Archive | Tháng Hai 2012

Chúng tôi đón Bác về lại Thủ đô

Ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Thể thao, nguyên cán bộ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Ngày 14/10/1954, Bác rời thị xã Sơn Tây về Hà Nội. Không khí những ngày Thủ đô mới được tiếp quản thật náo nhiệt, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ đỏ rực đường phố. Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội). Vì là địa điểm được chuẩn bị trước nên công tác bảo vệ không những đảm bảo chặt chẽ mà còn có nhiều thuận lợi…

Cách đây 2 năm, ngày 19/8/2009, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tổ chức lễ khánh thành nhà truyền thống tại số 1- Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội. Ban tổ chức buổi lễ có mời ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao đến dự buổi lễ khánh thành, vì ông có 12 năm công tác trong lực lượng Cảnh vệ và là người vinh dự được bảo vệ Bác Hồ; ông là một trong 8 chiến sỹ cận vệ được Bác Hồ đặt tên: Trường – Kỳ – Kháng – Chiến – Nhất – Định – Thắng – Lợi. Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử Cảnh vệ.

Trong sự kiện quan trọng ấy, vì lý do sức khỏe ông không đến được, nhưng một tháng sau, với tâm huyết của người nghiên cứu lịch sử (trước đây ông làm Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu lịch sử Đảng) và muốn về thăm đơn vị cũ, ôn lại những ngày vinh dự được bảo vệ Bác Hồ, ông đã đến tham quan nhà truyền thống của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ.

Tôi và một số đồng chí làm công tác nghiên cứu lịch sử và truyền thống Cảnh vệ đã được “tháp tùng” ông trong chuyến thăm và được ông tham gia góp ý về sưu tầm tư liệu, sắp xếp trưng bày tư liệu hiện vật. Đặc biệt, gần đây ông cung cấp rất nhiều tư liệu quý báu về công tác bảo vệ Bác Hồ.

Hỏi về những ngày vinh dự được bảo vệ Bác Hồ, như sống lại những ngày trai trẻ, ông kể lại: Trong 12 năm được vinh dự bảo vệ Bác Hồ, tôi có rất nhiều kỷ niệm về Người. Nhưng kỷ niệm sâu sắc nhất là được bảo vệ Bác về tiếp quản Thủ đô Hà Nội tháng 10/1954. Ngày ấy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao cùng các cơ quan Trung ương, Chính phủ rời căn cứ địa Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đi đến thống nhất nước nhà.

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên Phong tại Đền Hùng. Ảnh tư liệu.

Kế hoạch bảo vệ Bác Hồ về tiếp quản Thủ đô được Trung ương chỉ đạo thống nhất và hết sức chặt chẽ. Trung ương giao cho đồng chí Lê Thanh Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh văn phòng, thành lập một tổ công tác tiền trạm để gấp rút tiến hành những công việc chuẩn bị đón Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, Chính phủ về Hà Nội.

Đồng chí Lê Thanh Nghị trực tiếp chỉ định những đồng chí trong tổ công tác tiền trạm gồm: đồng chí Phan Văn Xoàn, đồng chí Quách Quý Hợi (Cục Cảnh vệ), đồng chí Nông Đức Chiến (Bộ Tổng Tham mưu), đồng chí Tạ Đình Hiểu – Chính uỷ Trung đoàn 600 thuộc Đại đoàn 350 và tôi (ngày đó tôi công tác tại Văn phòng Phủ Thủ tướng, phụ trách thanh niên xung phong) làm tổ trưởng.

Chúng tôi nhanh chóng xây dựng kế hoạch bảo vệ trên đường về, tính toán từng trạm nghỉ dừng chân trên đường, phối hợp với Ban Tài chính Quản trị Trung ương lo địa điểm nơi ở và làm việc của Bác, bố trí lực lượng trinh sát và phối hợp với lực lượng quân đội, Công an các địa phương có liên quan phối hợp bảo vệ.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi được lệnh quay lại chiến khu Việt Bắc để đón Bác Hồ về Hà Nội. Đoàn bảo vệ Bác và một số đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng ngay từ đầu tháng 8/1954 đã chuyển địa điểm từ Yên Sơn (Tuyên Quang) về thôn Vai Cầy, xã Văn Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên theo đường mà chúng tôi chuẩn bị trước. Tại đây Bác đã triệu tập toàn bộ CBCS bảo vệ và phục vụ để căn dặn trước khi về Thủ đô Hà Nội.

Như người cha già dặn dò con cháu khi đến công tác tại một môi trường mới. Người nói: “Bác cháu ta cùng quen chịu đựng gian khổ, nay về Hà Nội địch chiếm đóng lâu năm đầy rẫy cảnh sống xa hoa, trụy lạc nên dễ nảy sinh tư tưởng thèm muốn hưởng thụ. Vì vậy, Bác dặn các cô các chú phải vững vàng, đừng sa ngã trước “viên đạn bọc đường”. Lời dạy của Bác có ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn với lực lượng Công an và quân đội về tiếp quản Thủ đô.

Trong những ngày lưu lại ở Vai Cầy, chúng tôi bảo vệ Bác đến thăm Đền Hùng tại xã Hy Cương, huyện Lâm Thao (nay là huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ). Tại đây, Bác đã nói chuyện với Đại đoàn Quân Tiên Phong (tức Sư đoàn 308 – lực lượng chủ lực về tiếp quản Thủ đô); Người đã căn dặn CBCS: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Nói chuyện xong, Người trở lại Vai Cầy, nơi dừng chân cuối cùng ở căn cứ địa Việt Bắc trước khi trở về tiếp quản Thủ đô.

Ông Tạ Quang Chiến (người đeo kính) đang tham quan nhà truyền thống Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tháng 9/2009. Ảnh PV.

Ngày 12/10/1954, chúng tôi bảo vệ Bác rời Đại Từ (Thái Nguyên) về thị xã Sơn Tây. Tại thị xã Sơn Tây, Bác ở và làm việc tại một trạm thuỷ lợi ngay chân đê thuộc thôn Phù Xa, xã Viên Sơn. Địa điểm này là ngôi nhà cấp 4 nhưng rất thoáng mát, bảo vệ tiếp cận nơi nghỉ của Người gồm đồng chí Hoàng Hữu Kháng, Long Văn Nhất, Nguyễn Văn Dũng, Phạm Văn Nền kiêm lái xe.

Ngày 14/10/1954, Bác rời thị xã Sơn Tây về Hà Nội. Không khí những ngày Thủ đô mới được tiếp quản thật náo nhiệt, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ đỏ rực các đường phố Hà Nội. Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội).

Phòng Bác ở và làm việc là một gian đầu hồi trên tầng hai có cửa sổ nhìn xuống cổng phía đường Trần Khánh Dư, ở vị trí này rất dễ quan sát khi có động tĩnh lại thoáng mát. Vì là địa điểm được chúng tôi chuẩn bị trước nên công tác bảo vệ không những đảm bảo chặt chẽ mà còn có nhiều thuận lợi. Lực lượng vũ trang của Trung đoàn 600 có một trung đội bảo vệ vòng ngoài, các lối đi, cổng ra vào đều bố trí trạm gác, tuần tra, bên trong do lực lượng bảo vệ tiếp cận canh gác thường xuyên 24/24 giờ.

Bác ở và làm việc tại nhà thương Đồn Thuỷ đến ngày 19/12/1954, đúng 8 năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, Trung ương mời Người về khu Phủ Chủ tịch ở và làm việc. Theo ý định của Trung ương muốn mời Bác về ở và làm việc tại ngôi nhà Phủ Toàn quyền được sửa sang tu bổ lại sạch sẽ để tiện chủ trì các cuộc họp Chính phủ, tiếp khách trong nước và nước ngoài.

Khi nghe đồng chí Nguyễn Lương Bằng báo cáo ý định này của Trung ương, Bác đến xem, Người khen ngôi nhà to và đẹp nhưng quyết định không ở và đề nghị tu sửa lại căn nhà ba gian gần bờ ao cách Phủ Chủ tịch khoảng 300 mét để ở. Căn nhà này vốn là nơi ở của người thợ điện làm việc cho chế độ cũ nay bỏ không. Người nói: “Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi, lại gần Phủ Chủ tịch khi hội họp tiếp khách đi bộ sang cũng tiện”.

Công tác bảo vệ Bác tại đây có nhiều thuận lợi, lực lượng vũ trang của Trung đoàn 600 bảo vệ vòng ngoài; vòng trong lực lượng Cảnh vệ lập các trạm gác hoá trang, có bảo vệ tiếp cận ngày đêm nơi Bác ở và làm việc…

Có thể nói mặc dù tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở Thủ đô Hà Nội những ngày mới giải phóng hết sức phức tạp, bọn phản động tay sai đế quốc Mỹ và Pháp như Đại Việt, Việt Nam quốc dân đảng, Phục quốc… tích cực chống phá ta, tìm cách cài lại bọn tay sai để thực hiện âm mưu phá hoại, nhất là tìm cách ám hại lãnh tụ. Nhưng với sự chỉ đạo thống nhất và chặt chẽ của Trung ương và trực tiếp là Bộ Công an, lực lượng Cảnh vệ đã phối hợp với lực lượng quân đội và các lực lượng có liên quan bảo vệ an toàn Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước những ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội

Nguyễn Đức Quý

cand.com.vn

Các tác phẩm viết về Bác Hồ

Ba lần gặp Bác trong một chiến dịch.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ với anh hùng dũng sĩ miền Trung: Tập truyện kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ với chiến sĩ: 2 tập.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ: Con người và phong cách.- 4th ed.- H.; Lao Động, 2001.

Bác là Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

BÙI ĐÌNH PHONG. Hồ Chí Minh tầm nhìn thời đại.- H.: Chính trị Quốc gia, 2000.

BÙI ĐÌNH PHONG. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. H.: Lao Động, 2001.

BÙI THIẾT. Địa danh về Hồ Chí Minh/ Bùi Thiết, Lê Kim Dung, Nguyễn Chí Thắng.- H.: Thanh Niên, 1999.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp năm 1946.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Di chúc và thực hiện di chúc của Người.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Chúng ta có Bác HỒ.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

Có Bác trong tim: Hồi ức.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Danh ngôn Hồ Chí Minh.- H.: Văn hóa Thông tin, 2000.

ĐÂNG HÒA. Bác Hồ những năm tháng ở nước ngoài.- 2nd ed.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

ĐINH XUÂN LÂM. Hồ Chí Minh văn hóa và đổi mới.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐINH XUÂN LÂM. Về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh/ Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình Phong.- 2 nd ed.-H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ NHƯ CHUNG. Bác đặt tên anh Hồ Chí Long.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

ĐỖ QANG HƯNG. Bác Hồ với giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ QUANG HƯNG. Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ VÂN PHÚ. Chúng tôi đều là con cháu Bác Hồ.- H.: Lao Động, 2000.

HÀ MINH ĐỨC. Văn thơ Hồ Chí Minh.- H.: Khoa học Xã hội, 2000.

Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại.- 3 rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước: tuyển chọn và chuyên luận.- H.: Chính trị Quốc gia, 2000.

HỒ CHÍ MINH. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Những tác phẩm tiêu biểu (từ 1919 đến 1945).- TP. Hồ Chí Minh: Giáo Dục, 2000.

HỒ CHÍ MINH. Thơ chúc Tết.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

HỒ CHÍ MINH. Thơ: Toàn tập.- TP. Hồ Chí Minh: Văn Nghệ, 2000.

HỒNG HÀ. Thời thanh niên của Bác Hồ.- 7th ed.- H.: Thanh Niên, 1999.

HỒNG KHANH. Chuyện với người cháu gần nhất của Bác Hồ.- 3rd ed.- H.: Thanh Niên, 2001.

HOÀNG NHƯ MAI. Tìm hiểu bản sắc trong thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh/ Hoàng Như Mai, Nguyễn Văn Hấn.- H.: Giáo Dục, 1998.

HOÀNG ĐIỀN. Những ngày sống gần Bác.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

LÊ CUNG. Hồ Chí Minh với Châu Phi.- Huế: Thuận Hóa, 2001.

LÊ KIM. Bác Hồ tiếp xúc với tình báo phương tây.- H.: Công an Nhân dân, 2000.

