Archive | Tháng Hai 2012

Hồ Chí Minh với nền hành chính dân chủ cộng hoà

(ĐCSVN) – Hồ Chí Minh có ý thức từ rất sớm và rất sâu sắc về việc xây dựng một nền hành chính mới của chính thể dân chủ cộng hoà. Người đã sử dụng các biện pháp khoa học và hiệu quả để xây dựng một nền hành chính mới. Theo đó, nhiều quan niệm, nguyên lý đã định hình và đến nay còn nguyên giá trị với sự nghiệp cải cách hành chính nước ta hiện nay.

134.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh với những thành viên của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Ảnh: Tuấn Anh)

1. Xây dựng nền hành chính công vụ vì dân, khoa học

65 năm trước đây, trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm để xây dựng nên Nhà nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ cộng hòa”[1]. Bản chất của chế độ mới là dân chủ, cộng hòa. “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta.”[2] Chế độ ấy đã tạo ra và đòi hỏi một nền hành chính mới với chất lượng, tổ chức hoạt động và bộ máy nhân sự khác về chất so với trước đây.

Hồ Chí Minh rất coi trọng và quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền hợp pháp – hợp hiến với nền hành chính công vụ vì dân và khoa học. Đây chính là những công cụ đảm bảo cho tính chất của dân, do dân, vì dân của nền dân chủ, cộng hòa. Người đã quan tâm cả hai mặt: tổ chức các thiết chế của bộ máy nhà nước và ban hành các thể chế (hiến pháp và pháp luật) tạo cơ sở pháp lý và khoa học để tổ chức “một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Đó là một Nhà nước có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động thích hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam đương thời, mang tính khoa học về chính trị học, xã hội học, luật học và khoa học tổ chức hành chính.

Ngay từ khi còn đi tìm đường cứu nước, năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người yêu nước Việt Nam trong yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Véc-xây đã yêu cầu cải cách pháp luật ở Đông Dương để người bản xứ được bảo đảm về luật pháp như người châu Âu. Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ tư tưởng: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, Hồ Chí Minh đã chủ trương “thành lập chính quyền cách mạng” ở các căn cứ địa, các khu giải phóng lúc bấy giờ. Đến đầu tháng Tám 1945, mặc dù tình hình rất khẩn trương, Người đã kiên quyết triệu tập Đại hội quốc dân ở Tân Trào, cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam – một tổ chức “tiền chính phủ” để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực quản lý của chính quyền mới.

Trong Đường cách mệnh (1927) Người đã quan niệm rằng: “…làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” [3].

Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ, Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy trí tuệ của Đảng, toàn dân cùng với Quốc hội được bầu ra ngày 6-1-1946, soạn thảo bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Trong hoàn cảnh “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, việc thông qua Hiến pháp là thành quả to lớn của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta.

Những quy định của Hiến pháp 1946 về tổ chức bộ máy nhà nước từ Quốc hội, Chính phủ đến Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, về cơ quan tư pháp đều chứa đựng sâu sắc bản chất của một nhà nước pháp quyền kiểu mới, của dân, do dân và vì dân. Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Đó là sự hiện thực hóa, pháp chế hóa chế độ dân chủ, cộng hoà. Nhà nước của dân và do dân nghĩa là nhân dân xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền nhà nước, coi chính quyền là ruột thịt của mình. Nhà nước vì dân nghĩa là nhà nước mưu cầu quyền lợi, hạnh phúc cho nhân dân.

Khác với thuyết “Pháp trị” trong xã hội phong kiến coi pháp luật là công cụ bảo vệ lợi ích của thiểu số cầm quyền; khác với lý luận pháp quyền của xã hội tư sản coi pháp luật là công cụ duy lý chặt chẽ và vô tình để quản lý sao cho có lợi cho giai cấp tư sản, quan điểm về pháp luật của chế độ mới theo Hồ Chí Minh luôn xoay quanh vấn đề xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời hình thành pháp luật phục vụ cho quyền lợi của nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể quyền lực vừa là người được pháp luật bênh vực bảo vệ và theo đó, tính tích cực chính trị của công dân có vai trò rất quan trọng. Người cũng nhấn mạnh rằng, để Hiến pháp và pháp luật đảm bảo tính khách quan, phù hợp và phản ánh đúng đắn ý chí, nguyện vọng của nhân dân, Nhà nước phải thực hiện trưng cầu ý dân. Hồ Chí Minh là người đã nhiều lần kêu gọi nhân dân “ủng hộ chính phủ”, “giúp đỡ chính phủ” trong công việc hay “tìm người có tài đức” cho bộ máy nhân sự. Có lẽ đây là điểm khác biệt lớn nhất của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa so với các nền dân chủ đương thời.

Nền hành chính dân chủ cộng hòa theo Hồ Chí Minh còn là nền công vụ “chú trọng thực tế và nỗ lực làm việc”.

Cái thực tế mà Hồ Chí Minh quan tâm đầu tiên (và cũng chính là ham muốn tột bậc của Người) là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân. Trong cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc sau tháng 8 năm 1945, Người nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: “1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành”. Người còn nói: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ.” [4] Bởi vậy hoạt động của nền hành chính nhà nước trước hết phải phục vụ cho “độc lập – tự do – hạnh phúc”. Chính Người đã chọn tiêu ngữ ấy cho mọi văn bản hành chính của chế độ dân chủ cộng hòa.

Trách nhiệm lo hạnh phúc cho dân là trách nhiệm rất quan trọng của nền hành chính dân chủ cộng hòa. “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân, nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.”[5]

Người nêu quan niệm về nền hành chính mới: “Hành chính: Chính phủ dân chủ cộng hòa là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, nhưng không phải là chửi.”[6]

Thực tế ấy còn là sự nghiệp “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, là kế thừa được những giá trị truyền thống dân tộc và những thành tựu tổ chức nhà nước của các nước tiên tiến để tổ chức một bộ máy nhà nước pháp quyền phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Tinh thần thực tế còn là biết điều chỉnh khi hoàn cảnh đã thay đổi. Khi trực tiếp chủ trì và chỉ đạo việc sửa đổi Hiến pháp năm 1946, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, đó là bản “Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đó. Nó đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa. Vì vậy mà chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy”.

2. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nền hành chính mới

Hồ Chí Minh – người đặt nền móng cho nền hành chính Việt Nam hiện đại

Trước tiên là trên một quan niệm và triết lý tiên tiến, khoa học để xây dựng nền hành chính quốc gia theo chính thể dân chủ, cộng hòa. Có thể thấy rất rõ dấu ấn của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc Hồ Chí Minh lựa chọn mô hình, tổ chức, phương pháp vận hành nền hành chính mới. Nhu cầu của thực tiễn kháng chiến kiến quốc, phát triển sức sản xuất và chăm lo đời sống nhân dân…luôn được quán triệt sâu sắc trong qúa trình xây dựng nhà nước mới. Và công cuộc xây dựng nền hành chính mới cũng trước tiên phải phục vụ cho sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc” và xây dựng CNXH.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về một nền hành chính của dân, do dân, vì dân vừa mới mẻ vừa phản ánh đúng quy luật phát triển dân chủ. Nền hành chính gần dân, vì dân và có bổn phận “đem chính trị vào ở giữa dân gian” đã là một hiện thực của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó là nền hành chính làm công cụ đắc lực cho một nhà nước pháp quyền XHCN. Đó là nền hành chính ngay từ đầu tiên đã cương quyết chống lại những biểu hiện của các căn bệnh được coi là “mãn tính” của nhà nước như quan liêu, xa dân, cồng kềnh, giấy tờ và xa thực tiễn. Đó là nền hành chính vì dân và, trên nhiều lĩnh vực, được chính người dân bổ sung, điều chỉnh, giúp đỡ …

Từ khá sớm, trong bề bộn của công việc “kháng chiến, kiến quốc”, nhiều tiêu chí căn bản của công chức và công vụ của chế độ mới đã được Hồ Chí Minh xác lập với những quan điểm rất khoa học – cách mạng và chỉ dẫn rất chi tiết về phẩm chất, năng lực của công chức và tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính.

Các tư tưởng và biện pháp mà Hồ Chí Minh thực hiện trong quá trình xây dựng nền hành chính mang tính định hướng cho cải cách hành chính hiện nay.

Rất nhiều nguyên tắc do Hồ Chí Minh quy định hiện nay vẫn còn nguyên giá trị. Chẳng hạn nguyên tắc pháp quyền dân chủ, nguyên tắc “những gì có lợi cho dân phải hết sức làm, những gì có hại cho dân phải hết sức tránh”; nguyên tắc “vì việc mà tìm người chứ không vì người mà đặt việc”; nguyên tắc “xây dựng một nhà nước ít tốn kém”; xây dựng một nền hành chính gần dân, vì dân và gọn nhẹ (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa 1946 chỉ có 10 Bộ)

Tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh về xây dựng nền hành chính cũng rất nhiều độc đáo. Bên cạnh việc chỉ ra sự khác biệt về bản chất của nhà nước và nền hành chính khi so sánh với các nền hành chính đương thời, Người thấy được sự bất công của nền hành chính thực dân nhưng cũng thấy được những yếu tố hợp lý của nhà nước pháp quyền để kế thừa. Một số thao tác của quản lý truyền thống hoặc của nền hành chính nước ngoài có tính hợp lý cũng được Hồ Chí Minh kế thừa, chẳng hạn “chỉ thị tìm người tài đức”; phát huy dân chủ để chọn đúng người cho công việc kết hợp với thi tuyển để lựa chọn công chức; đề cao sự giám sát của nhân dân kết hợp với chế độ trách nhiệm và tính nêu gương của người lãnh đạo; thực hiện chế độ quản lí cán bộ – công chức…

Khá nhiều trí thức, công chức của chế độ cũ đã được Hồ Chí Minh “đắc nhân tâm”, sử dụng và họ đã tận hiến cho chế độ mới. Chẳng hạn, Giáo sư Vũ Đình Hoè đã hoàn thành sự uỷ thác của Hồ Chủ tịch, củng cố Bộ Tư pháp, xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp từ trung ương đến địa phương, đắc lực giúp Người đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền trong suốt 14 năm (1946 – 1960). Là người đứng đầu Bộ, ông đã kiên trì nguyên tắc “tư pháp nhân dân” và “tư pháp độc lập với hành chính” được ghi trong Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh chúng ta còn có thể thấy sự kế thừa khá nhiều nguyên lý của khoa học pháp quyền hiện đại và kinh nghiệm pháp lý – hành chính của nhiều quốc gia đương đại có nền hành chính pháp quyền, dân chủ. Hồ Chí Minh đã kế thừa hợp lý những kinh nghiệm thực tiễn và lý luận ấy nhưng không hề xa rời thực tiễn Việt Nam. Luật gia Vũ Đình Hoè – nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã nhận xét về qúa trình Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng thể chế và thiết chế hành chính cho nền dân chủ cộng hòa lúc đó rằng: “Người có một tư duy pháp lý nhạy bén tuỵệt vời, gần như thiên bẩm, thấu hiểu và thi hành một cách sáng tạo lý luận và thực tiễn chế độ pháp quyền của thời đại và của thế giới văn minh. Với quan điểm rất mới về nhà nước và pháp quyền, Người xây dựng chính quyền nhân dân trên đất Việt Nam ngàn năm văn hiến, vừa thoát vòng nô lệ của phương Tây”[7]

Từ những nền móng đồ sộ và rất căn bản ấy, Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa non trẻ cùng nền hành chính của mình đã hoàn thành trách nhiệm lịch sử của mình với quốc gia, trong sự nghiệp lãnh đạo cả dân tộc kháng chiến, kiến quốc xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa thành công và lãnh đạo đất nước trong suốt sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Những thành tựu lịch sử, to lớn của nền dân chủ cộng hòa không tách rời những tư tưởng rất khoa học và đầy đủ của Hồ Chí Minh về công vụ, công chức và nền hành chính mới mà chính Người đã dày công xây đắp.

3. Những việc cần làm để tiếp tục vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công vụ, công chức trong cải cách hành chính hiện nay.

Giữ vững tính chất XHCN, của dân, do dân, vì dân của nền hành chính pháp quyền nước ta.

Cải cách hành chính (CCHC) là để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; phát huy vai trò tham gia quản lý, tư vấn, giám sát và phản biện…của các tổ chức quần chúng với những quyết sách của nhà nước; là để cải thiện quan hệ giữa cơ quan, công chức nhà nước với công dân ở một số lĩnh vực hành chính công theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ trên cơ sở bình đẳng, song vụ giữa quyền và nghĩa vụ của hai bên.

Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần thực tế và gần dân của Chính phủ. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; nó có thể tiếp thu những yếu tố công năng – kỹ thuật của văn minh pháp quyền đương đại, nhưng cần lọc bỏ những yếu tố không phù hợp với tính chất và mục tiêu của chế độ XHCN mà toàn Đảng toàn Dân ta đang phấn đấu. Theo đó, mục tiêu của CCHC ở nước ta cũng là một trong những thao tác thực tiễn để định hướng XHCN.

Kiện toàn hệ thống chính trị để hỗ trợ cho cải cách hành chính

CCHC trước hết phải hướng tới giữ vững chế độ dân chủ XHCN. Nó phải hướng tới việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ phận trụ cột của nền dân chủ là Nhà nước. Cải cách và hoàn thiện nền hành chính nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và nền hành chính, nhằm giữ vững bản chất GCCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn liền chặt chẽ với quá trình đổi mới kinh tế, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững trật tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân…

Đẩy mạnh thể chế hóa công vụ và thực hiện nghiêm Luật công chức

CCHC và thể chế hóa công vụ, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Công chức hiện nay thực chất là để cho nền hành chính công, công chức và công vụ của nước ta trước hết thực sự trở thành “công bộc, đày tớ của nhân dân”. Mục tiêu cụ thể là phải tạo ra được những thiết chế, bộ máy, nhân lực và phương thức quản lý để xây dựng chế độ dân chủ XHCN, để “chính quyền và công chức “thực sự là công bộc của dân”. Bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân; hiện đại hóa và khoa học hóa nền công vụ, khắc phục tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ lạm dụng, lợi dụng quyền lực nhà nước để mưu lợi riêng… Đó là những bước tiến cơ bản của việc cải cách bộ máy nhà nước, chuyển từ một bộ máy thiên về thống trị, kiểm soát, điều hành… thành một bộ máy phục vụ xã hội, một nền hành chính “thật sự của dân, do dân và vì dân”.

Tiếp tục thực hiện các cơ chế mới (chẳng hạn cơ chế “một cửa”) để đảm bảo công khai hoá, minh bạch hoá các thủ tục hành chính, chống phiền hà và mất thời gian của nhân dân khi tới cơ quan nhà nước, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với dân để góp phần đổi mới mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân. Việc làm này giúp cho cán bộ – công chức nhà nước thật sự trở thành những đầy tớ mẫn cán, thạo việc, công tâm bởi luôn được minh bạch hoá công việc và phẩm chất. Nó cũng giúp cho dư luận xã hội được lành mạnh hoá: làm cán bộ là làm việc cho dân, làm người chân chính chứ “không phải là con đường thăng quan phát tài”; cán bộ là công bộc chứ không phải là nhóm xã hội được hưởng đặc quyền. Nó cũng góp phần điều chỉnh những lệch chuẩn, sai lệch giá trị xã hội đang xuất hiện ngay cả trong cơ quan nhà nước.

Công khai, minh bạch và tăng cường sự giám sát hoạt động hành chính công hiển nhiên là giải pháp tất yếu để khắc phục những vấn đề của hiện trạng hành chính nước ta. Tăng cường tính chuyên môn và đạo đức của người công chức và tính nêu gương của cán bộ lãnh đạo cũng là một trong những khâu rất quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp CCHC./.

[1] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 tập 4, tr.11
[2] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.160
[3] Hồ Chí Minh : Sđd, tập 4, tr. 8
[4] Hồ Chí Minh, Sdd, tập 7, tr. 274
[5] Hồ Chí Minh, Sdd, Tập 7, tr. 572-574.
[6] Hồ Chí Minh, Sdd; NXBCTQG. 1995, Tập 5, tr.60.
[7] Hồi ký Vũ Đình Hoè, NXB Hội Nhà văn. 2004 tr. 701.

PGS. TS Nguyễn An Ninh

hochiminhhoc.com

Thực hành dân chủ là chìa khóa để giải quyết mọi khó khăn

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam.

230.jpgGốc có vững cây mới bền – Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trong dòng chảy của sự tiến hóa tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hóa nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó. Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hóa cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được. Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hóa đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

200809_quochoi0001.jpgHồ Chí Minh rất đề cao vai trò làm chủ của nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Cũng như vậy, không bảo đảm thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không? Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, bảo đảm quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hòa cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hóa nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người”, đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động. Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hóa và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

PGS – TS TÔ HUY RỨA
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng
Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương
Theo Báo Hà Nội mới


(Lược ghi tham luận của đồng chí Tô Huy Rứa tại Hội thảo Khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”).

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh với cuộc đổi mới tư duy đầu tiên của cách mạng Việt Nam để tìm đường cứu nước

“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là quy luật vận động của thực tiễn chính trị xã hội Việt Nam qua những trải nghiệm tìm kiếm, sàng lọc. Nó được xác định từ nhiều vận động dích dắc của lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và thực sự chuyển biến từ quá trình đổi mới tư duy đầu tiên mà Hồ Chí Minh là người khởi dẫn

BacHo.jpgHồ Chí Minh đẹp nhất tên Người. Ảnh: Tuấn Anh

1. Những hạn chế của lối tư duy cũ trong việc tìm đường giải phóng dân tộc và phát triển đất nước

Giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cả dân tộc Việt Nam ở trong bối cảnh là đất nước vốn đã lạc hậu trì trệ bởi chủ nghĩa phong kiến lại bị chủ nghĩa thực dân (CNTD) xâm lược, đô hộ. Bối cảnh ấy làm nảy sinh hai nhu cầu lớn: làm thế nào để giải phóng dân tộc, giải phóng các giai cấp? Và làm thế nào để phát triển đất nước? Và, đã có nhiều lực lượng ưu tú của Dân tộc đã đi tìm cách để giải quyết các nhu cầu trên. Trước khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước, Dân tộc ta hồi đó từng có 2 trải nghiệm: con đường theo ý thức hệ phong kiến và con đường theo ý thức hệ dân chủ tư sản.

Con đường cứu nước bằng ý thức hệ phong kiến cổ truyền xuất phát từ một triết lý có từ nghìn năm trước: “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, người Việt Nam tự quản lý công việc nội bộ. Ý nghĩa triết lý ấy thật giản dị. Và kể từ ngày 5/6/1858 khi thực dân Pháp và Tây Ban Nha xâm lược đất nước, nhiều thế hệ của người Việt Nam đã đánh Tây, cứu nước theo tư duy ấy.

Con đường cứu nước thứ hai, phức tạp hơn một chút, là giải phóng dân tộc và sau đó, phát triển đất nước theo con đường TBCN. Ý thức hệ chi phối con đường này là tư tưởng dân chủ tư sản. Nó xuất hiện từ khá sớm, trước cả sự kiện 1858. Nhiều bậc thức giả, sỹ phu của triều Nguyễn đã ý thức được tình trạng lạc hậu của Việt Nam và bối cảnh thế giới đang trong cuộc “Mưa Âu, gió Á” với nhiều chuyển động từ chế độ phong kiến sang chế độ dân chủ tư sản và, họ đã đi tìm đường cứu nước từ tư duy ấy.

