Archive | Tháng Hai 2012

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh – tư tưởng bất diệt

Hồ Chí Minh quan niệm: Con người không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu. Bởi vậy, phải “làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lương tâm, đánh thức những gì tốt đẹp trong con người.

Quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên truyền thống nhân ái của dân tộc ta. Nhân dân ta đã trải qua mấy ngàn năm chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, bão lụt, khai hoang mở đất. Nhân dân ta lại phải chống chọi với nạn ngoại xâm liên miên từ phương Bắc xuống, rồi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược. Công cuộc lao động gian khổ và chiến đấu hy sinh hun đúc nên truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, trong đó nổi bật là lòng nhân ái, là tư tưởng nhân văn, nhân đạo.

Tình đoàn kết, yêu thương lẫn nhau “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “Thương người như thể thương thân” là nét đẹp nổi bật của con người Việt Nam, nhất là trong cơn hoạn nạn, rủi ro. Lòng nhân ái của từng người dân đã gắn chặt vận mệnh của họ với sự sống còn, tồn vong của dân tộc, với sự hùng cường, thịnh trị của Tổ quốc. Càng yêu con người, càng thương con người, càng có thêm ý chí kiên cường, bất khuất, dám xả thân, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc; dám vươn lên để tìm con đường thoát cho dân tộc khỏi đói nghèo, xây dựng đất nước cường thịnh.

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong lòng một dân tộc có truyền thống nhân ái lại tiếp nhận được những tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây, về “đạo làm người” của Nho giáo, về “cứu khổ cứu nạn”, nhân ái, khoan dung của Phật giáo; về lý tưởng nhân văn thời cách mạng tư sản đang lên, chống phong kiến, giải phóng xã hội… Từ khi đến với chủ nghĩa Mác Lênin, thấm nhuần học thuyết nhân đạo hiện thực của chủ nghĩa Mác, tư tưởng nhân văn ở Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến bước ngoặt mang tính tổng hợp từ nhiều giá trị tinh hoa của nhân loại. Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh đã trở thành lẽ sống của Người, yêu thương con người gắn với lòng tin ở con người, dùng sức của con người để giải phóng con người, trọng nhân tài, vì con người và phục vụ con người với chữ Người viết hoa.

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vô cùng rộng lớn. Có thể nêu lên mấy khía cạnh chủ yếu sau đây:

Một là, thương yêu con người, thương yêu nhân dân, hết sức bao la, thắm thiết. Người từng nói “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người phải là thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”(1).

Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh xuất phát từ tình yêu thương của những người đồng cảnh ngộ, mất nước, bị nô lệ, cùng chung số phận bị áp bức bóc lột, đi tìm lối thoát cho dân tộc. Khi bôn ba nơi hải ngoại, chứng kiến cảnh bị áp bức bóc lột của công nhân, của nhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa, chứng kiến cảnh bị áp bức của nhân dân các thuộc địa khác, tình yêu thương con người ở Người mở rộng sang yêu thương những người cùng cảnh ngộ, những người lao động nghèo đói, “cùng khổ, thiếu thốn”, những người thuộc các dân tộc khác có chung số phận với dân tộc Việt Nam. “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn… Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”, Người đã từng nói như vậy.

Xuất phát từ tình yêu thương ấy mà Người đã đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công. Mục tiêu của Hồ Chí Minh đã từng nói rõ trong Lời ra mắt của báo Người cùng khổ (Le Paria) năm 1921: “đi từ giải phóng những người nô lệ mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người”.

Với mục tiêu được xác định, Người trở về nước thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức của thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Với đường lối đúng đắn mà Người đề ra, tập hợp xung quanh mình những nhân tài trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều độ tuổi, đoàn kết toàn dân tộc vào một Mặt trận thống nhất và tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế, nhân dân ta đã đánh đuổi đế quốc thực dân, giải phóng dân tộc, nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất và xây dựng cuộc sống mới.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Người đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và diệt giặc dốt cùng với việc chống giặc ngoại xâm. Trước mắt, phải xoá đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển “làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm”(2). Kinh tế có phát triển đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.

Người từng nói “Tôi thấy các cháu bụng ỏng, mắt choẹt, tôi hết sức đau lòng”. Người yêu cầu những người lãnh đạo chính quyền phải chăm lo đến đời sống nhân dân, phải chăm lo từ việc “tương cà mắm muối của dân”, không được ức hiếp quần chúng nhân dân.
Bác Hồ thăm hỏi đồng bào dân tộc Pác Pó, Cao Bằng năm 1961.
Người chăm lo đến việc nâng cao dân trí, chống giặc dốt, xoá nạn mù chữ, phát triển giáo dục. Người từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người yêu cầu Đảng cầm quyền phải chăm lo đến nâng cao trình độ học vấn cho nhân dân, chăm lo phát triển mọi mặt của dân tộc ta. Người thường nói chế độ thực dân đã dùng mọi thủ đoạn ngu dân để đầu độc dân tộc ta, để hủ hoá nhân dân ta bằng những thói xấu như lười biếng, gian xảo, tham ô…Cho nên phải làm sao để dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động , một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập, “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chỉ giới hạn ở nhân dân Việt Nam mà là tình bác ái bao la. Người từng vạch rõ “Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ… Phải thực hành chữ bác – ái” (3).

Người còn nói “Lòng yêu thương của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi” và trước lúc vĩnh viễn đi xa, Người viết ” Đầu tiên là vấn đề con người” và “Cuối cùng tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Hai là, Bác Hồ tin tưởng vững chắc vào khả năng và phẩm giá tốt đẹp của con người. Hồ Chí Minh kế thừa tư tưởng kiệt xuất của các anh hùng, hào kiệt của dân tộc như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… về sức mạnh của nhân dân: “Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ”; “đẩy thuyền cũng là dân, mà lật thuyền cũng là dân”. Người còn kế thừa tư tưởng nhân văn “lấy dân làm gốc” và chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của học thuyết Mác để hình thành tư tưởng nhân văn mới, tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và lòng tôn trọng, kính trọng nhân dân lao động.

Người nói “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (4).

Trong điều kiện bị đế quốc thực dân thống trị, kẻ thù đàn áp dã man, cùng với chính sách ngu dân của chúng, người dân các nước thuộc địa tưởng chừng không thể gượng dậy nổi, song Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vẫn tin tưởng ở nhân dân mình, dân tộc mình”… đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến…” và “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ cần phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”.

Trong quá trình đấu tranh, Người đã làm cho nhân dân thế giới nhận thức rõ vấn đề thuộc địa, đoàn kết giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc là giúp đỡ cho chính mình. Người nhận thấy rõ vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, “người là gốc của làng nước”, “nước lấy dân làm gốc”, “gốc có vững cây mới bền”, “xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (5),

Người còn nói rằng: “Dân như nước, mình như cá”, “lực lượng nhiều là ở dân hết”. “Công việc đổi mới là trách nhiệm ở dân”. Do đó, Người yêu cầu “Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân”. Ngày nay, nội dung trên càng có ý nghĩa lớn lao, bởi nếu chúng ta biết tiến cử nhân tài, dùng nhân tài đúng lúc, đúng chỗ, mạnh dạn cất nhắc nhân tài trong mọi lĩnh vực thì sẽ càng làm lợi cho dân.

Ba là, chăm lo bồi dưỡng, sử dụng, phát động sức mạnh của con người, của nhân dân. Xuất phát từ truyền thống yêu nước, thương dân bị nô lệ, Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Suốt cuộc đời của người là vì dân, vì nước.

“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước được độc lập, tự do, nhân dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là:

“1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân có học hành”.

Người còn nói “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(6).

Trong kháng chiến, kiến quốc, Người luôn chăm lo, bồi dưỡng sức dân. Vì dân, vì con người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Người. Song ở Người, sự nghiệp đó chính là của nhân dân. Đoàn thể, Nhà nước phải là người tổ chức nhân dân, biết đem sức dân, tài của dân mà đem lại lợi ích cho nhân dân.

Do vậy, khi có chính quyền rồi, Người luôn nhắc nhở phải xây dựng bộ máy trong sạch, đấu tranh với những biểu hiện của thói quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân; phải dựa vào nhân dân, khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong nhân dân để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng đời sống mới trong nhân dân…

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện. Con người không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu. Bởi vậy, theo Người phải “làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”(7), Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lương tâm, đánh thức những gì tốt đẹp trong con người.

Ngay cả những người đã lầm đường lạc lối, Hồ Chí Minh cũng tỏ rõ sự khoan dung, độ lượng: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ (8).

Cả cuộc đời của Người là một hình mẫu của con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin, sự tôn trọng và ý chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

PGS.TS Lê Doãn Tá

(VietNamNet)

(1) Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb.Pháp lý, H.1990, tr.174
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.5, tr.65
(3) Sđd, t.5, tr.644
(4) Sđd, t.8, tr.276
(5) Sđd, t.5, tr.410
(6) Sđd, t.4, tr.152
(7) Sđd, t.12, tr.558
(8) Sđd, t.4, tr.246

vannghedanang.org.vn

Đạo đức Hồ Chí Minh – Một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động

1. Quan niệm về đạo đức Hồ Chí Minh

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, kiên định trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân cách mạng.

Đó là đạo đức của người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Do đó, đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Khi trả lời một nhà báo nước ngoài về điều quan tâm lớn nhất của mình trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đã nói: độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho đồng bào. Đó là tất cả những gì Người mong muốn và hiểu biết. Với Hồ Chí Minh, đó chính là điều ham muốn, ham muốn tột bậc của mình, sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân có tự do, có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống một cuộc sống hạnh phúc. Ở đây, cái cụ thể, thiết thực và giản dị nhất mang hình ảnh biểu đạt cái lớn lao, cái vô giá, sâu xa nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển và hoàn thiện nhân tính trong đời sống dân tộc và xã hội. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, đó là hệ giá trị chủ đạo của mục tiêu Giải phóng và Phát triển. Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội là con đường lớn lao của lịch sử mà thời đại mới đã vạch ra, là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã nhận thức được và dẫn dắt toàn dân tộc đi tới. Với hệ giá trị mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo cách mạng của thời đại và sự phát triển của dân tộc Việt Nam hợp với trào lưu, xu thế của thế giới hiện đại. Thực hiện một đường lối chính trị lớn như vậy đòi hỏi Đảng cách mạng, người cách mạng phải có trí tuệ lớn và đạo đức lớn. “Đường Cách mệnh”(1927) của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngay từ khi Đảng chưa ra đời đã nói tới hai điều hệ trọng: “phải giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng ham muốn về vật chất”. Suy đến cùng, đây là chỗ cao sâu nhất mà cũng là thử thách khó khăn nhất của đời người. Thời gian càng lùi xa, lịch sử càng chất chứa những biến cố thăng trầm, phong trào Cách mạng càng phát triển thì dự cảm nêu trên của Người chứng tỏ rõ tính đúng đắn và sáng suốt biết bao. Đó là tính đúng đắn của chân lý và sự sáng suốt của lịch sử.

Đạo đức cách mạng, đạo đức hành động Hồ Chí Minh là cả một hệ thống lý thuyết tư tưởng phong phú và tinh tế, nổi bật các đức tính, chuẩn mực, các nguyên tắc ứng xử, lại được diễn tả cô đọng hàm xúc trong hình thức tối thiểu của ngôn từ. Đó là “Cần, kiệm, liêm, chính” – bốn đức tính để làm người mà thiếu một đức thì không thành người, có đủ cả bốn đức mới là người hoàn toàn.

Đó là, nguyên tắc ứng xử chí công vô tư, là bản lĩnh biết quên mình, biết vượt qua những vướng bận toan tính cá nhân để vì người chứ không vì mình, vị tha chứ không vị kỷ. Bản lĩnh này là sức mạnh bền bỉ để đánh bại chủ nghĩa cá nhân, chiến thắng giặc nội xâm, suốt đời tu dưỡng đạo đức cách mạng, coi phục vụ nhân dân là phục tùng một chân lý lớn nhất, là lẽ sống cao thượng nhất. Trên phương diện đời sống cá nhân, trong quan niệm giữa con người – chủ thể hoạt động với cá nhân chủ thể mang nhân cách, đây là cuộc hành trình tới Tự do. Sự hoàn thiện đạo đức là một bản lĩnh văn hoá dẫn tới nhân cách của con người tự do và làm chủ. Xưa nay, khó khăn lớn nhất vẫn là khó khăn tự vượt qua chính bản thân mình.

Triết lý đạo đức Hồ Chí Minh “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” sâu xa là vì vậy.

Người không chỉ nhận rõ chân giá trị ấy mà Người còn tự mình thực hiện một cách triệt để, nhất quán trong cả cuộc đời mình. Nội dung đạo đức trong “Di chúc” nổi bật tư tưởng lớn: tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.

Bài báo cuối cùng Người viết cũng vẫn chủ đề ấy, theo đuổi đến cùng tư tưởng đạo đức ấy.

Người không chỉ thực hành và nêu gương mà còn làm hết sức mình, công phu rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho lớp lớp cán bộ, đảng viên, cho quần chúng nhân dân ở mọi tầng lớp, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính. Việc ”trồng người” là việc của lợi ích trăm năm, của chiến lược xây dựng một xã hội văn hóa cao, phải công phu tỷ mỷ, phải dựa trên một nguyên tắc ứng xử thấm nhuần sâu sắc chất nhân văn, phải có tấm lòng nhân ái bao la, khoan dung độ lượng và độ lượng vĩ đại. Có nâng niu giá trị con người, có tôn trọng nhân cách và lòng tin cậy chân thành đối với con người thì mới có sức mạnh cảm hóa, thuyết phục lòng người.

Làm cho cái hay, cái tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân còn cái dở, cái xấu sẽ mất dần đi. Khoa học và Nghệ thuật giáo dục con người của Hồ Chí Minh có nội dung bao trùm và chủ đạo là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng.

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức gắn liền mật thiết với tư tưởng về văn hoá chiếm một vị trí nổi bật, có giá trị bền vững với những đặc tính sáng tạo độc đáo cần được cảm thụ để tự nhận mình và tự giáo dục mình theo gương sáng của Người. Trên phương diện này (đạo đức), Hồ Chí Minh là một nhà đạo đức học. Người không phải là nhà đạo đức học hàn lâm, kinh viện mà là một nhà đạo đức học thực hành, thực hành một cách biện chứng, sáng suốt, đầy chất trí tuệ và nhân văn. Lý thuyết đạo đức Hồ Chí Minh chuyển vào thực tiễn đạo đức xã hội mà đời sống đạo đức của Người như một tấm gương sáng tiêu biểu về đạo đức. Đó là một nét riêng, tính đặc thù riêng, in đậm dấu ấn, phong cách riêng của Hồ Chí Minh. Người vẫn thường căn dặn chúng ta, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động. Chỉ nói và viết khi cần thiết, lại phải nói và viết ngắn gọn, giản dị sao cho quần chúng dễ hiểu. Hiểu để làm, để làm đúng và làm tốt. Hơn nữa, để quần chúng noi theo, làm theo thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu làm trước, đã nói thì phải làm, lời nói đi đôi với việc làm.

Đây là thước đo tính trung thực đạo đức, là sự thành thật, là ”thật thà nhúng tay vào việc” (Dân vận, 1949). Cái bản chất chân chính của Khoa học đạo đức gặp nhau ở đó – cái ”Chân” xa lạ, đối lập với cái “giả”. Đạo đức hành động vì mưu cầu tự do, hạnh phúc cho con người là động lực tinh thần thúc đẩy hành động quên mình, dũng cảm, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng những người lao động ra khỏi tình cảnh nô lệ, thực hiện tự do và làm chủ. Nó bắt gặp và thực hiện khát vọng giải phóng của muôn triệu người tự muôn đời. Đạo đức ấy và thực hành đạo đức ấy hợp với lòng dân, được dân chúng noi theo, trái lại, thói giả đạo đức là một trong những điều tệ hại nhất, mất lòng tin nhiều nhất của dân chúng. Người nói, một tấm gương tốt quý giá hơn hàng trăm bài diễn văn là vì vậy.

Như thế, đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh hệ thống nhất nhưng không đồng nhất. Tư tưởng đạo đức là phần lý luận, là triết lý của Người. Ngoài bộ phận cốt yếu ấy, thuộc về nhận thức, đạo đức Hồ Chí Minh còn là phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức mà Người đặc biệt chú trọng trong thực tiễn, trong lối sống, ứng xử, trong quan hệ con người, trong các công việc thực tế để rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn có một phương diện, một cấp độ nữa, đó là đời sống đạo đức của bản thân Người với tư cách là một con người bình thường giữa muôn người khác, dù hết sức vĩ đại nhưng lúc nào và ở đâu, Người cũng chỉ coi mình là một con người bình thường giữa muôn người khác. Bỏ qua phương diện này trong nghiên cứu sẽ là một thiếu hụt lớn, sẽ không thể hình dung được sự sâu sắc, phong phú, đa dạng trong tư tưởng và sự nghiệp của Người, trong thế giới tinh thần, lối sống và nhân cách của Người.

