp huấn luyện được tổ chức ở một vùng dân tộc Nùng đã từng chịu ảnh hưởng của Hồng quân Trung Hoa trong thời kỳ Hồng quân hoạt động ở Quảng Tây. Nhân dân ở đây rất quý những người cách mạng Việt Nam. Chúng tôi phân chia nhau ở trong hai làng.

Hai việc trước tiên phải lo, là việc chuẩn bị lương thực và làm chương trình huấn luyện.

Nhân dân ở các làng biên giới này rất giàu tinh thần và tình cảm với cách mạng, nhưng đời sống thì còn rất nghèo khổ. Việc lo ăn một lúc cho năm chục con người hàng nửa tháng, không phải là một việc dễ. Đồng chí Cáp được giao nhiệm vụ tiếp tế lương thực, nhưng mọi người đều phải góp sức. Mỗi buổi sáng, chúng tôi đều đi lấy gạo, bắp về giã, kiếm củi để nấu ăn và để giúp đỡ đồng bào. Bác cũng bổ củi rất khỏe.

Sau những ngày học tập, mọi người phấn khởi, náo nức hẳn lên. Anh em chúng tôi đứng vây quanh Bác, biết rõ ông cụ mảnh khảnh mặc bộ quần áo Nùng giản dị này là người gắn liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam.

Lá cờ đỏ sao năm cánh phấp phới bay trong gió lạnh như một ngọn lửa thiêng sưởi ấm tâm hồn chúng tôi, khi đó còn là những người dân mất nước phải sống xa quê hương. Chúng tôi ngoảnh mặt cả về phía Nam, hoan hô tinh thần khởi nghĩa Nam Kỳ, thề sẽ thẳng tiến không lùi trên con đường cách mạng chông gai, một ngày kia sẽ đem lá cờ thiêng liêng này về nêu cao giữa Thủ đô.

Ngay sau đó, cả bốn mươi đồng chí Cao Bằng lại quay về nước, tìm về những cơ sở cũ. Chúng tôi ở lại, chuẩn bị thêm cho kế hoạch công tác sắp tới.

Ngày Tết đến với chúng tôi tại biên giới. Suốt thời gian qua, bà con dân làng hiểu rõ chúng tôi hơn, càng thêm quý mến. Gần làng có miếu thờ Thành Hoàng, nhân dân ai cũng đến lễ bái. Bác cũng đi cùng bà con đến viếng đền. Anh em chia nhau đi ăn Tết các nơi trong làng. Bà con ai cũng mời đến nhà, nếu không đến thì không bằng lòng. Có đồng chí trong một ngày phải đi ăn Tết tới gần một chục nơi. Đến nhà ai, Bác cũng đều mang theo một tờ giấy hồng điều tự tay Bác đã viết dòng chữ “Cung chúc tân niên”.

Nhìn Bác mặc bộ quần áo chàm, quần xắn cao, tay cầm gậy, đi chúc Tết nhân dân với dáng nhanh nhẹn, thái độ thoải mái vui vẻ, nhớ lại khi Bác ở Côn Minh mặc âu phục, cổ cồn, mũ phớt, tôi thấy Bác đã hòa vào trong hoàn cảnh mới một cách hết sức tự nhiên.

Sau Tết ấy, các anh Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, có anh Lê Quảng Ba dẫn đường, về Cao Bằng tìm cơ sở đặt địa điểm cơ quan rồi ra đón Bác cùng về.

Thời gian này, chúng tôi thường đi lại giữa Tĩnh Tây và nơi làm việc mới của Bác ở trong nước, tại hang Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nơi họp Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám (tháng 5-1941), quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh. Ảnh tư liệu

Lần đầu về nước, tôi đi cùng một đồng chí giao thông. Qua một quả núi đất khá cao, lởm chởm đá, xuống một con đường mòn nằm quanh co giữa những nương rẫy bên sườn núi, đồng chí giao thông chỉ một phiến đá nhỏ, nói đó là cột mốc biên giới. Tôi dừng chân, đứng nhìn một lúc. Phiến đá có khắc mấy chữ Hán, dựng giữa hai nương ngô. Bên kia, bên này cây cỏ cũng như nhau. Đồng chí giao thông lại cho biết thêm, nhân dân ở cả hai bên biên giới tại vùng này, đều là bà con dân tộc Nùng cùng nói chung một thứ tiếng. Thấy biên giới đúng là một sản phẩm của con người đặt ra.

Thấm thoắt đã một năm trời xa Tổ quốc, đặt chân lên dải đất quê hương, lòng chẳng khỏi bồi hồi. Mỗi bước đi thấy trong người ấm áp hơn lên. Chỉ vừa mới đi thêm mấy bước chân mà trước đó thì thấy như còn ở rất xa. Lúc này lại thấy như đã ở gần nhà.

Vùng này núi đất xen với núi đá, địa thế hiểm trở. Những chòm nhà nhỏ của đồng bào Nùng nằm thưa thớt giữa những nương ngô trên sườn núi hay bên những thửa ruộng nhỏ dưới thung lũng. Sương trắng từng dải đọng trên các đầu núi. Khung cảnh Pác Bó hiện ra trước mắt như một bức tranh thủy mạc.

Khắp vùng này đều đã có cơ sở. Chúng tôi vừa đi vừa ngắm núi non, đất nước. Nhớ lại lúc vượt sông Nậm Ty hết ngó trước lại ngó sau, cảm thấy vui vui với ý nghĩ, cả nước tuy còn nằm dưới ách thống trị của bọn đế quốc, nhưng ở nơi này đã có một mảnh đất tự do.

Đi chẳng bao xa, tôi đã nhận ra Bác đang ngồi trên một phiến đá. Sau bao năm xa nước, hoạt động từ Đông sang Tây, Bác đã trở về góc rừng hoang vắng của Tổ quốc với bộ quần áo chàm giản dị, rất tự nhiên trong vai một ông già người Nùng. Gần chỗ Bác ngồi, dưới chân những khối nhũ đá thấp nhỏ, hình thù kì dị, nước từ khe núi chảy ra đọng lại trong vắt.

Bác trỏ dòng nước rồi nói:

– Đây là suối Lê-nin.

Trèo qua một quả núi đá không cao lắm, lách người đi hết một đám lau rậm, thì thấy hiện ra một cửa hang. Trong hang ẩm lạnh không có đồ đạc gì ngoài chiếc sàn nằm làm bằng những cành cây nhỏ gác ngang, gác dọc. Chính ở đây vào tháng 5 năm đó, Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã họp dưới sự chủ tọa của Bác, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh và đề ra chủ trương chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Trong hội nghị này, Trung ương đã quyết định duy trì và phát triển cơ sở du kích ở Bắc Sơn, Vũ Nhai, đồng thời ra sức củng cố và mở rộng cơ sở Cao Bằng, xây dựng hai nơi đó làm trung tâm của công cuộc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa tại Việt Bắc. Cũng tại đây, Bác đã nhân danh nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc viết lá thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Việc cứu nước là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm …”.

Anh Vũ Anh ở lại Pác Bó với Bác.

Sáng nào Bác cũng dậy rất sớm và gọi mọi người cùng dậy. Bác tập thể dục rất đều, tập xong lạnh mấy cũng đi tắm suối, rồi bắt đầu làm việc. Khi Bác khai hội, khi Bác nghiên cứu, khi Bác xuống làng nói chuyện với đồng bào, có khi Bác đi lấy củi. Bữa cơm của Bác chỉ có chút thịt muối hoặc con cá con vừa bắt được dưới suối.

Trời tối, trong hang rất lạnh, phải đốt lửa sưởi suốt đêm. Không có đèn nên buổi tối ít khi làm việc. Anh em thường ngồi quây quanh đống lửa nghe Bác nói chuyện. Một lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến tranh lớn, những cuộc cách mạng từ trước tới nay, rồi Bác phỏng đoán độ bốn, năm năm nữa, chiến tranh sẽ tới bước quyết định và lúc đó là một cơ hội rất tốt cho cách mạng ta.

Khuya khuya, mọi người ngủ chung cả trên sàn. Những cành cây ngổn ngang dưới lưng, nằm vừa đau vừa lạnh.

Có lần, Bác viết một cuốn lịch Việt Nam bằng thơ lục bát, ghi lại tất cả những phong trào chống ngoại xâm từ trước đến nay. Bác đã viết vào cuối trang mục lục: “Việt Nam độc lập năm 1945”. Anh em người nói sớm, kẻ nói muộn. Bác nghe trao đổi chỉ nói: “Để rồi xem”…

Từ ngày Bác về nước, cơ quan đã thay đổi địa điểm mấy lần. Đồng bào Nùng tại đây rất tốt vì đã có cảm tình và liên lạc với cách mạng từ trước, vùng này rất hẻo lánh. Nhưng bọn Tây và quân lính ở các đồn phía dưới Sóc Giang vẫn thường kéo lên, khi lùng bắt những người trong làng nấu rượu lậu, khi tìm thổ phỉ, khi dò la tung tích cách mạng. Nơi ở đầu tiên của Bác tại Pác Bó tuy ẩm lạnh nhưng vẫn là nơi ở tốt nhất. Tại đây, có hang không sợ mưa nắng. Địa điểm thứ hai là một hốc núi nhỏ ở rất cao và rất sâu trong rừng, bên ngoài chỉ rấp ít cành lau. Những khi trời mưa to, rắn rết chui cả vào chỗ nằm. Có buổi sáng, Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh người. Về đây, Bác hay sốt. Nhiều lần, Bác đang ngồi khai hội thì lên cơn sốt, mặt tái ngắt, tay chân run cầm cập. Chúng tôi mời Bác đi nằm, nhưng Bác nói: “Nằm càng mệt, ngồi thế này có đấu tranh đỡ hơn”…/.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP

(*) Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

qdnd.vn

Bác Hồ trước họa “diệt cộng, cầm Hồ”

QĐND – Chính quyền nhân dân non trẻ đang trong cơn nước sôi lửa bỏng phải đối mặt với hai kẻ thù ngoại xâm: Pháp và quân Tưởng Giới Thạch. Một cán bộ hỏi Bác: “Thưa Cụ, trong hai tên giặc ấy, tên nào đáng sợ hơn? Bác hài hước nói: “Sợ nhất các chú!”.

Cuộc chạy đua nước rút

Tại Hội nghị “Chia phần” của phe thắng phát xít ngày 24-7-1945, nhờ tài “đi đêm” Chính phủ của Tưởng Giới Thạch đã được Đồng minh cho phép đưa quân vào miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 để nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật hoàng (phía Nam là quân Anh). Dàn xếp xong trong nội bộ, ngày 9-8, Chính phủ Tưởng tuyên bố cử tướng Lư Hán làm Tư lệnh 20 vạn Hoa quân nhập Việt. Nhận lệnh, Lư Hán triệu ngay đại diện quân Nhật tới Côn Minh yêu cầu: Thả ngay tù binh Đồng minh; Chỉ giao chính quyền ở miền Bắc cho các nhà chức trách Trung Quốc; Quân Nhật phải giữ trật tự chờ đến khi quân Tưởng Giới Thạch đến.

Cùng ngày 27-8, hai cánh quân của Lư Hán và Tiêu Văn tràn sang nước ta kéo theo bọn Việt gian tay sai thuộc hai đảng Việt quốc, Việt cách của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Hải Thần với chủ mưu “diệt cộng, cầm Hồ” lập Chính phủ thân Tưởng Giới Thạch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường trở về ATK. Ảnh tư liệu

Bác Hồ ở trên chiến khu ốm nặng, phải tối 26-8 mới về tới 48 Hàng Ngang, Hà Nội. Người chỉ thị tổ chức ngay lễ ra mắt Chính phủ lâm thời để tuyên bố trước thế giới: Nước Việt Nam đã có chính quyền mới từ ngày 2-9-1945. Một tuần sau, ngày 9-9, Tiêu Văn mới tới Hà Nội. Hai ngày sau, Lư Hán vội đáp máy bay đến Gia Lâm, lập Đại bản doanh tại Phủ toàn quyền. Quân Tưởng Giới Thạch ngang nhiên coi chúng là chủ của đất nước này.

Chữ “Nhẫn”

Lúc bấy giờ, báo chí nước ngoài mô tả quân Tưởng: “Đội quân chân đất, bụng lép, quyết bám vào cuộc nhập Việt để mưu sống. Chúng vơ vét mọi thứ muốn lấy hay cần lấy dù thứ đó là của người Việt, người Pháp hay của ngoại kiều nào, bất kể giàu hay nghèo. Các tướng tá chỉ huy càng tham tàn, hà hiếp mọi người, ở mọi nơi làm gương cho binh sĩ…”.

Riêng Lư Hán càng hống hách hơn, đòi Hồ Chí Minh phải báo cáo cụ thể tổ chức và quân số các lực lượng vũ trang trong quân đội, công an, dân quân tự vệ, đòi sắp xếp lại bộ máy chính phủ, thậm chí đòi đổi lại giờ Việt Nam theo giờ Trung Quốc… Ngày 28-9, Bộ trưởng Hà Ứng Khâm – đặc phái viên của quân Tưởng bay tới Hà Nội danh nghĩa là chứng kiến lễ tiếp nhận đầu hàng của quân Nhật, mục tiêu chính lại là nhằm: “Diệt cộng, cầm Hồ”. Chúng thúc ép thuộc cấp phải nhanh chóng chớp thời cơ trước khi quân Pháp đánh ra Bắc Bộ – kể cả khiêu khích kiếm cớ can thiệp lật đổ.

Tiêu Văn muốn lập công đầu, gửi thư cho Hồ Chí Minh, nói: “Kính gửi Cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho mượn một cái nồi nấu cơm”.

Đọc thư, mọi người vô cùng phẫn nộ thưa lại với Bác: “Chúng khinh ta quá đáng”!
Bác nhẹ nhàng nói: “Nền độc lập ta mới giành được ví như chiếc bình ngọc quý. Có con kiến bò miệng bình, ta chỉ cần lấy cái que nhỏ bắc cầu cho kiến bò đi, hay lấy gậy đập chết kiến – Chắc gì kiến chết mà bình lại vỡ? Họ mượn cái nồi nấu cơm, ta cho mượn việc gì các chú phải nổi nóng?”.

Ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán (thực tế là rút vào hoạt động bí mật) để “cứu mạng sống” cho bọn Lư Hán – Tiêu Văn không bị Tưởng Giới Thạch trị tội “bất tuân thượng lệnh”. Tuy nhiên, ngoài nguy cơ lộ liễu từ phía quân Tưởng và lũ tay sai, bọn Phòng nhì Pháp đã bắt đầu tung mạng lưới do thám ra Hà Nội. Ngay lập tức, Bác chỉ đạo, ngoài tổ an ninh đặc biệt do hai ông Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh phụ trách, phải lập thêm trung đội đặc nhiệm nữa do Đàm Quang Trung phụ trách rải quân ở nhiều nơi để lừa chúng.

Vụ bắt cóc bất thành

Trong khi theo lệnh Tưởng Giới Thạch (do chủ trương của Mỹ muốn để Pháp thay thế Trung Hoa giải giáp quân đội Nhật ở Bắc Đông Dương). Đại bản doanh của Lư Hán – Tiêu Văn, một mặt tiến hành các tổ cảnh giới ở Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu, một mặt khác vẫn tiếp tục mưu kế “cầm Hồ”.

Sáng 25-11-1945, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam nhận được một công văn “Thượng khẩn” của Lư Hán mời Bác tới Bộ tư lệnh đại diện quân Đồng minh có việc. Cả các ông Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Huỳnh đều bàn thưa với Bác không nên đi, mà chỉ cử đặc phái viên Chủ tịch nước đến gặp là đủ. Bác nói: “Lư Hán lúc này lấy danh nghĩa Đồng minh giở giọng “thiên triều” ra chỉ lệnh cho “chư hầu”. Bác không đến gặp, nó tưởng ta sợ nó. Nó được nước, có thể làm điều càn bậy hơn. Miếng võ hiểm phải có “đòn văn” hiểm hơn chứ!”.

Bác nói chuyện qua điện thoại với ngài Patti, đại diện phái bộ Mỹ hẹn gặp vào buổi chiều, và bảo ông Huỳnh ngày hôm đó không được rời phòng làm việc. Xe lên Phủ toàn quyền, viên sĩ quan quân Tưởng lễ phép thưa: “Tướng quân Lư ngài bận”, y dẫn Bác xuống 64 Nguyễn Du gặp tướng quân Tiêu Văn. Bọn họ lại ngang ngược cho Triệu Bách Xương ra cổng xin lỗi Bác và đưa Người tới Quân đoàn 63 gặp Quân trưởng Chu Phúc Thành (địa điểm Bệnh viện 103 bây giờ). Bác nhận ra sự nguy hiểm do chúng đã tách ba anh bảo vệ đi theo. Người đưa mắt nhắc anh em “bình tĩnh”!

Chúng giữ Bác đến chiều. Bác bí mật cử người về đánh động cho Mỹ biết. Lập tức, ông Patti đến, ông Vũ Đình Huỳnh kể lại sự việc. Ông bạn Mỹ tỏ rõ sự bất bình, nói:

– Chúng tôi can thiệp ngay việc này.

Hẳn là có tiếng nói của quan thầy, chúng không dám hành động liều lĩnh. Bác Hồ kính yêu của chúng ta an toàn trở về lãnh đạo cuộc kháng chiến…

Bài học của 65 năm trước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trịnh Tố Long

qdnd.vn

Bác Hồ và bản sắc văn hóa dân tộc

Ngay từ nhỏ, Bác Hồ đã được dưỡng nuôi trong một môi trường văn hóa gia đình, quê hương xứ Nghệ. Người tắm mình trong bao làn điệu dân ca, điệu vè, hát ví, hát dặm. Những câu Kiều chứa bao thân phận đắng cay, và nhiều câu chuyện cổ tích huyền diệu đã in sâu trong tâm trí Bác. Bác thường có mặt trong những đêm hát ví, hát phường, hát vải, các buổi hội hè với chúng bạn trẻ thơ.

Từ giã quê hương, bôn ba tìm đường cứu nước, Bác không bao giờ quên những kỷ niệm thời thơ ấu ở làng Sen, nếp sống gia đình và vốn văn hóa, phong tục ở quê hương. Càng xa đất nước bao nhiêu, Bác càng da diết nhớ quê hương, nhớ điệu ca dao, dân ca, nhớ kho tàng văn nghệ dân gian bấy nhiêu. Một câu ngâm Kiều, một điệu hát ru con trên đất khách quê người của bà con Việt Kiều đều gợi trong trái tim Người bao nỗi niềm tha hương.

Ảnh:Tư Liệu

Chính trong những năm tháng hoạt động cách mạng ấy, thái độ trân trọng di sản văn hóa dân tộc được hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người thường dẫn Chinh phụ ngâm, Kiều, những câu hò, lời ca, điệu ví quen thuộc, vốn rất đặc trưng tiêu biểu cho văn nghệ dân tộc như: Ngâm sa mạc, hát tuồng, chèo hát ví, hát dặm để nhắc nhở những người làm công tác văn hóa về thái độ trân trọng vốn văn hóa dân tộc. Người cho rằng, văn hóa dân tộc là vốn quý, là chìa khóa và bệ đỡ cho nền văn hóa một nước. Phải biết nâng niu, quý trọng văn hóa dân tộc mới có khả năng khai thác và phát triển nó lên. Tâm sự với nghệ sĩ trẻ, Bác khuyên: “Thanh niên phải chịu khó học. Âm nhạc của dân tộc ta rất độc đáo. Bác đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng Bác vẫn nhớ các câu hát của dân ta. Ta có nhiều câu hát dân ca hay lắm. Bây giờ phải khai thác và phát triển nó lên…”.

Hồ Chí Minh am hiểu nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật như: Dân ca, âm nhạc, đến hội họa, thơ ca cổ điển… Người đã từng khuyên chúng ta phải biết kế thừa, phát triển di sản quý báu ấy. Người nói xóa bỏ triệt để những cái cũ phiền phức, phát triển những cái cũ mà tốt, phải triệt để làm những cái mới và hay, phải giữ gìn thuần phong, mĩ tục, phải tẩy sạch những gì mà giáo dục thực dân để lại…”.

Như vậy là tư tưởng của Bác là “gốc của văn hóa mới là dân tộc”. Chuyện cải biên các bộ môn nghệ thuật cổ của dân tộc bây giờ như là nhu cầu tất yếu để nghệ thuật tiếp cận với thời đại đang sống. Thế nhưng cải biên mà vẫn không đánh mất gốc. Có một lần xem biểu diễn chèo, Bác đã vừa khen mà cũng vừa nhắc nhở cho đoàn chèo ấy: “Đã chèo thì cho ra chèo”. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết hợp rất nhuần nhuyễn văn hóa với cách mạng. Văn hóa phải đưa nhân dân lên một trình độ cao. Muốn vậy phải có cơ sở của văn hóa dân tộc, cho nên tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh vừa dân tộc, vừa hiện đại nhất.

Trả lời một tờ báo Đảng của Đức, Bác khẳng định: “Nguyễn Du là một nhà thơ cổ điển của chúng tôi. Những người Cộng sản chúng tôi rất quý di sản cổ điển. Có những ngọn suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó. Càng thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông”.

Nguyễn Tấn Tuấn

baogialai.com.vn