NGỌC CHÂU. Theo Bác đi chiến dịch.- 2nd ed.- Quân đội Nhân dân, 2001.

NGỌC TƯï. Núi Các Mác, Suối Lê-nin.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

NGUYỄN BÍCH HẠNH. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và Mặt trận đoàn kết dân tộc/ Nguyễn Bích Hạnh, Nguyễn Văn Khoan.- 1st ed.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN CHÍ THẰNG. Hồ Chí Minh tên người tỏa sáng/ Nguyễn Chí Thắng, Nguyễn Ngọc Đào, Lê Kim Dung.- H.: Thanh Niên, 2000.

NGUYỄN ĐĂNG MẠNH. Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chuyên luận.- H.: ĐH Quốc Gia, 1998.

NGUYỄN NGUYÊN TRỨ. Cách viết của Bác Hồ.- TP. Hồ Chí Minh: Giáo Dục, 2000.

NGUYỄN QUỐC BẢO. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN VÂN KHOAN. Bao dung Hồ Chí Minh.- 3rd ed.- H.; Lao Động, 2001.

NGUYỄN VÂN KHOAN. Nhớ lời Bác dạy/ Nguyễn Văn Khoan, Mạc Văn Trọng.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN XUÂN LẠC. Thơ dâng Bác.- H.: ĐH Quốc Gia, 2000.

NGUYỄN XUÂN LẠN. Thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong nghiên cứu phê bình: Tình hình tư liệu, hướng tiếp cận, những vấn đề.- 2 nd ed.- H.: ĐH Quốc Gia, 1999.

NGUYỄN XUÂN THÔNG. Bác Hồ: sự cảm hóa kỳ diệu/ Nguyễn Xuân Thông, Nguyễn Minh Phương, Phạm Thị Lai.- 4th ed.- H.: T hanh Niên, 2001.

NGUYỄN XUÂN THÔNG. Chuyện kể về những cái Tết của Bác Hồ.- H.: Thanh Niên, 2000.

PHAN NGỌC LIÊN. Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế/ Phan Ngọc Liên, Trịnh Vương Hồng.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

PHAN NGỌC LIÊN. Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại.- 1st ed.- H.: Lao Động, 2001.

TẠ HỮU YÊN. Sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh: Những mẫu chuyện về Bác Hồ.- H.: Thanh Niên, 2001.

TRẨN DÂN TIÊN. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.- H.: Văn hóa Dân tộc, 2000.

TRẨN KƯ. Bác Hồ với sách người tốt việc tốt.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN ĐÌNH HUỲNH. Danh nhân Hồ Chí Minh cuộc đời và những sự kiện.- H.: Hà Nội, 2001.

TRẨN ĐƯƠNG. Bảy ngày Bác Hồ thăm Cộng hòa Dân chủ Đức.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN ĐƯƠNG. Những người được Bác Hồ đặt tên.- 2nd ed.- H.:Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN XUẤN TRƯỜNG. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

VŨ KỲ. Người suy nghĩ về tuổi trẻ chúng ta.- 3 rd ed.- H.: Thanh Niên, 2001

quangbinh.gov.vn

Một số hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt

Chủ tịch Hồ chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là chiến sĩ cách mạng kiên cường và là người bạn rất thân thiết của các dân tộc trên thế giới. Đạo đức, phong cách của Người là một tấm gương vô cùng trong sáng và cao thượng. Cuộc đời của Người là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị, hòa đồng. Người đã để lại cho chúng ta một tấm lòng nhân hậu, một tình cảm chan chứa yêu thương với nước, với dân, một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách nói, cách viết, cách làm việc. Những việc làm, lời dạy và hình ảnh của Người luôn in đậm trong tâm trí của các thế hệ người dân Việt Nam. Đối với chúng ta, Người là một Lãnh tụ vĩ đại nhưng Người cũng là một Lãnh tụ bình dị. Nhớ về Người, chúng ta luôn nhớ tới những hình ảnh rất đời thường của Người như một người ông đang bồng cháu, một lão nông đang ngồi câu cá, lội ruộng, tát nước, một ông già đang đánh bóng, đi quyền hay đang khoác vai các chiến sĩ đi dạo trong vườn…

Trong số rất nhiều hình ảnh của Người tại Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt diễn ra tại Việt Bắc tháng 3 năm 1951(*), hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III,  xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh về Người được chụp trong giờ giải lao của Đại hội. Qua những tấm hình này, một lần nữa chúng ta lại thấy được hình ảnh rất đời thường của một lãnh tụ vĩ đại với một phong cách sống hòa đồng, luôn được tin yêu và kính trọng.

Đây là một số hình ảnh được chụp trong giờ giải lao của Đại hội.

Ảnh 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các đại biểu dự Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt, Việt Bắc tháng 3 năm 1951( người ngồi thứ 3, hàng trên, từ trái qua)(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tài liệu ảnh LIII, KC 90- TL7).

Ảnh 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhảy cùng các đại biểu trong giờ giải lao Đại hội, Việt Bắc tháng 3 năm 1951 (người thứ tư hàng ngoài, từ trái qua) (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh  L III, KC 76- TL 64).

Ảnh 3: Chủ tịch Hồ Chí Minh khoác tay nhảy cùng ông Hà Huy Giáp trong giờ giải lao Đại hội, Việt Bắc tháng 3 năm 1951. (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh  L III, KC 77- TL 65).

Ảnh 4: Các đại biểu vui mừng công kênh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Bắc tháng 3 năm 1951.(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài ilệu ảnh LIII, KC 83-TL67).

(*) Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh -Liên Việt họp ở Việt Bắc từ ngày 3 đến 7.3.1951, đã quyết định thống nhất Mặt trận Việt minh và Hội Liên Việt thành một mặt trận chung lấy tên là Mặt trận Liên Việt; ông Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch. Mặt trận Liên Việt bao gồm các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, dân tộc, các nhân sĩ yêu nước đoàn kết đấu tranh nhằm mục đích: tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược, đánh bại bọn can thiệp Mĩ, trừng trị Việt gian phản quốc, củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường và góp sức cùng nhân dân thế giới bảo vệ hoà bình lâu dài.

Phạm Hải Yến – Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

archives.gov.vn

Bác Hồ rất yêu âm nhạc

Báo Việt Nam Độc Lập, số 117, ra ngày 1/2/1942, khoảng một năm sau ngày Bác Hồ trở về nước sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước, có đăng bài ca đội tự vệ, do Bác sáng tác. Toàn văn bài ca như sau:

I

Gươm dao ta
Đem mài đi!
Mài cho bén,
Mài cho sắc
Nhật ta đâm,
Pháp ta chặt.

II

Sắp hàng ra!
Xung phong lên!
Người ta đông
Sức ta bền
Việc giải phóng,
Nhất định nên.

Đáng chú ý là lời dẫn của tác giả về cách hát: chia người làm hai tổ. Bốn câu trên tổ A hát trước, hát giọng cao (nếu có phụ nữ, thì phụ nữ là tổ A). Tổ B hát giọng thấp, theo sau. Ví dụ:

Tổ A hát: Gươm dao ta
Tổ B hát: Gườm dào tà.

Những chữ sắc, bén, đông, bền phải hát dài như: bé-én, sắ-ắc, đô-ông, bề-ền. Hai câu dòng sau cùng (ở mỗi đoạn) thì cả hai tổ đều hát như nhau. Chữchặt và chữ nên phải hát rất mạnh.

Vào thời gian ấy phần lớn người dân Việt Nam còn mù chữ, nói chi tới những chuyện “cao siêu” như biết đọc ký âm pháp. Nhưng do yêu cầu cần có những bài hát cách mạng, những bài thơ cách mạng dễ đọc, dễ hát, dễ phổ biến, nên mặc dù không phải là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, Bác Hồ đã sáng tác bài thơ để hát (theo cách nói của Lữ Huy Nguyên) này để động viên, khuyến khích tinh thần cách mạng của bà con ta.

Trong lời ghi chú của tác giả bài thơ để hát này đã ghi những yếu tố âm nhạc, mà ngày nay người ta dùng những danh từ âm nhạc để diễn tả như:

– Cao độ: giọng cao, giọng thấp.

– Trường độ: những từ cần được kéo dài ra khi đọc hoặc hát như: bén-bé-én, sắc-sắ-ắc, đông-đô-ông, bền-bề-ền.

– Cường độ: chữ chặt và chữ nên phải hát rất mạnh.

– Hòa âm: hát bè.

– Cấu trúc của bài ca rất gọn gàng, câu ngắn chỉ ba chữ, dễ học, dễ nhớ.


Bác chơi guitar ở Hải Phòng (1963). Ảnh: TL.

Chúng tôi cũng muốn nói ngay rằng, Bác là người thuộc khá nhiều bài hát của nước Nga cách mạng, của Liên Xô. Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, báoSao Đỏ của Hồng Quân Liên Xô từng tường thuật buổi gặp mặt giữa Bác và đồng chí Nguyên soái Liên Xô Kli-men Vô-rô-si-lốp (1881-1969), người mà Bác đã có dịp quen biết từ năm 1924, trong lần đầu tiên tới Liên Xô. Trong buổi tới thăm đó, hai vị lãnh tụ cao niên đã cầm tay nhau, say sưa hát những bài ca cách mạng của Liên Xô từ những năm 20, 30 của thế kỷ trước.

Còn chị An-na Xta-xi-a Va-xi-lốp-na và anh Đmi-tri Gri-gô-ri-ê-vích Đi-ô-mi-nưi, những công dân của Liên Xô, đã tâm sự: Năm 1960, trong dịp sang Mát-xcơ-va dự lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, Bác Hồ đã có thư mời anh chị và cháu I-ra-ska, con gái của anh chị và là con đỡ đầu của Bác Hồ, tới gặp mặt. Cuộc gặp gỡ ấm cúng đó đã diễn ra vào ngày 13/11/1960 tại một biệt thự cổ kính ở phố A-lếch-xây Tôn-xtôi. Chị An-na kể lại:

Bác Hồ nói tiếng Nga thoải mái, tự nhiên như người Nga chúng ta vậy. Người biết nhiều thứ tiếng và coi tiếng Nga là tiếng mà người cách mạng nào cũng nên biết, vì đó là tiếng nói của Lê-nin. Người cũng biết những bài hát Nga. Người và chúng tôi đã cùng nhau hát bài Ca-chiu-sa và Chiều ngoại ô Mát-xcơ-va(1).


Bác cùng các em thiếu nhi Liên Xô. Ảnh: TL.

Chúng ta ai cũng biết những năm tháng sống và hoạt động ở Paris vào những năm cuối thập kỷ 1 và đầu thập kỷ 2 – thế kỷ 20, ngoài giờ làm việc, Bác đã tham gia những câu lạc bộ và vào các thư viện đọc sách để nâng cao trình độ về văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật… Chính vì thế Bác đã tích lũy được một khối lượng kiến thức rộng lớn về nhiều mặt, về nhiều bộ môn nghệ thuật.

Bà Giô-tơ-vôn – phu nhân của cố Chủ tịch Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức, Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Dân chủ Đức Ôt-tô Grốt-tơ-vôn – đã có một bài hồi ký vô cùng xúc động về Bác Hồ của chúng ta vào tháng 5/1975 (do Trần Đương ghi), trong đó có một đoạn như sau: “… Bác và nhà tôi đã trao đổi rất nhiều về nghệ thuật. Tôi còn nhớ, một buổi tối, khi Bác tới, nhà tôi mời Bác nghe một đĩa hát thu bản nhạc giao hưởng số 9 của Bít-tô-ven sáng tác trong những năm 1822-1824. Sự xúc động lộ rõ trên gương mặt Bác. Trong những phút này, tôi lại thấy đôi mắt Bác mơ màng, tư lự, đúng là đôi mắt của nhà nghệ sĩ giàu cảm xúc. Nhìn gương mặt ấy, người ta có thể liên tưởng đến Lê-nin khi nghe bản nhạc Áp-pa-xi-ô-na-ta cũng của Bít-tô-ven. Khi bản nhạc vừa dứt, Bác thong thả nói:

– Quả đúng như Bít-tô-ven có lần nói: “Âm nhạc cần phải làm cho ngọn lửa từ trong tâm hồn kiên cường bừng cháy!”.