Tổng hợp cả ba phương diện ấy, nhìn nhận từ ba chiều cạnh ấy, trong sự thống nhất tư tưởng với phương pháp, lý luận với thực tiễn mới có thể nhận thức đầy đủ Đạo đức Hồ Chí Minh

Có một vấn đề cần lưu ý trong nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là muốn hiểu đúng tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức, thì không chỉ dừng lại ở phân tích các văn phẩm, tác phẩm của Hồ Chí Minh, nhất là khi sự tinh tuý và thâm thuý trong tư tưởng của Người lại không nằm ở trong lời văn, câu chữ mà vượt lên và thoát ra khỏi những lời, những chữ Người nói, Người viết. Cùng với điều đó còn phải đặc biệt chú trọng tìm hiểu nghiên cứu đời sống đạo đức của Người, hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của Người, sự phong phú của các mối quan hệ giữa Người với Dân, với Đảng, với các địa phương, vùng, miền trong cả nước, với các bạn bè quốc tế, tình cảm yêu mến, sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của nhân dân ta và nhân dân các dân tộc trên thế giới dành cho Người.

Chỉ như vậy chúng ta mới hiểu được đạo đức Hồ Chí Minh – một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động.

Đạo đức Hồ Chí Minh cho ta hiểu thêm một phương diện đặc sắc trong cuộc đời và sự nghiệp của một nhà tư tưởng Mác xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, một trí tuệ lớn và một nhân cách lớn, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới.

Đạo đức Hồ Chí Minh tiêu biểu cho truyền thống đạo đức và tinll hoa Văn hoá dân tộc, là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, hiện thân của các giá trị Văn hoá Chân – Thiện – Mỹ trong thời đại mới, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc ta.

Đạo đức Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng và sự nghiệp của Người mãi mãi là di sản tinh thần vô giá đối với các thế hệ người Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi có mặt trong hành trang của chúng ta trên con đường đi tới thắng lợi của đổi mới và CNXH.

2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh

– Tư tưởng về đạo đức có thể nói đó là hợp điểm tư tưởng về con người và tư tưởng về văn hoá của Hồ Chí Minh.

– Với con người, Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là cái quan trọng nhất quyết định tính cách, tức là nhân cách. Đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo. Theo Người, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, còn có tài mà không có đức sẽ không làm được điều ích lợi cho đời , thậm chí còn có hại, sinh ra những thói xấu như kiêu căng, tự mãn, ích kỷ rồi thành hư hỏng, có khi phạm tội. Bởi thế, Người đòi hỏi có đức phải có tài và có tài phải có đức.

Người thường gọi đức và tài là hồng và chuyên, là chính trị và chuyên môn. Trước hết phải có chính trị rồi có chuyên môn, do nhờ bền bỉ rèn luyện, khiêm tốn học hỏi, nhất là tự học tập suốt đời, học tập đi liền với lao động và tranh đấu. Chính trị là hồn, chuyên môn là xác. Cán bộ, công chức phải thạo chính trị, giỏi chuyên môn. Lãnh đạo việc gì, ngành nào phải am hiểu kỹ chuyên môn việc ấy, ngành ấy, có như vậy lãnh đạo mới có kết quả, mới tạo được nhất trí, đồng thuận.

Văn hóa có cốt lõi của nó là ở đạo đức. Thiện- Ác, Tốt- Xấu, hay- dở đều có ở con người và phần nhiều là kết quả của giáo dục. Tuỳ thuộc ở môi trường, hoàn cảnh và giáo dục như thế nào mà con người có thể tốt hay xấu. Do đó, giáo dục trước hết và chủ yếu là giáo dục đạo đức, sửa chữa, cải tạo cái xấu, vun trồng, tập luyện cái tốt. Người xác định học để làm việc, làm người, học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp – dân tộc – nhân loại . Người đặc biệt chú trọng tới các đức tính mà giáo dục các đức tính thì phải chăm lo từ bé, có sự chỉ dẫn tỷ mỷ, chu đáo, nêu gương của các thầy giáo, cô giáo. Giáo dục nhà trường là trung tâm để hình thành nhân cách. Song phải có hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục gia đình – nhà trường và xã hội.

Đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức là vấn đề của Văn hóa. Sự yếu kém, thiếu hụt đạo đức có thể làm thương tổn xã hội, dẫn tới những phản đạo đức và phản văn hóa. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức đều mang ý nghĩa Văn hoá đạo đức, thấm vào nhận thức, tình cảm, vào hành vi, lối sống, sự ứng xử của con người, giữa người với người trong xã hội.

– Chiếm vị trí trung tâm trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức Cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân bằng cách ra sức rèn luyện, đạo đức cách mạng.

– Theo Hồ Chí Minh, đạo đức Cách mạng là đạo đức mới mang bản chất giai cấp công nhân và thấm nhuần những gì tốt đẹp nhất của đạo đức dân tộc và phát huy truyền thống đạo đức dân tộc. Người đã kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống như: yêu nước, thương dân, đoàn kết cộng đồng, lòng nhân ái, tình thương yêu đồng loại, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. Người cũng phê phán, cải tạo những mặt tiêu cực của đạo đức phong kiến, những mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo như: thói nhẫn nhục cam chịu, thụ động, những thành kiến đối với lao động chân tay, bất bình đẳng với phụ nữ, những quy định khắt khe, những hủ tục làm lệch lạc nhân cách con người. Đặc biệt, Người đòi hỏi phải xoá bỏ những tàn dư của đạo đức phong kiến thực dân đã lạc hậu, lỗi thời, thậm chí là những nọc độc, đầu độc tinh thần con người, nhất là đầu óc nô lệ, chủ nghĩa vị kỷ, hưởng lạc, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống tư sản. Đó là thứ đạo đức chẳng những cản trở xã hội phát triển mà còn làm lệch lạc tâm hồn con người, đánh mất nhân tính.

– Là nhà cách tân, đổi mới, Người đã cách mạng hoá quan niệm đạo đức, đã đưa đạo đức mới, chủ nghĩa nhân đạo cách mạng và tinh thần nhân văn cách mạng vào đạo đức và đời sống đạo đức. Người sử dụng hình thức cũ của những khái niệm, phạm trù đạo đức nhưng đưa vào đó những nội dung hiện đại, nội dung đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì dân, hướng tới dân.

– Bên cạnh cần kiệm liêm chính, Người còn nói tới Nhân – Trí – dũng – Liêm – Trung, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, khí tiết đạo đức cao quý của ông cha ta, sự đề cao trí tuệ, phẩm giá con người. Vận dụng phương châm xử thế của người xưa, Người nói rõ đạo đức công dân, trách nhiệm công dân và thái độ ứng xử đối với dân, gắn liền trách nhiệm và lợi ích, quyền và nghĩa vụ. Với Hồ Chí Minh, chính trị là đoàn kết và thanh khiết, từ việc nhỏ tới việc lớn. Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng Đảng chân chính cách mạng, làm cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức và văn minh. Đạo đức cách mạng trong Đảng, trong cán bộ, đảng viên, nhất là ở những người lãnh đạo, cầm quyền là hạt nhân của đạo đức cách mạng – một nền đạo đức mới tiêu biểu cho xã hội mới.

– Điều quan trọng và thiết thực là ở chỗ, Người chỉ rõ: phải thực hành đạo đức cách mạng trong công việc, trong tổ chức, trong phong trào thi đua yêu nước, trong lối sống và hành vi của cán bộ công chức đặc biệt là những người lãnh đạo có chức có quyền. Chú trọng bồi dưỡng tình cảm cách mạng, đem những nội dung mới, tinh thần đổi mới và quyết tâm đổi mới để xây dựng đạo đức cách mạng. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới làm nên sự nghiệp. Cán bộ phải tích cực gần gũi mật thiết với quần chúng như máu với thịt, như cá với nước.

Người căn dặn cán bộ đảng viên, dù bất cứ ở cương vị gì, giữ trọng trách gì cũng phải luôn sâu sát dân và hướng tới dân, vì dân. Phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm đầy tớ và công bộc của dân, do đó phải dân chủ, không rơi vào ”quan chủ”, là đầy tớ chứ không phải lên mặt quan cách mạng”. Làm điều lợi cho dân, tránh điều hại cho dân dù chỉ là một cái hại nhỏ. Không đảm bảo công bằng làm cho lòng dân không yên thì đó là điều nguy hại cho chế độ.

– Đạo đức cách mạng ở trong Đảng đòi hỏi phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu, đấu tranh phê bình và tự phê bình, có lý có tình, thấu tình đạt lý, ăn ở với nhau có tình có nghĩa, phải có tình thương yêu đồng chí, giữ gìn sự sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Công chức nhà nước phải tận tâm tận lực với công việc, chấp hành luật pháp, tôn trọng kỷ luật công vụ, thi hành đạo đức công chức.

Ai nấy đều biết 6 điều Người dạy Công an nhân dân, trong đó có những lời thấm thía: với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, với dân phải kính trọng lễ phép. Đây là những lời dạy chung cho tất cả mọi người, thấm nhuần đạo đức và văn hoá đạo đức mà nổi bật là Văn hóa trọng dân và trọng pháp.

– 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng với những nội dung: yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là những bài học chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào đời làm công dân tốt của nhà nước, làm chiến sĩ trung thành của chế độ.

Đạo đức cách mạng còn đòi hỏi tẩy trừ những thói xấu: tệ lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí là không thương dân, mỗi đồng tiền bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi nước mắt của dân, thương dân thì phải tiết kiệm. Tham ô là ăn cắp của công, ăn cắp của dân, là có tội với dân, là tội ác và kẻ thù của chế độ mới. Thực hành đạo đức cách mạng thì phải ra sức đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ chống lại những thói hư tật xấu trong con người mình, cuộc đấu tranh đó âm thầm và quyết liệt, có không ít sự đau đớn ở trong lòng.

– Đạo đức cách mạng đối với tuổi trẻ, với thanh niên càng trở nên quan trọng để nuôi dưỡng hoài bão, chí khí lớn, nghị lực đấu tranh cho chân lý, đạo lý, tình thương, lẽ phải. Trung thực – Khiêm tốn – Đoàn kết – Vị tha- Nhân ái – Khoan dung, đó là những đức tính và giá trị đạo đực mà Người ra sức thực hiện ở mỗi con người. Lại có một điều thấm thía khác. Người căn dặn thanh niên: tuổi trẻ phải có chí tiến thủ, hoài bão lo việc lớn, vì nước vì dân trẻ phải biết tránh xa danh vọng, quyền lực vì những cái đó dễ làm hư hỏng con người.

Người không chỉ nêu lên những nội dung phong phú của đạo đức cách mạng mà còn gợi mở bao điều quý giá khác về giáo dục, thực hiện đạo đức cách mạng. Theo Người, phương pháp phải thích hợp, mềm dẻo, linh hoạt, đã đúng lại còn phải khéo nữa thì mới có sức thuyết phục lòng người.

Người đã nâng phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng lên tầm phương pháp tư tưởng, lên trình độ khoa học và nghệ thuật, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ lòng người ở mọi đối tượng, tầng lớp, thế hệ.

Như đã nói ở trên, sức thuyết phục mạnh mẽ của đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ ở trí tuệ, tư tưởng mà còn là ở sự khéo léo, tinh tế nhất là ở tấm gương trong sáng, mẫu mực về đạo đức của Người trong đời sống đạo đức hàng ngày.

Người đã thực hiện nhất quán giữa tư tưởng đạo đức và hành động đạo đức. Suốt một đời tận tụy vì dân, vì nước, Người là biểu tượng cao quý của đức hy sinh, lo cho dân, sống vì dân, thấu hiểu dân tình, dân sinh, dân ý, trở thành lãnh tụ của dân, thân dân và chính tâm. Tình thương yêu rộng lớn của Người đối với nhân dân, đồng bào là không bao giờ thay đổi. Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, đó là phương châm ứng xử và hành động của Người.

Người là lãnh tụ gần dân, sống trong lòng dân, đến với dân chân tình cởi mở, không một chút nào xa lạ, quan cách.

Người sống một cuộc sống đạm bạc, đồng cảm với dân, làm tất cả những gì có thể làm được để chăm lo cuộc sống hàng ngày những lợi ích thường nhật của dân.

Người tiếp xúc với mọi tầng lớp nhân dân từ chính khách, trí thức cao cấp tới dân thường để mưu cầu hạnh phúc thiết thân hàng ngày của họ. Người trung thành đến cùng với mục tiêu lý tưởng đã theo đuổi mà thực chất là để cho mọi người dân được sống trong độc lập tự do, có độc lập tự do thì mới có hạnh phúc. Vì thế, Người đảm nhận chức vụ lãnh đạo trong sự tín nhiệm tuyệt đối của dân mà vẫn chỉ nghĩ đó là bổn phận, trách nhiệm công dân của mình, giống như một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra mặt trận mà thôi.

Người đã có biết bao nhiêu chuyến đi công tác ở trong và ngoài nước. Đến đâu, Người cũng giản dị tự nhiên quan tâm thực sự tới cuộc sống của dân chúng, ân cần, chu đáo, chăm lo cho tất cả, chỉ quên mình. Trong trái tim của mỗi người Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau, Hồ Chí Minh là đồng nghĩa với sự kính yêu, biết ơn, ngưỡng mộ. Với đạo đức, nhân cách của Người, ngay đến kẻ thù cũng phải nể trọng.

Cho đến những năm cuối đời, Người còn trực tiếp làm việc với Hội nghị ngành Than, tìm hiểu cặn kẽ vì sao ngành kinh tế – kỹ thuật công nghệ này lại có chiều hướng giảm sút và phải vực dậy như thế nào. Người trực tiếp sửa chữa điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp và trong bản thảo Di chúc còn ghi, Người chủ trương miễn thuế nông nghiệp cho bà con nông dân để bà con yên tâm phấn khởi sản xuất. Ước nguyện của Người đã thành sự thật. Người học được bài học an dân trị quốc của ông cha ta, lo an sinh để an dân. Người làm việc với Ban Tuyên huấn Trung ương (nay là Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương) để bàn về cuộc vận động người tốt việc tốt… cho đến phút cuối cùng trên giường bệnh, Người vẫn lo cho dân nơi lũ lụt, mong tin chiến trường miền Nam thắng lớn. Muôn vàn tình thương của Người để lại cho đời, chỉ riêng Người “quên nỗi mình đau để nhở chung”… “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. . .Một Con người với đạo đức và Nhân cách như thế đã đi vào lịch sử, bất tử trong lòng dân.

3. Thực hành dạo đức Cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng, trở về với thế giới Người Hiền đã hơn l/3 thế kỷ nay. Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã gần 20 năm, tính từ Đại hội VI ( l2 /l986 ) đến nay. Khoảng thời gian đó đã đủ để sinh thành một thế hệ. Người đã đi xa nhưng ai cũng cảm thấy như Người vẫn ở bên cạnh chúng ta, cổ vũ khuyến khích những việc làm tốt, nhắc nhở giúp đỡ chúng ta những yếu kém, hạn chế, sửa chữa những khuyết điểm sai lầm để tiến bộ trưởng thành.

Trong thời kỳ phát triển mới hiện nay của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định: Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Bất cứ một lĩnh vực nào của đời sống xã hội, bất cứ một hoạt động nào của tổ chức và cá nhân một người, đạo đức cũng thể hiện vai trò quan trọng của nó.Thiếu vắng hoặc yếu kém về đạo đức, con người không có nhân tính đầy đủ, không phát triển được nhân tính để thành người và làm người.

Suy thoái đạo đức, xã hội không thể phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hoá và xã hội.

Trong hệ thống các động lực phát triển xã hội, đạo đức là một động lực tinh thần không thể thiếu. Chúng ta đang đấu tranh quyết liệt chống quan liêu tham nhũng như một trọng bệnh, như một quốc nạn để đảm bảo môi trường xã hội – nhân văn lành mạnh cho sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.

Tình hình đó đòi hỏi phải chú trọng xây dựng đạo đức xã hội và giáo dục tu dưỡng đạo đức cá nhân. Vào lúc này, thực hành đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, noi theo tấm gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh trở nên vô cùng cấp thiết, bức xúc. Đó còn là vấn đề cơ bản, lâu dài dối với sự phát triển, hiện đại hoá xã hội ở nước ta.

Trước hết đó là thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, từ cán bộ đảng viên đến các tổ chức đảng. Đó còn là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng trong đội ngũ công chức của Nhà nước. Càng đi vào xây dựng Nhà nước pháp quyền càng phải chú trọng tới đạo đức công chức, đạo đức công dân. Đó là đảm bảo cho đạo đức xã hội và tăng cường tính nhân văn của pháp quyền dân chủ. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, cho thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên cũng như giới trí thức, văn nghệ sĩ cũng là một đối tượng xã hội cần đặc biệt quan tâm. Đi vào kinh tế thị trường, xây dựng đạo đức của tầng lớp doanh nhân, của người sản xuất kinh doanh cùng với pháp luật sẽ đảm bảo cho văn hoá kinh doanh định hình và phát triển. Việc thực hành đạo đức cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh như vậy sẽ bao quát toàn diện các đối tượng xã hội, từ trong Đảng, trong Nhà nước tới các cộng đồng dân cư. Nói đi đôi với làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất nhận thức với hành động hướng tới cơ sở, tới dân chúng là mục đích và thước đo tính trung thực đạo đức mà chúng ta cần đạt tới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

GS.TS Hoàng Chí Bảo

haugiang.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc – Người khơi nguồn một dòng báo, một sự nghiệp

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam

Báo "Thanh Niên", cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập tại Quảng Châu (Trung Quốc), số ra ngày 3-10-1926 - Ảnh tư liệu

Báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc lập ra ở Quảng Châu, Trung Quốc – số đầu ra ngày 21.6.1925 – là mốc mở đầu cho cả một dòng báo chí cách mạng ở Việt Nam, hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí của nước Việt Nam mới.

