Archive | Tháng Hai 2012

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người tạo lập nền y đức mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với GS. Trần Hữu Tước và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch (người ngồi bên trái). Ảnh: TL suckhoedoisong.vn

Suốt cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh phấn đấu cho sự nghiệp cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, đói nghèo, bệnh tật. Vì vậy, ngành y tế, ngành chǎm lo sức khỏe con người, là một trong những ngành được Người quan tâm nhiều nhất.

Những tư tưởng, quan điểm của Người rất toàn diện, sâu sắc về y học – y tế đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của ngành y tế suốt từ những ngày đầu cách mạng đến tận mai sau. Những tư tưởng, quan điểm đó là: xây dựng nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc, đại chúng, vấn đề y đức là vai trò của y học dự phòng, vấn đề kết hợp đông y với tây y, kết hợp quân – dân y trong sự nghiệp bảo vệ và chǎm sóc sức khỏe nhân dân…

Y đức là vấn đề trung tâm, vấn đề cốt lõi trong quan điểm về y tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không nghề nào quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe và tính mạng con người như nghề y. Không nghề nào mà sai lầm hay thiếu sót ảnh hưởng lớn đến sự sống còn, đến sức khỏe con người như nghề y. Mọi nghề đều có thể làm ra sản phẩm không đủ tiêu chuẩn, có thể có hàng thứ phẩm. Ngành y tuyệt đối không cho phép như vậy. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam DCCH đã quan tâm sâu sắc đến việc bảo vệ và chǎm sóc sức khỏe nhân dân, đến ngành y. Cách mạng vừa thắng lợi, thù trong giặc ngoài rình rập, mọi việc còn ngổn ngang trǎm mối, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn phát động phong trào đời sống mới, khởi xướng phong trào “khỏe vì nước”. Người chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công”.

Trước công nguyên, phương Tây có Hi-pô-crát, phương Đông trải qua nghìn, vạn nǎm chưa thấy ai (kể cả ở những quốc gia có nền vǎn minh tối cổ đồ sộ như ấn Độ, Trung Quốc) nói đến vấn đề y đức. Các sách cổ Trung Hoa từ Hoàng đế, nội kinh đến bản thảo cương mục, v.v. chỉ nói về y thuật, không nói đến y đức.

ở nước ta, y đức được các danh y như Tuệ Tĩnh, nhất là Hải Thượng Lãn Ông nêu lên từ những thế kỷ trước. Nó biểu hiện truyền thống nhân ái, chuộng đạo lý, quý trọng con người của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến y đức, Người là hiện thân của đạo đức cách mạng trong sáng đối với ngành y. Người luôn luôn quan tâm giáo dục những người làm công tác y tế về vấn đề y đức.

Trong các thư gửi Trường Quân y nǎm 1946, Hội nghị Quân y nǎm 1948, Trường y tá Liên khu I nǎm 1949, Hội nghị y tế toàn quốc nǎm 1953, Người luôn nêu vấn đề này.

Người viết: “Người ta có câu: “Lương y như từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”. (Thư gửi Hội nghị Quân y tháng 3-1948), “Phải thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân”, “Lương y như từ mẫu” (Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc 1953)”, “Phải thương yêu, sǎn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn, lương y phải như từ mẫu” (Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế tháng 2-1955).

Không một nội dung nào sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, ngắn gọn hơn, súc tích hơn, đúng đắn hơn, nói lên được sự cao cả, thiêng liêng của ngành y tế, của người thầy thuốc như lời dạy của Người về y đức. Lòng người mẹ thương con là tình cảm cao cả, thiêng liêng nhất trong mọi tình cảm của con người. Tình thương yêu, đùm bọc giữa các anh chị em ruột thịt trong gia đình là tình cảm thân thiết, quý trọng nhất, sự quan tâm nỗi đau đớn, sướng khổ của bản thân mình là gắn bó, thân thiết nhất đối với mỗi người trong cuộc đời. Trước Hồ Chí Minh, y đức chỉ là vấn đề nhân đạo, là nhân thuật, là sự giữ mình, là bổn phận, là thái độ ứng xử sao cho có lương tâm, có trách nhiệm của con người với đồng loại, của người nọ với người kia, của thầy thuốc với người bệnh. Nội dung lời thề của Hi-pô-crát chỉ là “Tôi sẽ cho chế độ ǎn uống có lợi cho bệnh nhân, không cho thuốc giết người nếu có ai yêu cầu. Tôi sẽ giữ gìn sao đời sống của tôi được trong trắng và thần thánh…”

Chín điều rǎn dạy của Hải Thượng Lãn Ông cũng chỉ là: “Chớ vì giàu sang hay nghèo hèn mà đến (thǎm bệnh) trước đến sau hay bốc thǎm lại phân biệt hơn kém…”. Đến Hồ Chí Minh, y đức được nâng lên tầm cao chưa từng có. Còn gì thiêng liêng, cao quý hơn tình cảm mẹ con? Người mẹ không những sinh thành, tạo ra cuộc sống, nuôi dưỡng, dạy dỗ con mà còn có thể hy sinh tất cả, kể cả cái quý nhất là cuộc sống của mình cho con. Còn gì thân thiết hơn, gần gũi hơn tình cảm anh em cốt nhục ? Người anh nào khi em hoạn nạn không đem tất cả sức lực, tâm huyết, không làm tất cả mọi việc có thể làm được cho em mình qua cơn hoạn nạn. Còn gì thiết thân hơn, sát sườn hơn đối với con người là sự đau đớn của chính mình? Có người nào không hết lòng, hết sức chạy chữa cho bản thân mình khi đau ốm? Hồ Chí Minh đã đem tất cả những tình cảm cao quý, thiêng liêng (tình mẹ con, tình anh em, tình cảm đối với bản thân mình) vào đạo đức của người thầy thuốc. Từ một vấn đề mang tính trách nhiệm, là thái độ ứng xử chuyển thành vấn đề không chỉ mang tính trách nhiệm, nhân đạo mà còn mang sắc thái thiêng liêng, tình cảm. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo lập nên nền y đức mới, y đức cách mạng.

Ngành y đã lấy nội dung những lời dạy của Người nêu trên làm cốt lõi tư tưởng trong mọi hoạt động. Bao tấm gương đẹp, tận tụy, hết lòng, hết sức phục vụ người bệnh nở rộ trong sự nghiệp chǎm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân: Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Đặng Vǎn Ngữ, v.v. đều đã thấm nhuần và làm theo lời dạy của Người về y đức. Truyền đạt tinh thần “Thầy thuốc như mẹ hiền” của Người thành hành động cụ thể, Phạm Ngọc Thạch đã nêu: “Đến, tiếp đón niềm nở. ở, chǎm sóc tận tình. Đi, dặn dò chu đáo” làm châm ngôn, mọi thầy thuốc, nhân viên trong ngành phải tuân thủ trong việc chǎm sóc, phục vụ người bệnh. Nǎm 1979, Bộ Y tế đề ra nǎm tiêu chuẩn của người cán bộ y tế nhân dân. Nǎm 1982, Bộ Y tế nêu những yêu cầu cụ thể về “thương yêu người bệnh” cho cán bộ, nhân viên hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau đối với việc bảo vệ, chǎm sóc sức khỏe nhân dân. Nǎm 1996, Bộ trưởng y tế Đỗ Nguyên Phương nêu lên 12 điều quy định về y đức. Ngày 10-8-1999, lại ban hành Quy định về đạo đức hành nghề dược. Ngày 3-1-2000, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu gửi thư cho ngành y tế qua báo Sức khỏe và Đời sống đã phát triển, làm rõ hơn, cụ thể hơn lời dạy của Bác Hồ về y đức trong hoàn cảnh mới của đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức từng giai đoạn, từng thời kỳ đã được thể chế hóa, cụ thể hóa thành những việc rõ ràng trong công tác phục vụ người bệnh, bảo vệ và chǎm sóc sức khỏe nhân dân. Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền vǎn hóa mới, đạo đức cách mạng mới trong lịch sử dân tộc. Đạo đức Hồ Chí Minh là sự khoan dung, nhân hậu, là lòng thương người hết mực. Trong tình thương yêu con người đó, mọi người đều có chỗ. Người không bỏ sót ai, không quên ai, nhất là những người lao khổ, bần cùng, ốm đau, bệnh hoạn. Người nói: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng, gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Chỉ có tấm lòng cao cả, thương người lớn lao như vậy mới có thể thấu hiểu được nỗi đau đớn của người ốm đau, bệnh tật, mới có thể nêu lên y đức của người thầy thuốc cao cả, thiêng liêng, sâu sắc như vậy.

Tư tưởng về y đức của Người mãi mãi là “pháp bảo” của ngành y tế, soi đường chỉ lối cho những người làm công tác y tế vượt qua mọi khó khǎn, thử thách, xây dựng và phát triển ngành, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự nghiệp bảo vệ và chǎm sóc sức khỏe nhân dân.

PGS, TS. Hoàng Minh

quangbinh.gov.vn

“Các Vua Hùng dựng nước, bác cháu ta giữ nước”

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn luôn tâm niệm cội nguồn dân tộc. Người thường nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân ta phải phát huy truyền thống con cháu Lạc Hồng, giữ gìn giang sơn gấm vóc, phấn đấu đưa nước ta sánh ngang với các cường quốc năm châu!

images47070_BH_noi-chuyen-voi-cs.jpgBác Hồ nói chuyện với các chiến sĩ tại đền Hùng – Phú Thọ (ảnh: tư liệu)

Ngày 18/2/1946, hơn 5 tháng sau ngày đọc “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 22 CNV/CC cho công chức cả nước được nghỉ ngày Giỗ tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm để tưởng nhớ tổ tiên. Ngày 18/9/1954, trước Đền Hạ thuộc Đền Hùng, Phú Thọ, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô. Bác căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”! Lời Bác dạy không chỉ đối với quân đội, mà còn đối với toàn Đảng, toàn dân. Ngày nay, càng suy ngẫm lời Bác, chúng ta càng thấm thía tâm huyết của Người đối với đất nước và dân tộc, càng thấy tầm nhìn xa trông rộng của vị lãnh tụ thiên tài.

Bác Hồ khẳng định và tôn vinh “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”. “Công dựng nước” của các Vua Hùng thật to lớn! Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta luôn luôn phải đấu tranh chống những tên giặc ngoại xâm vô cùng hung hãn. Trong quá trình dựng nước và giữ nước đầy gian khổ, hy sinh, dân tộc ta đã tạo nên một truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường, thông minh, sáng tạo, và có tinh thần độc lập, tự chủ. Vì thế, dân ta đã làm nên biết bao chiến công oai hùng, dựng nên đất nước, khẳng định chủ quyền và bồi đắp bản sắc dân tộc.

Các Vua Hùng là những người đầu tiên viết nên những trang sử vẻ vang ấy, và truyền nối cho muôn đời con cháu đến hôm nay và cả mai sau. Vậy nên, tưởng nhớ và biết ơn các Vua Hùng là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của mỗi người dân Việt Nam ta, thể hiện niềm tự hào và tự tôn dân tộc một cách chính đáng, đồng thời để tăng thêm sức mạnh cho chúng ta, phấn đấu đưa đất nước tiến tới văn minh và giàu mạnh.

Mỗi tấc đất này đều phải đổi bằng núi xương, sông máu và mồ hôi của các thế hệ người Việt Nam ta. Bởi vậy, “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”! Đấy là bổn phận, là tình cảm, là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả những ai mang dòng máu Lạc Hồng. Đấy là lẽ đương nhiên, là điều tất yếu. Với Bác Hồ, “giữ nước” trước hết là quyết tâm chiến đấu, hy sinh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất và chủ quyền của đất nước. Trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, Bác từng nói: “… Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”.

Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Bác khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Với Bác, “giữ nước” là toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Bởi nhân dân là gốc của đất nước. Đấy chính là kế “sâu dễ bền gốc” mà ông cha ta truyền lại.

Ngày nay, thực hiện lời dạy giữ nước của Bác cùng với việc cảnh giác, đề phòng giặc ngoại xâm, kiên quyết đánh trả và chiến thắng mọi kẻ địch đồng thời còn phải ra sức đấu tranh với “giặc nội xâm” là những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đang gây ra quốc nạn tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng. Đâu phải chỉ trong chiến tranh mới đặt ra yêu cầu “giữ nước” mà đấy còn là nhiệm vụ cấp thiết và cực kỳ hệ trọng ngay trong xây dựng hòa bình!

Đào Ngọc Đệ
Nhà báo & Công luận

tuoitre.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngành Y tế Việt Nam

Giáo sư Tôn Thất Tùng (người mặc comple trắng bên trái) hướng dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh viện Việt - Đức sau ngày Hà Nội giải phóng (10/10/1954). Ảnh Internet

Cả cuộc đời dành trọn cho quê hương, đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất đã để lại cho các thế hệ con cháu Việt Nam những tư tưởng cao quý, có giá trị sâu sắc. Trong đó phải kể đến những tình cảm, những tư tưởng khoa học mang tính định hướng lâu dài dành cho ngành Y tế – một trong những ngành giữ vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

Trong di sản của Người để lại, tài liệu viết về ngành Y tế không nhiều song những giá trị cốt lõi được thể hiện trong tư tưởng của Bác về lĩnh vực này đã trở thành kim chỉ nam hành động đối với toàn thể cán bộ, nhân viên trong ngành. Điều này được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, Bác Hồ luôn đánh giá cao vai trò, nhiệm vụ của ngành Y tế trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Trong bức thư viết tháng 2/1955, Bác Hồ nêu rõ: “Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang”. Bác Hồ cũng đã nhiều lần căn dặn cán bộ: Trên đời này không có gì sung sướng, vẻ vang hơn là được phục vụ nhân dân. Sức khỏe là vàng, không có sức khỏe thì con người không thể làm bất cứ việc gì. Chính vì vậy, muốn đất nước ngày càng phát triển thì trước hết nhân dân phải có sức khỏe tốt. Và đó là nhiệm vụ của ngành Y tế: Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Đó là lý do mà Bác kính yêu đã khẳng định công việc của những người trong ngành Y tế là một “nhiệm vụ rất vẻ vang”.