Các giải pháp để cứu nước theo hai con đường phục quốc phong kiến và dân chủ tư sản đều bị thất bại. Vì sao những giải pháp ấy lại thất bại? Về logic, cả dân tộc hiện có 2 nhu cầu lớn, theo đó nó định ra những mục tiêu của cách mạng. Có giải quyết được quan hệ giữa mục tiêu giai đoạn – trước mắt và mục tiêu chiến lược lâu dài thì mới có phương pháp cách mạng, tạo ra động lực, thu hút được đồng minh, đoàn kết dân tộc… Thành hay bại của một giải pháp cứu nước đều phải giải quyết được các mục tiêu và mối quan hệ giữa những mục tiêu ấy. Chúng ta cùng xét từng giải pháp.

– Tư tưởng phong kiến bất lực trước nhu cầu giải phóng và phát triển.

Đi theo ý thức hệ này, đương thời có hai nhóm: một là phong trào yêu nước của nhân dân theo ngọn cờ của các sỹ phu, tướng lĩnh và thủ lĩnh nông dân và những hành động của triều Nguyễn. Cả hai đều trên nền tư tưởng của ý thức hệ phong kiến. Mục tiêu trực tiếp của con đường này là quang minh: đánh Tây xâm lược, phục quốc, độc lập; nhưng mục tiêu chiến lược lâu dài để phát triển đất nước sẽ như thế nào, thì còn nhiều lúng túng. Vấn đề là sau khi giành độc lập, sẽ lại tiếp tục xây dựng lại thể chế phong kiến vậy, liệu điều đó có đủ đáp ứng nhu cầu dân chủ của cả xã hội, đặc biệt là khối nông dân đông đảo nhất?

Các phong trào yêu nước do những bậc sỹ phu, tướng lĩnh và thủ lĩnh nông dân đương thời liên tục nổ ra khắp đất nước với tinh thần dũng cảm ngất trời: “đầu dám thay đầu, chân nối chân”. Song dường như với triết lý giản dị “Sông núi nước Nam…” hay lòng dũng cảm “Vì nước tấm thân đã trải, còn mất cũng cam, giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào ngại”… thì chưa đủ để giải phóng và phát triển. “Chớ đem thành bại luận anh hùng”. Chủ nghĩa yêu nước và sự hy sinh vì đại nghĩa dân tộc của những con người này thật đáng tôn vinh. Sự thất bại của phong trào yêu nước này còn cho thấy một bài học lớn: để cứu nước thì chỉ hành động “truyền hịch, dựng cờ khởi nghĩa” và Cần vương là chưa đủ…

134.jpgHồ Chí Minh với các thành viên chính phủ lâm thời. Ảnh: Tuấn Anh

Nhu cầu phát triển đất nước trong một xã hội được tổ chức thành nhà nước bao giờ cũng in dấu ấn của chủ thể cầm quyền. Nhưng do chế độ bạc nhược hủ bại và tự cô lập với những khát vọng của nhân dân nên trước đó, triều Nguyễn đã lạnh lùng khước từ những sáng kiến tìm lối phát triển. Các điều trần, các phương án canh tân của nhiều bậc thức giả như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Lộ Trạch… đều bị chối từ để cấm cố dân tộc trong phương thức phong kiến. Nó kìm hãm tư tưởng xã hội trong thứ bậc cổ lỗ theo kiểu Sĩ – nông – công – thương… và đã không còn phản ánh đúng cơ cấu giai cấp của xã hội; và nó “bịt mắt” làm ngơ trước những khát vọng giải phóng, nhu cầu dân sinh, dân chủ…

Triều đình phong kiến nhà Nguyễn cũng ý thức được sự mất mát khi va chạm lợi ích với thực dân Pháp xâm lược. Song lợi ích ích kỷ của tập đoàn thống trị và sự kìm hãm của hệ tư tưởng phong kiến đã dung dưỡng những tư tưởng đầu hàng, bảo thủ cổ hủ, biện luận cho những thối nát bất lực: lấy “Năm đạo thường” để quản lý đất nước; “lấy đạo Nho để giáo hóa quân Tây dương”… Nó làm nguội lạnh những nhiệt huyết của các bậc sỹ phu, thậm chí lấy đạo trung quân để lấn át lòng ái quốc bằng việc tiếp tay cho thực dân Pháp đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Bất lực và phản bội, một bộ phận triều Nguyễn đã hi sinh độc lập dân tộc để cứu vãn lợi ích ích kỉ của phong kiến. Nó đã tách khỏi dân tộc bằng các Hiệp ước cắt đất, đầu hàng với thực dân Pháp.

Tư tưởng phong kiến trước đây, khi gắn bó với chủ nghĩa yêu nước của Dân tộc đã làm trọn chức phận của nó mỗi khi đất nước bị xâm lăng. Nhưng giờ đây nó đã bất lực, hủ bại. Nho giáo là hạt nhân của tư tưởng phong kiến Việt Nam, đã không còn đủ sức để giải thích một hiện tượng mới mẻ là chủ nghĩa thực dân. Thậm chí có lúc nó từng được sử dụng như vũ khí trong công cuộc chống xâm lăng và góp phần xây nên “thành lũy của chủ nghĩa dân tộc” (Phan Bội Châu). Ở giai đoạn đầu tiên của cuộc kháng Pháp, tư tưởng “dị chủng, dị tộc” khá rõ. Chống xâm lược là chống quân Tây dương tà đạo, dị chủng, man di… Nó ảo tưởng vào thuyết “đồng chủng, đồng văn”; xa hơn cũng chỉ thấy được “dân tộc Trung Hoa cũng bị nô dịch như ta” chứ chưa thấy được bản chất giai cấp của hiện tượng áp bức dân tộc. Về sau, tư tưởng này còn xuất hiện trong luận thuyết “đồng chủng, đồng văn” của các bậc sỹ phu đi theo con đường dân chủ tư sản. Đạo quân thần đã không đủ để giữ bờ cõi trước sự xâm lăng của thực dân – tư bản, nhưng Nho vẫn còn cái “giá đỡ” là thể chế phong kiến nên vẫn tồn tại. Nhà Nguyễn lại còn tận dụng những phần lạc hậu nhất, trì độn nhất của ý thức hệ Nho giáo để biện luận cho sự bạc nhược và hủ bại của mình.

Cái nguyên nhân sâu xa của sự thất bại của phong kiến Việt Nam đương thời là lạc hậu về tư tưởng hủ bại về thể chế. Các nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu và Nguyễn Khắc Viện đều đã chỉ ra: Chủ nghĩa bảo thủ Nho giáo; chủ nghĩa quan liêu của quan lại; tư tưởng tiểu nông của nông dân… là những vật cản lớn của giải phóng và phát triển.

– Tư tưởng dân chủ tư sản cũng đã là một tìm tòi mới, song cũng chung sự thất bại khi tìm giải pháp để giải phóng và phát triển dân tộc. So với tư tưởng phong kiến thì đây là một trình độ cao hơn và nó cũng đã có sức hấp dẫn nhất định với một bộ phận của xã hội Việt Nam.

Hệ tư tưởng tư sản đương thời ở Việt Nam có hai loại ảnh hưởng: Loại ảnh hưởng thứ nhất là một số yếu tố khai hóa đã xuất hiện như tự do, bình đẳng, dân chủ… dù đã méo mó đi nhiều thông qua chế độ thực dân. Nguyễn Ái Quốc trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã mô tả hình ảnh của Nữ thần công lý khi sang thuộc địa thì cái cân “công lý” bị biến thành thuốc phiện và thanh gươm bảo vệ “tự do” trở thành công cụ đàn áp, chém giết dân tộc An Nam. Song dù sao, nhiều tư tưởng dân chủ phương Tây vẫn có tác dụng thức tỉnh với một bộ phận của xã hội – chủ yếu là sinh viên, trí thức Tây học và công chức… Nó là khởi điểm để một bộ phận vươn tới trình độ mới và có thể tạo ra những sắc thái mới trong đời sống xã hội đô thị…

Loại ảnh hưởng thứ hai, có một nhóm xã hội có lúc đã coi hệ tư tưởng tư sản như một giải pháp tìm đường cứu nước. Nó chưa tạo ra được một thể chế dân chủ mới nhưng đã từng là một tìm tòi và là một ngọn cờ tư tưởng của nhiều bậc thức giả đầu thế kỷ XX mà đại biểu là Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu. Thậm chí có cả những hành động với mục tiêu đáng trọng như khởi nghĩa Yên Bái (2-1930).

Vì sao hệ tư tưởng tư sản bất lực và thất bại?

Nó cũng như ý thức hệ phong kiến, đã không giải quyết được đồng thời hai nhiệm vụ của lịch sử Việt Nam là giải phóng (dân tộc và các giai cấp bị áp bức) và phát triển đất nước. Nó lại thiếu cơ sở xã hội (lúc đó giai cấp tư sản dân tộc còn rất non yếu) và không giải quyết triệt để những nhu cầu dân chủ của đông đảo xã hội là công nhân và nông dân. Giả định rằng, con đường này thành công (như phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn độ) thì công nhân và nông dân vẫn tiếp tục thân phận bị bóc lột và áp bức và độc lập dân tộc vẫn bị đe dọa bởi chủ nghĩa thực dân mới.

Điều đáng chú ý là nó mang tính phi logic, vì không thể lấy tư tưởng tư sản để chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cùng việc giải quyết những hệ quả chính trị xã hội do chính chế độ gây ra. Hệ tư tưởng dân chủ tư sản có thể là mới mẻ so với lập trường phong kiến nhưng nó cũng đã bị lịch sử vượt qua về thời đại bằng Cách mạng XHCN tháng Mười.

Cuộc tìm tòi giải pháp cho độc lập và phát triển dân tộc chưa đến hồi kết.

2. Các tình huống đặt ra nhu cầu đổi mới tư duy về con đường cứu nước.

Nhìn tổng quát, những hệ tư tưởng đã được vận dụng cho cuộc cứu nước và giải phóng dân tộc hồi đầu thế kỷ XX, tính cụ thể đến ngày 5/6/1911 – ngày Nguyễn Ái Quốc xuất dương đi tìm đường cứu nước, đều là những ý thức hệ đã cũ và chưa thể được chấp nhận cho nhu cầu giải phóng và phát triển của Việt Nam. Các tình huống mà thực tiễn đặt ra là:

Kẻ thù của độc lập dân tộc giờ đây đã khác, phương thức xâm lược, bóc lột cũng khác trước. CNTB là một hiện tượng thế giới, bằng chủ nghĩa thực dân, nó đang muốn “tạo ra thế giới theo hình ảnh của nó”. CNTB Pháp hơn phong kiến Việt Nam một phương thức sản xuất, khác về thủ đoạn thống trị, lại là một thế lực quốc tế… thì không thể đánh đổ nó chỉ bằng chủ nghĩa dân tộc tuần túy.

Phát triển là nhu cầu lớn của cả dân tộc. Sự nghèo nàn, lạc hậu của Dân tộc ta đương thời là do chìm đắm trong chế độ phong kiến đã hàng chục thế kỷ, nay lại thêm sự áp bức của chế độ thực dân. Lặp lại chế độ phong kiến không phải là lối thoát và đi lên CNTB lại cũng không phải là giải pháp tối ưu, vì tuyệt đại đa số của Dân tộc hồi đó là nông dân và công nhân. Muốn phát triển đất nước, trước tiên phải giải phóng được sức mạnh của lực lượng ấy.

Trước Mac, vấn đề độc lập dân tộc chưa có ai giải quyết trên lập trường duy vật và biện chứng về lịch sử. Xâm lược và thống trị là một hiện tượng xã hội có căn nguyên về kinh tế là chế độ tư hữu, về chính trị chế độ là người áp bức bóc lột người. Không có dân tộc thượng đẳng và hạ đẳng, không có số phận của dân tộc đi thống trị, khai hóa và số phận của dân tộc bị trị, bị đô hộ. CNTB, CNĐQ là cơ sở kinh tế – chính trị của hiện tượng nô dịch dân tộc mà biểu hiện cụ thể là chủ nghĩa thực dân, toàn cầu hoá TBCN…

Hạt nhân của vấn đề là phương thức bóc lột giá trị thặng dư. Nạn dân tộc này áp bức dân tộc khác đều bắt nguồn từ chế độ người bóc lột người. Để thỏa mãn cơn khát lợi nhuận, CNTB tạo ra một thế giới theo hình ảnh của nó và theo cách của nó: tìm kiếm thị trường, nhân công và tài nguyên … từ xâm lược, áp bức và nô dịch. Nạn dân tộc này áp bức dân tộc khác đều bắt nguồn từ chế độ người bóc lột người. Giải quyết vấn đề độc lập dân tộc ở thời đại ngày nay có nghĩa là chống CNTB, CNĐQ và các biến thái của nó. Nhưng CNĐQ chỉ tạo ra những tiền đề, mảnh đất để CNCS gieo hạt giống giải phóng chứ chưa chuẩn bị đầy đủ cho cách mạng XHCN (Do áp bức, bóc lột, bần cùng hóa, do chính sách ngu để trị … ). CNXH phải thông qua cách mạng giải phóng dân tộc để nhân dân giành lấy quyền độc lập tự do về chính trị, và qua đó xây dựng độc lập về kinh tế, xã hội. Độc lập dân tộc và những mục tiêu dân chủ, dân sinh… có nhiều điểm gắn bó và chỉ có thể giải quyết triệt để khi gắn với con đường XHCN.

Lý luận CNXH khoa học là cơ sở để giải quyết vấn đề dân tộc của xã hội hiện đại. Học thuyết ấy đã làm rõ bản chất kinh tế của nhu cầu giải phóng dân tộc là giải phóng các giai cấp – tầng lớp đang bị áp bức, bóc lột trong các dân tộc thuộc địa. GCCN và sứ mệnh lịch sử thế giới của nó là giải pháp để gỉai quyết triệt để những hiện tượng xã hội trên. Lực lượng để thực hiện sứ mệnh lịch sử giải phóng các dân tộc thuộc địa là GCCN và nhân dân các dân tộc thuộc địa dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Con đường là từ giải phóng dân tộc tiến lên XHCN, “giữa hai cuộc cách mạng không có bức tường thành nào ngăn cách”. CNXH và CNCS sẽ xóa đi nạn người bóc lột người và là căn nguyên sâu xa nhất của vấn đề áp bức dân tộc và theo đó, giải quyết cơ bản vấn đề độc lập dân tộc.

3 – Những đột phá của Hồ Chí Minh để đổi mới tư duy về con đường giải phóng dân tộc và phát triển đất nước

“Độc lập cho đất nước tôi, tự do cho đồng bào tôi đó là tất cả những gì tôi muốn tất cả những gì tôi hiểu”. Đó cũng là khát vọng của cả dân tộc mà Hồ Chí Minh là người thấu hiểu và phát ngôn trước quốc tế. Bài học kinh nghiệm của các bậc tiền bối cho thấy nêu chỉ khư khư với chủ nghĩa giáo điều Nho giáo hoặc Tân thư, Tân văn (những phụ phẩm của lý luận dân chủ tư sản) thì không thể giải quyết được vấn đề của Việt Nam. Phải đứng trên mảnh đất hiện thực Việt Nam để tiếp nhận “cái linh hồn của chủ nghĩa Mac”, từ đó xác định triết lí phát triển của mình.

“Không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động”. Hồ Chí Minh viết như vậy ở trang đầu cuốn “Đường Cách Mệnh”. Vậy hạt nhân của lý luận cách mạng Việt Nam là gì? Đó là giải phóng Dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người để từ đó bước vào chặng phát triển với chất lượng mới. Cũng chỉ từ đó mới có thể bảo đảm cho độc lập dân tộc và giải phóng triệt để xã hội, con người. Với tư duy khoa học và cách mạng như vậy, Hồ Chí Minh đã có những đột phá – đổi mới trong việc giải quyết những nhu cầu của Dân tộc qua việc tiếp hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với nhu cầu của cách mạng Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp để giải quyết vấn đề dân tộc. Đấu tranh cách mạng ở nước ta, trước tiên diễn ra dưới hình thức đấu tranh dân tộc – đó là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với chủ nghĩa đế quốc, thực dân Pháp; nhưng chế độ thực dân nửa phong kiến lại là một thực thể kinh tế – chính trị đang áp đặt ách bóc lột giá trị thặng dư và bóc lột thuộc địa lên các giai cấp và tầng lớp lao động Việt Nam. Ở Việt Nam đương thời, công nhân – nông dân – trí thức đang chịu “một cổ đôi ba tròng” là ách bóc lột của chủ nghĩa phong kiến và chế độ bóc lột giá trị thặng dư. Họ cũng là nòng cốt cho lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc. Nếu chỉ thấy cái dân tộc mà không có lập trường giai cấp thì sẽ đi theo lối mòn của ý thức hệ phong kiến hoặc dân chủ tư sản, và hiển nhiên không thể “tranh được độc lập cho dân tộc” và thỏa mãn khát vọng giải phóng, dân chủ của nông dân và công nhân.

Mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam đương thời là hình thái đặc biệt của mâu thuẫn giai cấp: giữa dân tộc Việt Nam với CNTD Pháp, Hồ Chí Minh coi đó là mâu thuẫn bao trùm và chi phối. Sau này, Luận cương chính trị 10/1930 cũng chỉ ra cơ sở kinh tế của “lối bóc lột phong kiến lại chiếm địa vị trọng yếu” chứ chưa phải là phương thức bóc lột giá trị thặng dư của CNTB. Vì vậy, “chủ nghĩa dân tộc còn là một động lực lớn của đất nước”. Nhưng chính bản thân động lực này cũng đã có sự chuyển hóa: trên lập trường GCCN chứ không phải dân tộc chủ nghĩa như trước; định hướng của nó “sẽ là cơ sở hiện thực cho chủ nghĩa quốc tế” và cách mạng XHCN; hạt nhân xã hội của nó là những người cộng sản vươn lên nắm lấy ngọn cờ dân tộc.

Độc lập cho tổ quốc và tự do, hạnh phúc cho mỗi người lao động là thành quả đầu tiên của con đường theo chủ nghĩa Mac-Lênin. Lý tưởng của GCCN là CNCS nhưng mục tiêu trực tiếp của nó ở Việt Nam là làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng người lao động thoát khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân, ách áp bức của đế quốc và phong kiến – địa chủ. Theo đó “vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và nông dân là bạn đồng minh của giai cấp công nhân; liên minh công – nông – trí thức là cơ sở đại đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc. Qua đó, sức mạnh của GCCN còn non trẻ được nhân lên bằng sức mạnh của giai cấp đại biểu cho lợi ích của dân tộc và người lao động.