Người Việt Nam ta chắc ai cũng đã một lần nhìn thấy tấm ảnh nổi tiếng của nhà nhiếp ảnh Lâm Hồng Long: Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc giao hưởng Việt Nam trong lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (1930-1960). Tôi là người may mắn chứng kiến cảnh tượng tuyệt vời ấy trong đêm hôm đó tại vườn Bách Thảo (Hà Nội).


Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn. Ảnh: Lâm Hồng Long.

Khi dàn nhạc giao hưởng gồm 120 nhạc công và đội đồng ca gồm hơn 800 diễn viên là thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội đang sẵn sàng biểu diễn thì Bác Hồ và các vị khách quốc tế xuất hiện trước khu vực sân khấu. Tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay như những đợt sóng truyền từ khu vực này đến khu vực khác.

Bác từ từ bước lên sân khấu, mượn nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu chiếc đũa chỉ huy trước con mắt tò mò và ngạc nhiên của mọi người, rồi Bác hỏi các nhạc công và các diễn viên: “Các cháu đã sẵn sàng chưa?” – mọi người vui vẻ trả lời: “Thưa Bác, đã sẵn sàng”. Bác nói tiếp: “Bây giờ chúng ta cùng hát và cùng biểu diễn bàiKết đoàn, chúng ta là sức mạnh!”. Mọi người chăm chú nhìn vào cánh tay chỉ huy của Bác. Sau một tích tắc im lặng, Bác vung cây đũa chỉ huy lên!… Và nhà nhiếp ảnh Hồng Long đã chớp được phút giây tuyệt vời đó!

Tôi cứ tưởng đó là bức ảnh duy nhất chụp Bác chỉ huy dàn nhạc, dàn đồng ca. Không phải! Gần đây, Trung Quốc phát hành một cuốn ảnh tuyệt đẹp và quý hiếm về Bác Hồ tại Trung Quốc và Hồng Kông. Trong tập ảnh cũng có một tấm ảnh chụp Bác Hồ đang “cầm càng” chỉ huy các thanh niên Trung Quốc hát. Quả là hết sức thú vị! Như vậy là Bác Hồ cũng phải biết cả bài hát Trung Quốc nữa. Có biết hát thì mới “cầm càng” được bài hát đó chứ? Tôi cứ tò mò muốn biết: đó là bài hát nào?


Bác cùng với thiếu nhi Trung Quốc. Ảnh: TL.

Một con người trong vòng 30 năm từng bôn ba khắp năm châu bốn biển, đã tích lũy cho mình một vốn văn hóa sâu rộng của cả Đông lẫn Tây, nhưng trong lòng vẫn đau đáu nhớ một giọng ru con của bà mẹ Việt Nam, nhớ từng câu Kiều. Thật xúc động khi đọc những dòng hồi ức sau đây của đồng chí Trần Lam, người từng hoạt động với Bác trong những ngày Người sống ở Thái Lan (1929): “Có một lần đi đến nửa đường thì trời tối. Bác và tôi ghé vào một nhà kiều bào người Bắc làm thợ mộc. Anh chị thợ mộc đón tiếp rất tử tế. Cơm nước xong, hai bác cháu nghỉ thì cũng vừa lúc chị thợ mộc ru cháu bé ngủ. Giọng chị ngâm Kiều rất hay, hai bác cháu lắng nghe, rồi ngủ đi bao giờ không biết. Sáng hôm sau, lúc đi đường, với một giọng âu yếm, Bác bảo tôi: Xa nhà chốc mấy mươi niên/ Tối qua nghe giọng mẹ hiền ru con!”.

Sau này, khi tuổi đã cao, Người vẫn còn nhớ từng câu dân ca, từng làn điệu hát phường vải mà Người từng được nghe, từng nhập tâm từ những ngày thơ ấu. Chị Minh Huệ, một diễn viên văn công, nhớ lại: “Khi Người về thăm quê hương xứ Nghệ sau hơn nửa thế kỷ xa cách, trong phần biểu diễn văn nghệ để chào mừng Bác, tôi đã thưa với Bác:

– Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ.

Tôi cất giọng:

– A ờ ơ… Ru em em ngủ cho muồi

Bác sửa lại:

– Ru tam tam théc cho muồi (“tam” là tiếng miền Trung dùng để chỉ “em”, “théc” là “ngủ”).

Tôi hát lại:

– Ru tam tam théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Bác sửa lại:

– Để “mạ” chứ không phải để “mẹ”.

Tôi sung sướng hát tiếp:

– Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau chợ Sải, mua cầu chợ Dinh.

Bác cười, ân cần sửa nốt:

– Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải.(2)

Người không chỉ nhớ những làn điệu dân ca ở quê hương xứ Nghệ, Người còn yêu thích những làn điệu dân ca ở các vùng quê khác nhau của đất nước ta. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã kể lại trên báo Văn Nghệ số 36 (tháng 10/1952) câu chuyện sau đây: “Giữa hai phần nói chuyện về: “cách viết” tối 17/8/1952, trong giờ nghỉ anh chị em hò những điệu hò bình dân, ca những lời ca dân tộc cò lả, hò giã gạo, chèo, ngâm thơ. Thỉnh thoảng Bác hỏi: – Cô, chú nào ngâm sa mạc? Bác thích nghe những điệu quen thuộc, nhẹ nhàng đó”.


Bác Hồ tại phòng khách Phủ Chủ tịch. Ảnh TL.

Bác không chỉ yêu mến những làn điệu dân ca của nước ta, Bác còn yêu thích cả những nhạc cụ dân tộc nữa. Nghệ sĩ sáo Đinh Thìn, diễn viên Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, người đã nhiều lần biểu diễn cho Bác Hồ nghe, đã kể lại câu chuyện thú vị sau đây: “Hôm đó Bác tiếp khách riêng của Bác. Trong phòng người nghe không đông lắm, tôi thổi bài Nhớ về Nam. Bác ngồi ngay trước mặt tôi. Bác nghe chăm chú. Thổi xong tôi cúi đầu chào, định quay về chỗ ngồi, thì Bác đứng dậy, Bác cầm xem chiếc sáo của tôi, Bác hỏi:

– Chiếc sáo này cháu tự làm lấy hay mua?

– Thưa Bác cháu làm lấy ạ.

– Tự làm như thế là giỏi. Làm sáo khó lắm không cháu? Trong kháng chiến chống Pháp, Bác thấy các chú bộ đội làm sáo nhanh lắm. Đi hành quân, đi tập đều mang theo, thổi rất vui…

Bác để sáo lên miệng thổi. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng lại, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác. Bác lắng hơi, nhẹ thổi. Hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác, gợi thành một làn điệu dân ca. Bác thổi vừa dứt, tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên, vừa sung sướng. Bác bỏ ống sáo xuống, lấy dáng điệu, cúi chào như một diễn viên thực thụ. Tiếng vỗ tay, tiếng cười vui vẻ lại vang lên. Bác cũng vui vẻ cười”.

Cụ Hoàng Đạo Thúy, một nhà trí thức lớn của ta, từng giữ trọng trách Cục trưởng Cục Thông tin Liên lạc, Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thi đua Toàn quốc, có lần kể lại chuyện thời ở chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp:

“Một lần, Cụ Hồ tóm lấy cánh tay tôi:

– Tối hôm nay, cụ tổ chức lửa trại nhé!

– Cụ cho lệnh tổ chức, tôi xin làm. Nhưng thưa cụ, ở lửa trại thì người giữ lửa có quyền to lắm, ai cũng phải nghe đấy.

– Nhất định thế!

Bọn chúng tôi vẫn có cái thói cứ hay “chọc” Cụ một cách kính mến, không dám làm Cụ bí, vì Cụ có bí bao giờ đâu, nhưng để xem Cụ đối phó thế nào, rồi ngồi cười cùng nhau, lý thú về cách trả lời của Cụ. Cụ cũng hiểu thế và mỉm cười.

Mọi người đã ngồi quanh đống lửa. Tôi châm lửa và tuyên bố:

– Thi hành quyền lực của trùm lửa trại, tôi xin đề nghị Cụ Chủ tịch hát mở đầu cuộc vui.

Mọi người nhìn cả về phía Cụ. Cụ nhẹ nhàng đứng dậy, vừa đi quanh vừa hát:“Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu/Dấy binh lấy lau làm cờ/Quên mình là mình giúp nước…”.

Già trẻ ai nấy con mắt long lanh, nhìn âu yếm Cụ Chủ tịch của mình, mà như thế là cuộc lửa trại vui lên…”

Chúng ta đã rất quen với hình ảnh Bác Hồ tặng hoa cho những diễn viên có những tiết mục hát, múa, chơi đàn, thổi sáo, ngâm thơ…, thường chỉ là một bông hồng, một nụ hôn thân thiết, nhưng đã làm cho các diễn viên trong và ngoài nước nhớ suốt đời.

Chính do tâm hồn nghệ sĩ và lòng yêu âm nhạc của Bác mà ngày nay chúng ta được thưởng thức rất nhiều câu thơ và những đoạn văn, những lời phát biểu có nhắc tới âm nhạc, giàu chất thơ, chất nhạc.

Sau này, trong tác phẩm Nhật ký trong tù, đã bao nhiêu lần Bác nói về lời ca, câu hát, điệu nhạc, những thứ đã động viên tinh thần, nghị lực của Bác trong những giờ phút khó khăn, gian khổ nhất, khi cái chết kề bên. Trong ngục tù u ám của huyện Tĩnh Tây, Người vẫn thấy có những lúc khắp nơi “vang tiếng dân ca, rộn tiếng ngâm”. Người viết về bạn tù thổi sáo:

Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.

(Nam Trân dịch)

Mặc dù tay bị trói, chân bị còng, nhưng Người vẫn nghe tiếng chim hót:“Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần” (Đêm ngủ ở Long Tuyền);“Mặc dù bị trói chân tay/ Chim ca rộn núi, hướng bay ngát rừng/ Vui say ai cấm ta đừng/ Đường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu” (Trên đường – Nam Trân dịch).

Về việc chọn Quốc ca thì theo Bác Quốc ca phải sâu sắc về nội dung và đẹp về lời ca. Bác đồng ý chọn bài Tiến quân ca, một bài hành khúc nghiêm trang, hào hùng, nhịp lại thong thả, dễ hát. Bác tham gia ý kiến sửa lại lời ở một số câu cho chính xác hơn, đẹp hơn, phù hợp với Quốc ca như: Đoàn quân Việt Minh… sửa là Đoàn quân Việt Nam…Thề phanh thây uống máu quân thù sửa lại là Đường vinh quang xây xác quân thù.


Tiến quân ca – Quốc ca Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, Tiến quân ca được vang lên tại Quảng trường Ba Đình, trong ngày Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập, trở thành Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(3).

Nhạc sĩ Trần Hoàn đã viết một ca khúc rất đẹp Lời Bác dặn trước lúc đi xamà chúng ta ai cũng yêu thích. Nội dung bài hát dựa vào một câu chuyện có thật: Ngày 27/8/1969, sức khỏe của Bác đã kém lắm, nhưng Bác vẫn giữ yên lặng, không hề rên la kêu đau. Khoảng 9 giờ sáng, y tá Nguyễn Thị Oanh đưa thuốc vào mời Bác uống và nhẹ nhàng cắt móng tay cho Bác, Bác đã hỏi chuyện cô và bảo cô hát cho Bác nghe. Y tá Nguyễn Thị Oanh đã hát bài Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác, Bác nhìn Oanh âu yếm, khích lệ. Oanh đã hát tiếp bài dân ca Quan họ Bắc Ninh Người ơi, Người ở đừng về, nghe xong Bác rất hài lòng, mỉm cười và bảo đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác, tặng một bông hoa cho Oanh. Đó là bông hoa cuối cùng của Bác tặng một ca sĩ nghiệp dư, trước lúc Bác vĩnh viễn ra đi(4)

Có một chuyện liên quan tới lòng yêu âm nhạc của Bác Hồ mà mãi tới tháng 9/1969, chúng ta mới được biết qua bài báo của nhà báo Pháp nổi tiếng, bà Ma-đơ-len Ríp-phô (Madeleine Riffaud), người con gái đỡ đầu của Bác, đăng trên báo L’Humanité ngay sau ngày Bác mất. Bà Ma-đơ-len Ríp-phô kể rằng: Có một lần Bác Hồ bảo tôi: “Con ạ, nếu con muốn làm vui lòng Bác thì hãy gửi cho Bác cái đĩa hát có những bài trước đây của Mô-rít Sơ-va-li-ê (Maurice Chevalier). Hồi ở Paris xưa kia Bác vẫn thường nghe, hồi ấy con còn chưa ra đời”.

Trở về nước, bà tìm mãi những đĩa hát ấy mà không thấy. Mãi tới dịp kỷ niệm thượng thọ 80 tuổi Mô-rít Sơ-va-li-ê, người ta mới tái bản những đĩa hát đó. Bà mua ngay và gửi biếu Bác Hồ. Hai ngày sau khi Bác qua đời, Ma-đơ-len Ríp-phô nhận được một bức thư của Tê-ô Rông-cô, phóng viên thường trú của báoNhân Đạo tại Hà Nội. Lá thư được viết trước đó ba tuần, trong đó kể rằng: “Bác Hồ đã nhận được cái đĩa hát. Bác đã nghe các đĩa đó rất thích thú và rất hài lòng”.

Năm 1946, khi Bác Hồ sang thăm chính thức nước Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp, các cháu thiếu nhi con em Việt kiều mang hoa tới tặng Người và hát những bài hát Việt Nam mà các cháu mới học được để chào mừng Bác. Bác rất xúc động và hỏi các cháu:

– Các cháu có biết bài Quốc ca của Pháp không?

Các em đồng thanh trả lời:

– Thưa Bác có ạ.

– Thế thì các cháu hát xem nào!

Và bài Marseillaise đã hùng dũng vang lên trong căn phòng qua giọng hát trong trẻo của các cháu.

Trở lại với câu chuyện về đĩa hát của Mô-rít Sơ-va-li-ê. Cuối cùng bài báoBác Hồ vĩnh biệt chúng ta giữa những ngày thu, Ma-đơ-len Ríp-phô đã xúc động thốt lên: “Chúng tôi tự hào rằng đồng chí Hồ Chí Minh yêu mến nhân dân Pháp. Vì thế chúng tôi càng thấy rõ trách nhiệm của mình trước những nỗi đau mà nước Việt Nam đang phải chịu đựng. Chúng tôi thề sẽ xứng đáng với tình bạn của một trong số những nhà cách mạng vĩ đại nhất của thời đại hiện nay, chúng tôi sẽ ra sức chiến đấu bên cạnh nhân dân Việt Nam”.


(1) Những người con đỡ đầu của Bác Hồ (Trần Đương), NXB Quân Đội Nhân Dân, tr.57.
(2) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, tr.231-232.
(3) Chuyện kể về Bác Hồ, tập 1, NXB Nghệ An, tr.133-135.
(4) Chuyện thường ngày của Bác Hồ (Hồng Khanh), NXB Thanh Niên, tr.201.

honvietquochoc.com.vn

Những lời phát biểu của Hồ Chủ Tịch đối với Quảng Bình

Ở miền Bắc có những đơn vị dân quân già như ở Thanh Hoá đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Có những trung đội dân quân toàn là các cháu gái nông thôn đã bắn rơi máy bay Mỹ. Đặc biệt là có cháu Nguyễn Thị Xuân 19 tuổi, ở tỉnh Quảng Bình, một mình dùng súng bộ binh với hơn 20 viên đạn đã bắn rơi máy bay phản lực của Mỹ…

(Trích trong bài nói của Hồ Chỉ tịch tại cuộc mít tinh Kỷ niệm ngày thành lập Quân đội và Ngày toàn quốc kháng chiến 19 và 22-12-1967)

… Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khoẻ và giải trí của nhân dân. Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình các liệt sĩ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong.

Trên miền Bắc nước ta, rất nhiều xã và hợp tác xã đã có thành tích khá về mặt này như xã Nhân Trạch (tỉnh Quảng Bình).

(Trích thư Hồ Chủ Tịch gửi Đảng Lao động Việt Nam, Nghệ An ngày 21-7-1969)

…Phòng không nhân dân, cũng là việc rất cần thiết để bảo vệ tính mạng và tài sản của đồng bào. Việc này có nơi như Vĩnh Linh, Quảng Bình v.v… làm được tốt. Nhưng có nơi còn chủ quan, làm một cách qua loa. Có nơi thì dùng cách quan liêu, mệnh lệnh. Những nơi đó cần phải sửa chữa ngay.

(Trích bài nói chuyện tại Hội Nghị tổng kết ba năm xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt”năm 1966)

…Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được. Vừa rồi báo Nhân dân có đăng câu chuyện về phòng không. Có mấy đồng chí cán bộ xã ngồi bàn với nhau. Phòng không là phải đào hầm, xây hầm, tốn mấy vạn viên gạch, mấy nghìn cây tre, và mấy trăm đồng nữa. Chi phí lớn quá và khó thực hiện. Nhưng có một cô kỹ sư có ý kiến là cần đưa ra quần chúng bàn bạc tham gia. Sau đó mời quần chúng lại, nói rõ âm mưu của địch là hiện nay nó bắn lung tung như thế, ta phải đào hầm hố để ẩn nấp. Vậy ta nên đào như thế nào? Thế là quần chúng giơ tay hưởng ứng. Người thì xin góp mấy chục viên gạch, người thì xin góp mấy tấm ván, người thì xin góp mấy cây tre… chỉ trong hai ngày là họ làm xong tất cả các hầm trú ẩn ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, do đi theo đường lối quần chúng mà nhân dân đào được hàng nghìn cây số hào, hàng chục vạn hầm. Cho nên việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt. Các đồng chí ở Quảng Bình nói rất đúng:

Dễ mười lần không dân cũng chịu,

Khó trăm lần dân liệu cũng xong.

Ở Thái Bình, Quảng Bình và một số nơi khác đang tiến hành việc “bình công”, “báo công”. Qua bình công, báo công, ai làm được gì tốt, ai không làm hoặc làm xấu mọi người đều biết. Đó mới thực sự dân chủ, đó là cách phê bình, tự phê bình rất tốt. Làm như vậy quần chúng tự giáo dục cho nhau và giáo dục cho cán bộ nữa.

(Trích bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện ngày 18-1-1967)

… Trong cuộc chống Mỹ, cứu nước hiện nay, các bà mẹ chiến sĩ đã khuyến khích con cháu của mình vào bộ đội đánh giặc, cứu nước, còn ân cần nuôi nấng, giúp đỡ bảo vệ cán bộ và chiến sĩ khác như con cháu mình. Thí dụ: Bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xông pha bom đạn, không sợ sóng to, gió lớn, suốt ngày đêm chèo thuyền đưa bộ đội và cán bộ qua sông để chiến đấu.

(Trích bài nói chuyện nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam, ngày 20-10-1966)

quangbinh.gov.vn

Thư của Hồ Chủ tịch gửi Hội nghị cán bộ y tế đầu năm 1955

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, trong đó, những người đau ốm, bệnh tật là những người được quan tâm nhất. Người đã viết nhiều bức thư gửi ngành y tế khuyên người thầy thuốc cần nâng cao y đức để chăm sóc, cứu chữa cho người bị bệnh, người bị thương. Trong Hội nghị Cán bộ y tế được tổ chức từ ngày 21/2 đến 02/3/1955 tại Thủ đô Hà Nội vào đúng ngày 27/02/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị. Trong thư, Người nhắc nhở cán bộ y tế phải đoàn kết và thắt chặt đội ngũ, phải nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, thương yêu nhân dân như ruột thịt. Người đã nhắn nhủ trách nhiệm của các cán bộ là phải “thương yêu người bệnh” và coi họ như người thân của mình. Người còn căn dặn phải xây dựng được một nền y học dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng.

Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, ngày 06/02/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27/02 hàng năm làm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” và cũng kể đó, ngày 27/02 đã trở thành ngày truyền thống của ngành Y tế.

Hiện nay, bức thư này đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, trong Phông Bộ Y tế, hồ sơ 142, tờ số 04. Nhân dịp kỷ niệm 55 năm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” (27/02/1955 – 27/02/2010), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn bức thư này.

THƯ CỦA HỒ CHỦ – TỊCH
GỬI
HỘI – NGHỊ CÁN – BỘ Y – TẾ ĐẦU NĂM 1955
GỬI HỘI – NGHỊ CÁN – BỘ Y – TẾ

Bác thân ái chúc các cô (nghe nói có nữ bác-sĩ ở Nam về?) các chú vui vẻ mạnh khỏe, hăng hái trao đổi kinh-nghiệm, bàn định kế hoạch cho thiết thực, và làm việc cho tiến bộ.

Bác góp vài ý-kiến sau đây để giúp các cô các chú thảo-luận:

– Trước hết là phải thật thà đoàn kết – Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích.

Đoàn kết giữa cán-bộ cũ và cán-bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y-tế – từ các bộ-trưởng, thứ-trưởng, bác-sĩ, cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y-tế, trong việc phục vụ nhân dân.

– Thương yêu người bệnh – Người bệnh phó thác tính mạng của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng-bào. Đó là một nhiệm-vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán-bộ cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương-y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng.

– Xây dựng một nền y-học của ta – Trong những năm nước ta bị nô lệ, thì y-học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán-bộ cần giúp đồng-bào, giúp Chính-phủ xây dựng một nền y-tế thích hợp với sự nhu cầu của nhân dân ta. Y-học càng phải dựa trên nguyên-tắc: khoa-học, dân tộc và đại chúng.

Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh-nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y-học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “đông” và thuốc “tây”.

Mong các cô các chú cố gắng thi đua, làm tròn nhiệm vụ.

Chào thân ái và thành công

2-55
HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Lan Phương – Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

archives.gov.vn

Một số hình ảnh của Bác Hồ với nhân dân Quảng Bình

Website Quảng Bình xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh quý báu của Bác Hồ với quân và dân Quảng Bình.


Ảnh Bác Hồ tặng quân và dân Quảng Bình nhân dịp sinh nhật 19-5-1968


Bác Hồ trên lễ đài tại sân vận động Đồng Hới ngày 16-6-1957


Bác Hồ trên lễ đài tại sân vận động Đồng Hới -1957


Bác Hồ nói chuyện với mẹ Suốt tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Bắc năm 1966


Bác Hồ với anh hùng Nguyễn Thị Kim Huế năm 1968


Bác Hồ với Đoàn văn công Quảng Bình

quangbinh.gov.vn

Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người

Khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu kéo về xua tan cái oi bức, nóng nực của khí trời mùa hạ 2010; khi những con ve sầu bắt đầu râm ran trong vòm lá, người người lại nô nức đón chào kỉ niệm lần thứ 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh- Vị Cha già kính yêu của dân tộc (19- 5- 1890 và 19- 5- 2010).

Chiều nay, bước trên đường phố Long Xuyên tôi nghe tâm hồn mình xao xuyến lạ. Còn đôi ngày nữa thôi, cả nước lại hân hoan đón chào sinh nhật Bác Hồ- Người đã hy sinh cả đời mình cho non sông, đất nước. Cuộc đời và tấm gương đạo đức của Bác là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác. Tôi thích nhất là bài “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của nhạc sĩ Trần Khiết Tường

“Tôi hát ngàn lời ca bao la hơn những cánh đồng.
Mênh mông hơn mặt biển Đông, êm đềm hơn những dòng sông” 

Bài hát được cất lên với những giai điệu nhẹ nhàng mà da diết lòng người. Lời ca có một sức mạnh diệu kỳ, lời ca thâu tóm những mênh mông của đất trời, sông núi. Không chỉ có thế, lời bài ca được tác giả hình tượng hóa lên một cách đẹp đẽ lạ thường:

“Tôi hát ngàn lời ca nồng nàn hơn nắng ban mai, đẹp tình hơn cánh hoa mai” 

Những gì tinh tuy nhất, đẹp đẽ nhất, nên thơ nhất trong cuộc sống đã được tác giả khắc họa vào ca khúc của mình. Lời ca đã vượt lên trên tất cả, nó nồng nàn hơn ánh nắng ban mai, đẹp tình hơn cả những cách mai vàng rộn sắc hương. Trần Khiết Tường đã phả vào ca khúc của mình một luồng sinh khí của thiên nhiên đất nước. Phải chăng tâm hồn tác giả đang phơi phới, tác giả cất cao giọng hát, thả rộng hồn mình vào giữa sắc nước mây trời. Đâu là động lực để tác giả yêu đời, yêu cuộc sống đến thế:

“Hùng thiêng hơn núi sông dài là một niềm tin Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh” 

Nếu ở những giai điệu ban đầu ta cảm nhận được một Trần Khiết Tường đang yêu đời, yêu cuộc sống, đang say sưa cất cao giọng hát thì đến đây ta hiểu được tại sao tác giả mở rộng hồn mình với thiên nhiên đến thế!

“Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh” 

Hồ Chí Minh- Người đã đem đến cho tác giả một nguồn cảm hứng bất tận, một niềm tin vững chắc vào cuộc sống. Lời bài hát cứ láy đi láy lại cụm từ “Hồ Chí Minh”, “niềm tin” làm cho bài hát càng thêm sức sống. Phải chăng Hồ Chí Minh là một biểu tượng, là niềm tin vững chắc không riêng gì tác giả mà là của toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân loại?!

Bác Hồ đang chỉ huy dàn nhạc

Bác Hồ nói chuyện với các chiến sĩ tại Đền Hùng

Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc, gian khổ hiểm nguy từng giây từng phút đe dọa nhưng người chiến sĩ cách mạng luôn kiên trì gìn lòng, không khuất phục trước quân thù. Họ vẫn luôn giữ vững một niềm tin tất thắng ở ngày mai. Họ tin tưởng vào Đảng, vào tài lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ. Lời của Người là lời của non sông đất nước, là hồn thiêng sông núi.

“Trên cánh đồng miền Nam đau thương mây phủ chân trời.
Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm vui” 

Khi Trần Khiết Tường viết ca khúc “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” chính là lúc nhân dân miền Nam đang ra sức đánh Mỹ cứu nước. Nhân dân đang sống trong cảnh gông cùm của gót giày xâm lược, đau thương trùm phủ chân trời.

Mặc dù đau thương, mặc dù sống trong cảnh chinh chiến nhưng nhân dân ta luôn giữ vững niềm tin, niềm vui vẫn hiện mãi trên môi khi “ca lên Hồ Chí Minh”. Nhắc đến Bác, nghĩ về Bác lòng ta càng thêm yêu đời.

“Trên xóm làng miền Nam hình Người như tiếng quân ca, giục lòng vươn cánh bay xa.
Vùng lên giải phóng quê nhà là một niềm tin Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh”

Bác Hồ –  Vị lãnh tụ – người cha vĩ đại
sẽ sống mãi trong mỗi trái tim Việt Nam

Bác Hồ là một vị thuyền trưởng tài ba ngày đêm “lèo lái con thuyền cách mạng” đi đến bến bờ. Hình ảnh của Người như tiếng quân ca, giục lòng người hướng về tương lai tươi với nền hòa bình cho đất nước. Nhân dân nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác vùng lên đấu tranh giải phóng quê nhà với niềm tin tất thắng.

Nay bác đã mãi mãi đi xa để lại cho cháu con nghìn tiếc nuối “Bác đã lên đường theo tổ tiên. Mác- Lênin thế giới người hiền”. Con cháu nguyện lòng nhớ mãi ơn Người sẽ luôn gắng sức làm theo lời Người dạy để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” như lòng Bác mong đợi.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ BÁC KÍNH YÊU

danang.violet.vn

Vài nét về bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực hành về tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”

Tại kỳ họp thứ II, Quốc hội khoá XII khai mạc ngày 22.10.2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trình bày Báo cáo về tình hình kinh tế, xã hội năm 2007 và nhiệm vụ năm 2008, nội dung phần 7 của Báo cáo là “Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công tác phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. Thiết nghĩ, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” nhân dịp có phong trào sản xuất và tiết kiệm năm 1952, là một tài liệu tham khảo quan trọng và có ý nghĩa to lớn và vẫn mang tính thời sự.

Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm 14 trang, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, (Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 1351), do Người tự đánh máy trên nền giấy khổ 20cm x 26cm và có bút tích sửa chữa.

Bài nói chuyện chia thành 3 phần rõ rệt:

Phần đầu với gần 3 trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về “tiết kiệm”. Sau khi định nghĩa “Tiết kiệm là gì?”, “Vì sao phải tiết kiệm?”. Người chỉ rõ rằng “Tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta”. “Chúng ta phải tiết kiệm sức lao động”, “chúng ta phải tiết kiệm thời giờ”, “chúng ta phải tiết kiệm tiền của”, “chúng ta phải tìm cách tổ chức sắp đặt cho hợp lý, để một người có thể làm việc như hai người, một ngày có thể làm việc của hai ngày, một đồng có thể dùng bằng hai đồng”. Người khẳng định: “Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm… ai cũng có thể và cũng nên tiết kiệm”.

Phần hai của bài nói chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về những biểu hiện của nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu, mối quan hệ giữa chúng. Đồng thời, Người chỉ rõ rằng phải chống nạn tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu.

Người ví nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu giống như một loại cỏ: “Muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch. Nếu không, thì dù cày bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi”. Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu”.

Người nêu những biểu hiện của bệnh tham ô, là “ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung để làm quỹ riêng… khai gian lậu thuế”, biểu hiện của lãng phí, như “lãng phí sức lao dộng”, “lãng phí thời giờ”, “lãng phí tiền của”.

Người nói tiếp “có nạn tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu”, “bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước phải tẩy cho sạch bệnh quan liêu”.

Người kết luận “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Không chỉ thế, nó còn là “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của chúng ta, để làm hỏng công việc của ta”. Người nói, “tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”. Người coi “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng, chính trị”.

Bằng sự phân tích, chứng minh, và với lối nói giản dị, dễ hiểu, lôi cuốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện của tư tưởng không lành mạnh trong các tầng lớp nhân dân và cán bộ, đồng thời Người cũng đã vạch ra cách tổ chức đấu tranh với những tư tưởng đó. Theo Người có 3 bước để đấu tranh: bước 1, đánh thông tư tưởng; bước 2, chia thành nhiều tổ để nghiên cứu những tài liệu như lời dạy của Lênin, Staline, Mao Trạch Đông về tiết kiệm và chống tham ô, lãng phí, quan liêu… Bước thứ 3 là tiến hành kiểm thảo để giải quyết các vấn đề, giải thích các thắc mắc, sửa chữa những khuyết điểm trong phong trào kiểm thảo.

Người nói, “Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ, nghĩa là:

– Ai kiểm thảo đúng những người khác, sẽ được khen thưởng,

– Ai có lỗi mà thật thà tự kiểm thảo thì lỗi nhẹ sẽ được tha thứ, lỗi nặng sẽ được xử nhẹ hoặc lấy công chuộc tội (Trừ những tội lỗi đặc biệt nặng).

– Ai có lỗi mà không thật thà nói ra, sẽ bị kỷ luật

– Ai ngăn cản đe dọa những người không kiểm thảo mình, sẽ bị kỷ luật”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh một cách biện chứng: “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu “là cách mạng”… “là dân chủ”. Người đề ra nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Người khẳng định, “tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng… Người gọi đó là “giặc nội xâm”.

Phần ba của bài nói chuyện gồm 6 trang, Người lược dịch những bài nói về tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và chống bệnh quan liêu của Lênin, Staline, Mao Trạch Đông để mọi người nghiên cứu.

Bài nói chuyện không chỉ có ý nghĩa trong thời điểm lịch sử lúc bấy giờ mà còn có giá trị to lớn đối vối hôm nay, khi cuộc vân động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang phát triển mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân và đặc biệt là cán bộ công nhân viên chức cả nước.

Lê Thị Lý
Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III

archives.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc và chấn hưng đất nước

(ĐCSVN)Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc ta. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng của Người là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là xây dựng đất nước đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc

Lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước Việt Nam gắn liền với những cuộc đấu tranh của lớp lớp ông cha nhằm chống lại kẻ thù ngoại bang âm mưu chia cắt và nô dịch dân tộc ta. Trong lịch sử nhân loại, việc đấu tranh chống ngoại xâm không phải là đặc điểm riêng của một dân tộc nào, song thật hiếm có một dân tộc như Việt Nam, thường xuyên phải đấu tranh chống lại nhiều kẻ thù mạnh hơn để giành lại quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Quyền thiêng liêng ấy đã được Lý Thường Kiệt khẳng định từ thế kỷ XI, Nguyễn Trãi nhấn mạnh trong “Bình Ngô đại cáo”, thế kỷ XV.

Từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã xâm chiếm hầu hết các quốc gia ở Á, phi, Mỹ La tinh, nền độc lập của Việt Nam bị đế quốc Pháp tước đoạt, nước Việt Nam bị chia cắt thành 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau. “Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước” đã trở thành ước mơ, khát vọng cháy bỏng của mỗi người dân Việt. Lớp lớp văn thân, sĩ phu và những người yêu nước đã chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, tất cả các phong trào đấu tranh, các cuộc khởi nghĩa đều bị thất bại, bị dìm trong máu.

Cùng chung ước mơ, khát vọng của dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận ra, những hạn chế trong đường lối đấu tranh giành độc lập của các thế hệ cha ông, ”không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”. Vượt qua những lối mòn cứu nước của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước. Vận mệnh của nước, của dân gắn bó mật thiết với một quyết định mà lịch sử đã chứng minh là sáng suốt phi thường. Trải qua gần 10 năm bôn ba nhiều châu lục, gắn bó với phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước và giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn. Từ đó, hoài bão mang lại độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào chi phối toàn bộ tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Được hỏi về lý do bỏ phiếu tán thành Đảng Xã hội Pháp đi theo con đường Quốc tế Cộng sản, Quốc tế thứ ba, Hồ Chí Minh đã trả lời nữ đồng chí Rôdơ rằng: ”Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Cũng ngay tại Pa ri, khi Bộ trưởng thuộc địa Pháp Anbe Xarô gọi Hồ Chí Minh đến lấy cớ “hỏi thăm” để răn đe, Người đã thẳng thắn trả lời: ”Cái mà tôi cần trên đời này là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

Trước khi rời Pháp, tìm đường về nước, giữa năm 1923 Hồ Chí Minh đã viết thư gởi các bạn trong “Hội liên hiệp thuộc địa”, nêu rõ những nhiệm vụ sắp tới trong chuyến đi bí mật của mình là: ”Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Hồ Chí Minh khẳng định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, ”chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ để giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã khẳng định cách mạng trước hết cần có đảng cách mạng. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác- Lênin ”làm cốt”, phải gắn bó máu thịt với nhân dân, phải đặt quyền lợi của toàn dân tộc lên trên hết. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng là Người luôn dành cho yếu tố dân tộc một vị trí đặc biệt. Điều đó được thể hiện từ việc xác định các yếu tố cấu thành Đảng, xác định đường lối đến việc đặt tên Đảng. Theo đó, trong tiến trình cách mạng, nhất là ở những thời điểm có ý nghĩa quyết định như khi chuẩn bị Tổng khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám 1945 hay những năm tháng cam go của kháng chiến chống Mỹ sau này, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh quyền lợi dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VIII, năm 1945 dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh đã xác định: ”Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cúng không đòi lại được”.

Đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh luôn là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước, Người tìm ra những, lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là châu Âu, cách mạng thuộc địa có thể thành công trước cách mạng chính quốc. Đồng chí Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc nhất của Hồ Chí Minh cho rằng những người nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh rất hào hứng và thú vị, tìm thấy biết bao luận điểm độc đáo của Nguyễn Ái Quốc về sự nghiệp cách mạng ở các nước thuộc địa, nghĩa là xung quanh vấn đề độc lập dân tộc. Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: ”Ở đây, người ta không thể không ngạc nhiên cao độ lúc Hồ Chí Minh khẳng định rằng cách mạng thuộc địa có thể diễn ra và thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc”.

Trong tiến trình lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sớm vượt trước các bậc tiền bối và những người cùng thời trong việc tập hợp lực lượng, tiên đoán và chớp thời cơ cho công cuộc giải phóng. Hồ Chí Minh đã đoàn kết tất cả các lực lượng trong nước, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ. Đây là điểm tựa vững chắc để làm lên những chiến- công – những “đại thành công” của người Anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh.