Kể từ khi tờ báo độc đáo này xuất hiện đã thu hút ngay sự chú ý của giới mật thám thực dân, của những nhà nghiên cứu của quốc tế cộng sản, và tất nhiên của đông đảo bạn đọc là các nhà cách mạng trẻ tuổi thuộc thế hệ đầu tiên do chính người sáng lập tờ báo là Bác Hồ tổ chức và rèn luyện, đông đảo những người lao động nghèo khổ đang mơ giấc mơ giải phóng bất chấp sự đe dọa của thực dân Pháp đối với việc chuyền tay nhau đọc mỗi số Thanh niên mà có thể phải chịu 3-5 năm tù.

Cũng giống như cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, những trang báo Thanh niên ngay từ những số đầu đã là sách gối đầu giường của những người yêu nước và cách mạng, chứa đựng biết bao trí tuệ và nhiệt huyết của những người đi khai sơn phá thạch cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự ra đời của nước Việt Nam mới.

Tờ báo tiếng Việt đầu tiên đã xuất hiện ở Sài Gòn vào ngày 15.4.1865 do Potteaux và Trương Vĩnh Ký xuất bản, mang tên Gia Định cắm một cái mốc lịch sử cho báo chí nước nhà.

Cũng do những điều kiện riêng của xứ Nam Kỳ, mảnh đất đầu tiên của Tổ quốc ta bị thực dân Pháp thực hiện cuộc công nghiệp hóa cưỡng bức kể từ 1862, máy in hiện đại và chữ Quốc ngữ được phổ cập trước xứ Bắc Kỳ hơn 3 thập kỷ nên Sài Gòn trở thành cái nôi đầu tiên của nền báo chí nước nhà. Sau Gia Định báo, cho đến năm 1907 khi ở Hà Nội có tờ Đăng Cổ Tùng báo, nửa chữ Hán, nửa chữ Việt, thì ở Nam Kỳ đã có một loạt tờ báo quan trọng như Phan Yên báo (1868), Nam Kỳ Địa phận (1883), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Lục Tỉnh Tân Văn (1907)…

Nhưng cũng phải nói rằng phải đợi đến tháng 6 năm 1925 ấy, với tờ Thanh niên của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta mới thực sự bắt đầu nền báo chí cách mạng của nước Việt Nam mới.

Đã có lúc chúng ta cũng băn khoăn về cái mốc mở đầu của dòng báo chí cách mạng, vì Bác Hồ đã từng nổi tiếng ở Paris với tờ Người cùng khổ (LE PARIA), bộ báo 38 số, số 1 ra ngày 1.4.1922. Nhưng vì tờ báo này là cơ quan ngôn luận của Hội liên hiệp thuộc địa nên các nhà sử học đã nhất trí rằng, dù sao cũng không thể xếp nó trong phạm trù “báo chí cách mạng Việt Nam” được. Còn Việt Nam hồn, tờ báo tiếng Việt do Nguyễn Thế Truyền lập ra ở Paris (số 1 ra ngày 15.5.1923) cũng được xác định rằng Nguyễn Ái Quốc đã không có điều kiện viết cho tờ này…

Sự hiểu biết của bạn đọc về tờ Thanh niên thực đã khá phong phú.

Trước hết, xin được nhắc lại tên một nhà sử học trong giới Việt kiều ở Canada nay đã mất, ông Huỳnh Kim Khánh, người đã bỏ công sưu tầm, nghiên cứu trọn vẹn bộ sưu tập Thanh niên gồm 208 số (số cuối cùng, tháng 5.1930), trong luận văn Tiến sỹ của ông. Khi đó, ở Hà Nội, trong tay chúng ta chỉ có 10 số báo Thanh niên, lưu giữ tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam.

Sự nghiệp báo chí cách mạng của Đảng ta trước khi nắm được chính quyền – thực sự phong phú. Theo thống kê, khi đỉnh cao vào thời kỳ 1935 – 1938, cả nước có tới trên 100 tờ, chỉ riêng Nghệ An, trong cao trào 30 – 31 cũng có tới gần 40 tờ báo của Xứ ủy và của địa phương được in ra. Báo chí trong tù cũng là hiện tượng hiếm thấy trong phong trào cộng sản ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí thống nhất với nhau rằng, hiếm có một Đảng non trẻ nào như Đảng Cộng sản Việt Nam có được một hệ thống báo chí độc đáo đến như vậy, bắt đầu từ cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp sau cao trào 30 – 31. Chỉ trừ báo của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương và những năm sau này (kể cả Mặt trận Việt Minh) được in typô, còn đa số đều in rất thô sơ theo kiểu in sáp hoặc in thạch, trên những trang giấy cũng rất thô sơ, phần lớn là giấy học trò.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam (ảnh TL)

Báo Thanh niên của Bác Hồ cũng thế. Người viết bài này, trước đây đã từng phỏng vấn hai bà Lý Phương Đức và Lý Ưng Thuận (chị em họ với Lý Tự Trọng), những chứng nhân còn lại của nhóm 8 thiếu niên cộng sản đầu tiên do Bác lập ra ở Quảng Châu cùng lúc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (mà sử quen gọi là Đảng Thanh niên) tại Hà Nội. Các cụ đã kể rằng, trong buổi trứng nước đó, tại số nhà 13 đường Văn Minh, Quảng Châu (nay là số nhà 248 – 250), trụ sở của Đảng Thanh niên (tại khu nhà của cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Trung Hoa – Tôn Dật Tiên), Bác Hồ đã chỉ đạo nhà cách mạng trẻ tuổi cho ra mắt tờ Thanh niên, cũng giống như việc Lê – nin cho ra mắt tờ Tia lửa (ISKRA) cho cách mạng Nga như thế nào…

Tờ báo tuần có 4 trang, in theo lối viết bút sắt trên giấy sáp, gợi cho bất cứ ai được thấy tận mắt cái gì đó rất “Hồ Chí Minh”. Từ nét chữ Bác viết tên báo trên Manchette, với chữ “T” và chữ “N” viết to, giống như nét chữ trong Di chúc; bên cạnh chữ Thanh niên bằng chữ Tàu, nét rỗng bên trái là hình ngôi sao 5 cánh để đánh thứ tự các số báo. Trong 88 số (số 88 ra ngày 17.4.1927), hơn một tháng trước khi Bác phải bí mật rời Quảng Châu với tấm căn cước xé đôi vì cuộc phản biến của Tưởng Giới Thạch, đều một kiểu chữ viết chân phương, trình bày trên 2 cột, trang 3 và 4 vì đôi khi có minh họa, tin ngắn và cả thơ nữa, nên trình bày co dãn hơn. Sau Bác có Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu giúp sức biên tập bài vở, nhưng Người vẫn đảm trách dường như tất cả, từ bài viết đến việc in báo.

Số phận của tờ Thanh niên thực đặc biệt đúng như sứ mệnh của nó với cách mạng và báo chí Việt Nam.

Là cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, tổ chức tiền thân quan trọng nhất của Đảng ta, được in ấn bí mật là thế, với số lượng cũng chỉ 400, 500 bản, và khi nó được đưa về trong nước, lập tức đã bị kẻ thù theo dõi. Cũng thực lạ, có lẽ qua nội dung độc đáo của Thanh niên, ngay từ đầu 1926 Chánh mật thám Đông Dương là L. Marty đã ra lệnh cho bọn mật vụ sưu tầm bằng được bộ báo này. Và tên mật thám cáo già này đã kết luận rằng chắc chắn tác giả tờ báo phải là Nguyễn Ái Quốc, tòa soạn phải ở Quảng Châu.

Trong nhiều báo cáo mật gửi về Bộ thuộc địa và cả trong cuốn sách “nổi tiếng” Góp phần vào lịch sử các phong trào chính trị Đông Dương (xuất bản ở Hà Nội, 1993, gồm 5 tập), chính Marty đã viết: “Ông Nguyễn Ái Quốc đã không ngần ngại dành suốt 60 số đầu của tờ báo để chuẩn bị tinh thần cho người đọc, chỉ nói về lòng yêu nước, để đến số 61 ra ngày 12.9.1926 ông mới để lộ ý định của ông khi viết rằng chỉ có một Đảng Cộng sản mới bảo đảm hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam…” Nhận xét chung về vai trò của Thanh niên Cách mạng đồng chí hội và của báo Thanh niên, cũng chính Marty có một nhận định nữa rất chính xác rằng: nếu như trong những năm 1926 – 1927, ngay những phần tử ưu tú của Đảng còn nghĩ rằng mình là quốc gia, thì những năm 1928 họ đã náo nức muốn thể hiện mình là cộng sản…

Vì sao báo Thanh niên lại có sự tác động thay đổi tâm trí sâu sắc đến như vậy?

Có lẽ, Bác Hồ, trong những ngày đầu tiên ấy, không những thấm nhuần sâu sách luận đề của Lênin về báo chí cách mạng, nó không những là người tuyên truyền và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể, Bác hiểu rõ những đặc tính của một dân tộc nông dân, giai cấp công nhân mới ra đời còn quá non trẻ và người dân đều chưa hiểu rõ “Chủ nghĩa xã hội” là gì để xác định cho Thanh niên một phong cách làm báo cách mạng rất Việt Nam. Trong khuôn khổ hạn hẹp của con chữ, bài dài nhất, có khi đăng tải thành 2, 3 kỳ cũng chỉ dưới 1.000 chữ, phổ biến 300 – 500 chữ, cá biệt có bài chỉ có 3 câu, Nguyễn Ái Quốc vẫn truyền tải được những nội dung to lớn của dân tộc và thời đại. Chỉ một ví dụ về một xưởng đóng giầy, Bác đã cắt nghĩa khái niệm kinh tế học thế nào là giá trị thặng dư của Mác; với 2 mẩu chuyện khác, Bác giải thích khái niệm “chuyên chính vô sản” và nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang của Lênin…

Báo Thanh niên đăng bài ít ký tên nhưng dấu ấn của Bác thì dễ dàng nhận ra. Đăng thơ, Bác ký là Văn Thu… Tờ báo đã nhanh chóng thôi thúc lòng người, làm sống động phong trào cộng sản. Tiếp bước Thanh niên là một rừng nhỏ báo chí bí mật của Đảng ở trong nước lần lượt ra đời trước và ngay sau ngày 3.2.1930, từ Tranh đấu, Cờ Vô sản, Đỏ, Lao Động đến Người Lao khổ, Sóng cách mệnh, Xi Moong, Than, Bồi Bếp… Thực cảm động trong số báo này, có tờ từ Trà Vinh, Bến Tre… đã vượt qua lưới thép của kẻ thù đến tận trụ sở Quốc tế Cộng sản, trường Phương Đông Mátxcơva – nơi Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong… đang miệt mài học tập tri thức cộng sản, rèn luyện kỹ năng, nghệ thuật của một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Trong một bài báo gọi là Báo chí cách mạng trên đất nước An Nam của một tác giả tên là Lun (chưa xác minh được), đăng tải trên tờ Phóng viên Công Nhân (của Quốc tế cộng sản) có in hình Manchette một tờ báo thời kỳ 30 – 31 của Nam Kỳ, tác giả đã hết lời ca ngợi những người làm báo cách mạng của Đảng cộng sản Đông Dương trẻ tuổi, những người sáng tạo trong in ấn, đầy gian khổ, trong công tác phát hành đầy nguy hiểm và giá trị giáo dục vô cùng to lớn của thứ vũ khí này trong phong trào cộng sản ở Việt Nam.

Tất nhiên sau Thanh niên, chúng ta còn nhiều tờ báo cách mạng khác cũng rất hay, bề thế như Tạp chí Cộng sản, Dân chúng và Tin tức (1937 – 1939); đặc biệt bộ ba Cờ giải phóng, Sự thật và Nhân dân (từ năm 1942 đến 11.3.1951 – khi có số đầu của Nhân dân), nhưng rõ ràng tờ Thanh niên của Bác thực sự là tờ báo mở đầu cho một sự nghiệp, sự nghiệp báo chí.

Việc hình thành và phát triển của dòng báo chí cách mạng – tự nó đã là một thành tựu quan trọng trong cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp của Đảng ta trước Cách mạng tháng Tám, theo những nguyên tắc xây dựng và hoạt động mà tờ báo đầu tiên của Bác Hồ đã đặt nền móng. Dù khi được xuất bản công khai hợp pháp (duy nhất trong thời kỳ Mặt trận dân chủ 1936 – 1939) hay khi tồn tại trong thế bí mật bất hợp pháp (là chủ yếu), các báo cách mạng đã thực hiện một cách xuất sắc quan điểm báo chí của Lênin, báo chí cách mạng – không những là người tuyên truyền và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể. Đảng ta đã tổng kết những kinh nghiệm đầu tiên về việc “đào tạo phóng viên công nông”, tổ chức mạng lưới sinh hoạt báo chí, quan hệ của các tổ chức Đảng với báo chí cách mạng…, những việc mà ngày hôm nay trong việc phát triển hiện đại nền báo chí Việt Nam đương đại chúng ta vẫn luôn xem như những nguyên tắc cần thiết.

Báo Thanh niên cùng với những tờ báo nổi tiếng của Quốc tế cộng sản (như Tạp chí Quốc tế Cộng sản, Thư tín Quốc tế, Tạp chí Phương Đông cách mạng…); báo chí của Đảng cộng sản Pháp như Nhân đạo… trong thập kỷ 20 của Thế kỷ trước là cái nôi đầu tiên để đào tạo thế hệ thứ nhất các nhà báo cách mạng nước ta, mà phần lớn đều là học trò của Bác Hồ như: Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Tạo, Bùi Công Trừng, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Xuân Thủy…

Tư duy báo chí cách mạng của chúng ta đã thực sự có những thay đổi quan trọng, kể từ sau Đại hội Đảng VI (năm 1986), một sự kiện được coi như bước ngoặt của sự đổi mới. Năm 1990 Luật Báo chí ra đời, báo chí diễn tả quan điểm mới trong những mệnh đề như: Diễn đàn của nhân dân, thông tin hai chiều và đa dạng hóa thông tin…

Những gì diễn ra trong đời sống của giới báo chí hôm nay dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là phù hợp với bước đi của thời đại và của dân tộc ta. Hồ Chí Minh – Người sáng lập ra báo Thanh niên, nhà báo số 1 của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã nhiều lần chỉ ra rằng, logic lớn nhất là logic đời sống…

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

GS. TS. Đỗ Quang Hưng/GD&TĐ

tuyengiao.vn

Rèn luyện đạo đức cách mạng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

42 năm Bản Di chúc lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969-2/9/2011)

(TCTG)- Thường xuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là thiết thực thực hiện Di chúc của Người, mà còn góp phần đẩy lùi các tệ nạn, các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và khẳng định.

Trước khi đi xa về với thế giới người hiền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại bản Di chúc lịch sử, trong đó thể hiện rõ sự tiên liệu và lời dặn của Người về đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[1].

Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng

Đề cao vai trò và sức mạnh của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[2]. Trong tư tưởng của Người, đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng, thể hiện rõ trong các mối quan hệ xã hội với tất cả mọi người xung quanh, dù họ là ai và đang ở vị trí xã hội nào. Và đối với người cán bộ đảng viên, thì đạo đức là sức mạnh tinh thần, là vũ khí sắc bén vì giống như “sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[3].

Thấu hiểu sâu sắc rằng, suy thoái về đạo đức là khởi điểm của sự suy thoái và tha hoá về đạo đức sẽ dẫn đến tha hoá về chính trị, cho nên, suốt đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ rèn luyện đạo đức cách mạng, luôn thực hành cần kiêm liêm chính, chí công vô tư, mà còn chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng, cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Từ những năm tháng hoạt động ở Quảng Châu- Trung Quốc, Người đã chỉ rõ nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng người cán bộ cách mạng chân chính để tiến lên xây dựng một Đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh. Sau khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến vấn đề rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền. Theo Người, chỉ có trong sạch, không để chức, quyền, danh, lợi làm hoen ố lương tâm, dẫn đến suy thoái, biến chất, thì cán bộ, đảng viên mới có thể hoàn thành nhiệm vụ cách mạng mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, mói xứng đáng là “công bộc” của dân.

Xưa nay niềm tin chính trị của người dân luôn luôn gắn liền với tấm gương đạo đức của người cầm quyền, đặc biệt, đối với các dân tộc phương Đông thì “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Vì “giải phóng dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, tự mình đã hủ hoá xấu xa thì còn làm nổi việc gì”[4], nên Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”[5]. Không dừng ở đó, Người còn cảnh báo rằng, “một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[6].