Rõ ràng đấu tranh giai cấp ở Việt Nam có hình thức dân tộc. So với chủ nghĩa Mác, thứ tự của quá trình giải phóng có khác ở chỗ, yếu tố giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu chứ không phải chỉ là giải phóng giai cấp. Nhưng sự nghiệp giải phóng và phát triển Dân tộc lại có được động lực to lớn hỗ trợ là những thành quả giải phóng các giai cấp- tầng lớp lao động, là đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người lao động. Độc lập, tự do, hạnh phúc là mục tiêu, là thành quả và là những động lực luôn gắn bó trong tư duy Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam

CNXH khoa học đến với cách mạng Việt Nam tuy tự nhiên nhưng không hề dễ dàng, đơn giản. Tự nhiên vì đây là nhu cầu chung của cả dân tộc Việt Nam trong việc tìm đường để phát triển và giải phóng. Nhưng không hề đơn giản vì phải có một nhãn quan mới khoa học và cách mạng, mới thấy được mối quan hệ giữa bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc và đặc biệt là thấy được hình thái dân tộc của đấu tranh giai cấp và vận dụng lý luận đấu tranh giai cấp vào giải quyết vấn đề dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã gắn kết hai lực lượng mạnh mẽ nhất của Dân tộc là phong trào yêu nước và phong trào trào công nhân với một lý luận khoa học và từ đó tạo ra được hạt nhân, bộ tham mưu, đội tiền phong là Đảng cộng sản cho cuộc đấu tranh vì giải phóng và phát triển. Kể từ đây, cách mạng có bước chuyển mới về tư duy: người Việt Nam bắt đầu cuộc giải phóng và phát triển bằng đổi mới tư duy, bằng giác ngộ lý luận chứ không phải bằng hành động “truyền hịch, dựng cờ khởi nghĩa” như xưa.

Như vậy, “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là quy luật vận động của thực tiễn chính trị xã hội Việt Nam qua những trải nghiệm tìm kiếm, sàng lọc. Nó được xác định từ nhiều vận động dích dắc của lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và thực sự chuyển biến từ quá trình đổi mới tư duy đầu tiên mà Hồ Chí Minh là người khởi dẫn./.

PGS.TS Nguyễn An Ninh
Theo Tạp chí Tuyên giáo

hochiminhhoc.com

Bác đến thăm Văn Miếu

Tôi nhớ mãi chiều tết nguyên đán năm Nhâm Dậu (ngày 5 tháng 2 năm 1962) một ngày nắng ấm đẹp nhất của những ngày tết ở thủ đô ta.

Khoảng 11 giờ trưa, tôi vừa xuất hành sang Văn Miếu về được mấy phút thì có tiếng gõ cửa.

Tôi ra đón: người đầu tiên đến xông nhà tôi năm ấy lại là một đồng chí công an chưa hề quen biết. Sau những  lời chúc mừng theo phong tục của chủ và khách, câu chuyện đầu xuân bên chén trà thơm trở nên thân mật, xoay quanh nội dung chương trình văn nghệ tại Văn Miếu sẽ khai mạc vào mười bốn giờ. Đồng chí công an nói nhỏ, báo trước một tin vui là trung ương sẽ đến dự, rồi bắt tay tôi ra về.

Tôi thầm nghĩ miên man. Biết đâu đấy, Bác sẽ đến cũng nên. Tôi đoán rằng Bác thấy báo đăng tại Văn Miếu có ngâm thơ và hát ca trù mừng Đảng mừng xuân mà Bác thì chắc chắn chưa được nghe hát ca trù thì khi thiếu thời Bác ở Huế và Sài Gòn là những nơi không có ả đào, nay Bác sẽ đến Văn Miếu để chúc tế đồng bào và thưởng thức di sản tinh thần dân tộc độc đáo này đây. Và tôi cứ khấp khởi mừng thầm điều mình vừa dự đoán.

Mới hơn 13 giờ một chút, các nghệ nhân, diễn viên và nhạc công đã có mặt đông đủ tại phòng khách đặt trong hai gian của dãy Hữu vụ. Sau lời chúc tết, tôi báo tin vui đột xuất và yêu càu mọi người sẽ biểu diễn hết sức mình cho

thật kết quả trước Trung ương Đảng. Ai nấy đều phấn khởi, nét mặt rạng rỡ thêm. Như linh tính báo, tôi ra Khuê Văn Các đón.

Một lát sau, có tiếng còi ô tô. Tôi ngoảnh nhìn, chạy vội ra thì thấy Bác, đúng Bác rồi. Chao ôi sung sướng! Bác đương ung dung bước qua cổng lớn, bước chân thoăn thoắt đi giữa hai hàng hoa tươi vào cửa Đại Trung.

– Bác, Bác ạ! – Tôi xúc động chào Bác không rõ lời và đi theo sau chân Bác, bên cạnh đồng chí bảo vệ. Đằng sau có mấy cháu nhỏ lon ton chạy theo vui vẻ lạ thường. Qua gác Khuê Văn, vòng một bên giếng Thiên Quang, Bác hỏi có bao nhiêu bia, dựng từ bao giờ?

– Thưa Bác, bia dựng từ năm Hồng Đức thứ 15 (1984) còn 82 tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ trở lên. Đáng lẽ ra phải có 116 bia, vì mỗi khoa thì dựng một bia. Các bia này có khắc tên nhiều danh nhân lịch sử như Ngô Sĩ Liên, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Thậm…

Bác dừng lại nhìn bao quát cả hai dãy bia một lượt rồi bước qua cửa Đại Thành vào khu chính tẩm có nhà Đại Bái và Hậu Cung.

Khi Bác bước xuống sân Văn Miếu, các cụ phụ lão và nhân dân đương ngồi các dãy ghế sát thềm Bái Dương mới biết Bác đến; tất cả mọi người đứng dạy ùa ra đón Bác, tíu tít vây quanh  Bác, mừng vui khôn xiết.

Bác vẫy tay mời các cụ phụ lão và đồng bào cùng ngồi.

Bác nhìn khắp lượt, ra hiệu cho các cháu thiếu nhi cũng ngồi xuống.

Tôi kính cẩn đưa Bác bản chương trình các tiết mục ngâm thơ và hát ca trù mừng Bác, mừng Đảng, mừng xuân mới, có ghi rõ nghệ nhân Nguyễn Thị Phúc gần 60 tuổi, Quách Thị Hồ ngoài 50 và giới thiệu với Bác hai bà đang ngồi gần

micrô, Bác gật gù tán thưởng. Tôi liếc nhìn hai bà thật xúc động được vinh dự đặc biệt, lần đầu tiên trong đời hát trực tiếp cho Bác nghe.

Ông Vũ Đình Khoa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội điều khiển chương trình biểu diễn.

Các nghệ nhân hào hứng vô cùng, diễn xuất đạt hơn hẳn mọi lần trước.

Đến tiết mục thứ 6, hay thứ 7 gì đó, sau khi ông Khoa vừa dứt lời giới thiệu “Bà Hồ hát ca trù” thì Bác giơ tay đính chính một cách rất vui và dí dỏm “Phải nói rõ thế này cho đúng: “Bà Quách Thị Hồ hát ca trù” kẻo các cụ phụ lão cười cho. Bác Hồ đã không có vợ thì lấy đâu ra Bác gái”.

Mọi người cười sảng khoái, phục tài Bác ứng xử, rất mau lẹ, sắc sảo, và thoải mái hồn nhiên. Hôm ấy Bác rất vui, ngồi xem từ đầu đến cuối. Trước khi đứng lên, Bác còn ứng khẩu hiệu độc hai câu thơ tặng các cụ phụ lão Thủ đô:

“Tuổi già nhưng chí không già

Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”

Sau đó Bác còn đi xem mấy di vật quý giá trong Bái Đường như bức hoành phi “Cổ kim nhật nguyệt” và quả chuông Bí chung có khắc tên Nguyễn Nghiễm (thân phụ thi hào Nguyễn Du) và cái trắc tải bằng gỗ chạm trổ rất tinh vi, mặt trước có năm chữ Hán xếp chéo nhau, đọc thành “chiêm tại tiền, hốt tại hậu” (nhìn thấy đằng trước, thoắt ra đằng sau), mặt sau cũng có năm chữ Hán xếp chéo nhau “ngưỡng di cao, toản di kiên” (ngửa trông càng cao, càng mài càng rắn).

Rồi Bác ung dung sang cổng bên, phía phố Văn Miếu, lên xe về Phủ Chủ tịch, như minh họa ý nghĩa mười chữ Hán khắc nổi công phu trong trắc tải mà Bác vừa ngắm nghía rất tâm đắc.

(Trích từ sách Bác Hồ với thủ đô Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, H.2005)

P.S.: Cám ơn chị Kim Yến đã cung cấp bài viết này.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Thực hành dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Dân chủ là một giá trị xã hội. Dân chủ cũng là một chế độ chính trị, một hình thức nhà nước.

1. Xét về mặt giá trị xã hội, dân chủ là một trong những thứ quý báu nhất của con người, là một giá trị vĩnh hằng mà từ khi có con người, từ khi chưa có chữ viết và chưa có khái niệm dân chủ, con người lúc đó đã có một đời sống “hoàn toàn” dân chủ. Dù là một xã hội dân chủ sơ khai, con người lúc đó đã cùng nhau làm chủ, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, cùng lao động, cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra. Tuy nhiên, từ  khi có nhà nước tới nay, xã hội dân chủ sơ khai thơ mộng và đẹp đẽ ấy đã một đi chưa đến ngày trở lại. Nhiều nhà tư tưởng đã bàn về cái ngày trở lại ấy và nhận thức về dân chủ là một quá trình. Theo giả thuyết khoa học của C.Mác, cái ngày trở lại ấy sẽ là một xã hội hiện thực, không có của riêng, không còn giai cấp, không còn nhà nước, sức sản xuất phát triển tới mức “của cải tuôn ra dào dạt” thoả mãn mọi nhu cầu của con người. Con người sẽ sống hoàn toàn dân chủ và bình đẳng, tự do làm chủ thiên nhiên, xã hội và làm chủ bản thân mình. Đó là một “Con đường muôn dặm” như Hồ Chí Minh đã từng nói, là mơ ước tương lai và hy vọng của loài người, là mục đích phấn đấu không ngừng nghỉ của rất nhiều thế hệ người tiếp nối nhau. Không phải cứ đập tan sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, thiết lập được chính quyền mới thì lúc đó đã là cuộc đấu tranh cuối cùng, đã có một đời sống hoàn toàn dân chủ và tự do.

hochiminh634125022554815000.jpg“Dân chủ” là điều trăn trở suốt đời của chủ tịch Hồ Chí  Minh. Ảnh: Tuấn Anh

2. Từ khi có chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước ra đời tới nay, dân chủ đã trở thành một chế độ chính trị với những nội dung và hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển trong mỗi kiểu nhà nước, ở mỗi quốc gia, dân tộc. Dân chủ từ đó gắn liền với lợi ích giai cấp, gắn với quyền làm chủ của giai cấp này và mất (hoặc hạn chế) quyền làm chủ của giai cấp khác. Xã hội loài người đã trải qua hai chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ chủ nô, mặc dầu có nhiều hạn chế, nhưng cũng là một bước tiến so với chế độ cộng sản nguyên thủy, nhưng rồi, cùng với sự phát triển của sản xuất, nền dân chủ chủ nô được thay bằng chế độ phong kiến chuyên chế. Phải hàng ngàn năm sau, khi cuộc cách mạng tư sản thành công ở một số nước tư bản phát triển và cùng với nó, nền dân chủ tư sản ra đời.

Do đặc thù của “phương thức sản xuất châu Á”, Việt Nam không qua chế độ chiếm hữu nô lệ nên cũng không có nền dân chủ chủ nô. Thời phong kiến, xét về thiết chế xã hội có hình thức dân chủ làng, xã (tính tự trị làng – xã). Nếu xét về hành vi dân chủ, thì một số triều đại cũng làm một số việc như trưng cầu ý dân – Hội nghị Diên Hồng – (nhà Trần), hoặc tuyển dụng quan lại thông qua thi tuyển, không phân biệt đẳng cấp, giai cấp để chọn người tài đảm trách công việc quốc gia. Từ khi bị thực dân Pháp đô hộ thì nước ta không những mất chủ quyền quốc gia mà còn mất dần những yếu tố dân chủ ngay cả ở làng, xã.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời được hiến định bởi Hiến pháp đầu tiên do Quốc hội thông qua ngày 9-1-1946. Người khai sinh ra nền cộng hoà dân chủ và bản Hiến pháp đầu tiên ấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị, nhà văn hoá kiệt xuất đã đưa dân tộc vào con đường phát triển hợp quy luật, xây dựng nước ta thành một nước dân chủ của nhân dân lao động bỏ qua nền dân chủ của giai cấp tư sản. Sự “bỏ qua” là một tiến bộ vượt bậc của lịch sử, nhưng như các nhà kinh điển đã chỉ rõ mọi sự bỏ qua đều gặp những khó khăn, trở lực không nhỏ. Cho đến trước Cách mạng tháng Tám – 1945 chúng ta chưa qua một chế độ dân chủ nào, chưa có sự trải nghiệm về thực tiễn dân chủ. Chính vì thế mà cả thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức và việc thực hành dân chủ, chúng ta đều đi những bước chập chững, mắc không ít sai lầm, khuyết điểm, phải vừa học vừa làm. Điều này được thể hiện qua nhiều bài viết, nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1950 và kể cả sau này.

3. Trên 60 năm xây dựng chế độ dân chủ và thực hành dân chủ, quan niệm về dân chủ và thực hành dân chủ ở nước ta cũng diễn biến cùng với những năm tháng đổi thay của đất nước. Dân chủ và thực hành dân chủ là một quá trình cách mạng, không phải là một con đường thẳng tắp mà nhiều quanh co, phức tạp. Dân chủ với tư cách là một chế độ chính trị thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó cả nhà nước và công dân đều phải có trách nhiệm xây dựng pháp luật và đặt mình dưới pháp luật, coi pháp luật là tối thượng để đảm bảo cho nhà nước thực sự là nước dân chủ. Nghĩa là mọi tổ chức và công dân, từ nguyên thủ quốc gia đến mỗi người dân đều phải “Tôn trọng Hiến pháp; tuân theo pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp 1946). Ngày nay, đọc lại Hiến pháp 1946, do Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo, tất cả những người nghiên cứu về dân chủ, dù khác nhau về tư tưởng và chính kiến, cũng đều phải thừa nhận rằng, từ giữa thế kỷ XX, Việt Nam đã đạt tới những quan niệm dân chủ, sánh ngang với bất cứ một thể chế dân chủ nào trên thế giới. Nổi bật nhất là việc xác nhận về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1, Hiến pháp 1946). Để thực hành quyền bính ấy phải thông qua hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nhân dân uỷ quyền quản lý đất nước cho các cơ quan đại diện đảm trách. Trong sự uỷ thác ấy có nguy cơ của sự lạm quyền và cả những sai lầm khi cơ quan đại diện của dân ra các quyết sách chính trị và ban hành các đạo luật. Do đó, nhân dân phải giữ lại một số quyền để quyết định trực tiếp và tối hậu. Đó là quyền phúc quyết mà trước hết và quan trọng nhất là xây dựng và sửa đổi Hiến pháp. Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở Hiến pháp 1946 thì Quốc hội được uỷ thác quyền soạn thảo Hiến pháp, đặt ra pháp luật, sửa đổi Hiến pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia. Nhưng “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia”; về sửa đổi Hiến pháp, “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện phê chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (Điều 70, Hiến pháp 1946). Quyền phúc quyết không phải là việc đưa ra cho nhân dân tham gia, góp ý kiến hay đề nghị mà là quyền Hiến định, là điều bắt buộc các đạo luật và cơ quan đại diện cao nhất của dân phải tuân thủ. Quyền phúc quyết là thể chế hoá tư tưởng quan trọng nhất của Hồ Chí Minh về dân chủ: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, … quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [1]. Một khi quyền dân chủ đã được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất của quốc gia thì không còn tranh cãi về “thu hẹp” hay “mở rộng”, ai có quyền “thu hẹp” hay “mở rộng” dân chủ mà là tuân thủ theo luật định.

4. Thể chế dân chủ tuy là vấn đề cơ bản, quan trọng nhất nhưng việc thực hành dân chủ lại là điều cốt tử của thể chế dân chủ. Theo Hồ Chí Minh, phải làm sao cho nhân dân biết hưởng và biết dùng quyền dân chủ. Chỉ có thực hành dân chủ mới có thể biến các quan niệm dân chủ trong các lời tuyên bố thành dân chủ thực tế. Chính V.I.Lênin cũng cho rằng, mọi điều tốt đẹp về dân chủ thì các học giả tư sản đã nói cả rồi, cái ưu việt của chế độ dân chủ chúng ta so với dân chủ tư sản ở chỗ hiện thực hoá những điều tốt đẹp ấy.

Để thực hành dân chủ đòi hỏi phải:

– Có đủ những văn bản luật phù hợp với thực tiễn và được lòng dân. Nhưng văn bản luật nào cũng đều là luật thực định, nghĩa là do giai cấp cầm quyền định ra thông qua cơ quan đại diện của dân soạn thảo và ban bố. Vậy thực hành dân chủ, mấu chốt là ở vấn đề bầu cử và ứng cử. “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử… hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó” [2]. Nhìn vào luật bầu cử và ứng cử, quy trình thực hiện, cách thức tiến hành và thái độ của dân chúng, người ta sẽ nhận ra chất lượng của điểm xuất phát, cái cơ bản nhất của chế độ dân chủ ở mỗi nước.

– Tổ chức bộ máy nhà nước thực thi luật pháp là công cụ đảm bảo thực hành dân chủ. Hồ Chí Minh đã khẳng định bộ máy nhà nước phải gọn nhẹ, trong sạch, đủ năng lực và bản lĩnh để chấp hành pháp luật. Con người trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, phải có uy tín trong dân chúng, có năng lực và liêm, chính. Những người được Quốc hội cử ra thành lập Chính phủ mới, theo Hồ Chí Minh, phải tuyên thệ về tư cách của bản thân và tư cách từng thành viên Chính phủ. Tại phiên họp ngày 31-10-1946, kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Hồ Chí Minh đã tuyên bố như sau: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái… Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết… Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc” [3].

– Phải có chính sách dùng người đúng, tạo cơ hội như nhau cho bất cứ ai, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, sang hèn, giàu nghèo… hễ là công dân Việt Nam đều có thể thi tuyển vào cơ quan nhà nước, được giao những nhiệm vụ tương xứng với tài năng và đức độ của họ. Người được tuyển lựa làm cán bộ, công chức phải cam kết trung thành với nhà nước và dân tộc Việt Nam, phải hoàn thành công vụ, không tham nhũng, lãng phí của công, không xách nhiễu dân; được thăng tiến, đãi ngộ về vật chất xứng đáng nhưng cũng sẽ bị trừng phạt, thậm chí truy tố trước toà án nếu có lỗi. Một xã hội thật sự dân chủ và pháp quyền khi cơ quan nhà nước tận tụy phục vụ dân, làm việc cho dân và làm tốt. Nhà nước ấy phải có đội ngũ công chức, viên chức là công bộc của dân, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, tự hào với nghề nghiệp và biết xấu hổ khi không làm tròn chức nghiệp bị dư luận phê phán. Cán bộ, công chức, viên chức, phải thường xuyên được giáo dục tư tưởng, tự phê bình và phê bình, phải chịu sự giám sát của dân, đồng thời phải bị xử phạt nghiêm minh theo luật. Tuyệt đối không có bất kỳ ai dù ở cương vị nào, người trong Đảng hay ngoài Đảng được sống ngoài vòng pháp luật theo kiểu “xử nội bộ”, thiếu công minh, thiên vị, có tội “nhưng không bị trừng phạt xứng đáng” [4].