Công lao của những người làm việc trong ngành Y tế có ý nghĩa rất to lớn. Sự hy sinh thầm lặng của họ đáng được Đảng, Chính phủ và toàn dân ghi nhận, trân trọng và khen ngợi thỏa đáng. Bác Hồ từng nói: “Bây giờ ta chịu khổ với nhau. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công điều kiện cho phép, Chính phủ quyết không quên công lao anh em đã cố gắng: “Chính phủ sẵn sàng khen thưởng những người xuất sắc nhất” (Tháng 6/1948).

Bác cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục, tập quán không tốt thì dần dần xóa bỏ”. “Ốm đau có thuốc” được Bác nêu lên chính là nhiệm vụ, trách nhiệm và vai trò của ngành Y tế. Nhiều cuộc họp của Bộ Chính trị và Trung ương Đảng mà Bác Hồ dự và chủ trì, đều quan tâm đến vấn đề này. Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác Hồ đã nhiều lần làm việc với cán bộ lãnh đạo ngành Y tế, quan tâm, động viên, thăm hỏi đội ngũ thầy thuốc, khẳng định tầm quan trọng của nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Những thành tựu mà ngành Y tế đã đạt được trong cả thời chiến và thời bình đã khẳng định vai trò quan trọng của ngành trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước đúng như quan điểm của Bác Hồ.

Trong kháng chiến chống Pháp, dưới sự quan tâm lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ với đường lối kháng chiến kiến quốc đúng đắn, cán bộ ngành Y tế đã khắc phục mọi khó khăn, cố gắng bền bỉ đưa công tác y tế của đất nước tiến lên. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh, công tác y tế của nước ta thời kỳ này “đã đi dần vào con đường phục vụ quảng đại nhân dân”. Lịch sử ghi danh những chiến sỹ áo trắng không quản ngại nguy hiểm, khó khăn, thiếu thốn luôn có mặt tại các chiến hào để cứu chữa thương bệnh binh, phục vụ đắc lực cho tiền tuyến. Biết bao tấm gương y, bác sỹ – chiến sỹ kiên trung, dũng cảm đã xuất hiện trên khắp chiến trường, nhiều người đã để lại một phần máu xương của mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước, cũng có không ít người đã vĩnh viễn ra đi, để lại bao niềm đau nỗi nhớ cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. Ngày 2/1/1947, Người đã có thư khen ngợi sự tận tâm của các y sĩ, khán hộ cứu thương, trong đó có đoạn: “Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”. Trong “Báo cáo tại Hội nghị chính trị đặc biệt” (ngày 28/3/1964), Người đánh giá rằng: “Công tác y tế đã có nhiều thành tích, đã ngăn chặn được nhiều dịch bệnh và bệnh xã hội cũ, sức khỏe của nhân dân được nâng cao. Trẻ em ngày càng được săn sóc chu đáo hơn”. Công tác y tế thời kỳ này không chỉ là một mặt trận kháng chiến mà còn là một mặt trận đấu tranh chống lại bệnh tật, đem lại sức khỏe cho toàn dân, vì cuộc sống của nhân dân.

Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời kháng chiến trường kỳ chống Mỹ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ngành Y tế đã nêu cao tinh thần cống hiến hết mình và nỗ lực không ngừng để vừa góp phần xây dựng cuộc sống mới, vừa trở thành hậu phương vững chắc cung cấp đầy đủ thuốc men cho toàn quân, vừa kề vai sát cánh với các chiến sĩ sẵn sàng cứu chữa kịp thời thương bệnh binh, đảm bảo sức khỏe cho họ tiếp tục kiên cường đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Rất nhiều sinh viên y khoa mới tốt nghiệp cũng xung phong vào các chiến trường khốc liệt, đem tài sức của mình kề vai sát cánh với những người lính ngoài trận địa, góp phần vì sự nghiệp cách mạng cao đẹp của nước nhà. Hàng trăm nghìn tấn thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế đã được vận chuyển vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam quy về một mối, ngành Y tế đã khẩn trương cùng với các ngành bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước và khắc phục những hậu quả của chiến tranh để lại. Mặc dù phải đối phó với những tác động của nền kinh tế thị trường khi bước vào thời kỳ đổi mới, ngành Y tế đã không ngừng khắc phục khó khăn, phấn đấu đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân. Phương châm đổi mới của ngành y tế là kế thừa, nâng cao chất lượng, kết hợp phòng bệnh và chữa bệnh, lấy dự phòng làm chính, đông tây y kết hợp để xây dựng nền y học Việt Nam phát triển bền vững.
Đánh giá cao những thành tựu của ngành Y tế đã góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho các tập thể, cá nhân ngành Y tế nhiều phần thưởng cao quý, như Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập. Nhiều giáo sư, bác sỹ, dược sỹ, các nhà khoa học và cán bộ của ngành Y tế có những cống hiến to lớn trong các lĩnh vực y tế, đã đ­ược Đảng và Nhà nước trao tặng các danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động và giải thư­ởng cao quý khác.

Thứ hai, Bác Hồ luôn dành sự quan tâm sâu sắc đối với những người làm việc trong ngành Y tế.

Lịch sử dân tộc vẫn còn lưu giữ những hồi ký rất cảm động của các cán bộ trong ngành Y tế khi nhớ về Bác kính yêu. Đó là sự quan tâm và tình cảm ấm áp, chân tình của Bác đối với bác sĩ Trần Hữu Tước trong chuyến tàu từ Pháp trở về Tổ quốc năm 1946, cũng như thời gian sau này. Đó là những lời lẽ hết sức xúc động của Người trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng chia sẻ nỗi đau khi vừa biết tin con trai của bác sĩ hi sinh trong trận chiến đấu chống trả cuộc tấn công của quân Pháp vào Hà Nội. Đó còn là sự quan tâm của Người đối với những bác sĩ sống ở Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn (thư gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam ngày 19/3/1947). Khi nghe tin vợ bác sĩ Đặng Văn Ngữ mất, Bác viết thư thăm hỏi, động viên (thư ngày 10/6/1954)…

Đáp lại tình yêu thương vĩ đại Bác dành cho, nhiều thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã cố gắng sống và làm việc, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà. Giáo sư Hồ Đắc Di – một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam, hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Y khoa của nước Việt Nam độc lập, là người hiểu thấu tư tưởng và thấm nhuần đạo đức, lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông từng nói: “Càng sống lâu, càng suy ngẫm, càng hiểu sâu biết rộng, càng nhìn thấu kim cổ Đông Tây, ta càng thấy rõ Bác Hồ của chúng ta quả là bậc vĩ nhân của các vĩ nhân. Theo tôi, Người là một Einstein về mặt đạo đức. Lời nói nào của chúng ta có sâu xa đẹp đẽ đến đâu chăng nữa, cũng không thể nào nói lên đầy đủ tầm vóc của Người. Có lẽ chính lịch sử mới đủ sức nói lên tầm vóc đó. Điều kỳ diệu của Bác Hồ là Người là bậc thánh nhân xuất chúng nhưng lại không xa rời nhân dân đại chúng, là nhân vật thần thoại truyền kỳ nhưng lại gần gũi biết bao đối với những con người bình thường, nhỏ bé và bất hạnh. Người có ảnh hưởng sâu xa đến tâm tư, tình cảm của mỗi chúng ta, trẻ cũng như già”.

Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng – vị bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với Bác, “dưới ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”, tâm hồn ông đã đi theo cách mạng. Trong suốt cuộc đời mình, Giáo sư đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, tin cậy với niềm tin yêu đặc biệt và tình cảm gần gũi. Không phụ lòng tin yêu của Bác, Giáo sư đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp với mong muốn đưa nền y học Việt Nam sánh ngang với các nước trên thế giới. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã để lại cho nền y học nước nhà 123 công trình khoa học, đặc biệt Ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên xây dựng phương pháp mổ gan mang tên ông: “phương pháp Tôn Thất Tùng” (hay “phương pháp mổ gan khô”). Giáo sư từng viết: “Bác ơi, công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Con nhắc lại mấy kỷ niệm đánh dấu từng chặng đời con, để ghi vào lòng, tạc vào dạ rằng, chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là người cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”.

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, Người lại đi thăm và chúc Tết các tầng lớp nhân dân. Năm nào Bác cũng dành thời gian đến thăm và chúc Tết một, hai vị trí thức ngành y vào đêm giao thừa. Gặp gỡ các vị giáo sư, Bác luôn gửi lời thăm và chúc tết tới các cán bộ đang làm việc tại các bệnh viện, các bệnh nhân còn ở lại bệnh viện.

Bác Hồ nói chuyện thân mật với trí thức ngành y. Ảnh: Internet

Đối với các thầy thuốc làm việc trong ngành Y tế, Bác luôn dành cho họ sự tin tưởng, quan tâm, ân cần chỉ bảo, sử dụng đúng khả năng, động viên kịp thời. Xuất phát từ tình cảm chân thành, sâu sắc với cán bộ ngành Y tế, Bác Hồ đã chỉ ra những nội dung ngắn gọn song lại có ý nghĩa định hướng hành động cho mọi người. Ngày 27/2/1955, trong bức thư gửi Hội nghị cán bộ ngành y tế, Người căn dặn “phải thật thà đoàn kết” để “vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích”. “Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành Y tế – từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành Y tế, trong việc phục vụ nhân dân”.

Trong thư gửi cán bộ và nhân viên quân y ngày 31/7/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần căn dặn: “Bác nhắc nhủ các cô, các chú phải:Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kĩ thuật”.

Thứ ba, phải đẩy mạnh công tác phòng bệnh

Đây là quan điểm cơ bản của công tác chăm sóc sức khỏe mà Người nêu ra từ sau Cách mạng Tháng Tám. Người nói “Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khỏe mạnh tức là góp phần làm cho cả nước khỏe mạnh. Việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám, trong 12 điều răn cán bộ, Người căn dặn “Phải dạy đồng bào: Vệ sinh thường thức”. Đầu năm 1946, Người kêu gọi “Luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” và nói: “Việc đó không tốn kém, khó khăn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Người đã phát động phong trào “Đời sống mới” với nội dung chủ yếu là giữ gìn vệ sinh. Từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc và trong những năm chống Mỹ cứu nước, mỗi khi đi thăm một xí nghiệp, một HTX, cơ quan, đơn vị bộ đội, trường học hay bệnh viện, trước hết Người xem xét nơi ăn, chốn ở, nhà bếp, nguồn nước, nhà tắm, hố xí và dặn dò mọi người ăn ở trật tự vệ sinh.

Người còn cho rằng vấn đề sức khỏe có mối quan hệ trực tiếp với cuộc kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”. Vì lẽ đó mà đối với tầng lớp nào, lứa tuổi nào, Người cũng luôn dặn dò mọi người phải giữ gìn và nâng cao sức khỏe. Đối với các cháu thiếu nhi, Người khuyên “Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang”. Trong lần về thăm bệnh xá Vân Đình vào ngày 20/4/1963, Bác căn dặn: “cần chú ý đến việc phòng bệnh, tuyên truyền và giải thích cho đồng bào xung quanh nhà thương và trong huyện biết cách giữ gìn vệ sinh, làm cho mỗi người bệnh khi khỏi bệnh biết cách phòng bệnh cho họ và gia đình họ…”.

Bác Hồ thăm Bệnh xá Vân Đình, năm 1963. Ảnh Internet

Năm 1964, trong Hội nghị chính trị đặc biệt họp tại Thủ đô Hà Nội, khi thấy Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên (Viện trưởng Viện mắt), Bác liền hỏi: Chú chữa mắt, chú có biết vì sao về các thôn, xóm vẫn thấy các cháu còn toét mắt nhiều? Và trong lúc giáo sư tìm câu trả lời thì Bác đã nói: Các cô, các chú chưa chú ý tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân. Phải đẩy mạnh công tác phòng các bệnh mắt sâu rộng bằng nhiều cách thì mới ăn sâu vào ý thức của mỗi người.

Trong cuộc đời, không ai muốn mình bị mang bệnh tật, ốm đau bởi “sức khỏe là vàng”. “Chữa bệnh” vừa đau đớn, vừa tốn kém về thời gian, tiền bạc. “Phòng bệnh” vừa giúp mọi người tăng cường sức khỏe, tránh được tổn hại về thể lực, tinh thần và tài chính; chủ động hơn với thời gian và cuộc sống của mình; đóng góp nhiều hơn cho gia đình, xã hội. Chính vì lẽ đó mà người ta lựa chọn: “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Thứ tư, “Lương y phải như từ mẫu”.

Nghề thầy thuốc là một nghề cao quí, bởi đây là nghề chữa bệnh cứu người. Đối với các nghề khác nếu mắc phải sai lầm có thể còn có cơ hội để sửa đổi, còn đối với nghề y, nếu xảy ra một lỗi lầm hay một thiếu sót dù rất nhỏ cũng có thể gây nên những tác hại lớn đến sức khỏe và thậm chí đến tính mạng của con người, mà người mắc lỗi có khi không còn cơ hội sửa chữa, khắc phục được nữa. Cho nên, người thầy thuốc không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải có tâm, có đức. Y đức là phẩm chất tốt đẹp, là giá trị cốt lõi của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh như chăm lo cho những người thân yêu trong gia đình của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu” nghĩa là người thầy thuốc đồng thời phải như một người mẹ hiền. “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu” (Thư gửi Hội nghị Quân y, tháng 3/1948).
Năm 1955, trong thư gửi cán bộ y tế toàn quốc, Bác viết: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe của đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ phải thương yêu, phải săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói đó rất đúng”.