Không chỉ quan tâm giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, Người còn là một tấm gương tuyệt vời trong sáng và toàn vẹn về đạo đức cách mạng, nói đi đôi với làm, gắn liền lý luận với thực tiễn. Sự thống nhất trong cả lời nói và hành động đã trở thành nét đặc sắc của Hồ Chí Minh. Chính Người là tấm gương đạo đức tuyệt vời về con người mới, là “hình ảnh mẫu mực về người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, có sức lôi cuốn, cảm hoá mãnh liệt đối với mọi người. Hồ Chí Minh “vừa là nhà đạo đức học vừa là một biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng”[7]. Hồ Chí Minh – “Con người đã là kết tinh của mọi đức tính cách mạng, đối với con người có những tư tưởng tuyệt vời, có những hành động phi thường, nhìn xa thấy rộng, học vấn uyên thâm, con người đã nêu gương sáng ngời về liêm chính và ý thức danh dự cao cả, tuyệt đối chân thành, con người đã nêu cao tinh thần hi sinh và lao động quên mình, đức tính khiêm tốn được thể hiện qua mọi thử thách”[8], đã toả ra sức mạnh tinh thần kỳ diệu. Sức mạnh ấy là động lực trong mỗi con người Việt Nam. Lời dạy và việc làm của Người là kim chỉ nam cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận rõ hướng đi và cách đi đúng đắn cho mình.

Thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là thiết thực thực hiện Di chúc của Người

Noi theo tấm gương của Người và luôn thấm nhuần lời Người dặn, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng được rèn luyện, thử thách trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, đã luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đó là những người luôn nâng cao đạo đức cách mạng, sống giản dị và gắn bó với nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết. Song bên cạnh đó, cùng với những hệ lụy và tác động của quá trình đổi mới và hội nhập, sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức có quyền đã trở thành “vấn nạn”, làm tổn hại đến uy tín và đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền.

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng suy thoái đạo đức trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có rất nhiều, nhưng rõ nhất và nguy hiểm nhất là sự đề cao giá trị vật chất, làm giảm các giá trị tinh thần đạo đức, hồi phục mạnh mẽ những tư tưởng và lối sống cũ từng phổ biến dưới chế độ thực dân phong kiến, thể hiện rõ trong các tệ nạn quan liêu, tham ô lãng phí, mất dân chủ, khuất phục trước uy lực của đồng tiền, ham hư danh, sa đoạ, truỵ lạc,v.v..của những kẻ thoái hóa, biến chất. Đó là những căn bệnh, là biểu hiện nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân “nó lây, nó ngấm vào trong Đảng”[9].

Vấn nạn này đã được nêu ra trong Văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX và được khẳng định trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức còn diễn ra nghiêm trọng. Đó là một trong những nguy cơ liên quan đến sự sống còn của Đảng của chế độ”. Và để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và làm lành mạnh đời sống đạo đức xã hội, và tiếp tục thực hiện những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc, ngày 07/11/2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ thị nêu rõ: “Tổ chức cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng, thiết thực, hiệu quả trong cả hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, không phô trương, hình thức. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn liền với việc triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí và đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, với các phong trào thi đua yêu nước. Gắn tính tự giác học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân với sự đôn đốc, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và nhân dân”.

Thông qua việc triển khai đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội, tiến hành trong thời gian dài, có nội dung phong phú, cụ thể và thiết thực, Cuộc vận động đã góp phần “làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”.

Đây là một trong những biện pháp cơ bản, là một trong những động lực chính trị quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của Đảng, của dân tộc trước cục diện phát triển đất nước. Sau 4 năm thực hiện, Cuộc vận động đã thu được kết quả tích cực, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của đông đảo cán bộ, đảng viên, tăng cường sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng… Kết quả triển khai cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Trên tinh thần đó, Văn kiện Đại hội XI của Đảng và đặc biệt là Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được quán triệt và thực thi sâu rộng trong thực tiễn, để nhằm “phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện cuộc vận động trong thời gian qua, tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng”.

Các cấp ủy Đảng lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, chặt chẽ, kết hợp việc tổ chức học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các cuộc vận động và các phong trào đang triển khai trong Đảng và trong xã hội. Trong quá trình thực hiện, “đề cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người, nhất là vai trò gương mẫu của cán bộ chủ chốt các cấp, của người đứng đầu, của cấp trên; đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện nghiêm các quy định của tổ chức đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị và sự giám sát của nhân dân”, nhằm “tạo sự thống nhất cao về nhận thức trong Đảng và xã hội về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, coi đây là công việc thường xuyên hằng ngày, là trách nhiệm cụ thể thiết thân của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Kỷ niệm 42 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa và để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta bản Di chúc lịch sử (2/9/1969- 2/9/2011), cùng với việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị, chúng ta càng thấy những điều căn dặn của Người về đạo đức cách mạng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên sâu sắc và rất cần thiết. Cùng với thời gian, tấm gương đạo đức cách mạng của Người, những chỉ dẫn của Người về đạo đức và rèn luyện đạo đức cách mạng vẫn tiếp tục toả sáng. Thường xuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là thiết thực thực hiện Di chúc của Người, mà còn góp phần đẩy lùi các tệ nạn, các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và khẳng định. Chỉ có như vậy, Đảng mới đủ sức mạnh nội lực, đủ năng lực lãnh đạo và niềm tin của nhân dân để đưa công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước ta đi đến thành công.

Ths, NCS. Nguyễn Ngọc Dung
Đại học Thủy lợi

[1]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.12, tr.516
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.299
[3]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.283
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.253
[5]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.253
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.557
[7] Phạm Văn Đồng, Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb.CTQG, H, 1998, tr.188
[8]Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, t.III, Nxb. Sự thật, H.1971, tr.43
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.261

tuyengiao.vn

Quán triệt và thực hiện lời Bác Hồ căn dặn về “Dân vận”

Kỷ niệm 81 năm ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng (15/10/1930 – 15/10/2011)

Công tác dân vận của Đảng đã tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Hồ Chí Minh từng nói nhiều và viết nhiều về vấn đề dân vận và nhiệm vụ của Đảng về công tác quần chúng. Với thời gian, tư tưởng của Người về “Dân vận” (thể hiện rõ trong bài viết ngày 15/10/1949, đăng trên báo Sự Thật, số 120) vẫn còn nguyên giá trị thời sự.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng bởi: “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”(1). Tuy nhiên, muốn nhân dân giác ngộ, tự nguyện làm tốt bổn phận và trách nhiệm của mình, thì Đảng phải tiến hành công tác tuyên truyền, vận động, phải làm tốt công tác dân vận: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”(2).

Hồ Chí Minh từng nói nhiều và viết nhiều về vấn đề dân vận và nhiệm vụ của Đảng về công tác quần chúng, nhưng cùng với thời gian, tư tưởng của Người về “Dân vận” (thể hiện rõ trong bài viết ngày 15/10/1949, đăng trên báo Sự Thật, số 120) vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Trong bài viết đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng:

Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Ðoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3).

Theo đó, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” chính là: chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức gánh vác công việc nước nhà; nhân dân tự phát huy quyền làm chủ của mình trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và Nhà nước chỉ can thiệp khi quyền lợi của dân hay pháp luật bị vi phạm. Trong Nhà nước, mọi qui định của hệ thống pháp luật đều nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng và tạo điều kiện sống thuận lợi cho nhân dân và “phải chú ý giải quyết hết những vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề có quan hệ tới đời sống của nhân dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: làm cách mạng tức là đổi xã hội cũ thành xã hội mới. Đó là một công việc lâu dài, khó khăn, gian khổ, nên đòi hỏi phải có sức mạnh “dời non lấp bể” của sự đồng tâm, hợp lực, nhất trí của toàn dân tộc; không phân biệt giai cấp, tầng lớp, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo, giàu, nghèo…Với ý nghĩa đó, để đưa cuộc cách mạng đến thắng lợi, thì tất yếu: Đảng Cộng sản – đội tiền phong của giai cấp và dân tộc phải làm tốt công tác “Dân vận”. “Dân vận” bao hàm là “vận động tất cả mọi người dân, không để sót một người nào”… tập hợp lại, đoàn kết lại, thực hiện những công việc chung. Nhưng “Dân vận” còn là phải hiểu rõ năng lực, tâm tư, nguyện vọng hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng, để từ đó có hình thức và phương pháp vận động cho phù hợp, chứ không chỉ là “dùng báo chương, sách vở, mít-tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ”. Và “Dân vận” theo Hồ Chí Minh là “tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh v.v…) đều phải phụ trách dân vận”.

Không chỉ lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tháng Tám năm 1945, Đảng còn lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến, bảo vệ nền độc lập dân tộc và tiến hành công cuộc xây dựng CNXH. Trong những năm tháng gian lao đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn rằng: “Việc kiến thiết nước nhà phải làm dần dần, không thể một tháng một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải làm theo đúng phương châm: Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh, chúng ta phải yêu dân, kính dân thì thì dân mới yêu ta, kính ta”(5).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Kinh nghiệm trong nước và các nước cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong”(6), nên làm dân vận không chỉ là tuyên truyền suông bằng sách báo, mít tinh, khẩu hiệu, mà phải bằng hành động cụ thể, thiết thực. Người luôn quán triệt: công tác dân vận là một bộ phận quan trọng trong công tác của Đảng, nếu thiếu, hoặc làm không tốt, Đảng sẽ không tập hợp được quần chúng làm cách mạng; không những không phát huy được sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết, mà còn bị kẻ thù lợi dụng, chống phá, xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Theo Người, nếu có quần chúng mà không có Đảng lãnh đạo, thì mọi phong trào của quần chúng chỉ là phong trào tự phát, nhưng Đảng muốn hoàn thành vai trò lãnh đạo, tiền phong của mình thì tất yếu phải làm tốt công tác dân vận, và mọi thành công của Đảng ta trong tiến trình cách mạng chính “là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”(7).

2. Không chỉ nói về “Dân vận” và “công tác dân vận”, Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về “Dân vận” và “tiến hành dân vận”. Người từng nhấn mạnh, trong mọi công việc của Đảng: cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân” thì phải luôn gần dân, gắn bó với dân, được nhân dân tin yêu và kính trọng và luôn phải tự mình làm gương cho quần chúng, vì việc nêu gương có một tác dụng rất to lớn. Tự mình làm gương cũng chính là biểu hiện rõ nét nhất của “lời nói đi đôi với việc làm”, nên trong khi thực hành “Dân vận”, Người luôn quán triệt nguyên tắc “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Thống nhất giữa lời nói và việc làm, vì Tổ quốc và nhân dân phục vụ, Hồ Chí Minh là một mẫu mực của tấm gương đạo đức người cách mạng, vị lãnh tụ “gần dân, thân dân”. Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, Hồ Chí Minh là “Người luôn luôn quan tâm tới lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, không hề quan tâm tới bản thân. Người cư xử nhiệt tình, khiêm tốn, gần gũi, bình dị, giữ mối liên hệ thân mật không cách bức với quần chúng. Quyết tâm và dũng khí đấu tranh của Người xuất phát từ tấm lòng yêu mến nhân dân, sức mạnh và uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân”(8).

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, Đảng ta luôn xác định đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của nhân dân, của công tác dân vận đối với sự nghiệp cách mạng, coi công tác dân vận là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động của Đảng. Nhờ đó, Đảng đã tập hợp được đông đảo quần chúng, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Kiên định con đường đã lựa chọn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, trong 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhờ làm tốt công tác dân vận, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. Niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ ngày càng được củng cố.

3. Thấm nhuần quan điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(9) và “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và củng cố tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Công tác dân vận là trách nhiệm của tất cả các tổ chức chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang”(10), trong 81 năm qua, công tác Dân vận của Đảng (15-10-1930 – 15-10-2011) đã đạt được nhiều thành tích, đã luôn đồng hành cùng với những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Tuy nhiên, từ thực tiễn, có thể thấy rõ, bên cạnh những thuận lợi, những thành tựu, công tác dân vận của Đảng cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức; vẫn còn bộc lộ những hạn chế, những tồn tại cần phải khắc phục. Đâu đó vẫn còn một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự quan tâm đầy đủ đối với công tác dân vận, còn xem nhẹ công tác vận động quần chúng; chưa thật sự đầu tư thỏa đáng cho công tác dân vận. Ở các cấp, còn thiếu những cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt và nhiệt thành làm công tác dân vận. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng còn chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn. Ở một số nơi, một số địa bàn cơ sở, cán bộ, đảng viên vẫn chưa thật sự gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh…, nhất là “một số tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể nhân dân chưa quan tâm đúng mức công tác dân vận. Nội dung, phương pháp vận động, tập hợp quần chúng vẫn nặng tính hành chính”.

Vì vậy, để xây dựng mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tạo ra sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, và để “toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân” (11) như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ, thì công tác dân vận phải đổi mới, phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tiến tới thực hiện quy chế “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, và thi đua thực hiện phong trào “Dân vận khéo”.

Luôn quán triệt tinh thần các văn kiện của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, từ đó mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng phải có chuyển biến nhận thức sâu sắc về vai trò, mục đích, qui trình, nội dung và phương thức tiến hành công tác dân vận trong giai đoạn mới, coi thực hành dân chủ là phương thức cơ bản của công tác dân vận. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên tinh thần: giải thích cho dân hiểu, bàn với dân, tổ chức để dân thi hành, cùng dân kiểm thảo lại công việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và 4 phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra mà Đảng đã khẳng định. Trong mọi nội dung về dân vận và công tác dân vận phải luôn thấm nhuần lời Bác dặn “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

Coi công tác dân vận là công việc của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân; kịp thời đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, đi liền cùng với việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở các cấp, các ngành, hướng tới mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Từ cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Dân vận” cách đây 62 năm (15-10-1949 – 15-10-2011): “Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận. Ðó là sai lầm rất to, rất có hại”, công tác dân vận cần phải được quan tâm đặc biệt. Cán bộ làm công tác dân vận tốt thì nhất định “phải thật thà nhúng tay vào việc”; phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc để biết sinh hoạt của quần chúng thế nào, biết nguyện vọng của quần chúng ra sao, rồi từ đó kiên trì, giải thích cho quần chúng hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước….

Trong mọi mặt của đời sống xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên phải thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, nhất là phong cách dân vận của Người thông qua trước tác của Người, những câu chuyện kể về Người …Trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, mọi địa bàn, phải thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức, các đoàn thể chính trị -xã hội tiến hành tốt công tác “Dân vận”, thực hiện và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở “đồng tâm”, “đồng sức”, “đồng lòng”, “đồng thuận”, vì đại cục./.

Lâm Tùng
Đại học Giao thông

____________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2000, t.2; tr.262.
(2) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.700.
(3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.648.
(4) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.4, tr.48.
(5) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.4, tr.57.
(6) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.295.
(7) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.10, tr.197.
(8) – Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.KHXH, H.1990, tr.120.
(9) – Nghị quyết TƯ 8B/NQ/HNTW, ngày 27-3-1990: “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”.
(10) – Quyết định số 290-QĐ/TƯ, ngày 25-2-2010: “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”.
(11) – ĐCSVN: Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.65.

tuyengiao.vn

Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam

PGS.TS. Bùi Đình Phong
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

(TCTG)- Đại hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 tại Pari từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1987 đã thông qua Nghị quyết 24 C/18.65 về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh- Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Nghị quyết có đoạn viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

14-03-2010 09-1236-59 111copy.jpg

Nhận thấy những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(1).

Ở đây có mấy điểm quan trọng cần nhấn mạnh. Trước hết, không phải bất cứ ai hoạt động và sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa cũng đều được công nhận là “nhà văn hóa”, mà chỉ được thừa nhận là “nhà văn hóa” nếu chủ thể hoạt động và sáng tạo đó vươn tới tầm cao của tri thức văn hóa của thời đại, đưa những tri thức rộng rãi mình có ra phục vụ dân tộc mình và các dân tộc trên thế giới, đem lại cho họ những lợi ích thiết thực, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển phong phú đa dạng của nền văn hóa dân tộc, sự tiến bộ và văn minh nhân loại. Thứ hai, trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử các dân tộc trên thế giới, có nhiều danh nhân nhưng hiếm có trường hợp nào vừa là anh hùng giải phóng dân tộc vừa là nhà văn hóa(2). Trường hợp Hồ Chí Minh là một “hiện tượng hiếm thấy”, cùng một lúc đạt “hai lần danh nhân” như cách nói của bè bạn thế giới. Đó là một trong những viên ngọc hiếm, sáng lấp lánh trong bầu trời dân tộc và nhân loại của thời đại chúng ta. Thứ ba, cần nhận thức đúng đắn chất “anh hùng” và chất “văn hóa” luôn luôn hòa quyện trong con người Hồ Chí Minh. Nếu hiểu văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn; văn hóa là hiểu biết làm người, hiểu biết xử sự, xử thế và trong xã hội còn áp bức, bóc lột, bất công thì xử sự, xử thế có ý nghĩa nhất là làm cách mạng để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức, thì Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn đúng theo nghĩa chân chính và trọn vẹn nhất của khái niệm đó. Thứ tư, chính vì vậy, một khía cạnh văn hóa ở nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là văn hóa cách mạng. Ngay từ đầu cuộc đời cách mạng, Người đã hiểu tầm quan trọng của văn hóa đối với đời sống con người, đối với sự nghiệp giải phóng xã hội và canh tân đất nước, đối với việc xây dựng tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Người ý thức sâu sắc bước khởi đầu của cuộc tìm đường là phải trang bị một bản lĩnh văn hóa để có được sự soi sáng về nhận thức và lý luận. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến cuối đời, Người luôn luôn hăng hái chiến đấu trên mặt trận văn hóa, kết hợp chặt chẽ văn hóa với cách mạng theo tinh thần “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Và chính vì vậy, sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những học trò xuất sắc của Bác Hồ khẳng định: “Sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm trong thời đại mới, giành lại cho nhân dân những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với loài người loại trừ một trở lực to lớn trên con đường tiến lên thế giới văn minh, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử là chế độ thuộc địa”(3).

