Archive | Tháng Hai 2012

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Ðảng cầm quyền”

Trong Báo cáo chính trị tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Ðảng, năm 1951, khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(*).

Story1.axd.jpg

Và trong Di chúc để lại, tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Ðảng, một lần nữa Bác viết: “Ðảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Khái niệm về “Ðảng cầm quyền” thật ra không có gì xa lạ đối với các nước tư bản chủ nghĩa với nền chính trị đa đảng. Ở đấy, Ðảng nào giành thắng lợi trong tranh cử thì đứng ra lập chính phủ của mình và trở thành “đảng cầm quyền”. Cũng có nước, một số thế lực chính trị (hay quân sự) giành lấy chính quyền thông qua đảo chính hay lật đổ.

Ðối với Ðảng ta, vấn đề chính quyền đã được giải quyết thông qua con đường cách mạng, phù hợp với những điều kiện lịch sử của nước mình. Trước kia, khi nhân dân ta còn sống trong vòng nô lệ thì nhiệm vụ hàng đầu của Ðảng là lãnh đạo nhân dân làm cách mạng lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Và sau khi đã giành được chính quyền rồi thì trọng trách của Ðảng là lãnh đạo gìn giữ chính quyền, bảo vệ Tổ quốc, làm cho chính quyền ấy thực hiện tốt các nhiệm vụ của cách mạng, trước hết và trên hết là vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

Theo tư tưởng của Bác Hồ và của Ðảng ta từ trước đến nay, khái niệm Ðảng “nắm chính quyền” hay “cầm quyền” là đồng nghĩa với Ðảng lãnh đạo chính quyền.

Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Ðảng, Người nhấn mạnh: “Ðảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Ðảng ta không có lợi ích gì khác”.

Quan điểm xuyên suốt trong các tác phẩm của Bác là Ðảng (nói chung) và cán bộ, đảng viên (nói riêng) “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn vậy, Ðảng và cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Ðảng Liên khu 5, Bác viết: “Mục đích chỉnh Ðảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đầy tớ của nhân dân”.

Năm 1968, làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Ðảng về việc xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Ðảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Ðảng, nói chung và về Ðảng cầm quyền nói riêng luôn được Ðảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển. Nói Ðảng cầm quyền hoàn toàn không có nghĩa là Ðảng tự biến mình thành chính quyền, một mình mình nắm giữ chính quyền và làm chức năng của chính quyền. “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là cơ chế vận hành của chế độ ta. Theo cơ chế ấy, Ðảng, Nhà nước và nhân dân đều là những chủ thể của quyền lực, nhưng quyền lực của mỗi chủ thể ấy lại không giống nhau. Quyền lực của Ðảng là quyền lãnh đạo, bao gồm cả quyền lãnh đạo chính quyền, nhưng bản thân Ðảng lại không phải là chính quyền nhà nước, không làm thay cho Nhà nước. Quyền lực nhà nước bao gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng quyền lực ấy không phải do Nhà nước tự có mà là do nhân dân giao phó cho những cơ quan quyền lực do mình cử ra. Quyền lực của nhân dân là quyền của người làm chủ đất nước và quyền làm chủ ấy được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, kể cả dân chủ tự quản ở cơ sở. Mẫu số chung của ba loại quyền lực nêu trên (lãnh đạo, quản lý và làm chủ), xét cho cùng, là tư tưởng Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo “Dân vận” viết năm 1949 cách đây đúng 61 năm: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Cơ chế “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thực chất là phương thức tổ chức nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng và những điều bổ sung, phát triển các quan điểm về Ðảng và Ðảng cầm quyền qua các kỳ Ðại hội của Ðảng và các khóa Trung ương từ bấy đến nay đều xác định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân làm chủ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta; phải xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, đại  diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, có nhiệm vụ không chỉ động viên, giúp đỡ đoàn viên, hội viên tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà còn thực hiện vai trò phản biện và giám sát. Ðảng Cộng sản Việt Nam là Ðảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Ðảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; thống nhất lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Ðảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Ðại hội X của Ðảng, khi đề cập nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Ðảng, đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối”. Ðại hội cũng chủ trương, về mặt lý luận, phải tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về xây dựng Ðảng và về đảng cầm quyền. Ðiều quan trọng hơn nữa là để xứng đáng là đảng cầm quyền, Ðảng phải làm những gì và làm như thế nào?

Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng, trong khi nêu lên những bài học lớn, đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Ðảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Ðảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Ðảng và về Ðảng cầm quyền chắc chắn sẽ còn được làm sáng tỏ hơn nữa trong các văn kiện Ðại hội XI của Ðảng sắp tới.

(Nguồn: Báo Nhân Dân)

(*) Những trích dẫn lời Bác trong bài đều lấy từ “Hồ Chí Minh tuyển tập”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

xaydungdang.org.vn

Di chúc Hồ Chí Minh, nhìn từ duy vật nhân văn và thực tiễn hiện nay

Bàn, nghiên cứu Di chúc Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết. Học tập, nhận thức và làm theo Di chúc của Người vừa dễ vừa khó, và đó là một quá trình. Chúng tôi cũng có một số bài nghiên cứu về Di chúc (Di chúc Hồ Chí Minh dự cảm một tinh thần đổi mới; Di chúc Hồ Chí Minh và cơ sở triết học của chủ nghĩa nhân văn cách mạng; Về dân giàu nước mạnh và hạnh phúc theo Di chúc và tư tưởng Hồ Chí Minh; Chủ nghĩa nhân VN- Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học; .. ); Di chúc Hồ Chí Minh – dự cảm một tinh thần đổi mới…

TS. Hồ Bá Thâm
Viện Nghiên cứu phát triển tp. HCM

95311242527383.bmp

Lần này, xin viết về chủ để bao quát hơn, có tính chất phương pháp luận, gợi mở: Di chúc Hồ Chí Minh, nhìn từ chủ nghĩa duy vật nhân văn và thực tiễn hiện nay. Trong nghiên cứu, cũng có một số vấn đề còn băn khoăn cần trao đổi, tranh luận, nên theo chúng tôi, cần nêu vấn đề để tranh luận mới sáng tỏ và có chiều sâu.

Bài viết là một cách tiếp cận triết học nhân văn khi nghiên cứu Di chúc Hồ Chí Minh nói riêng và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung

1-Những tư tưởng trong Di chúc và nội dung bao trùm. Khẳng định và dự báo, đề xuất

Tư tưởng chủ đạo và bao trùm trong vẫn là tư tưởng: Không có gì quý hơn độc lập – tự do, Hòa bình- Thống nhất, Dân chủ và Dân giàu nước mạnh, tất cả vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, gỉải phóng con người, vì hạnh phúc của con người. Nghĩa là Di chúc thấm đượm tư tưởng và triết lý của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa nhân văn VN- Hồ Chí Minh, nhưng được thể hiện bằng văn bản có tính Di chúc và nó về những việc cụ thể chung cho Đảng, cho Dân và cho mỗi người VN ta và cả đời riêng của Người.

Có thể tóm tắt mấy ý chính từ Di chúc (qua các bản viết từ năm 1965 đến 1968) như sau:

– Vấn đề quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn trong thời kỳ cuối cùng của cuôc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để đạt được mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, thống nhất đất nước.

– Vấn đề phải có kế hoạch chu đáo, chủ động (“tránh bị động, thiếu sót, sai lầm”) khắc phục hậu quả chiến tranh trên các lĩnh vực kinh tế xã hội; tình thương và trách nhiệm con người và các tầng lớp xã hội (thư tháng 5/1968).

– Vấn đề kế hoạch phát triển về kinh tế xã hội, sinh thái, xây dựng lại quê hương đất nước nhằm phục vụ con người, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân.

– Vấn đề mục tiêu và động lực cách mạng và phát triển: độc lập – tự do, Hòa bình- Thống nhất, Dân chủ và giàu mạnh,

– Vấn đề cái cách, đổi mới, chống trì trệ, bảo thủ, hư hỏng và mở rộng dân chủ,

– Vấn đề Đảng cầm quyền (chỉnh đốn lại Đảng). Đạo đức cách mạng của người cán bộ đảng viên.

– Vấn đề đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân và đoàn kết quốc tế, niềm tin ở sức mạnh của nhân dân..

– Vấn đề xây dựng lực lượng cách mạng cho đời sau.

– Vấn đề phong trào cộng sản thế giới và việc cảm ơn nhân dân các nươc giúp đỡ cuộc khàng chiến của VN. Vấn đề đền ơn đáp nghĩa những người đã hy sunh, thương binh, gia đình có công với cách mạng.

– Vấn đề quan niệm về cuộc sống và cái chết, với việc ứng xử với chính thi hài của Người và việc riêng, vấn đề văn hóa đối với người đã khuất.

Như vậy là có 10 vấn đề mà Hồ Chí Minh đề cập trong Di chúc, toát lên tinh thần duy vật nhân văn và tinh thần đổi mới – phát triển.

Những nội dung quan trọng ấy là hết sức căn bản thể hiện tinh thần nhân văn và sự phát triển liên quan tói số phận và sự nghiệp của dân tộc, của nhân dân, của Đảng và mỗi người VN ta. Hồ Chí Minh quan tâm đến những vấn đề mà Người trăn trở nhiều và cốt yếu đối với cách mạng. Dù gắn với thời điểm lịch sử cuối cuộc chiến tranh và sau chiến tranh nhưng nhiều vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

620.jpg

Trong những nội dung ấy có nội dung mang tính khẳng định và có nội dung mang tính dự báo. Như, khẳng định cuộc kháng chiến nhất định sẽ giành thắng lợi hoàn toàn; và dự báo là chỉ mấy năm nữa. Hoặc có những dự báo và đề xuất như về trước hết phải chỉnh đốn Đảng, hoặc vấn đề miễn thuế nông nghiệp cho nông dân- khoan thư sức dân, vấn đề cải cách giáo dục, vấn đề chống bảo thủ, hư hỏng, dự cảm về đổi mới…

Tuy nhiên, tôi có băn khoăn.

2- Những băn khoăn

Băn khoăn thứ nhất là tại sao Hồ Chí Minh không nhắc đến nhà nước, cải cách nhà nước mà chỉ nói chỉnh đốn Đảng. Đảng cầm quyền thì liên quan nhiều đến nhà nước, chỉnh đốn Đảng cầm quyền là tiền đề để chỉnh đối nhà nước, nhưng thật ra chưa phải trực tiếp là vấn đề nhà nước, hoặc lúc ấy vấn đề cải cách nhà nước chưa đặt ra.

Băn khoăn thứ hai là nói phát triển kinh tế, nhưng theo hướng và mô hình như thế nào? Vẫn như mô hình thời tập trung, bao cấp chăng? Đúng là lúc này Người chưa thể thấy được những vấn đề mà chỉ đến thời Đổi mới, Đảng và nhân dân ta mới nhận thức ra, cái gì lạc hậu và cái gì phải thay đổi và vươn tới trong lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực nhà nước.

Băn khoăn thứ ba là Ta thấy Hồ Chí Minh nêu lên vấn đề điện táng, hỏa táng và tự mình muốn thực hiện điều đó sau khi mất, phải chăng ngoài ý nghĩa sinh thái và tiết kiệm tiền bạc, phải chăng còn là Người muốn nêu gương, trong khi tập quán này còn hạn chế ở nước ta. Nhưng chúng ta không theo ý Bác mà lại thực hiện hình thức ướp di hài và làm lăng, với lý do riêng và có ý nghĩa riêng của nó. Thế thì hiện nay, chúng ta thực hiện chủ trương nhân rộng hình thức hỏa táng/ điện táng như thế nào?

Băn khoăn thứ tư: Trong khi nói về xây dựng nước VN mới ngoài mục tiêu hòa bình, thống nhất Hồ Chí Minh chỉ nhấn mạnh xây dựng Dân chủ và Giàu mạnh. Còn các mục tiêu khác như Tự do, Hạnh phúc thì không thấy Di chúc nhắc tới. Vậy thì dân chủ và tự do phải chăng là đồng nhất? Ta hay nói tự do dân chủ. Trong trường hợp này, tự do như quyền công dân lthì nó gắn liền với dân chủ. Nhưng quyền tự do độc lập của dân tộc và tự do cá nhân trong bản thân họ thì nó là tự do chứ không đơn giản chỉ thuộc phạm trù dân chủ như là quyền công dân. Do vậy không chỉ là quyền dân tộc, quyền công dân mà còn là quyền làm người, như quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Cho nên không chỉ là dân chủ, công bằng mà còn là tự do hạnh phúc là những mục tiêu lớn của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của chế độ mới do cách mạng ấy tạo ra và phát triển.

– Về hạnh phúc thì trong tư tưởng Hồ Chí Minh thường được đề cập tới. Nó là một mục tiêu lớn không chỉ hạnh phúc cá nhân, gia đình như trong văn kiện Đảng đại hội X khi nói về con người, mà ngày nay còn có phạm trù hạnh phúc xã hội, hạnh phúc quốc gia, như xây dựng nền kinh tế hạnh phúc, xây dựng xã hội hạnh phúc. Giàu mạnh là cần nhưng chưa đủ mà còn là tự do và hạnh phúc.

– Về dân chủ, ngày nay ta hay nói phát huy dân chủ XHCN, nhưng Hồ Chí Minh rất nhấn mạnh thực hành dân chủ rộng rãi, hoặc mở rộng dân chủ. Hơn nữa nếu không tiếp tục xây dựng, phát triển nền dân chủ mới theo hướng xã hội chủ nghĩa thì không thể nói phát huy và khó mà có được dân chủ XHCN, vì nền dân chủ ở VN còn hạn chế và thấp, nhiều cơ chế chưa thích hợp.