Khi vào thăm Bệnh xá Vân Đình, Người căn dặn: “Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần. Có thuốc tốt thức ăn ngon còn cần có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt”.

Người nhắc cán bộ y tế: “Đừng ngại khó, ngại khổ. Phải lao mình vào chỗ bẩn để làm cho sạch, phải dấn thân vào chỗ đau để giảm bớt khổ đau, lương y phải như từ mẫu, phải dịu dàng khiêm tốn, không được hách dịch, ban ơn”.

“Lương y phải như từ mẫu” – lời dạy của Bác là yếu tố cốt lõi của đạo đức ngành y. Y đức thể hiện từ trong suy nghĩ đến hành động. Thực hiện theo lời dạy của Bác, người cán bộ y tế phải niềm nở, dịu dàng trong tiếp xúc với bệnh nhân; tận tình, cẩn trọng khi chăm sóc; ân cần, tỉ mỉ lúc dặn dò. Không được có thái độ coi thường, lạnh nhạt, dùng những lời nói vô lễ đối với người bệnh và gia đình người bệnh; không được đùn đẩy, gây phiền hà cho bệnh nhân; không được tùy tiện, qua loa, tắc trách,… dẫn đến bỏ sót bệnh, nhầm lẫn, sai sót có hại cho sức khỏe và tính mạng người bệnh,…

“Lương y như từ mẫu” là một lời khái quát ngắn gọn nhất về bản chất đạo đức của người thầy thuốc. Đó là tư tưởng quán triệt trong truyền thống y học Việt Nam từ Tuệ Tĩnh, Lãn Ông cho đến ngày nay. Trong lịch sử ngành Y tế, các thầy thuốc của thế hệ đi trước như Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Chung, Trần Hữu Tước, Đỗ Tất Lợi và thế hệ tiếp nối như Tôn Thất Bách, Lê Thế Trung, Đặng Thuỳ Trâm v.v.. đã để lại tấm gương sáng ngời về y đức, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp y học và y tế của nước nhà.

Đất nước bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển. Người thầy thuốc hiện nay đang phải đấu tranh với những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Thời gian vừa qua, hiện tượng “phong bì” đang diễn ra phổ biến trong các bệnh viện, làm xói mòn giá trị đạo đức của người hoạt động nghề Y. Người dân bức xúc trước sự thiếu trách nhiệm, thái độ thờ ơ, ứng xử thiếu tôn trọng đang có xu hướng gia tăng của một bộ phận cán bộ y, bác sĩ đối với người bệnh. Điều này trở thành nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, của những người thầy thuốc tâm huyết với nghề. Trước những cám dỗ của đồng tiền, người thầy thuốc phải giữ bản lĩnh của mình, nhìn thẳng vào căn bệnh, vào thể trạng bệnh nhân mà điều trị, không phân biệt giàu nghèo để có sự quan tâm như nhau, phải lấy tư tưởng y đức của Bác làm kim chỉ nam để không bị lầm đường lạc lối gây ra những buồn phiền cho người bệnh.

Thứ năm, xây dựng nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng; kết hợp Đông y và Tây y.

Người từng viết: “Trong những năm nước ta bị nô lệ, thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: Khoa học, dân tộc và đại chúng.

Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “đông” và thuốc “tây”. (Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, ngày 27/2/1955).

Ngày 16/1/1961, khi đến thăm Viện Nghiên cứu Đông y ở Hà Nội, Bác Hồ căn dặn: “Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được; thuốc ta chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc tây chữa được… Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa được bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thầy thuốc tây phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học Tây y… Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như người có hai cái tay, hai bàn tay cùng làm việc thì làm việc được tốt, cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào”. Đó chính là sự kết hợp giữa y học hiện đại và y học dân tộc.

Năm 1955, Hội nghị cán bộ y tế được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, vào đúng ngày 27/02/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị. Bức thư ấy đã trở thành tài sản vô giá của ngành Y tế nước ta. Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, ngày 06/02/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27/02 hàng năm làm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” và cũng kể đó, ngày 27/02 đã trở thành ngày truyền thống của ngành Y tế.

Thực hiện Chỉ thị số 06 – CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Quyết định số 01-QĐ/BCĐCVĐ ngày 22/10/2007, Ban Chỉ đạo Trung ương cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã chọn ngành y tế là đơn vị chỉ đạo điểm Cuộc vận động. Ngành y tế đã quán triệt sâu sắc rằng đây là một cuộc vận động chính trị lớn, là một chủ trương đúng đắn của Đảng, có ý nghĩa trước mắt và lâu dài, là cơ hội quý giá để ngành y tế tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục cán bộ công chức, viên chức nâng cao trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của mình theo lời dạy của Bác Hồ với tâm nguyện: Những người thầy thuốc Việt Nam chung lòng phấn đấu thực hiện lời dạy của Người đối với ngành Y tế Việt Nam “Lương y phải như từ mẫu”- tất cả vì sức khỏe của mỗi người dân, và của cộng đồng-một yếu tố cơ bản được tạo thành dân cường nước thịnh, quốc thái dân an.

Những tư tưởng sâu sắc của Người đối với ngành Y tế là di sản quý giá cho các thế hệ thầy thuốc Việt Nam, là nền tảng đạo lí của người làm nghề y, là định hướng đúng đắn cho mọi hoạt động xây dựng và phát triển ngành Y tế nước nhà. Trong giai đoạn hiện nay, hơn lúc nào hết, ngành Y tế cần đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” và xây dựng nền y tế nước nhà “hiện đại, hiệu quả, phát triển và công bằng”, góp phần làm cho đất nước phát triển hùng mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Trong những ngày này, đội ngũ cán bộ, công nhân viên phục vụ trong ngành Y tế trên cả nước đang hướng tới kỷ niệm 57 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 – 27/2/2012). Khắc sâu lời dạy của Người: “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”, toàn ngành Y tế Việt Nam đang nỗ lực không ngừng, ra sức thi đua phấn đấu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ nhân dân để xứng đáng với lòng tin yêu, dạy dỗ của Bác Hồ kính yêu, sự tin tưởng của Đảng, sự mong đợi của nhân dân và vì một đất nước Việt Nam hùng mạnh.

Thu Hiền

bqllang.gov.vn

Năm nội dung chủ yếu theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh ban hành 5 nội dung chủ yếu theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh để đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức thuộc các đảng bộ, chi bộ cơ quan, đơn vị trong Khối quán triệt và tổ chức thực hiện như sau:

1/ Đối với quê hương, đất nước: Phát huy hơn nữa truyền thống quê hương Quảng Bình “Hai giỏi”, yêu đất nước Việt Nam anh hùng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, thực hiện các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nói và làm đúng quan điểm, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chống suy thoái về đạo đức, dao động về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Chung sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam và quê hương Quảng Bình giàu đẹp.

2/ Đới với nhân dân: Phải gần dân, hiểu dân, trọng dân, học dân, vì dân; nêu cao ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân thể hiện bằng những việc làm thiết thực hàng ngày, tự mình làm gương để quần chúng nhân dân noi theo; tập trung giải quyết dứt điểm các công việc liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Chống các biểu hiện quan, hách dịch, gây phiền hà cho nhân dân.

3/ Đối với đồng chí đồng nghiệp: Xây dựng tinh thần tương thân, tương ái, yêu thương, đoàn kết, hợp tác với đồng chí, đồng nghiệp. Chống chia rẽ bè phái, cục bộ địa phương, cá nhân chủ nghĩa. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, xây dựng tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị và đoàn thể trong sạch vững mạnh, xây dựng môi trường công tác tốt.

4/ Đối với công việc: Phải tận tuỵ, gương mẫu, chủ động, sáng tạo, có trách nhiệm; xây dựng đức tính cần, kiệm, coi trọng chất lượng và hiệu quả công việc, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; chống lười biếng, ỉ lại; chống phô trương hình thức, chống lãng phí thời giờ và tiền bạc của Nhà nước, của nhân dân.

5/ Đối với bản thân: Phải thường xuyên học tập, rèn luyện; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng phẩm chất liêm, chính, khiêm tốn và trung thực; sống có nghĩa tình, thuỷ chung. Chống hối lộ, bê tha, mê tính dị đoan, nói không đi đôi với làm; chạy theo danh vọng, địa vị, lợi ích cá nhân thuần tuý; lạm dụng chức quyền để tham nhũng, làm điều bất chính. Làm tròn nghĩa vụ người công dân, xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá nơi công cộng; xây dựng gia đình văn hoá, cơ quan văn hoá.

quangbinh.gov.vn

Bác Hồ và “quê hương nghĩa trọng tình cao”

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Mỗi lần nói những lời trìu mến, thành kính về Bác Hồ kính yêu, chúng ta, bạn bè ta, nhất là các nhà khoa học, thường nêu câu hỏi: Những gì đã tạo dựng, hun đúc nên thiên tài Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất? Quê hương, gia thế của Hồ Chí Minh có vai trò thế nào trong việc hình thành nhân cách, trí tuệ, bản lĩnh của Người?.

Quê Bác nằm ở hạ lưu sông Lam của xứ Nghệ, nơi hội tụ của các trung tâm văn hóa vùng Bắc Trung bộ, nơi phát tích nhiều nền văn hóa cổ, một vùng văn hóa dân tộc học đặc sắc. Bác sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước, ở một vùng quê giàu truyền thống văn hiến và cách mạng.

Vùng quê ấy, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, thường xuyên đương đầu với muôn vàn giặc giã, thiên tai, trong khổ đau vẫn gan góc, trong mất mát vẫn kiên cường. Truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương đã ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến tuổi ấu thơ của Bác, đến việc hình thành nhân cách, tư tưởng của Người.

Người yêu quý, giữ gìn, nhập tâm nhiều làn điệu hát ví, hát dặm, hát phường vải của quê nhà. Người ưa lẩy Kiều và đã vận dụng nghệ thuật dân gian này đến độ sáng tạo, tinh tế. Người sử dụng rộng rãi, linh hoạt các thể loại văn học truyền thống, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân dã như:Tập Kiều, lẩy Kiều, tập cổ, thơ lục bát, thơ tự vịnh, thơ cổ điển, thơ mừng tuổi, thơ chúc Tết. Trong thơ văn, Người hay dùng tục ngữ, ca dao, dân ca, lối nói ví von, so sánh sinh động, dễ hiểu của nhân dân lao động.

Trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân lên hầu khắp các châu lục, nhiều quốc gia, nhiều nền văn hóa, thông thuộc nhiều thứ tiếng nước ngoài. Vậy mà một đêm ở Thái Lan xa xôi, Người thốt lên:

“Xa nhà chốc mấy mươi niên
Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.

Người vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, vang vọng của quê nhà. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người xúc động nói:

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Người không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, cây bưởi trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ – của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của bà…

Người nhớ và ghi sâu công đức người thầy khai tâm của mình, những kỷ niệm với người bạn câu cá, nhà ông thợ rèn, những buổi trưa thả diều, chăn trâu, đánh trận giả…

Người nhớ và nhắc giúp ca sĩ quê nhà hai câu cuối của một bài hát dân ca, về cách phát âm, cách luyến láy một số từ giọng Nghệ khi hát xướng. Trong bữa ăn thường nhật, Người ưa món tương, nhút, quả cà giòn tan, mằn mặn của quê xa.

Quê hương Người có rất nhiều truyền thống quý báu, mang đặc trưng văn hóa xứ Nghệ khó lẫn. Tuy nhiên, con người và vùng đất ấy cũng có những hạn chế khó tránh khỏi. Để khắc phục những hạn chế ấy, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, nhân dân tỉnh nhà rằng: Phải biết phát huy lòng yêu nước, tinh thần bất khuất trước địch họa, thiên tai, cần cù trong lao động, thủy chung trong nghĩa tình, giản dị, mộc mạc, ngay thẳng trong điều ăn lẽ ở.

Đồng thời cũng phải biết khắc phục tâm lý nông dân sản xuất nhỏ, manh mún, hẹp hòi; tiết kiệm quá thành hà tiện; ít giao tiếp nên dễ kém năng động; chỉ ham cái lợi nhỏ trước mắt mà không lo cái lợi to lớn, lâu dài; kiên định không đúng cách dễ trở thành bảo thủ, quan liêu, duy ý chí.
Hồ Chí Minh là tấm gương thanh cao về nếp sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dĩ công vi thượng. Nếp sống đó không chỉ có ở Người khi hoạt động cách mạng bí mật, gian khổ, hiểm nguy mà giữ nguyên vẹn khi Người đã là Chủ tịch nước yêu kính của dân tộc.

NGUYỄN THẾ KỶ
Theo tuoitre.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Phong cách, nhân cách nhà báo Hồ Chí Minh

… Cái thuở mà Le Paria “tung hoành” trong 38 số cách đây gần… 90 năm. Thời đó mà trang 4 của báo đã có đăng quảng cáo thuốc men, đăng giờ tàu đến và đi, quảng cáo cho các dụng cụ cắt cỏ… thì mới hiểu Nguyễn Ái Quốc đã “làm” báo vất vả và sáng tạo như thế nào.
Nhà báo đặc biệt

Trong thế giới đương đại, nếu phải bầu chọn nhà báo đặc biệt nhất thì chắc chắn người đó phải là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Trước hết, nếu nói về những nhà báo đi lên và thành công từ gian khổ, vất vả; trên thế giới có không ít, nhưng bôn ba gần khắp trái đất, làm hàng chục nghề khác nhau suốt 30 năm trời thì khó có thể tìm ra người thứ hai. Một nhà báo, viết bài báo đầu tiên trong đời – ngày 2.8.1919, báo L’Humanité, bài “Vấn đề người bản xứ” – khi chưa thật sự rành rẽ về ngôn ngữ (tiếng Pháp), đó cũng là Nguyễn Ái Quốc.