Khi Hồ Chí Minh đi xa, miền Nam chưa được giải phóng. Tuy nhiên, đường lối chống Mỹ và đặc biệt là giải pháp để kết thúc cuộc đụng đầu lịch sử này, đã được Hồ Chí Minh nêu lên trong ngày đầu tiên của năm 1969: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Niềm tin chiến thắng đã được Hồ Chí Minh khẳng định ”chắc chắn” trong “Di chúc” của Người.

Cần nhấn mạnh rằng, những chiến công giải phóng vĩ đại nhất của dân tộc ta: Cách mạng Tháng Tám 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu tháng 5- 1954, đặc biệt là sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4- 1975, đều gắn liền với những sáng tạo cách mạng, những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh. Đánh giá tổng quát công lao của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: ”Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

Hồ Chí Minh là người đi tiên phong trong công cuộc giải phóng thuộc địa. Đối với các dân tộc ở Á, Phi, Mỹ La tinh, Hồ Chí Minh là ”người thầy của nghệ thuật giành tự do độc lập”. Tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá lớn.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp chấn hưng đất nước

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc không thể tách rời chấn hưng đất nước. Vì vậy, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã chú ý đến việc khôi phục kinh tế chấn hưng đất nước. Với Hồ Chí Minh, thắng đế quốc phong kiến, thắng kẻ thù giai cấp là tương đối dễ, chấn hưng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa khó khăn hơn. Đây là cơ sở để Hồ Chí Minh đòi hỏi trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng phải mạnh hơn bao giờ hết, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới phương thức cầm quyền của Đảng. Cách đây 75 năm, năm 1930, Hồ Chí Minh đã cho rằng ”phương thức lãnh đạo quần chúng vô cùng quan trọng, Đảng phải hết sức quan tâm”. Đối với Hồ Chí Minh, phương thức lãnh đạo của Đảng liên quan chặt chẽ với kiện toàn tổ chức, sửa đổi, cải tiến lề lối làm việc, nâng cao tính tổ chức, kỷ luật, đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ, đảng viên.

Vấn đề cơ bản của các cuộc cách mạng là vấn đề nhà nước. Suốt đời mình, đặc biệt là 24 năm ( 1945 – 1969) trên cương vị là người đứng đầu nhà nước, Hồ Chí Minh đã hình thành một lý luận về nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: ”Để xây dựng chủ nghãi xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, chúng ta cần phải tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân với nhà nước dân chủ cộng hoà”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước đã được Người hiện thực hoá trên đất nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: ”Trên thực tế, Người đã thiết lập một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân như Hiến pháp năm 1946 đã ghi”. Nhà nước ấy là nhân tố quan trọng nhất trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chấn hưng đất nước.

Trong sự nghiệp chấn hưng đất nước, phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ trung tâm. Từ sau tháng 7- 1954, đến trước khi qua đời, từ những bối cảnh và cách tiếp cận khác nhau, Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách, quan trọng nhất đối với nước ta là biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, có nông nghiệp hiện đại, công nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến. Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. Phát biểu tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ chín (khóa II), tháng 4 năm 1956 Hồ Chí Minh chỉ rõ: ”Phải luôn luôn nhớ rằng điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân”. Quan điểm trên được Hồ Chí Minh chốt lại trong “Di chúc”: ”Đảng cần phải có kế hoạch thật tối để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế, về các thành phần kinh tế trong đó kinh tế quốc doanh ”là kinh tế lãnh đạo và phát triển hơn cả” vẫn có ý nghĩa thời sự đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Hồ Chí Minh khẳng định để giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấn hưng đất nước mỗi người Việt Nam cần phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đồng thời tranh thủ đến mức cao nhất đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, yêu chuộng hoà bình, dân chủ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ nội lực với ngoại lực, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Cách đây hơn 80 năm, ngay trên đất pháp, Hồ Chí Minh đã nói: “Tổ tiên ta đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn”. Tấm gương chí khí, tự tôn ấy được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển lên tầm cao và chiều sâu mới. Nếu trong đấu tranh giành chính quyền ở vào thời điểm quyết định, tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta thì trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chấn hưng đất nước. Người đòi hỏi: ”Dân ta phải giữ nước ta”. Khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh vạch rõ: ”Trước đây nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay lại càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh cần kiệm xây dựng nước nhà”. Người nhắc nhở mỗi chúng ta đã là người chủ thì phải tự mình biết lo toan gánh vác, không ỷ lại ngồi chờ, mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà, ai cũng phải là một chiến sĩ dũng cảm phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng độc lập, tự do có quan hệ chặt chẽ với tự lực, tự cường. Theo Người có tự lực mới độc lập, có tự cường mới tự do. Hồ Chí Minh khẳng định: ”Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác đến giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.

Khôi phục và phát triển kirth tế chấn hưng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, bị chiến tranh tàn phá nặng nề là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Trong điều kiện đó việc tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của các nước, nhất là những nước có trình độ kinh tế, kỹ thuật phát triển trở nên cần thiết và cấp bách. Thực tế cho thấy, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành những quan điểm hợp tác, đoàn kết, mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đúng đắn.

Chưa đầy 2 tháng sau Tuyên ngôn độc lập, ngày l/11/1945 Hồ Chí Minh đã nhân danh Hội văn hoá Việt Nam, nhân danh tất cả các kỹ sư, luật sư, giáo sư và trí thức Việt Nam gởi tới Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lời đề nghị được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt, thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”.

Cuối năm 1946, Hồ Chí Minh gởi thư tới Liên Hợp quốc nêu bật quan điểm: Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực, dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, kỹ thuật nước ngoài vào tất cả các ngành kỹ thuật của Việt Nam, đồng thời Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế. Hồ Chí Minh chỉ rõ cần ”có những sự thương lượng để dung hoà quyền lợi của cả hai bên”, để có thể ”mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến giúp chúng ta trong việc kiến thiết quốc gia”.

Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ , tự lực cánh sinh với hợp tác, ủng hộ, giúp đỡ quốc tế được Hồ Chí Minh luận giải khá sâu sắc. Theo Người : ”Ta được các nước bạn giúp là có thêm điều kiện tự lực cánh sinh”. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta, ta phải khéo dùng số vốn ấy để bồi bổ lực lượng, phát triển khả năng của ta, tuyệt đối không ỷ lại, đợi chờ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nói riêng, vẫn là nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động đối với sự phát triển của Việt Nam trong thế kỷ XXI.

3. Tiếp nối sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấn hưng đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông, trong thời đại mới, Hồ Chí Minh khẳng định con đường phát triển của Việt Nam chỉ có thể là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: ”Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn xác định lý tưởng và mục tiêu phấn đấu của cách mạng nước ta là độc lập dân tộc gắn liền vời chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu và lý tưởng đó luôn được quán triệt trong chủ tương, đường lối và thể hiện sinh động trong thực tiễn gần 20 năm đổi mới.

Đại hội VI, Đại hội đổi mới đòi hỏi: ”Chúng ta phải thấu suốt và thực hiện đúng quan điểm ”Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, ”Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”.

Trong xây dựng và chấn hưng đất nước thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhất quán quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm. Gần 20 năm qua, trí tuệ, sức lực của toàn Đảng, toàn dân tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực này, nên kết quả đạt được là to lớn. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ chín (khoá IX), Hội nghị có nhiệm vụ kiểm điểm nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém, mục tiêu và giải pháp thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội trong những năm còn lại, đã nêu lên 4 kết quả quan trọng nhất:

l.Nền kinh tế đã vượt qua giai đoạn suy giảm, đạt mức tăng trưởng khá cao, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số lĩnh vực và sản phẩm có chuyển biến.

2.Cơ cấu của nền kinh tế tiếp tục có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá và từng bước hiện đại hoá, phát huy các lợi thế so sánh.

3.Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế, có tiến bộ đáng kể trong việc phát huy các nguồn nội lực của đất nước, của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển, đồng thời tiếp tục mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế.

4.Thể chế kinh tế tiếp tục được đổi mới, đang tiếp tục hình thành và phát triển các loại thị trường.

Cần nhắc lại rằng những thành tựu kinh tế nêu trên không thể tách rời việc Đảng, Nhà nước ta quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh. Ngay cả trong lĩnh vực kết hợp nội lực với ngoại lực cũng thể hiện điều đó. Văn kiện Đại hội IX viết: ”Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”.

Bên cạnh những thành tựu, nền kinh tế nước ta vẫn còn những yếu kém cần phải khắc phục. Đó là tốc độ tăng trưởng chưa đạt mục tiêu Đại hội IX đề ra, chưa tương xứng với mức tăng đầu tư và tiềm năng của nền kinh tế, sức cạnh tranh thấp, kinh tế phát triển chưa bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, nhất là hiện đại hoá còn chậm, việc thực hiện chính sách phát triển các thành phần kinh tế còn thiếu nhất quán… Để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, để có thể bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu như Hồ Chí Minh đã đặt ra cách đây 60 năm, chúng ta phải cố gắng nhiều hơn trong phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh giáo dục và đào tạo cùng với khoa học-công nghệ là quốc sách hàng đầu, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội. Chủ trương đúng đắn ấy đã đưa lại những kết quả quan trọng:

1.Giáo dục, đào tạo, khoa học-công nghệ có bước phát triển mới.

2.Phát triển văn hoá, xây dựng đời sống văn hoá và nếp sống văn minh, có tiến bộ ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước.

Tuy vậy, những hạn chế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và văn hoá mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ chín (khoá IX) chỉ ra cũng rất đáng được quan tâm:
Một là, sự phát triển của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa tương xứng với quốc sách hàng đầu.
Hai là, nhân tố văn hoá và con người trong phát triển chưa được nhận thức đầy đủ và chưa được coi trọng đúng mức ở nhiều cấp, nhiều ngành.

Có thể nói, gần đây nhận thức của Đảng về nhân tố văn hoá có bước phát triển. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ chín (khoá IX), Đảng ta cho rằng: ”Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chết”. Đến Hội nghị lần thứ mười (khoá IX), tháng 6-2004, Đảng chỉ rõ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Sự gắn kết chặt chẽ kinh tế, chính trị, văn hoá như trên là phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Cách đây gần nửa thế kỷ, năm 1956, Hồ Chí Minh đã nói khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá cần rất nhiều cán bộ. ”Vậy phải đào tạo cán bộ, cán bộ phải có văn hoá làm gốc”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đối với nước ta, dựng nước đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt tư tưởng đó, Văn kiện Đại hội IX viết: ”Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc”. Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong những năm đổi mới đã đạt một số kết quả sau đây:

Một là, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

Hai là, tiếp tục xây dựng quân đội và công an nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vững vàng về chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng và nhân dân.

Ba là, xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm.

Bốn là, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giải quyết có hiệu quả các vụ, việc đột xuất, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam, người khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Trong quá trình đó, Đảng luôn xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và ngày càng quan tâm hơn tới tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình. Thực tế cho thấy, còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên cấp cao suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Tuy vậy, thành tựu quan trọng của sự nghiệp đổi mới đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam -Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Trước khi qua đời, Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta điều mong muốn cuối cùng của Người là: “Toàn Đảng, toàn dân xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là để thực hiện điều mong muốn trên đây của Hồ Chí Minh một cách đúng đắn nhất, có hiệu quả nhất.

PGS.TS Vũ Đình Hoè
Phó giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương nỗ lực thực hiện các biện pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, đẩy lùi nạn đói năm 1945

Trên cương vị là người đứng đầu Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đói nghèo cũng là một thứ giặc nguy hiểm như giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Theo Người: “Nước nhà đã giành được độc lập tự do mà dân vẫn còn đói nghèo cực khổ thì độc lập tự do không có ích gì”. Trước tình hình này, Chính phủ đã đưa ra chủ trương phải diệt “giặc đói” và có nhiều sáng kiến được thực hiện. Nhờ đó, nguy cơ “giặc đói” đã được giảm dần, song để xoá bỏ nạn đói từ gốc, điều cơ bản là phải phát triển sản xuất.

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Người đã nêu sáu vấn đề cấp bách trong đó cứu đói là một trong sáu nhiệm vụ khẩn cấp hàng đầu. Người nói: “Nhân dân đang đói… Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói … Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống”.

Người đã nêu ra biện pháp khắc phục: “Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất…”. Trong bài viết “Gửi nông gia Việt Nam” in trên báo “Tấc đất” (12/1945) (Một tờ báo ra đời nhằm tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất), Bác nói: “Thực túc thì binh cường. Cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện tấc đất tấc vàng thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó. Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập”.

Để tăng gia sức sản xuất nông sản, cuối năm 1945, Bộ trưởng bộ Quốc dân kinh tế đã ra một loạt các bản Nghị định, Thông tư, Thông cáo về vấn đề này, đó là Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp (26/10/1945), Nghị định số 41 BKT bắt buộc các điền chủ có ruộng đất giồng mầu phải khai với Uỷ ban Nhân dân hàng xã (15/11/1945), Thông tư số 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu (21/11/1945), Thông cáo về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ, Nghị định liên bộ số 103 (Nội vụ và Canh nông) thiết lập một tiểu ban canh nông tại mỗi tỉnh, phủ, huyện, châu, xã (20/11/1945).

Dưới đây là các văn bản được đề cập:

Nguồn: Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

Các văn bản đã tập trung vào những vấn đề lớn cần giải quyết nhằm chấn hưng nông nghiệp, đó là: tình thế hiện thời, cảnh quẫn bách của nông dân, những ruộng hoặc đồn điền vô chủ và vấn đề di dân.

Về tình thế hiện thời, Chính phủ xác định: một nạn đói thảm khốc vừa qua, một nạn đói khác lại đang sắp hoàn hành, tám tỉnh Bắc bộ bị lụt, “làm thiệt hại ước chừng 27 vạn 4 nghìn tấn thóc chiêm, tiếp theo nạn hạn – nạn hán đã kéo dài từ hai tháng nay, vụ mùa sắp tới đây, tại Bắc bộ, rất đáng lo ngại: 60 phần trăm mùa màng chắc chắn bị hỏng, vì lẽ thiếu nước, hay côn trùng cắn hại bông lúa.”(1) “còn trong Nam Bộ vì giá gạo năm ngoái quá rẻ, nên ít nhiều điền chủ không chịu cày cấy. Và hiện nay đồng bào ta đang kháng chiến với bọn thực dân Pháp nên số thóc gạo sản xuất sẽ lại hao hụt nhiều. Việc tiếp tế cho Trung và Bắc Bộ sẽ gặp nhiều sự khó khăn hoặc có thể bị gián đoạn.”(2)

Dân quê nghèo thì yên chí rằng số thóc gạo của nhà giầu (điền chủ Pháp kiều hoặc Việt Nam) sẽ đem chia cho dân cày cấy.

Các chủ ấp, chủ đồn điền thì hồi hộp e sợ, không biết cày cấy có được gặt không, bỏ vốn ra khai khẩn có được thu lợi không. Đến những người có ít ruộng cũng có những mối lo ngại như vậy…”(3)

Chừng ấy khó khăn đã đẩy chúng ta vào tình thế: “nếu ta không tìm ngay phương sách cấp cứu đem ra thi hành cấp tốc, thì e rằng nạn đói sẽ không tránh khỏi và sẽ khủng khiếp hơn là nạn xâm lăng hiện thời của bọn thực dân Pháp tại Nam Bộ.”

Chính phủ đã chỉ đạo Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, huyện, xã kế hoạch giải quyết: “là tăng gia sức sản xuất nông sản bằng kế hoạch chấn hưng nông nghiệp”.(4)

Về tâm lý bấp bênh của nông dân cũng như của các chủ ấp, chủ đồn điền làm cho họ chưa thực sự muốn bắt tay vào cày cấy thì Chính phủ đưa ra những quyết sách rất rõ ràng để trấn an như sau:

“ Những điền sản và hoa lợi không bị đem chia. Ai cày cấy sẽ được gặt, ai giồng giọt sẽ được thu hoa lợi;

Nông dân phải bình tĩnh nghĩ đến nạn đói rét sắp tới mà cố làm ăn, không nên vì thời cuộc mà sao nhãng việc cày cấy, giồng giọt…

Uỷ ban Nhân dân cần phải để ý, bài trừ những tin đồn nhảm phản đối chính sách khuyến nông của Chính phủ; và hết sức tuyên truyền cổ động để nông dân từ nghèo đến giầu ai cũng yên lòng làm ăn, tin ở Chính phủ và nhiệt tâm hợp tác với các cơ quan của nha Nông Mục Thuỷ Lâm.”(5)

Về cảnh quẫn bách của nông dân, Bộ trưởng bộ Quốc dân kinh tế đưa ra phương án giải quyết là “khuyến khích” và “giúp đỡ”:

“Khuyến khích dân quê và thành thị nên ra sức giồng giọt, không nên bỏ một tấc đất nào… Thứ gì ăn được nên cố sức giồng… Phải làm cho dân hiểu rằng từ nay đến tháng tư, tháng năm… nhiều tỉnh đồng bào thiếu ăn nhiều lắm. Một mảnh đất giồng bột, giồng sắn… cũng sẽ cứu được bao mạng người.”

“Giúp đỡ nông – dân bằng mọi phương – diện.Để giúp vốn cho nông dân, các nông phố, ngân hàng và bình dân ngân quỹ đã được lệnh cho nông dân vay dễ dàng và nhanh chóng hơn trước… Uỷ ban Nhân dân nên cổ động để các nhà tư bản đem gửi tiền vào bình dân ngân quỹ, vì đó là một cách gián tiếp giúp nông dân có vốn cày cấy.”(6)

“Dùng tiền như thế, các nhà tư bản sẽ vừa làm trọn nghĩa vụ của mình đối với đồng bào, lại vừa có lời nữa, là vì đến kì hạn thu lại vốn, người gửi tiền sẽ được hưởng một số lãi tính như sau này…”(7)

“… Chính phủ có thể khuyến khích các nhà giầu có sẵn giống cho nhà nghèo vay, hoặc khuyên các điền chủ nên gieo nhiều mạ chiêm để sau này bán cho nơi thiếu. Ở một vài nơi khó khăn, Chính phủ có thể đảm nhận công việc vay ở những nơi thừa rồi cho vay lại những nơi thiếu… Để ngăn ngừa nạn dịch trâu bò, sở thú y đã tìm cách cấp tốc chế thuốc tiêm trừ dịch. Nhưng ta cũng nên phái ngay những nhân viên chuyên môn đi các nơi truyền bá những môn vệ sinh thường thức để phòng bệnh đó hoặc để ngăn ngừa các bệnh đó đỡ bành trướng.”(8)

Để khẩn cấp đẩy lùi nạn đói, một trong những việc làm được coi trọng trước mắt nữa là “cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng mầu”: “…giồng màu…quốc dân có thêm thực phẩm thay thóc gạo để ăn và sống qua được mấy tháng giêng, hai, ba, tư là những tháng giáp hạt đáng lo ngại nhất.”(9)

Ngoài ra, Chính phủ chỉ thị cho các huyện lỵ, phủ lỵ hay tỉnh lỵ nên “thành lập một hoặc nhiều khu giồng màu công cộng, mục đích để thu hoa lợi dùng vào việc tiếp tế hoặc cứu tế”.(10)

Đối với những ruộng hoặc đồn điền vô chủ, Uỷ ban Nhân dân sẽ giảm cho họ 25% số thóc thu được giữ lại làm của công dưới sự kiểm soát của một “Uỷ ban điều tra về đồn điền và đất hoang” sẽ lập ra sau này… “Còn số thóc tá điền được hưởng, Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ ra lệnh cho người khác phải trọng quyền lợi của họ. Vì rằng nếu tá điền không được hưởng số thóc đó thì họ sẽ không trông nom và vụ sau khó có người cày cấy”

“… Các ruộng đất có thể cấy vụ chiêm này hoặc giồng màu nhưng hiện nay hãy còn bỏ hoang vì chủ ruộng đã xiêu bạt phương xa hoặc đã chết rồi thì Chính phủ cho các nông dân còn ở lại mà có sẵn vốn để làm ăn, được phép cày cấy giồng giọt. Chính phủ coi họ như đã mua mầu những ruộng đó trong hạn một năm nhưng không phải trả tiền chỉ phải khai trước với Uỷ ban Nhân dân địa phương.

… Các đồn – điền giồng cây lâu năm như chè, trầu, cao su… nếu có những đồn – điền hạng này vô chủ thì phải có những phương pháp bảo thủ không nên để cho dân chúng phá hoại. Uỷ ban Nhân dân nên giải thích cho dân hiểu rằng những nông sản này là những tài nguyên của nước mình. Giữ được, nước ta sẽ có hàng bán ra nước ngoài để mua hàng khác, dân ta sẽ có công việc làm…”(11)

Đối với vấn đề di dân, Chính phủ yêu cầu: “Muốn cứu những miền đói, ta có thể vận tiền, vận thóc ở các nơi khác đến tiếp tế cho họ. Nhưng ta cũng có thể đem dân đói đến những nơi có đồn điền bỏ hoang. Số thóc hoặc hoa lợi U.B.N.D thu được từ trước hoặc sắp thu được sẽ đem cứu tế hoặc cho vay để làm vốn lúc đầu. Ruộng bãi, thì đã có sẵn để họ có thể sinh nghiệp được ít nhất là một năm. Nhà ở, họ cũng có thể có sẵn ở các ấp hoặc các đồn – điền ấy. Vậy chỉ cần cấp cho họ ít lương ăn đường và ít nông – cụ.

Như vậy ta sẽ giúp cho dân nghèo có công ăn việc làm trong lúc đói kém và khiến cho ruộng nương đồi bãi bớt hoang phế trong lúc chờ đợi.”(12)

Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp; Nghị định số 41 BKT bắt buộc các điền chủ có ruộng đất giồng mầu phải khai với Uỷ ban Nhân dân hàng xã; Thông tư số 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu; Thông cáo về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ, Nghị định liên bộ số 103 (Nội vụ và Canh nông) thiết lập một tiểu ban canh nông tại mỗi tỉnh, phủ, huyện, châu, xã thực sự có ý nghĩa hết sức to lớn trong bối cảnh lúc bấy giờ. Các văn bản trên cơ sở phân tích thấu đáo, đánh giá sâu sắc tình hình thực tiễn đã vạch ra được những biện pháp tháo gỡ khó khăn. Nhờ đó trở thành kim chỉ nam định hướng cho các tỉnh, huyện, xã trong khôi phục nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân, đẩy lùi nguy cơ một nạn đói mới đang đến gần.

Nhờ đó, chúng ta đã thu được kết quả lớn chỉ sau một thời gian ngắn. Nhiều quãng đê bị vỡ đã được gia cố lại, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm 1946, công tác đê điều đã hoàn thành. Vụ thu lúa chiêm năm 1946 ở Bắc Bộ đã tăng hơn vụ chiêm năm 1945 khoảng 100.000 tấn. Vụ mùa năm 1946 ở Bắc Bộ đã sản xuất trên một diện tích 890.000 ha với sản lượng 1.155.000 tấn lúa. Nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân dần dần được ổn định. Đây “thực là một kì công của chế độ dân chủ”.(13)

Thật vậy, với tay người Việt Nam, sỏi đá đã thành cơm, rừng rậm thành vườn… (14)

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của mặt trận nông nghiệp. Những năm gần đây, trên con đường hội nhập và phát triển, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vấn đề an ninh lương thực vẫn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nhờ đó, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn: kinh tế nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân được cải thiện, diện mạo nông thôn thay đổi rõ rệt./.

Th.S Nguyễn Hồng Nhung – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Chú thích

1.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
2.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115.
3.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115.
4.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
5. Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115
6.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115
7.Thông cáo của bộ Quốc dân Kinh tế về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ. Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 148.
8.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115 – 116.
9.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
10.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
11.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 116.
12.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 116.
13.Võ Nguyên Giáp, Báo Cứu quốc, ngày 5/9/1946, dẫn theo Lê Mậu Hãn, Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, NXB Giáo dục, 2005, tr. 30.
14.Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Trần văn Giàu, NXB Giáo dục, 1996, tr.300.

archives.gov.vn

Bác Hồ viết lịch sử và chúc Tết bằng thơ

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Đó là yêu cầu trên hết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ngay từ dòng đầu tiên của cuốn Lịch sử nước ta. Tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền khoa học xã hội và nhân văn nước nhà, đặc biệt là nền sử học và địa lý Việt Nam ngay cả khi đất nước còn chìm trong đêm đen nô lệ.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển tìm đường cứu nước, Bác trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Sống và làm việc tại hang Pắc Bó (Cao Bằng), công việc đầu tiên Người bắt tay thực hiện là dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích (Nga), viết Địa dư nước ta – cuốn địa lý Việt Nam đầu tiên bằng thơ lục bát, khẳng định cương vực lãnh thổ đất nước. Sao cho “Dân ta phải biết nước ta, một là yêu nước, hai là trí tri” (trí tri nghĩa là hiểu biết). Sau Địa dư nước ta, Bác Hồ viết tiếp cuốn Lịch sử nước ta. Đó là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử quan trọng, trong đó Người tiên đoán “năm 1945, nước nhà độc lập”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lịch sử nước ta, trước hết, nhằm làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục, động viên mọi người phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, góp phần chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại năm 1945. Cuốn Lịch sử nước ta được Bộ Tuyên truyền của Việt Minh xuất bản tháng 2-1942.

Với thực trạng Việt Nam lúc đó có trên 90 phần trăm dân số mù chữ, Hồ Chí Minh đã sáng suốt chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân. Bởi Người hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Từ năm 1942 đến năm 1969, sau Lịch sử nước ta, hằng năm vào dịp đầu Xuân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều viết tiếp Lịch sử nước ta dưới dạng độc đáo là thư và thơ chúc tết, Người đã để lại cho kho tàng lịch sử và văn học Việt Nam một gia tài quý báu gồm hai mươi sáu bài thơ và năm mươi tám bức thư, điện chúc Tết, ba tập diễn ca lịch sử và địa lý.

Viết lịch sử đất nước, dân tộc bằng thơ và thư chúc Tết, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rằng từ thuở xa xưa, chúc Tết là một trong muôn vàn nét đẹp truyền thống trong ứng xử của người dân Việt Nam.

Hằng năm vào những ngày đầu Xuân, dù giàu, nghèo, sang, hèn, nhà nhà, người người đều chúc nhau với những lời tốt đẹp nhất để vượt qua mọi khốn khó, trở ngại trên đường đời và mơ ước về một cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc. Đó cũng là dịp để mỗi thành viên trong gia đình nhớ tới những người thân đi xa và tưởng niệm ông bà, tổ tiên cùng những người thân yêu đã khuất.

Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất trân trọng, nâng niu, gìn giữ và ra sức phát huy những nét đẹp trong truyền thống văn hóa đó của dân tộc.

Thư và thơ chúc Xuân là hai thể loại được

Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng để viết sử, do ưu thế về khả năng chuyển tải tư tưởng, tình cảm một cách ngắn gọn, sinh động và súc tích, trở thành cuốn Biên niên lịch sử đất nước sống động, vô giá.

Tư tưởng chung nhất trong thư và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên hết là lời chúc tốt lành, vừa là lời kêu gọi hết thảy cán bộ, chiến sĩ, đồng bào hăng hái thi đua hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của từng năm, từng thời kỳ để cùng nhau mau chóng đưa nước nhà đến độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.

Khởi đầu từ tập diễn ca Địa dư nước ta, viết năm 1941 ở Pác Bó, đến Xuân Nhâm Ngọ (năm 1942), giữa núi rừng Việt Bắc ngút ngàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ Mừng Xuân, chúc đồng bào đoàn kết, nước nhà mau được độc lập. Đó không chỉ là khát vọng của cả dân tộc, mà Người đã chủ động dự báo lịch sử, đón đầu thời cơ một cách tài tình:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết mau,
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm nay,
Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới!”

Bài “Chào Xuân” năm Giáp Thân (năm 1944) đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một bức thư chúc Tết, trở thành câu đối sắc sảo, dự báo chiến thắng của phe Đồng minh trước trục phát-xít:

“Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!”

Xuân Bính Tuất (năm 1946) – Tết Độc lập cũng là Tết Kháng chiến đầu tiên sau gần một thế kỷ bị thực dân Pháp đô hộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ và toàn thể đồng bào chúc Tết các chiến sĩ Quyết tử yêu quý ngoài mặt trận, trên chiến lũy Sài Gòn, Hà Nội, với lời ước hẹn sắt son:

“Bao giờ kháng chiến thành công,
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
Tết này ta tạm xa nhau,
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy”;

Với đồng bào cả nước, Người chúc mừng và khẳng định:

“Trong năm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công!
Kháng chiến mau thắng lợi
Việt Nam độc lập muôn năm!”

Với Nam Bộ trên tuyến đầu chống Pháp xâm lược, món quà Xuân mà Người thay mặt Chính phủ trao tặng là danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”.

Xuân Đinh Hợi (năm 1947), lời chúc Xuân của Người mang âm hưởng của khẩu hiệu hành động:

“Trường kỳ kháng chiến nhất định
thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định
thành công!”

Trong những bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1948 đến năm 1954, Người luôn khẳng định lòng tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng, đồng thời động viên hết thảy đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng hái thi đua cứu quốc, đưa kháng chiến đến thắng lợi. Những vần thơ chúc Xuân ngắn gọn của Người diệu kỳ thay đã trở thành phương thức, những khẩu hiệu nổi tiếng, đi vào lịch sử kháng chiến, gây xúc động và cuốn hút lòng người như vần thơ chúc Xuân Kỷ Sửu (năm 1949):

“Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ta nhất định thắng!
Địch nhất định thua!”

Trong những mùa Xuân: Canh Dần (năm 1950), Tân Mão (năm 1951), Nhâm Thìn (năm 1952), bên cạnh những bài thơ mừng Xuân mới, Bác Hồ còn viết thư chúc Tết nhằm động viên được cao nhất sức người, sức của cho tiền tuyến, đặc biệt ở những thời điểm bước ngoặt của cuộc kháng chiến như mùa Xuân năm 1951:

“Xuân này kháng chiến đã năm Xuân.
Nhiều Xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng.
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Suốt mười năm cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Bảo vệ miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, ủng hộ đồng bào miền Nam đấu tranh cho thống nhất nước nhà, những bài thơ Xuân và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hướng vào mục tiêu động viên hết thảy đồng bào, chiến sĩ cả nước thi đua xây dựng cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam và sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong thư chúc mừng năm mới Bính Thân (năm 1956), thêm một lần Bác khẳng định:

“Miền Bắc thi đua xây dựng,
Miền Nam giữ vững thành đồng
Quyết chí bền gan phấn đấu
Hòa bình, thống nhất thành công”.

Với niềm tin son sắt vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, Xuân Tân Sửu (năm 1961), Người hướng tầm nhìn của muôn người tới tương lai xán lạn:

“Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”.

Xuân Giáp Thìn (năm 1964) là năm thứ tư của kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc (1960 – 1965). Những năm tháng đồng bào miền Nam anh dũng chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ra sức động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

“Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đem quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, những vần thơ chúc Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về đồng bào, chiến sĩ ở cả hai miền Nam – Bắc, hết lòng động viên phong trào chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc. Vào đúng năm này, Người bắt tay viết Di Chúc, sau những vần thơ chúc Xuân:

“Chào mừng ất Tỵ Xuân năm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công”.

Theo những cánh sóng báo tin thắng trận dồn dập, vần thơ chúc Xuân Đinh Mùi (năm 1967) của Bác Hồ vút lên, ngân dài, vang xa, rộn rã như khúc ca chiến thắng:

“Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta,
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở như hoa”.

Đặc biệt, Xuân Mậu Thân (năm 1968), đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người không chỉ gửi thư chúc mừng năm mới tới đồng bào, chiến sĩ cả nước, mà gửi cả bạn bè năm châu, bốn biển để nói lời cảm ơn và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ đế quốc Mỹ đưa quân trực tiếp vào xâm lược miền Nam và gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhưng nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết đánh Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua.
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”.

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Bác, ngay sau khi phát đi đã được phổ nhạc thành bài ca mang âm hưởng lạc quan, hào hùng, sang sảng như lời hịch, hàm chứa một nội dung lớn, mới mẻ, nâng tầm những định hướng và mục tiêu cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến đỉnh cao.

Năm 1969, cuộc chiến tranh giải phóng (1945 – 1975) của nhân dân ta bước sang năm thứ 24, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước sang năm thứ 15, Bác Hồ ở độ tuổi 79. Với dự cảm hết sức chuẩn xác, tinh tế, Người chuẩn bị kỹ lưỡng, chu toàn mọi việc riêng, chung, trước lúc đi xa về cõi vĩnh hằng. Người đã hoàn chỉnh bản Di chúc.

Lúc này bệnh tình của Bác đã trở nên trầm trọng. Người đã phải khổ luyện hàng tháng trời và ra sức thuyết phục các bác sĩ đang chăm sóc sức khỏe cho Người, để có thể chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước như thông lệ hằng năm, để không ai biết được Người đang lâm bệnh nặng. Trong chúng ta chắc chẳng ai cầm lòng được, mỗi khi nhớ về phút giao thừa năm Kỷ Dậu (năm 1969). Dù lâm bệnh nặng là thế, Người vẫn làm thơ, viết hai thư, gửi ba bức điện chúc Tết tới nhà nhà, người người. Phút giao thừa như lặng đi khi Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên lời chúc Xuân của Bác. Vẫn giọng trầm ấm, truyền cảm da diết của quê hương Xứ Nghệ, chứa đựng hết thảy tình thương bao la của Bác dành cho đồng bào, chiến sĩ cả nước, cho kiều bào ta ở nước ngoài và cho cả bạn bè khắp năm châu. Gói trọn tấm lòng nhân hậu của người cha, người bạn, trước lúc đi xa:

“Đồng bào và chiến sĩ yêu quý!

Năm 1968 là một năm quân dân cả nước ta chiến thắng rất oanh liệt…

Nhân dịp năm mới 1969, thay mặt nhân dân cả nước ta, tôi nhiệt liệt chúc mừng và cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Tôi thân ái chúc đồng bào, chiến sĩ, cán bộ và bà con Hoa kiều cả hai miền Nam Bắc và kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới đoàn kết, chiến đấu, thắng lợi. Và có mấy lời mừng Xuân như sau:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào,
Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào!
Bắc Nam xum họp, xuân nào vui hơn!”

Sáu khổ thơ chúc Xuân cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay lập tức được phổ nhạc, theo cánh sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đã bay cao, vang xa khắp mọi miền đất nước, đến cùng bạn bè xa gần khắp năm châu, bốn biển, trở thành Bản anh hùng ca sống mãi cùng năm tháng.

Từ Xuân Nhâm Ngọ (năm 1942) đến Xuân Kỷ Dậu (năm 1969), người Việt Nam may mắn có được trên một phần tư thế kỷ được Bác gửi thư chúc Tết và thơ mừng Xuân. Mỗi lá thư, vần thơ của Người là một bản tổng kết, một trang sử thi, địa lý, một bức tranh lịch sử về những sự kiện nổi bật, hay những chiến công vang dội của dân tộc, đất nước trong năm qua, đồng thời vạch ra phương hướng, sách lược và từng bước đi cụ thể cho năm mới.

Trong thư và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tương lai luôn đan xen, quyện chặt vào nhau, dệt thành bức tranh lịch sử sống động về cuộc kháng chiến oanh liệt của nhân dân ta chống thực dân Pháp, chống phát-xít Nhật và đế quốc Mỹ xâm lược.

Hơn một phần tư thế kỷ, với hai mươi sáu khoảnh khắc mùa Xuân, cả Việt Nam luôn hướng về Việt Bắc – thủ đô kháng chiến, hướng về Thủ đô Hà Nội – trái tim của đất nước, được đón chờ phút giao thừa thiêng liêng, với lời chúc Xuân nồng ấm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông lệ đó đã trở thành nhu cầu tình cảm và nỗi khát khao trong sâu thẳm tâm hồn của người dân Việt Nam. Qua rồi hơn bốn thập niên, dẫu không còn hạnh phúc được nghe Bác Hồ chúc Tết, nhưng cuốn Địa dư nước ta, Lịch sử nước ta, Thư và thơ chúc Tết cùng với Di chúc của Bác Hồ mãi mãi là những pho sử vàng cả về hình thức lẫn nội dung thể hiện.

Đinh Thu Xuân

tapchicongsan.org.vn