Về những “hạn chế” nói trên, có thể giải thích rằng, Hồ Chí Minh chỉ nhấn mạnh những mục tiêu cốt lõi nhất chăng?

– Cần nêu thêm một đề nữa là so với bản Di chúc mà BCH TW công bố chính thức với các bản bổ sung của Hồ Chí Minh thì thấy còn sót vấn đề gì quan trọng nhất. phải nó rằng bản Di chúc công bố chính thức đã bổ sung và sắp xếp theo lôgích và đảm bảo các ý tứ chính của Hồ Chí Minh rất thuyết phục. Nhưng có 4 ý quan trọng đang bị bỏ sót hay chưa chú ý:

1) là vấn đề chỉnh đốn lại Đảng (đây là vấn đề quan trọng bậc nhất);
2) bỏ thuế nông nghiêp một năm cho nông dân;
3) vấn đề đấu tranh chống lại nhũng gì cũ kỹ, hư hỏng, trong đó chú ý vấn đề sửa dổi chế độ giáo dục, tạo ra những cái mới tốt tươi, và phải dưạ vào sức mạnh nhân dân mới có thể giải quyết được.
4) vấn đề Hồ Chí Minh nói về hỏa táng và chôn cất như thế nào;

Có thể lúc ấy, những vấn đề này công bố chưa thích hợp, hoặc chúng ta chưa thấy hết ý nghĩa thực tiễn của nó, hoặc có nhận thức khác.

Dầu sao thì tất cả những vấn đề đó đã được công khái trong thời kỳ đổi mới (HCM toàn tập, tập 12) và được Trung ương giải thích.

3- Góc nhìn chủ nghĩa duy vật nhân văn và ý nghĩa lý luận

Chủ nghĩa duy vật nhân văn là lý luận triết học tổng quát, hoàn chỉnh nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, cơ cấu, hoạt động của con người và sự nghiệp giải phóng, phát triển con người, khắc phúc những quan niệm duy tâm, phiến diện, siêu hình và duy vật tầm thường, phản nhân văn về con người và sự nghiệp giải phóng phát triển con người tự do, toàn diện.

Tư tưởng Hồ Chí Minh hay nội dung trong Di chúc là sự quan tâm tới con người, tin tưởng ở con người, cá nhân, tầng lớp, giai cấp mà cả dân tộc, toàn dân với tình thương, lẽ phải và trách nhiệm, nhất là vấn đề dân sinh sau thời kỳ chiến tranh với nhiều hậu quả nặng nề…, của một Đảng cầm quyền, của những người cộng sản.

– Muốn vậy phải phát triển kinh tế và văn hóa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân cả về vật chất và tinh thần. Nghĩa là độc lập dân tộc phải vươn tới nội dung mới: tự do, dân chủ, giàu mạnh, công bằng và hạnh phúc cho mọi người.

– Để thực hiện nhiệm vụ đó phải đoàn kết từ trong Đảng ra ngoài xã hội, đoàn kết quốc tế, phải dựa vào sức mạnh nhân dân, thực hiện (thực hành) dân chủ rộng rãi; phải cả́i cách, đổi mới chống sự trì trệ, bảo thủ, hư hỏng và mở rộng tư do và dân chủ, phải xây dựng con người mới, lực lượng cách mạnh, nhất là thế hệ trẻ, phát triển và phát huy nhân tố con người.

– Đó là một sự thay đổi có tính cách mạng lâu dài, sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, phải tiếp tục cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, vừa dổi mới, cải cách và phát triển, quá độ và rút ngắn, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

– Mỗi người chủ động phát huy năng lực của mình, vừa cải tạo xã hội vừa cải tạo bản thân minh, vừa qua thực tiễn vừa qua giáo dục và tự giáo dục cả về chân – thiện – thể- mỹ.

– Sống là cống hiến, hiến thân, phấn đấu vì sự nghiệp độc lập, thống nhất của dân tộc, dân chủ và giàu mạnh của quốc gia và hạnh phúc của đồng bào. Chết là thanh thản trở về với thiên nhiên, với ông bà tổ tiên và các vị tiền bối cách mạng, và để lại tình thương yêu cho thế hệ trẻ và tinh thần, trí tuệ, đạo đức cho dân cho nước, tạo nên nguyên khí quốc gia, hồn thiêng sông núi, tiếp tục sống mãi với non sông đất nước, góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên. Đúng là “Sống là cho và chết cũng là cho” (Tố Hữu).

Tinh thần ấy là tinh thần của chủ nghĩa duy vật nhân văn, và nó có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn dài lâu trong sự nghiệp cách mạng và phát triển của dân tộc ta. Nói cách khác, đó là “tiếp cận nhân văn” (GS VS Phạm Minh Hạc) tất nhiên không chỉ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo mà là đối với sự phát triển nói chung.

4- Vấn đề thực hiện Di chúc

Như nói ở trên, việc nhận thức và công bố trọn vẹn Di chúc cũng là phải có thời gian, có khi do hoàn cảnh lịch sử chưa cho phép, hay nhận thức chưa thống nhất.

Chưa thấy rõ hay chưa thống nhất: 1) là vấn đề chỉnh đốn lại Đảng;2) bỏ thuế nông nghiệp một năm cho nông dân; 3) vấn đề đấu tranh chống lại nhũng gì cũ kỷ, hư hỏng, trong đó chú ý vấn đề “sửa đổi chế độ giáo dục”, tạo ra những cái mới tốt tươi, và nhất thiết phải dưạ vào sức mạnh nhân dân. 4) vấn đề Hồ Chí Minh nói về hỏa táng và chôn cất như thế nào. Riêng vấn đề cuối cùng này thì BCT có quyết định khác. Nhưng đây là vấn đề Hồ Chí Minh suy nghĩ rất kỹ và nhắc lại ít nhất là 2 lần và nói khá tỉ mỉ. Tuy nhiên con cháu của Bác mà cụ thể là BCT, vì nhiều lý do đã chọn một cách khác cũng rất có ý nghĩa.

40 năm thực hiện Di chúc cũng là một chặng đường không ngắn. Trong thời kỳ này chúng ta đã giành được 2 thắng lợi có tầm chiến lược và có ý nghĩa lịch sử to lớn là kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sự nghiệp đổi mới. Nhưng trong thời kỳ sau chiến tranh cũng đã phạm nhiều sai lầm duy ý chí và giáo điều. Trong thời kỳ đổi mới cũng có lúc chận chạp, diể lỡ cơ hội phát triển và cũng có những nhược đểm sai lầm và sai sót, chưa thật sự dựa vào phương pháp luận khoa học và biện chứng, chưa thật sự dựa vào dân, thực hiện và phát huy dân chủ, phát huy nội lực để giải quyết vấn đề.

Trong một cuộc hội thảo về Di chúc gần đây có ý kiến cho rằng, chúng ta chưa thực hiện nghiêm túc Di chúc của Hồ Chí Minh. Điều này có mặt đúng, nhưng nếu cho rằng chúng ta thực hiện ngược Di chúc thì phải là thêm. Có lẽ ý kiến này muốn nói về việc chúng ta không hỏa táng Bác, hay thực hiện chậm miễn thiếu nông nghiệp cho nông dân, chậm đỉnh đốn Đảng… Điều này là một thực tế, nhưng không nên/ không thể nói rằng thực hiện ngược lại mà nên hiệu thực hiện có phần khác đi và thực hiện chậm, có mặt thiếu nghiêm túc.

Tất nhiên, cần hiểu rằng thực hiện Di chúc là một quá trình, với các mức độ khác nhau. Trên nét lớn là chúng ta đã thực hiện từng nhiệm vụ mà HCM nhắc nhở trong Di chúc và có nhiều mặt sáng tạo do hoàn cảnh mới mà trước đó HCM cũng không thể hình dung ra và nhắc tới, nhất là về đường lối và sự nghiệp đổi mới.

Quả là nhiều vấn đề mới, nhiều vấn đề phức tạp trong bối cảnh thực huện kinh tế thị trường, đô thị hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như hội nhập quốc tế mà thời Hồ Chí Minh chưa thể hình dung và dự báo. Ngay vấn đề tham nhũng thì thời trước chỉ là tham ô nhỏ và chưa thật sự phổ biến, rộng lớn, mang tính hệ thống, chùm dây, kiểu mafia, đầy thế lực, rất phức tạp như bây giờ.

Cần nhấn mạnh vào sự gương mẫu, đề ra và thực thi chính sách đúng, cần có những thể chế, cơ chế thích hợp và thực hiện nghiêm chinh nhưng cũng cần lưu ý cơ sở, điều kiện khách quan, của quá trinh phát triển cho phép và có thể đến mức nào.

Qua nội dung cơ bản của Di chúc, chúng ta thấy nổi lên 2 loại quan điểm chính như: 1) về gắn độc lập dân tộc, dân chủ với việc chấn hưng, đổi mới, chống trí trệ, bảo thủ nhằm phát triển đất nước bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa; 2) quan điểm nhân dân, nhân văn, quan tâm đến số phận con người và phát huy cao độ tính chủ động của con người, dựa vào nhân dân, đoàn kết, nhất là trong đảng để cùng phát triển…

Từ đó, căn cứ vào tình hình hiện nay, cần tập trung giải quyết một số vấn dề như tiếp tục chỉnh đốn, đổi mói Đảng, nhất là: 1) về chống tham nhũng, củng cố và xây dựng đạo đức cách mạng nhất là trong đội ngũ cán bộ các cấp; 2) về đổi mới phương thức lãnh đạo và cầm quyền của Đảng; 3) mở rộng dân chủ, đặc biệt trong công tác cán bộ, tạo cơ chế thật sự phát hiện và sử dụng nhân tài, nhân lực chất lượng cao; 4) tăng cường giám sát và phản biện xã hội…

Hoặc 5) tập trong giải quyết các vấn đề của nông dân, công nhân lao động, nhất là các vấn đề an sinh xã hội, công bằng xã hội, trong quá trình phát triển, tránh gạt họ khỏi lợi ích của sự tăng trưởng kinh tế, tránh bất ổn và thiệt thòi cho họ đang rất nóng bỏng hiện nay; 6) kiên quyết cải cách giáo dục một cách cơ bản, toàn diện nhắm vào mục tiêu phát huy cao nhất năng lực, trí tuệ và nhân cách của con người, tạo nên nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và năng động ngày nay, vv và vv…

“Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

Đúng là hiểu rõ và thực hiện triệt để những tư tưởng của Hồ Chí Minh không phải dễ.

Chẳng hạn, hiện nay, dư luận và các nhà khoa học nêu vấn đề: thế nào là phát huy sức mạnh của nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân, sức mạnh dân chủ? Phải chăng sức mạnh đó chỉ là sức mạnh hành động thực tiễn mà còn là, trước hết là sức mạnh trí tuệ, ý chí, cảm xúc thông qua giám sát, phản biện xã hội, dư luận quần chúng, là dân ý, là dân chủ tham dự trong cả quyết sách và cả trong công tác cán bộ (tuyển chọn, bầu cử, bổ nhiệm, đánh giá). Không có xã hội dân sự phát triển có thực sự phát huy được sức mạnh ấy hay không, có dân chủ thật sự hay không?

Dân chúng nêu vấn đề: chính quyền của chúng ta có thật sự của dân, do dân vì dân và có thật sự thực hiện Di chúc, tư tưởng Hồ Chí Minh hay không, khi trong chính sách, luật pháp và các dự án còn nhiếu bất cập, sơ hở chậm được sửa đổi để cho những kẻ cơ hội trục lợi trong chính quyền lấy đất của dân và để họ đi đến bần cùng, nếu còn “nhẹ trên năng dưới”, không nghiêm trị họ triệt để, bình đẳng. Không thể “vơ đũa cả nắm”, nhưng không thể thỏa mãn với cách giải quyết hiện nay.

Quả thật là khi đào sâu vào từng vấn đề, chúng ta thấy còn nhiều bài toán chưa có lời giải thỏa đáng.

Như vậy, là cần tiếp tục nghiên cứu sâu và rà soát lại các tư tưởng quan trọng trong Di chúc nói riêng và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung để triệt để vận dụng sáng tạo và phát triển trong thời kỳ mới…

Tài liệu tham khảo:

1) Hồ Chí Minh , Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, tập 12, năm 2000
2) Hồ Bá Thâm, Chủ nghĩa duy vật nhân văn và định hướng nhân văn của sự phát triển xã hội, Nxb Văn hóa – thông tin, 2005; Phương pháp luận duy vật nhân văn nhận biết và ứng dụng, Nxb Văn hóa – thông tin, 2005;
3) Hồ Bá Thâm- Chủ nghĩa nhân văn Mác- Hồ Chí Minh và sự định hướng XHCN ở nuớc ta. Hoặc Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam – Hồ Chí Minh- một tầm nhìn triết học, trên Chungta,com.
4) Thư của PGS Thành Duy: Ngày 28/7/2009, Thành Duy <thanhduy1930@gmail.com> đã viết: “quan điểm của tôi rất nhất trí với anh về chủ nghĩa duy vật nhăn văn. Tôi cho rằng khái niệm về chủ nghia duy vật nhân văn của anh có nhiều sáng tạo, hay hơn dùng khái niệm chủ nghĩa nhân văn mới”
5) Tuanvietnam, những bài viết liên quan tới tạo động lực tiếp tục đổi mới (trực tuyến phỏng vấn các nhà – nguyên là lãnh đạo và chuyên gia).
6) Phạm Minh Hạc: Tiếp cận nhân văn trong giáo dục đào tạo, trên Chungta.com.
7) Hồ Bá Thâm, Dân chủ và giàu mạnh với vấn đề hạnh phúc trong tư tưởng và Di chúc HCM (Hội thảo về 40 năm thực hiện Di chúc Hồ Chí Minh với vấn đề Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, 5-2009). Xem Chungta.com
8).Thành Duy, Về chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, 2008
9) Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb. Lý luận chính trị, 2005.
10) Nguyễn Ngọc Giao, Xã hội dân sự, Trung Quốc và Việt Nam, Tạp chí Thời đại, Chungta.com, đăng 31/07/2009

Nguồn: chungta.com

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh sớm có tư tưởng tiên phong mở cửa

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng hóa quan hệ với các nước, thu hút đầu tư, thúc đẩy quan hệ buôn bán với nước ngoài.

BacHo copy (Small).jpg

Ngay từ đầu tháng 12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho những người đứng đầu các nước Anh, Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô và Liên hợp quốc nêu rõ chính sách của Việt Nam là thực hiện chính sách mở cửa và hợp tác, mời các nhà đầu tư, các nhà kỹ thuật nước ngoài vào kinh doanh tại Việt Nam, sẵn sàng mở các cảng, sân bay và đường giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế, chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, đưa ra nhiều sáng kiến hòa bình đồng thời đẩy mạnh hoạt động ngoại giao làm cho dư luận thế giới thấy được bản chất của tình hình Việt Nam, chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc và luận điệu hòa bình giả dối của chúng.

Trong thư gửi cho người đứng đầu nhà nước và chính phủ của gần 70 nước trên thế giới trình bày tình hình chiến tranh Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Trải qua hơn 20 năm chiến tranh, hơn ai hết nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình để xây dựng đời sống của mình. Hồ Chí Minh không đề cập hòa bình và chiến tranh một cách trừu tượng. Trong thư gửi Đại hội Nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình, Người nêu rõ phong trào hòa bình phải gắn liền với phong trào độc lập dân tộc.

Người luôn lấy hòa bình hữu nghị và đạo lý làm tiêu chí để phân biệt bạn thù, phân biệt dân tộc với bọn phản động, hiếu chiến trong chính phủ của đối phương, luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, tập hợp rộng rãi nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới chống lại các thế lực gây chiến tranh xâm lược. Đó là nét đặc trưng của “ngoại giao tâm công” Hồ Chí Minh. Thực hiện đường lối “ngoại giao tâm công” với tinh thần đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo, ta đã tranh thủ được một mặt trận rộng rãi nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược.

Đối với Người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta là kẻ thù… Phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn và phải làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết. Đối với nước Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh phân biệt nhân dân với các chính phủ cầm quyền, để tranh thủ lực lượng tiến bộ và thúc đẩy phong trào phản chiến của nhân dân các nước này, cô lập lực lượng hiếu chiến.

Hồ Chí Minh chủ trương tập hợp lực lượng rộng rãi. Theo Người, không có khối phương Đông và khối phương Tây, mà chỉ có những người yêu chuộng hòa bình và có những kẻ chủ trương chiến tranh.

Quan điểm về đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước dân chủ đã hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ rất sớm. Đây là một tư tưởng vượt thời đại xét trong bối cảnh phân cực sâu sắc của chính trị quốc tế từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc cũng thấm đượm trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh. Điểm then chốt để “neo” thế giới quan của Hồ Chí Minh vẫn là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc và đi cùng với nó là tư tưởng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Phân tích tình hình thế giới là để giúp Người nhìn ra mối dây liên hệ giữa Việt Nam với thế giới và đánh giá đặc điểm quan hệ quốc tế là để giúp tìm lối đi cho con thuyền cách mạng Việt Nam.

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng quan hệ, thu hút đầu tư, thúc đẩy buôn bán với nước ngoài. Đối với Người, khoa học là để phục vụ cách mạng và cụ thể hơn là phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng dân giàu nước mạnh. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh – vốn đã mạnh bởi cơ sở khoa học của nó – lại càng mạnh hơn vì đã dựa được vào sức mạnh của truyền thống dân tộc và giành được tính chính danh vì phục vụ lợi ích dân tộc.

Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định tiến lên chủ nghĩa xã hội phải từng bước phát triển kinh tế và văn hóa – xã hội; nâng cao đời sống vật chất của xã hội phải đồng thời với nâng cao đời sống tinh thần của con người; vấn đề không chỉ là sản xuất ra nhiều của cải, mà điều quan trọng hơn là chất lượng của cải phải ngày càng cao, và làm sao nâng cao được chất lượng sống cho nhân dân. Người cho rằng, chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mà dân không được hưởng hạnh phúc thì chủ nghĩa xã hội đó cũng không có nghĩa lý gì.

Trong hệ thống các yếu tố của phát triển, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến chủ thể của quá trình phát triển – Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của một đảng cộng sản chân chính, trí tuệ và sáng tạo là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố cuối cùng có tính quyết định đối với sự định hướng và xây dựng một xã hội mới. Bởi theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của nhân dân, của cách mạng; mục đích của Đảng không có gì khác là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng thật sự là mục tiêu của bất kỳ một triết lý phát triển nào nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền vững.

Ngày nay, với chủ trương xây dựng và chấn hưng đất nước, coi xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, thực chất là Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện triết lý phát triển theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là văn hoá đạo đức của Người.

Hơn nữa, với chủ trương tiến hành Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, rõ ràng Đảng ta đã thật sự thấm nhuần quan điểm phát triển xuất phát từ cách tiếp cận với văn hoá đạo đức, lấy đạo đức cách mạng làm gốc của người cách mạng chân chính.

Triết lý phát triển theo chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh gắn liền với bản chất chế độ ta, gắn liền với những thành tựu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang ra sức phấn đấu theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là triết lý hành động theo chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh chỉ có thể trở thành hiện thực khi mục tiêu cách mạng theo con đường Hồ Chí Minh đã chọn được thực hiện thành công ở nước ta.

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong ngôi nhà sàn ở chiến khu

Trong suốt quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập và hiện thực hóa hệ thống quan điểm về dân chủ trong tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực. Tư tưởng của Người về dân chủ trong chính trị đã trở thành một bộ phận văn hóa của dân tộc Việt Nam. Người xứng đáng với danh hiệu “Nhà thực hành dân chủ vĩ đại của thế kỷ XX”. Khi nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị, cho thấy nổi lên những nội dung lớn sau:

Một là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị xuất phát từ truyền thống văn hoá dân tộc, được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là sự kết hợp những tinh hoa giá trị dân chủ của văn hóa phương Đông và phương Tây, đặc biệt là lý tưởng giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội, giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hai là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị được thể hiện ở việc khẳng định quyền lực của nhân dân trong hiến pháp và pháp luật; đảm bảo tổ chức nhà nước dân chủ của dân, do dân và vì dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(1). Quan niệm địa vị cao nhất là dân được Hồ Chí Minh giải thích rất ngắn gọn “dân là chủ”, mọi quyền hành và lực lượng là của nhân dân, mọi công việc đều do dân và do đó thành quả của nền dân chủ mới thuộc về đại đa số quần chúng nhân dân chứ không phải của bất cứ một số ít dân cư nào. Trong Chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh đã đưa ra những nội dung cơ bản về chế độ dân chủ cộng hòa cho nước ta sau khi giành chính quyền. Nhờ hướng đến mục tiêu dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thức tỉnh quần chúng nhân dân làm nên thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám.

Vấn đề làm chủ của nhân dân, của các giai tầng trong xã hội được pháp điển hóa trong các bản Hiến pháp (1946 và 1959). Hiến pháp năm 1946 bảo đảm “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam” (Điều 12), “Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay” (Điều 13). Hiến pháp năm 1946 còn tuyên bố: “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều 22), Ban Thường vụ Nghị viện có quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ” (Điều 36)…

Quan điểm “quyền lực thuộc về nhân dân” còn được Hồ Chí Minh nói rõ trong bản Hiến pháp năm 1959. Điều 6 của bản Hiến pháp này nêu rõ: “Tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Tất cả nhân viên nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”.

Những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng hiến pháp dân chủ, xác định quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn là những quan điểm căn bản cho việc xây dựng hệ thống chính trị dân chủ ở nước ta, thể hiện qua việc xây dựng Nhà nước dân chủ của dân, do dân và vì dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước của dân là nhà nước trong đó dân là chủ; dân là người có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước, dân tộc. Người khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(2).

Nhà nước do dân nghĩa là dân làm chủ nhà nước, nhà nước phải tin dân và dựa vào dân. Nội dung quyền làm chủ nhà nước của dân được thể hiện: Nhân dân là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương thông qua thực hiện chế độ tổng tuyển cử phổ thông. Nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử, đồng thời có quyền thực hiện chế độ bãi miễn. Người viết: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(3). Dân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp trí tuệ, sức người, sức của để tổ chức, xây dựng, bảo vệ và phát triển nhà nước. Đồng thời, nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý nhà nước, phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đại biểu do mình cử ra.

Nhà nước vì dân, theo Hồ Chí Minh, là nhà nước phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo một mục tiêu cao nhất là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân đúng với phương châm “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh”. Nhà nước phải chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân, thoả mãn các nhu cầu thiết yếu nhất: làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành, làm cho dân có điều kiện khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ…

Bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được Đại hội X xác định rất rõ: “Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước”(4).

Ba là. Để phát huy dân chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phải xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam nhằm làm cho hoạt động của Nhà nước đem lại hiệu quả xã hội thực sự. Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà mọi người được tôn trọng, dân chủ được mở rộng, người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp quyền là nhà nước phải thể hiện được việc điều hành và quản lý xã hội bằng hệ thống luật.

Ngày nay, theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lợi nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; hoàn thiện hệ thống, xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Bốn là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị có giá trị lý luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ. Quán triệt những nội dung của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng đã kế thừa, vận dụng và không ngừng phát triển sáng tạo tư tưởng của Người nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là mục tiêu xuyên suốt, mục tiêu cao cả và là điểm tựa về đường lối, chủ trương, chính sách để đoàn kết toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện mục tiêu xuyên suốt đó cũng chính là vận dụng và phát triển những kiến giải sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ.

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 6, tr. 515.
2. Sđd, t. 7, tr. 218.
3. Sđd, t. 5, tr. 60.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 44.

Nguyễn Văn Quang
Khoa Giáo dục Chính trị – Trường Đại học Sư phạm Huế

xaydungdang.org.vn

Về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta. Trong công tác xây dựng đảng, Người đặc biệt coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh gọi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng đã đề ra.

Hồ Chí Minh cho rằng dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau trong một quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dân chủ vừa là bản chất, vừa là động lực, mục tiêu của xã hội mới mà Đảng ta lãnh đạo nhân dân xây dựng nên. Dân chủ trong Đảng là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề trong sinh hoạt đảng để góp phần thống nhất về quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo, chỉ đạo; để xây dựng nghị quyết, đưa được nghị quyết vào cuộc sống. Vì vậy, dân chủ phải đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung. Phải tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, dân chủ hình thức. Những kiểu dân chủ như thế là rất nguy hại, làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng.

Về tập trung, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Đảng phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động. Biểu hiện của tập trung là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên… Tập trung trên cơ sở phát huy dân chủ chứ không phải tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền.

Hiểu và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, thống nhất trong tư tưởng và hành động “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”(1).

Tập trung dân chủ phải được quán triệt và thực hiện trong từng đảng viên, trong các tổ chức đảng để Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lịch sử của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, cùng với nguyên tắc tập trung dân chủ, Người còn đề cập tới nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trên phương diện lãnh đạo, quản lý.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”(2). Theo Hồ Chí Minh thì một người dù tài giỏi đến mấy cũng không thể nào thấy hết mọi mặt của một vấn đề, càng không thể thấy hết được mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. Vì vậy, để lãnh đạo được sát, đúng cần phải có sự tham gia ý kiến của nhiều người. Nhiều người thì nhiều kiến thức, người thấy mặt này, người thấy mặt kia, do đó hiểu được toàn diện, mọi vấn đề. Khi tập thể đã bàn bạc kĩ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì giao cho một người phụ trách chính. Làm như vậy thì kế hoạch mới được thực hiện đầy đủ, tránh dựa dẫm, chồng chéo nhau, công việc mới đạt kết quả cao. Khi đánh giá công việc mới có cơ sở để biểu dương những người làm giỏi, phê bình những người làm kém, mới xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân. “Lãnh đạo mà không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không có cá nhân thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3).

Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay luôn luôn tuân thủ và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động và sinh hoạt đảng. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta khi mới 15 tuổi với 5.000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân ta làm Cách mạng Tháng Tám thành công. Cùng với sức mạnh đó Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên những chiến công hiển hách đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, và hiện nay đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn hiểu rõ bản chất và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng chính là làm cho Đảng ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trung thành và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, góp phần làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay.

………………………………………………….

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr.553.
(2), (3). Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr.505.
Nguyễn Khánh Ly
Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ An

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh và sự lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười – từ góc nhìn văn hóa

Trong sự tiến triển của lịch sử loài người, thang giá trị cao nhất là sự giải phóng dân tộc và con người. Con đường cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn theo ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, đã ngời lên những biểu hiện văn hóa: vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc cho con người Việt Nam, vì hòa bình và hữu nghị giữa các nước. Sự lựa chọn đó đang được nhân dân ta tiếp tục thực hiện thắng lợi trong những điều kiện lịch sử mới.

Picture1.jpg

1. Với vị thế địa kinh tế – chính trị của đất nước, qua hàng ngàn năm lịch sử, đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã đắp xây nên một truyền thống văn hóa tôn vinh những giá trị hướng tới và thực hiện sự giải phóng và phát triển của dân tộc và con người Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước – nhân văn là một truyền thống kép trong văn hóa Việt Nam, luôn tôn vinh những giá trị giải phóng và phát triển dân tộc đi đôi với giải phóng và phát triển con người phù hợp với sự tiến hóa của dân tộc và nhân loại.

Đây chính là bí quyết thắng lợi trong bảo tồn, phát triển dân tộc của ông cha ta và cũng là bí quyết thành công của các nhà chính trị nước ta trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam: thắng lợi của tất cả những cuộc đấu tranh bảo tồn nền độc lập dân tộc, xây dựng chế độ mới đều phải gắn liền với sự giải phóng con người Việt Nam và ngược lại. Giá trị của dân tộc gắn chặt với những giá trị về con người phải được hiện hữu trong tất cả chiến lược bảo tồn dân tộc và phục hưng đất nước.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân phương Tây, khát vọng giải phóng khỏi áp bức, bóc lột dân tộc và con người Việt Nam cực kỳ mạnh mẽ, đã làm nổ ra hàng loạt cuộc khởi nghĩa và thúc đẩy nhiều nhà cách mạng Việt Nam tìm tòi con đường cứu nước cứu dân.

Với ý chí cứu nước, cứu dân, hành trang lên đường của các nhà cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh, không có gì hơn là truyền thống văn hóa dân tộc với những giá trị đã làm nên bí quyết của cha ông ta trong bảo tồn dân tộc cũng như thành công của các nhà chính trị Việt Nam trước đó. Họ đều nhận thấy những hạn chế của phương thức cứu nước cũ và đều vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, đi ra nước ngoài hy vọng tìm ra con đường mới cứu nước, cứu dân. Việc ra đi tìm đường cứu nước đó, có động lực thúc đẩy của văn hóa truyền thống và đáp ứng sự đòi hỏi của thực tiễn Việt Nam.

Tuy nhiên, con đường mà các nhà cách mạng tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu…thâu nhận là mới với lịch sử Việt Nam, với dân tộc ta, nhưng đã lỗi thời trong sự phát triển của nhân loại. Các cuộc cách mạng có giá trị lịch sử to lớn nhưng không tương thích với giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam về dân tộc và con người, đã bị chính những giá trị truyền thống này vượt qua. Đó là sự “không đến nơi”, như Hồ Chí Minh sau này đã viết về cách mạng Mỹ, Anh, Pháp – các cuộc cách mạng tư sản điển hình nhất lúc đó. Sự không tương thích về các giá trị văn hóa là điều giải thích căn cốt nhất cho việc khó thâm nhập và sự thất bại của con đường cách mạng tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ. Giá trị lớn nhất có thể kể tới của các cuộc cách mạng tư sản khi vào Việt Nam là nó cũng tạo ra một phong trào dân tộc bùng phát, nuôi dưỡng liên tục ngọn lửa cách mạng cứu nước ở nước ta, tạo cơ sở cho việc thâm nhập của con đường cách mạng – với những giá trị mới – tương thích với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Đó là sự chối từ của văn hóa Việt đối với những giá trị được diễn đạt rất hay nhưng vẫn ẩn chứa nội dung áp bức dân tộc và con người của cách mạng tư sản. Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam vẫn tiếp nhận một số giá trị chọn lọc mà nhân loại có được qua các cuộc cách mạng này.

Đây cũng là câu trả lời tại sao, sau gần mười năm gian khổ đi khắp thế giới tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh vẫn từ chối con đường cách mạng tư sản.

2. Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh về Pháp. Theo như Người viết: “Khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra ở nước Nga, tôi sống ở Pháp. Lúc đó, tôi chưa hiểu ý nghĩa của cuộc Cách mạng Nga. Trình độ tiếng Pháp của tôi còn kém và nhận thức chính trị của tôi còn bị hạn chế. Tôi mới chỉ là một người yêu nước có tinh thần cách mạng và một người chống chủ nghĩa thực dân…”(1).

Hồ Chí Minh cũng có nhận xét chung rằng, đến “Năm 1919, nhân dân thuộc địa chưa biết cuộc cách mạng Nga, biết được một ít thì lại bị tuyên truyền của đế quốc xuyên tạc… Do đó tất cả đều bị bài hát tự do của tổng thống Uyn-xơn mê hoặc. Cũng như dân tộc Triều Tiên, Ai Cập, Xy-ri và các dân tộc bị áp bức khác, một số những người quốc gia Việt Nam trẻ tuổi gửi một bản yêu cầu cho Hội nghị hoà bình ở Véc-xây. Họ nhận được những bức thư rất hay của các phái đoàn hứa sẽ “chú ý xem xét”. Thế là hết”(2). Và “những nhà cách mạng cuồng nhiệt theo chủ nghĩa Uyn-xơn”, theo Hồ Chí Minh, đã bị hoà ước Véc-xây “như gáo nước lạnh giội lên đầu” (3).

Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đã giúp cho Hồ Chí Minh quan sát thực tiễn và thấy rõ các cuộc cách mạng tư sản là “không đến nơi” và phát hiện thấy “sự mê hoặc của chủ nghĩa tự do Uyn-xơn” và sự hứa hẹn của các nước đế quốc là “trò lừa bịp”- như Người viết trong tác phẩm Đường cách mệnh – cũng như khi thấy rằng “trong tất cả những lời phát biểu” của các đại biểu của Quốc tế thứ hai, “đã ra sức lảng tránh vấn đề vận mệnh của các dân tộc thuộc địa”, Hồ Chí Minh đã đoạn tuyệt con đường cách mạng tư sản, đoạn tuyệt ảnh hưởng của Quốc tế hai để hướng tới ánh sáng mới, con đường cách mạng mới, vì giải phóng dân tộc và con người của Cách mạng Tháng Mười.

Hồ Chí Minh đã viết rằng, “Những người vô sản Pháp đã giúp”(4) Người hiểu rõ ý nghĩa vĩ đại của những sự kiện lịch sử diễn ra ở nước Nga, thấy rõ “cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người”(5) và chỉ ra con đường đúng đắn cho những người cách mạng của các dân tộc bị áp bức. Mặc dầu vậy, như Người viết, phải “nhờ kết quả thử nghiệm cũng như nhờ sự nghiên cứu sâu sắc” những nhà cách mạng này mới “đến với chủ nghĩa Mác hoặc như bản thân họ gọi là chủ nghĩa Lê-nin”(6).

Những kết quả thử nghiệm và những nghiên cứu sâu sắc ấy là gì để những nhà cách mạng ở các nước thuộc địa trong đó có Hồ Chí Minh lựa chọn chủ nghĩa Lê-nin và con đường Cách mạng Tháng Mười?

Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cách mạng Tháng Mười với kết quả của nó “đã đánh dấu việc mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người”, kỷ nguyên này được xác định với những biểu hiện sau đây:

Một là, “đã mở đường đi đến những thắng lợi mới của giai cấp công nhân trong cuộc sống xã hội”(7).

Hai là, đã xóa bỏ đi hiện tượng “quần chúng lao động là những người sáng tạo ra tất cả mọi của cải thì bị dìm trong đói khổ và ngu dốt, hai cái đó là số phận khốc hại và lâu đời của đại bộ phận loài người. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, nhân dân lao động đã bắt tay vào xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa không có bóc lột và áp bức dân tộc”(8).

Ba là, “đã chứng tỏ có khả năng lật đổ nền chuyên chính của bọn bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội bảo đảm cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng”(9).

Bốn là, “đã mở ra thời đại của một chính sách ngoại giao mới, chính sách hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”(10).

Với sự nhìn nhận của Hồ Chí Minh, bên cạnh thắng lợi có ý nghĩa vạch thời đại đã được chỉ rõ trên đây, Cách mạng Tháng Mười còn “đem lại cho nhân dân tất cả các dân tộc quyền tự quyết và những phương tiện thực tế để thực hiện quyền đó”,.. đã “tạo điều kiện cho sự liên minh tự nguyện giữa các dân tộc tự do trên cơ sở bình đẳng hoàn toàn về quyền lợi”(11), “làm cho các dân tộc thuộc địa – từ trước đến nay rời rạc với nhau – hiểu biết nhau, và đoàn kết với nhau, do đó đặt cơ sở cho một khối liên hợp tương lai giữa các nước phương Đông, khối liên hợp đó là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”, “làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản các nước thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác đó mới có thể bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng” (12).

Với vị trí, vai trò đó, như Hồ Chí Minh viết: Cách mạng Tháng Mười “đã mở một thời đại mới của lịch sử loài người, thời đại công nông đấu tranh giành quyền làm chủ vận mạng của mình; thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành lấy tự do độc lập; thời đại thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc; thời đại suy sụp và tan rã của chủ nghĩa đế quốc, thực dân; thời đại mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thành lý trí và lương tâm của mọi người tiến bộ trên thế giới”.(13)

Nhờ nghiên cứu kết quả thử nghiệm và nghiên cứu sâu sắc về lý luận cũng như “thích tham dự vào các cuộc tranh luận sôi nổi” trong Đảng Xã hội Pháp, “thích đọc các tác phẩm của V.I. Lê-nin về các vấn đề thuộc địa” mà tại Đại hội Tua năm 1920, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba, khẳng định sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó là sự lựa chọn lý tính, vì như Người viết: “Lúc đó, tôi đã nắm vững tiếng Pháp và đã có thể tiến hành tự học chính trị một cách sâu sắc và có thể hiểu rõ các vấn đề quốc tế”(14).

3. Không thâu nhận học thuyết và mô hình cách mạng tư sản, không đi theo con đường của Quốc tế hai, nhưng Hồ Chí Minh lại nhanh chóng tán thành Quốc tế ba, tiếp nhận con đường Cách mạng Tháng Mười, con đường cách mạng vô sản vì giá trị thực tiễn của cuộc cách mạng này.

Sự lựa chọn con đường cách mạng của Hồ Chí Minh chính là sự lựa chọn của chính văn hóa truyền thống Việt Nam, là sự tương thích giữa giá trị văn hóa dân tộc với các giá trị mới của nhân loại mà cuộc cách mạng vô sản theo con đường của Cách mạng Tháng Mười đem lại về giải phóng dân tộc và giải phóng con người, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Sự nhìn nhận của Hồ Chí Minh về giá trị của Cách mạng Tháng Mười như đã trình bày trên đây và sự lựa chọn của Người dựa trên nền tảng văn hóa Việt Nam, nhu cầu thực tiễn của nhân dân Việt Nam theo thời đại mới được vạch ra sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười làm cho cách mạng Việt Nam có đủ yếu tố thiên thời – địa lợi – nhân hòa.

Đó là sự phù hợp với sự tiến hóa của thời đại mới: giải phóng dân tộc và con người trên một cấp độ mới cao hơn – là cơ sở tạo ra sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và thời đại (thiên thời).

Đó là sự đáp ứng được giá trị văn hóa và nhu cầu của dân tộc Việt Nam nên được nhân dân Việt Nam nhanh chóng tiếp nhận, đi theo, tạo cơ sở cho hình thành tối đa lực lượng đoàn kết dân tộc để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới vì con người (địa lợi).

Đó là sự phù hợp với sự phát triển của văn minh nhân loại, đáp ứng yêu cầu thường trực của các dân tộc về vấn đề giải phóng dân tộc và con người, tạo ra cơ sở cho sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh cho khát vọng độc lập dân tộc và vì tự do – hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa – đó là độ cao vô cùng của thế và sức mạnh vô tận của lực cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam (nhân hòa).

Lựa chọn con đường cách mạng là lựa chọn con đường phát triển của dân tộc, của đất nước Việt Nam. Tính đúng đắn của sự lựa chọn con đường cách mạng phụ thuộc vào sự phù hợp với văn hóa và đòi hỏi thực tế của dân tộc và chỉ khi đã được dân tộc Việt Nam tiếp nhận, đồng thời nó phải phù hợp với trình độ phát triển mới và xu thế tiến lên của loài người và được biểu hiện bằng sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Bởi vậy, sự lựa chọn con đường cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh theo con đường của Cách mạng Tháng Mười là tất yếu và đúng đắn.

Lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, nhưng ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cần phải vận dụng, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam” để hoạch định con đường cách mạng phù hợp với điều kiện Việt Nam và thời đại mới và chỉ có như vậy mới đáp ứng được sự phù hợp với yêu cầu về văn hóa và thực tiễn của dân tộc.

Từ năm 1924, khi trả lời phỏng vấn báo Unita (I-ta-li-a), Người đã nói: “chúng tôi tiếp tục đi theo con đường cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được”(15).

Sau này, Người viết: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần” (16).

Xuất phát từ điều kiện thiết thực của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vạch ra Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ ra con đường cách mạng nước ta là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(17). Sau này, Người phân tích rõ rằng: “Tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”(18).

Với con đường đó, cách mạng Việt Nam đã thắng lợi và như Hồ Chí Minh viết: “con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga”(19).

Con đường cách mạng vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam, vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc vẫn là con đường văn hóa nhất và mãi là con đường thắng lợi của cách mạng nước ta.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t 8, tr 440
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 33 – 34
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 390
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 440
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 558
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 390
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 558
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 559
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 560
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 560
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 565-566
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t 1, tr 302
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 635
(14) Hồ Chí Minh: Sđd, t 8, tr 441
(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t 1, 482
(16) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 209
(17) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 1
(18) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 209
(19) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 495

Phạm Hồng Chương
PGS.TS, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

hochiminhhoc.com

Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam, một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Quá trình hình thành tư tưởng về vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Như mọi người đều thấy rõ, trước khi học thuyết Mác – Lênin được truyền bá vào Việt Nam thì các phong trào yêu nước của người Việt Nam chống thực dân Pháp liên tục nổ ra, nhưng kết cục đều thất bại. Nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho các phong trào đó thất bại chính là do bế tắc về đường lối, mặc dù các bậc lãnh tụ của những phong trào yêu nước ấy đã dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp của mình, nhưng do họ không nhận thức được xu thế của thời đại, nên không thấy được giai cấp trung tâm của thời đại lúc này là giai cấp công nhân – giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất mới, một lực lượng tiến bộ xã hội. Do đó, mục tiêu đi tới của những phong trào ấy không phản ánh đúng xu thế vận động của lịch sử và thời đại, nên không thể đem lại kết quả và triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội Việt Nam.

Trước yêu cầu bức xúc của vấn đề giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. ”Công lao to lớn đầu tiên của Bác đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam là đã tìm ra con đường cứu nước, khai phá con đường giải phóng dân tộc và các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, qua khảo sát thực tế ở các nước trên các châu lục Âu, Phi, Mỹ và ngay cả trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra nhận xét: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc mọi sự đau khổ của công nhân, nông dân lao động ở cả “chính quốc” cũng như ở thuộc địa. Nghiên cứu các cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ (1776); Pháp (1789), Nguyễn Ái Quốc nhận thấy các cuộc cách mạng này tuy nêu khẩu hiệu ”tự do”, ”bình đẳng”, nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng thực sự cho quần chúng lao động. Người viết: Tiếng là cộng hoà, dân chủ kì thực trong thì nó bóc lột công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Tuy khâm phục các cuộc cách mạng ấy, nhưng Nguyên Ái Quốc cho rằng đó là cách mạng chưa đến nơi. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động đấu tranh trong phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức, phong trào giải phóng giai cấp công nhân ở các nước tư bản. Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với cách mạng Tháng Mười Nga, đến với V.I. Lênin; như một tất yếu lịch sử. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Đặc biệt, sau khi đọc ”Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ hơn con đường đúng đắn mà cách mạng Việt Nam sẽ trải qua. Người khẳng định: ”Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”; rằng: ”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Kết luận trên đây của Nguyễn Ái Quốc là sự khẳng định một hướng đi mới, nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng. Vì vậy, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN. Người chỉ rõ: ”Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã đấu tranh và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, bền bỉ chống các quan điểm không đúng về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đã phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay từ khi hoạt động trong phong trào công nhân ở Pháp, Người đã nhận thấy một hố sâu ngăn cách giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động ”chính quốc” với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc địa. Đó là chủ nghĩa sô-vanh nước lớn của các dân tộc đi thống trị và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đối với các dân tộc bị thống trị.

Trong Đại hội Tua, thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920), Nguyễn Ái Quốc đã kêu gọi những người xã hội ủng hộ phong trào giải phóng ở các thuộc địa và lên án phái nghị viện đi theo đường lối cơ hội của Đệ nhị quốc tế, theo đuổi bọn thực dân phản động, từ chối yêu cầu giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Trong nhiều tham luận tại các Đại hội quốc tế và các bài viết, Nguyễn Ái Quốc đã bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, phê bình một cách kiên quyết và chân thành những sai lầm, khuyết điểm của các Đảng Cộng sản chính quốc. Các Đảng Cộng sản này, tuy thừa nhận 21 điều kiện của Quốc tế cộng sản, trong đó Điều 8 quy định các Đảng Cộng sản ở chính quốc phải ủng hộ và hoạt động một cách thiết thực giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc; nhưng trên thực tế hoạt động rất ít, do không nhận thức đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập, trong ”Chính cương vắn tắt” do Nguyên Ái Quốc khởi thảo đã khẳng định: ”Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy là, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng XHCN. Cuộc cách mạng này kết hợp trong bản thân nó tiến trình của hai sự nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân và giải phóng giai cấp khỏi ách áp bức bóc lột. Vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân – điều đó phù hợp với xu thế thời đại và lợi ích của các giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc. Sức mạnh đi tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam không phải là cái gì khác mà là mục tiêu dân tộc luôn thống nhất với mục tiêu dân chủ trên cơ sở định hướng XHCN. Đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân triệt để, tạo tiền đề cho bước chuyển sang thời kỳ quá độ lên CNXH; tức là, cách mạng XHCN là bước kế tiếp ngay khi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi và giữa hai cuộc cách mạng này không có một bức tường nào ngăn cách. Đây là quan điểm hết sức căn bản của tư tưởng Hồ Chí Minh: chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện để tiến lên CNXH và chỉ có cách mạng XHCN mới giữ vững được thành quả cách mạng giải phóng dân tộc, mới mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân, mới có độc lập dân tộc thực sự.

Như chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó, Người đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, trong sự thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Bởi vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đúng như Ph. Ăng-Ghen đã nói: Những tư tưởng dân tộc chân chính… đồng thời cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính. Sự phát triển tự tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ đạo sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong sự thúc đẩy lẫn nhau giữa dân tộc và giai cấp, ý thức giác ngộ về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất, cũng là động lực chủ yếu để Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tiếp thu quan điểm mác-xít về giai cấp. Đó chính là nhân tố đảm bảo tính khoa học và cách mạng cho sự phát triển tinh thần dân tộc đúng đắn ở người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp, gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình đấu tranh cách mạng: giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản không phải chỉ là chứng minh cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn là sự phát triển sáng tạo và có giá trị định hướng rất cơ bản. Qua thực tiễn đấu tranh và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, luôn bám sát đặc điểm thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm các nước khác, Hồ Chí Minh đã có những giải pháp đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; đó cũng chính là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng nước ta trong suốt bảy thập kỷ qua. Bởi lẽ:

Một là, cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay muốn thành công triệt để nhất định phải đi theo quỹ đạo và là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng đó phải đưa vào lực lượng của nhân dân, nòng cốt là liên minh công nông, do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ, nếu chỉ đưa vào lực lượng của riêng giai cấp công nhân, thậm chí cả giai cấp nông dân là hoàn toàn không đủ, mà theo Người, chỉ có phát động cả dân tộc tham gia mới biến sức mạnh dân tộc thành lực lượng vô địch.

Hai là, cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc (mâu thuẫn địa chủ – nông dân, mâu thuẫn tư sản – vô sản) không tách rời cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với các thế lực đế quốc xâm lược. Ở giai đoạn đầu của cách mạng, cần đặt vấn đề dân tộc, độc lập dân tộc lên trên hết. ”Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. ”Chính lập trường và lợi ích giai cấp công nhân đòi hỏi trước hết phải giải phóng dân tộc”. Ở đây rõ ràng cái giai cấp được biểu hiện ở cái dân tộc, cái dân tộc được giải quyết theo lập trường giai cấp công nhân, chứ đâu phải là “hy sinh cái nọ cho cái kia” như có người từng cố chứng minh.

Ba là, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở chính quốc như ”hai cánh của một con chim”, phải thực hiện sự liên minh giữa vô sản ở chính quốc với vô sản và nhân dân các nước thuộc địa thì cách mạng mới thắng lợi. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không phụ thuộc một chiều vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có thể và phải chủ động tiến lên giành thắng lợi, thậm chí có thể giành thắng lợi trước, từ đó góp phần tích cực hỗ trợ cho cách mạng ở các nước tư bản. Đó là nhận định hết sức đúng đắn, táo bạo và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đáng tiếc là có lúc quan điểm này của Hồ Chí Minh không được một số người, trong đó có một vài người của Quốc tế cộng sản cũng không thừa nhận.

Bốn là, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị ngoại bang, khỏi chế độ thuộc địa, dân tộc vừa được giải phóng phải quá độ lên CNXH và trong bước quá độ ấy phải tự mình tìm tòi con đường, phương thức riêng phù hợp với tình hình và đặc điểm đất nước, tránh giáo điều, dập khuôn những hình thức, bước đi, biện pháp của nước khác.

Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hố Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng hết sức cấp thiết. Bởi vì, thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ xây dựng CNXH, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hoà, sức mạnh dân tộc không được phát huy như một trong những động lực chủ yếu nhất. Nhưng ngay sau đó, Đảng ta đã kịp thời khắc phục có hiệu quả cả về phương điện nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn về vấn đề này.

Tuy thế, trong những năm gần đây, ở nước ta đã nảy sinh ý kiến cho rằng: mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp luận chứng trong chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một số nước khác nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối, khi nào Đảng nhấn mạnh vấn đề giai cấp thì đều dẫn đến sai lầm. Từ đó, họ đề xuất ý kiến theo hướng nhấn mạnh một chiều vấn đề dân tộc, tách vấn đề dân tộc khỏi vấn đề giai cấp, hạ thấp ý nghĩa quan trọng, bức thiết của vấn đề giai cấp, không lấy quan điểm giai cấp làm quan điểm cơ sở lập trường để xem xét, giải quyết vấn đề dân tộc. Theo họ, nước ta hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết những vấn đề dân tộc, còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra. Mục tiêu ”dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được họ đồng tình, thưng giải thích theo hướng phi giai cấp, nghĩa là không nhất thiết phải theo định hướng XHCN. Thực chất là họ bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân. Quan điểm nêu trên đi ngược với con đường mà Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, và rõ ràng là không phù hợp với thực tiễn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đó đã chỉ ra rằng, trong bất cứ giai đoạn nào, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đều phải kết hợp nhuần nhuyễn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc; trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn luốn gắn bó hữu cơ với lý tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nền độc lập thật sự của dân tộc; tự do, sự giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể đạt được một cách bền vững trong sự nghiệp cách mạng theo mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân. Bởi vậy, ngay từ khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định rõ: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là quan niệm đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình thức; bước đi và biện pháp phù hợp. Nói cách khác, giữ vững định hướng XHCN là nguyên tắc cơ bản của quá trình đổi mới.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện, mà thực chất là nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong công cuộc xây đựng CNXH ở nước ta.

Văn kiện của Đảng ta tại Đại hội lần thứ IX đã xác định rõ: “mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây đựng và bảo vệ Tổ quốc được sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát triển mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp.

Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm bằng thực tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn trong những khó khăn của hoà bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh đang thể hiện giá trị trường tồn nhất là trong bối cảnh các dân tộc đang đứng trước những thách thức cực kì nguy hiểm khi các thế lực hiếu chiến dựa vào tiềm lực quân sự hiện đại tiến hành chiến tranh xâm lược những nước có chủ quyền, bất chấp luật pháp.

Điều đó càng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình mới, làm cơ sở vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, để đưa dân tộc ta vượt qua mọi thử thách, vững bước trong quá trình xây dựng một đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

GS.VS Nguyễn Duy Quý
(Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân Việt Nam – di sản có ý nghĩa cách mạng trong lĩnh vực quân sự

Cách đây 62 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đáp lại Lời kêu gọi của Người, toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt gái, trai, già, trẻ, dân tộc, đảng phái, tôn giáo đã đứng lên, không sợ hy sinh, không quản gian khổ, với mọi thứ vũ khí có trong tay, quyết giành lại độc lập cho dân tộc. Với chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc to, Việt Nam đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực quân sự. Đó là chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, mà tác động của nó còn ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến nghệ thuật quân sự thế giới trong thế kỷ XXI.

203.jpgBác Hồ trong chiến dịch biên giới 1950 Ảnh: Tuấn Anh

Trong hơn một thập niên vừa qua, trên thế giới có hàng loạt bài viết, chuyên đề, các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học cấp quốc gia và quốc tế bàn về chủ đề cuộc cách mạng mới trong quân sự. Nhiều chuyên gia quân sự trên thế giới cho rằng, cách mạng mới trong quân sự không chỉ xuất phát từ các thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự mà còn là sự phát triển có tính cách mạng trong nghệ thuật quân sự.

Xét về phương diện đó, với chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc to, Việt Nam đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự trong quân sự. Đó là chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh mà tác động của nó còn ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến nghệ thuật quân sự thế giới trong thế kỷ XXI.

Nguồn gốc và cơ sở quan trọng nhất của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại mới là tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng ta, kế thừa, phát triển học thuyết quân sự Mác – Lê-nin, một học thuyết mang tính tổng hợp, coi sức mạnh quân sự gắn liền với chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và kỹ thuật v.v..

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tài tình học thuyết quân sự Mác – Lê-nin vào điều kiện và hoàn cảnh cách mạng Việt Nam. Những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, trên những nét khái quát, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau.

Đảng lãnh đạo cách mạng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc đánh thắng kẻ thù xâm lược

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh cứu nước phải là sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của cả dân tộc. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt và tầm nhìn xa, Đảng ta đã đưa ra ba quyết định có ý nghĩa lịch sử. Một là, quyết định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và kêu gọi cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hai là, quyết định kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến chống Pháp, đưa cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Pháp đến thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ba là, quyết định kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến chống Mỹ, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

225.jpgChiến tranh toàn dân toàn diện

Muốn đánh thắng những kẻ địch hung bạo, mạnh hơn ta gấp bội về kinh tế, quân sự, khoa học và công nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương phải tiến hành chiến tranh toàn diện, trong đó mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già trẻ, gái trai, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ đều phải trở thành chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ quy luật tất yếu: bảo vệ đất nước luôn luôn gắn liền với xây dựng đất nước, động viên toàn dân kháng chiến luôn luôn đi đôi với bồi bổ sức dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trường thực hiện kháng chiến toàn diện bằng sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, lấy đấu tranh quân sự là chủ chốt, là trực tiếp quyết định.

Gắn chặt tiến tuyến với hậu phương

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa tiền tuyến với hậu phương. Trong khi nêu khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, Đảng ta đồng thời đã đề ra nhiệm vụ xây dựng hậu phương vững mạnh về mọi mặt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào thi đua ái quốc. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Đảng ta và Bác Hồ đã phát động quần chúng thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất, xây dựng và củng cố hậu phương, tạo nên khí thế mới và sức mạnh mới, góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vĩ đại trên mặt trận Điện Biên Phủ.

Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, trở thành căn cứ địa cho cả nước, đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng miền Bắc, coi miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Bác chỉ rõ, mọi việc chúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc vào miền Nam. Bác xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Quá trình lịch sử trên 30 năm kháng chiến chứng tỏ rằng, chiến tranh ngày càng mở rộng, quy mô ngày càng lớn, mức độ ác liệt ngày càng tăng, thì vai trò của hậu phương ngày càng to lớn. Rõ ràng, hậu phương vững mạnh về mọi mặt là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trong chiến tranh.

Nắm chắc ý đồ của địch, quán triệt quan điểm đánh lâu dài

Trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng nói chung và chỉ đạo chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc tình hình để phân tích cục diện trong nước và trên thế giới, đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng giai đoạn của cách mạng nói chung, trong từng giai đoạn chiến tranh nói riêng, từ đó đề ra chiến lược, sách lược đúng đắn để chỉ đạo cuộc kháng chiến trường kỳ, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi từng bước và ngày càng to lớn.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định chiến lược đánh lâu dài nhằm làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương trường kỳ kháng chiến, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng, tích luỹ kinh nghiệm để đủ sức đánh bại quân địch. Trong trường kỳ kháng chiến, Bác rất coi trọng giành cho được những thắng lợi liên tiếp, dù nhỏ, vừa góp gió thành bão đưa kháng chiến tiến lên, vừa để nuôi dưỡng chí khí cách mạng, tinh thần kiên trì chiến đấu của đồng bào và chiến sĩ.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Đảng ta một lần nữa lại đề ra chiến lược đánh lâu dài với lời kêu gọi của Bác: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, cả nước một lòng, quyết đánh lui kẻ địch từng bước, đánh đổ chúng từng bộ phận, tiến tới hoàn toàn đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại

125.jpgBác Hồ và đội OSS Ảnh: Tuấn Anh

Ngay từ buổi đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ mối quan hệ hữu cơ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả, giữa tinh thần tự lực tự cường của dân tộc với việc tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, sự giúp đỡ quốc tế. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Phải luôn luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa anh em; hết lòng ủng hộ phong trào giải phóng của các dân tộc; đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.

Tinh thần cách mạng tiến công

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương, cách mạng là tiến công. Khởi nghĩa và kháng chiến là tiến công. Tiến công vào mọi kẻ thù của dân tộc, tiêu diệt chúng để giành lại độc lập và tự do. Tiến công vào chế độ cũ, dựng nên chế độ mới, xoá bỏ mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc. Muốn đưa cách mạng, đưa kháng chiến đến thắng lợi, phải tiến công liên tục, tiến công kiên quyết.

Khi chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Bác đưa ra quyết tâm “Dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải giành lấy độc lập”.  “Hễ còn một tên lính thực dân trên đất nước Việt Nam thì cứ đánh, đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn”. Đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Bác ra lời kêu gọi: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Đó là tinh thần kiên quyết tiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta, của toàn quân và toàn dân ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng.

Tư tưởng chiến lược tiến công là định hướng cơ bản của hành động. Về quân sự, hình thức tác chiến chủ yếu là tiến công, nhưng trong điều kiện cụ thể nhất định, có thể áp dụng hình thức tác chiến phòng ngự tạm thời để chuẩn bị tiến công. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. “Phải luôn luôn giành lấy chủ động”.

Nếu hành động tiến công là biện pháp chủ yếu để giành chủ động, thì quyền chủ động là sự thể hiện cao nhất của tư tưởng chiến lược tiến công, của quyền làm chủ trên chiến trường và trong toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng. Tư tưởng chiến lược tiến công thể hiện tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp công nhân.

Xây dựng quân đội cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng quân đội cách mạng. Người đã trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức các đội tự vệ và dân quân và sáng lập ra Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc rằng, muốn giải phóng dân tộc, phải dùng bạo lực cách mạng, sức mạnh của quần chúng được tổ chức lại là cơ sở cho bạo lực cách mạng, lấy lực lượng chính trị của quần chúng làm cơ sở, coi đó là nguồn sức mạnh vô tận. Từ đó, quy luật của bạo lực cách mạng ở nước ta ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ. Bác chỉ rõ đường lối tổ chức của các lực lượng vũ trang cách mạng là, trên cơ sở phát triển lực lượng vũ trang quần chúng mạnh mẽ và rộng khắp, cần ra sức xây dựng quân đội nhân dân chính quy và hiện đại.

223.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì dân mà chiến đấu, cho nên đi đến đâu đều được dân tin, dân phục, dân yêu. Người nói: “Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”. “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân dựa trên những nguyên tắc cơ bản của một quân đội cách mạng. Chỉ thị của Bác nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để thành lập một đội quân đầu tiên cần phải duy trì các lực lượng vũ trang địa phương”.

Từ những ngày ấy, Bác đã phác hoạ một lực lượng vũ trang nhân dân đông đảo gồm có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và các tổ chức, dân quân tự vệ. Trong suốt quá trình chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và tiến hành kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Bác hết sức coi trọng vai trò chiến lược của dân quân tự vệ, là lực lượng vô địch của toàn dân tộc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó đều phải tan rã. Bác đã sớm thấy rõ vai trò chiến lược của đội quân chủ lực. Quân đội là công cụ của nhà nước vô sản chuyên chính. Bởi vậy, Bác Hồ luôn luôn coi trọng việc phát huy bản chất cách mạng và tăng cường sức chiến đấu của quân đội, coi trọng vấn đề không ngừng nâng cao chất lượng của quân đội.

Trong lãnh đạo chiến tranh, theo yêu cầu của nhiệm vụ và khả năng của đất nước, Bác và Trung ương Đảng đã chủ trương không ngừng động viên sức người, sức của, phát triển số lượng của cả ba thứ quân; đưa bộ đội chủ lực từ mấy trăm người, mấy nghìn người lúc đầu lên đến hàng vạn, hàng mấy chục vạn người trong kháng chiến chống Pháp, hàng trăm vạn người trong kháng chiến chống Mỹ. Số lượng và chất lượng đều là những nhân tố tạo nên sức mạnh chiến đấu. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển quân đội về số lượng, Bác Hồ và Đảng ta đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng về mọi mặt của quân đội. Quân đội càng phát triển về số lượng thì nâng cao chất lượng càng trở nên bức thiết. Chất lượng của quân đội là một vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định.

Không coi nhẹ vai trò của kỹ thuật

Con người và kỹ thuật là hai nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Con người là nhân tố quyết định. Kỹ thuật là yếu tố rất quan trọng. Trên bước đường tiến lên chính quy hiện đại, vũ khí và trang bị của quân đội ta ngày càng nhiều, trình độ hiện đại ngày càng cao, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng lớn. Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ và chiến sĩ phải coi trọng kỹ thuật, phải ra sức học tập để làm chủ kỹ thuật. Bác nói: “Giác ngộ chính trị thì cố nhiên cần rồi… nhưng lại phải có văn hoá, kỹ thuật để sử dụng máy móc ngày càng tinh vi”. Khen ngợi một số đơn vị có thành tích tốt về cải tiến kỹ thuật, Bác cho rằng: “Đó là bước đầu tiên trên con đường muôn dặm của cách mạng kỹ thuật”.

Cán bộ có vai trò quyết định

Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò rất quan trọng của cán bộ. Người nói, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Trong những năm lãnh đạo công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Việt Bắc, Người luôn luôn nhắc nhở: “Muốn cho phong trào phát triển vững mạnh thì phải khéo phát hiện những phần tử trung kiên, đào tạo thành cán bộ nòng cột cho các tổ chức cứu quốc”. Khi đề ra chủ trương tổ chức các đội tự vệ chiến đấu, Bác nhấn mạnh: “Phải lựa chọn những phần tử hăng hái nhất, đưa những người có phẩm chất và năng lực ra làm chỉ huy, đội trưởng”. Quân đội là một tổ chức có trình độ tập trung và kỷ luật cao, có trách nhiệm, làm việc dũng cảm và khó khăn; thắng hay bại trong chiến đấu không những liên quan đến sự phát triển của phong trào cứu quốc, mà có ảnh hưởng đến xương máu của chiến sĩ. Vì vậy, khi đề ra chủ trương thành lập đội quân giải phóng, Người đã tự mình chọn lựa các cán bộ chỉ huy đầu tiên, căn dặn phải tuyển lựa các chiến sĩ có tinh thần chiến đấu cao, và được rèn luyện thử thách trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.

224.jpg

Chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là một pho kinh nghiệm phong phú, vô giá, không chỉ đối với chúng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay và trong tương lai, mà còn đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên giải phóng khỏi ách cai trị, chiếm đóng và áp bức từ bên ngoài.

Đã có không ít đoàn đại biểu quân sự các nước đến Việt Nam để học tập kinh nghiệm về chiến tranh nhân dân, còn viện nghiên cứu quân sự của các nước đế quốc đã dày công nghiên cứu về chiến tranh nhân dân Việt Nam để rút ra bài học, nhằm tránh thất bại trong các cuộc chinh phục thuộc địa ở nhiều nơi trên thế giới!/.

Nguyễn Đình Chiến
Thiếu tướng, TS. Viện Chiến lược quân sự

hochiminhhoc.com

Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình

Nếu tính từ tác phẩm “Đường Kách mệnh” viết năm 1927, lần đầu tiên Hồ Chí Minh bàn về vấn đề tự phê bình và phê bình của người cách mạng cho đến tác phẩm cuối cùng là “Di chúc”, Người đã công bố khoảng 200 bài nói, viết về xây dựng Đảng, trong đó sử dụng 90 lần thuật ngữ tự phê bình và phê bình, 67 lần thuật ngữ phê bình và tự phê bình. Ở Người, tự phê bình và phê bình đã trở thành một phẩm chất trong nhân cách và là một đặc trưng trong phong cách lãnh đạo. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính trung thực, thẳng thắn cho cán bộ, đảng viên noi theo.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới tự phê bình và phê bình. Người coi tự phê bình và phê bình là “vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”[1], là “thang thuốc” tốt nhất để chữa trị các “chứng bệnh” do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Qua nghiên cứu những tác phẩm của Hồ Chí Minh, vấn đề tự phê bình và phê bình là một cống hiến quan trọng của Người trong bảo vệ và phát triển lý luận Mác-Lênin; là nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Đảng mác-xít; là vũ khí lý luận sắc bén đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các tiêu cực trong xã hội; với văn phong giản dị, trong sáng chúng ta thấy toát lên bản chất nhân văn mác-xít, “chủ nghĩa nhân đạo hiện thực”.

Thực chất của tự phê bình và phê bình là xây dựng, là vươn tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ, là thúc đẩy sự tiến bộ, là cách mạng và khoa học trong cấu trúc nhân cách của mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn xem xét con người trong tính đa dạng của các quan hệ xã hội, trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả năng; trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc,… Theo Người trong hoạt động thực tiễn, ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm, chỉ khác nhau ở mức độ, trạng thái biểu hiện mà thôi: “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không kiên quyết sửa nó đi”[2].
Hồ Chí Minh không trừu tượng hoá con người, mà xét họ trong môi trường sống cụ thể và tự phê bình và phê bình được ví như “thang thuốc” thần diệu, có tác dụng chữa khỏi bệnh, đồng thời bồi bổ để người ta sống cao đẹp hơn. Thông qua tự phê bình và phê bình mà mỗi cá nhân, mỗi tổ chức ngày càng hoàn thiện, tạo ra sự biến đổi về chất, tạo ra sức mạnh nội sinh trong mỗi tổ chức, mỗi con người; mọi sự kìm nén, ức chế được giải toả, luồng sinh khí mới sẽ sưởi ấm “cái tâm” của mỗi người, để họ không ngừng phấn đấu, vươn lên.

Vì vậy, về bản chất, tự phê bình và phê bình là cách mạng và khoa học; là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm và lý trí, giữa cái riêng và cái chung; là sự đấu tranh giữa mặt tốt và mặt xấu, đúng và sai, cao cả và thấp hèn,… trong mỗi con người, mỗi tổ chức cho đến toàn xã hội, qua đó đi đến những giá trị chân, thiện, mỹ .

Đối tượng trực tiếp của tự phê bình và phê bình là “Phê bình việc làm (nhận thức, hành vi và việc làm không đúng), chứ không phải phê bình người”[3]. Người chỉ rõ cần tránh hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù tiểu khí”[4]. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm khuyết điểm của cá nhân hay tổ chức đều phải được phê bình nghiêm túc và “phải lập tức sửa chữa”.

Tự phê bình và phê bình những nhận thức, hành vi và việc làm không đúng trong tư tưởng tự Hồ Chí Minh khác về bản chất với tư tưởng phê phán và trừng trị, lợi dụng phê bình để thổi phồng hoặc bóp méo sự thật, định kiến, ghen ghét, ganh tỵ, trù dập, hạ thấp con người, phê bình theo kiểu “chụp mũ”, quy kết hay “bới lông, tìm vết”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là sự mổ xẻ một căn bệnh mang ý nghĩa như là sự khởi nguyên của một quy trình chữa lành con bệnh, làm cho con người tồn tại và phát triển khoẻ mạnh; khi mà tìm ra nguyên nhân vì sao mắc sai lầm, khuyết điểm? ảnh hưởng đến công việc như thế nào, làm thế nào để sửa chữa. Người nói: Tự phê bình và phê bình cốt để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, để tư tưởng và hành động được đúng hơn, và tốt hơn, để làm việc có hiệu quả hơn, để gần nhau hơn, để đoàn kết và thống nhất nội bộ. Tự phê bình và phê bình thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người, tránh cho con người không rơi vào cái “tôi” vị kỷ, thấp hèn, đố kị, nhỏ nhen.

Tự phê bình và phê bình là một nghệ thuật về phép ứng xử giữa người với người. Hồ Chí Minh sử dụng thuật ngữ “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”[5] hàm chứa phương pháp, nghệ thuật khi phê bình. Theo Người, “Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”[6].
Tư tưởng “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình” của Hồ Chí Minh do quan điểm dân chủ và nhân đạo chi phối. Tư tưởng đó thể hiện quan điểm biện chứng trong đánh giá con người, biết phối hợp hài hòa giữa tình-lý trong hành vi và thái độ ứng xử giữa con người với nhau. “Khéo” trước hết phải được thể hiện trong ngôn ngữ nói: là sự chuẩn mực và mô phạm, sự thẳng thắn và chân thành của người phê bình. Người căn dặn: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc….”[7]. “Khéo” là sự kết hợp giữa các biện pháp giáo dục từ trên xuống và từ dưới lên, từ nội bộ Đảng đến ngoài xã hội. Nhưng trên hết là sự giúp đỡ, cảm hóa, thức tỉnh lương tâm để mọi người vươn lên tự khẳng định mình. “Khéo” là sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm, phải hiểu cặn kẽ các nhân tố khách quan, chủ quan, “phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn xây dựng “trị bệnh cứu người ” chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”[8].

“Khéo” sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình thì tác dụng cảm hóa, lan tỏa rất lớn. Tính hiệu quả của phê bình được khẳng định khi đối tượng của phê bình trở thành đồng chủ thể tự phê bình, tự kiểm tra. Ngược lại, tự phê bình và phê bình không “khéo” sẽ gây hiệu ứng tiêu cực, thậm chí là có hại.

Hiện nay, nhận thức về tự phê bình và phê bình còn những lệch lạc, tác động nguy hại đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đoàn kết trong đơn vị, ảnh hưởng xấu đến sự tiến bộ của cá nhân cũng như tập thể. Như: Một là, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm qua loa đại khái, trông trước, ngó sau, hùa theo số đông hoặc đón ý cấp trên, dĩ hoà vi quý. Hai là, cơ hội, lợi dụng phê bình để công kích những người mình không ưa, kéo bè, kết cánh, gây mất đoàn kết nội bộ. Cả hai khuynh hướng này đều làm mất đi tính nhân văn trong tự phê bình và phê bình. Điều đó giải thích tại sao thời gian qua hoạt động tự phê bình và phê bình ít hiệu quả, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng tổng kết: “Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đặt ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu ”[9].

Thiết nghĩ, để nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đòi hỏi mỗi cán, bộ đảng viên phải thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình. Nhận thức rõ vai trò, mục đích, nội dung, phương pháp tự phê bình và phê bình; mở rộng thông tin, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật. Đặc biệt, việc tìm hiểu và quán triệt giá trị nhân văn trong tự phê bình và phê bình gắn với nội dung Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là thiết thực góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 10, tr.614
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 4, tr.166
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr. 323
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.258
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.265
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.244
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.232
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 10 tr.614
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr 267.

Ths. Đàm Trọng Tùng
Học viện Kỹ thuật quân sự

xaydungdang.org.vn

Nguyễn Ái Quốc và con đường đi đến thắng lợi của Đảng

Nguyễn Ái Quốc, ra nước ngoài chỉ với hai bàn tay trắng cùng tinh thần yêu nước, thương dân và với một trí tuệ thiên tài, một nghị lực phi thường, một ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam chìm đắm trong “đêm trường nô lệ”, nhân dân Việt Nam sống rên xiết dưới gót giày của quân xâm lược. Một số phong trào yêu nước của các sĩ phu phong kiến thức thời và trí thức Tây học diễn ra mạnh mẽ nhưng đều thất bại. Sự thất bại này là do thiếu đường lối cứu nước khoa học và cách mạng nên không phát huy được nội lực, ý chí độc lập, khát vọng tự do của dân tộc.

Trong bối cảnh lịch sử ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết định đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn cho nhân dân Việt Nam.

Khi học ở Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành tiếp cận lịch sử, văn hóa, văn minh phương Tây, quan tâm tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản diễn ra ở Hà Lan, Anh, Mỹ và nhất là cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789. “Tự do – bình đẳng – bác ái” là những ngôn từ đẹp đẽ và cũng là khát vọng đặc biệt hấp dẫn đối với Người. Đó là quyền sống chân chính của mỗi dân tộc, mỗi con người nhưng sao các nước văn minh phương Tây lại xâm chiếm và nô dịch phương Đông qua chiêu bài khai hóa văn minh? Với nhãn quan chính trị sắc bén vượt thời đại, Nguyễn Tất Thành quyết định ra nước ngoài – sang phương Tây, nước Pháp – nơi mở đầu cuộc cách mạng tư sản điển hình, lại là nước đang cai trị Việt Nam để tìm hiểu.

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba, nhận làm phụ bếp trên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin của hãng Năm Sao rời cảng Nhà Rồng đi Mác-xây (Pháp). Hơn mười năm sau, chính Nguyễn Tất Thành với tên mới là Nguyễn Ái Quốc đã trả lời nhà báo, nhà thơ Nga Ô-xip Man-den-stam rằng: Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ “Tự do – bình đẳng – bác ái”. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi.

Chuyến đi lịch sử của Nguyễn Ái Quốc sang phương Tây khác xa với các vị tiền bối. Cụ Phan Bội Châu ra nước ngoài với 3.000 đồng do Duy Tân hội quyên góp. Cụ Phan Châu Trinh đến Pháp bằng chiếc vé mời của Hội Nhân quyền Pháp. Với Nguyễn Ái Quốc, ra nước ngoài chỉ với hai bàn tay trắng cùng tinh thần yêu nước, thương dân và với một trí tuệ thiên tài, một nghị lực phi thường, một ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân.

Bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu những cuộc cách mạng thế giới đã giành thắng lợi như cách mạng tư sản Mỹ năm 1776, cách mạng nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này nhưng thấy không thể đi theo cách làm của họ. Bởi vì, theo Người: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(1).

Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong trào công nhân Pháp. Tháng 11 năm đó, diễn ra một sự kiện rung chuyển thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người: Cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi, đưa học thuyết cách mạng của C.Mác từ sách vở trở thành hiện thực đầu tiên, đưa cách mạng thế giới bước sang thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Ba năm sau, tại Thủ đô Pa-ri diễn ra cuộc gặp lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và Chủ nghĩa Mác-Lênin qua Bản Sơ thảo lần thứ nhất “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng xã hội Pháp. Luận cương của V.I.Lênin đã chỉ ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc, nên “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(2).

Giữa năm 1923, Người rời Pháp sang Liên Xô. Ở đây, Người tiếp thu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm cuộc Cách mạng Tháng Mười và tham gia vào Quốc tế Cộng sản. Trong cuốn sách Đường Kách mệnh, Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Và “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”(5).

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Nga Xô viết trở về Quảng Châu – Trung Quốc trên cương vị và nhiệm vụ mới: phiên dịch cho đồng chí Bô-rô-din – cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Quốc dân đảng, vừa phụ trách mục tuyên truyền của tờ báo Ca-non Ga-zet-te bằng tiếng Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Về gần Tổ quốc là điều kiện thuận lợi để Người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Người tiếp xúc với những thanh niên yêu nước hăng hái nhất trong nhóm Tâm tâm xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… Trên cơ sở đó, tháng 5-1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí Trung Quốc, Hội bí mật đưa một số thanh niên trong nước sang Quảng Châu tham gia các lớp học chính trị; ra tờ báo Thanh niên in bằng giấy sáp, bí mật gửi về nước để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào đấu tranh của công nhân và quần chúng nhân dân. Qua đó, Người tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một đảng mác-xít ở Việt Nam.

Cuối năm 1929, đầu năm 1930, ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở Việt Nam đã khẳng định bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Song một nước có ba tổ chức cộng sản cùng hoạt động sẽ không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thống nhất về tư tưởng và hành động. Trước yêu cầu lịch sử đặt ra, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – Hội nghị từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 tại Hương Cảng – Trung Quốc.

Hội nghị thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Cương lĩnh đã chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày. Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại. “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”(6).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, liên tiếp giành nhiều thắng lợi.

Năm 1939, đại chiến thế giới II bùng nổ, quân Pháp đầu hàng phát-xít Nhật. Chúng cấu kết chặt chẽ với nhau đàn áp phong trào cách mạng và tăng cường bóc lột nhân dân thuộc địa, làm cho nhân dân Việt Nam “một cổ hai tròng”. Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương… liên tiếp diễn ra nhưng bị dìm trong bể máu, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng và hàng ngàn quần chúng ưu tú đã bị bắt, giết hại và tù đày…

Được sự nhất trí của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va với nhiệm vụ đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung (thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Sau một thời gian khảo sát, nghiên cứu, đánh giá đặc điểm tình hình, từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, tại Khuổi Nậm-Pác Bó-Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. Vì vậy “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”(7). Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, đồng thời đáp ứng đòi hỏi, nguyện vọng của nhân dân là giành độc lập dân tộc, thoát khỏi ách nô lệ. Tư tưởng này không những khắc phục quan điểm không đúng về đấu tranh giai cấp, mà còn tạo điều kiện cho tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác tiếp tục phát triển, đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh – một chủ trương mang tính chiến lược, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhằm đoàn kết hết thảy các lực lượng yêu nước trong một mặt trận để cứu nước, giải phóng dân tộc. Ở Lào cũng thành lập mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh và Cam-pu-chia thành lập mặt trận Cao Miên độc lập đồng minh… thể hiện rõ nét chính sách “dân tộc tự quyết”, hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc đấu tranh chung của toàn thế giới chống phát-xít xâm lược, bảo đảm cho cách mạng Đông Dương thành công.

Trước sự biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới và trong nước, bên cạnh việc dự báo thời cơ khởi nghĩa, Đảng và Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đưa ra một sách lược cần kíp là chuẩn bị lực lượng và đưa Đảng vào hoạt động bí mật. Bên cạnh Mặt trận Việt Minh, các đội Cứu quốc quân I, II, III, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Dù non trẻ, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Cùng với chiến thắng đó, những thắng lợi của Cứu quốc quân, các đội du kích, tự vệ ở các địa phương đã góp phần củng cố, mở rộng khu căn cứ cách mạng Cao-Bắc-Lạng, Thái-Hà-Tuyên và động viên toàn dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Chiến tranh thế giới II bước vào giai đoạn kết thúc. Ngày 9-5-1945, phát-xít Đức đầu hàng đồng minh. Đêm 13-8-1945, ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 – hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(8). Lúc này Bác đang ốm nặng. Ở lán Nà Lừa đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc muôn người như một vùng lên “chớp thời cơ ngàn năm có một” giành chính quyền về tay mình.

Ngày 15-8-1945, phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 19-8-1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8, Thừa Thiên Huế giành được chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng. Ngày 25-8, nhân dân Sài Gòn-Gia Định giành được chính quyền… Hành động vùng dậy “lay trời chuyển đất” của hàng triệu quần chúng, tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào tất cả cơ quan đầu não của bọn việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của các thế lực thù địch, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra trang sử mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của một nước thuộc địa nửa phong kiến do đảng cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này đã tạo ra thế và lực mới, quyết định tiến trình đi lên của dân tộc Việt Nam; là nền tảng vững chắc đoàn kết, huy động sức mạnh của cả nước đồng lòng chung sức làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; anh dũng kiên cường, bền bỉ đấu tranh hơn hai thập kỷ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân năm 1975, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

______

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.274. (2) Sđd, tập 10, tr.127. (3) Sđd, tập 2, tr.268. (4) Sđd, tập 9, tr.314. (5) Sđd, tập 10, tr.128. (6) Sđd, tập 10, tr.9. (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2000, tr.55, tr.536. (8) Sđd, tập 3, tr.554.

Phạm Thị Nhung
Trường Sỹ quan Lục quân 2

xaydungdang.org.vn

“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để thực hiện “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng với vai trò tiền phong, được nhân dân tin yêu và kính phục, thì phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, chống lại sự suy thoái về đạo đức và lối sống bằng phương thuốc đặc trị – đó là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Quyết tâm và dũng khí đấu tranh của Người xuất phát từ tấm lòng yêu mến nhân dân, “sức mạnh và uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân”[1] và “điều mà Người đã truyền bá, đó cũng là hình ảnh một con người mới, vì mọi người mà phục vụ; điều mà Người khắc sâu trong cả một dân tộc, đó là nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”[2].

Đặc biệt quan tâm đến vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự nêu gương của những người cách mạng, không chỉ nói về đạo đức cách mạng, yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thường xuyên phấn đấu rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta còn luôn gương mẫu thực hành đạo dức cách mạng, thống nhất nguyên tắc “nói đi đôi với làm”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng với vai trò tiền phong, được nhân dân tin yêu và kính phục, thì phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, chống lại sự suy thoái về đạo đức và lối sống bằng phương thuốc đặc trị – đó là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Mùa xuân năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (Báo Nhân dân đăng ngày 3-2-1969, số 5409), chào mừng 39 năm ngày thành lập Đảng. Trong tác phẩm này, khi khẳng định về Đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”, là hiện thân của “danh dự và lương tâm của dân tộc”, Người viết: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”[3]. Thực tiễn cho thấy, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã không ngừng phấn đấu, sẵn sàng hy sinh tất cả vì thắng lợi của cách mạng, vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Trên mọi lĩnh vực sản xuất, chiến đấu, nghiên cứu khoa học, v.v.. cán bộ, đảng viên đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt, lãnh đạo đã gương mẫu đi đầu, trở thành mực thước cho nhân dân noi theo. Những người con ưu tú đó của dân tộc và của Đảng đã thấm nhuần “tư cách người cách mạng”, nên “nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào vì có những người con xứng đáng như thế”[4].

Tuy nhiên, trong những năm tháng cả nước cùng đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đó, “tâm lý thời bình”, bệnh “ham danh lợi”, cùng những tệ nạn vốn là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân đã trở thành kẻ địch thứ ba luôn ẩn náu trong mỗi con người, là đồng minh của hai kẻ địch (chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù số một nguy hiểm; thói quen cố hữu là kẻ địch to thứ hai), đang làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng. Vì thế, trong tác phẩm này, Người nói: vì cá nhân chủ nghĩa mà không ít người mang trong mình những căn bệnh, những thói hư, tật xấu, “không lo mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”; “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa”; “tham danh trục lợi”; “tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền”,“xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh” mà trở thành xa lạ với nhân dân; “không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu khó học tập để tiến bộ”[5] nên trở thành người “thoái bộ”. Họ không thích tự phê bình và phê bình, sợ mất thể diện trước quần chúng, nên phạm nhiều sai lầm, khuyết điểm.

Những tệ nạn nghiêm trọng này, một mặt, làm rạn nứt khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng, làm giảm đi nguồn sức mạnh của Đảng, tlàm mất đi tính tiền phong của đội ngũ cán bộ đảng viên và đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền. Mặt khác, cho thấy nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên “phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”[6] trên tinh thần “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng” và “phải hoan nghênh khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”. Không chỉ nhấn mạnh, coi tự phê bình và phê bình là phương thuốc đặc hiệu để chữa bệnh “cá nhân chủ nghĩa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đồng thời khẳng định rằng: tự phê bình và phê bình một cách chân thành trên cơ sở của tình đồng chí thương yêu lẫn nhau theo một “chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”[7] là những yêu cầu bắt buộc để một Đảng Mácxít luôn trong sạch, vững mạnh.

Luôn lo lắng và quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, bận tâm và trăn trở về nhiệm vụ trọng yếu này, mùa xuân cuối cùng cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại một di huấn thiêng liêng cho toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng, đó là tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Hàm ý sâu sắc trong di huấn của Người là Đảng không chỉ thực hiện tuyên truyền về đạo đức cách mạng chung chung không thôi, mà Đảng thường xuyên “phải bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật” cho cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt. Vì rằng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, Đảng không chỉ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng bằng đường lối, chủ trương đúng, Đảng còn lãnh đạo cách mạng bằng sự mực thước và nêu gương của đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng. Cho nên, trong mọi hoàn cảnh, thì, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, hướng lòng mình đến chí công vô tư là “một cách tốt nhất để xây dựng Đảng”, thiết thực làm cho Đảng xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc.

2. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: vì sa vào chủ nghĩa cá nhân nên một số cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, biến chất, kéo bè kéo cánh, vi phạm kỷ luật Đảng,v.v.. gây mất đoàn kết trong Đảng, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng. Và 43 năm sau khi Người viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, tình trạng “cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ…” đã ngày càng trở nên trầm trọng.

Nhất là khi “công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”; khi “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”, thì rất kịp thời và “đặc hiệu”,Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã ra đời vào mùa xuân năm 2012.

Từ những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong tác phẩm này và từ nội dung của Nghị quyết cho thấy, trong bối cảnh mới, những vấn đề quan trọng: “Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức – là những việc cần kíp của Đảng”[8] càng trở nên có ý nghĩa thời sự. Theo đó, để Nghị quyết số 12 đi vào cuộc sống, thì một nhiệm vụ vừa xuyên suốt và cấp bách cần phải thực hiện là phải “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng”.

Để Đảng Cộng sản Việt Nam phát huy được sức mạnh nội lực của trí tuệ và đạo đức, ngày một trưởng thành và vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó; để cán bộ, đảng viên thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân thì mỗi người phải không ngừng học tập, thực hiện việc rèn luyện theo 4 nguyên tắc đạo đức cách mạng, làm theo tấm gương của Bác Hồ – tấm gương của một người luôn xa lạ với mọi thứ chủ nghĩa cá nhân. Đó là, cùng với việc phải luôn Nói đi đôi với làm, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”[9]; “đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”, cán bộ, đảng viên- nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ chốt phải thấm nhuần, thực hiện sự Nêu gương về đạo đức.  một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, nên “lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng”. Trong quá trình triển khai thực hiện, chú trọng giải pháp Xây đi đôi với chống, kết hợp giữa Xây và chống, để đồng thời với việc xây dựng và thực hiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng là việc kiên quyết phòng chống và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nhằm vừa nhân rộng cái tốt, vừa phê phán, loại bỏ dần cái xấu. Và để mỗi người thật “ít lòng ham muốn về vật chất”, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, đời tư trong sáng, thì nhất định Phải tu dưỡng suốt đời. Vì nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, có đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Làm tốt theo 4 nguyên tắc Người từng chỉ rõ này và “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh” theo tinh thần của Nghị quyết số 12, trong toàn Đảng phải thực hiện nghiêm túc “nguyên tắc tập trung dân chủ” để Đảng ta luôn thống nhất trong tư tưởng, ý chí và hành động; phải nghiêm khắc và chân thành “tự phê bình và phê bình” – “cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”. Quan trọng nhất, cần thiết nhất, phải làm thật tốt, thật hiệu quả “công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống” của cán bộ, đảng viên nói chung và “nêu gương những việc làm đúng, gương người tốt” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt nói riêng, để “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, thì nhất định sẽ góp phần ngăn chặn và xóa đi “môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển”; để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần “công bình, chính trực” khi thực hiện chức trách người “công bộc” của nhân dân; gần gũi, lắng nghe và gắn bó mật thiết hơn với nhân dân – “xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

TS. Văn Thị Thanh Mai


[1] Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.KHXH, H,1990, tr.120.
[2] Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, H,1971, , t.III, tr.90
[3], [4], [5], [6], [7], [9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.12, tr.438, 438, 438-439, 439,439 439,
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 6, tr.167

Theo Tạp chí tuyên giáo, Thứ Tư 01/2/2012

tuyengiao.vn

Xuân Nhâm Ngọ và tác phẩm ‘Lịch sử nước ta’ của Bác Hồ

TS. CHU ĐỨC TÍNH (Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Những trang vàng của lịch sử dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20 được tiếp nối một cách sinh động hơn, đặc biệt hơn bởi được lưu giữ về cuộc đời, sự nghiệp của người Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Nhưng đứng ở góc độ sử học, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm rạng danh những trang vàng đó, mà Người còn là một sử gia lớn. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ 20, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã lấy các đề tài lịch sử để sáng tác các tác phẩm lớn, như: Kịch Con rồng tre, Lời than vãn của bà Trưng Trắc… để tuyên truyền thức tỉnh đồng bào trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Bác Hồ làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951. Ảnh tư liệu

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người đã về sống và làm việc tại hang Pác Bó – Cao Bằng. Ý thức sâu sắc mục đích của việc học tập, nghiên cứu lịch sử để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, từng bước đưa họ vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cuối năm 1941, Người đã viết cuốn Lịch sử nước ta. Ðây là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử dân tộc quan trọng.

Tác phẩm Lịch sử nước ta do Việt Minh tuyên truyền Bộ ấn hành ra mắt lần đầu tiên giữa ngàn trùng Pác Bó tháng 2-1942, vào đúng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ. Và Xuân Nhâm Thìn năm nay (2012), vừa tròn 70 năm ra đời tác phẩm.

Chỉ với 208 câu thơ lục bát, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc, xác định giới thiệu những nhân vật, những sự kiện chân thực khách quan đủ để khôi phục chính xác bức tranh hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc với những nét cơ bản về truyền thống yêu nước, đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Mở đầu tác phẩm, Bác đánh giá cao vấn đề nghiên cứu lịch sử nguồn gốc dân tộc và tự hào về truyền thống tốt đẹp của tổ tiên:

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam…”.

Ðọc tác phẩm, chúng ta nhận thấy lịch sử dân tộc không còn là lịch sử của các triều đại với vai trò tuyệt đối của các vua chúa, mà là lịch sử của quần chúng nhân dân ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi thành phần:

“Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn”.

Quan trọng nhất là Lịch sử nước ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm duy vật mác-xít khi bình luận, giải thích sự kiện, nhân vật, phá tan các quan điểm duy tâm, thần bí, các tư tưởng “thiên mệnh”, “ngụy”, “chính thống”… trong các sách sử thực dân, phong kiến…

Ôn lại lịch sử dân tộc, Lịch sử nước ta đã giúp người đọc nắm được bài học kinh nghiệm cốt tử, như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định ở hai câu thơ kết thúc phần diễn ca của tác phẩm:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng
Ðồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Tin tưởng vào truyền thống của dân tộc và sức mạnh đoàn kết của toàn dân sẽ đưa cuộc đấu tranh đến bến bờ thắng lợi, nên kết thúc tác phẩm Nguyễn Ái Quốc đã tiên đoán một dấu mốc lịch sử quan trọng: “1945, Việt Nam độc lập”.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết cuốn Lịch sử nước ta, trước hết, làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu, đồng thời, với mục đích phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục và ôn lại truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc. Người khẳng định từ nam phụ lão ấu, người bình dân hay tầng lớp phú hào, quý tộc đều có lòng yêu nước nồng nàn, anh dũng chống ngoại xâm, để giành lấy độc lập cho nước nhà. Qua đó, Người động viên, khích lệ nhân dân ta phát huy truyền thống yêu nước, nâng cao lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập tự do.

Cũng như chùm các bài ca viết cùng thời gian nhằm tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, khi viết cuốn Lịch sử nước ta theo diễn ca lịch sử, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặc biệt chú ý đến đặc điểm của một số tác phẩm diễn ca lịch sử dân tộc viết bằng chữ Nôm từ thế kỷ 17. Các tác giả của những tác phẩm đó dù mang quan điểm sử học phong kiến nhưng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống yêu nước của dân tộc. Quan trọng nhất là tác phẩm của họ đạt thành công lớn trong việc chuyển tải tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có sức sống rộng rãi trong quần chúng bằng hình thức dân gian truyền miệng, lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân vì thực tế đất nước ta khi đó, có hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ và còn trong đói nghèo. Ðồng thời, Người cũng hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Nghiên cứu và hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc đó, càng nhận thức hết giá trị thực tiễn lớn lao của tác phẩm Lịch sử nước ta. Tác phẩm đã khéo kết hợp được hai yêu cầu khoa học và nghệ thuật dưới hình thức thơ lục bát rất quen thuộc với nhân dân ta. Lời thơ ngắn gọn, dung dị, dễ hiểu, nhưng rất súc tích, giúp người đọc ôn lại lịch sử vẻ vang của dân tộc và nhận thức đúng đắn lịch sử của đất nước. Về phương pháp viết sử, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc sự kiện, tài liệu chứ không sa đà vào các chi tiết lịch sử. Quan trọng nhất là Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng nhận định, đánh giá khái quát các sự kiện và nhân vật lịch sử tiêu biểu.

Ðể giới thiệu tác phẩm Lịch sử nước ta tới đồng bào, đồng chí, trong bài viết “Nên học sử ta”, đăng trên báo Việt Nam độc lập (số 117, ngày 1-2-1942) lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh mục đích nên học lịch sử dân tộc và khẳng định lịch sử  nước ta dạy cho ta bài học: “lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do”. Cuối bài này có ghi thêm “Vừa mới xuất bản quyển “Sử nước ta” bằng thơ. Hay lắm, giá mỗi quyển 1 hào ai muốn mua hỏi cán bộ địa phương”.

Sau đó, tác phẩm trên được tái bản nhiều lần. Hiện nay, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam còn lưu được một số bản in cuốn Lịch sử nước ta xuất bản năm 1942, 1947 và 1949. Năm 1977, tác phẩm này đã được in trong cuốn Thơ ca cách mạng ở Việt Bắc của Vũ Châu Quán – Triều Ân – Hoàng Quyết (Nxb Văn hóa dân tộc). Ðến năm 1983, Lịch sử nước ta mới được chính thức in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, có nội dung đúng như văn bản do Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942.

Sau tác phẩm Lịch sử nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khai thác các đề tài lịch sử dân tộc phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền các tầng lớp nhân dân thêm yêu mến các bậc tiền nhân, trân trọng các di sản và truyền thống dân tộc. Ðặc biệt hơn cả là vào các dịp đầu xuân, Người gửi tới đồng bào, chiến sĩ cả nước những bài thơ chúc Tết độc đáo. Nhưng Lịch sử nước ta mãi mãi là một tác phẩm giá trị cả ở góc độ sử học và văn học, có vị trí quan trọng trong kho tàng lịch sử và văn học mà Người đã để lại. Lịch sử nước ta đã in sâu vào tâm trí của nhiều đồng bào, đồng chí. 70 năm đã trôi qua kể từ lần đầu tiên tác phẩm Lịch sử nước ta được xuất bản, đến nay có những người thuộc thế hệ những năm tháng đó vẫn còn thuộc lòng toàn văn hoặc từng đoạn của tập diễn ca này. Ðây chính là bài học kinh nghiệm quý giá đối với những người làm công tác biên soạn sách giáo khoa lịch sử các cấp phổ thông hiện nay.

Xuân Nhâm Thìn này, trong bối cảnh toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân ta đang tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, không gì thiết thực hơn đối với những người làm công tác giáo dục, giảng dạy, nhất là ở bộ môn Lịch sử, chính là học tập và làm theo phương pháp viết và dạy lịch sử của Bác Hồ. Ðó là điều hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học sử đối với thế hệ trẻ ngày nay.

tutuonghochiminh.vn