Điều đó nói lên rất rõ rằng, báo chí “đến” với Người, trước hết là bởi yêu cầu chiến đấu, dùng ngòi bút để làm đòn xoay chế độ, vì dân tộc, vì độc lập, tự do; xuất phát từ lòng dũng cảm và lòng yêu nước vô bờ bến. Hồ Chí Minh cũng là nhà báo có nhiều bút danh nhất thế giới với gần 200 bút danh khác nhau; thậm chí có những “bút danh” kỳ lạ như: Bé Con, Xung Phong, X.L., T.L., Một Người An Nam, Một Người Bạn, Hy Sinh (trên báo Độc Lập, 1941-1942)…

Hồ Chí Minh cũng là nhà báo viết rất nhiều (trên dưới 2.000 bài) và là nhà báo đạt đến vị trí lãnh tụ tối cao của một dân tộc, người sáng lập ra một chính đảng, một nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở vùng Đông Nam Á; đồng thời là nhà báo duy nhất được LHQ tôn vinh là Danh nhân văn hóa của thế giới. Hồ Chí Minh còn là nhà báo “kỳ lạ” nhất của hành tinh này: “Khởi nghiệp” bằng tiếng Pháp, tiếp tục bằng tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc; rồi sau đó mới viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Việt! Sau cùng, cũng rất cần nhắc đến một sự đặc biệt nữa của nhà báo Nguyễn Ái Quốc: Người vừa là chủ nhiệm của tờ báo “Người Cùng Khổ” (Le Paria) đồng thời là chủ bút, hoạ sĩ biếm họa, thợ rửa ảnh, thủ quỹ, phát hành, bán báo…

Dẫu chưa đầy đủ, nhưng những sự kiện được thống kê trên đây, rất đủ cho mỗi nhà báo Việt Nam hôm nay nói riêng, nhân dân ta nói chung hiểu rõ sự phi thường trong con người – nhà báo Hồ Chí Minh.

Phong cách Hồ Chí Minh

Với Hồ Chí Minh, mục tiêu, động lực để viết báo là rất rõ ràng. Tại Trường Chỉnh Đảng Trung ương ngày 17.8.1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, trước khi viết phải tự hỏi: “Vì ai mà mình viết? Mục đích viết là gì?”.

Sau này, trong Đại hội II của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 16.4.1959, Hồ Chí Minh khẳng định, Người viết báo là để “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu rõ ràng, động cơ sáng trong và ngọt lành như nắng ban mai; đó là điều đầu tiên làm nên nhân cách và sự thành công của một nhà báo vĩ đại. Với nguyên tắc “viết cho ai”, nên ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ của một lăng kính đa chiều, luôn hấp dẫn và mới mẻ.

Ở Pháp, viết cho thực dân đế quốc đọc, Nguyễn Ái Quốc chơi chữ rất tài tình. Chẳng hạn, sống ở Paris, Người đặt tên tờ báo là Le Paria – có nghĩa là “dưới đáy, người khổ sở tận cùng trong xã hội”. Thời kỳ sống và hoạt động ở căn cứ địa Việt Bắc, những bài báo của Người chủ yếu viết cho đồng bào miền núi đọc, nên ngôn từ lại trở nên mộc mạc, dễ hiểu. Chúng ta rất dễ nhận thấy một điểm đáng chú ý: Viết cho thanh niên, Hồ Chí Minh dùng ngôn ngữ của lớp trẻ; viết cho thiếu nhi là cách dẫn dụ mộc mạc của ngôn từ giản dị, viết cho nông dân là ngôn ngữ của chân quê…

Nhà báo Nguyễn Ái Quốc còn là một nhà báo rất năng động, nhạy cảm. Chúng ta hãy hình dung cái thuở mà Le Paria “tung hoành” trong 38 số cách đây gần… 90 năm. Thời đó mà trang 4 của báo đã có đăng quảng cáo thuốc men, đăng giờ tàu đến và đi, quảng cáo cho các dụng cụ cắt cỏ… thì mới hiểu Nguyễn Ái Quốc đã “làm” báo vất vả và sáng tạo như thế nào. Nên lưu ý rằng, theo tài liệu của mật thám Pháp, có lúc Le Paria phát hành đến 2.000 bản, một nửa được gửi cho các nước thuộc địa (!).

Phong cách của nhà báo Hồ Chí Minh còn là sự hiểu biết rất rộng, rất sâu mà lại rất gần gũi quần chúng. Đọc những bài báo của Người, chúng ta kinh ngạc về kiến thức: Từ Ấn Độ đến Palestine, từ Tunisia đến Hoa Kỳ, từ Trung Quốc đến Madagasca…; gần như cái gì Nguyễn Ái Quốc cũng hiểu một cách tường tận. Hiểu biết như thế, những bài báo không sắc, không sâu, không sinh động mới là chuyện lạ.

Sống mãi tinh thần Hồ Chí Minh

Bài báo sau cùng mà Hồ Chí Minh viết là bài: “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”, ký tên T.L, đăng trên báo Nhân Dân ngày 1.6.1969. Đó không hề là sự ngẫu nhiên. Nếu như bài báo đầu tiên Người viết là vì độc lập cho dân tộc Việt Nam, thì bài cuối cùng là “muôn vàn tình thương yêu” dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Ý chí chiến đấu mạnh mẽ và cái TÂM rộng lớn, sâu sắc ấy là điều cần nhất cho bất kỳ một nhà báo nào khi cầm bút.

Trong lần gặp mặt cuối cùng trước đông người – tại buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng LĐLĐVN) ngày 18.7.1969 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần nhắc đến báo chí. Lần thứ nhất, Người nói: “Bác xem báo Lao Động, có bài viết về chuyện một số công nhân nào đấy mỗi ngày chỉ làm rất ít giờ. Bác rất đau lòng”. Lần thứ hai, Bác đưa tờ báo Nhân Dân ngày 16.7.1969 ra để nói về chuyện báo đăng lời phê bình của công nhân là rất tốt.

Người nhắc thêm: “Báo Lao Động nên mở rộng mục này cho quần chúng phê bình trên báo. Như vậy, vừa bảo đảm quyền dân chủ công nhân, vừa nâng cao tinh thần chiến đấu của tời báo” (Hồ Chí Minh, TT, T.12, tr. 565-567). Có lẽ, cho đến tận hôm nay, chúng ta vẫn phải tự hỏi là mình đã làm đủ, làm đúng những gì Bác Hồ mong muốn hay chưa?

Trong thư căn dặn những người sắp trở thành nhà báo do Báo Cứu Quốc tổ chức năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những khuyết điểm của báo chí của ta như: Tuyên truyền không kịp thời, chính trị suông quá nhiều, không biết giữ bí mật, đôi khi đăng tin vịt, tờ báo không vui… Ngẫm lại, cứ ngỡ những điều Người nói như vừa mới diễn ra sáng nay! Vẫn còn không ít tờ báo “chính trị suông” quá nhiều, hay không biết cách để giữ bí mật quốc gia. Có báo thật buồn tẻ từ trang đầu cho tới trang cuối; thậm chí, người dân không còn muốn đọc nữa.

Gần 90 năm đã trôi qua kể từ khi Nguyễn Ái Quốc viết bài báo đầu tiên; 82 năm, kể từ khi Báo Thanh Niên ra số đầu tiên (21.6.1925), mở đầu cho dòng báo cách mạng của dân tộc; báo chí Việt Nam hôm nay đã phát triển mạnh mẽ về cả số lượng lẫn chất lượng. Chúng ta ghi nhớ công lao của nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh đồng thời cũng rất cần ghi nhớ thêm rằng, phong cách và tinh thần, tư tưởng và ý chí, tâm huyết và ngọn bút mẫn tiệp, sắc sâu của Người vẫn sống mãi với sự tươi mới, vững bền bất kể thời gian, vượt qua mọi không gian.

Với tư cách là một trong những đỉnh cao của báo chí thời đại, ngọn bút Hồ Chí Minh là ngọn tháp rực rỡ, là tấm gương sáng ngời để cho muôn đời sau hướng tới, bước tiếp trên con đường tươi đẹp của tổ quốc Việt Nam.

(Theo Hà Văn Thịnh – Lao Động )

quangbinh.gov.vn

Học tập cách viết báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu

“Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ Chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc…Cũng như Lê-nin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một Viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được…”

Trong lý lịch còn giữ tại kho lưu trữ của Quốc tế cộng sản trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi ở phần nghề nghiệp: “Nghề viết báo” bên cạnh một số nghề khác.

Một điều rất dễ nhận thấy là các bài viết của Bác Hồ thường ngắn. Phải có bản lĩnh, có trí tuệ phong phú mới viết ngắn được! Những bài báo của Bác được viết ra với một mục đích cụ thể là để người đọc Hiểu được – Nhớ được – Làm theo được. Và muốn thế, Người nói : “Muốn cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem”(1). Bác còn viết, nhiều người cứ tưởng mình viết gì, nói gì, người khác đều hiểu cả !.

Trong cách nói, cách viết, Bác Hồ luôn chú ý tránh những thông tin thừa, những gì mọi người đã biết rồi thì Bác không viết nữa. Trong nhiều cuộc nói chuyện Bác thường nói : “Ðiều đó, chắc các cô, các chú đã hiểu, Bác không nói nhiều”. Trong những bài viết, Bác thường dùng những câu ngắn, giản dị, sáng rõ. Trong bài “Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà” ngày 22 tháng 9 năm 1945, in trên Báo Cứu Quốc số 49, Bác Hồ chỉ viết có 192 từ. Thư gửi Báo Thiếu Sinh số 1, tờ báo của trẻ em đầu tiên, Bác chỉ viết có 49 từ. Thư gửi các vị phụ lão ngày 20 tháng 9 năm 1945, Bác viết có 299 từ. Ngay đến một văn kiện quan trọng bậc nhất, đó là Bản Tuyên ngôn độc lập – Một văn bản lập quốc vĩ đại, đọc tại Ba Ðình lịch sử ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ viết có 1025 từ.

Là một người được làm việc gần Bác trong nhiều năm, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ chủ tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khẳng khái, thấm thía, đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim và khối óc của người ta; hình thức sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc và tính nhân dân. Người rất ghét văn chương sáo rỗng, nhạt nhẽo, rất ghét nói và viết dài dòng, khó hiểu, lung tung, lằng nhằng, và kiên quyết phản đối dùng chữ nước ngoài không cần thiết”.

Bác Hồ rất hay vận dụng ngôn ngữ và cách nói của quần chúng. Bác thường khuyên: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới lọt tai quần chúng. Vì cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực mà lại giản đơn(2). Chúng ta đều biết, những thành ngữ, ca dao tục ngữ vốn là sản phẩm của quần chúng lao động, là phương tiện biểu hiện tư tưởng, tình cảm, có từ rất lâu trong đời sống lao động của con người. Nó từ quần chúng, và đi vào quần chúng rất dễ dàng, thấm thía. Những câu viết của Bác giản dị, sâu sắc và đi thẳng vào lòng người, khiến người đọc chỉ một lần đã nhớ.

Lần nào nói chuyện với các nhà báo, Bác cũng nhắc nhở, báo chí của ta còn nhiều bài viết dài dòng quá. Bác phê bình cái lối viết “rau muống” và còn “ham dùng chữ”. Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Ba tháng thì nói “tam cá nguyệt”, xem xét thì nói “quan sát”, máy bay thì nói “phi cơ”, người đánh cá thì nói “ngư dân”, nhà in lại in nhầm chữ ư thành chữ u, thế là do bệnh dùng chữ mà người đánh cá hoá thành ngu dân !(3). Bác nhắc nhở những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta.

Nhưng đến nay, đọc các báo chúng ta vẫn còn thấy bệnh dùng chữ nước ngoài, và hình như gần đây bệnh đó lại có xu hướng lan tràn hơn! Bác Hồ là người hết lòng yêu mến, quý trọng tiếng Việt và tin tưởng vào khả năng to lớn của tiếng Việt. Bác đã nói: “Tiếng nói là thứ của cải lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”(4).

Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Văn chương của Hồ chủ tịch đã in sâu lên thời đại chúng ta.Nó chung đúc đến độ tinh vi cái đẹp bình dị của văn chương vô sản. Nó kết hợp một cách kỳ diệu những tư tưởng khoa học với điệu cảm, cách nói dân tộc”(5).
Nhà văn Nguyễn Ðình Thi viết: “Khi Hồ Chủ tịch nói, là nhà hiền triết và người thi sĩ trong lòng mỗi người dân nói lên, vì tiếng nói đó động thấu những niềm sâu xa và đẹp đẽ nhất của lòng người”(6).

Nhà văn hóa Hà Huy Giáp cũng viết: “Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc.Cũng như Lênin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được”(7).

————————————-

(1)”Nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí” Báo Nhân Dân số 3095 ngày 9-9-1962
(2) “Sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 5 trg 301.
(3) Bài nói của Bác Hồ tại Ðại hội lần thứ 2 Hội Nhà báo Việt Nam-HCM toàn tập-tập 9 trg 415
(4) Bài nói của Bác Hồ tại Ðại hội lần thứ 3 Hội Nhà báo Việt. HCM toàn tập-tập 10 trg 615
(5) Sách đã dẫn. NXB Giáo dục 1997-trg 217.
(6) “Hồ Chủ tịch, Nhà Văn hóa của Nhân dân” Nguyễn Ðình Thi Báo Văn nghệ số 23-Tháng 5 – 1950.
(7) Sách đã dẫn-NXB Giáo dục 1997-trg 123.