– Có Hiến pháp và pháp luật đúng và đủ, có cơ quan công quyền trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ công chức, viên chức mẫn cán, đồng thời phải có hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có cơ quan tư pháp phải thực sự “Dĩ công vi thượng”, không bị áp lực từ bất cứ ai, cơ quan nào. “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69, Hiến pháp 1946). Hồ Chủ tịch đã từng dạy tư pháp phải “Phụng công thủ pháp” là chìa khoá để bảo vệ những nguyên tắc dân chủ của chế độ ta. Do đó tư pháp phải công minh, công tâm, khoan dung và đại lượng, không được “lạm dụng hình phạt”[5].

– Giáo dục pháp luật và nâng cao văn hoá dân chủ cho tất cả mọi người. Nâng cao dân trí và quan trí để “nước ta là nước dân chủ, mọi người có quyền làm, có quyền nói”[6] trở thành hiện thực và tất cả các cơ quan nhà nước phải tôn trọng các quyền dân chủ ấy của công dân. Dân có hiểu biết về pháp luật, biết hành xử theo pháp luật thì đó là cơ sở để nhà nước thực thi đúng pháp luật. Hồ Chí Minh đã từng nói “quan tham vì dân dại”[7]. Thực hành dân chủ sẽ chống lại có hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, “tệ quan tham lại nhũng” và các tệ nạn khác.

Ngày nay, dưới ánh sáng của sự nghiệp đổi mới, nhìn lại một thời đã qua và những gì là sự nỗ lực để đi tới, chúng ta càng thấy những giá trị cao cả, đích thực trong Tư tưởng Hồ Chí Minh khi khẳng định “thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”[8].

[1]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG. H.2002, tr.698.
[2]. SĐD, tập 4, tr.133.
[3]. SĐD, tập 4, tr.427.
[4]. SĐD, tập 5, tr.73.
[5]. SĐD, tập 4, tr.20.
[6]. SĐD, tập 12, tr.225.
[7]. SĐD, tập 5, tr.641.
[8]. SĐD, tập 12, tr 249.

Trần Đình Huỳnh

hochiminhhoc.com

Những bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân các ngày kỷ niệm thành lập Đảng ta

(TCTG) – Nhân kỷ niệm thành lập Đảng những năm 1949, 1960, 1963, 1964, 1965 Người đã có 7 bài viết và nói. Đáng kể còn có Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, và một số bài khác đề cập đến việc thành lập Đảng. Trong đó phản ánh những quan điểm, tư tưởng quan trọng cần tìm hiểu.

 1. Về sự ra đời của Đảng:

Người phác hoạ hoàn cảnh xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp; sự cấu kết của giai cấp phong kiến với đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân, sự trưởng thành của giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh của quần chúng không ngừng phát triển đều bị thất bại. Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra. Vấn đề được nhấn mạnh là cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và Quốc tế Cộng sản được thành lập. Nhờ đó chủ nghĩa Mác – Lênin và ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười đã chọc thủng lưới sắt của thực dân Pháp để vào Việt Nam bằng hai nhân tố. Một là, người cộng sản Đông Dương đầu tiên tham gia Đảng Cộng sản Pháp trực tiếp thực hiện – đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hai là, lúc đầu nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Pháp. Từ vấn đề dân tộc và vấn đề thời đại đó Người đi đến khẳng định:

“ Ngọn đuốc Mác – Lênin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1].

Các sự kiện thành lập Đảng được lần lượt nhắc đến những nét chủ yếu: Năm 1925 Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên được thành lập ở Quảng Châu. Năm 1929 Đại hội được tổ chức ở Hương Cảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Đại biểu Bắc kỳ đề nghị tổ chức Đảng Cộng sản, bị gạt đi nên bỏ hội nghị ra về. Sau đó ba nhóm cộng sản dần dần được thành lập. Cả ba nhóm ngầm hiểu một nước mà có ba Đảng Cộng sản là sai. Cả ba đều tìm cách thống nhất, nhưng do bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo nên càng muốn gần nhau lại càng xa nhau. Họ sử dụng nhiều nghị lực và thời gian để đấu tranh nội bộ và bè phái. Từ Xiêm về Trung Quốc, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, có đủ quyền quyết định mọi vấn đề của cách mạng Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập đại biểu 2 nhóm cộng sản là: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến Hương Cảng để họp, ngày 6-1-1930. Các đại biểu giả đi xem đá bóng, ngồi ở sân cỏ để bàn bạc. Sau những ý kiến sôi nổi và lời giải thích của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, các đại biểu đã đồng ý thống nhất ba nhóm thành một đảng. Đảng được thành lập. Báo cáo lên Quốc tế Cộng sản Người viết: Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên là quả trứng, từ đó nở ra con chim non cộng sản.

Những vấn đề nói trên cho thấy:

– Người sớm kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề thời đại, khai thác những nhân tố cơ bản của thời đại cho cách mạng Việt Nam, mặc dầu thời đại mới chỉ mở đầu chưa lâu, còn nhiều trở ngại.

– Hội nghị hợp nhất gồm đại biểu 2 tổ chức cộng sản nhưng đã bàn thống nhất cả 3 nhóm, đã có quá trình hiểu nhau, nên chỉ sau thời gian ngắn, ngày 24-2-1930, Trung ương lâm thời đã chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Nguyễn Ái Quốc đã chọn đúng thời gian, đúng địa điểm để tổ chức Hội nghị an toàn, ngăn chặn tình trạng các nhóm cộng sản “ngày càng xa nhau ra”, không đợi chỉ đạo của quốc tế cộng sản, cũng không tổ chức Hội nghị trong nước như Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã thành lập, cũng không ở nước nào khác, nơi nào khác ngoài Hương Cảng.

2. Tố chất của Đảng khi mới thành lập và ý nghĩa lịch sử của nó.

Theo Người, Đảng ta có những tố chất cách mạng và khoa học ngay khi mới thành lập:

– Đó là Đảng Mác – Lênin chân chính của những người yêu nước Việt Nam. Người cho biết, sau cách mạng Tháng Mười Nga những người Việt Nam yêu nước đã hấp thụ lý luận vĩ đại của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin được Người nhấn mạnh nhất, nhắc đến nhiều nhất và được coi trọng nhất. Người viết: “ngọn đuốc Mác – Lênin”, chủ nghĩa Mác – Lênin tất thắng”, “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin” và tự hào xưng danh: “Đảng Mác – Lênin của chúng tôi” với người nước bạn…

– Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng đại diện cho lợi ích của dân tộc và giai cấp, đảng viên đều hy sinh tận tuỵ không bờ bến để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

– Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng với đường lối chính sách đúng đắn, màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong. Đó là nhờ Đảng vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và đi đúng đường lối quần chúng.

– Đảng đoàn kết nhất trí, được tổ chức tốt nhất và hoạt động mạnh mẽ nhất trong tất cả các lực lượng bấy giờ ở nước ta, nên vai trò lãnh đạo hoàn toàn vào tay giai cấp vô sản. Đảng đưa nhân dân ta vượt qua mọi gian khổ khó khăn để đi đến thắng lợi.

– Dù còn non trẻ, nhỏ bé nhưng Đảng ta là con nòi; vì xuất thân từ giai cấp lao động, trong đại gia đình vô sản quốc tế rực rỡ dưới ngọn cờ Mác – Lênin, có những người anh em vĩ đại như Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp và các Đảng anh em khác. Vì thế Đảng kết tinh được sức mạnh tổng hợp của giống nòi ngay từ khi ra đời.

Những tố chất trên được Người đúc kết thành thơ:

“Đảng ta là đạo đức là văn minh

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”[2]

Những tố chất ấy cho thấy ý nghĩa to lớn về sự ra đời của Đảng. Người nêu rõ:

1. “Chu nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”[3]

2. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[4].

3. Đảng ta vững mạnh ngay từ khi mới thành lập. Vì nó là tất yếu của nhân tố dân tộc và nhân tố thời đại kết hợp chặt chẽ là kết quả kết hợp chủ nghĩa yêu nước và Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Những vấn đề nêu trên cho thấy:

Thành lập Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa khó khăn hơn nhiều so với ở các nước tư bản. Tạo thành Đảng Mác – Lênin chân chính và vững mạnh ngay từ đầu lại còn khó khăn hơn nữa. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như thế. Đó là công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chí Minh, đồng thời bản chất cách mạng vốn có của dân tộc Việt Nam được “trưng bày” rõ rệt.

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta. Đây là thắng lợi của cuộc cách mạng tư tưởng lớn, lại là thắng lợi kép: thắng lợi của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thắng lợi này còn được thể hiện bằng một tổ chức cách mạng chiếm ưu thế ngay trong phong trào cứu nước của dân tộc. Những điều đó chưa hề có trong lịch sử tư tưởng Việt Nam…

3. Nhiệm vụ cơ bản sau khi ra đời.

Sau khi thành lập Đảng liền lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân ta tiến hành cách mạng. Trước hết là cuộc khởi nghĩa ở Nghệ Tĩnh. 15 tuổi lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công, 17 tuổi lãnh đạo kháng chiến và 24 tuổi kháng chiến thắng lợi. Hoà bình lập lại Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềm Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Người khẳng định rằng cách mạng tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác do 3 nguyên nhân:

Đó là Đảng xứng đáng với danh hiệu của mình trong lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

Có lực lượng quần chúng phấn đấu, hy sinh và phát huy trí thông minh sáng tạo, nhất là công nhân, nông dân và trí thức.

Được sự đồng tình và ủng hộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới nhất là nhân dân các nước XHCN anh em.

Năm 1960, Người đã nêu 4 kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của Đảng:

Một là, Đảng luôn luôn đứng vững lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, biết vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin để đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng không ngừng đấu tranh chống các khuynh hướng sai lầm trong xã hội và trong Đảng. Nhờ đó Đảng nắm được quyền lãnh đạo trên cả nước và trên mọi lĩnh vực.

Hai là, Chủ nghĩa Mác – Lênin giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong một nước nông nghiệp lạc hậu thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân. Đảng ta đã giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân nên củng cố được liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhờ đó cách mạng tiến mạnh không ngừng.

Ba là, Đảng ta khéo tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Để đoàn kết dân tộc cần đấu tranh chống hai khuynh hướng: cô độc hẹp hòi và đoàn kết một chiều, nhờ đó vai trò lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận dân tộc thống nhất mới được bảo đảm, nền tảng công nông của Mặt trận mới được vững chắc, tính chất rộng rãi của Mặt trận mới được phát huy đầy đủ.

Bốn là, chính vì biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức mà Đảng ta đã vượt qua mọi khó khăn, đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi.

Từ những vấn đề đó Người không ngần ngại khi viết:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng, Đảng ta thật vĩ đại”[5].

Bàn đến nhiệm vụ đang thực hiện, Người nhắc nhủ chúng ta phải nhớ công ơn Đảng. Tâm niệm về điều đó, Người đã 4 lần làm thơ nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng (30 năm, 33 năm, 34 năm, 35 năm):

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng như núi cao,

Ba mươi năm phấn đấu biết bao nhiêu tình.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no.

Công ơn Đảng thật là to,

Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng”[6]

Người căn dặn phải nhớ ơn các liệt sỹ đã hy sinh cho Tổ quốc, cho Đảng; không được chủ quan dù thắng lợi đã to lớn, vì bên cạnh thắng lợi Đảng cũng có khuyết điểm, cách mạng cũng còn nhiều khó khăn phức tạp. Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều. Vì vậy phải xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ và đạo đức, phải nghiêm khắc phê bình và thật thà sửa chữa khuyết điểm.

4. Mấy vấn đề thu hoạch.

– Những bài viết đã nêu thể hiện quan điểm: “nhìn lại những đoạn đường dài đã qua, rút ra những kinh nghiệm quí báu và ấn định đúng đắn những nhiệm vụ cách mạng hiện nay và sắp tới để giành lấy những thắng lợi to lớn hơn nữa, vẻ vang hơn nữa”[7]. Đó là một nhân tố quan trọng giúp Đảng rút ngắn thời gian, tiết kiệm công sức, nâng cao hiệu quả trong các công việc lãnh đạo của mình. Người cho thấy lịch sử là chuyện đã qua nhưng hình ảnh của nó luôn luôn sống cùng hiện tại và tương lai của dân tộc. Không mấy ai coi nhẹ lịch sử nhưng cũng không mấy ai học được và vận dụng tốt kinh nghiệm lịch sử. Nhận thức đúng lịch sử đã khó vận dụng thành công bài học lịch sử càng khó hơn. Vì vậy Người muốn giáo dục chúng ta điều đó nhân những ngày kỷ niệm quan trọng của lịch sử.

– Kỷ niệm ngày thành lập Đảng là cơ hội để nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên. Chủ ý của Người là làm rõ những nguyên nhân thắng lợi và kinh nghiệm cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên. Sự lãnh đạo của Đảng phải bao trùm cả nước và phải gần gũi tận trong lòng mỗi người dân. Đảng phải lo tính việc lớn như biến đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu thành tiên tiến đồng thời lo cả những việc nhỏ như tương cà mắm muối cho đời sống hàng ngày của dân. Đó cũng là lý luận tổng quát về vai trò và trách nhiệm của Đảng trong cách mạng XHCN bằng nêu công việc cụ thể. Nội dung và phương pháp rèn luyện của đảng viên cũng được Người quan tâm đặc biệt.

Nhìn chung, điều đọng lại trong mỗi cán bộ, đảng viên sau khi đọc những bài viết kể trên là nâng cao lòng tự hào về Đảng, về dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm bản thân và thúc đẩy năng lực tư duy về con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

– Lịch sử Đảng ta được Người đánh giá “là cả một pho lịch sử bằng vàng”. Người đã xác định rõ những sự kiện cốt yếu và bản chất của việc thành lập Đảng. Tư tưởng và lý luận đúc kết từ lịch sử ấy có giá trị rộng lớn và trở thành kinh điển của khoa học lịch sử Đảng. Các công trình khoa học lịch sử về thời ký này của giới sử học đã làm phong phú nhiều sự kiện và hiệu quả tư tưởng của nó đều phải dựa trên cơ sở đó.

Những vấn đề Người nói và viết về sự ra đời của Đảng không chỉ với tư cách một nhân chứng lịch sử hiếm hoi mà còn với tư cách một nhà cách mạng kiệt xuất đã trực tiếp quyết định bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng ấy nên không ai có thể vượt qua, càng không thể xuyên tạc được.


[1] Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai ,CTQG. 1996, Tập 9, Tr.314.
[2] Bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng. Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lấn thứ hai. CTQG. 1996, tập 10, tr.5
[3] Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Sđd, tr.8
[4] Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Sđd, tr.8
[5] Ba mươi năm hoạt động của Đảng Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai, CTQG. 1996, T.10, tr.2
[6] Sđd, tr.5
[7] Sđd, tr.7

PGS. Lê Thế Lạng

tuyengiao.vn

Công tác tư tưởng, lý luận và việc chống quan liêu theo quan điểm Hồ Chí Minh

Là một nhà chiến lược thiên tài và nhà hoạt động thực tiễn sâu sát tỉ mỉ, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến việc chống quan liêu trong điều kiện Đảng cầm quyền. 

Đúng 15 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sự xuất hiện những mầm mống đầu tiên của bệnh quan liêu trong cán bộ, đảng viên. Ngày 17-9-1945, viết thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (Nghệ An), Hồ Chí Minh chỉ rõ cán bộ ở các địa phương mắc phải những khuyết điểm nhất là: hẹp hòi, bao biện, lạm dụng hình phạt, hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán chuyên quyền, lấy của chung làm của riêng, thậm chí dùng pháp luật nhà nước để trả thù riêng. Từ đó trở đi việc chống quan liêu luôn được Hồ Chí Minh thể hiện một cách đậm nét cả trong tư duy lý luận lẫn hoạt động thực tiễn. Vào đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Trong bài viết này, Hồ Chí Minh phê phán gay gắt những người “tham danh trục lợi”, thích địa vị quyền hành, tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh”.

Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh gọi quan liêu là một loại bệnh mà đảng viên, cán bộ dễ mắc phải. Mắc loại bệnh này chủ yếu là “những người và những cơ quan lãnh đạo, nhất là khi Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội. Theo Hồ Chí Minh: “Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc phải làm, việc gì cũng không nắm vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung”. Hồ Chí Minh đã trực tiếp hỏi một cán bộ địa phương: “Mùa màng năm nay thế nào?”. Anh ta trả lời: “Việc đó tôi đã động viên nhân dân, đã bày tỏ vấn đề đó một cách đầy đủ nên “công tác xem chừng khá…, chắc là có tiến bộ”. Người hỏi tiếp: “Tóm lại là đã cày cấy được mấy mẫu?”. Anh ta trả lời: “Ở vùng chúng tôi, cày cấy hiện nay chưa đâu ra đâu cả”.

Một người được Hồ Chí Minh gọi là “ông quan liêu””, khi người đó chạy theo hình thức, chỉ biết khai hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ bệnh khai hội là “khai hội không có kế hoạch, không thiết thực, khai hội lâu, khai hội nhiều quá”. Trong các buổi khai hội đó “cán bộ khu về tỉnh, cán bộ tỉnh về huyện, cán bộ huyện về làng thì khệnh khạng như ông quan”. Lúc khai hội thì trăm lần như một: “Tình hình thế giới, tình hình Đông Dương; thảo luận, phê bình, giải tán”. Mỗi lần phát biểu “ông cán” nói hàng giờ, nói đâu đâu, còn “công việc thiết thực trong khu, trong tỉnh, trong huyện, trong xã đó thì không đụng đến”. Do đó lúc “ông cán” phát biểu kẻ ngáy, người ngủ chỉ mong ông thôi để được về nhà. Hồ Chí Minh kết luận việc làm hình thức, xa rời thực tế đó khiến “quần chúng sợ khai hội, mỗi lần họ đi khai hội chẳng khác gì đi phu”. Hồ Chí Minh thừa nhận: “Trong Đảng ta, có một số người như thế. Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Hồ Chí Minh cho rằng những ai làm việc chủ quan, thoát ly quần chúng, bắt phong trào quần chúng phải đi theo ý muốn chủ quan của mình là những người “khoét chân cho vừa giầy”. Với Hồ Chí Minh những người mắc bệnh quan liêu chỉ biết đóng cửa viết báo cáo, xem báo cáo trên giấy chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn. Hồ Chí Minh coi đó là những người lười biếng, những người “nghị quyết đầy túi áo, thông báo đầy túi quần”.

Do xa rời quần chúng, xa rời thực tế, làm việc chủ quan, duy ý chí, nên những người quan liêu, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sợ phê bình và tự phê bình”. Với Hồ Chí Minh những cán bộ, đảng viên cốt sao “xong chuyện thì thôi”, không phê bình người khác cũng chẳng tự phê bình mình là “những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt”. Người mắc bệnh quan liêu tất yếu dẫn đến mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền. Tình trạng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền lại là nguyên nhân của việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Vì vậy khi phác thảo chân dung “ông quan liêu”, Hồ Chí Minh tập trung nêu bật đặc điểm “”thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”. Hồ Chí Minh đặt câu hỏi “Quan liêu là gì?”. Câu trả lời của Người là: Quan liêu là những người phụ trách bất kỳ cấp nào không gần gũi cán bộ, không theo dõi công việc thiết thực, không theo dõi cán bộ để biết tính nết, khả năng, để thấy điều tốt thì khuyến khích, điều xấu thì can ngăn, giáo dục, giúp đỡ sửa chữa. Thế là cán bộ xa thực tế, xa bộ đội, xa dân, không dân chủ.