Nhận thức về văn hóa cách mạng, văn hóa hành động để thức tỉnh quần chúng, giúp cho con người năng lực tự giải phóng và sự giải phóng con người đã được các nhà văn hóa trên thế giới bàn đến từ sớm. Nhà văn hóa lớn Côlômbia là G.G. Macket (Gbriel Garcia Market), người được giải thưởng Nôben về văn học, tại cuộc gặp lần thứ hai các nhà trí thức Mỹ Latinh, đầu tháng 12-1985 đã phát biểu: “Bản thân cách mạng cũng là một sự nghiệp văn hóa, nó biểu hiện trọn vẹn một thiên hướng và khả năng sáng tạo, chứng minh và đòi hỏi ở tất cả chúng ta một niềm tin sâu sắc ở tương lai”(4). Ngay từ năm 1983, để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm loại từ điển tiểu sử mang tên Văn hóa thế kỷ XX (XX Century culture) do Alan Bullock và R.B Wodinger chủ biên (do Harper and Row xuất bản năm 1983), 300 nhà khoa học trên thế giới đã được hỏi ý kiến để bình chọn danh nhân văn hóa thế kỷ XX. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được chọn là một nhân vật tra cứu trong công trình đó với lý do: “Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu Á và của thế giới thứ ba”(5).

Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh có sự kết hợp đẹp đẽ, hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa của nhân loại. Người là sản phẩm vừa của lịch sử dân tộc, vừa của thời đại.

Là sản phẩm của lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh không những đã kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, giữ vững và phát triển liên tục dòng chảy của văn hóa dân tộc, mà còn kích thích cho nền văn hóa và cộng đồng các dân tộc Việt Nam phát triển, tạo ra một sức mạnh văn hóa mới, một khuôn mặt lịch sử mới trong thời kỳ giải giáp chủ nghĩa thực dân. Chính sức mạnh văn hóa đó đã làm nên những chiến công kỳ diệu trong khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến chống xâm lược và bước đầu xây dựng xã hội mới.

Là sản phẩm của thời đại, trên bước đường học tập và nghiên cứu, Hồ Chí Minh đã được tôi luyện trong môi trường của văn hóa phương Tây với các dòng tư tưởng tự do, dân chủ, tiến bộ mà cội nguồn là chủ nghĩa nhân văn cổ Hy Lạp- La Mã thời Phục Hưng, Thế kỷ Ánh sáng và đỉnh cao là chủ nghĩa nhân văn mácxít. Người luôn tiếp nhận có chọn lọc văn hóa phương Tây nói riêng, văn hóa nhân loại nói chung, kết hợp với truyền thống văn hóa của gia đình, quê hương, dân tộc, để biến thành một vũ khí có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình và giải phóng các dân tộc khác cùng chung số phận. Chính vì vậy, Bác Hồ đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, hiện thân cho một nền văn hóa hòa bình và thấm đượm tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc. Người là điểm hội tụ của các giá trị về Chân – Thiện – Mỹ – Dân chủ – Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đúng như một nữ đại biểu đã phát biểu trong Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990 tại Hà Nội: “Chúng tôi đến đây, có người theo đạo Hồi, có người theo đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Thiên chúa, trước chúng tôi không hiểu nhau, qua hai ngày hội thảo, chúng tôi có thể ngồi lại nói chuyện vui vẻ với nhau, vì chúng tôi có cái chung là lý tưởng Hồ Chí Minh: muốn cho nhân loại được tự do, hạnh phúc”.

Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, biện chứng giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với nhân loại, phương Đông với phương Tây. Người đã tìm thấy cái “cốt” trong sắc thái văn hóa Đông và Tây. Trong văn hóa phương Đông, đó là tính hòa đồng, “cầu đồng tồn dị” (lấy điểm tương đồng chế ngự sự dị biệt); “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc); đề cao tính cộng đồng, tập thể; v.v.. Văn hóa phương Tây thường lấy lý tính và khoa học làm tiêu chuẩn chân lý, nặng về cá nhân. Nhưng điểm đặc sắc nổi bật của Hồ Chí Minh là trên nền tảng phép biện chứng duy vật mácxít , Người đã tìm thấy mẫu số chung của các nền văn hóa, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ. Bằng chứng hùng hồn là những ngày trên đất nước có kẻ thù xâm lược, đáp từ trong buổi chiêu đãi của Thủ tướng Pháp là G. Biđôn ngày 2-7-1946, Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác)(6). Đúng như nhà triết học Pháp Patxcan (Pascal) đã viết, “người ta không vĩ đại khi chỉ đứng ở một cực, mà phải nối liền hai cực và lấp đầy khoảng giữa”.

Là nhà cách mạng đồng thời là nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục lớn, Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn hóa vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, mang chất lượng cách mạng hóa và hiện đại hóa nền văn học, nghệ thuật Việt Nam. Là tác giả của hơn 250 bài thơ, khoảng 2000 bài báo, nhiều truyện ngắn, văn chính luận, tiểu phẩm văn học, nhưng Người khước từ mọi danh hiệu văn hóa- văn nghệ mà mọi người gắn cho mình, chỉ nhận là nhà cách mạng chuyên nghiệp. Văn, thơ, báo chí của Người luôn luôn mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại. Từ khát vọng của dân tộc và mục tiêu của cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt ra cho mình và cũng là những lời nhắc nhở ân cần đối với những người viết văn, làm báo những câu hỏi: “Viết cho ai?” “Viết để làm gì?” “Viết như thế nào?”. Câu trả lời của Người có điểm chung là viết cho quần chúng số đông, để giác ngộ và nâng cao dân trí, giúp quần chúng hiểu và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của mình. Với một vốn liếng ngoại ngữ phong phú, Người đã sử dụng ngòi bút làm một vũ khí sắc bén lên án chế độ thực dân đế quốc, tuyên truyền tổ chức quần chúng nhân dân đứng lên làm cách mạng. Là nhà văn hóa kiệt xuất, suốt đời Người miệt mài đi gieo ánh sáng văn hóa, ánh sáng cách mạng cho nhân dân ta và góp phần đem lại ánh sáng cho nhân dân nhiều nước khác để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức.

Với sự hiểu biết sâu sắc ý nghĩa của sự kết hợp văn hóa với cách mạng, ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Bác Hồ đã đích thân phát động toàn dân chống giặc dốt, đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm. Người coi dốt nát cũng là một loại giặc và chống giặc dốt cũng như chống giặc ngoại xâm. Nhận thức rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”; “dốt thì dại, dại thì hèn”, Hồ Chí Minh đề cập trước hết nhiệm vụ phải xóa nạn mù chữ, tất cả mọi người Việt Nam phải biết đọc biết viết, phải có kiến thức mới để giữ vững nền độc lập dân tộc và tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Học để làm việc, làm người, bảo vệ và xây dựng đất nước. Học phải đi đôi với hành. Người nói: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(7). Không chỉ như vậy, giáo dục còn có một sứ mệnh cao cả là làm cho “non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu ”(8).

Cùng với cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, Bác Hồ phát động phong trào xây đời sống mới, cải cách lối sống và phong cách làm việc, nhằm đưa văn hóa đi sâu vào cuộc sống vào tâm lý của quốc dân, dùng văn hóa mới “sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”. Theo Người, “văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên hưởng”. Cuộc vận động xây dựng đời sống mới theo tinh thần của Người từng bước đi vào đời sống nhân dân, dần dần hình thành những phong trào với những thuần phong mỹ tục mới như xây dựng gia đình văn hóa mới; “tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”; “tết trồng cây”; “rèn luyện thân thể”; “người tốt việc tốt”; v.v.. Phong trào văn hóa quần chúng do Người phát động thật sự tạo ra cái nền vững chắc để giữ vững chính quyền cách mạng thời kỳ trứng nước, nhằm đánh thắng kẻ thù xâm lược, xóa bỏ từng bước tình trạng lạc hậu nghèo nàn, xây dựng xã hội mới.

Là nhà văn hóa kiệt xuất, Hồ Chí Minh chăm lo việc “trồng người”, gieo mầm cách mạng, đào tạo những thế hệ con người mới. Quan điểm xuyên suốt của Người là con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng; “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Đào tạo con người mới, đặc biệt là thế hệ trẻ, là để nắm vững kiến thức vô tận của loài người; để có lý tưởng và đạo đức cách mạng, có khả năng làm chủ đất nước, đưa dân tộc nhịp bước cùng thời đại.

Văn hóa là hiểu biết xử sự, xử thế, hiểu biết làm người. Một khía cạnh của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là ứng xử văn hóa. Là nhà văn hóa, mỗi người có một vẻ độc đáo trong ứng xử và thể hiện lòng nhân ái, nhưng ứng xử văn hóa của Bác Hồ mang cốt cách, diện mạo, sắc thái Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét, Người “vừa dân tộc, vừa quốc tế. Vừa rất mực nhân từ, vừa triệt để cách mạng. Rất uyên bác mà cực kỳ khiêm tốn. Rất nguyên tắc về chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược. Vừa nhìn xa trông rộng, vừa thiết thực cụ thể. Vừa vĩ đại vừa vô cùng bình dị. Vừa là chiến sĩ, vừa là nhà thơ. Trong phong ba bão tố Người vẫn ung dung tự tại, lạc quan nhìn về tương lai. Trong khó khăn gian nguy, Người vẫn thanh thản chủ động, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Ở Người là sự thống nhất giữa nước với dân, giữa dân tộc với giai cấp, giữa quốc gia với quốc tế. Ở Người, lòng yêu nhân dân, yêu nhân loại không bao giờ thay đổi. Người là một hình mẫu cao đẹp của con người mới trong thời đại mới, một biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại có một cách nhìn tinh tế, cho rằng “phong cách riêng của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là lòng nhân ái bao la, sự hồn nhiên giản dị, khiến cho tâm hồn Hồ Chí Minh vượt qua không gian và thời gian, đến với con người dễ dàng và thấm thía lạ lùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người thương yêu, kính trọng, tin tưởng, biết đòi hỏi và nâng đỡ con người, đối với từng người và đối với đông đảo nhân dân lao động, quan tâm đến số phận của mọi người, dù ai đó hôm qua là kẻ thù, hoặc là người lầm đường lạc lối nay hối cải. Trái tim yêu thương Hồ Chí Minh dành cho đồng bào mình cũng dành cho cả loài người tiến bộ. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nhằm mục đích phát huy các khả năng vô tận của con người, tôn trọng quyền và phẩm giá con người, nâng cao con người lên đỉnh cao của trí tuệ và đạo đức. Câu khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” là chân lý, là tiếng nói của lương tri phục hồi và phát triển những tư tưởng về nhân quyền và dân quyền đã được nêu trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn của cách mạng Pháp năm 1789”.

Năm nay, trong không khí hướng tới Đại lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long- Hà Nội, kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ôn lại sự nghiệp văn hóa cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh -Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, chúng ta lại nhớ tới nhận xét của nhà báo Liên Xô Oxíp Manđenxtam: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Quả đúng như vậy! Bác Hồ có một cuộc sống cần kiệm về vật chất nhưng rất giàu đẹp về văn hóa. Đó là cuộc sống vì tự do, hạnh phúc của con người. Người biết tìm hạnh phúc trong sự gắn bó với con người và thiên nhiên; trong cuộc đấu tranh không mệt mỏi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc.

Di sản văn hóa của Người sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!./.

————————–

(1) Nghị quyết 24C/18.65 của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
(2) Lê Lợi (1385-1433) là anh hùng giải phóng dân tộc nhưng không phải là nhà văn hóa. Lê Qúy Đôn (1726-1784) là nhà văn hóa, không phải là anh hùng giải phóng dân tộc.
(3) Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia- Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh-Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.21.
(4) Dẫn trong bài của Bộ trưởng Văn hóa Trần Văn Phác, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 4-1989.
(5) Dẫn theo Tạp chí Heral Tribune, số 8-10-1993.
(6), (7), (8) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, tr.267, 8, 33

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh: Một thời đại và mãi mãi

(Tuần Việt Nam) – Dân tộc này đã đi tới thắng lợi vì họ đã sống một đời sống của niềm tin.Có lòng tin và tạo dựng được niềm tin của dân tộc – Đó là di sản lớn nhất mà Bác để lại cho chúng ta.

Bác Hồ – Người là niềm tin tất thắng

Bác Hồ với các cháu thiếu niên, nhi đồng.

Đêm 16 tháng 5, chương trình truyền hình trực tiếp kỷ niệm 50 năm Đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Chiến tranh đã kết thúc 34 năm, nhưng những gì được tái hiện dù ít ỏi trong chương trình này vẫn làm tôi bàng hoàng về sự khốc liệt của cuộc chiến. Chiến tranh không phải là điều mà bất cứ dân tộc nào mong đợi. Nhưng chiến tranh đã minh chứng nhân cách, giấc mơ và lòng quả cảm của nhân loại cho hoà bình và lẽ phải của mình.

Và một lần nữa, tôi được nghe lại những bài hát viết dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, không một ngày đi trên con đường đầy bom đạn ấy, nhưng qua những bài hát, tôi đã nhận ra sự phi thường của một dân tộc. Những bài ca bay qua cái chết. Những bài ca hiển lộ tâm hồn và tinh thần của một dân tộc.

Quyền năng của một con người vì lợi ích dân tộc

Vì sao trong những năm tháng gian khổ nhất, đói rét nhất và máu chảy nhiều nhất của dân tộc, những đứa con của dân tộc ấy lại sẵn sàng hiến dâng tất cả sự sống của mình không một chút đắn đo hay sợ hãi? – tôi nhiều lần tự đặt câu hỏi.

Có lẽ, vì họ đã nhận ra lẽ sống chân chính của con người được sinh ra trên mặt đất này. Có lẽ, vì họ đã sống một đời sống của niềm tin – niềm tin gắn liền với tên tuổi của một người ái quốc vĩ đại: Hồ Chí Minh. Khi cái tên Hồ Chí Minh vang lên thì niềm tin của mỗi người dân Việt Nam lúc đó đã được dựng lên bền vững, chói sáng và bất diệt.

“Dân tộc này đã đi tới thắng lợi vì họ đã sống một đời sống của niềm tin – niềm tin gắn liền với tên tuổi của một người ái quốc vĩ đại: Hồ Chí Minh.

Khi cái tên Hồ Chí Minh vang lên thì niềm tin của mỗi người dân Việt Nam lúc đó đã được dựng lên bền vững, chói sáng và bất diệt.”

Điều gì đã khiến cái tên Hồ Chí Minh trở nên thiêng liêng và mang một quyền năng đến vậy?Hồ Chí Minh – Người không phải là một vị Thánh, không phải là một nhà thuyết giáo siêu phàm, Người chỉ là một người yêu con người và yêu tổ quốc với toàn bộ sự sống của mình. Và dân tộc đã nhận ra đó là người con suốt đời hiến dâng cho lợi ích của dân tộc.

Ngay từ khi còn hoạt động ở nước ngoài, khi số phận và con đường của dân tộc Việt Nam vẫn chìm trong bóng tối, khi không ít người Việt Nam nhìn về tổ quốc với nỗi tuyệt vọng, thì Hồ Chí Minh, mọi nơi, mọi lúc chỉ biết đến dân tộc và đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình.

Ngay cả những lúc, những nơi chỉ một mình, xung quanh là những thế lực luôn luôn muốn dập tắt tiếng nói về độc lập, tự do của những dân tộc đang nô lệ, Người vẫn cất lên tiếng nói kiêu hãnh về dân tộc, tiếng nói của khát vọng tự do cho dân tộc ấy.

Bà con kiều bào ta ở Thái Lan về nước được vinh dự đến thǎm Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch

Bác Hồ tới thăm nhà máy diêm Thống Nhất.

Khoảng thời gian Người sống xa tổ quốc để tìm đường giải phóng dân tộc mình khỏi kiếp sống nô lệ đủ làm cho những người khác mệt mỏi và kiệt sức về chính giấc mơ họ từng mang theo: một dân tộc Việt Nam độc lập, tự do. Nhưng giấc mơ đó trong con người Hồ Chí Minh càng ngày càng lớn, càng toả sáng và không một phút giây dừng lại.Người đã đi đến tận cùng của giấc mơ đó bằng con đường của một chiến sỹ đấu tranh kiên định và bền bỉ cho tự do.

Quyền năng của con người biết đặt niềm tin vào dân

Trở về tổ quốc, trước mắt Người là những người dân Việt Nam nô lệ lầm than. Nhưng Người biết rằng: trong những con người nô lệ lầm than kia đang trú ngụ giấc mơ lớn lao và mãnh liệt về độc lập, tự do. Sứ mệnh của Người là đánh thức giấc mơ lớn của toàn bộ dân tộc từ bóng tối, từ đói nghèo, từ gông cùm và từ máu chảy.

Khi Người cất tiếng, những kiếp nô lệ đã đứng dậy đi theo người. Người đứng vào giữa những người nô lệ, không phải với danh nghĩa một lãnh tụ khởi nghĩa, mà với danh nghĩa của một con người cùng chung số phận nô lệ, chung giấc mơ lớn về tự do và là một người bạn lớn của những người cùng khổ.

Khi chính quyền cách mạng đầu tiên được thành lập, Người đã tập hợp tất cả những người con ưu tú nhất của dân tộc này làm một. Với Hồ Chí Minh, tất cả những người Việt Nam đều là những đứa con của một dân tộc bị áp bức.

“Người đặt niềm tin vào từng con người nhỏ bé. Khi ấy, những con người nhỏ bé và vô danh đó bỗng vụt lớn lên với niềm kiêu hãnh làm người và sẵn sàng hiến dâng tất cả cho giấc mơ tự do của con người.”

Người bước đến trước một người nông dân với niềm tin mãnh liệt rằng người nông dân đó là một người yêu nước chân chính. Và người nông dân đó trở thành một chiến sỹ đấu tranh cho tự do của dân tộc.Người bước đến trước một cháu bé với niềm tin ấy và cháu bé trở thành một chiến sỹ đấu tranh cho tự do.

Khi Người đặt niềm tin vào những con người nhỏ bé và vô danh thì con người đó vụt lớn lên với niềm kiêu hãnh làm người và sẵn sàng hiến dâng tất cả cho giấc mơ tự do của con người.

Đối với Hồ Chí Minh, dân tộc là trên hết. Dân tộc là tài sản của tất cả con người sinh ra trên mảnh đất của dân tộc đó kể cả những người đã có một thời lầm lạc. Chính vì vậy mà tất cả nhân dân Việt Nam đã đứng bên người trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Hai câu chuyện nhỏ

Có biết bao câu chuyện đã làm nên sự vĩ đại của Hồ Chí Minh. Nhưng có hai câu chuyện làm tôi không thể nào quên được.

Lời hứa của lãnh đạo và nhân cách một dân tộc

Câu chuyện thứ nhất kể về lời hứa của Hồ Chí Minh trước một cô bé dân tộc ít người.

Những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, một lần Người ghé qua một bản người Thái. Một cô bé trong bản nói với Người là em muốn có một chiếc vòng bạc. Người đã hứa với em bé đó.

Sau chín năm, kháng chiến thành công, không ai ở bản người Thái đó còn nhớ câu chuyện về cô bé xin chiếc vòng bạc và lời hứa của Người. Bởi chuyện đó là một chuyện quá nhỏ bé và không cần phải nhớ đối với một vị Chủ tịch nước. Nhưng Người đã quay lại bản người Thái đó.

Bác Hồ dặn dò về chăm lo nhà ở cho người dân.

Người trở lại để thực hiện lời hứa của một con người với một con người trong khi đất nước lúc đó còn ngàn vạn công việc và ngàn vạn thách thức. Đấy là danh dự của một con người. Đấy là tình yêu và sự tôn trọng nhân dân của một lãnh tụ cho dù nhân dân có lúc là những người đói khát, u buồn và tăm tối.

“Lời hứa trước một đứa trẻ cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc.

Khi người lãnh đạo thực hiện được lời hứa trước một đứa trẻ thì mới có khả năng thực hiện được lời hứa trước một dân tộc.”

Nhân cách lớn của Hồ Chí Minh là ở đó. Sự linh thiêng của Hồ Chí Minh là ở đó. Bởi lời hứa trước một đứa trẻ cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc. Khi người lãnh đạo thực hiện được lời hứa trước một đứa trẻ thì mới có khả năng thực hiện được lời hứa trước một dân tộc.Việc làm đó của Hồ Chí Minh không chỉ làm cho cá nhân Người trở nên vĩ đại mà làm cho nhân cách của dân tộc này trở nên vĩ đại.

Sứ mệnh lớn lao nhất của một lãnh tụ không phải là làm cho dân tộc trong một năm hay hai năm tăng trưởng được bao nhiêu phần trăm mà là làm cho dân tộc ấy hiển lộ là một dân tộc có nhân cách lớn. Và chỉ khi có nhân cách lớn, con người mới thực sự cải biến được thế gian.

Một đêm thức trắng và quyết định tử hình

Câu chuyện thứ hai về Hồ Chí Minh là câu chuyện một đêm thức trắng của Người để quyết định tử hình hay không một cán bộ có chức quyền của quân đội đã phạm tội tham nhũng trong lúc toàn thể nhân dân Việt Nam đang chịu bao gian khổ và hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Cuối cùng, Người đã ký vào bản án tử hình kẻ phản bội nhân dân. Tội của vị quan chức kia đã rõ ràng. Luật pháp với tội danh ấy cũng đã rõ ràng. Nhưng Hồ Chí Minh đã thức trọn một đêm để đi đến quyết định cuối cùng.

Người thức trắng không phải vì suy nghĩ về sự thiệt, hơn của bản án đó. Đêm trắng ấy là một đêm mà chủ nghĩa nhân văn trong trái tim Người mất ngủ.

Trong cái đêm trắng tưởng dài bất tận ấy, một bên là gia đình và những người thân của vị cán bộ quyền chức phạm tội đợi quyết định cuối cùng của người lãnh tụ tối cao của dân tộc. Còn một bên là toàn dân tộc đợi quyết định này.

Quyết định của Hồ Chí Minh lúc đó sẽ gián tiếp khẳng định với dân tộc rằng: máu của dân tộc này đã và đang đổ xuống là cho lợi ích và sự trong sạch của dân tộc, không phải cho một số kẻ hưởng lợi từ máu của những con người chân chính. Cuối cùng, lợi ích dân tộc phải cao hơn tất cả mọi lợi ích cá nhân.

Ở Việt Bắc, Bác Hồ thường đến thăm các gia đình người dân tộc.

Bác Hồ tới thăm gia đình nông dân.

Từ cái đêm thức trắng lịch sử ấy, chúng ta chưa bao giờ được biết đến một đêm trắng nào nữa cho dù mức độ tham nhũng của một số cán bộ có quyền chức còn nguy hại hơn vị cán bộ quân đội năm xưa. Phải chăng luật pháp chúng ta đã thay đổi? Hay phải chăng nhân cách của dân tộc này có điều gì bất ổn?Việc một cán bộ có quyền chức tham nhũng nhưng không bị xử đúng tội hay là xử “giả vờ” không phải là làm chúng ta mất đi mấy trăm tỷ hay mấy nghìn tỉ mà sự thiếu nghiêm minh đó làm mất đi niềm tin của dân tộc.

Bởi dù không muốn thì chúng ta đều phải thừa nhận rằng: chỉ là những cán bộ có quyền chức, những người đầy tớ của nhân dân như Hồ Chí Minh từng nói, mới là những người có điều kiện tham nhũng.

Và họ là người mang tính quyết định trong việc tạo dựng niềm tin cho dân tộc đặc biệt ở những thời kỳ khó khăn mà dân tộc phải đương đầu.

Đêm trắng ấy là bài học lớn trong khía cạnh chống tham nhũng của dân tộc ta, nhưng lớn hơn nó là bài học về chủ nghĩa yêu nước. Hồ Chí Minh đã thức trắng một đêm để rồi dân tộc của Người được thanh thản kể cả khi hiến dâng sự sống cá nhân cho lợi ích của dân tộc.

Nếu Người không thức trắng một đêm như thế thì dân tộc này có thể phải thức trắng ngàn đêm sau đó để mà cúi đầu suy ngẫm.

Khi niềm tin đang bị mai một đi, khi lợi ích của dân tộc đang bị lợi ích cá nhân đe dọa, thì những câu chuyện về Bác cần được kể lại ngày ngày.

Có lòng tin và tạo dựng được niềm tin của dân tộc – Đó là di sản lớn nhất mà Bác để lại cho dân tộc.

Hai câu chuyện nói trên phải được kể lại ngày ngày trong đời sống của chúng ta, nhất là khi niềm tin của người này người khác đang mai một đi, khi lợi ích của dân tộc đang bị lợi ích cá nhân đe dọa. Hai câu chuyện đó chứa đựng bí quyết làm nên nhân cách lớn của một con người và cũng là của một dân tộc.Trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, thời đại Hồ Chí Minh là thời đại một lần nữa làm nên nhân cách lớn của dân tộc Việt Nam. Dân tộc này đã trở thành biểu tượng cho những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, biểu tượng của lẽ sống làm người, biểu tượng của giấc mơ về độc lập, tự do và sự dâng hiến không mệt mỏi cho giấc mơ ấy.

Và Hồ Chí Minh là người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam trong thời đại ấy. Sự hiến dâng của Hồ Chí Minh cho dân tộc và nhân cách của Người mãi mãi là sự linh thiêng và quyền uy của cái Đẹp. Đó không chỉ là tài sản vô giá của một thời đại mà là của mãi mãi. Bởi ở đó chứa đựng ý nghĩa tối thượng của đời sống thế gian: Giấc mơ hoà bình và sự dâng hiến toàn vẹn cho giấc mơ ấy.

Hạnh Nguyên

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Kể chuyện Bác Hồ ở Hungary

(Tuần Việt Nam) – ” Bỏ qua mọi thứ lễ nghĩa nhưng vẫn khiến người khác phải kính trọng, con người ít lời, thông tuệ ấy có một tính cách rất lôi cuốn…Và ngày hôm đó đã đi vào tâm trí của tôi như một trong những kỷ niệm thật đẹp của đời tôi” – một kỹ sư người Hungary đã viết như thế về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm của Bác tới Hungary, năm 1957.

Lời giới thiệu

Tháng 8/1957, Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam – đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã có chuyến thăm hữu nghị CHND Hungary trong vòng 5 ngày. Đây là chuyến thăm Hungary đầu tiên của một vị nguyên thủ quốc gia Việt Nam và cũng phải chờ đến 47 năm sau, mới có một chuyến thăm kế tiếp (của Chủ tịch Trần Đức Lương).

Thời điểm 1957 rất quan trọng trong lịch sử hiện đại Hungary: 1 năm sau cuộc chính biến đau thương 1956, Đảng và Chính phủ Hungary thời ấy phải hết sức nỗ lực để hàn gắn những vết thương lòng, mở rộng dân chủ trong nội bộ đảng và trong xã hội, đồng thời, tiến hành công cuộc hòa giải dân tộc ở phạm vi rộng.

Trong bối cảnh ấy, chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ một đất nước vừa giành được hòa bình trong cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian nan, thử thách đã phải đối mặt với cảnh chia cắt, phân ly – đã để lại nhiều dư âm rất đẹp đẽ trong lòng giới lãnh đạo và người dân nước bạn, và đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị đa dạng, luôn phát triển, đã trở thành truyền thống giữa hai đất nước Việt Nam – Hungary.

Là một trong số những người Hungary có dịp tiếp xúc với Hồ Chủ tịch trong sự kiện lịch sử cách đây hơn nửa thế kỷ, tác giả hồi tưởng sau đây – TS Thủy lợi Kovács Lajos – khi ấy là một kỹ sư, một cây bút nghiệp dư của tờ “báo tường” tại Nhà máy Liên hợp Bóng đèn (Egyesült Izzó Gyár), một “thành trì” nổi tiếng, niềm tự hào của công nghiệp điện tử Hungary một thuở.

Kỷ niệm sâu đậm trong dịp gặp gỡ với Bác Hồ đã khiến ông rất có thiện cảm và yêu mến đất nước, con người Việt Nam, ngay cả khi ông đã chuyển sang làm việc và định cư tại CHLB Đức.

Trích đoạn sau đây được rút trong hồi ký của ông (Chương 4: “Phóng viên truyền hình vụng về”). Các ghi chú là của người dịch.

Nô nức đón phái đoàn Việt Nam

Sau đó ít lâu, tôi có dịp được gặp gỡ Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ huyền thoại của cuộc chiến tranh giành độc lập của Việt Nam – ông là nhà ngoại giao nước ngoài đầu tiên sang thăm Hungary sau cuộc cách mạng. Chương trình để vị chủ tịch tới thăm một nhà máy lại liên quan đến Liên hợp Bóng đèn, chí ít là mọi người đã gợi ý cho ông như vậy, vì đây là một cơ sở có trật tự, sạch sẽ và Việt Nam thì có quan tâm tới các thiết bị điện tử. (…)

Tôi được nhận chương trình lễ tân gồm các nội dung: đoàn đại biểu Việt Nam muốn dừng chân tại đâu vài phút, phân xưởng nào sẽ là địa điểm chính của chuyến thăm, nơi Hồ Chí Minh sẽ bắt tay công nhân. Tiếc là bản “kế hoạch đi đường” này chỉ được trao vào tay tôi hai ngày trước chuyến thăm, do đó tôi không còn nhiều thời gian để chuẩn bị cho tỉ mỉ và cụ thể.

Tựa đề song ngữ trang trọng trên trang nhất của nhật báo “Tự do Nhân dân” (cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Hungary): Cư dân Budapest nồng hậu chào đón đồng chí Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu do dịch giả cung cấp)

 

Dầu sao đi nữa, tôi cũng tự làm cho mình một dàn ý để có thể quay cảnh Bác Hồ vẫy tay chào tại địa điểm này và cũng đến kịp chỗ khác, khi Bác đến nơi trong tiếng hô muôn năm của quần chúng. (…)

Khi ấy ngành truyền hình Hungary mới còn phôi thai, vì hàng ngày mới chỉ có một chương trình thời sự, vào 7h tối, mà cũng chỉ là phát thử nghiệm. Tuy nhiên, ngay từ dạo đó, những sự kiện ngoại giao như chuyến thăm của phái đoàn Việt Nam cũng đã được quay thành “chương trình đặc biệt”. Chuyến thăm tại Nhà máy Liên hợp Bóng đèn của đoàn Việt Nam được coi là đặc biệt quan trọng và phóng sự truyền hình được coi là có “giá trị chính trị” lớn… (…)

Tất cả các đường dây điện thoại của chúng tôi (có 6 đường) gần như ganh đua nhau trong quá trình chuyển các bài tường thuật liên tiếp. Khi ấy, Ban biên tập giống một “phiên chợ Ba Tư” thì đúng hơn, ai nấy đều nói cười, nhộn nhịp. Tiếc là trong thời gian đón đoàn, tôi không có thêm được một cánh tay, để có thể cùng một lúc làm nhiều việc. (…)

Vị chủ tịch và ấn tượng về nhà mẫu giáo Hungary

Hoàn cảnh lúc đó đã khiến tôi hoàn toàn như trong trạng thái lên đồng, nhưng đỉnh cao ngày hôm ấy đối với tôi, là cuộc gặp gỡ trực tiếp với Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi thay mặt tờ “Báo Bóng đèn”, tôi được đặt mấy câu hỏi cho ông.

Tôi chỉ hổ thẹn vì kiến thức Pháp ngữ có được từ những năm trung học thật chẳng ra làm sao so với thứ tiếng Pháp tuyệt hảo kiểu Sorbonne của Ông Cụ. Sau khi ậm ọe ra được mấy câu đầu, tôi cảm thấy như bị ai chặn họng. May cho tôi, Bác Hồ là người giản dị và cởi mở, ông trả lời tôi như thể chúng tôi đã là những bạn cũ, cho dù… ông là người đứng đầu nước Việt Nam kia mà!

Tôi hỏi: “Thưa đồng chí Hồ Chí Minh! Đồng chí có thích nhà máy của chúng tôi không? Điều gì khiến đồng chí có ấn tượng nhất trong chuyến thăm quan nhà máy?

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1967).
Ảnh: Pálfai Gábor – phóng viên nhiếp ảnh, trưởng BBT ảnh và trưởng Ban Lưu trữ ảnh của Hãng Thông tấn Hungary MTI

 

Mỉm cười, Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp: “Anh bạn trẻ thân mến của tôi, tất cả những gì tôi đã thấy tại Nhà máy Liên hợp Bóng đèn đều rất thú vị, tôi cảm thấy dễ chịu tại đất nước của các bạn và tất nhiên, tại nhà máy của các bạn, nơi tôi được nhận tình thương mến của mọi người, vì cư dân đất nước này hạnh phúc. Và tôi tin rằng đây là sự thực, vì nhân dân Hungary đã trải qua những kinh hoàng của chiến tranh, chứ không như chúng tôi, Việt Nam.

Được tham quan các phân xưởng và trò chuyện với những công nhân không đói khát và không phải sợ hãi trước những trận bom, tất cả đều thuộc về một ấn tượng tuyệt vời sẽ theo tôi về quê hương Việt Nam sau chuyến thăm này.

Tuy nhiên, tôi thích nhất nhà mẫu giáo của cơ sở Tungstram. Tất cả các cháu nhỏ ở đấy đều cởi mở và hạnh phúc, và điều quan trọng hơn thế nữa, các cháu đều khỏe mạnh, cũng như chúng ta mong muốn rằng con cháu chúng ta và tất cả các cháu trên thế giới này đều phải được như vậy.

Có điều, tôi cảm thấy rằng, điều quan trọng nhất mà tôi được thấy và được cảm nhận trong chuyến đi ngắn ngày này, là tình thương yêu và đỡ đần các cháu nhỏ mà các bạn đã thể hiện, vì các cháu sẽ trở thành những công nhân, nhà khoa học và chính khách của ngày mai, nói cách khác, các cháu sẽ là nước Hungary của tương lai“.

Tôi đã tận dụng hết những khả năng ngắn ngủi của cuộc phỏng vấn. Các nhà tổ chức lễ tân đưa Ông Cụ đi tiếp vì đã đến giờ ăn trưa và chương trình thăm Budapest vào buổi chiều của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp diễn. Thành thử, không thể chậm một phút!

Những lời nói trên đây, và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc sâu trong tâm khảm tôi, không bao giờ quên – hình ảnh con người vĩ đại này sống trong tôi như một biểu tượng vĩnh cửu của tình yêu nước.

Câu chuyện cổ trong buổi sinh hoạt đảng

Chiều hôm ấy, những kiến thức trước đây của tôi về phương Đông đã được mở rộng với một trải nghiệm đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người đứng tuổi ấy, sau những lời chào hỏi và ngợi ca thường lệ, đứng lên phát biểu. (…)

Chủ tịch Hồ Chí Minh thuật lại một chuyện cổ Đông Nam Á. Đến nay, tôi vẫn nhớ rõ câu chuyện, đơn giản mà rất đáng phải học hỏi. Nhà giáo dục xuất chúng ấy không hề nhắc đến từ “cộng sản” lần nào, nhưng câu chuyện có ý nghĩa hơn nhiều so với những bài diễn văn rỗng tuếch.

Bác Hồ trong mắt người Hungary. Bức tranh này do chính tác giả Kovács Lajos vẽ. (Ảnh do dịch giả cung cấp)

 

Câu chuyện như sau: “Một bận, một người đàn ông xuất xứ từ một dòng họ danh giá muốn đi thuyền qua con sông lớn. Khi đã đến giữa dòng, anh ta lỡ tay để rơi thanh gươm xuống sông. Anh ta vội vàng đánh dấu ở mạn thuyền, nơi mà từ đó thanh gươm đã bị rơi. Sau khi đã xong xuôi, anh ta mới thả neo và nói: “Gươm ta rơi ở chỗ này đây! “.

Thế rồi, nhân vật của chúng lặn xuống tìm thanh gươm bị mất ở chỗ mà anh ta đã đánh dấu lên mạn thuyền. Anh ta cứ tìm, tìm mãi, nhưng không thấy, vô hiệu. Có gì lạ đâu, vì trong khi anh ta khắc dấu trên mạn thuyền thì sông vẫn chảy và vẫn cuốn con thuyền theo nó.

Ngày nay, nếu ai đó tìm thanh gươm bị mất theo cách ấy, chúng ta có thể cho rằng anh ta bị điên. Quả vậy, nhưng cũng là như thế, khi các lãnh đạo muốn trị nước bằng những luật lệ và phương pháp đã quá lỗi thời. Thời gian trôi đi cũng như những cơn sóng trên sông, nhưng thanh gươm” – những luật lệ – thì còn nguyên tại chỗ.

Đúng thế, một ban lãnh đạo như vậy sẽ gặp phải lắm vấn đề và họ có làm gì đi nữa cũng vô hiệu, họ không thể tìm lại được “thanh gươm bị đánh mất“. (*)

Kết thúc bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhẹ nhàng gật đầu, ông bước khỏi bục diễn giả và mỉm cười ngồi lại về chỗ của mình.

Cử tọa Hungary không hiểu ngay câu chuyện này, họ chưa quen với cách diễn đạt mang tính tượng trưng (…) – vì vậy, chỉ sau một vài giây im lặng, những tràng pháo tay mới vang lên.

Bỏ qua mọi thứ lễ nghĩa nhưng vẫn khiến người khác phải kính trọng, con người ít lời, thông tuệ ấy có một tính cách rất lôi cuốn. Tôi đã hiểu mối quan hệ giữa câu chuyện mang tính tượng trưng của ông và hoàn cảnh hiện tại. Và ngày hôm đó đã đi vào tâm trí của tôi như một trong những kỷ niệm thật đẹp của đời tôi.

Thông điệp bài phát biểu của ông đã ngấm trong tôi. Dân tộc Việt Nam phải có quyền được hưởng tự do và độc lập vì thời của những luật lệ đã lỗi thời – thời thuộc địa – đã đi vào quá khứ như thanh gươm bị thất lạc trong dòng nước, cho dù người ta có muốn dùng một quân đội như thế nào đi nữa để cưỡng bức họ.

(*) Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhắc đến một câu chuyện cổ trong sách “Lã Thị Xuân Thu” của Lã Bất Vi đời Tần, được thuật lại trong “Cổ học Tinh hoa” của hai tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân với tựa đề “Đánh dấu thuyền tìm gươm”.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

“Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” một áng hùng văn của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, sáu mươi năm đã trôi qua. Cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đã kết thúc được 30 năm. Đất nước ta đã sạch bóng quân xâm lược. Mục tiêu độc lập thống nhất đã giành được.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân đang ra sức đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa để sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Trong không khí kỷ niệm 60 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đọc Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, chúng ta cảm nhận thấy hào khí của Lời kêu gọi cứu nước, đồng thời cũng thấy trong văn kiện lịch sử này những nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự.

“Hỡi đồng  bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”.

Hãy nhớ lại tình hình lúc ấy: nước ta vừa giành được độc lập thì nạn ngoại xâm đã ập tới. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với Chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người ký với đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, Người qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Phôngtenblô. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. Còn nước còn tát, Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp tạm ước 14-9-1946. Ngày 16-9-1946, Người rời cảng Tulông (Pháp) trở về nước. Ngày 16-10, Người gặp Đácgiăngliơ ở Vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14-9 không được thực hiện ở Nam bộ. Tại Bắc Bộ, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng ngày 23-11-1946. Tại Hà Nội, những hành động khiêu khích của quân Pháp ngày càng trắng trợn. Dã tâm gây hấn của Pháp ở Thủ đô bộc lộ rõ rệt khi quân đội Pháp gửi tối hậu thư buộc ta phải hạ vũ khí.

Trước tình hình đó, ngày 18, 19 tháng 12 năm 1946 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc.

Từ ngày 3 đến 19 tháng 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về làng Vạn Phúc (Hà Đông) sống trong nhà ông Nguyễn Văn Dương, tại đây ngày 19 tháng 12, trên căn gác xép, Người viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

20 giờ ngày 19 tháng 12, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 20 tháng 12 tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), đài  Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

Như vậy là mặc dù Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách ngăn chặn chiến tranh nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, đối  phương chủ trương gây chiến. Không còn con đường nào khác, Hồ Chí Minh phải dùng chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa. Hồ Chí Minh không chút ảo tưởng về lòng nhân từ của bọn xâm lược. “Độc lập tự do không thể cầu xin mà có được”. Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Đó là quan điểm cơ bản mà Hồ Chí Minh luôn nắm vững trong Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 cũng như trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đó cũng là quan điểm mấu chốt trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Khi đã buộc phải kháng chiến thì Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Tiếp theo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là văn kiện thứ hai đề cập đến mục tiêu chính trị  của cuộc cách mạng và cuộc kháng chiến. Đó là Độc lập Tự do Hạnh phúc, là những khát vọng của một dân tộc đã bị mất nước, bị nô lệ 80 năm. Bởi vậy ta có thể hiểu vì sao toàn dân Việt Nam đã hưởng ứng Lời kêu gọi của Bác Hồ và các thế hệ người Việt Nam, từ đời cha đến đời con đã tự nguyện hy sinh chiến đấu đến cùng cho những mục tiêu ấy.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Trong Lời kêu gọi này, Hồ Chí Minh đã trình bày quan điểm “chiến tranh toàn dân” một cách vô cùng giản dị và hào hùng. Có thể nói nét độc đáo, đặc sắc nhất trong đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là ở hai chữ toàn dân.

Chỉ thị này được coi như một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự về khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân là lực lượng vũ trang ba thứ quân. Tiếp theo Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến  là văn kiện thứ hai mang tính cương lĩnh quân sự về kháng chiến toàn dan. “Toàn dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn dân tộc.

Hồ Chí Minh có một lời kêu gọi dành riêng cho bộ đội, tự vệ, dân quân:

“Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước”.

Hưởng ứng Lời kêu gọi này, quân và dân Hà Nội, mùa đông năm 1946 đã nêu cao tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” nay đã trở thành truyền thống của Thủ đô. Xây dựng bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, bồi dưỡng ý chí chiến đấu, xây dựng và phát huy nhân tố chính trị tinh thần của bộ đội, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở cho mọi mặt xây dựng quân đội là một quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”.

Lời tiên đoán này của Chủ tịch Hồ Chí Minh 9 năm sau đã trở thành sự thật với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Ba mươi năm sau đội quân bách chiến bách thắng của Người đã cắm lá cờ chiến thắng lên nóc dinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đem lại độc lập thống nhất cho đất nước.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Hịch cứu nước của Tổ quốc, là một áng hùng văn sáng chói những nét đặc sắc của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Trung tướng Hồng Cư

ANHTHU

hanoimoi.com.vn

Bác Hồ – Người là niềm tin tất thắng

(TuanVietNam) – Niềm tin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gieo vào tâm hồn mỗi người dân Việt Nam ngày ấy không phải là một niềm tin trong những pho sách, không phải những niềm tin giáo điều. Đó là một niềm tin hiện hữu nhưng lớn lao vô tận trong mỗi lời nói, mỗi hành động của Người.

Ca khúc: Người là niềm tin tất thắng
Sáng tác: Chu Minh – Thể hiện: NSND Quang Thọ

Cho đến bây giờ, 40 năm kể từ ngày chủ tịch Hồ Chí Minh mất, nhưng chúng ta vẫn không cầm được nước mắt trong niềm thương nhớ và xúc động lớn lao khi xem lại những thước phim về tang lễ của Người.

Nhà thơ Tố Hữu viết :

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau mấy gốc dừa

Nhà thơ đã nói thay những gì đã đang diễn ra trong đời sống của những người Việt Nam lúc đó. Năm ấy, tôi còn là một cậu học sinh cấp II trường làng. Trong ngôi đình cổ, nơi những người dân làng tôi làm lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả đã khóc. Hình ảnh đau thương nhưng kỳ vĩ ấy không chỉ ở làng tôi mà ở muôn vàn những làng quê trên tổ quốc Việt Nam.

Nguồn: tagvn.com

Những ngày sau đó, khác với trước kia, tôi nhận ra nỗi buồn đau trên gương mặt của những người nông dân. Họ gặp nhau trên đường làng, trên cánh đồng nhưng chỉ chào nhau một câu rất nhỏ. Ngay sau ngày truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi bước vào lớp học thì tất cả cô giáo và học sinh đều bật khóc. Cô giáo tôi vừa khóc vừa nói với chúng tôi hãy kính thương Người bằng cách học cho tốt và sống cho tốt.

Bây giờ nhìn lại, tôi thấy rằng: lúc đó, chúng tôi, những đứa trẻ đã gắng học tốt hơn, không chơi bời, nghe lời thầy cô hơn, giúp đỡ cha mẹ hơn và thương yêu nhau hơn sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất. Chúng tôi hành động như vậy không với một tư tưởng nào vì lúc đó chúng tôi chỉ là những đứa trẻ ham chơi mà thôi.

Nhưng trong đời sống những năm tháng đó, tất cả những tình cảm và sự thiêng liêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh mà những người lớn mang trong ngôn ngữ của họ, trong cảm xúc của họ và trong hành động của họ đã dựng lên trong tâm hồn thơ trẻ chúng tôi một hình ảnh của tình yêu thương và thiêng liêng.

Người mãi là nguồn cảm hứng lớn lao, là niềm tin tất thắng dạt dào…
Nguồn: hanoi.vnn.vn

Cho đến tận bây giờ, trong trái tim đang già đi và nhiều mệt mỏi của mình, tôi vẫn nghe thấy sự chân thực mãnh liệt của niềm thương kính lớn lao và lạ kỳ về cái ngày buồn thương ấy. Mà không chỉ trong trái tim cá nhân tôi, ắt hẳn là trong trái tim của biết bao người cùng thời nữa. Cảm xúc ấy, niềm thương kính ấy không phải đến từ sự sùng bái mà đến từ một hiện thực của đời sống như một sự huyền diệu.

Nhiều năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, tôi có đôi ba lần đi qua Quảng trường Ba Đình. Lần nào tôi cũng dừng lại. Một cảm xúc da diết và lớn lao dâng ngập trong lòng khi tôi nghe giai điệu của một bài hát phát ra từ những chiếc loa quanh khu vực Quảng trường.

Đất nước nghiêng mình
Đời đời nhớ ơn
Tên Người sống mãi với non sông Việt Nam
………
Thế giới nghiêng mình
Loài người tiếc thương
Đây người chiến sỹ đấu tranh cho tự do
……………
Hồ Chí Minh, Bác Hồ Chí Minh
Ôi trái tim Người nặng nghĩa bốn phương
Vì độc lập tự do đường lên phía trước rực màu cờ sao
Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu
Người là niềm tin tất thắng sáng ngời

(Người là niềm tin tất thắng – Nhạc và lời của Chu Minh )

Trong thế kỷ XX, qua con mắt của nhiều nhà báo phương Tây, tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tang lễ lớn nhất. Nhưng tang lễ đó không chứa đựng nỗi bi thương lớn nhất mà chứa đựng một tình yêu và một đức tin lớn lao kỳ lạ đối với một con người.

Bởi con người đó đã là một chiến sỹ vĩ đại đấu tranh không mệt mỏi cho quyền được sống làm người của một con người và của một dân tộc trên thế giới này. Con Người đó là biểu tượng vĩ đại cho nhiều dân tộc trên thế giới về khát vọng hòa bình lớn lao và sự dâng hiến tận cùng cho một đời sống hòa bình trên thế gian.

Một nhà báo Úc đã viết rằng khi ông chứng kiến những giọt nước mắt chân thành và ngập tràn kính thương trên gương mặt của những đứa trẻ chăn trâu đến những cụ già trong ngày của tháng 9 năm 1969 thì ngay lập tức ông nhận ra sức mạnh không gì khuất phục được của dân tộc Việt Nam.

Và vẫn luôn là Người – hình ảnh vị lãnh tụ giản dị, gần gũi với triệu dân,
không lúc nào nguôi ưu tư về vận mệnh dân tộc.
Nguồn: danang.vn

Đến lúc đó, ông hoàn toàn tin tưởng những người Việt Nam sẽ đi đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến tranh tàn khốc nhất lịch sử thế giới thế kỷ XX mà chính quyền Mỹ tiến hành chống lại dân tộc này – cuộc chiến tranh mà trước đó ông đã từng không tin người Việt Nam có thể đi qua được.

Trở về Úc, ông đã lên tiếng trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng nói về một đức tin kỳ lạ của dân tộc Việt Nam. Và ông kêu gọi mọi người trên thế giới hãy đứng về phía nhân dân Việt Nam. Với ông, đức tin của người Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là đức tin với một vị lãnh tụ mà là đức tin với một giấc mơ đẹp đẽ, lớn lao và sự linh thiêng của đời sống loài người.

Cuộc sống của Người là một hiện thực của những điều vô cùng giản dị nhưng lại lớn lao vô cùng. Và không có gì khác ngoài hiện thực ấy mới tạo nên được niềm tin cho những con người cần lao. Niềm tin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gieo vào tâm hồn mỗi người dân Việt Nam ngày ấy không phải là một niềm tin trong những pho sách, không phải những niềm tin giáo điều. Đó là một niềm tin hiện hữu nhưng lớn lao vô tận trong mỗi lời nói, mỗi hành động của Người.

Niềm tin ấy được tạo dựng nên bằng chính cuộc sống từng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi Người bắt đầu đặt câu hỏi về độc lập, tự do của nhân dân mình trong tâm hồn rộng lớn nhưng đau đớn của Người, ngay giữa những năm tháng lầm than nhân dân Việt Nam sống đời nô lệ.

Minh Luận

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Bên mộ bà Hoàng Thị Loan, nghe chuyện về thân mẫu Bác Hồ

Phần mộ bà Hoàng Thị Loan có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm ông Khiêm đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia có 33 bậc, ứng với con số 33 là tuổi đời của bà.

Như nhiều người từng biết, ngày 3/6/2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã cùng với nhân dân Nghệ An và du khách thập phương về Nam Đàn, Nghệ An cắt băng khánh thành tu bổ khu mộ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhân kỷ niệm 86 năm ngày Bác Hồ khai sinh nền báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2011), đoàn nhà báo chúng tôi có cuộc hành hương về Nam Đàn, Nghệ An viếng bà Hoàng Thị Loan, người mẹ Việt Nam tiêu biểu đã sinh thành Chủ tịch Hồ Chí Minh và được nghe nhiều người dân ở đây kể những câu chuyện xúc động về người mẹ vĩ đại này.

1. Mộ bà Hoàng Thị Loan (1868 – 1901) nằm trên núi Động Tranh, thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôm chúng tôi về núi dâng hương tưởng nhớ thân mẫu Bác Hồ, trời nắng gắt, nhưng có hàng ngàn người dân từ khắp nơi hành hương về đây một cách thành kính.

Từ đỉnh núi nơi cất mộ bà Hoàng Thị Loan nhìn ra về hướng Tây Nam, xa xa là dãy núi Thiên Nhẫn, kế bên là làng Kim Liên quê nội, làng Chùa quê ngoại của Bác Hồ với núi Chung còn in dấu tuổi ấu thơ của Bác… Xa hơn nữa là dòng sông Lam chảy như sợi chỉ trắng vắt ngang trời in vào đáy nước một vùng đất “địa linh nhân kiệt” với những tên tuổi Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu và thế hệ sau này là Trần Phú, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai… và nhiều tên tuổi nhà cách mạng tiền bối khác…

Từ chân núi Động Tranh đi theo lối lên là phần mộ bà Hoàng Thị Loan nằm ở bên trái, cùng phía này còn có mộ bà Hà Thị Hy, bà nội của Bác Hồ cũng mới được tu bổ. Phần mộ bà Hoàng Thị Loan có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm ông Khiêm đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia có 33 bậc, ứng với con số 33 là tuổi đời của bà. Phía trên mộ là giàn hoa cách điệu hình khung cửi. Hai cụm cây hoa giấy che mát phần mộ bà được lấy giống từ Huế – nơi bà mất và khu lăng mộ của ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp. Khe trước phần mộ trồng nhiều cây quí từ nhiều miền đất nước

Phần mộ bà Hoàng Thị Loan được giữ nguyên theo hình mẫu ban đầu, được ốp bên ngoài bằng đá hoa cương, đá cẩm thạch liền khối. Phần trên mộ được xây dựng theo hình khung cửi cách điệu, gợi nhớ cuộc đời canh cửi vất vả để nuôi chồng, nuôi con thuở sinh thời. Phía sau phần mộ là bức phù điêu bằng đá trắng khắc họa hình những cánh sen thanh cao, tinh khiết của quê nhà và cũng là biểu tượng về cuộc đời, nhân cách của bà.

Đông đảo người dân hành hương về viếng bà Hoàng Thị Loan.

Bà Hoàng Thị Loan sinh thời đã hết lòng vì chồng con. Sau khi chồng bà là ông Nguyễn Sinh Sắc vào Huế đi thi, bà đã cùng chồng gồng gánh đi bộ với hai con trai vào kinh đô giúp ông học tập, nén lòng gửi con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh ở lại Nghệ An để giúp chăm sóc ông bà ngoại Hoàng Xuân Đường. Ở Huế, bà đã lao động dệt vải vất vả, vắt kiệt sức nuôi sống cả nhà. Sau khi sinh người con thứ tư là Nguyễn Sinh Nhuận, do sự vất vả khó nhọc trước đó, bà Hoàng Thị Loan sinh bệnh rồi qua đời vào năm 1901 trong khi chồng và người con Nguyễn Sinh Khiêm đang ở Thanh Hóa. Ở Huế lúc ấy chỉ có Nguyễn Tất Thành 11 tuổi đứng ra làm chủ tang cùng bà con chôn cất mẹ khi ngày Tết đang đến gần.

Năm 1922, hài cốt của bà được người con gái cả Nguyễn Thị Thanh đưa về an táng tại vườn nhà ở Làng Sen, xã Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An). Cuối năm 1941, sau khi ra khỏi nhà tù của thực dân Pháp, ông Nguyễn Sinh Khiêm đã đi khắp quê hương Nam Đàn tìm nơi có phong cảnh đẹp để cải táng hài cốt của mẹ và lựa chọn được một vị trí ở núi Động Tranh trong dãy Đại Huệ, thuộc làng Hữu Biệt (nay là xã Nam Giang), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Vì nhiều lý do, ông Khiêm đã cho đào 9 huyệt mộ trên núi Động Tranh rồi đặt thi hài của mẹ mình ở đó một cách bí mật. Tháng 11-1946, sau khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội, ông Nguyễn Sinh Khiêm mới chỉ cho bà con trong họ biết chính xác vị trí ngôi mộ bà Hoàng Thị Loan.

2.Theo tư liệu của nhà văn Sơn Tùng, trong những lần được trực tiếp gặp bà Nguyễn Thị Thanh, Sơn Tùng được bà Thanh tâm sự về câu chuyện đích thân bà đã chuyển hài cốt mẹ mình từ Huế về Nam Đàn ra sao, bà kể:

O ra khỏi nhà tù năm Nhâm Tuất (1922), nhưng phải quản thúc tại Kim Long, kinh đô Huế. Mẹ o, em trai của o là Nguyễn Sinh Nhuận nằm xuống đất Huế, o không được nhìn mặt mẹ lần cuối cùng, chưa nhìn được mặt em trai một lần. Thật là nước mất nhà tan….

Trước cảnh ngộ cha xiêu bạt nơi lục tỉnh Nam Kỳ một cách vô định lai hồi, em Tất Đạt đang tại tù, em Tất Thành bôn ba hải ngoại, chẳng biết ở chân trời góc biển nào! Quyết đưa di hài mẹ về cố quận. Nhưng để làm được việc hiếu này, trong cảnh ngặt nghèo này, khó lắm cháu ơi. Cũng may những năm phụ thân o thụ giám, mở trường dạy học tại kinh đô rồi làm quan ở Bộ Lễ, Người để lại một phương danh nơi quan trường, sỹ thứ thì o và cậu Tất Đạt, Tất Thành được thơm lây, được thừa hưởng “lộc cha phúc mẹ”. O bị quản thúc vô thời hạn: “nhật nhật tại dã, bất khả viễn phương”. Nhưng khi công môn, o xin về Nghệ thăm nhà, họ không hạch sách gì, còn được lời ân ưu: “cô Chiêu Thanh, trưởng nữ của quan Phó bảng Sắc. Cô về thăm quê ở bao lâu cũng được. Cố chịu phiền một chút, báo cho hương lý sở tại lúc về và lúc trở lại kinh đô Huế…”. Nhờ vậy, o lo liệu công việc di chuyển di hài mẹ về quê thuận lợi. Việc đưa di hài mẹ về quê, o chỉ bàn bạc với dì An, em ruột mẹ và một hai người bên nội biết. Năm ấy năm Nhâm Tuất (1922), mẹ Lụa (cụ Trần Thị Trâm), chú Cử Thống (Hồ Phi Thống) không còn bị tù ngục nữa. Một số nhà khoa bảng ở ngục Côn Lôn lần lượt trở về. O về Vinh gặp chú Cử Thống, chú mở cửa hiệu ở thành Vinh, bây giờ là danh sư Hồ Phi Huyền, dạy học, viết sách, chữa bệnh…

Đúng vào canh ba, đêm tháng mười năm Nhâm Tuất, chú Hồ Phi Huyền lên biểu bạch để o thực hành việc di hài cát táng từ kinh đô về Nam Đàn. Dì Hoàng Thị An lo liệu nơi cất giữ di hài cho đến khi tìm được cát địa. Mẹ Lụa dặn: Khi mở nấm mộ phải đứng tránh ngọn gió. Nước gỗ vang phải nhiều, đun sôi kỹ từ hôm trước để rửa cốt thật sạch, lau khô bằng giấy bản. Nước gỗ trầm hương, tẩm cốt rồi xếp vào vải điều, gói vuông vức lại, bọc ngoài một tấm vải đen, cất dưới đáy bị cói, trên xếp các loại thuốc viên. Hài cốt được tẩm nước gỗ trầm hương đưa đi xa, qua đò, qua tàu, xe hay gặp các loại súc vật khứu giác nhạy như chó cũng không thể bắt mùi. Về Huế, o nhờ gia đình người học trò của phụ thân o giúp việc “quán tẩy di hài” (rửa lau hài cốt)… Mọi việc làm trong âm thầm kín như bưng và trơn bọt lọt lạch…

Xong mọi việc hiếu nghĩa với mẫu thân mà o không thể nào bắt liên lạc được với phụ thân o để Người yên lòng và cậu Tất Đạt o cũng chưa gặp lại được. Mãi tới năm Canh Thìn (1940), cậu Tất Đạt mới được về quê. Cậu ở lại quê được ít lâu, cậu mời chú Hồ Phi Huyền cùng đi xem cát địa để cát táng mẫu thân của chị em o. Chú Hồ Phi Huyền, cậu Tất Đạt đi khắp từ Đông Nam sang Tây Nam dãy núi Đại Huệ, đi qua cả truông Hến, truông Băng, truông Bồn… Cậu giáo Tôn Quang Duyệt (em học giả Tôn Quang Phiệt) hàng ngày đi theo mang bầu rượu và nước trà cam thảo lão mai phục vụ hai “thầy địa lý”. Cuối cùng tìm được hai điểm Động Tranh và Đại Hài, về sau quyết định lấy một. Năm Tân Tỵ (1941), cậu Tất Đạt chọn Động Tranh làm nơi thiên thu an lạc tĩnh thổ cho mẫu thân… Mùa thu Ất Dậu (8/1945), Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam mới ra đời, o ra Thủ đô thăm cậu Tất Thành lần thứ nhất, tại nhà cậu mợ Đặng Thai Mai, o có nói với cậu Tất Thành việc o chuyển di hài mẫu thân về quê, việc o vào Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc chịu tang phụ thân năm Kỷ Tỵ (1929)

3. Cũng theo tư liệu của nhà văn Sơn Tùng, trong một lần ông được bác Nguyễn Sinh Khiêm đưa về thăm lại mộ bà Hoàng Thị Loan, bác Nguyễn Sinh Khiêm đã kể với Sơn Tùng về địa điểm cất mộ mẹ như sau:

Ngày 22 tháng Chạp năm Mậu Tý (1949), bác Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho tôi một cái rựa, chai rượu, thẻ hương bài rồi dặn “Cháu đi ra đường cái trước, ghé vào mua giúp bác năm quả cau, bốn lá trầu. À, cháu nhớ xin nhà hàng một ít vôi quệt lên giữa lá trầu không…”.

Tôi theo bác cả Khiêm đi bộ leo lên một quả núi, bác Khiêm nói:

– Nơi bác cháu mình đang đứng là Động Tranh. Cháu hình dung nơi đây là chốt của bộ nan quạt xòe rộng mà góc phải là núi Dăng Màn ở phía Tây, thượng nguồn sông Lam, góc trái là núi Song Ngư ở phía biển Đông, hạ lưu sông Lam, gọi là Cửa Hội. Ngoài khơi là đảo Mắt, tên chữ là Mục Sơn, con mắt núi nhìn thẳng vào Lam Hồng, đất “địa linh nhân kiệt”. Thời xa xưa người Tàu đã gọi đảo Mắt là núi “Bất nghĩa sơn” không chịu chầu về Bắc quốc của họ: “Chu Sơn giai củng Bắc, duy hữu Mục triều Nam”. Bắc triều đã cho thầy địa lý đến “yểm” đảo Mắt, “yểm” đất Lam Hồng để triệt phá nhân tài hào kiệt….

Bác cả Khiêm đi lên cao mấy bước đến một ngôi mộ ẩn dưới mấy khóm mua, sim và cỏ chỉ đan lưa thưa. Bác nói khe khẽ: “Phần mộ mẹ của bác. Cháu giúp bác phát đám cây cho quang đãng…”.

Bác cả Khiêm trải trước mộ mẹ tấm khăn bông quàng cổ chín màu mồ hôi, đặt rượu, trầu cau lên, thắp cả mười cây hương trầm cắm giữa đỉnh mộ. Bác quỳ xuống lạy khấn… Một linh cảm lạ thường! Tiếng rì rầm như nước nguồn tuôn chảy trên tầng cao Đại Huệ. Gió quấn quýt khói hương trầm ôm tròn ngôi mộ, hòa quyện mái tóc trắng bác cả Khiêm rung rung dưới làn mưa bay!…Bây giờ tôi mới biết ngày này là ngày kỵ Người Mẹ đã sinh ra những con người yêu nước Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm đều bị thực dân Pháp kết án mỗi người 9 năm tù khổ sai, đày đi biệt xứ và sinh ra Bác Hồ!

4. Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ thì cụ Đào Nhật Vinh (23 phố Nguyễn An Ninh, TP Hồ Chí Minh), từng là thủy thủ tàu buôn của Pháp từ 1913, từng gặp và trở nên thân thiết với Bác Hồ từ thời Người là Văn Ba thủy thủ, năm 1946, cụ đã gặp lại Người là Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp. Sau này về nước, vào năm 1977, cụ Vinh tròn 80 tuổi ra thăm Lăng viếng Bác đã kể rằng:Ngày chủ nhật 30/1/1921, tôi từ Boocđô lên Pari tráng lệ, tới ngõ Công Poanh tù mù vàng vọt. Lên cầu thang, bước tới cửa phòng anh Nguyễn, mùi hương từ trong phòng thơm ngát. Nghe tiếng gõ cửa, anh Nguyễn hé từ từ cánh cửa phòng, thấy tôi: “Ồ! Chú Vinh! Vào đi em”.

Tôi bồi hồi nhìn vào cái bàn làm việc thường ngày đang là bàn thờ, hương nghi ngút, ngọn nến sáng lắt lay bên con gà ngậm bông hoa râm bụt ấp trên đĩa xôi… Anh Nguyễn giọng bùi ngùi: “Ngày giỗ mẹ anh. Hai mươi năm về trước cũng vào ngày chủ nhật 10-2-1901, là ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý mẹ anh qua đời”. Anh im lặng. Tôi bật khóc, níu cánh tay anh Nguyễn. Anh trầm lắng giọng: “Bấy giờ nhà ở trong ngõ Đông Ba, thành nội, kinh đô Huế, cha cùng anh cả đi công việc tận ngoài tỉnh Thanh chưa về…”. Anh siết chặt bàn tay tôi, nén xúc động không nói…Tôi đứng lên để ra phố sắm lễ vật vì không biết ngày này là ngày giỗ thân mẫu của anh. Anh giữ tay tôi lại: “Chú từ phương xa đến đúng lúc anh có giỗ mẹ, là tâm hương thành lễ, không nhất thiết phải có lễ vật!”. Tôi bái lễ thân mẫu Người

Trong Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, những ai khi biết về câu chuyện ba chị em Bác Hồ sống đạo nghĩa với người mẹ Hoàng Thị Loan thế nào, hẳn đều thấy xúc động và thẳm sâu bài học hiếu nghĩa đầy tâm linh về đạo làm con của ba chị em Bác. Giờ thì bà mẹ Việt Nam Hoàng Thị Loan mãi mãi an giấc ngàn thu trên dải núi thiêng Động Tranh của quê nhà. Thay ba người con hiếu tử, hàng ngày có hàng ngàn người con đất Việt và bạn bè năm châu hành hương về đây thắp nén tâm hương trước mộ bà, để mãi mãi ghi nhớ công ơn trời biển của một bà mẹ vĩ đại sinh cho đất nước những anh hùng hào kiệt

Hồng Thái

cand.com.vn

Học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh

Phải thật lòng thương yêu đồng bào

TTCT – Khi mới giành được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và Chính phủ phát động phong trào toàn dân tham gia diệt giặc đói. Hũ gạo tình thương (hũ gạo cứu đói) ra đời và được mọi gia đình hưởng ứng; khi chuẩn bị bữa ăn, trước khi cho gạo vào nồi nấu, người nấu tự bốc bớt một phần gạo cho vào hũ. Gạo trong hũ được định kỳ gửi đến chính quyền cách mạng để ủng hộ (cứu đói) những người dân thiếu đói.

Bác cũng tự nguyện thực hiện bằng việc mỗi tuần Bác báo cho bộ phận hậu cần cắt khẩu phần ăn không nấu, để Bác nhịn ăn một bữa, Bác thực hiện rất đều đặn và thường nhịn ăn vào bữa trưa. Biết chuyện, nhiều đồng chí Trung ương khuyên Bác làm như vậy ảnh hưởng đến sức khỏe, Bác cười hiền hậu nói: “Mình có đói mới hiểu nỗi khổ của người đói” và Bác kiên quyết thực hiện. Tiêu chuẩn khẩu phần ấy hằng tháng được chuyển đến cơ sở cứu đói của địa phương.

Năm 1946, khi dẫn đầu đoàn Chính phủ của ta sang Pháp đàm phán, biết người dân Pháp cũng còn rất nhiều người đói khổ, kể cả những nhân viên phục vụ nhà hàng cũng gom nhặt đồ ăn thừa của thực khách. Đoàn ta được đón tiếp và chiêu đãi trọng thị, đến bữa ăn Bác nhắc các thành viên trong đoàn: Ăn món nào thì ăn cho hết, thấy ăn không hết thì nên để lại nguyên món ăn đó, để cho người đói như thế cũng là một cách tự tôn trọng mình. Biết được thành tâm của Bác, không chỉ cán bộ trong đoàn ta xúc động mà các nhân viên phục vụ của Pháp rất cảm kích. Những việc như trên chính là đạo đức cách mạng, Bác luôn làm gương tiêu biểu nhất.

Đất nước ta trong những năm qua đã cơ bản giúp người dân xóa được nạn đói, giảm bớt nghèo, đây là thành tựu của toàn Đảng, toàn dân ta, các nước nghèo khác đang phải học tập cách làm của ta. Tuy nhiên người dân ta còn nghèo, nhiều gia đình còn rất khó khăn, rất cần những tấm lòng thương yêu, chia sẻ của những người có cuộc sống đầy đủ. Dân tộc ta có câu ngạn ngữ “Miếng khi đói bằng gói khi no”, sự giúp đỡ, ủng hộ dành cho người nghèo rất đáng trân trọng ghi nhận, nhưng phải thật lòng, không nên mang tính bố thí. Đồng thời với thực hành tiết kiệm, phải cùng chống lãng phí, chống ở tất cả mọi nơi, mọi việc làm, mọi sinh hoạt. Làm được như thế là góp phần giúp dân ta bớt nghèo, đó chính là hành động học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NGUYỄN KHẮC LUÂN (xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh)

tuoitre.vn