Theo Bùi Công Bính
Báo Thái Bình online
Huyền Trang (st)

nhoNguoicha

Lựa chọn, sử dụng cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Người còn là vị lãnh tụ, người thầy của lớp lớp cán bộ cách mạng ưu tú của Đảng, của cách mạng Việt Nam.

Một số cán bộ sau này trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, của Nhà nước. Những lời dạy của Người về cán bộ và công tác cán bộ đến nay còn có ý nghĩa thiết thực cho mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay học tập, rèn luyện, để phục vụ đất nước.

315634080569472656250.jpgCán bộ là cái gốc của mọi công việc (Hồ Chí Minh). Ảnh: Tuấn Anh

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của cán bộ. Người cho rằng: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”([1]). Chính vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”([2]) nên việc lựa chọn cán bộ phải tuân theo những tiêu chuẩn nhất định như phải có đạo đức cách mạng, phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của nhân dân; có mối liên hệ mật thiết với nhân dân, hiểu biết nhân dân, luôn chú ý đến lợi ích của nhân dân; người cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, có trí tuệ, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi, chí công vô tư… Những đòi hỏi này có thể coi là những tiêu chuẩn cơ bản chung nhất của người cán bộ cách mạng trong tất cả các thời kỳ, ở tất cả các cấp, ở tất cả các địa bàn. Với những yêu cầu này, các cấp, các ngành, các địa phương có thể vận dụng để đề ra tiêu chuẩn cụ thể để lựa chọn cán bộ cho ngành mình, địa phương mình, cấp mình.

Có thể thấy, dù yêu cầu của lịch sử, nhiệm vụ của cách mạng, quyền lợi của nhân dân, ở mỗi thời điểm có thay đổi, tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh vào hai chữ Đức và Tài. Bởi cán bộ có đức thì mới chí công vô tư trong cách làm việc và cán bộ cần có tài, đủ năng lực để lãnh đạo nhân dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là đạo đức. Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Người đã phân tích sâu sắc vai trò đạo đức, coi đó là tiêu chuẩn đặc biệt quan trọng mà Đảng, chính phủ và các đoàn thể phải quan tâm để lựa chọn, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng. Người thường nói: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”([3]). Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, vì mọi việc thành hay bại, điều chủ chốt là ở cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không, vì tính xấu của một người thường chỉ hại cho người ấy, còn tính xấu của cán bộ, đảng viên sẽ hại đến Đảng, đến cách mạng, đến nhân dân. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên phải hiểu rõ bổn phận của mình là suốt đời hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đấy mới là người cán bộ tốt, có tâm, có đức.

Trong khi coi đạo đức là gốc, là nền tảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời đánh giá rất cao và coi trọng tài năng. Tài không giản đơn thu gọn ở bằng cấp, học vị. Người tài trước hết phải có hoài bão, có động lực mạnh mẽ, có sự thôi thúc là phải làm được một cái gì đó cho đất nước, cho nhân dân. Trong quá trình thực hiện hoài bão đó, người tài cũng tìm được hạnh phúc cho bản thân thông qua công việc của mình.

Hai mặt đạo đức, tài năng trong tư tưởng Hồ Chí Minh có quan hệ mật thiết: đạo đức là cơ sở của tài năng, định hướng tư tưởng, hành động, đem tài năng phục vụ nhân dân. Người nói: “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô, hủ hóa có hại cho nước. Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”([4]). Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sau một đêm suy nghĩ đã ký bác đơn chống án của Trần Dụ Châu (nguyên là Cục trưởng Cục Quân nhu đã lợi dụng chức quyền tham ô, bớt xén của công để ăn chơi, hưởng thụ và bị kết án tử hình), chính là hành động kiên quyết của Người trong việc chống tham nhũng trong cán  bộ, đảng viên.

Với quan điểm “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, nên ngay sau khi cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề chống nạn dốt là vấn đề cấp bách thứ 2 của nhà nước sau vấn đề nạn đói. Bác kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc thông thái. Đặc biệt, Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”. Người chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước phồn vinh. Đó là con đường phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, Người còn coi trọng chính sách sử dụng nhân tài. Nhìn lại thời điểm năm 1946, khi Người qua Paris với tư cách là Chủ Tịch nước Việt Nam độc lập, thượng khách của nước Pháp. Đó cũng là thời điểm cuộc đàm phán chính thức Việt-Pháp (Hội nghị Phôngtennơblô) diễn ra. Dẫu không tham dự, Người vẫn theo dõi sát sao từng diễn biến của cuộc đàm phán và cho những ý kiến chỉ đạo kịp thời. Cuộc đàm phán thất bại, đẩy chúng ta vào tình thế vô cùng khó khăn là không còn con đường nào khác ngoài con đường cầm vũ khí chống lại thực dân Pháp.

Từ nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc để cùng toàn dân kháng chiến. Sự kiện đáng chú ý trong thời gian Người ở Pháp là Người đã cảm hoá và đưa về nước được những trí thức lớn của đất nước như Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước,… Sau đó, với tư cách là Chủ tịch nước, Người đã ra chỉ thị cho các địa phương phải tìm người hiền tài ra gánh vác công việc cho nước, cho dân. Chúng ta có thể cảm nhận được chính sách “chiêu hiền đãi sĩ”, “cầu người hiền tài” của Người qua những lời cảm kích sau đây: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức. Nghe vì Chính phủ nghe không đến, thấy không gấp đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận”([5]).

Đi theo tiếng gọi của Người, rất nhiều trí thức Việt Kiều về nước và những trí thức trong nước đã từ chối cuộc sống giàu sang, đầy đủ vật chất, danh vọng của chế độ tư bản để chấp nhận gian khổ hy sinh cùng với dân tộc mình. Những năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lưu ý đến quy trình lựa chọn, sử dụng cán bộ kiểu mẫu như những tiêu chí mà Người đề ra trong cuốn Sửa đổi lối làm việc viết vào tháng 10/1947. Những tên tuổi trí thức nho học và tây học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chinh phục như Huỳnh  Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Giám, Lương Định Của, Phạm Huy Thông, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Hoàng Xuân Sính,… đều đã trở nên những người con kiên trung cho Tổ quốc, thành vốn cán bộ quý cho Đảng, cho Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Tư tưởng về tài và đức của Bác đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn sáng mãi tính khoa học, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, là bài học vô cùng quý giá cho chúng ta noi theo trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước có cả cơ hội và thách thức đan xen ngày hôm nay. Phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến, ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” vẫn đã và đang diễn ra. Cách thức sử dụng và bổ nhiệm cán bộ của chúng ta còn nhiều quan liêu, tiêu cực, thoả hiệp dễ dãi theo cơ cấu. Rất nhiều người có tài đức không được bổ nhiệm, giao nhiệm vụ hoặc có được bổ nhiệm lại trái chân. Cách đánh giá và tuyển chọn cán bộ ở nhiều ban ngành cơ quan còn dựa vào tiêu chí thân quen, bằng cấp, chân truyền chứ không căn cứ vào thực chất, khả năng trí tuệ sáng tạo của những người cán bộ thực sự cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hậu quả của phương thức sử dụng, bổ nhiệm cán bộ sai lầm này góp phần làm nảy sinh nhiều bất cập trong cơ chế và tiêu cực trong đời sống xã hội. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống dẫn đến sự quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra rất nghiêm trọng.

Chính vì thế, hơn lúc nào hết, trong bối cảnh hiện nay, việc lựa chọn đội ngũ nhân sự của Đảng gồm những người biết lo cái lo của dân, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư như Bác Hồ kính yêu của cả dân tộc ta đã răn dạy càng cần thiết. Chỉ có những công bộc thực sự của dân và vì dân như vậy mới đáp ứng được mong muốn của nhân dân và tập hợp được cả dân tộc thành một lực lượng hùng hậu để xây dựng đất nước Việt Nam hùng mạnh, làm cho dân tộc ta sánh vai được với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn.

Bùi Kim Hồng
Giám đốc khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

hochiminhhoc.com

Hình ảnh Bác Hồ trong lòng đồng bào các dân tộc thiểu số qua ca dao

Trong lịch sử văn học dân tộc và thế giới, chưa có danh nhân nào được “ca dao hóa” nhiều như Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Nhà thơ Lê Anh Xuân đã từng viết:

Điệu lục bát, khúc dân ca
Việt Nam là Bác, Bác là Việt Nam

Sinh thời, Bác rất thích dùng ca dao, tục ngữ trong các bài viết của mình để mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tuyên truyền cách mạng. Những ngày bệnh trọng, Bác vẫn thèm nghe “một câu hò xứ Nghệ” – một khúc hát dân ca. Ngay trong bản “Di chúc” thiêng liêng trước lúc đi xa, Người vẫn còn dặn lại đồng bào, đồng chí bằng một câu ca dao lục bát biến thể:

Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Có thể nói: Bác và Ca dao, Ca dao và Bác đã có sự “hóa thân” hài hòa và nồng thắm. Còn gì đẹp hơn, tự hào hơn khi nhân dân ta từ núi rừng, hải đảo xa xôi tới bưng biền Đồng Tháp đã dành những vần ca dao chứa chan tình nghĩa, biết ơn về Bác để dâng lên Người:

Bác Hồ là vị Cha chung
Là sao Bắc đẩu, là vầng Thái dương.

Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: “Bác sống như trời đất của ta”, Bác như ánh sáng, như khí trời không thể thiếu được trong cuộc đời mỗi con người Việt Nam, và ai cũng cảm thấy:

Tự hào biết mấy Bác ơi
Bác cho con cả cuộc đời tự do.

Hình ảnh Bác Hồ trong ca dao của đồng bào các dân tộc thiểu số được thể hiện trước hết là ở chỗ: Bác Hồ là hiện thân của sự đoàn kết dân tộc. Trong “Thư gởi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam” họp tại Plây Ku ngày 19-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xơ đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ có nhau, no đói giúp nhau”.

Đồng bào Tây Nguyên đã có bài ca dao về Bác Hồ với những so sánh liên tưởng thật xúc động:

Hồ Chí Minh – người là con sông lớn
Người là mặt trời, Người là mặt trăng
Mùa lạnh nhắc tên Hồ Chí Minh – cái bụng ấm
Mùa nắng nhắc tên Hồ Chí Minh – mây thêu mặt trời hồng
Mùa thu nhắc tên Hồ Chí Minh – mây lắng trời trong
Mùa xuân nhắc tên Hồ Chí Minh – cây cỏ đâm nhựa trổ bông.
Người dân Tây Nguyên nhận ra rằng:
Vùng Tây Nguyên rừng thiêng nước độc
Tám, chín năm ở với Bác Hồ lúa mọc đầy nương
Ba năm ở với “quốc gia” khổ sở trăm đường
Nay bắt phu, bắt lính, nói gạt nói lường hại dân
(Ca dao dân tộc Mơ- Nông)

Người Hơ-rê chất phác, nói “bụng Bác Hồ” đẹp hơn cả hoa Ê-pan nhất buôn, nhất rừng của họ. Cũng như người Ê-đê thấy “bụng Bác Hồ” tốt với dân tộc mình thế nào. Họ cho thấy:

Người cứu dân tộc mình
Cho suối đánh đàn, cho hoa Gơ- ma nở
Cho nương đầy lúa, rẫy đầy khoai
Cho núi sông đầy cá nước hoa ngàn
Cho con gái cườm đeo quanh cổ
Là Bác Hồ Chí Minh!
(Ca dao dân tộc Ê-đê)

Đồng bào dân tộc Êđê, Giarai, Ba-na cũng thường hát:

Người Ê đê chưa gặp mặt Bác Hồ
Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ
Người Gia rai chưa được ra miền Bắc
Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ

Vì vậy mà, chỉ cần nhắc đến tên Bác:

Lên rừng nhắc tên Hồ Chí Minh/quên cả chân chồn, leo dốc nhanh
Xuống đồng nhắc tên Hồ Chí Minh/cấy lúa suốt ngày không thấy mệt
Bữa ăn nhắc tên Hồ Chí Minh/đôi đũa và cơm như và ngọc
Nằm ngủ nhắc tên Hồ Chí Minh/ trời tan bóng tối, ấm năm canh.
Đồng bào Hơ rê thấy được tấm lòng của Bác, thấy “bụng Bác Hồ đẹp hơn nhiều”
Con chim Prắc kêu to/ Con chim Siên kêu nhỏ
Nước nhiều nguồn đã họp thành sông
Người khác nhau đã thành một chi
Ở mỗi ngả nhưng cùng một Bok Hồ
Nước chảy mãi về sông…
Hỡi hoa ê pang soi mình bến nước
Mày đẹp nhất rừng, mày đẹp nhất buôn
Nhưng bụng Bác Hồ còn đẹp hơn nhiều
– Bụng Bác Hồ đẹp hơn hoa ê pang
Bác Hồ dạy khắp nơi đoàn kết
Bụng Bác Hồ còn đẹp quý hơn chiêng
Bác Hồ bảo là cơm no áo tốt.
Và đồng bào đã thể hiện tấm lòng theo Bác, theo Đảng một cách chất phác:
Người Tây Nguyên/ Đã giữ rừng. Đốn cây to phải ngã
Tát suối sâu phải cạn
Nhổ cỏ không còn rễ dưới chân
Người Xơ đăng không theo con cú vọ
Người Nơ ngao không theo con diều hâu
Chúng ta theo hoa đỏ/ Chúng ta theo Cụ Hồ.