Theo Hồ Chí Minh, các ông quan liêu khi được phân công phụ trách ở vùng nào thì như một vua con, ở đấy tha hồ hách dịch, hạnh hoẹ. Đối với cấp trên thì xem thường. Đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách mạng làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc ông tướng, bà tướng ấy làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân.

Hồ Chí Minh cho rằng bệnh quan liêu để lại những hậu quả nặng nề trên nhiều lĩnh vực. Trước hết nó gây khó khăn cho sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ năm 1952, Hồ Chí Minh đã viết: “Nói tóm lại vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấu suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”. Đây thực sự là nguy cơ đối với một đảng cẩm quyền.

Trong điều kiện đảng cầm quyền, quan liêu là nguyên nhân chính gây nên nhiều tệ nạn cho nhà nước và xã hội, đặc biệt là tham ô, lãng phí. Theo Hồ Chí Minh muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không, thì dù cày bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì bị cỏ át đi, muốn thành công trong tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch bọn tham ô, lãng phí. Sở dĩ có tham ô, lãng phí là vì có những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu. Do đó “những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”. Năm 1952 trong bài “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu””, Hồ Chí Minh viết bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu (Hồ Chí Minh nhấn mạnh). Do đó “muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu””. Mười năm sau, năm 1962, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh vạch rõ: kinh nghiệm chứng tỏ rằng ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc có tham ô, lãng phí. Nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô. Hồ Chí Minh kết luận “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô… Cho nên muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”. Do ý thức sâu sắc quan liêu là nguồn gốc của tham ô, lãng phí nên trong di sản Hồ Chí Minh chúng ta tìm thấy có những bài viết với tiêu đề “”Chống quan liêu, tham ô, lãng phí” nghĩa là quan liêu đặt trước tham ô, lãng phí.

Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII), 1-1994 của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên bốn nguy cơ đối với chế độ. Một trong bốn nguy cơ đó là nạn tham nhũng và tệ quan liêu. Từ đó đến nay Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và giải pháp để chống tham nhũng, quan liêu, nhưng xem ra nguy cơ này vẫn chưa bị đẩy lùi, kết quả đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu chưa được như ý Đảng, lòng dân mong muốn. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống các tệ nạn ấy không thể dừng lại và phải kiên quyết hơn. Tuy nhiên, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung vào việc đề ra các chủ trương, giải pháp thiết thực chống nguyên nhân của nạn tham nhũng là tệ quan liêu.

Theo Hồ Chí Minh: “Cần khẳng định dứt khoát rằng số đông cán bộ và công nhân ta đều tận tuỵ và trong sạch” nhưng vẫn còn một số người “phạm sai lầm tham ô, lãng phí và còn mang nặng bệnh quan liêu… Vì vậy chúng ta phải kiên quyết chống lại những tệ hại ấy”. Do mối liên hệ chặt chẽ giữa quan liêu với tham ô, lãng phí nên việc đấu tranh chống lại những tệ nạn này cũng không thể tách rời nhau.

Với Hồ Chí Minh, quan liêu, tham ô, lãng phí là không thể chấp nhận được. Tuy vậy, tuỳ theo quy mô tính chất và hậu quả do quan liêu, tham ô, lãng phí gây nên, Hồ Chí Minh có những cách xử lý, phê phán khác nhau.

Trước hết, quan liêu, tham ô, lãng phí có hại cho nhân dân, cho Chính phủ, đoàn thể, cho kháng chiến và kiến quốc nên quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác, là kẻ thù nguy hiểm của dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng dù cố ý hay vô tình, quan liêu, tham ô, lãng phí làm chậm trễ cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta, phá hoại đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính. Do vậy, quan liêu, tham ô, lãng phí là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến, tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám nếu không phải là tệ hơn thế.

Tháng 1 – 1946, nghĩa là khi Đảng ta đã tuyên bố tự giải tán, sự thực là Đảng rút vào hoạt động bí mật trong một lần trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái… Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh gọi chống quan liêu, tham ô, lãng phí là việc làm cách mạng.

Do tính chất nguy hiểm của tệ quan liêu và nếu không có những chủ trương, giải pháp thiết thực thì tệ nạn này có khả năng tăng lên cùng với thời gian đảng cầm quyền, nên Hồ Chí Minh chỉ rõ việc chống quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên.

So sánh với đế quốc, với giặc ngoại xâm, Hồ Chí Minh gọi quan liêu, tham ô, lãng phí là giặc nội xâm “giặc ở trong lòng”. Người yêu cầu để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, mọi người cần đoàn kết thành một khối chống cả hai loại giặc: Chiến sĩ xuất công, nhân dân xuất của để đánh giặc cứu nước. Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc “giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Hồ Chí Minh quan niệm chống giặc nội xâm “là một cách mạng nội bộ”, cuộc đấu tranh gay go giữa cái xấu và cái tốt, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư với kẻ địch là tệ nạn quan liêu, tham ô, lãng phí. Tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí còn ở chỗ, Hồ Chí Minh chỉ rõ kẻ thù này không mang gươm, mang súng mà nó nằm ngay trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta. Thấu hiểu tâm tư, tình cảm và cả những vướng mắc, những điều khó nói thành lời của một số cán bộ khi tiến hành cuộc vận động chống quan liêu, tham ô, lãng phí, Hồ Chí Minh viết: Cán bộ và công nhân đều nhất trí tán thành, ai cũng cho là cần phải có cuộc vận động này nhưng khi thi hành thì một số người lo lắng, lo sợ. Nguyên nhân vì trong ba chứng bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí bản thân mình chắc có một bệnh, hoặc nặng hoặc nhẹ. Do tính chất phức tạp, “tế nhị” của cuộc đấu tranh này nên Hồ Chí Minh đòi hỏi: Mọi người dũng cảm tiến lên, mặt khác muốn thắng lợi ở mặt trận này phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức.

Hồ Chí Minh cho rằng cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí có hai ý nghĩa quan trọng:

Thứ nhất, làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân và bản thân mình.

Thứ hai, giúp cho cán bộ, đảng viên giữ gìn phẩm chất cách mạng, một lòng một dạ, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Do đó nhân dân ta đã đoàn kết càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm.

Theo Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, công tác tư tưởng, lý luận có vai trò to lớn. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Tư tưởng đúng thì hành động đúng, tư tưởng nhất trí thì hành động mới nhất trí. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc.

Hồ Chí Minh kết luận, sở dĩ có quan liêu, tham ô lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác là do tư tưởng không đúng. Người nêu thí dụ vì thiếu quan điểm quần chúng nên trong công tác mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh.

Để khắc phục được quan liêu mệnh lệnh và những căn bệnh có thể nảy sinh trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức.

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá IX) “”về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” rất coi trọng chống bệnh quan liêu trong cán bộ, đảng viên, trong bộ máy Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Tại Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) trong phần “Tình hình tư tưởng, lý luận và công tác tư tưởng, lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Nỗi bức xúc của nhân dân hiện nay là còn những bất công xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng chưa được ngăn chặn có hiệu quả.

Từ thực tiễn đó ở phần phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu và giải pháp công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) viết: Đề cao trách nhiệm của mỗi tổ chức Đảng và đảng viên, đấu tranh loại trừ tham nhũng, quan liêu ở cơ quan đơn vị cơ sở mình. Nghị quyết khẳng định: Cần phải tổ chức học tập một cách nghiêm túc, có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

Theo Sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận”
(NXB Chính trị quốc gia)

vannghedanang.org.vn

Những điều tâm huyết Bác Hồ căn dặn cán bộ, đảng viên Nghệ An

(TCTG)- Kỷ niệm 121 năm sinh nhật của Bác Hồ và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, mỗi việc chúng ta nghĩ, mỗi việc chúng ta làm hàng ngày trên tinh thần cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, cũng chính là “coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”, để thiết thực “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011.

Một trong những thành công lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi tự hào của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã xây dựng thành công ở Việt Nam một chính Đảng Mácxít – Lêninít, trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo quần chúng nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 lịch sử. Với thắng lợi đó, mục tiêu Độc lập dân tộc và CNXH được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn từ năm 1930 đã từng bước trở thành hiện thực. Nhà nước Việt Namdân chủ cộng hoà, nhà nước của dân, do dân, vì dân được sáng lập. Một trang sử mới trong lịch sử dân tộc đã bắt đầu với những trọng trách không kém phần nặng nề, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, những người ngày hôm qua còn phải hoạt động trong bí mật, ngày hôm nay đã nắm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương xuống đến các địa phương phải không ngừng tu dưỡng, phấn đấu.

1. Lời nhắn nhủ của Hồ Chí Minh đến các đồng chí “tỉnh nhà”

Thành công của cách mạng Tháng Tám đã mang lại độc lập cho Tổ quốc ta, tự do cho đồng bào ta. Một kỷ nguyên mới, với những thuận lợi mới đi liền cùng khó khăn và những thách thức khôn lường.Trong bối cảnh đó, với trách nhiệm của người đứng đầu Nhà nước, ngày 17/9/1945, Chủ tịch Chính phủ đã gửi Thư cho các đồng chí tỉnh nhà. Trong bức thư này, Hồ Chí Minh khẳng định: Cuộc dân tộc cách mạng thành công này có những ý nghĩa rất to lớn, song bên cạnh những thuận lợi, cũng còn vô vàn những khó khăn thử thách. Và để vượt qua những trở ngại, để bảo vệ và củng cố chính thể dân chủ cộng hoà còn non trẻ, “chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”, “không sợ có khuyết điểm” và phải “lập tức sửa đổi ngay” (1) những khuyết điểm đã bắt đầu xuất hiện. Lý do để Người căn dặn như vậy, chính là vì: Đảng có vững cách mạng mới thành công. Giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền, song trong mọi thời điểm, Đảng ta không có lợi ích nào khác là phục vụ nhân dân, vì nhân dân. Trong khi đó, “cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể” (2) Cuối thư, bằng tình cảm của một người con với quê hương, bằng những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong những năm tháng hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh chân thành nhắn nhủ: “Trong công tác, có vấn đề gì khó giải quyết, các đồng chí cứ viết thư thảo luận với tôi. Tôi rất sẵn sàng giúp ý kiến” (3).

Ngày 19/12/1946, chỉ 15 tháng sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đọc Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), đất nước ta đã bước vào cuộc trường chinh chống Pháp, trong một tương quan lực lượng chênh lệch. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, nhân dân cả nước từng bước triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, kiên cường chống thực dân Pháp xâm lược với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(4). Từ những ngày đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đạt đến trình độ tối cao” (5). Trong khi cả dân tộc đang “ở trên ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn” (6), thì cũng lại Hồ Chí Minh trực tiếp gửi đến các đồng chí tỉnh nhà những lời căn dặn chí tình: “Mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, làm cho nước được thống nhất và độc lập” (7). Để có thể làm được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một “cẩm nang”, yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể Đoàn thể phải “sáng suốt, khôn khéo, Cẩn thận, kiên quyết, Siêng năng, nhất trí”(8), để đồng tâm hiệp lực lãnh đạo cách mạng.

Đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, quan tâm đến sự lớn mạnh của bộ máy lãnh đạo các cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm, trao đổi với lãnh đạo của Tỉnh những vấn đề về rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng ta đang cầm quyền, đang trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đó, Người nhấn mạnh rằng, trong số những cán bộ, đảng viên của Đảng, vẫn có không ít người “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ”. Tính cục bộ địa phương đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì dường như từ nó mà “sinh ra những việc, xem qua thì hình như không quan hệ gì mấy”, nhưng “kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung”.

Cũng trong bức thư này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra một căn bệnh không kém phần nguy hiểm, luôn là nguy cơ dẫn đến sự thoái hoá, biến chất của mỗi người cán bộ, đảng viên, đó là bệnh óc bè phái: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe” (9). Từ căn bệnh này, những người có quyền lực hoặc kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu của mình dù không có tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài và họ đã quên mất rằng, việc nước là việc chung của tất cả mọi người, chứ không phải việc riêng của một số người, một dòng họ. Đó thực sự là một khuyết điểm lớn, rất có hại, rất nguy hiểm, “làm cho Đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí,

thường hỏng việc”.

Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn nêu ra một căn bệnh phổ biến thường thấy ở mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng – đó là tính cô độc, hẹp hòi: “Có đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con bằng hữu vào chức này việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có Đoàn thể chịu”; “có nơi, các đồng chí chẳng những không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau, tha thứ cho nhau, giấu cả Đoàn thể”(10). Tất cả những biểu hiện đó, dù dưới dạng nào cũng thật là có hại. Hoặc do vô tình, hoặc do cố ý, họ không hiểu rằng: “Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở” (11). Vì vậy, muốn sự nghiệp kháng chiến thành công, muốn nguồn sức mạnh nội lực của cả dân tộc được nhân lên, thì những người lãnh đạo phải biết dùng chỗ hay của người, giúp người sửa chỗ dở. Người lãnh đạo giỏi thì phải “gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được”. Ngoài ra, Người còn không ngần ngại chỉ ra rằng: “Còn những đồng chí hay có tính kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, cho mình là cựu đồng chí, cựu chính trị phạm thì giỏi hơn ai hết, ai cũng không bằng mình” (12), thì thực sự đã quá tự mãn, đã “bó mình lại, không cho mình tiến bộ thêm”.

Không chỉ căn dặn cán bộ, đảng viên của Đảng ở tỉnh nhà, những người sẽ góp phần không nhỏ vào sự lớn mạnh của Đảng những điều mà Người từng tiên liệu và đã từng được chứng kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng định: các đồng chí có nhiều ưu điểm như “nhẫn nại, chịu khó, kiên quyết, tháo vát và nhiều sáng kiến…Nhưng trong thời kỳ khó khăn nặng nề này, chỉ có những ưu điểm ấy thôi cũng chưa đủ. Các đồng chí cần phải đem căn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục cho những khuyết điểm vừa kể trên thì chúng ta mới chắc đi đến hoàn toàn thắng lợi”(13). Cuối cùng, Người nhấn mạnh: Các đồng chí phải làm tốt công tác cán bộ. Chọn người phải đích đáng, quyền hạn phải phân minh… và nhất là phải tránh “cái lối lạm quyền, bao biện, xung đột, phù diện và suy tỵ, không phụ trách”. Người mong những người con ưu tú của tỉnh nhà, những công bộc của dân luôn lòng mình hướng đến chí công vô tư và phải “đem toàn bộ tinh thần cách mệnh mà khắc phục khuyết điểm, phát triển các ưu điểm”, để chấn chỉnh công tác, để lãnh đạo toàn dân hăng hái tham gia kháng chiến.

2. Lời Người dặn khi về thăm “tỉnh nhà”

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, vừa xây dựng một chế độ xã hội mới ở miền Bắc, vừa tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai. Đối với Nghệ An, một tỉnh miền Trung nghèo về kinh tế và giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, thì việc không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng thắng lợi CNXH và đảm bảo đánh thắng giặc Mỹ xâm lược là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.

Tháng 6/1957, sau nhiều năm xa cách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm quê hương Nghệ An lần thứ nhất. Trong lần gặp gỡ này, Người tập trung nói với cán bộ, đảng viên về ưu điểm, khuyết điểm và nhiệm vụ trước mắt. Theo Người: Đại đa số các đồng chí đã chịu cực, chịu khổ, chịu khó để hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao phó. Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn hiện tượng mất đoàn kết nội bộ và “đây là một khuyết điểm quan trọng”(14). Mặt khác, bệnh suy bì về đãi ngộ và địa vị, làm việc gì cũng sợ khó, tự kiêu tự đại, chưa thực hiện được khẩu hiệu cần, kiệm, liêm chính, thậm chí có người còn mê tín là những tồn tại hiện thời trong một số cán bộ, đảng viên và những tồn tại ấy làm suy yếu tổ chức Đảng. Sau đó, Người nói về những nhiệm vụ trước mắt của toàn tỉnh, đặc biệt là phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và mong đội ngũ lãnh đạo của tỉnh cùng toàn dân quyết tâm đưa Nghệ An giàu truyền thống cách mạng thành “một tỉnh gương mẫu”.

4 năm sau, khi về thăm quê lần thứ 2 (12/1961), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Lần này, cũng đề cập đến vấn đề vai trò và trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tổ chức cơ sở Đảng trong việc lãnh đạo nhân dân tổ chức sản xuất, Người khẳng định: “Nói Đảng cũng rộng đấy. Nhưng trước hết là ai? Chi bộ. Hễ chi bộ tốt thì hợp tác xã tốt, chi bộ kém thì hợp tác xã kém. Đó là kinh nghiệm chung”(15) và “muốn biết Đảng địa phương của mình mạnh hay yếu, khá hay kém hãy nhìn vào sự lãnh đạo của cấp uỷ” (16). Từ thực tế của Nghệ An, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn thực sự đoàn kết nội bộ, muốn thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thì nhất định “phải dân chủ nội bộ. Muốn dân chủ nội bộ tốt thì cần gì nữa? Phải phê bình, tự phê bình” (17).

Còn khi về thăm cán bộ xã Nam Liên, Nghệ An (ngày 9/12/1961), Người cũng nói rất cụ thể: “Trong xã có lực lượng lãnh đạo, có lực lượng giúp lãnh đạo, phải làm gương mẫu cho đồng bào…hơn 230 đảng viên, đoàn viên, phải gương mẫu trong mọi công việc trong tăng gia sản xuất, trong học tập. Nên như thế mà phải như thế. Nếu đảng viên không gương mẫu thì không xứng đáng là đảng viên”(18). Theo Người, chỉ có làm được như thế những người cán bộ, đảng viên của xã mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng mà nhân dân xã đã giao cho họ, mới đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng đời sống mới, xây dựng CNXH.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với những cán bộ, đảng viên lâu năm của tỉnh, và không quên nhắc lại mấy điều cốt yếu. Đó là Đảng ta là Đảng chỉ có một điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoài ra, Đảng ta không còn có lợi ích nào khác. Vì thế, “khi Đảng giao việc gì, bảo việc gì đều làm nấy, không kể sang hèn, địa vị cao thấp; không có việc gì khó Đảng giao không làm. Đó là những anh hùng…không đòi hỏi gì cho gia đình và cá nhân cả. Đó là những người con ưu tú của Đảng, của cách mạng”(19). Họ đã thực sự vì Tổ quốc và nhân dân, lo thì lo trước mọi người, vui thì vui sau mọi người. Và cũng vì thế, họ góp phần làm cho Đảng ta lớn mạnh, chắc chắn, ngày càng phát triển. Song giờ đây, công việc khó khăn hơn, to lớn hơn, phức tạp hơn, phải làm cho “nước càng ngày càng mạnh, dân càng ngày càng giàu”, nên cần phải có lớp cán bộ trẻ kế cận. Công việc ngày càng nhiều, “một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học” để thực hiện tốt 2 nhiệm vụ: “A, Bất kỳ Đảng giao cho việc gì, nhân dân giao cho việc gì, phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ. B, Đào tạo thanh niên cho họ làm việc hơn mình, không nên nạnh kẹ. Mặt khác, thanh niên nên phải biết công lao của các đồng chí già, phải thấy các đồng chí già đã trải qua phong ba bão táp, có kinh nghiệm, thanh niên phải học tập” (20). Tại cuộc nói chuyện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trao đổi với các đồng chí cán bộ, đảng viên của tỉnh nhiều nội dung quan trọng khác liên quan đến công tác xây dựng Đảng, và khẳng định: Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị.

Vào những năm sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không có điều kiện để về thăm quê hương Nghệ An. Tuy nhiên, Người vẫn dành cho Nghệ An sự quan tâm sâu sắc. Trước khi từ biệt đồng bào và chiến sỹ cả nước để trở về với thế giới người hiền, ngày 21/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bức thư cuối cùng cho Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Vẫn không ngoài những băn khoăn, trăn trở của một người đứng đầu Đảng và Nhà nước đối với quê hương Xôviết khi “kinh tế của Nghệ An tiến còn chậm”, song Người cũng nêu rõ 4 nhiệm vụ (thực hiện dân chủ, khôi phục và phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu) mà Đảng bộ tỉnh phải thực hiện trong thời gian tới. Điểm đầu tiên và cũng là điểm Người nhấn mạnh nhất trong thư, chính là phải “tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân”. Đồng thời, Người mong “cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thường xuyên phê bình trước nhân dân, khuyến khích nhân dân phê bình. Khiêm tốn lắng nghe ý kiến của nhân dân để phát huy những việc tốt, sửa chữa những việc sai, làm công tác tốt hơn” (21).

Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên cần khuyến khích nhân dân góp phần xây dựng Đảng, góp ý kiến về vệc chọn người vào Đảng, tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, để mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân ngày càng thêm mật thiết. Cuối thư, Người viết: Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, có nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc.

3. Nhớ về Người nhân dịp tháng Năm về

Trong suốt gần 1/4 thế kỷ là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, là vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho công tác xây dựng Đảng sự quan tâm sâu sắc. Thấm nhuần những nguyên tắc về xây dựng một chính Đảng kiểu mới, trong sạch vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rất rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Họ thực sự là tiền vốn của Đoàn thể, là gốc của mọi công việc và Đoàn thể mạnh hay yếu, tiền phong hay tụt hậu phụ thuộc rất nhiều vào họ. Vì vậy, trong nhiều nội dung của công tác quan trọng này, những tiên liệu, những chỉ dẫn của Người về những căn bệnh thường mắc của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nói chung, và quê hương Nghệ An nói riêng từ những ngày đầu của chính thể dân chủ cộng hoà đã thực sự là những cảnh báo kịp thời, có ý nghĩa thời sự sâu sắc.

Không phải ngẫu nhiên, những tâm sự của Người cách đây hơn nửa thế kỷ, lại dường như mới xảy ra hôm trước. Thực tế, phần lớn cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Đảng, Chính phủ, các tổ chức chính trị khác trong hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN đã luôn quán triệt sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác Đảng và xây dựng Đảng, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Song bên cạnh đó, ở nhiều nơi và trong nhiều thời điểm, vẫn còn không ít những cán bộ, đảng viên đã dần dần quên mất trọng trách của mình, từng bước tha hoá, biến chất, làm giảm uy tín và sức mạnh của Đảng. Đó là một hiện trạng đáng buồn và hơn lúc nào hết, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng thành công, để Đảng ta xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân như mong ước của Người, thì không thể không ôn lại những lời căn dặn đầy tâm huyết, những cảnh báo kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm nào với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và xứ Nghệ nói riêng năm xưa.

Với ý nghĩa đó, kỷ niệm 121 năm sinh nhật của Bác Hồ và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, mỗi việc chúng ta nghĩ, mỗi việc chúng ta làm hàng ngày trên tinh thần cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, cũng chính là nhằm “coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”, để thiết thực “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, và theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011./.

Bài và ảnh: TS. Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

_________________

Chú thích:

1,2,3, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, tập 4, tr21
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2001, tập 8, tr160
5,6,7,8. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr76
9,10, 11,12, 13. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr77, 78
14. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 8, tr407
15, 16, 17. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr441, 442, 443
18. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr456, 457
19. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr462
20. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr468
21. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 12, tr481

tuyengiao.vn

Ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi đúng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911- 5/6/2011)

(TCTG)- 100 năm là độ lùi lịch sử đủ tin cậy để có thể khẳng định rằng: sự lựa chọn, khởi đầu chính xác của Nguyễn Tất Thành từ ngày 5/6/1911, đã góp phần làm nên “nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định”.

Một quyết định đúng đắn

Trước khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống của người dân xứ Nghệ. Lòng yêu nước, ý chí ham học hỏi, ham hiểu biết của người cha; lòng yêu thương con trẻ, sự chịu thương, chịu khó của người mẹ; tinh thần vượt khó và vươn lên, cần cù trong lao động, cố kết trong tình làng nghĩa xóm của quê hương, đất nước, v.v..là chiếc nôi tốt, sớm nuôi dưỡng trong Nguyễn Tất Thành tình yêu nước, thương dân với một thiên hướng đặc biệt đến mẫn cảm. Tuy nhiên, tuổi thơ của Nguyễn Tất Thành có nhiều biến động. Không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách “Tân thư”, “Tân văn” bằng tiếng Hán, mà còn được học tiếng Pháp, làm quen với văn minh phương Tây qua câu khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789.

Hơn nữa, không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta (cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, mang “nặng cốt cách phong kiến” dù cốt cách đó có chiều dày hàng ngàn năm; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh…theo lập trường dân chủ tư sản Việt Nam – một nước thuộc địa nửa phong kiến và tính không triệt để của nó) liên tiếp nổ ra và thất bại, mà Nguyễn Tất Thành còn sớm bị mất mẹ và người em ruột khi mới hơn 10 tuổi đầu.

Trong bối cảnh đó, những suy tư của một Nguyễn Tất Thành “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào” đã được cộng hưởng bởi bầu không khí yêu nước, cảnh thực dân Pháp chém giết người yêu nước, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong bể máu và những bất công diễn ra thường ngày…Luôn bận tâm, trăn trở về con đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã dần hiểu được những hạn chế của các vị tiền bối cách mạng trong việc quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân; khoảng cách quá xa trong tương quan so sánh lực lượng giữa một Việt Nam (đại diện cho phương thức sản xuất phong kiến đã lỗi thời) và thực dân Pháp (đại diện cho phương thức sản xuất TBCN hiện đại); cùng những bế tắc trong việc định hướng đường lối, con đường đi của các phong trào đấu tranh yêu nước.Vì vậy, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế, và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới, khác hẳn con đường cách mạng cải lương từng diễn ra, đó là làm cách mạng. Đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Dấu ấn quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành, trong đó thực tế, sự hiểu biết, chí hướng yêu nước, hành động tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Trung Kỳ năm 1908, đã là cơ sở, là tiền đề chuẩn bị cho quyết định của Nguyễn Tất Thành sau này. Đầy nhiệt huyết và mang trong lòng hoài bão giành lại “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định rời nhà trường, rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Và khác những vị tiền bối cách mạng, vì muốn tìm hiểu và khảo nghiệm thực tế những gì đang diễn ra trong lòng chế độ tư bản, trong “nội bộ kẻ thù của dân tộc mình”, Nguyễn Tất Thành đã chọn con đường sang phương Tây, nơi sản sinh những tư tưởng lớn, những cuộc cách mạng lớn với mong muốn, đến “xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào …sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[1].

Vậy là, khi quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” như Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Đại cách mạng tư sản Pháp, Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình có, dân tộc mình có. Đó cũng đồng thời là, “trong khi lòng yêu nước và tư tưởng chống Pháp của các sĩ phu có nguồn gốc trong sự đối lập giữa hai nền văn hoá (Đông -Tây) và ở sự khác nhau về chủng tộc (da vàng – da trắng) thì tinh thần yêu nước và ý thức phản đế của Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ chế độ xã hội với cốt lõi của nó là quan hệ giữa người với người”[2]. Xuất phát điểm này, sự vượt lên chính mình này, đã quyết định con đường đi sau đó của Người – mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.

Hành trình khảo nghiệm thực tiễn

Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng, khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ, rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Suốt thời thanh niên sôi nổi của đời mình, Nguyễn Tất Thành dành cho việc lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục. Trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu, thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Pari của nước Pháp, cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh, v.v..và vượt qua cái lạnh giá của châu Âu, với viên gạch ủ nóng thay cho lò sưởi, là một Nguyễn – Người thanh niên yêu nước đã sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi.

Bằng những nỗ lực hoạt động của mình trong nhiều tổ chức, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – một người dân nô lệ ở thuộc địa, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng, để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân – Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925.

Được chứng kiến nhiều diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791). Đó chính là sự phân biệt giàu nghèo giữa những người bị áp bức và những kẻ bị áp bức ở các thuộc địa, giữa nhân dân lao động tại các nước tư bản với những tên thực dân, những kẻ hữu sản, và Người đã đưa ra nhận định sâu sắc: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[3].

Một Nguyễn Ái Quốc sau chặng đường bôn ba qua nhiều châu lục, qua nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với sự khảo nghiệm và so sánh đó, khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin (7/1920), đã đi đến một quyết định trọng đại – đó là đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, đến với con đường cách mạng vô sản, đến với cách mạng tháng Mười Nga và Quốc tế thứ ba do Lênin sáng lập. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp quy luật của thời đại, mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho một đất nước Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển, nhưng ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.

Đây là quá trình khảo nghiệm, tiếp biến và vượt gộp của Hồ Chí Minh, khi thâu thái tinh hoa, tri thức của các nền văn minh nhân loại, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam sau đó. Và trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng một học thuyết, vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam, mà còn phát triển học thuyết Mác – Lênin lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại – đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Vậy là, với quyết định đi sang “phương Tây”, với hành trình gần 30 năm lao động, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã có thời gian khám phá, chiêm nghiệm, để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết, và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin. Và sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh sau khi đã “trưng cất” những tinh hoa của nền văn minh Đông và Tây, TBCN và XHCN, nói giản dị như linh mục Nguyễn Bá Cần, đó là “Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn Mác- Lênin bởi vì không còn một sự lựa nào khác”, và còn hơn thế nữa “Nguyễn Ái Quốc đã trở thành cộng sản vì….Liên Xô và Đệ tam quốc tế đã chủ trương giải phóng các dân tộc bị áp bức như là một chặng đường cần thiết trong cuộc giải phóng toàn diện con người …Họ đã đơn độc tố cáo những tội ác của thực dân và Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn họ”[4]. Sự lựa chọn con đường cách mạng chính xác này sẽ giúp Người thực hiện hoài bão của mình, đó là giải phóng dân tộc mình, giải phóng “các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”- sự nghiệp giải phóng toàn diện loài người.

Người trở về tạo dựng, lãnh đạo của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thắng lợi

Từ những tri thức tích luỹ được, tháng 11/1924, một Hồ Chí Minh thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”; với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người” đã về đến Quảng Châu, Trung Quốc. Trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, Nguyễn Ái Quốc đã tận tâm, tận lực truyền giảng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức, để xúc tiến cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về cách mạng tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927.v.v, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đem đến cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, những người chủ tương lai của nước nhà, những người cũng giống như cha anh mình phải sống trong thân phận nô lệ, một luồng sinh khí mới, một con đường cách mạng mới. Bằng khát vọng tuổi trẻ và kinh nghiệm của chính bản thân mình, Người muốn thức tỉnh thanh niên, truyền cho họ con đường cách mệnh, để đi tới thức tỉnh cả dân tộc – Đó là phương pháp cách mạng đúng đắn, thể hiện một tầm nhìn vĩ đại.

Từ những định hướng chính trị nêu trên, cùng với những hoạt động về lý luận và thực tiễn, Người và những người Việt Nam yêu nước từng học tập ở Quảng Châu đã ngày mỗi ngày, góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, đưa đến sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, khi nguy cơ phân liệt, mất đoàn kết, sự tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau của các tổ chức cộng sản đe dọa sự phát triển của phong trào cách mạng cả nước, Hồ Chí Minh đã quyết định viết thư mời, triệu tập, tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng, và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện, với đường lối cách mạng đúng đắn, nhân dân Việt Nam nồng nàn yêu nước, đoàn kết muôn người như một kiên cường đấu tranh cách mạng, sau 15 năm đấu tranh gian khổ, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Người dân Việt Nam đã từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do, với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Như vậy là, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây tròn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự khởi đầu đúng đắn, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Hồ Chí Minh – Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm xưa đã tìm thấy con đường và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi đến độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển và bền vững.

Đồng thời, cũng từ một sự khởi đầu đúng đắn đó, kiên định con đường cách mạng do Người và Đảng ta đã chọn, 100 năm sau – một nước Việt Nam hồi sinh sau những năm dài chiến tranh ác liệt, đã chủ động hội nhập toàn diện cùng bạn bè quốc tế đang ngày một giàu mạnh và phồn vinh. Vì vậy mà, sẽ không ngạc nhiên khi mỗi người nhìn thấy trên bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) ở thủ đô Pari của nước Pháp, có nụ cười của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn của thời đại chúng ta – thời đại mà, dù thế giới vẫn còn nhiều đổi thay, vẫn còn bạo ngược và lẫn lộn, nhưng luôn có cuộc đời Hồ Chí Minh, một con người Hồ Chí Minh đã biết khởi đầu đúng và đi tới đích. /.

Bài và ảnh: TS. Văn Thị Thanh Mai

[1]Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1975, tr.13
[2] Nguyễn Khánh Toàn: Tuyển tập, Nxb. KHXH, 1999, tr.34
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H,1996, t.1, tr. 266
[4] Song Thành: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb. LLCT, H, 2005, tr.60 (theo Lý Chánh Trung, Nói chuyện với người đã khuất ,Tạp chí Đất nước, Sài Gòn, số 14, tháng 10/1969)

tuyengiao.vn

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và đoàn kết quốc tế

090929132718_gs_vu_duong_ninh226.jpg

Vũ Dương Ninh - GS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội

TCCS – Thấm thoắt đã hơn 40 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi về thế giới vĩnh hằng nhưng tư tưởng của Người vẫn tỏa sáng dẫn dắt chúng ta. Di chúc của Người – từ bản thảo đầu tiên viết năm 1965 đến những đoạn bổ sung trong những năm tiếp sau – là lời nhắn nhủ chân tình về những điều cần làm cho kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.

Hướng về nhân dân thế giới, Người dự định đến ngày chiến thắng, sau khi đi chúc mừng và thăm hỏi đồng bào hai miền Nam Bắc, “sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”(1). Có thể cảm nhận ở đây phong thái của một nhà cách mạng lão thành, một cụ già phương Đông, rất trọn vẹn trong nghĩa tình, rất chu đáo trong ứng xử. Không chỉ một bức thư hay bức điện cảm tạ mà phải đi đến tận nơi, bày tỏ hết tấm lòng biết ơn chân thành tới những người đã từng giúp mình trong những năm tháng gian nan vất vả. Phong cách đó nói lên tình cảm bao la, tư tưởng sâu sắc mà trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ thường nhắc nhở đồng bào, đồng chí. Đó là quan điểm về hội nhập và đoàn kết quốc tế.

Cuộc hành trình tìm đường cứu nước qua khắp năm châu đã tạo nên ở Hồ Chí Minh một cách nhìn mới về thế giới, về mối liên hệ giữa Việt Nam và thế giới. Người đã vượt qua tầm nhìn hạn hẹp của các bậc tiền bối để hướng ra bên ngoài, gắn kết giữa sự nghiệp cứu nước với công cuộc cách mạng của các dân tộc.

Vào nửa sau thế kỷ XIX, các thủ lĩnh nghĩa quân của phong trào kháng Pháp hay các nhà văn thân dưới ngọn cờ Cần Vương đều thu hẹp hoạt động trong từng địa phương, chưa mở rộng đến phạm vi toàn quốc, lại càng không có mối liên hệ với bên ngoài. Đến đầu thế kỷ XX, các sĩ phu cấp tiến đã đón nhận làn gió mới từ Duy tân Minh Trị, Biến pháp Mậu Tuất cho đến Cách mạng Tân Hợi, hoặc hướng về nền dân chủ phương Tây với hy vọng cải cách chế độ phong kiến thối nát. Làn sóng yêu nước ở Việt Nam được khởi sắc với việc mở Đông Kinh nghĩa thục và các trường học khác, với phong trào Đông Du từng đợt cử thanh niên sang Nhật Bản học tập văn hóa và huấn luyện võ bị. Nhưng những hoạt động đó đều không mang lại kết quả, một trong những nguyên nhân chính là do thời đại đã đổi thay. Nơi mà các nhà chí sĩ trông chờ không còn là quê hương của phong trào cách mạng nữa, ý tưởng duy tân cũng như lý tưởng dân chủ đã đi vào quá khứ để thay thế bằng chủ nghĩa thực dân, mở rộng bá quyền thuộc địa. Giới cầm quyền Pháp – Nhật câu kết với nhau để dẹp trừ sự phản kháng, để ngăn chặn trào lưu cách mạng nước ta.

4.jpgBác Hồ và Mao chủ tịch

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đi theo con đường khác và rút ra kết luận: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”(2) Có thể coi đây chính là điểm khởi phát của tư tưởng hội nhập và đoàn kết quốc tế, bao hàm hai điều mới: một là, tầm nhìn được mở rộng ra toàn thế giới, không chỉ thu hẹp ở phương Đông; hai là, quan điểm đoàn kết đặt vào tất cả những ai làm cách mạng, không bị ràng buộc bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó. Nghĩa là Hồ Chí Minh đã phát hiện một trong những nhân tố dẫn đến thành công của sự nghiệp cứu nước phải là hội nhập với thế giới, đoàn kết với phong trào cách mạng trên thế giới. Chính từ đây, Người đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo quốc tế và trở thành một bộ phận của phong trào cách mạng quốc tế.

Dưới ánh sáng của học thuyết Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn kết công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với phong trào cách mạng vô sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam và cũng là sợi dây nối bền chặt giữa cách mạng Việt Nam với phong trào vô sản quốc tế. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đã đóng góp tích cực vào phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít trên thế giới: “Cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát-xít”(3). Khi phát-xít Nhật đầu hàng, lực lượng cách mạng đã phát huy thế chủ động của mình, cùng toàn thể đồng bào vùng lên giành chính quyền, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam độc lập.

Trên cương vị người đứng đầu Nhà nước Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh tư tưởng hội nhập và đoàn kết quốc tế trong thời chiến cũng như thời bình, tập trung vào mấy điểm chính sau đây:

1 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế phải phục vụ mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là Độc lập – Thống nhất – Chủ nghĩa xã hội.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Chính phủ đã ra “Thông cáo về chính sách đối ngoại” khẳng định mục tiêu phấn đấu cho “nền độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn” mà tư tưởng cơ bản là thân thiện và hợp tác với tất cả các nước, từ các nước Đồng minh, các nước láng giềng, các dân tộc đang đấu tranh giải phóng cho đến nhân dân Pháp, kể cả kiều dân Pháp đều được bảo đảm sinh mệnh và tài sản nếu họ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam.

Đến năm 1947, năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, Người nhắc lại đường lối đối ngoại của Việt Nam vẫn là “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(4). Người nhấn mạnh: “Mục đích của ta lúc này là tự do, độc lập… bạn của ta trong giai đoạn này tất cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy”(5).

Như vậy, cách mạng Việt Nam đi vào trào lưu chung của thế giới, hòa vào dòng chảy của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thành một trong những nhân tố chủ yếu dẫn đến thành công. Từ năm 1950, Việt Nam chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, hội nhập vào phe xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh trật tự hai cực của thế giới. Đồng thời, Việt Nam luôn gắn kết cuộc đấu tranh của mình với phong trào giải phóng dân tộc, với nhân dân các nước mới giành độc lập hoặc đang đấu tranh vì nền độc lập, tự do. Tổng kết thành quả của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vượt được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”(6).

Hội nhập và đoàn kết quốc tế không chỉ diễn ra một chiều, không chỉ nhằm giành được lợi ích cho mình mà còn là sự đóng góp vào sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của thế giới: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”(7).

Bước vào thời kỳ đổi mới, xác định đúng xu thế của thế giới sau “Chiến tranh lạnh”, Đảng ta đã thực hiện chính sách đối ngoại mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế. Tại Đại hội VII và Đại hội IX Đảng ta đã tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy” của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Nhờ vậy, nước ta đã vượt qua tình trạng bị bao vây, đặt quan hệ chính thức với hầu hết các nước, đặc biệt là với tất cả các nước lớn và các nước láng giềng. Nước ta cũng tham gia nhiều tổ chức khu vực và quốc tế, gia nhập ASEAN, ASEM, APEC, WTO…, phát huy vai trò tích cực trong mọi hoạt động của các tổ chức đó, kể cả cương vị ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, giành được sự tin cậy của bạn bè thế giới và đem lại nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa, xã hội.

12.jpgẢnh: Bác Hồ thăm Ấn Độ

Cho nên, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, nắm vững xu thế phát triển của thế giới để gắn kết mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta với các quốc gia, các dân tộc là nền tảng của sự hội nhập quốc tế. Qua đó mới giành được sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ, mới tìm ra được mẫu số chung trong nguyện vọng và chí hướng của nhân dân các nước, mới đi đến sự đoàn kết trong cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đi ngược với xu thế chung, dù có nỗ lực đến đâu cũng khó thành công.

2 – Trong sự hội nhập và đoàn kết quốc tế, nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều không thay đổi.

Năm 1946, đã nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc hội và Chính phủ Pháp, nêu rõ: “Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và tình cảm của tất cả những người Việt Nam”(8). Với chính phủ Mỹ, Người kiên quyết yêu cầu: “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam”(9). Chính vì mục tiêu và nguyên tắc đó, nhân dân Việt Nam đã phải đổ bao xương máu trong suốt những năm kháng chiến vì độc lập và thống nhất đất nước. Cuối cùng, Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hiệp định Pa-ri năm 1973 đều ghi nhận các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tại Giơ-ne-vơ, nước Pháp đã phải cam kết điều đó và 19 năm sau, tại Pa-ri nước Mỹ cũng phải cam kết điều đó. Nhờ vậy, sau khi hòa bình lập lại, với phương châm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, quan hệ giữa Việt Nam với Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã được thiết lập, phát triển trên tinh thần hữu nghị và hợp tác.

Trong hoàn cảnh hòa bình kiến thiết đất nước, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ hữu cơ, gắn kết vô cùng chặt chẽ. Nó phải được thể hiện rõ ràng trong quan hệ quốc tế, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, an ninh đến kinh tế, xã hội. Không thể vì áp lực chính trị và kinh tế mà chủ quyền của ta bị tổn hại, không thể vì áp lực quân sự mà lãnh thổ của ta bị tổn thất, an ninh của ta bị đe dọa. Dù không ở trong tình thế chiến tranh khốc liệt như trước đây nhưng vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ vẫn là điều không thể coi nhẹ. Có gìn giữ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thì mới có được nền hòa bình vững chắc, mới tạo dựng được môi trường an ninh và ổn định cho sự phát triển lâu dài.

3 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế nhằm tiến tới việc xây dựng sự hợp tác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.

Trong Thư gửi Liên hợp quốc (năm 1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”(10). Kèm đó, Người nêu ra một số giải pháp cụ thể như Việt Nam sẽ dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, các nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; sẵn sàng chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế; sẵn sàng ký kết các hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan… Ngay trong những năm kháng chiến, Người đã dự tính: “Chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”, “chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(11). Rõ ràng, những nét lớn đó đã phác họa cả một chương trình phát triển và hợp tác với các nước, với các đối tác mà Người đã định liệu từ 40 năm trước khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới.

Bàn về quan hệ hợp tác, Người luôn nhấn mạnh đến thực lực của bản thân là nhân tố quyết định thành công. Trong cuộc đấu tranh giải phóng, được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, Người thường nhắc nhở phải “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp mình thì trước hết phải tự giúp lấy mình đã”. Người đặc biệt nhấn mạnh: “Chú ý rằng: Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”.(12)

Có thể thấy ở đây một lời cảnh báo nghiêm khắc, chẳng những đúng trong thời kỳ chiến tranh mà có ý nghĩa rất thiết thực với mối quan hệ hợp tác trong thời kỳ hòa bình. Trong công tác ngoại giao, Người dặn dò: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi”(13). Nói rộng ra, thực lực trước hết phải xuất phát từ việc định ra đường lối đúng phù hợp với mục tiêu và hoàn cảnh của nước ta mà không ai có thể làm thay, cũng không thể để cho ai làm thay được. Đó chính là tính độc lập tự chủ trong đường lối phát triển, trong việc hoạch định chính sách và đề ra các biện pháp thực hiện.

Ngày nay, trong mối quan hệ đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa, việc kiên trì đường lối độc lập, tự chủ là một thách thức lớn, đồng thời là một nguyên tắc không thay đổi. Xuất phát từ mục tiêu lâu dài và hoàn cảnh hiện nay, Đảng khẳng định “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế” như nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã chỉ rõ. Đó chính là đường hướng chung để xử lý các vấn đề cụ thể trong quan hệ quốc tế của nước nhà nhằm bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính.

Chúng ta bước vào nền kinh tế thế giới trong giai đoạn toàn cầu hóa nhằm mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư, tiếp thu khoa học – công nghệ tiên tiến. Nước ta vốn xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu, sự hội nhập kinh tế quốc tế quả là không dễ dàng. Thành tựu hơn 20 năm đổi mới đánh dấu sự đúng đắn của chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện sự nỗ lực và bước phát triển của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Song, khó khăn còn nhiều, thách thức còn ở phía trước. Xây dựng cho được một nền kinh tế tự chủ, có thực lực là bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp, doanh nhân và toàn xã hội. Bởi vì chỉ có thực lực thì mới có thể hội nhập thành công vào các hoạt động kinh tế thế giới với sự khắt khe của quy luật cạnh tranh và sự ganh đua không nhân nhượng của các đối tác.

4 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế cần “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn”(14).

Với phương châm “thêm bạn bớt thù”, cách mạng Việt Nam luôn xác định rõ ai là bạn, ai là thù, phân hóa “bạn”, “thù” ngay trong hàng ngũ đối phương để giành được sự đồng tình, ủng hộ nhiều nhất. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ: “Chúng tôi không ghét không thù gì dân tộc Pháp… Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp”(15). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người nhắc lại quan điểm đó: “Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng”(16); “Nhân dân Việt Nam coi nhân dân Mỹ là bạn của mình”(17). Nhờ quan điểm đúng đắn đó mà ở Pháp và ở Mỹ đã dấy lên phong trào các tầng lớp nhân dân đòi chính phủ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tiếng nói phản chiến từ các cuộc biểu tình trên đường phố đã tác động vào nghị viện và chính phủ buộc giới cầm quyền phải ký hiệp định đình chiến, rút quân về nước. Có thể nói trong lịch sử thế giới, hiếm có trường hợp nào mà cuộc chiến đấu của một dân tộc lại giành được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước đối phương rộng lớn, mạnh mẽ đến vậy. Nguồn gốc cơ bản là do chính nghĩa thuộc về chúng ta, với quan điểm đoàn kết quốc tế, chúng ta đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa đó.

Theo đường lối đổi mới, Việt Nam mở rộng mối quan hệ bạn bè, đối tác gồm những ai phấn đấu vì mục tiêu chung là “hòa bình, độc lập và phát triển”. Trong quan hệ đó vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Những ai đi đúng mục tiêu và nguyên tắc đó, tôn trọng độc lập chủ quyền, xây dựng quan hệ bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đem lại lợi ích cho tất cả các bên thì đều là bạn, là đối tác của ta. Những ai đi ngược những điều trên, có âm mưu và hành động xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Nhưng, trong mỗi đối tượng cũng có mặt cần tranh thủ, trong mỗi đối tác cũng có điều phải đấu tranh, đấu tranh để hợp tác. Sự kết hợp đúng đắn, linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh sẽ làm cho chúng ta tranh thủ được nhiều lực lượng ủng hộ và hạn chế những thế lực thù địch chống phá ta, tránh trực diện đối đầu, tự đẩy mình vào thế cô lập hoặc lệ thuộc.

5 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế phải “dựa vào lực lượng nhân dân” ở trong nước cũng như trên thế giới.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pa-ri với tư cách thượng khách của Chính phủ Pháp. Ngoài những buổi tiếp xúc chính thức với đại diện chính phủ và các chính khách, Người dành nhiều thời gian gặp gỡ các đoàn thể quần chúng, giới báo chí và đông đảo Việt kiều. Qua các cuộc trò chuyện thân tình, Người đã phân tích tính chất chính nghĩa của nước Việt Nam mới, bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, chia sẻ niềm lo âu với các bà mẹ, người chị có con em bị điều sang Đông Dương. Nhờ vậy cuộc kháng chiến của Việt Nam đã tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân Pháp và chính họ đã góp phần tích cực vào việc buộc chính phủ Pháp phải đình chiến và rút quân khỏi Đông Dương. Về sau, Người cũng viết nhiều bức thư, gửi những lời nhắn nhủ đến nhân dân Mỹ để làm rõ tính chất xâm lược của đội quân viễn chinh Mỹ, nêu bật tính chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Người khơi gợi ở thanh niên, sinh viên và nhân dân Mỹ truyền thống đáng tự hào của nước Mỹ với những tên tuổi Oa-sinh-tơn, Lin-côn, Ru-dơ-ven; Người chia sẻ nỗi đau của những bà mẹ mất con, người vợ mất chồng trên chiến trường xa không vì mục đích lý tưởng cao cả. Trong các cuộc đi thăm các nước, Người cũng hòa vào quần chúng, thân mật thăm hỏi và khích lệ từ các cháu thiếu nhi, thanh niên đến các bậc phụ lão. Những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu phục trái tim nhân dân thế giới, đi vào lòng người, tạo nên sức mạnh tinh thần ủng hộ Việt Nam. Đó chính là “ngoại giao tâm công”, nền tảng của đường lối đối ngoại nhân dân, một mặt trận rộng lớn kết hợp chặt chẽ với hoạt động đối ngoại của Đảng và của Nhà nước.

Với đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa ngày nay, cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài được mở rộng, hoạt động đối ngoại không chỉ thu hẹp trong các cơ quan ngoại giao mà đã bao gồm toàn xã hội. Bất cứ ai, từ học giả, doanh nhân cho đến bất cứ người dân thường nào cũng đều có cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài. Chính sự gặp gỡ đó là dịp giao lưu văn hóa, thể hiện đất nước và con người Việt Nam, phản ánh thành tựu kinh tế và xã hội Việt Nam. Cho nên tạo được những ấn tượng đẹp, tình cảm sâu trong con mắt người nước ngoài cũng là đóng góp vào thành quả của đối ngoại nhân dân. Đồng thời sự giao lưu với nước ngoài cũng tạo điều kiện để chúng ta hiểu biết về thế giới, về văn hóa thế giới và qua đó có thể tiếp thu điều hay, lẽ phải, đồng thời hạn chế những mặt xấu, tiêu cực. Như vậy, đối ngoại nhân dân chính là một mặt trận góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

*
*    *

Điểm lại một số nét cơ bản trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm sâu công ơn của Người và ra sức thực hiện những lời Người để lại. Tinh thần và tình cảm quốc tế của Người được ghi sâu đậm nét trong lời kết của bản Di chúc thiêng liêng: “Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Bốn mươi năm Bác đã đi xa, lời Người nhắn nhủ vẫn còn vang mãi với non sông, với đời đời con cháu./.

——————————————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội ,1996, t 12, tr 509
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 301
(3) Văn kiện Đảng: Toàn tập (1940 – 1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 7, tr 114
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 220
(5) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 8, tr 437
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 19
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 434
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 303
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 489
(10), (11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 470, tr 74
(12) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 7, tr 244
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 126
(14) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 8, tr 27
(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 65
(16) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 271
(17) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 93

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện nhân cách Đảng viên Cộng sản

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đội ngũ đảng viên. Ngay từ năm 1925, bài giảng đầu tiên của Người cho những cán bộ cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam là vấn đề “tư cách một người cách mệnh”.

Nghiên cứu những bài nói và viết của Người, chúng ta đều thấy mối quan tâm hàng đầu của Người là xây dựng một đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Sự giác ngộ lý tưởng cộng sản, lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là phẩm chất hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cho mỗi đảng viên cộng sản.

Người căn dặn mỗi đảng viên “không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”; phải biết đặt lợi ích của giai cấp, của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết; nếu khi “lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì phải quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng”. Người chỉ rõ: suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân “là phẩm chất cao quý của người cách mạng. Đó là đạo đức cách mạng. Đó là tính Đảng, tính giai cấp, nó bảo đảm cho sự thắng lợi của đảng, của giai cấp, của nhân dân”. Người đánh giá rất cao những đảng viên luôn luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp và của dân tộc, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đồng thời phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động.

Chủ tịch Hồ chí Mình đòi hỏi mỗi đảng viên cộng sản cùng với phẩm chất cách mạng cao quý còn phải có năng lực, vì có năng lực mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của Đảng giao cho. Người dạy rằng, “Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. Muốn vừa thạo về chính trị, vừa giỏi về chuyên môn, mỗi đảng viên phải ra sức “học tập chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và năng lực công tác của mình”. Bởi vì, có học tập lý luận Mác – Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt được công tác Đảng giao cho mình; “có nắm vững đường lối cách mạng mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”. Người cũng chỉ rõ rằng, muốn học tập có kết quả tốt, phải có thái độ đúng và phương pháp đúng, lý luận phải liên hệ với thực tế, phải “biến những điều đã học thành hành động cách mạng thực tế. Học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một yêu cầu quan trọng về phẩm chất đảng viên là liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy quyền làm chủ tập thể và sức mạnh sáng tạo to lớn của quần chúng. Bởi lẽ, Đảng là đội tiên phong của quần chúng, nhưng Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên “phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo…Phải luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công, vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. “Người nghiêm khắc phê phán những đảng viên “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng…ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng…mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, không yêu…” và họ không làm nên trò trống gì.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách đảng viên cộng sản luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Bởi lẽ, sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm. Người chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Người đòi hỏi mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu về phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền. Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, người yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Bởi lẽ, đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Do đó, tất cả cán bộ, đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những biện pháp thiết thực để mỗi đảng viên cộng sản phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng nhân cách của mình. Trước hết, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu…sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.

Việc giữ gìn bản chất, tư cách đảng viên cộng sản cần gắn với xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng, nhất là chi bộ, vì chi bộ “là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”. Thực tế đã chứng minh rất rõ: ở đâu chi bộ mạnh, cấp ủy mạnh thì đảng viên mạnh, ở đâu chi ủy, chi bộ rệu rã thì ở đó cán bộ, đảng viên tê liệt sức chiến đấu, dễ trở thành hư hỏng, thoái hoá. Cho nên, trong xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chi bộ, các cấp ủy đảng phải thực hiện dân chủ nội bộ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, đảng viên, kịp thời giúp họ giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống và công tác. Song, phải nghiêm khắc đối với những cán bộ, đảng viên phạm sai lầm, khuyết điểm; tẩy bỏ những phần tử hủ hoá nhằm giữ gìn nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới.

Cùng với việc giữ nghiêm kỷ luật, phải “mở rộng phong trào phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan, các đoàn thể, trên các báo chí cho đến nhân dân. Phê bình và tự phê bình phải thường xuyên, thiết thực, dân chủ, từ trên xuống và từ dưới lên”. Người còn vạch rõ: “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình”. Đồng thời, Người yêu cầu phải tăng cường công tác kiểm tra trong Đảng nhằm “thúc đẩy và giáo dục đảng viên làm trọn nhiệm vụ…,làm gương mẫu cho nhân dân” và xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đứng trước những vận hội mới và thách thức mới, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hơn bao giờ hết chúng ta phải giương cao ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, xây dựng các tổ chức chi bộ vững mạnh, rèn luyện tư cách đảng viên với phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Việc nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong rèn luyện phẩm chất, tư cách đảng viên cộng sản nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm củng cố tổ chức đảng, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đại tá, PGS.TS. Đinh Hùng Tuấn

vannghedanang.org.vn

Bản lĩnh Hồ Chí Minh

Tác giả: TƯƠNG LAI

Dám nghĩ đến những “nghịch lý táo bạo” chính là sự thể hiện tinh thần dám chịu trách nhiệm đối với sự nghiệp mình đang theo đuổi, dám chịu trách nhiệm với chính mình. Cái đó chính là bản lĩnh

Bản lĩnh Hồ Chí Minh là sự kết tụ và phát huy mạnh mẽ và sáng tạo bản lĩnh dân tộc Việt Nam ta trong tư tưởng, trong hành động, trong mọi ứng xử của “con người giàu chất người nhất trên thế giới này” (1)

Kỷ niệm 120 ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh giục giã những ai đang suy tư về vận nước nghĩ về bản lĩnh cần phải có để đủ trí lự và quyết tâm vượt lên mọi thử thách, có cái đã có tiền lệ mà ông cha ta cũng như Hồ Chí Minh đã chủ động đối phó một cách tuyệt vời, đồng thời cũng có những cái chưa có tiền lệ. Suy ngẫm kỹ về thực trạng, xem ra lúc này, bài học từ Hồ Chí Minh cấp bách nhất, trực tiếp nhất song cũng thuộc loại khó nhất là bài học về bản lĩnh của Bác.

Bản lĩnh là một khái niệm vừa trừu tượng, nhưng cũng vừa rất cụ thể. Bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc từ truyền thống dân tộc, một dân tộc vốn nằm trong thế kẹt oái oăm của vị trí địa-chính trị, mà muốn tồn tại và phát triển thì phải phát huy đến mức cao nhất khí phách “có cứng mới đứng được đầu gió”, “sóng cả không ngả tay chèo” sóng gió hung bạo và dữ dằn của Biển Đông, không chỉ từ trời mà thường trực hơn, xảo quyệt hơn là từ người.

Bàn về sự phát trịển của các nền văn minh, nhà sử học lớn nhất thế kỷ XX, Arnold Toynbee đưa ra luận điểm: “Thiên nhiên phải đến với con người như một khó khăn cần phải vượt qua. Nếu con người chọi lại thách thức thì sự chống trả của nó tạo những nền tảng cho nền văn minh của họ”.

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ta là một minh chứng sống động cho luận điểm đó. Chúng ta có đủ bản lĩnh vượt qua những nghịch lý để đi tới. Thiên nhiên đã vậy, nhưng con người Việt Nam không chỉ phải “chọi lại thách thức” của thiên nhiên mà quyết liệt hơn là phải thường trực “chọi lại” với những thế lực ngoại xâm hung bạo vốn trường kỳ theo đuổi mục tiêu thôn tính cái dân tộc nằm ngay trên ngã tư giao thương quốc tế từ Ấn Độ dương sang Thái Bình dương, đầu cầu của vùng Đông Nam Á, cứ khăng khăng không chịu thần phục, không chịu đồng hóa. Nếu không có bản lĩnh, dân tộc này đã bị diệt vong từ lâu rồi.

Xin gợi một ví dụ thay cho những giải thích dài dòng : Khi cuộc đàm phán về Hiiệp định Paris sắp ngã ngũ, H. Kissinger nói một câu đại ý: “nếu Việt Nam chỉ anh dũng thì Mỹ thừa sức đè bẹp, nhưng chúng tôi không thể đè bẹp được vì các anh vừa anh dũng vừa thông minh”.

Trong chuyến thăm Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, dừng lại trước các cọc gỗ Bạch Đằng và được nghe về ba lần đánh thắng Nguyên Mông, trả lời câu hỏi đùa của ông Lê Đức Thọ : Mỹ có muốn đánh với Việt Nam ba lần không, ông Kissinger nói “Tôi xin ông, một lần đã là quá đủ lắm rồi”! Khi xem bản ghi câu thơ của Lý thường Kiệt “Nam q1uốc sơn hà nam đế cư”…Kissinger lại nói : “hình như tôi đã nghe câu này ở đâu nhiều lần rồi”, và tiếp “À, đây là chương I điều 1 của bản Hiệp định Paris”! (2)

Liệu ông Kissinger có biết những chiếc cọc gỗ mà ông nhìn thấy đó không chỉ đã dìm chết quân Nguyên vào thế kỷ XIII, mà trước đó hai thế kỷ đã được Ngô Quyền sử dụng để chọc thủng thuyền, dìm chết quân xâm lược nhà Tống. Và sẽ càng thú vị hơn, nếu học giả Kissinger lại được biết thêm rằng, hiện vẫn còn miếu thờ một bà lão mở quán nước bên đường đã mách nước cho Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương để ngài bày binh bố trận tiêu diệt quân xâm lược. Sau khi thắng trận, Trần Hưng Đạo đã cho lập nên miếu thờ ấy!

Trên đất nước này, cơ man là những miếu thờ, đền thờ những vị anh hùng cứu nước xuất thân áo vải chân đất, và nếu thống kê tất cả các vị thành hoàng được thờ tại các làng để thấy ngoài những tổ phụ ngành nghề thì tuyệt đại bộ phận là những người có công với nước. Có hiểu sâu điều này, mới hiểu được về bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Bản lĩnh ấy được thôi thúc và định hình từ truyền thống một gia đình sĩ phu, khoa bảng, nơi con người xứ Nghệ được tôi luyện trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên mà trước hết là đất đai và thời tiết. Bản lĩnh ấy được khẳng định từ buổi khởi đầu của hành trình tìm đường cứu nước với hai bàn tay và nghị lực phi thường được nung nấu từ trái tim yêu nước mãnh liệt của người thanh niên Nguyễn Tất Thành, bôn ba khắp năm châu, bốn biển để rồi trở thành Nguyễn Ái Quốc, người chiến sĩ quốc tế vốn nặng lòng vì đất nước .

Từ những bước đi ban đầu trên hành trình tìm đường cứu nước cho đến khi trở thành người lèo lái con thuyền đất nước vượt qua bao phong ba bão táp để cập bến an toàn là sự chứng minh sinh động bản lĩnh ấy.

Nguyễn Ai Quốc, đến với học thuyết của C.Mác và Ph. Angghen, từ thân phận của một người mất nước, một người dân thuộc địa, một người được hấp thu nền học vấn và triết lý phương Đông, rồi được bổ sung văn hóa và triết lý phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp. Con người ấy, so với C.Mác, Ph Angghen và V. I Lênin, thì trải nhiều oan nghiệt, cay đắng về thân phận cá nhân hơn nhiều. Từ thân phận ấy, Hồ Chí Minh dễ có sự thông cảm sâu sắc hơn và mãnh liệt hơn với người dân thuộc địa nói riêng và những người lao động nghèo khổ, những dân tộc đang bị nô lệ, phải gánh chịu áp bức, bất công trên thế giới nói chung.

Sự cảm thông ấy không chỉ dừng lại ở thân phận cá nhân để nhìn ngắm và suy đoán về thế giới, mà đã vượt khỏi chính mình để có được cái tầm cao của người chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Chính với cái tầm ấy mà Nguyễn Ái Quốc trở thành Hồ Chí Minh. Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ trước, phải trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế thì mới thực hiện được sự nghiệp cứu nước, vì vậy, từ bước khởi đầu sự nghiệp cho đến khi từ biệt thế giới này, mục tiêu nhất quán của con người yêu nước Hồ Chí Minh là cứu nước, là giải phóng dân tộc.

So với C.Mác, Ph. Angghen và V.I Lênin, cũng như so với những chí sĩ Việt Nam khác như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…, học vấn của Hồ Chí Minh không bằng. Nhưng bù vào đấy là sự thâm nhập vào cuộc sống, lăn lộn nhiều hơn, đi nhiều hơn, thấy nhiều hơn, đến được nhiều chân trời hơn, sống với nỗi khổ đau của con người nhiều hơn. Những con người ở nhiều đất nước, nhiều châu lục, nhiều màu da, nhiều tiếng nói, nhất là tiếng nói của những người cùng khổ.

Quả là hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những quằn quại suy tư, những khát vọng rộng lớn của con người đến như vậy. Đấy là một nét độc đáo trong nhân cách và phẩm chất Hồ Chí Minh. Điều này khiến cho Hồ Chí Minh biết cảm nhận và rung động mãnh liệt, sâu lắng với con người trong sự sống đa dạng và phức tạp để hiểu ra rằng: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. Chính những yếu tố đó đã nung nấu, chưng cất và kết tụ lại để định hình bản lĩnh Hồ Chí Minh!

Làm sao có thể kể ra đủ những sự kiện, những hành vi, những tư tưởng thể hiện bản lĩnh ấy, xin chỉ nói đôi điều gợi ý trực tiếp nhất cho viện rèn bản lĩnh theo gương Bác Hồ đối với tuổi trẻ, để mà dồn trọn niềm hy vọng về một ngày mai tươi sáng của dân tộc vào nguồn sinh lực bất tận của dân tộc.

Trước hết là dám có chính kiến và đấu tranh để bảo vệ chính kiến đó. Về bước khởi đầu, trong trả lời nhà báo Mỹ Anna Louise Strong, Bác nói: “Những người Việt Nam, trong đó có cả cha tôi, thường tự hỏi nước nào có thể giúp phá bỏ ách đô hộ của người Pháp. Một số cho rằng Nhật Bản, những người khác cho rằng nước Anh và một số khác lại cho rằng nước Mỹ. Tôi cho rằng cần phải ra nước ngoài để tự tìm lấy câu trả lời cho mình”.

Mùa Xuân năm 1925, trong thư gửi một học giả yêu nước, Nguyễn Ái Quốc viết : “Thay vì trách cứ người khác, tôi cho rằng trước hết là tự trách mình. Chúng ta phải tự hỏi rằng “tại sao người Pháp lại có thể đàn áp chúng ta? Tại sao dân ta lại ngu muội như vậy? Tại sao cách mạng của chúng ta chưa thành công?” (3) Quả thật không dễ gì có những câu “tự hỏi” ấy!

Nhưng chính là bắt đầu từ những câu hỏi đó mà hành trình tư duy của Người ngày càng mở rộng và bay cao cùng với những bước chân bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm con đường cứu nước.

Trong các cuộc tranh luận để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Pháp mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những thành viên sáng lập, Nguyễn dám mạnh mẽ chất vấn : “Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì “? (4)

Từ quan điểm đó, Nguyễn tự mình vận động, thuyết phục bạn bè, đồng chí của mình để rồi cuối cùng sáng lập nên một tờ báo nhằm tuyên truyền phổ biến “quan điểm cách mạng” ấy. Tờ báo “Người cùng khổ” ra đời từ ý tưởng ấy mà Nguyễn vừa là người chủ bút, người in ấn, người phát hành cùng vài người đồng chí chí cốt giúp đỡ.

Từ chính kiến của mình mà dám đặt lại những vần đề lý luận mang ý nghĩa đột phá của sự vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng. Chẳng hạn, vào năm 1924 người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã dám đặt ra vấn đề : “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” vì thế, theo Nguyễn, phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”! (5)

Có hiểu bối cảnh đề xuất luận điểm ấy, khi mà quyền lực và ý chí của Stalin được áp đặt một cách tuyệt đối trong đời sống lý luận cũng như trong hoạt động của các đảng cộng sản mới thấy hết được bản lĩnh của Hồ Chí Minh khi dám đưa ra những kiến nghị “động trời” đó! Không phải là Nguyễn không dự kiến được những hệ lụy mà mình sẽ phải gánh chịu, và thực tế thì Người đã từng phải gánh chịu. Thế nhưng Nguyễn không thể không nói lên một sự thật đang diễn ra là  ở Việt Nam, “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây…Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ” (6)

Độc lập suy nghĩ và dám chịu trách nhiệm về những suy nghĩ và những kiến nghị của mình vì Nguyễn có một trái tim đập cùng nhịp với đời sống của nhân dân mình.

Theo William J. Duiker, tác giả của cuốn sách về Hồ Chí Minh xuất bản ở New York năm 2000 thì “đây là một nghịch lý táo bạo, nhưng lại là một thực tế tuyệt vời “. Không dám nghĩ về những “nghịch lý táo bạo”, chỉ biết đi theo con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước trong một thề giới đầy biến động mà mọi dự đoán đều không chắc chắn  thì làm sao có thể hướng đến mục tiêu mong muốn.

Chính vì thế, trong những cuộc tranh luận để đi tới thành lập Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc suy nghĩ nhiều về một câu nói của Jaurès, nhà cách mạng Pháp được người ta nhắc đến: “trung thành với truyền thống không có nghĩa là quay về những thế kỷ đã lụi tàn để ngắm một dãy dài những bóng ma, mà trái lại đem hết sức mình tiến về phía tương lai, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó”.

Cho nên, nói đến truyền thống là nói đến yếu tố “động’ của truyền thống mà không thể dừng lại ở những cái tĩnh, cái “đã định hình” ru ngủ cái gọi là sự “ổn định” vốn có quán tính là khước từ mọi sự canh tân. Nó củng cố tính bảo thủ được khoác cho những tấm áo đủ mọi màu sắc để xoa dịu những số phận bị kìm hãm, để đánh lừa những đầu óc muốn đổi mới.

Cung cách “sống lâu lên lão làng”, cái trật tự “lão quyền”, “ông bảy mươi phải hỏi ông bảy mươi mốt” đã làm thui chột sức trẻ và sự năng động sáng tạo của tuổi trẻ. Chính đấy là mảnh đất nuôi dưỡng sự trì trệ, được củng cố bằng chủ nghĩa bình quân, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa quan liêu!

Biện chứng của cuộc sống, biện chứng của sự phát triển đòi hỏi phải tấn công vào sự “ổn định trì trệ” ấy. Nếu chỉ quen với con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước, sẽ dẫn đến thảm hoạ vì con đường mòn đó không có lối ra trong một thế giới đầy biến động với những bước đột phá mà mọi sự dự đoán đều không chắc chắn như đã nói ở trên.

Dám nghĩ đến những “nghịch lý táo bạo” chính là sự thể hiện tinh thần dám chịu trách nhiệm đối với sự nghiệp mình đang theo đuổi, dám chịu trách nhiệm với chính mình. Cái đó chính là bản lĩnh.

Và khi đã xác định rõ con đường, bản lĩnh thể hiện ở quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu đã vạch ra. Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có một đoạn giúp khắc họa rõ nét bản lĩnh ấy : “Đêm ấy tôi nghỉ lại với Bác trên cái lán giữa rừng. Lúc nào tỉnh, Bác chỉ nói chuyện tình hình : “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Mỗi lúc nhớ ra điều gì, Bác lại dặn. Bác lúc ấy chắc cũng thấy mình yếu quá, có ý muốn dặn lại công việc. Chỉ có công việc!”.

Chính bản lĩnh ấy giúp dự liệu mọi khó khăn và giải pháp vượt qua khó khăn. Chẳng hạn như, ngày 11.9.1946, trả lời phóng viên “Thời báo New York” liệu chiến tranh có phải là tất yếu không, Hồ Chí Minh khẳng định: “Có. Chúng tôi buộc phải chiến đấu…. Chiến tranh là gian nan và đau buồn nhưng chúng tôi sẽ thắng. Chúng tôi có một vũ khí hùng mạnh như những khẩu đại bác hiện đại, đó là tinh thần dân tộc…Tinh thần con người còn mạnh mẽ hơn máy móc. Và máy móc không thể có hiệu quả trong đầm lầy và rừng rậm. Hàng triệu mái lều tranh có thể được coi như con ngựa thành Tờ-roa để ngăn chặn quân xâm lược…”.

Niềm tin không gì lay chuyển nổi ấy là hệ quả của tính kiên định và sự minh triết trong tư duy của một bản lĩnh đã được tôi luyện khiến nhiều dự phóng của Bác Hồ như những lời tiên tri. Ví như, năm 1941, trong cuốn sách nhỏ viết làm tài liệu tuyên truyền về “Lịch sử nước ta”, ở cuối có mục “Những năm tháng quan trọng”, Bác viết : “1945-Việt Nam độc lập”! Cũng trong Hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, lúc ấy có người hỏi Bác về điều này, Bác chỉ trả lời : “Để xem sao”!

Một ví dụ khác: trong diễn văn đọc tại lễ mừng Quốc khánh 2.9.1960, Bác nói : “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc-Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Trong bút tích bản thảo in trên báo “Nhân Dân” số ra ngày 30.4.1985 cho thấy : Bác gạch dưới những chữ “chậm lắm là 15 năm nữa”! Hay như chuyện Bác từng căn dặn Tư lệnh của bộ đội Phòng không-Không quân: “Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội! (7)

Có người nói đó là dấu ấn của thiên tài. Có thể như vậy. Thế nhưng, phải chăng những dấu ấn của thiên tài ấy là sự thăng hoa kỳ diệu của một bản lĩnh tuyệt vời, bản lĩnh Hồ Chí Minh. Bản lĩnh dám đặt ra và giải quyết những vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn.

Vì mục tiêu trước sau như một là giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân mà vì mục tiêu đó Hồ Chí Minh dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán, thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Không kiên định tinh thần Tổ quốc trên hết, không thể bản lĩnh vạch ra quyết sách sáng suốt tuy đau đớn ấy.

Cũng với bản lĩnh đó mà Hồ Chí Minh chủ trương đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951 mà mục tiêu trước hết là để “nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”.

Đúng là “Hồ Chí Minh là người linh hoạt, chủ động, từ việc lớn đến việc nhỏ, từ tuổi thanh niên đến cuối đời. Có thể nói con người ấy có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”. Có được điều đó vì “Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại” (8).

Với những phẩm chất được hun đúc, trui rèn trong ngọn lửa chiến đấu hơn nửa thế kỷ, đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử, người thanh niên yêu nước, bằng bản lĩnh phi thường của mình đã trở thành Hồ Chí Minh. Đúng là không phải chiếc ghế nguyên thủ quốc gia mà chính là sự “nhạy cảm”, sự “thấu hiểu”, “sự nhận thức” đó khiến cho Người được lịch sử chọn lựa làm lãnh tụ của nhân dân ở vào thời điểm có ý nghĩa nhất, đáp ứng được đòi hỏi của đất nước, của cuộc sống đất nước cần bước vào quỹ đạo chung của thời đại.

Trong dòng chảy bất tận của thời gian, có những thời điểm xuất hiện những con người đáp ứng một cách tuyệt vời đòi hỏi đã chín mùi của lịch sử, người ta gọi đó là sự xuất hiện của thiên tài. Điều này cho thấy thiên tài không ra đời từ những cuộc tranh bá đồ vương để giành nhau chiếc ghế quyền lực.

Đành rằng trong lịch sử không thiếu những nhân vật đã bước vào lịch sử bằng con đường như vậy, đó là hôn quân, bạo chúa và những gian hùng bị người đời phỉ nhổ. Phải chăng sự bi hài của lịch sử là có sự trộn lẫn chính tà ấy để giúp cho nhân dân có dịp nhận ra chuyện vàng thau lẫn lộn ấy. Đó cũng là cách để cho nhân dân tự vượt lên chính mình, biết tự “xoay chung quanh mặt trời của chính mình” mà không để bị lừa bịp như C.Mác đã từng chỉ ra. [“Lời nói đầu của Phê phán triệt học pháp quyền của Hégel]. Hạnh phúc và may mắn biết bao khi dân tộc ta có được một lãnh tụ như Hồ Chí Minh, một bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Điều cần nói thiên tài Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của người dân mà ngược lại. Thiên tài Hồ Chí Minh, bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc, được hình thành từ cuộc sống của nhân dân mình. Mỗi người Việt Nam đều có thể nhìn thấy mình trong sự nghiệp Hồ Chí Minh, trong trái tim của Hồ Chí Minh. Cái làm nên thiên tài Hồ Chí Minh, rèn đúc nên bản lĩnh ấy nhịp đập của trái tim “Người Yêu Nước” Hồ Chí Minh luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà Người gửi gấm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân, vì “nếu nước độc lập mà nhân dân không được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”!

Không có trái tim ấy, không thể có bản lĩnh ấy. Vì rằng, “ở đâu nội dung của sự tất yếu phổ biến không nhất trí được với trái tim, thì sự tất yếu ấy – xét về nội dung- không là gì cả, và phải nhường chỗ cho quy luật của trái tim”9. Có lẽ thực chất của “quy luật trái tim” mà Hégel nói đây trước hết là sự trung thực với chính mình, là bản sắc cá nhân được thể hiện một cách chân thực. Vì nói cho đến cùng , quy luật của trái tim là sự phản ánh chân thực nhất biện chứng của cuộc sống với tất cả những sắc thái phong phú và phức tạp của nó. Cho nên, những gì mà trái tim thờ ơ thì mắt cũng không nhìn thấy được !

__________________

Chú thích : Ghi để biết xuất xứ, không cần phải đăng nếu tòa soạn thấy không cần thiết

1. Theo Việt Phương. Vietnamnet ngày 15.5,2010
2. Theo Võ Văn Sung. “Suy ngẫm về trường phái ngoại giaoHồ Chí Minh”NXBCTQG.2010, tr. 62
3. Theo  William Ducker trong “Hồ Chí Minh” Heperion New York 2000
4.5,6 Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 1. NXBCTQG. 1995, tr. 466
7. “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh” NXBQĐND. Hà Nội, 1990. tr.224
8. Phạm Văn Đồng “Hồ Chí minh, Quá khứ Hiện tại và Tương lai” Tập I. NXB ST. Hà Nội 1991,tr.29, tr.98
9. G.W.F.Hegel. “Hiện tượng học tinh thần.” Bùi văn Nam Sơn dịch. NXB Văn học 2006, tr.769.

tuanvietnam.vietnamnet.vn