(Đồng bào Hơ rê)

Bác Hồ ơi! Bác Hồ ơi!
Người Ka dong nhớ lời Bác dạy
Cố bắt con vắt cho sạch
Cố đuổi con cú cho bay
Mong Bác về rừng núi Tây Nguyên
Để dân làng mang chiêng cồng đi đón
(Đồng bào Ka dong)

Đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng, Mông… ở Việt Bắc, Tây Bắc luôn cảm nhận được tình cảm của Bác dành cho họ:

Đất nước ta có Cụ Hồ
Cụ Hồ thương dân đất Mường ta, sông bể không bằng
Qua nghìn hoạn nạn mới được như ngày hôm nay

Đồng bào Khmer, Chăm, Hoa cũng luôn tin tưởng và biết ơn Bác:

Cụ Hồ với dân như chân với tay
Như chày với cối, như cội với cành

hay:

Nhưng rồi ngẫm lại mà coi
Có Đảng, có Bác, châu chấu đá voi lộn nhào
Hoặc đồng bào nói cụ thể hơn:
Ai về nhắn nhủ cùng ai
Có Đảng, có Bác chẳng sợ chông gai bùn lầy.

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Lời Bác rất thấm thía. Biết nói làm sao hết những lời ca cất lên từ đáy lòng của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Bác.

TRẦN XUÂN TOÀN

sites.google.com

Giá trị minh triết Hồ Chí Minh

1.   Phương pháp tạo dựng lâu dài tri thức

Phạm Văn Đồng đã từng khái quát: “Hồ Chí Minh, người tiểu tư sản nông thôn bởi nguồn gốc xuất thân, trở thành người công nhân bởi cuộc sống và lập trường giai cấp, người có hiểu biết rộng lớn và sâu xa về nhiều mặt bởi quá trình học tập, người chiến sĩ cách mạng quốc tế hội tụ được trong mình cả sức vùng lên của các dân tộc bị áp bức và chất tiền phong của giai cấp công nhân châu Âu”(1).

Do đặc tính đó, Hồ Chí Minh là tấm gương tiếp thu tinh hoa dân tộc và thế giới, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, xã hội và con người. Kinh qua Hồ Chí Minh, “tinh hoa của thế giới đã Việt Nam hóa rồi, đã mượn hình dáng, bộ điệu, ngôn ngữ Việt Nam, cho đến tinh thần Việt Nam nữa” (Phạm Văn Đồng).

Nhà sử học Charles Fourniau, nguyên Tổng thư ký Hội hữu nghị Pháp – Việt, trong tác phẩm Hồ Chí Minh – người đồng chí của chúng ta(2), cũng hết sức ca ngợi tinh thần Việt Nam hóa của Hồ Chí Minh, khi phân tích bài Kính cáo đồng bào (6/1941) của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) sau khi mặt trận Việt Minh ra đời. Theo tác giả, những lời hiệu triệu quốc dân trong bài Kính cáo này “có sức sáng tạo kỳ lạ, vừa bắt nguồn từ truyền thống phong cách Khổng học, vừa kết hợp truyền thống Jacobins của Pháp; một số câu chữ trong bài không thể không nhớ tới lời kêu gọi quần chúng nổi dậy 1793” (tức 4 năm sau cách mạng Pháp 1789).

Những lời bình luận tương tự như vậy có khá nhiều trong dư luận thế giới đối với Hồ Chí Minh về sự kết hợp nhuần nhị nhiều yếu tố và kiểu dáng tinh hoa của dân tộc và quốc tế, xưa và nay; không phải chỉ qua văn bản, phương châm hành đồng mà với cả phong cách sống của bậc “hiền triết hiện đại – Hồ Chí Minh” (Sékou Touré). Trong buổi tiếp truyện nhà văn I. Taber (7/10/1965) – người dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du ra tiếng Đức – Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm truyền thống – hiện đại của mình: “Người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển. Có những ngọn suối tiến bộ chảy từ ngọn núi tiến bộ đó. Càng thấm nhuần chủ chủ nghĩa Mác – Lênin càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông”(3).

Sự tích hợp phong phú trí thức nào về Đông – Tây, kim cổ cũng đòi hỏi một sự kiên trì tìm tòi học tập; và sự kết hợp nhuần nhị các dạng tinh hoa nào cũng đòi hỏi tinh thần sáng tạo bền bỉ. Hồ Chí Minh là một con người như vậy. Đối với Người, trường học mới chỉ là cánh cửa đầu tiên giúp con người đi vào lâu đài văn hóa. Từ những cánh cửa này con người bước tiếp vào những cánh cửa của cuộc đời, thấy được ánh sáng tỏa ra trong hàng hàng pho sách, trong cái xô bồ, bề bộn, phức tạp và tinh vi của hiện thực mình đang sống, đang vật lộn để sinh tồn và phát triển. Và từ những tích lũy tri thức để trở thành kho kiến thức, kho kinh nghiệm, Hồ Chí Minh tự soi rọi mình và nâng cao mình, cho mình một quan niệm sống và lẽ sống, một cách nhìn đối với thế giới xung quanh và xác định một hướng đi trên con đường mình lựa chọn. Thu nhận kiến thức từ sáng tạo của lịch sử, của con người, rồi với thiên tài nhiều mặt, Hồ Chí Minh lại sáng tạo nên một kỳ tích, mang đậm dấu ấn riêng, giúp ích cho đời và thúc đẩy lịch sử theo qui luật tiến hóa.

Hồ Chí Minh đã tự khẳng định với mình và khuyên các đồng chí của mình: học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Trả lời một câu hỏi: “Học ở đâu?” Người nói: “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học ở nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(4). Đạt được mục đích ấy, ở Người là một nghị lực phi thường cộng với tinh thần sáng tạo đổi mới để có thể nghe được, thấy được, nhìn nhận được và xác định được con đường phải đi và đến. Vượt trên tất cả những mặt ấy là sự thôi thúc của tình yêu dân tộc, đất nước, tình nhân ái bao la đối với lớp người cùng khổ, sự cảm thông và chia sẻ với các bộ phận nhân loại còn bị đè nén và sống kiếp cơ hàn. Từ gia đình và những nho sĩ bạn thân của gia đình, từ trường học và trường đời diễn ra trên đất nước nô lệ, đến mọi thủ đô, kinh thành, thị trấn, hải cảng và làng mạc mà Người đã sống, đã đi qua trên khắp các lục địa, đều để lại những dấu ấn sâu sắc trong kho tàng tri thức Hồ Chí Minh. Từ những nghề lao động chân tay và lao động trí óc mà Người đã kinh qua, từ đủ mọi loại người mà Người gặp gỡ, giao thiệp và kết bạn trên khắp các nẻo đường Á, Âu, Phi, Mỹ, từ các tôn giáo chính thống mà Người có quan tâm, từ các phong trào cách mạng và phong trào công nhân mà Người đã nghiên cứu, từ các tác phẩm văn hóa, văn học tiêu biểu qua nhiều thời đại của phương Đông và phương Tây mà Người đã đọc… đều góp phần tạo nên một vóc dáng vĩ nhân Hồ Chí Minh.

Là người có chí khí, luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo, Hồ Chí Minh thường xuyên đặt câu hỏi và quyết tâm tìm lời giải đáp cho kỳ được. Tham gia phong trào Duy Tân ở Huế lúc còn là học sinh ít tuổi, nhưng rồi Hồ Chí Minh không tán thành con đường cứu nước của các sĩ phu trong các phong trào Cần Vương, Văn Thân. Chịu ảnh hưởng của cụ thân sinh là nhà khoa bảng Nguyễn Sinh Sắc, Hồ Chí Minh đã thấy được chế độ quân chủ không còn thích hợp, nhưng vẫn tìm thấy cái mới trong việc đề cao tân học, bác bỏ cựu học của phong trào cải cách theo hướng quân chủ lập hiến, do Khang Hữu Vi và Lương Khải Phiêu đề xướng. Đả phá tư tưởng thiên mệnh, định mệnh nhưng Hồ Chí Minh đưa nội dung mới vào quan điểm nhân – nghĩa… của đạo Nho. Không tán thành chế độ tư sản nhưng Hồ Chí Minh thiết tha với phương châm “Tự do, bình đẳng, bác ái” của Cách mạng Pháp 1789, với chủ trương “Tam dân” (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa (1911) do Tôn Trung Sơn làm thủ lĩnh. Sau này, khi tìm được cẩm nang trong Luận cương chính trị của Lênin về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh nhìn thấy được ánh sáng thật sự ở chân trời và từ đấy, mở ra con đường cứu nước cứu dân, sát hợp với thực tiễn dân tộc.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã cảm thấy được rằng, chân lý tuy có một nhưng chính nghĩa có nhiều, phải biết chắt lọc những tinh hoa từ chính nghĩa để bổ sung cho chân lý. Một tình thương người bao la của Giê-su, của Thích Ca, một đức tính khiêm nhường, bình dị của Găng-đi, một Lênin nhân hậu và triệt để cách mạng, một lối sống thanh thản trong tâm hồn và tình yêu thiên nhiên ở các nhà hiền triết phương Đông, v.v… đều đi qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một vĩ nhân vào loại đặc biệt của thế kỷ XX.

Nhiều người đã gọi Hồ Chí Minh bằng nhiều danh vị văn hóa khác nhau và danh vị nào cũng đúng: nhà thơ, nhà văn, nhà sinh ngữ, nhà văn hóa, nhà báo, nhà chính luận, nhà viết kịch, cây bút châm biếm. Không hẳn phải có sự lịch lãm nhiều mặt của văn hóa mới thành nhà văn hóa lớn, nhưng rõ ràng ở nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh có bao trùm nhiều lĩnh vực rộng lớn của văn hóa.

Hồ Chí Minh đã trở thành một hiện tượng văn hóa, như nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nhận định. Đó là sự kết hợp hài hòa nhiều phong thái rất khác nhau trong một con người, dù trải qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử: “vừa dân tộc vừa quốc tế; vừa rất mực nhân từ vừa triệt để cách mạng; rất uyên bác và cực kỳ khiêm tốn; rất nguyên tắc và chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược; vừa nhìn xa trông rộng vừa thiết thực, cụ thể; vừa vĩ đại vừa vô cùng bình dị; vừa là chiến sĩ vừa là nhà thơ” (Võ Nguyên Giáp).

Các giá trị văn hóa tinh thần của Hồ Chí Minh, về cơ bản vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới. Tất nhiên lịch sử đã sang trang, các giá trị tinh thần ấy phải được phát triển và nâng cao cho mọi phù hợp với giai đoạn cách mạng, nhất là đối với các luận điểm cụ thể của Người về văn hóa nghệ thuật, văn hóa đạo đức, văn hóa lối sống, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa quản lý, v.v…

2.   Phong cách lý luận: từ thực tiễn “cây đời”

Có người băn khoăn: Hồ Chí Minh là nhà thực tiễn, nhà hành động, hay còn là nhà lý luận? Hiểu vấn đề này một cách tương đối chính xác, không gì bằng trở lại với những nguyên tắc tạo thành lý luận và quan điểm lý luận như thế nào là đúng đắn. Đó là cơ sở triết học của một hệ tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực hoạt động; là kinh nghiệm của loài người được đúc kết thành một quan niệm khái quát; là tổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội và con người được tích lũy. Lý luận nào cũng được kiểm nghiệm qua thực tiễn đời sống của mọi lĩnh vực. Rồi kinh qua thực tiễn, lý luận được bổ sung và điều chỉnh, làm phong phú kho tàng hệ tư tưởng. Do đó, thực tiễn là bầu sữa nuôi sống thực tiễn. Từ nguyên tắc chung về lý luận, sắc thái lý luận của một hệ tư tưởng, mỗi nền văn hóa có khác nhau; hoặc cùng chung một hệ tư tưởng song phong cách lý luận của mỗi người có khác nhau do nhiều yếu tố chi phối, chủ yếu là phương pháp tư duy và nghệ thuật khái quát…

Lý luận mang tính tư biện để trở thành lý thuyết suông là hoàn toàn xa lạ với quan niệm về lý luận gắn với thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh từ sớm đã thấu triệt quan niệm đó. Cách đây trên 40 năm, nhà nghiên cứu Pháp Gabriel B. Nonnet trong tác phẩm Việt minh – Hồ Chí Minh(5) đã nhận xét: Hồ Chí Minh đã tiếp nhận nhiều ở các nền văn hóa, giáo dục phương Tây nhưng hoàn toàn không đi vào con đường kinh viện. Do đọc nhiều, đi nhiều, và sử dụng thông thạo các tiếng Pháp, Anh, Hoa, Nga… đã hình thành ở ông một kiểu tiếp nhận hiệu quả và sâu sắc. Giáo sư triết học và xã hội học Nhật Bản, trong bài Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng, đọc trong cuộc mít tinh ở Tokyo ngày 25-9-1969, tỏ lòng thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cũng đã viết đại khái như thế: “Đọc các tác phẩm của cụ Hồ Chí Minh, tôi thấy các tác phẩm ấy đã phát triển lý luận không theo một cách uyên bác xa xôi, mà viết bằng những lời lẽ giản dị và những câu ngắn gọn. Những viên ngọc quý nhất được khảm trong các tác phẩm của Người (…) bao gồm lý luận về chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, lý luận về công tác quân sự, về chủ nghĩa xã hội, về Đảng, v.v…”(6).

Thực ra, với các luận điểm triết học trong nhiều hệ tư tưởng, các trào lưu giải phóng dân tộc và giai cấp, các nền văn hóa, giáo dục mà Hồ Chí Minh đã có dịp học hỏi, cọ xát và suy ngẫm, đều có ảnh hưởng đến phong cách lý luận của Người, một người Việt Nam mẫu mực thấm nhuần truyền thống và tinh hoa dân tộc.

Hồ Chí Minh tuy không có những tác phẩm và chuyên đề lý luận, song nếu không xuất phát từ lý luận giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội, thì làm sao Người có thể đề ra luận cương, chiến lược và sách lược cho cách mạng Việt Nam, từ Dân chủ nhân dân đến Chủ nghĩa xã hội. Chính là xuất phát từ lý luận, gắn với nhãn quan chính trị nhạy bén và thực tiễn dân tộc, ngay từ năm 1942 Hồ Chí Minh đã khẳng định là Việt Nam sẽ dành được độc lập trong năm 1945. Đó là lúc mặt trận Việt Minh sau khi ra đời đã hoạt động trong hoàn cảnh phát xít Nhật đã tràn vào Đông Dương, và ở châu Âu mặt trận Đồng minh đang bắt đầu phản công quyết liệt phe Trục phát xít. Lời khẳng định của Người đã trở thành tiên tri. Cho đến bây giờ, các giới nghiên cứu Việt Nam chưa ai lý giải được sâu sắc là Hồ Chí Minh bằng lý luận như thế nào để có được lời dự báo chính xác đó. Hệ thống các luận điểm của Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa – văn nghệ đều xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin theo đặc điểm dân tộc trong nhiều giai đoạn. Hồ Chí Minh đã nổi tiếng trong tranh luận về việc thành lập Đệ tam quốc tế và thành lập các tổ chức quốc tế về công nhân, nông dân, thanh niên các nước thuộc địa và Hội các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Hồ Chí Minh cũng nổi tiếng là một nhà bút chiến với nhiều chính khách thực dân và nhiều nhà cách mạng theo tư tưởng cải lương, dưới các bút danh Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy… Chả nhẽ tranh luận và bút chiến lại tách rời lý luận? Hơn nữa, Người thường nhắc nhở: “Phải học tập lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày…”(7).

Có điều, lý luận ở Hồ Chí Minh không đi vào khái niệm trừu tượng, thuật ngữ và cách diễn đạt không theo ngôn ngữ triết học như các nhà lý luận xưa nay. Với một phong cách tư duy khoáng đạt, bình dị và trong sáng như Hồ Chí Minh, điều đó thật dễ hiểu. Đó cũng còn là quan điểm lý luận của Người. Thời gian hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, trong một bài phê phán các luận điểm sai lầm của ông H. trong tập bản thảo Cách mệnh, Người có nói: “Dùng điển tích là tốt nhưng nếu quá lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất sâu xa, thâm thúy của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ, có thể làm người ta hiểu nhầm(8).

Hồ Chí Minh thích dùng hình ảnh hoặc diễn tả thành hình tượng mang tính triết lý để khái quát bản chất một vấn đề hơn là lý luận cao siêu, như gọi chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XX là con đỉa có hai vòi: “một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một vòi bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa”; hoặc nói về bọn quan lại sống trên mồ hôi nước mắt của nhân dân: “Khi một con vật cá biệt đã đạt đến trình độ ăn cả tiền thì thường coi là thoái hóa, vì nó đã mất hết đặc tính tinh thần của nòi giống nó rồi”. Cũng như Lênin và các nhà kinh điển của học thuyết Mác, Hồ Chí Minh mong muốn các nhà văn có tài sáng tạo nên những tác phẩm điển hình hóa, phù hợp với quy luật đặc biệt của cách mạng, vì chân lý của cuộc sống và lợi ích của nhân dân, chứ không phải là thứ minh họa, ghi chép sự việc một cách dễ dãi, song Người chỉ nói một cách tế nhị: “Phải sáng tác cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn con người mới, cuộc sống mới”. Xoay quanh lập luận đó, có bao nhiêu là vấn đề mỹ học được đặt ra. Mỗi từ, mỗi ý từ cái cô đúc của lập luận đã bao chứa một nội hàm rộng lớn… Sau này, nhiều câu nói của Hồ Chí Minh trở thành phương châm hành động, cũng đều mang tính triết lý, lẫn tính chất hình tượng như thế. (“Vì hạnh phúc mười năm trồng cây, vì hạnh phúc trăm năm trồng người”; “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”, v.v…).

Phong cách tư duy luận lý ở Hồ Chí Minh là sự vận dụng tư tưởng biện chứng trong triết học của Mác, tư tưởng tổ chức cách mạng và phương pháp luận nhận thức thực tiễn của Lênin, kết hợp với triết lý mang tính cộng đồng vốn có trong văn hóa truyền thống của dân tộc được kết tinh ở Người. Dù mang theo trong tư tưởng nhiều dòng văn hóa được tiếp thu và chắt lọc, thì Hồ Chí Minh trước hết và trên hết vẫn là con người Việt Nam, mà lịch sử tư tưởng Việt Nam là truyền thống về những mặt thuộc nhân sinh quan cụ thể và thực tiễn.

Phong cách lý luận – thực tiễn của Hồ Chí Minh rất phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh dân tộc ở những giai đoạn cách mạng đã qua, có tác dụng thúc đẩy quy luật phát triển theo tinh thần biện chứng Macxit. Ở Hồ Chí Minh là sự kết tinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần, trong đó có phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực theo tầm vóc và phong cách của Người. Từ thực tiễn được đúc kết, rút ra được vấn đề và lý giải được nó, để thúc đẩy hiện thực tiến lên, đó chính là bài học về lý luận mà Người đã để lại cho chúng ta. Còn lý luận như thế nào, do phong cách nhà lý luận quyết định. Tất nhiên là lý luận không đứng im trong thời gian, vì đời sống phát triển theo quy luật vận động, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới và sáng tạo, theo hướng tiến lên của lịch sử, của chủ nghĩa xã hội khoa học chân chính.

Lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bình sinh, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã bắt đầu phát triển, tuy chưa phát triển đến mức như hiện nay, nên các luận điểm về văn hóa của Người đều hướng đến một tinh thần khoa học kết hợp với tinh thần nhân văn, để thúc đẩy những nhiệm vụ trước mắt: giải phóng dân tộc đi đôi với giải phóng xã hội; xây dựng con người gắn với nền văn hóa mới; tinh thần dân tộc hòa hợp với tinh thần quốc tế; xây dựng tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong bước đi ban đầu theo hoàn cảnh một nước nông nghiệp lạc hậu và đất nước còn tạm chia cắt… Đất nước và thời đại hôm nay đã khác trước về nhiều mặt, lý luận phải lần lượt giải đáp những vấn đề trong hoàn cảnh mới, theo tinh thần cơ bản mà ý thức lý luận gắn với thực tiễn của Hồ Chí Minh đã gợi mở.

3.   Di sản văn hóa gắn với dân tộc và thời đại

Qua hoạt động trong sự nghiệp cách mạng ở Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của giao lưu và phương pháp tiếp thu văn hóa với vấn đề bản sắc dân tộc của văn hóa, trong một thời đại đầy biến động và không ngừng biến động. Không một nền văn hóa dân tộc nào không chịu ảnh hưởng lẫn nhau bởi các nền văn hóa khác mà có thể trường tồn và phát triển. Xưa đã thế và nay lại càng hơn thế. Hoàn cảnh quốc tế và phương tiện quyết định sự mở rộng giao lưu văn hóa. Khép kín văn hóa là đồng nhất với dân tộc trì trệ và ngưng đọng. Trong cái nghĩa bôn tẩu đó đây trên khắp các châu lục để tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, có bao hàm cái nội dung là Người sẽ mang về cho dân tộc một kiểu văn hóa gì vừa giải phóng và phát triển dân tộc, vừa thích ứng với thế giới văn minh. Và Người đã mang về cho ta một hệ tư tưởng kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo lý làm người của cha ông với tinh thần quốc tế trong sáng, vì tình hữu nghị giữa các dân tộc; một ý thức tự hào và trách nhiệm giữ gìn, khai thác di sản văn hóa tinh thần của tổ tiên truyền lại cho ta và của loài người tiến bộ; một lối sống “Trung với nước, hiếu với dân”, một tình yêu thương rộng lớn đối với con người, trước hết là các lớp người đã từng chịu nhiều đau khổ, tủi nhục; một phong cách tôn trọng dân chủ, công bằng và tín ngưỡng của nhân dân; một quan niệm phát triển kinh tế trên cơ sở một nền khoa học kỹ thuật; một hoài bão về dân giàu, nước mạnh, đất nước đẹp đẽ và đàng hoàng hơn xưa…

Tư tưởng bách khoa ở Người đã trở thành một chủ nghĩa nhân văn bao trùm gắn với những giá trị dân tộc trong thời đại mới. Một chân lý khoa học đã khẳng định rằng, khi một dân tộc không biết nhào nặn và chuyển hóa những cái đã tiếp thu thành cái của mình, như sự phát triển tự thân, thì dân tộc đó sẽ chết đi về mặt chính trị. Nhào nặn trên cơ sở tính dân tộc và tạo thành bản sắc dân tộc của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng, phát triển các giá trị tinh thần. Sự kết tinh nhiều dòng văn hóa ở Hồ Chí Minh là sự nhào nặn tinh hoa văn hóa loài người với truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc. Đúng như tổ chức UNESCO đã xác nhận: Hồ Chí Minh “là hiện thân của những khát vọng các dân tộc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Hồ Chí Minh là một nhân vật quốc tế lỗi lạc nhưng ở Người không bao giờ mang theo một thứ chủ nghĩa thế giới xa lạ với những giá trị tinh thần chân chính. Văn hào Gorki đã từng nói: “Những bậc vĩ nhân xưa nay đều là con đẻ của đất nước họ, bao giờ cũng có tính cách dân tộc của nhân dân mình, vì họ sở dĩ vĩ đại ở chỗ đại biểu được cho nhân dân. Khi một vĩ nhân vật lộn với nhân dân thì đó không phải là một cuộc đấu tranh giữa nhân tố nhân loại với nhân tố dân tộc mà cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa ý niệm với chủ nghĩa kinh nghiệm, giữa lẽ phải với thành kiến”(9). Nhân dân là nền tảng của quốc gia, là gốc rễ sâu bền của dân tộc, là đối tượng phải phục vụ của một chế độ chính trị chân chính, nhưng nhân dân không phải là một khối thuần nhất. Vật lộn với một bộ phận nhân dân thoái hóa, lạc hậu, biến chất để cho cái tiến bộ, cái tinh lọc, cái cao cả chiến thắng, còn khó khăn, gian khổ hơn cả “vật lộn” với kẻ thù bằng mọi thứ vũ khí. Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn ai hết những chỗ mạnh chỗ yếu, những mặt cần phát huy và những mặt cần hạn chế của nhân dân nên Người đề ra cho văn hóa những bước đi, những nhiệm vụ trong từng hoàn cảnh. Người yêu cầu “văn hóa phải đi sâu vào tâm lý quốc dân, đi vào cuộc sống mới”, rằng “văn hóa phải sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”, “văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên được hưởng”.

Nền văn hóa mới mà Người khởi công xây dựng là mở mang dân trí đi đôi với trau dồi đạo đức, nhân cách của con người, trên cơ sở tính dân tộc và bản lĩnh dân tộc. Giáo dục, văn chương, nghệ thuật và thông tin đại chúng góp phần đắc lực vào việc xây dựng con người; từ đó quyết định sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của nền văn hóa bác học, đồng thời quyết định vị trí của dân tộc trên trường quốc tế. Nền văn hóa mới của chúng ta đạt đến trình độ và thành quả như hiện nay không thể tách rời với sự nghiệp to lớn của Hồ Chí Minh, với một đường lối khoa học, thực tiễn, rất dân tộc và hiện đại.

Chúng ta đang xây dựng nền văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa với nước ngoài, tức là vừa phát huy tinh thần đổi mới trong di sản tư tưởng – văn hóa của Hồ Chí Minh, vừa tạo ra những nhân tố mới trong giao lưu mà trước đây chưa đặt ra tiền lệ. Giao lưu văn hóa tốt, có nghĩa rằng ta phải có cái gì là tinh hoa và đặc điểm Việt Nam để góp phần vào kho tàng văn hóa của loài người chứ không phải suy nghĩ theo cái đầu của người ngoài cuộc. Giao lưu theo kiểu đó là một sự lặp lại, một lối sao chép hoặc lai căng. Mà như thế là phá hoại và hạ thấp văn hóa dân tộc, đi ngược lại một xu thế của văn minh loài người. Không phải ngẫu nhiên mà khoa học kỹ thuật càng phát triển, thế giới càng đề cao bản sắc dân tộc của các nền văn hóa. Đề cao để chứng minh sự phong phú, đa dạng của trí tuệ, tâm hồn con người, để thật sự khác biệt nhưng không tách biệt giữa các nền văn hóa khác nhau. Tất cả những mặt ấy nhằm thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa mọi dân tộc và chủng tộc trên khắp hành tinh. Sự ảnh hưởng lẫn nhau về những yếu tố nào đó qua giao lưu văn hóa là một tất yếu, nhưng không thể nào tất yếu khi nó không được nhào nặn, nhuần nhuyễn qua bản sắc dân tộc trong nền văn hóa dân tộc. Không ngừng hoàn thiện và nâng cao tầm vóc văn hóa dân tộc trong nền văn hóa thế giới đang trong thời hội nhập. Bảo vệ văn hóa dân tộc còn là sự ngăn ngừa những nọc độc văn hóa có thể xảy ra.

Nhà học giả nữ – bà Marala Lonbado – Giám đốc trung tâm nghiên cứu triết học, chính trị và xã hội Mehicô đã có một lập luận đáng tham khảo khi bà cho rằng, khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba, cuộc đấu tranh giữa hai kiểu triết học về cuộc sống trên thế giới sẽ diễn ra rõ rệt hơn bao giờ hết: một kiểu nhìn thế giới như một cái gì bất biến, mọi thay đổi chỉ có tính chất hình thức; và một kiểu nhìn thế giới như một quá trình mà ở đó những thay đổi là cội nguồn của sự giàu có, tiến bộ và đạo đức. “Vì thế, những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ là những người đã cho chúng ta lý do sống và khả năng để thực hiện những ước mơ của mình” về một nền văn minh chân chính(10).

Hồ Chí Minh đã vận dụng tinh thần biện chứng Macxit để tìm đường đi cho dân tộc, do đó bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh rất xa lạ với mọi thứ giáo điều, trì trệ, cơ hội, cực đoan và đặc quyền đặc lợi. Cũng từ đó đặc điểm nổi bật của Hồ Chí Minh là sự tích hợp phong phú nhiều kiểu dạng tinh hoa và sự kết hợp tinh tế, nhuần nhị các kiểu dạng tinh hoa ấy, từ thế đứng và đặc điểm dân tộc. Nền văn minh xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang trở thành hiện thực, khi Di sản của Người được vận dụng một cách sáng tạo trong tình hình đổi mới của đất nước, và trước những diễn biến tư tưởng phức tạp của thời đại, rất khác với thời điểm khi quả tim Hồ Chí Minh ngừng đập cách đây hơn 40 năm. Văn học, nghệ thuật và thông tin đại chúng, những bộ phận nhạy cảm của đời sống đang giữ một vai trò hết sức quan trọng trong định hướng văn hóa phát triển, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập trước xu thế toàn cầu hóa. Đó chính là “văn hóa phải soi đường cho quốc dân” như Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc đến./.

Trường Lưu
Theo Tạp chí Văn học


(1) Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp; Nxb. Sự thật, H, 1990.
(2) Hồ Chí Minh, notre camarade – Theo tư liệu thư viện Báo Nhân dân.
(3) Bác Hồ như chúng ta đã biết. Nxb. Thanh niên, H, 1985.
(4) Theo Trường Chinh: Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Nxb. Sự thật, H, 1966.
(5) Le Vietminh – Hồ Chí Minh. Ed. Payot, Pari, 1952.
(6) Tạp chí Lịch sử Rokixi Hyeron, số 232, tháng 9-1969. Đăng lại trên báo Thống nhất, H, số 194 ngày 19-5-1973.
(7) Những lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Nxb. Sự thật, H, 1992.
(8) Tổng tập văn học, Tập 36. Nxb. KHXH, 1980.
(9) Gorki bàn về văn học. Nxb. Văn học, H, 1992.

hochiminhhoc.com

Chế Lan Viên viết về Bác Hồ

Ngoài hai bài thơ rất quen thuộc viết về Bác là Người đi tìm hình của nước và Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi, nhà thơ Chế Lan Viên còn có một loạt bài viết từ năm 1954 đến 1976 in trong tập Hoa trước Lăng Người.

Những bài viết của Chế Lan Viên về Bác hay ở sự sâu sắc, ở những phát hiện tài tình về sự giản dị – vĩ đại trong tư tưởng, tâm hồn của Bác.

Thơ Chế Lan Viên thiên về triết luận, lý trí, lý sự, lật ngược lật xuôi vấn đề nên độc giả phổ thông khó đọc, khó nhớ. Trên đài phát thanh, truyền hình, thơ ông cũng được giới thiệu không nhiều.

Nói về vai trò quan trọng quyết định vận mệnh của đất nước, của dân tộc, không ai có thể nói hay hơn Chế Lan Viên:

Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất
Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai
Thế đi đứng của toàn dân tộc
Một cách vinh hoa cho 25 triệu con người.

(Người đi tìm hình của nước)

Bác lãnh đạo cách mạng thành công, làm sống dậy những tinh hoa của văn hóa dân tộc :

Người đánh thức hồn dân tộc đã về kia.
Ta nghe bừng tỉnh dậy
Câu quan họ, xẩm xoan xưa vứt ngã ba đường
Ðiệu lục bát và màu nâu nơi ruộng rẫy
Bức tranh làng Hồ và cô tố nữ dáng quê hương.

(Người thay đổi đời tôi,
Người thay đổi thơ tôi
)

Nhà thơ nhận ra trong dòng nước mắt nhân dân ta khóc Bác một sức mạnh đã kết tinh :

… Tổ quốc khóc Người Cha. Ðấy là Việt Nam
Ðấy là sức mạnh
Tiếng khóc lọc hồn ta như lửa chói ngời
Mình nhận ra ta, ta nhận ra Người
Cả dân tộc tìm ra mình qua tiếng khóc

(Tiếng khóc đúc Việt Nam thành một khối)

Chế Lan Viên có khi không quen viết kịp thời. Bài thơ vừa dẫn ở trên, ông viết năm 1971, hai năm sau khi Bác qua đời. Những năm sau, ông vẫn tiếp tục phát hiện tầm lớn lao của trí tuệ và lòng nhân ái bao la trong trái tim của Bác ở những bài thơ khác :

Với tất cả chúng ta, Bác là một người ông
Râu như bông và tóc trắng như bông
Màu tinh khiết một đời đạm bạc
Ðây cũng là nhà hiền triết, hiểu chỗ đến chỗ đi sự vật
Người về nơi phải về, Người rất ung dung
Người trồng cây, suốt một đời trồng
Chỗ Người khổ công gieo, ta sẽ hái
Nhân loại biếc màu xanh Người để lại
Trong thế giới bạo tàn này, Người là những bóng cây xanh.

(Ta nhận vào ta phẩm chất của Người)

Trong bài thơ Cách mạng chương đầu, tái hiện lại những tháng năm Bác về Pắc Bó, Chế Lan Viên có những khổ thơ thấm đượm chất anh hùng ca :

Dân tộc rét chưa che Người đủ ấm
Hang đá này Bác đắp chiếc chăn sui
Khớp xương buốt vì hơi rêu lạnh thấm
Gió rừng đừng thổi nữa, gió rừng ơi

Những đêm ấy Bác thức cùng ngọn lửa
Thảo từng trang sử lớn cho đời
Tượng Mác trầm ngâm trong hình thạch nhũ
Rồi từng dòng từng chữ qua vai.

(Hang mở nước)

Còn nhiều … còn nhiều những ý thơ lạ, những phát hiện sâu sắc của nhà thơ Chế Lan Viên về Bác Hồ mà trong một bài viết ngắn không thể nào chứa được.

NGUYỄN BÙI VỢI (Báo Nhân Dân)

sites.google.com

Người “mê” sưu tầm những câu chuyện về Bác Hồ

Ông Thái Bá Đắc miệt mài ghi chép những mẩu chuyện về Bác Hồ

(Congannghean.vn)- Từng học khoa Văn tại Trường Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc những năm 1954, sau 3 năm miệt mài, ông trở về nước theo học tại Trường bổ túc công nông Hà Nội. Tại đây, 2 lần ông được gặp Bác Hồ.

Lần theo từng ngõ nhỏ, từng con hẻm, tôi có mặt tại nhà ông vào một buổi xế chiều mưa, se lạnh. Ông đi vắng, mỗi mình bà ở nhà.

Ngỡ ngàng trước những chồng sách vở được bày biện ngăn nắp trong tủ để giữa sân, hiếu kỳ trước một tấm bảng đen với một cái lịch dày đặc những việc mà ông phải hoàn thành trong tháng đã khiến cho tôi tò mò, cố nán lại để hi vọng được gặp ông. Ông là Thái Bá Đắc (79 tuổi) ở xóm 12, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Là tấm gương sáng của Hội người cao tuổi huyện Đô Lương.

Thật may mắn cho tôi khi được trò chuyện cùng ông. Từng học khoa Văn tại Trường Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc những năm 1954, sau 3 năm miệt mài, ông trở về nước theo học tại Trường bổ túc công nông Hà Nội. Tại đây, 2 lần ông được gặp Bác Hồ.

Nhắc đến đó, mắt ông Đắc sáng rực lên, ông nở một nụ cười hiền từ, chia sẻ: “…Thời đó, lớp chúng tôi mới chuyển từ Trung Quốc về, đang còn gặp phải rất nhiều khó khăn. Bác đến mang theo một gói trà xanh động viên lớp Văn chúng tôi. Hôm đó, khi xem xong cuốn sổ học tập của lớp, Bác tiến lại gần và hỏi tôi học tập thế nào. Tôi trả lời Bác: “Thưa Bác, cháu thường được điểm 4 ạ!” (Trước đây, điểm 5 là điểm cao nhất, tương tự điểm 10 bây giờ). Nghe xong, Bác liền nói cả lớp: “Tất cả các cháu phải học được điểm 5 thì nhân dân, đất nước mới được nhờ… ”. Lần khác, trong một đợt tổng kết năm học của trường, Bác đến dự lễ. Hôm đó, Bác đề cập rất nhiều vấn đề nhưng tôi nhớ mãi câu nói của Bác: “Các cháu nên nhớ là: Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Cốt cách và việc làm của Bác Hồ đã theo ông suốt những năm tháng dạy học. Với ông Đắc, Bác Hồ là một hình tượng đẹp nhất, Người đã giúp ông trở thành một giáo viên dạy giỏi.

Đã mấy chục năm trôi qua, ông luôn trau dồi, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xem đó là mục tiêu phấn đấu của mình. Lời Bác Hồ dạy luôn sáng mãi trong ông.

Năm 1968, ông trở thành 1 trong 5 giáo viên dạy giỏi của tỉnh và điều mà ông “sướng” nhất là thường xuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn của Nghệ An tham dự các kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc đạt giải cao. Trong các dịp hè, ông trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kinh nghiệm cho các giáo viên cấp 2. Với những nỗ lực ấy, ông đã được ngành giáo dục tặng Bằng khen.
Năm 1985, ông về hưu, Trường cấp 3 dạy nghề huyện Đô Lương ngỏ ý mời ông về dạy Văn và Anh văn. Theo giảng dạy được 4 năm, sau đó ở nhà ông hăng say nghiên cứu văn học, báo chí và nhiều lĩnh vực khác.

Đặc biệt, sáng nào cũng vậy, bên chiếc bàn làm việc, ông cặm cụi sưu tầm các mẩu chuyện, bài viết về Bác Hồ trên tất cả các loại sách báo. Ông ghi chép, tập hợp lại thành các tập sách.

Để có thể ghi chép ra những cuốn sách viết về Bác Hồ, ông Đắc đã tận dụng những tờ lịch cũ, đóng thành quyển và chép ra phía sau của tờ lịch. Để có những cuốn sách ghi chép đó, ông đã phải đến nhà bạn bè để mượn, có những cuốn mượn đến hàng tháng trời.

Đến nay, ông đã chép tay được 329 mẩu chuyện về Bác với 45 tác phẩm truyện, thơ viết về Bác như cuốn: Bác Hồ thời niên thiếu ở Huế, Thơ chúc Tết của Bác Hồ, Ca dao về Bác Hồ…

Bên cạnh sưu tầm, ghi chép lại những mẫu chuyện, những câu thơ về Bác, ông Đắc còn có sở thích sưu tầm những bức ảnh chụp về Bác theo từng thời kỳ hoạt động cách mạng của Người. Trong tập ảnh: “Bác Hồ về thăm đền Hùng”, ông đã sưu tầm từ đầu chí cuối từ lúc Bác Hồ đến cho đến rời khỏi đền Hùng như thế nào, hay những bức hình Bác Hồ chụp với lực lượng vũ trang nhân dân.

Đến nay, ông Đắc đã có trên 200 ảnh chụp về Bác Hồ với những dấu ấn lịch sử. Ông tâm sự: “Tôi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thứ nhất để trả lại cái ơn của Người, thứ hai, sưu tầm những tấm ảnh, ghi chép những mẩu chuyện về Bác Hồ sẽ cho tôi một kho tàng tư liệu quý giá để sau này con cháu mình học tập và noi theo”.

Không những là một người thích sưu tầm, ông Đắc còn tham gia viết báo, bình thơ và còn là một thầy thuốc giỏi. Trong nhà ông có một vườn cây thuốc nam. Ông tự mày mò, nghiên cứu chế ra nhiều loại thuốc như thuốc chữa thần kinh gót chân, chữa đau răng…

Hiện, ông đang nghiên cứu dược liệu chế thuốc chữa dạ dày và sỏi thận. Trên Báo Lao động, Báo Nhân Dân và Báo Nông nghiệp Việt Nam… thường xuyên có những bài viết của ông.

Năm 2006, ông được Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An tặng Giấy khen trong cuộc thi tìm hiểu “An ninh nhân dân Việt Nam: 60 năm truyền thống vẻ vang” viết bằng văn xuôi.

Năm 2009, ông được đồng chí Nguyễn Thế Trung – Uỷ viên TW Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy khen ngợi về thành tích sưu tầm các tư liệu về Bác Hồ. Cũng trong năm này, ông được Ban Tuyên giáo gửi thư khen về thành tích học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tháng 8/2010, ông được đồng chí Phạm Quang Nghị – Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội gửi thư khen ngợi về thành tích đóng góp hình ảnh 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Vinh dự năm 2011, Thái Bá Đắc được Hội Người cao tuổi tỉnh Nghệ An tặng Giấy khen về thành tích xuất sắc trong phong trào “Tuổi cao gương sáng” 10 năm ( 2001 – 2010).

Cần mẫn như một chú ong, ngày ngày ông Đắc vẫn miệt mài bên những trang giấy trắng. Ở cái tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn làm việc không biết mệt mỏi: Đều đặn đi bộ vào mỗi buổi sáng, bình thơ gửi báo và tiếp tục nghiên cứu lại tất cả những tài liệu để sưu tầm ghi chép lại các bài viết về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đăng trên các báo, tạp chí…

Theo Phan Tuyết
Congannghean.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn