Archive | Tháng Hai 2012

Quan điểm giáo dục qua tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch

Bác nói và viết ít nhiều đều mang ý nghĩa giáo dục, điều đó có thể hiểu theo nhiều góc độ, nhiều phương diện. Trong “Nhật ký trong tù” có nhiều bài thơ liên quan đến việc giáo dục con người, nhưng có ba bài: “Tự khuyên mình” (Tự Miễn); “Nghe tiếng giã gạo” (Vãn thung mễ thanh) và “Nửa đêm” (Dạ bán) là rõ hơn cả. 

Bài “Tự khuyên mình” Bác viết cho chính Bác, trực tiếp nói đến giáo dục. Hai bài còn lại gián tiếp nói đến giáo dục qua những hình ảnh được sử dụng trong thơ và có tính chất ký sự. Bác ghi lại những điều quan sát rồi suy gẫm, khái quát vấn đề. Trình bày những suy tư về giáo dục bằng thơ là việc không phải hiếm người làm. Nhưng ở Bác, quan điểm giáo dục được trình bày rõ ràng, giản dị nhưng đầy chất triết lý.

1. Ở bài “Tự khuyên mình”: 

Bác đưa ra một quy luật tự nhiên: không có cảnh rét mướt tiều tụy của mùa đông thì cũng sẽ không có cảnh ấm áp huy hoàng của mùa xuân. Đó là lẽ tất yếu – quy luật tuần hoàn của tự nhiên cũng như “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Từ đó, Bác nghĩ đến con người, đời người:

“Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.”

Khi gặp tai ương (tai họa có hại cho bản thân) thì con người được rèn luyện, thử thách càng trở nên vững vàng hơn. Thật giản dị nhưng đó là một chân lý. Trong thực tế, đây là một việc không phải ai cũng làm được. Có người gặp khó khăn (tai họa) là nản chí, khuất phục hoàn cảnh, bị hoàn cảnh chi phối. Còn Bác, Bác không như vậy vì Người đã xác định rồi:

“Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân.”

Sự đối lập hai cảnh “Đông hàn tiều tụy cảnh” (Cảnh rét mướt tiều tụy của mùa đông” với “xuân noãn đích huy hoàng” (cảnh ấm áp huy hoàng của mùa xuân) là để làm bật ý: không trải qua gian khổ sẽ không có ngày sung sướng. Từ quy luật tự nhiên rút ra quy luật cuộc đời và rút ra bài học cho chính bản thân.

Con người ta không ai muốn mình gặp phải tai ương. Nhưng khi gặp tai ương thì hoặc là lui lại hoặc là vượt qua để rèn luyện tinh thần. Bác đã coi tai ương là dịp, là cái để tự phấn đấu, trưởng thành. Tai ương là dịp để rèn luyện tinh thần, phải nói là dịp tốt để rèn luyện tinh thần.

2. Ở bài Nghe tiếng giã gạo: 

Cách biểu đạt của Bác có khác. Đối lập hai khâu trong một quá trình:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”

So sánh cuộc đời con người (nhân sinh tại thế) với việc giã gạo, rõ ràng quá, dễ hiểu quá! Có rèn luyện trong gian khổ, có trải qua đau đớn, thậm chí phải trải qua thất bại mới có thành công. Gạo có bị giã mới “Trắng tựa bông”. Con người có rèn luyện trong gian khổ mới thành công một cách tốt đẹp.

Như vậy, sự đối lập hai khâu trong một quá trình như đã nói ở trên là sự đối lập hòa hợp, đi đến thống nhất biện chứng trong một sự vật.

Cùng với tinh thần càng chịu nhiều đau thương, mất mát, tai ương thì càng rèn luyện mình vững vàng, bản lĩnh hơn như ở bài “Tự khuyên mình”. Ở đây, Bác khẳng định yếu tố nỗ lực chủ quan để vượt qua hoàn cảnh khó khăn là môi trường rèn luyện tốt. Ông cha ta nói “lửa thử vàng gian nan thử sức”, quả không sai!

“Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công”

Khó khăn rèn luyện để mình thành công quả là một ý thật sâu sắc, một bài học vô cùng quý giá, bổ ích.

3. Ở bài Nửa đêm: 

Bác trình bày quan điểm của mình một cách trực tiếp, đó là một sự đúc kết, chiêm nghiệm.

Ở đây, chúng ta lại bắt gặp sự đối lập, hòa hợp, giữa thức và ngủ, giữa thiện và ác.

Khi người ta ngủ đều có chung một hoạt động (nhịp đập của trái tim) do đó khó phân biệt được người hiền và kẻ ác, tất cả đều như nhau. Nhưng lúc tỉnh dậy (đúng hơn là sau khi tỉnh dậy), kẻ ác và người lành mới phân biệt được bởi việc làm của họ khác nhau:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền.
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên.”

Như vậy, qua bài thơ, ta thấy Bác khẳng định phẩm chất của con người, đạo đức của con người, nhân cách của con người phần nhiều do giáo dục mà nên. Điều đó chính là Bác muốn nhấn mạnh ý nghĩa của hoàn cảnh giáo dục đối với việc hình thành tính cách con người. Bác triết luận rằng trong giáo dục phải chú ý đặc biệt đến hoàn cảnh sống tốt hơn để phát triển cái thiện, đẩy lùi cái ác. Hoàn cảnh, môi trường, giáo dục có văn hóa, đầy sự yêu thương chắc chắn sẽ đẩy lùi cái ác, hướng tới cái thiện.

Tiêu diệt cái ác có thể bằng nhiều cách (có thể bằng pháp luật) là cần thiết nhưng chúng ta cần xây dựng, khuyến khích và phát triển cái thiện ở con người vì nó cũng góp phần đẩy lùi cái ác. Đó là bài học giáo dục quý báu rút ra từ bài thơ “Nửa đêm” này của Bác. Bác khẳng định dứt khoát rằng tính cách con người phần nhiều do giáo dục mà có. Khẳng định đó có tính triết lý và cũng rất thực tế. Bài thơ có sức mạnh thuyết phục do nó giản dị, dễ hiểu và có thể làm theo được.

Qua ba bài thơ trên, như vừa phân tích, mọi người có thể rút ra những kết luận bổ ích về vấn đề giáo dục, về sự nghiệp giáo dục. Ba bài thơ trên thể hiện rõ quan điểm giáo dục, tư tưởng giáo dục của Bác. Đó là tư tưởng tự rèn luyện, tự giáo dục tùy theo hoàn cảnh sống của con người. Đúng là nội dung tư tưởng của ba bài thơ trên và “Nhật ký trong tù” nói chung vượt ra ngoài hình thức thơ Đường luật chật hẹp mà nó chứa đựng. Ba bài thơ trên của Bác có một ý nghĩa giáo dục sâu xa cho mọi thời đại, mọi xã hội đối với việc hình thành và phát triển, hoàn thiện nhân cách con người.

Nguyễn Đình Triều
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn

tdmu.edu.vn

Sáng mãi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

Ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức – văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho dân tộc và nhân loại. Con người, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là một chỉnh thể thống nhất, ở đó có mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời giữa tư tưởng và hành động, giữa lý luận và thực tiễn, trong suy nghĩ và cách ứng xử. Cả cuộc đời Người hành động để cứu dân, cứu nước, cho nước nhà được độc lập, đồng bào ta được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, mọi người tiến bộ, sống nhân ái, hạnh phúc – đó là lẽ sống của Người.

”Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta, đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Điều đó đã trở thành chân lý làm rung động con tim mỗi người Việt Nam khi nhắc đến tên người- Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đó là lý tưởng, là lẽ sống mà cũng là học thuyết chính trị – đạo đức của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi thường để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Cho đến khi phải từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người vẫn chỉ là “không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại đồng, hy sinh chẳng quản, gian nguy không sờn. Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: Thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh “như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng”. Vượt qua được thử thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm, nghi kị còn day dứt hơn nhiều. Để kiên trì chân lý, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó. Lê-nin từng nói: không sợ đói, không sợ chết, chỉ sợ không chiến thắng được phút yếu đuối của bản thân. Trong khó khăn, Người vẫn luôn luôn “tự khuyên mình”: muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao. Dù có lúc phải “hoá lệ thành thơ” thì điều đó cũng chỉ vì nhân dân, vì Tổ quốc chứ không phải vì cảnh ngộ cá nhân.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một lãnh tụ hết lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân, luôn luộn tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân, “lấy dân làm gốc”. Người giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi “nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”.

Để làm tròn trách nhiệm là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Người dạy cán bộ phải gần dân, hiểu tâm lý, nguyện vọng của dân, lắng nghe ý kiến của dân. của “những người không quan trọng”, không được lên mặt “quan cách mạng”, cậy quyền cậy thế, đè đầu cưỡi cổ dân. Mặc dù uy tín rất cao, có sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là “Cha già của dân tộc” nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc “người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mật trận”. Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối với nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực. Bác Hồ là “muôn vàn tình thân yêu” đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình yêu thương đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không bỏ sót một ai. Trái tim mênh mông của người ôm trọn mọi nỗi đau khổ của nhân dân. Người nói một cách cảm động: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng; gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Tình thương yêu đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới. Đối với những người lầm lạc, ngay cả đối với những người chống đối hay kẻ thù, Người cũng thể hiện một lòng khoan dung, độ lượng hiếm có. Kẻ thù xâm lược đã gây nên bao tội ác man rợ đối với nhân dân ta, nhưng khi chúng đã thất thế, đầu hàng hay bị bắt, Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải đối xử với chúng một cách khoan hồng, phải làm “cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Cần kiệm, giản dị, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là “tư cách của người cách mạng”. Người đề ra và tự mình gương mẫu thực hiện. Cũng như V.I.Lê-nin, Người coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Một cốt cách giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Đó là một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần kiệm, liêm chính.

Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là sự khiêm tốn phi thường. Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, mà luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của chính họ chứ không phảl của một cá nhân anh hùng nào.

Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

(TS. Tổng hợp)

haugiang.gov.vn

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong việc bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững

Hiện nay, ở nước ta, việc giáo dục môi trường đang được lồng ghép trong chương trình giáo dục ở các trường phổ thông, các trường cao đẳng, đại học và bước đầu mang lại hiệu quả trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh, sinh viên. 

Trong vài ba thập kỷ gần đây, do sức ép của dân số và sự phát triển kinh tế thiếu tính toán, các nguồn tài nguyên trên trái đất ngày càng vơi cạn, môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, thậm chí ở một số vùng có nguy cơ bị phá huỷ hoàn toàn. Hàng loạt các vấn đề về môi truờng đã nảy sinh như biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái tầng ô zôn, hoang mạc hóa đất đai,… Các vấn đề nêu trên đang là những thách thức đối với sự sống còn của loài người. Trước tình hình đó, chính phủ và nhân dân các nước không thể thờ ơ trước lời kêu gọi của nhiều tổ chức quốc tế: Hãy cứu lấy trái đất! Một trong những giải pháp đang được nhiều quốc gia triển khai nhằm “cứu lấy trái đất” là chuyển chiến lược phát triển thiếu kiểm soát lâu nay sang chiến lược Phát triển bền vững “Phát triển bền vững là phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [6, tr. 9]. Như vậy, để phát triển bền vững, bên cạnh phát triển kinh tế – xã hội, cần phải quan tâm xây dựng một môi trường sống an toàn không chỉ ở hiện tại mà cho cả các thế hệ tương lai. Bảo vệ môi trường không còn là nhiệm vụ của một tổ chức hay cá nhân riêng lẻ nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác “giáo dục môi trường”, phải làm sao cho ý thức bảo vệ môi trường trở thành nếp sống thường nhật của mỗi người.

sinh viên Đh tdm bảo vệ môi trườngSinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một tích cực bảo vệ môi trường

Hiện nay, ở nước ta, việc giáo dục môi trường đang được lồng ghép trong chương trình giáo dục ở các trường phổ thông, các trường cao đẳng, đại học và bước đầu mang lại hiệu quả trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh, sinh viên. Với mong muốn góp thêm một hình thức giáo dục môi trường thông qua cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu vấn đề “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong việc bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững”.

Lúc sinh thời, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gắn cuộc sống của mình với thiên nhiên, môi trường. Thiên nhiên không những là nơi cung cấp những điều kiện sống và công tác mà với Người, thiên nhiên là người bạn, người cổ vũ, chia sẻ buồn vui. Ở thiên nhiên, Người tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn lúc thảnh thơi hay trong những giờ phút căng thẳng. Vì thế, thiên nhiên (sông, núi, trăng, sao, chim, hoa …) thường xuất hiện trong thơ của Người ngay cả khi Thân thể ở trong lao, hay giữa núi rừng Việt Bắc, khi Người Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà…

Thấy được vai trò to lớn đó của thiên nhiên nên Người chủ trương sống hòa hợp với thiên nhiên, môi trường. Theo Người, môi trường sống là yếu tố quan trọng đảm bảo sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và giúp cho họ công tác tốt. Chính vì vậy, Người luôn căn dặn cán bộ phải chọn những nơi ở đảm bảo các “Phương châm”, các “điều kiện” sau: “Trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui .. Nhà thoáng, ráo, kín, mát.” [3, tr. 73]. Khi trở về Hà Nội, trong khu nhà đơn sơ của mình, Người đã tạo ra một môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp. Người trồng nhiều cây trong vườn, chăm chút như chăm người ốm. Người chăm sóc ao cá và không cho phép ai xua đuổi hoặc bắn chim trong vườn. Người nói: Chim là của quý của thiên nhiên, phải bảo vệ chúng. Nhà thơ Cu-ba P. Rodrighet sau khi đến thăm nhà sàn Bác Hồ tại thủ đô Hà Nội đã nhận xét: “Chúng tôi được biết có hai điều Bác Hồ yêu thích, đó là hoa và tiếng chim ca. Hoa và chim luôn luôn ở bên Người. Ngôi nhà nhỏ của Bácnhìn ra phía nào cũng có một ô cửa sổ, một bức tranh bằng ánh sáng, trong đó hiện ra những cành cây, và khi gió nhẹ thổi qua, bức tranh như có sức sống” [3, tr. 67]

Đồng thời, Người luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng môi trường sống trong lành từ những việc làm nhỏ hàng ngày đến những kế hoạch lớn của đất nước. Nếu chúng ta liên hệ đến thời điểm giữa thế kỷ XX, thời điểm mà vấn đề môi trường chưa đặt ra cấp bách như hiện nay và trong hoàn cảnh đất nước đang trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ để bảo vệ độc lập dân tộc thì chúng ta sẽ thấy được tầm nhìn sâu sắc, lâu dài của Người vì sự phát triển bền vững của đất nước.

Trong sinh hoạt hàng ngày, thông qua những việc làm nhỏ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ mong muốn xây dựng một môi trường sống trong lành cho các thế hệ tương lai.

Họa sĩ Diệp Minh Châu, người đã từng có một thời gian được sống gần Chủ tịch Hồ chí Minh tại chiến khu Việt Bắc vẫn cón nhớ mãi một câu chuyện: Hôm đó “chủ tịch phủ” phải dời đi nơi khác, anh em lo xếp gọn mang dụng cụ, tài liệu và dỡ chòi. Châu thấy Cụ Hồ hì hục đào hố trồng một cây quýt. Lấy làm lạ, Châu hỏi: Dời nhà rồi Bác, Bác còn trồng gì? Cụ Hồ đáp: “Ít bữa nữa cây quýt lớn lên, có trái, người đi đường, đi rừng có thể đỡ khát được” [3, tr.73]. Như vậy, trong một hành động nhỏ của Người đã ẩn chứa mong muốn rất cao đẹp. Với Người, trồng cây không chỉ để có bóng mát, trái ngọt cho hôm nay mà còn góp phần để lại thành quả ngày mai.

Dù ở đâu, trong thời gian dài hay ngắn Người đều tự tay trồng những cây xanh làm tốt tươi những nơi mình đi qua. Nhân dân địa phương thường gọi bằng cái tên trìu mến “Cây đa Bác Hồ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn đi xa hơn nữa. Người không chỉ tạo cho mình môi trường sống trong lành, hòa hợp thiên nhiên mà còn muốn tạo ra điều đó cho nhân dân Việt Nam, để lại lợi ích cho muôn dời. Chính vì thế, Người đã phát động một phong trào trồng cây rộng lớn trong toàn thể nhân dân, từ các em thiếu nhi, thanh niên cho đến các cụ phụ lão. Người viết: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích nhiều.”, Theo Người, mỗi người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây, nếu tất cả nhân dân miền Bắc đều trồng từ một đến ba cây trong một năm, bắt đầu từ năm 1960 thì mỗi năm có thêm 15 triệu cây. Và “trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn”[4, tr. 566]. Người diễn đạt ý nghĩa của việc trồng cây bằng thơ để ai cũng hiểu, cũng nhớ: “Muốn làm nhà cửa tốt,/ Phải ra sức trồng cây./ Chúng ta chuẩn bị từ rày, /Dăm năm sau sẽ bắt tay dựng nhà”.

Mùa xuân năm 1960, phong trào “Tết trồng cây” bắt đầu được phát động trong nhân dân. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cố gắng đưa “Tết trồng cây” trở thành một phong tục tốt đẹp của nhân dân ta mỗi khi xuân về, tết đến.

Mỗi khi đi thăm các địa phương, trường học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều chú ý nhắc nhở công tác vệ sinh môi trường và động viên mọi người tích cực trồng cây. Đến thăm thôn Lạc Trung (Vĩnh Phúc), Người nhấn mạnh: “Muốn làm nhà thì phải có gỗ, muốn có gỗ thì hãy hăng hái trồng cây” [5, tr. 258]. Nói chuyện với nhân dân đảo Cô Tô ngày 9-5-1961, Người động viên: “Cần trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp” [5, tr. 354]. Khi về thăm trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người nói: “Lần trước đến thăm trường, Bác có nói hai điểm: một là vệ sinh, hai là trồng cây. Vệ sinh ở đây còn kém! Về trồng cây, Bác bảo nên trồng nhiều cây” [5, tr. 330]….

Trong những dịp nói chuyện với thiếu nhi, thanh niên, Người không quên nhắc nhở, động viên các em trồng cây. Nói chuyệnvới thiếu niên, nhi đồng trong dịp Tết Trung thu năm 1960, Người căn dặn: “Các em tiếp tục trồng cây nhiều nữa. Ở thành thị cũng như ở nông thôn các em nên thành lập những đội nhi đồng chăm nom cây cối để giúp đồng bào trồng cây nào sống cây đó, tốt cây đó” [5, tr. 220]. Đồng thời, với những địa phương, đơn vị không thực hiện tốt nhiệm vụ trồng cây, Người thẳng thắn phê bình. Người phê bình nhân dân Thái Nguyên: “Việc trồng cây gây rừng chưa được coi trọng, trồng cây nhưng chưa chú ý chăm sóc để cây chết, cán bộ, công nhân khu gang thép đốt cháy mất hơn 2 vạn cây” và yêu cầu “phải ra sức bảo vệ rừng, không để gây ra cháy rừng” [5, tr. 98]. Đồng thời, với những địa phương đơn vị có thành tích về vệ sinh và trồng cây, Người có lời khen ngợi và nêu gương. Người khen thầy trò Trường Trung cấp Thể dục thể thao (tiền thân của Trường Đại học Thể dục thể thao Từ Sơn ngày nay): “Ở đây các cháu có phong trào tăng gia sản xuất tốt, nhưng phải trồng thêm nhiều cây xanh…”. Người dặn thêm: “Nên cố gắng trồng nhiều cây có bóng mát để học sinh có nơi trú nắng” [1, tr. 98]. Người nêu tấm gương về thôn Lạc Trung (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc): “Thôn Lạc Trung hồi kháng chiến bị giặc Pháp đốt sạch, không còn một gốc cây nào. Nhờ trồng cây có kế hoạch nên từ một thôn trơ trọi chỉ sau vài năm Lạc Trung trở nên xanh tươi nhất trong cả huyện Vĩnh Tường…Bà con xem đó, do Tết trồng cây mà đất nước ta càng thêm xanh tươi, nhân dân ta càng thêm giàu có” [5, tr.263-264].

Ngày nay, chúng ta có những rừng thông, rừng phi lao bát ngát, xanh rờn dọc chiều dài bờ biển, những con đường lớn, đường nhỏ được viền cây xinh xắn, những ngọn đồi được phủ xanh bóng mát,… Tất cả những khung cảnh này đã được Người sớm hình dung và cố gắng gây dựng bằng những “Tết trồng cây” đầy ý nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng trồng cây ở nước ta, mà Người còn mong muốn việc làm đó phát triển ở nước khác. Trong những lần đi thăm các nước bạn, gặp gỡ nhân dân các nước đó hoặc khi đón tiếp các vị nguyên thủ quốc gia ở nước mình, Người đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trồng cây đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở nước Nga và Người gọi đó là “những cây hữu nghị” và nhân dân địa phương gọi là những “Cây Bác Hồ”. Các cây ấy lớn theo thời gian, không chỉ biểu hiện của tình hữu nghị tươi thắm giữa nhân dân Việt Nam và bầu bạn thế giới mà còn thể hiện ý thức làm đẹp môi trường sống.

Chính xuất phát từ mong muốn và tầm nhìn về sự phát triển bền vững của nước nhà, trong bản di chúc ngày 15-5-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn…Trên mộ, nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh lại lợi cho nông nghiệp” [2, tr.25-26]. Những lời nhắn nhủ này không những khiến chúng ta bùi ngùi xúc động trước sự giản dị, khiêm nhường của một vị chủ tịch nước, mà ngày nay mỗi khi đọc lại, chúng ta càng thấy được mong ước lớn lao của Người về một nước Việt Nam tươi đẹp, vững bền.

Như vậy, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những dành trọn cuộc đời mình đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, mà với mong ước non sông, đất nước đời đời tươi đẹp, nhân dân Việt Nam mãi mãi được hạnh phúc vẹn tròn, Người sớm hình dung và chỉ ra những định hướng phát triển lâu dài cho đất nước. Định hướng đó không chỉ là những tư tưởng về xây dựng con người và môi trường xã hội mà còn nhằm xây dựng môi trường tự nhiên. Nhiều tư tưởng của Người về phát triển bền vững đã trở thành hiện thực. Ngày 17-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, trong đó đã thể hiện và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển bền vững. Đồng thời, đối với toàn thể nhân loại, chiến lược phát triển bền vững cũng đang là định hướng phát triển lâu dài với sự ra đời của Chương trình Chăm lo cho trái đất và Chương trình trồng rừng, bảo vệ rừng.

Hiện nay, nhiều vấn đề bức xúc về môi trường đang đặt ra ở nước ta, trong đó nổi bật là việc khai thác rừng quá mức gây hậu quả hết sức nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Do đó, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải thấy được tầm quan trọng của việc trồng cây, gây rừng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ nửa thế kỷ trước. Học tập tấm gương của Người, chúng ta cần đẩy mạnh phong trào trồng cây trong mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thực hiện đúng tư tưởng của Người: trồng cây phải có kế hoạch dài hạn, tiến hành thường xuyên, đồng bộ chứ không chỉ một năm và ở một số địa phương nhất định; phải chú trọng trồng cây và chăm sóc cây, bảo đảm “trồng cây nào sống cây đó, tốt cây đó”, tránh việc tiến hành hình thức, chạy theo diện tích, số lượng. Mặt khác, cần tạo điều kiện cho lực lượng học sinh, sinh viên trong các trường học tham gia phong trào Tết trồng cây vì đây là hoạt động vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa mang ý nghĩa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sâu sắc.

ThS. Phan Thị Lý – ThS. Trần Thanh Hùng
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân Văn


Tài liệu tham khảo
1. Bác Hồ với thể dục thể thao Việt Nam (1995), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội.
2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2007), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Trần Văn Giàu (2008) Vĩ đại một con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 9 (1958-1959) (2000), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 10 (1961-1962) (2000), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
6. Luật bảo vệ môi trường (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

tdmu.edu.vn

“Càng hiểu, càng yêu Bác hơn”

Tuổi ngoài 80, ông Năm Truyện vẫn miệt mài nghiên cứu, viết sách về Bác - Ảnh: Đức Vịnh

TT – Từ anh bộ đội Cụ Hồ trở thành nhà giáo, rồi nhà quản lý kinh tế, về hưu, gần 20 năm qua, ông Năm Truyện (P.Mỹ Xuyên, TP Long Xuyên, An Giang) không chỉ sưu tầm hơn 5.000 bài viết, mẩu chuyện, hình ảnh về Bác mà còn viết nhiều tập sách về Bác…

Ông Năm Truyện tên thật là Nguyễn Ngọc Truyện, đang ở trong một ngôi nhà cổ nằm bên con rạch Long Xuyên lộng gió. Ông thường ngồi bên chiếc bàn đầy sách báo, thầm lặng nhưng miệt mài nghiên cứu, viết sách về Bác Hồ.

Sưu tầm tư liệu, viết chuyện về Bác

Sinh năm 1925, tốt nghiệp tú tài, ông Truyện học Trường Mỹ thuật Gia Định. Ra trường ông không đi làm cho Pháp mà tham gia tổ chức Thanh niên cứu quốc. Ngưỡng mộ nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, hưởng ứng kêu gọi toàn dân kháng chiến cứu nước của Người, năm 1947 ông gia nhập Vệ quốc đoàn rồi chuyển qua bộ đội chính quy, làm Phó Văn phòng Tỉnh đội Long Châu Hà, Tây Nam Bộ.

Năm 1954 tập kết ra Bắc, ông được đưa đi học và công tác ở nhiều trường. Nước nhà thống nhất, ông công tác ở Trường Trung học Thương nghiệp miền Nam, có lúc kiêm Phó ban Thanh tra Ty Thương nghiệp An Giang.

Nhớ về những năm tháng ở Thủ đô, có lẽ hạnh phúc nhất của ông là nhiều lần được gặp Bác. Đến nay, ông vẫn nhớ rõ ngày Bác Hồ đến thăm học viên lớp chỉnh huấn của Bộ Công an. “Đó là hôm 16-5-1959, lúc ấy tôi đang dạy Trường Trung cấp của Bộ Nội thương nhưng cơ sở của trường còn nhờ bên Bộ Công an. Thấy Bác, ai nấy đều xúc động ùa đến”. Ngay lần gặp đầu tiên, hình ảnh vị lãnh tụ giản dị trong bộ đồ vải gụ màu nâu, đi dép cao su toát lên vẻ bình dị, hồn hậu đã in đậm trong lòng ông sự tôn kính, ngưỡng mộ sâu sắc và nhen nhóm ước mơ nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Người.

Công việc cứ cuốn đi để mãi năm 1982 về hưu, ước mơ ngày nào của ông mới được thực hiện khi sinh hoạt trong Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Chiến binh và Chi bộ Đảng Phường Mỹ Xuyên. Ông lặng lẽ với đam mê sưu tầm những mẩu chuyện về Bác đăng trên tờ tin địa phương từ năm 1998 tới nay.

Để mọi người cùng theo gương Bác

Hiểu tâm nguyện của cha, một lần ra Bắc công tác, cô con gái thứ hai tìm mua về cho ông một số sách viết về Bác do Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành. Ông còn trích lương hưu ít ỏi đặt mua thêm gần chục đầu báo, tạp chí và nỗ lực thu thập thêm đủ thứ tư liệu. Bà Sương, vợ ông, bảo: “Hay tin ở đâu có tư liệu về Bác là ông đi tìm cho bằng được. Có những tư liệu không thể mượn mà phải chép lại trong nhiều ngày trời”.

Nhìn kho tư liệu với 5.000 bài viết, hình ảnh trích từ sách báo và cuốn sổ dày cả gang tay chi chít những dòng chữ viết tay qua nhiều năm miệt mài, chúng tôi cảm nhận rất rõ một điều: Chỉ với tấm lòng kính yêu Bác vô bờ mới có thể thôi thúc một người tuổi đã cao làm được công việc đó.
Kho tư liệu ấy đã thành nguồn phân tích, tìm hiểu cái hay, cái độc đáo trong từng sự việc, từng mẩu chuyện về Bác để sau đó chọn lọc, hệ thống lại theo từng nhóm chủ đề, dòng sự kiện. Và từ đó, ông bắt tay viết những bài về Bác của chính mình với văn phong mộc mạc, bình dị nhưng đầy sáng tạo.

Năm 1999 tập sách đầu tay mang tên “Ra đi Bác dặn còn non nước” được Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành 1.000 cuốn. Sách dày 300 trang với ba phần: Trên quê hương, Đi tìm đường cứu nước và Trở về. Ông lại tiếp tục viết tác phẩm thứ hai. Sau hơn hai năm cật lực, ông hoàn thành bộ sách Hồ Chí Minh – cứu tinh dân tộc Việt, cũng được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2008, với 240 câu chuyện viết về Bác và gia đình Bác. Tập sách dày 352 trang, khổ 19×27 này đã được nhiều nơi đặt mua số lượng lớn.

Riêng với đợt vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” lần này, tuy tuổi già sức yếu ông vẫn cố gắng biên soạn thêm hai tập sách Cánh sen vàng (gồm 120 mẩu chuyện, với nhiều mẩu chuyện có chủ đề về sửa đổi lề lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần kiệm liêm chính, gần dân…) và sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác (79 mẩu chuyện, trong đó có 46 mẩu là sự phát hiện mới về lòng dân với vị cha già dân tộc).

Thạc sĩ Ngô Quang Láng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử An Giang, nhận xét: Sách của ông là công trình nghiên cứu có giá trị cả về học thuật lẫn sự sáng tạo. Trong đó, với chất liệu tinh lọc, dòng chảy thời gian và giá trị tư tưởng của Bác đã được thể hiện bằng phương ngữ Nam bộ. Trong khi đó ông lại không nhận mình là nhà sưu tầm hay nghiên cứu. Ông bảo mình làm những điều ấy từ đáy lòng.

“Càng tìm hiểu, nghiên cứu về Bác càng cảm nhận bao điều thâm thúy, bao câu chuyện có ý nghĩa và yêu Bác hơn. Nếu chỉ biết một mình uổng quá nên tôi cố gắng viết thành sách để vừa giáo dục chính bản thân, con cháu; đồng thời mong muốn góp phần cho bà con mình, thanh niên hiện nay hiểu rõ hơn khi sống và học tập theo gương Bác. Được vậy, cuộc sống này tốt hơn biết bao” – ông tâm sự chân thành.

Ông Nguyễn Ngọc Truyện vào Đảng năm 1947, đã nhận huy hiệu 60 tuổi Đảng, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, 4 Huy chương và nhiều Bằng khen khác. Mới đây, ông được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang tặng Bằng khen do có thành tích xuất sắc trong thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

ĐỨC VỊNH
Theo tuoitre.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thân mẫu Bác Hồ

Bà Hoàng Thị Loan sinh năm 1868 trong một gia đình nho học. Mọi người trong gia đình Bà đều trực tiếp tham gia lao động, giàu lòng nhân ái, trọng nghĩa khí, có cách nhìn tân tiến trong cuộc sống, vượt ra ngoài sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến đương thời. Từ nhỏ, bà Loan đã được tiếp thụ sự giáo dục tiến bộ của gia đình, lại được sống ở một vùng quê nổi tiếng về thuần phong mỹ tục. Đây lại là xứ sở hát phường vải – một loại hình văn hóa dân gian hết sức độc đáo. Bà yêu thích tìm hiểu về văn hóa dân tộc, thông hiểu nhiều làn điệu dân ca, hát ví. Bà có dung nhan sắc sảo, tính tình hiền từ, luôn vui vẻ hòa nhã với mọi người, chăm chỉ công việc đồng áng và canh cửi.

Cuối năm 1883, bà Loan kết hôn với ông Nguyễn Sinh Sắc – một nho sinh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bà chấp nhận cuộc sống vất vả, khó khăn để chồng yên tâm kinh sử, hun đúc tài năng. Với phẩm chất nhân hậu, chịu thương, chịu khó, không muốn con mình thiếu thốn, không muốn chồng mình phải ngừng học tập vì miếng cơm, manh áo, Bà đã lao động cật lực để nuôi gia đình. Bằng tấm lòng yêu chồng, thương con vô bờ bến, Bà đã hy sinh tất cả, toàn tâm toàn lực vì sự nghiệp của chồng con. Sự học hành, đỗ đạt của ông Nguyễn Sinh Sắc luôn gắn với công lao, tâm sức của Bà.

Bà Hoàng Thị Loan là tấm gương sáng ngời về tính cách bình dị, khiêm tốn, đức hy sinh, chung thủy, thương người, yêu nước. Bà đã dành rất nhiều tâm huyết truyền thụ cho các con những hiểu biết ban đầu về thế giới tự nhiên và xã hội. Tất cả những câu hỏi ngây thơ, ngộ nghĩnh của các con đều được Bà giải thích cặn kẽ, rõ ràng, dễ hiểu. Là một người mẹ chuyên cần, chăm chỉ, Bà luôn chú trọng dạy các con yêu lao động, biết làm những điều phù hợp với lứa tuổi của mình một cách say mê, sáng tạo. Bất cứ ở đâu, bà Loan cũng thể hiện một lối sống trong sáng, có nghĩa, có tình khiến ai cũng yêu quý, kính trọng. Bằng tấm lòng và sự mẫn cảm của người mẹ, Bà đã vun trồng, uốn nắn, dạy dỗ các con những bài học đầu tiên về cách sống, về đạo lý làm người. Vì vậy, ngay từ nhỏ, những người con của Bà đã có chí hướng, sống chan hòa gắn bó với cộng đồng và giàu tâm huyết với quê hương, đất nước.

Xót xa thay! Chính vì lao động quá sức, đời sống kham khổ, Bà Hoàng Thị Loan đã lâm bệnh nặng và qua đời ở tuổi 33 vào ngày 10-2-1901 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý) tại Kinh đô Huế. Thi hài của Bà được mai táng ở núi Tam Tầng, bên dòng sông Hương. Năm 1922, hài cốt của Bà được cô Thanh – con gái Bà đem về mai táng tại vườn nhà ở làng Sen (Kim Liên) và đến năm 1942, lại được cậu con trai Nguyễn Sinh Khiêm đưa lên cải táng trên ngọn núi Động Tranh Thấp trong dãy Đại Huệ. Năm 1984, để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã sinh thành, dưỡng dục anh Nguyễn Sinh Cung tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh (cũ) và lực lượng vũ trang Quân khu 4, thay mặt cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, đã xây dựng Khu mộ của Bà khang trang, đẹp mắt.

Nếp sống giản dị, thanh cao, yêu lao động, giàu nhân nghĩa, mang đậm bản sắc địa phương và truyền thống dân tộc của bà Hoàng Thi Loan đã thể hiện rất rõ trong nhân cách, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau mãi mãi trân trọng và tri ân Bà. Trong một lần đến viếng mộ Bà, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Cụ – Người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã mang lại vinh quang cho đất nước Việt Nam, Người mà mọi người Việt Nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ mãi mãi ghi ơn!

Nguyễn Thị Hiệp

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh là tấm gương phản chiếu phẩm chất của một người thầy mẫu mực.

“Đầu năm 1911, Người bỏ học. Trên đường ra nước ngoài, Người qua Phan Thiết và đã dạy học trong một thời gian ngắn tại trường Dục Thanh, một trường tư do một số văn thân yêu nước lập ra” [1, tr.15]. Đây là trích đoạn trong tập sách Chủ Tịch HồChí Minh, tiểu sử và sự nghiệp. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh đã từng là một thầy giáo trước khi trở thành một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong bài viết này, tính chất mẫu mực của người thầy trong nhân cách Hồ Chí Minh mà chúng tôi tìm hiểu bao hàm nhiều phương diện ý nghĩa hơn là khái niệm một thầy giáo đơn thuần, bởi nhân cách và trí tuệ của Người được trui rèn và tỏa sáng trong suốt một quá trình đấu tranh lâu dài không mệt mỏi cho nền độc lập dân tộc, cho sự thống nhất nước nhà.

hồ chí minh
1.Hồ Chí Minh là tấm gương phản chiếu phẩm chất của một người thầy mẫu mực 

Xét về cách giải quyết vấn đề, Hồ Chí Minh có một thế giới quan khoa học. Ở Người, ta thấy một lối nghĩ, lối làm rất khoa học, chính xác và quyết đoán. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, Người sớm tiếp xúc và tham gia các phong trào yêu nước. Trong những năm học ở Trường Quốc học Huế (1905 – 1910), Người đã làm liên lạc cho một số nhà nho yêu nước lúc bấy giờ. HồChí Minh sớm nhận thức và rất nhanh nhạy trong việc đánh giá đường lối đấu tranh của các phong trào yêu nước. Người thấy rằng, phong trào Cần vương thất bại là vì không tập hợp được quần chúng; cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám sớm tan rã vì không có đường lối rõ ràng; chủ trương của cụ Phan Chu Trinh thì có tính cải lương; còn cụ Phan Bội Châu lại dựa vào Nhật để đánh thực dân Pháp, khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Vì thế, Người đã quyết tâm đi tìm con đường cứu nước mới _ con đường dân tộc độc lập, dân chủ tự do. Năm 1911, Bác đã rủ một người bạn ra nước ngoài xem họ làm thế nào để về giúp đồng bào thì người kia hỏi lấy tiền đâu mà đi, Bác vừa trả lời “Đây, tiền đây” [2, tr.14] vừa giơ hai bàn tay ra; và rồi Bác đã đồng ý làm bất cứ việc gì để được đi ra nước ngoài. Chính lòng yêu nước vô bờ bến và sự quyết đoán ấy, BácHồ đã tìm được con đường cứu nước mới và trở thành thành viên của Đệ tam Quốc tế. Từ sau năm 1940, Bác trở về nước cùng Trung ương Đảng chuẩn bị tổng khởi nghĩa và thực hiện thành công cuộc tổng khởi nghĩa vào năm 1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước, cho con người Việt Nam. Người được bầu làm Chủ tịch nước. Trong vai trò mới, Người đã dũng cảm và khéo léo chèo chống con thuyền cách mạng vượt qua hết khó khăn này đến gian nguy khác bằng chính cách nhìn nhận, đánh giá tình thế cách mạng một cách khoa học, chính xác và táo bạo. Cụ thể nhất là việc Người đặt bút ký với Sainteny _ đại diện của Pháp, bản Hiệp định ngày 6 tháng 3 năm 1946, mà theo căn cứ của Bản hiệp định thì nước Việt Nam thừa nhận ở trong khối Liên hiệp Pháp, cho phép 15.000 lính Pháp đổ bộ vào Bắc và Trung bộ Việt Nam để thay thế quân Tưởng. Trước sự nghi ngờ của dư luận cho rằng Hồ Chí Minh đã bị Pháp mua chuộc, Bác đã dõng dạc tuyên bố trước nhân dân : “Hồ Chí Minh không và sẽ không bao giờ là một người bán nước”, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan buộc ta phải tạm thời nhượng bộ Pháp. Và chính nhờ hiệp định này nhân dân ta tránh được cuộc đối đầu trực tiếp vớinhiều thế lực thù địch để có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Hồ Chí Minh là người không ngừng học hỏi để hoàn thiện bản thân, nắm bắt tri thức nhân loại. Ví như, để học tiếng Anh, Bácđã một mình đến Luân Đôn. Và để có thể sống ở Luân Đôn, Bác đã phải làm đủ nghề cực nhọc với những đồng lương rẻ mạt như: nhận cào tuyết trong một trường học, việc đốt lò trong xưởng, việc rửa chén bát trong nhà hàng. Rồi ta lại thấy rất rõ điều này qua việc Bác học tiếng Pháp. Bác học từng chữ một khi trên tàu lênh đênh ra nước ngoài nhờ vào hai thanh niêngiải ngũ người Pháp; hay để viết được báo bằng tiếng Pháp cho đúng, Bác luôn viết thành hai bản, một bản nhờ người khác sửa, một bản giữ lại để sau này đối chiếu đúng sai; lúc đầu viết ngắn, sau lại viết dài rồi rút gọn lại. Chính lòng kiên trì và sự miệt mài học tập, Bác đã viết được những bài báo, vở kịch được công chúng khen ngợi. Bác lại thường xuyên tham gia những buổi thảo luận của những người trong Đảng xã hội Pháp. Rồi Bác lại đến nước Nga để được gặp Lê Nin, nhưng đã không kịp vì Lê Nin đã mất trước đó mấy ngày. Ngay lúc ấy, Bác liền liên lạc với những người quen và bắt đầu học tiếng Nga để thuận việc tiếp xúc với lí tưởng chủ nghĩa xã hội Nga. Có thể nói, trí tuệ của Hồ Chí Minh là kết tinh của một quá trình phấn đấu, học hỏi không ngừng với niềm khát khao vươn tới trí tuệ nhân loại và tình yêu nước sâu sắc.

2. Hồ Chí Minh luôn thể hiện năng lực của một người thầy mẫu mực 

Ở Người, ta thấy một sự cảm hoá rất mạnh mẽ. Sự cảm hoá ấy dựa trên sự chia sẻ, đồng cảm và yêu thương qua suy nghĩ, lời nói và hành động. Nhờ năng lực đó mà Bác đã được những người Pháp, người Anh, người Nga nhiệt tình dạy cho những thứ tiếng của họ. Đặc biệt thời gian ở Luân Đôn, khi đang làm chân phụ dọn dẹp ở tiệm ăn Các lơ tông, với hành động giữ lại những phần ăn thừa như thịt gà, bit tết… một cách cẩn thận và sạch sẽ để chia cho những người nghèo, Bác đã được Ét Cốp Phi E _ một ông vua đầu bếp thời bấy giờ cho lên phụ bếp, lại dạy cho cách nấu ăn và tăng lương. Việc này đối với tiệm ăn Các lơ tông là chưa có tiền lệ. Hay một ví dụ khác, vào năm 1922, Bác cùng với những người trong Ban thường vụ Hội Liên hiệp thuộc địa họp bàn việc cho xuất bản Báo Người cùng khổ nhưng không thành công vì thiếu tài chính. Nhưng Bácquyết vẫn cứ cho ra Báo Người cùng khổ bằng cách quyên góp tiền từ công chúng. Trong các cuộc mít tinh, Bác thường lên diễn đàn và nói: “Các bạn thân mến! Báo Người cùng khổ phát không, nhưng hết sức cảm ơn nếu các bạn vui lòng quyên góp ít tiền để giúp chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan, ít nhiều cũng tốt” [2, tr.44]. Thế là Báo Người cùng khổ được phát hành.

Ngoài sự cảm hoá nhân dân, quần chúng, mọi tầng lớp bằng hành động cụ thể, Bác còn cảm hoá họ bằng những câu văn, bài thơ, lời kêu gọi chứa chan tình thương và nhiệt huyết. Với các văn nghệ sĩ, những người lính, Bác thường xuyên viết thư thăm hỏi, động viên; với các cháu thiếu nhi, không trung thu nào là Bác không viết những vần thơ yêu thương, khích lệ. Ví như trong Thư trung thu năm 1952, có đoạn :

“Ai yêu nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh
Mong các cháu cố gắng
Thi đua học và hành.”[3, tr.81]

Hay như “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 20 tháng 12 năm 1946 có đoạn viết :
“Không. Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước” [1, tr.98]. Sau lời kêu gọi này là hàng loạt phong trào thi đua yêu nước được ra đời như: thi đua diệt giặc đói, giặc dốt, thi đua giết giặc, thi đua sản xuất. Có thể nói là “người người thi đua, nghành nghành thi đua”.

Hồ Chí Minh luôn có lối sống mẫu mực, chân thành, giản dị mà đầy tình nghĩa. “…Chúng tôi đều nhìn Bác, một vị Chủ tịch nước trong bộ quần áo kaki bạc màu, chân đi dép, hiện thân của sự giản dị, trong sáng, một mẫu người tuổi trẻ mà chúng tôi hằng mong đợi, ước mơ” [4, tr.79]; hay “…Bác Hồ là tinh hoa của những tinh hoa Việt Nam, tổng hợp của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc, của thời đại” [5, tr.209]. Với một lời cảm nhận, một lời nhận xét trên của những người đã từng tiếp xúc với Bác cho ta thấy: Hồ Chí Minh là mẫu đạo đức, tác phong của những người cách mạng được gần gũi và làm việc cùngBác. Bác luôn nêu lên những chuẩn mực đạo đức mới, tự mình thực hiện và phổ cập đế mọi người cùng thực hiện. Bác luôn coi đạo đức là cái gốc của con người, đặc biệt là người cách mạng. Mà có lẽ đạo đức ấy là sự quyết tâm tự đấu tranh để hoàn thiện bản thân và chiến thắng cái xấu trong cuộc sống. Ta có thể thấy rất rõ điều này qua những lời nói, việc làm bình dị nhất từ con người Hồ Chí Minh như trong cách xưng hô: nói với toàn dân thì “thưa đồng bào”, nói với cấp dưới là “các chú”, nói với thiếu nhi là “bác” với “cháu”; trong cách ăn mặc Bác cũng rất giản dị “…Khi ở Pari về, người ta thấy Hồ Chí Minh mặc một bộ kaki đã vá. Có người yêu cầu Chủ tịch thay bộ áo quần khác. Chủ tịch đáp: Nhiều đồng bào ta có được bộ quần áo này cũng là tốt lắm. Thế thì việc gì phải thay” [2, tr.148]. Còn khi về Hà Nội, Bác sống trong một ngôi nhà sàn đơn sơ vớinhững vật dụng cần thiết nhất. Vậy đấy, Bác là chân dung của một nhà cách mạng vì nước quên thân, vì dân phục vụ.

Hồ Chí Minh lại là người có tài quản lý và tổ chức. Ví như câu chuện bác chọn Phó Thủ tướng : “… Bác đọc danh sách, thấy đồng chí nào cũng có quá trình phấn đấu đáng tin cậy. Nhưng Bác suy nghĩ và phân tích: chú này có quá trình khái quát nhanh, chú kia chặt chẽ về tài chính…nhưng làm Phó Thủ tướng ngoài năng lực, ý chí tổ chức kỉ luật và tinh thần trách nhiệm, cần phải sâu sát tình hình thực tế, tổ chức thực hiện kiểm tra đôn đốc… Bác thấy chú Mười là đủ tiêu chuẩn vừa nói nhưng đểBác xem sức khoẻ thế nào đã.” [4, tr.48]. Thế là Bác mời đồng chí Đỗ Mười đến nói chuyện, lại mời cùng ăn cơm. Sau rồi,Bác suy nghĩ và quyết định đồng chí Đỗ Mười làm Phó Thủ tướng, nhưng lại quy định chỉ được làm việc ban ngày để đảm bảo sức khoẻ làm việc lâu dài. Ngoài ra, ta còn thấy sự tài tình của Bác trong việc tổ chức và quản lý bộ máy nhà nước, chính quyền cách mạng trong nhiều tình huống vào những hoàn cảnh khác nhau như khi mới thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời, khi tổ chức chiến dịch biên giới… Thế mới biết, Bác rất cẩn thận và tỉ mỉ trong việc tuyển chọn “đầy tớ” của nhân dân, những cán bộ cốt cán có đủ năng lực và phẩm chất để đưa con thuyền cách mạng đến với chiến thắng cuối cùng.

Cuộc đời của Hồ Chí Minh, sự nghiệp của Hồ Chí Minh là tấm gương để mỗi người dân Việt Nam noi theo và phấn đấu. Đặc biệt, ngày nay, những Thầy, Cô giáo trẻ lại càng phải học tập tấm gương đạo đức và nhân cách của Hồ Chí Minh. Đó là học tập cách nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượng một cách khách quan khoa học, để có thể nắm bắt tri thức và không ngừng bồi dưỡng kiến thức; học cách cảm hoá, quản lí con người thông qua việc rèn luyện lối sống chân thành, trung thực, giản dị giàu tình nghĩa nhưng công bình và liêm chính.

ThS. Lê Sỹ Đồng 
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân Văn


Tài liệu tham khảo
1. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự Thật, 1975.
2. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự Thật, 1975.
3. Trúc Chi, Hồ Chí Minh vẻ đẹp bên trong của viên ngọc, Nxb Thanh Niên, 2000.
4. Phan Hiền, Bác Hồ với sự nghiệp trồng người, Nxb Trẻ, 2004.
5. Hà Huy Giáp, Bác Hồ người Việt Nam đẹp nhất, Nxb Thanh Niên, 1977.
6. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội, 2003.

tdmu.edu.vn

Tìm hiểu thực chất và ý nghĩa của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học.

Picture3.jpg
Hồ Chí Minh – Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tuấn Anh

Là học trò của C.Mác, Ph. Ăng ghen, V.I.Lênin nên thế giới quan, tư duy triết học của Người là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Người đã bảo vệ và phát triển tư duy triết học trên nền tảng triết học Mác – Lênin. Khác với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lê nin, Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm triết học như: Hệ tư tưởng Đức, Luận cương Phoiơbắc, Biện chứng của tự nhiên, Bút ký triết học… Bởi vì, Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, dẫn đường và nhiệm vụ của Người là cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Chính nhiệm vụ này đã cuốn hút Người với tất cả tinh thần và sức lực, làm cho Người sống gần gũi với nhân dân, đem tinh tuý, sâu sắc của triết học diễn đạt thành những điều giản dị, cụ thể, rõ ràng và thiết thực để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng, phải có một trình độ triết học sâu sắc, uyên bác, Hồ Chí Minh mới có thể chuyển hoá thành triết học của cuộc sống. Nhờ đó, người trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tình hình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tế, có hiệu quả; đồng thời không rơi vào dao động, không mắc phải sai lầm ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí cũng như giáo điều, xét lại; mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữ triết học.

Nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tưởng triết học sâu sắc. Hồ Chí Minh đã dựa chắc vào vấn đề cơ bản triết học để giải quyết mối quan hệ giữa việc nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa phát triển sản xuất với củng cố hệ thống chính trị, tăng trưởng kinh tế với phát triển giáo dục văn hoá và nhiều mối quan hệ khác như mối quan hệ giữa xây dựng đất nước với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với thời đại, giữa kháng chiến với kiến quốc. Rõ ràng, khi giải thích hàng loạt các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nói tới triết học, bàn tới triết học và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh thể hiện rõ những giá trị nhân văn đặc sắc, tràn đầy tinh thần biện chứng duy vật. Trong đó có sự hoà quyện đến nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh hoa văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây và lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người, chúng ta nhận thấy ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phép “biến dịch” của triết học phương Đông và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Thế giới quan Hồ Chí Minh là thế giới quan khoa học. Trong đó, thế giới quan triết học Mác – Lênin đóng vai trò quyết định bản chất khoa học, cách mạng. Thế giới quan của Người còn ảnh hưởng của tư tưởng triết học dân tộc, của tinh hoá văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây. Về khuynh hướng tư duy, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đi sâu lý giải các vấn đề xã hội và nhân sinh. Bởi lẽ, xuất phát từ hoài bão lớn lao và mục đích chính trị cao cả là “cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc” nên Người đặc biệt chú trọng xây dựng lý luận về chính trị – xã hội, đạo đức cách mạng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn hơn là hình thức học thuyết triết học, nhận thức và lôgíc học như các nhà triết học vẫn thường làm.

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sản phẩm của quá trình hoạt động tư duy lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người có vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Chính tư tưởng, quan điểm triết học của Người cùng với triết học Mác -Lênin luôn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta không thể hiểu rõ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh nếu như không hiểu cái gì là cốt lõi quy định cách nhìn, cách nghĩ và phương pháp cách mạng cũng như cái gì là trung tâm dẫn dắt đồng bào ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đã đi vào thực tiễn xã hội Việt Nam, lấy cái cốt lõi là giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống hoà bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào làm mục đích hướng tới, đạt tới. Đây thực chất là những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với việc bảo vệ và phát triển triết học Mác – Lênin trong điều kiện lịch sử mới, nhất là việc phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Những cống hiến của Hồ Chí Minh trong phát triển triết học Mác -Lênin là tư tưởng về giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực ra hai khái niệm này đều được Hồ Chí Minh dùng cùng một nội hàm như nhau. Đối với Hồ Chí Minh, thực tế không đối lập với thực tiễn, nó chỉ rộng hơn thực tiễn mà thôi. Khi bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác -Lênin, Hồ Chí Minh dùng khái niệm thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn thì Người thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, khái niệm thực tiễn và thực tế được nhân dân ta hiểu và sử dụng cùng nghĩa (xem từ điển Tiếng Việt 1991).

Trong thế giới quan triết học của Hồ Chí Minh, vấn đề con người chiếm vị trí hết sức quan trọng. Phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề con người ở Hồ Chí Minh không phải là chung chung, trừu tượng, phi lịch sử như trong triết học nhân bản mà là con người hiện thực, con người lao động “đồng bào tôi”. Trọn đời mình, Người phấn đấu, hy sinh là nhằm mục đích đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm cho đồng bào. Chủ nghĩa nhân văn hiện thực cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện ở lòng thương yêu con người, tôn trọng, tin tưởng ở nhân dân, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.

Có thể khái quát tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo đạt đến sự nhuần nhuyễn giữa tư duy triết học Mác -Lênin mà cốt lõi là tư duy biện chứng duy vật trong sự hoà quyện với tư duy duy triết học và văn hoá phương Đông, phương Tây, tư duy, trí tuệ, văn hoá dân tộc Việt Nam và phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra bản chất, quy luật và hình thành nên hệ thống luận điểm về chủ nghĩa thực dân, về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội …có những quyết định đúng đắn, sáng tạo, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Từ quan niệm trên, có thể thấy tư tưởng triết học Hồ Chí Minh có một số đặc trưng cơ bản như sau:

Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động. Sự kết hợp này vừa là đặc trưng tư duy triết học Hồ Chí Minh vừa là nguyên tắc của Hồ Chí Minh nhận thứ và hành động. Thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng triết học của Người.

Tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sự hoàn chỉnh chu kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn hoạt động cách mạng Việt Nam.

Tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng. Có thể coi đây là đặc trưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh.

Việc nắm vững thực chất phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lê nin và truyền thống triết học phương Đông, nắm vững ngôn ngữ của quần chúng nhân dân và quan hệ mật thiết với họ đã giúp Người diễn đạt tư tưởng triết học duy vật biện chứng vốn là tư duy khoa học, có hàm lượng trí tuệ cao, có sự trừu tượng hoá và khái quát cao, sâu sắc trở nên phổ thông, dễ hiểu mà vẫn giữ được bản chất khoa học, cách mạng của nó.

Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: nắm vững quan điểm thực tiễn và thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; giải quyết mọi việc phải toàn diện, nhấn mạnh trọng điểm và lấy hiệu quả làm mục đích; xem xét sự việc trong sự phát triển, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; giải quyết mọi việc đều vì con người, do con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Về thực chất, đó là phép biện chứng Hồ Chí Minh, là phương châm xem xét và hành động khoa học được Hồ Chí Minh đúc kết từ sự tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển phép biện chứng duy vật mác-xít, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tư duy triết học phương Đông và thực tiễn giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam.

Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú mà nền tảng của nó là tư tưởng triết học. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo triết học Mác -Lênin mà còn có sự phát triển Triết học Mác -Lênin, nhất là một số vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, giàu có thêm kho tàng lý luận Mác -Lênin nói chung, triết học Mác -lênin nói riêng. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

PGS, TS Nguyễn Bá Dương
Theo cpv.org.vn

hochiminhhoc.com

Bác Hồ qua những bức ảnh tư liệu của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

“… Hồ Chí Minh mà chúng tôi ví như Pierre le Grand (Pie Đại Đế), Hochimagne, nhưng hơn… Cả đến ngọn lúa cũng gợi hình ảnh Hồ Chí Minh. Sao chưa có kịch, có tiểu thuyết tả người anh hùng ấy? Có khi không phải tả, nhưng nhân vật vẫn trội lên, đẹp đẽ, lớn lao và ở đâu cũng có mặt”.

Cha tôi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã ghi những dòng nhật ký này ngày 24.10.1947, giữa những bộn bề công việc của buổi đầu kháng chiến. Khác với một số đồng nghiệp bấy giờ còn lúng túng chưa biết viết gì và viết như thế nào, cha tôi đã sớm có được những tác phẩm ngợi ca Cách mạng và vị lãnh tụ của dân tộc. Với những bài ký về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tạp chí Tiên Phong cuối năm 1945 đầu năm 1946 và sau đó là những bài đăng trên Văn Nghệ kháng chiến, cha tôi là một trong những người đầu tiên viết về Người. Nói như giáo sư Phong Lê, “Nguyễn Huy Tưởng xứng đáng thuộc số người sớm và hiếm hoi thỏa mãn một nhu cầu tinh thần lớn của nhân dân trong cuộc đổi đời của dân tộc sau 1945. Qua các trang ghi linh hoạt này Nguyễn Huy Tưởng cũng là người sớm phát hiện ra cái giản dị, cái thường ngày của một con người vĩ đại, con người trong sự ngưỡng mộ, thành kính của dân tộc”… Những bài viết đó, sau khi về Tiếp quản Thủ đô, cha tôi đã tập hợp lại in thành một tập sách lấy tên là Gặp Bác, như để mừng ngày Hồ Chủ tịch và Chính phủ về lại Thủ đô, 1.1.1955.

Tuy nhiên, qua những dòng nhật ký trên của cha tôi, có thể thấy ông chưa hài lòng với những gì đã viết, mà đòi hỏi mình cao hơn. Không phải chỉ những bút ký, ghi chép, mà là “kịch”, là “tiểu thuyết” – những tác phẩm cần đến sự khái quát rất cao. Thực tế là sau này, khi viết kịch Những người ở lại hay Ký sự Cao Lạng, rồi kịch bản phim Lũy Hoa…, ông đã lồng vào đó những trang thật cảm động về lãnh tụ. Nhưng chắc chắn mong muốn của ông không dừng ở đó. Nếu cha tôi không bị bạo bệnh mất sớm, tôi dám chắc thế nào ông cũng có một vở kịch hay một tiểu thuyết riêng về Bác. Hồi ký của nhà thơ Tố Hữu, nhà văn Tô Hoài, nhà văn Kim Lân, nhà văn Nguyên Hồng… đều cho biết cha tôi rất kính yêu lãnh tụ và say sưa với đề tài Bác Hồ. Nhiều trang nhật ký của cha tôi cũng chứng thực điều đó. Ở bài viết này, tôi muốn nói đến một số kỷ vật khác, cho thấy mối quan tâm đặc biệt của cha tôi đối với Bác. Đó là những tấm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cha tôi có được và mẹ tôi đã lưu giữ sau khi ông qua đời.

Tấm ảnh đầu tiên xin được nói đến là bức chân dung Hồ Chủ tịch trong kháng chiến, in trên giấy ảnh khổ 42x53mm (ảnh 1). Mặt sau có đóng dấu: “Ảnh của Đoàn nhiếp ảnh Việt Nam – Nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành – Chụp lại phải xin phép”. Tấm ảnh không đề ngày, nhưng qua những hàng chữ trên, ta có thể biết thời điểm ra đời của nó là sau khi NXB Văn Nghệ đã thành lập và đi vào hoạt động, tháng 3.1948. Bấy giờ cha tôi làm Thường vụ Hội Văn Nghệ Việt Nam, trực tiếp giải quyết những vấn đề thường nhật của Hội cũng như các cơ quan trực thuộc là báo Văn Nghệ và Nhà xuất bản. Rất có thể ông đã cho xuất bản bức chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh để phát hành rộng rãi, đáp ứng nhu cầu tình cảm của nhân dân đối với lãnh tụ, đặc biệt trong những ngày đầu kháng chiến.

Tấm ảnh tiếp theo tôi muốn giới thiệu ghi lại hình ảnh Bác đang cùng một số người xem tranh, có kích thước 50x50mm (ảnh 2). Đằng sau có bút tích của cha tôi, viết bằng bút chì, nay đã mờ nhưng vẫn còn đọc được: “Cụ Hồ Chủ tịch cùng với mấy vị trong Đoàn Đại biểu Nam Bộ đương xem bức tranh của họa sỹ Diệp Minh Châu gửi ra kính dâng Cụ. – ảnh BTCH, X-1948”. Đây chính là bức tranh nổi tiếng vẽ bằng máu của họa sỹ Diệp Minh Châu mà trên ảnh đen trắng ta không thể nhận ra màu sắc. Còn mấy chữ BTCH có lẽ là viết tắt của Bộ Tổng chỉ huy, cơ quan giữ bản quyền tấm ảnh này. Riêng về mấy người cùng xem tranh với Bác, từ nhật ký của cha tôi ta có thể biết thêm đôi điều về họ. Ngày 21.11.1948 cha tôi ghi: “Gặp anh em trong phái đoàn Nam Bộ: Cha Kính, trẻ như một sinh viên, Tần, Thanh niên, Khung, Lao động…” Thời gian đã quá xa để có thể biết ai là linh mục Nguyễn Bá Kính, đại biểu Liên đoàn công giáo Nam Bộ, ai là Nguyễn Văn Tần, đại biểu Thanh niên Nam Bộ, ai là Phạm Văn Khung, đại biểu Liên hiệp công đoàn Nam Bộ… Nhưng dù họ là ai, thuộc thành phần nào, trên ảnh tất cả đều như những đứa con xúm xít quanh vị cha già dân tộc.

Tấm ảnh thứ ba ghi lại hình ảnh Hồ Chủ tịch đang tăng gia cùng cán bộ, chiến sỹ (ảnh 3). Đằng sau có đề: “Kỷ niệm Đại hội Quốc hội Việt Nam lần thứ 3 (1953)”, bên dưới đóng dấu “Ban Thường trực Quốc hội”. Ảnh có kích thước 75x75mm, xung quanh có khung và phía dưới để chỗ cho chữ ký của Hồ Chủ tịch. Vậy là đã rõ. Đây là quà của Bác tặng các đại biểu dự Kỳ họp thứ ba Quốc hội Khóa I, đầu tháng 12.1953, Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất. Quý nhất là chữ “Hồ Chí Minh” Bác ký tặng đến nay sau hơn nửa thế kỷ nét mực tím vẫn còn tươi nguyên, trong khi bản thân tấm ảnh đã phai ít nhiều. Cùng với tấm ảnh này, cha tôi còn để lại một bức nữa cũng y vậy, chỉ khác là nhỏ hơn, cũ hơn và không có khung cũng như không để chừa rộng ở phía dưới. Có thể là từ bức ảnh ấy người ta đã làm thành tấm ảnh to hơn, rộng rãi hơn để Bác ký tặng. Nhưng liệu cha tôi có tham gia gì vào việc này, liệu có phải NXB Văn Nghệ mà ông là người lo toan gánh vác đã in tấm ảnh đó, thì chẳng thể có cơ sở gì để khẳng định. Chỉ biết ở mặt sau tấm ảnh, phía trên, cha tôi đã ghi tên mình, “Nguyễn Huy Tưởng”, một cách thật nắn nót, chứng tỏ ông rất coi trọng việc mình có tấm ảnh này!

Bức thứ tư là ảnh Hồ Chủ tịch chụp cùng một cụ ông mặc quốc phục, bên cạnh là micrô, đèn chiếu… (ảnh 4). Cùng với tấm ảnh này, cha tôi còn để lại một tấm khác nữa cũng có chung kích thước (115x82mm), ghi lại hình ảnh Bác vừa đọc diễn văn vừa khóc. Cả hai bức ảnh không có ghi chú gì, nên ta không thể biết cụ thể về nội dung của chúng. Nhưng qua nhật ký của cha tôi, tôi có thể suy đoán mà không sợ sai rằng, đó là ảnh chụp Hồ Chủ tịch tại Kỳ họp thứ sáu Quốc hội Khóa I, cuối năm 1956. Ngày 29.12.1956, cha tôi ghi nhật ký: “Hồ Chủ tịch… đọc bài chào mừng, nhắc đến miền Nam, khóc”. Đây quả là những hình ảnh gây xúc động mạnh trong lễ khai mạc, và tôi đoán rằng Văn phòng Quốc hội đã làm để tặng các đại biểu. Thế nhưng người chụp cùng Bác là ai? Phải chăng là một vị nhân sỹ trong Quốc hội, hay một bậc cao niên thay mặt nhân dân Thủ đô lên chào mừng Hồ Chủ tịch và Quốc hội? Có điều chắc chắn, bức ảnh toát lên một tinh thần đại đoàn kết dân tộc mà Hồ Chủ tịch là tiêu biểu, nó khiến ta nhớ tới những câu chuyện cảm động về Cụ Hồ với cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng), cụ Hồ với cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn), hay với nhiều cụ ông, cụ bà khác…

Bức cuối cùng mà tôi muốn nói tới là tấm ảnh Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa Dân chủ Đức, giữa năm 1957 (ảnh 5). Bên Bác là một vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Đức đi tháp tùng mà ta có thể đoán ra, còn xung quanh là các lưu học sinh và thày cô giáo đang học tập và công tác tại nước bạn. Một trong những lưu học sinh ấy, người ngồi cạnh Bác, phía bên phải, chính là chị gái cả của tôi, chị Nguyễn Thị Hiền. Bấy giờ chị tôi đang theo học tại CHDC Đức và chị đã vinh dự được chụp ảnh cùng Bác trong chuyến thăm nước bạn của Người. Chị tôi đã gửi tấm ảnh này cho các bạn Đức kèm theo lời giới thiệu đầy tự hào: “Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu của chúng tôi mà các bạn muốn biết là trên tấm ảnh trên đây”…

Có thể những câu chuyện trên đây ít nhiều mang tính riêng tư. Có thể có nhiều người khác nữa cũng đang có những tấm ảnh như thế, thậm chí đã từng công bố… Ở đây tôi chỉ muốn được nói rằng, những tấm ảnh đó chính là một phần của cuộc đời cha tôi, một phần thuộc đời sống tinh thần của gia đình chúng tôi.

Nguyễn Huy Thắng

sites.google.com

Duyên nợ của Bác với báo chí

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân. Mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó…

Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí. Các cô, các chú đã có những ưu điểm như đã đóng góp vào cuộc kháng chiến thắng lợi, xây dựng hòa bình và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã cố gắng làm việc. Gần đây, sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương, các đồng chí đã thấy rõ công việc báo chí là rất quan trọng, và đã thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của mình. Như thế là tiến bộ.

Bệnh dùng chữ

Ưu điểm của các cô, các chú không ít. Nhưng khuyết điểm thì còn nhiều. Trong các đồng chí cũng còn có người hoặc ít hoặc nhiều chưa thoát khỏi ảnh hưởng tư sản và tiểu tư sản, cho nên nắm vấn đề chính trị được chắc chắn. Nói về văn nghệ, Bác thú thật có ít thì giờ xem các bài văn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà, dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy.

Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài. Cái bệnh dùng chữ, là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái ngược lại báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị… thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được.

Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại nói “ca vũ”?… Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm. Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội nhân dân… đều dùng chữ nhiều lắm.

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.

Khoa học ngày càng phát triển, có những chữ mới mà ta chưa có, thì ta phải mượn. Ví dụ: ta phải nói “kilô”, vì nếu nói chữ “cân”, thì không đúng nghĩa là 1.000 gram. Song những chữ dùng tiếng ta cũng đúng nghĩa thì cứ dùng tiếng ta hơn. Có những người hình như sợ nói tiếng ta thì nói xấu hổ thế nào ấy! Họ làm cho các cháu học sinh cũng bị lây bệnh nói chữ, như “phụ đạo”, “giáo cụ trực quan”… Thật là tai hại!

Nghề báo – khó như mọi nghề khác

Mấy khuyết điểm nữa: Sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương về báo chí, có một số đồng chí tiến bộ, những cũng có một số vì trình độ văn hóa chính trị còn kém thì đâm ra bi quan và muốn đổi làm nghề khác. Họ không biết rằng nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ. Phải có ý chí tự lập, tự cường, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng.

Có người chỉ muốn làm cái gì để “lưu danh thiên cổ” cơ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng. Những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra. Họ không thấy rằng: làm việc gì có ích cho nhân dân, cho cách mạng đều là vẻ vang. Bất kì việc gì mà mình là tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang. Trong các anh hùng, chiến sĩ lao động có người là công nhân, là nông dân, có người làm thầy thuốc, có người đánh giặc giỏi… và có người dọn cầu xia cũng trở thành chiến sĩ. Tóm lại, trong lao động không có nghề gì là hèn, chỉ có lười biếng mới là hèn. Làm tròn nhiệm vụ thì công tác nào cũng vẻ vang.

Nói về Hội Nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiêm vụ của mình, và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng.

Viết báo – là viết cho nhân dân

Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phải phục vụ ai?

Có người nói ở các nước tư bản có tự do báo chí và báo chí không có giai cấp. Nói vậy đúng không. Ví dụ: Các báo Pháp như báo Figaro, báo Nước Pháp buổi chiều… một mặt nó ru ngủ nhân dân, chia rẽ nhân dân, làm cho nhân dân mất chí khí phấn đấu, mất tinh thần đoàn kết giai cấp. Mặt khác, nó phục vụ giai cấp tư bản. Đó là những tờ báo chính trị. Lại còn những tờ báo “giật gân”, báo nói về ái tình, báo chuyên về lôi chuyện bí mật của những người có tiền ra để tống tiền… Tất cả báo chí ấy đều phục vụ lợi ích cho giai cấp bóc lột. Báo chí Pháp có thật tự do không? Không! Ví dụ báo Nhân đạo thường bị bọn thống trị tìm mọi cách để phá: nào phạt tiền, nào cho bọn du côn phá phách, nào làm khó khăn về giấy in, nhiều khi báo bị tịch thu…

Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, vv.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.

Mục đích chung của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Nhưng mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó. Về hình thức thì không rập khuôn; rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán.

Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập tốt chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Trong nghề báo ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài.

…Trên đây nói nhiều về người viết báo. Nhưng trong nghề làm báo còn có nhiều ngành khác, như ngành in mà các cô, các chú thích nói chữ gọi là ngành “ấn loát” cũng rất quan trọng. Bởi vì có những lúc không cẩn thận, in thiếu dấu, thiếu nét, hoặc in lờ mờ không rõ. Người viết bài thích dùng chữ, như gọi người đánh cá là “ngư dân”, rồi người đi in lại in thiếu dấu ở chữ u, hóa ra “ngu dân”. Đấy chỉ là một ví dụ để thấy rằng việc in cũng phải làm cho tốt.

Việc phát hành cũng rất quan trọng. Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem. Giá tiền báo cũng cần phải đúng mức. Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành… đều phải khớp với nhau.

Bác học viết báo

Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam. Còn học thì một là học trong đời sống của mình, hai là học ở giai cấp công nhân.

Lúc ở Paris, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu được. Một đồng chí công nhân ở tòa báo Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière) cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi, bà bảo Bác có tin tức gì, thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đăng trên báo so sanh với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng nữa… Cứ thế kéo dài đến 15, 20 dòng rồi đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo: “Thôi, bây giờ phải rút viết ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.

Các báo đăng bài của mình đều là báo phái “tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền nào. Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của bọn thực dân.

Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được. Tình cờ đọc một truyện ngắn của L. Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.

Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe. Viết xong đưa đến Nhân đạo và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”. Cách mấy hôm sau, thấy mấy truyện ngắn của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 phờrăng tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo! Với 50 phờrăng có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách….

Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế.

Bác làm chủ bút

Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Các đồng chí thuộc địa Á – Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình đều bao hết. Cách bán báo; bán cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết chữ Pháp nhưng họ vẫn mua vì họ biết báo này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân Pháp đọc cho họ nghe.

Một cách nữa là: ở Paris có những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Là đồng chí với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà không lấy hoa hồng, và họ bán được khá nhiều. Vì các số báo Le Paria vừa ra đều “được” Bộ Thuộc địa Pháp mua gần hết. Còn báo gửi đi các thuộc địa thì mấy chuyến đều bị tịch thu và người đưa báo thì bị bắt bỏ tù. Về sau, anh em thủy thủ Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việt gì. Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra. Sau cùng phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi. Cách gửi như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các thuộc địa.

Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình đưa báo ra phát, rồi nói: “Báo này nói cho các đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí nào có lòng giúp cho báo, thì chúng tôi cảm ơn”. Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5 phờrăng, nhưng “biếu không” thì có khi được tới 10, 15 phờrăng. Vì anh em công nhân có một, hai xu hoặc một, hai phờrăng cũng cho cả.

Khi đi qua Liên Xô đồng chí L. phóng viên báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào… và viết phải ngắn gọn. Cách đây mấy năm, mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình viết. Nhưng L. lại bảo: chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc.

Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung Quốc. Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo…. Thấy bài minh đã được đăng lại được đóng khung, điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết. Nói tóm lại, mình phải học tập không ngừng và phải luôn luôn khiêm tốn.

Đến ngày Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại học viết tiếng ta. Lúc ấy, vấn đề khó khăn là làm thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người đọc.

Năm 1941, mình bí mật về nước. Theo lời dạy của Lênin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay, và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làm báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đi lấy trộm những tấm bia đá, rồi mài mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là phải có một đồng chí phải hì hục tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba, bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí. Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số. Phải đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in, và báo vẫn ra đúng kì. Địch chịu không làm gì được.

Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua nhiều giấy địch cũng nghi, và theo dõi. Các chị em mỗi người đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.

In bản đá, muốn sửa chữa phải dùng a xít, Mà a xít thì mua đâu được? Có đồng chí đã nghĩ ra cách dùng chanh thay a xít. Chị em lại mua chanh để ủng hộ báo.

Còn việc phát hành: Để báo ở các hang đá bí mật Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.

Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng.

Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cũng thắm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm đến cách tuyên truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.

Đề tài duy nhất

Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác với báo chí là như vậy đó.

Kết luận: kinh nghiệm của 40 năm là: không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố học thì nhất định học được. Bây giờ các cô, các chú có điều kiện học tập dễ dàng hơn Bác trước kia. Mong các cô, các chú cố gắng và tiến bộ!

HỒ CHÍ MINH

Trích bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam, 16-4-1959
Hồ Chí Minh toàn tập

quangbinh.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các sắc lệnh trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng

Cách mạng Tháng Tám1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ ra đời nằm giữa vòng vây của thù trong, giặc ngoài, giữa muôn trùng khó khăn.

Muốn giữ vững chính quyền cách mạng, việc đầu tiên là phải củng cố nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân và quản lý nhà nước bằng pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố công tác pháp luật.

Trong vòng 4 tháng sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch đã ký, ban hành 81 sắc lệnh quan trọng, trong đó gần một nửa là những sắc lệnh củng cố hệ thống pháp luật nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm việc thành lập uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp, lập ra các ban thanh tra, kiểm tra, các cơ quan của Chính phủ để giám sát mọi hoạt động theo pháp luật, xây dựng một nhà nước kiểu mới, nhà nước quản lý bằng pháp luật. Đây là sự thay đổi về chất của cả quá trình phát triển nhà nước ở Việt Nam. Thay đổi bộ máy chính quyền quan liêu, bóc lột cũ bằng một hệ thống quản lý nhà nước Việt Nam kiểu mới, thay đổi pháp luật thực dân, phong kiến bằng pháp luật của dân, do dân và vì dân là một sự biến đổi cách mạng triệt để, sâu sắc và cũng là cơ sở tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất của toàn dân, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng.

Những sắc lệnh do Bác Hồ ký trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng trước hết là phục vụ nhân dân và quốc gia, thể hiện ý chí độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, phản ánh tính chất dân chủ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… do đó được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng và kiên quyết bảo vệ.

Sắc lệnh số 40 xoá bỏ tất cả các công sở cũ và các cơ quan thuộc Phủ toàn quyền Đông Dương. Sắc lệnh số 63 về tổ chức UBND các cấp. Tiếp đó là một loạt các sắc lệnh về việc xoá bỏ những chính sách bóc lột, văn hoá, giáo dục đồi truỵ của thực dân phong kiến, lập lại trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước, khẳng định về mặt pháp luật thắng lợi của chính thể dân chủ nhân dân.

Sắc lệnh số 34 về thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp, Sắc lệnh số 39 về thành lập Uỷ ban dự thảo Thể lệ tổng tuyển cử, Sắc lệnh số 46 về tổ chức đoàn luật sư, Sắc lệnh số 53 về quốc tịch Việt Nam… đều thể hiện quyền bình đẳng về chính trị của người dân Việt Nam lần đầu tiên được nói đến và được thực hiện, mặt khác còn là những bản thông điệp cho những ai trong lực lượng đối lập hoặc chưa hiểu, chưa đi theo cách mạng, cho các tổ chức, đoàn thể, nhà nước trên thế giới biết nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một chính thể độc lập, có chủ quyền, có hiến pháp và pháp luật, được thể hiện bằng sức mạnh của chế độ mới, có năng lực tập hợp quần chúng, tập hợp các thế lực cách mạng, có đủ khả năng trấn áp những lực lượng đi ngược lại lợi ích cách mạng và lợi ích của nhân dân.

Những sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong những ngày đầu cách mạng đã thể hiện được tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Người, xoá bỏ hận thù, xoá bỏ sự miệt thị tôn giáo, dân tộc, đảng phái chính trị, tất cả đều bình đẳng trong một môi trường dân chủ, cùng tồn tại, hoà bình để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Mọi người, mọi tầng lớp xã hội nhận thức đúng đắn về chính thể dân chủ nhân dân, nhận thấy quyền lợi của mình được bảo đảm, được tôn trọng, do đó đã tập hợp và liên kết được các lực lượng đông đảo trong xã hội, tạo nên một sức mạnh cộng đồng vô cùng to lớn, bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc.

Hơn 100 ngày sau khi giành được chính quyền cách mạng, thời gian so với chiều dài lịch sử của một dân tộc thì thật quá ngắn, nhưng những bản sắc lệnh ra đời trong bối cảnh đó đã vượt quá khuôn khổ chật hẹp của thời gian, đã ghi vào lịch sử của dân tộc như những mốc son rực sáng nhất.

Từ một nước nô lệ mà ở đó luật pháp chỉ là công cụ phục vụ cho chế độ thực dân, phong kiến, người dân chỉ là những đối tượng bị trấn áp, bóc lột, nay với cách mạng Tháng Tám, Việt Nam đã chuyển sang một thể chế mới, người dân trở thành chủ đất nước, có quyền độc lập, tự do xây dựng một xã hội mới công bằng, hạnh phúc, phát triển.

Những sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong những ngày đầu cách mạng có giá trị như những tuyên ngôn về luật pháp của một chính thể dân chủ nhân dân, là sự khởi đầu, đặt nền móng cho những bước phát triển mới về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Tinh thần của những sắc lệnh đó vẫn là nền tảng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập kinh tế thế giới, trong sự nghiệp CNH, HĐH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trần Minh Hiền
Nha trang, Khánh Hoà

xaydungdang.org.vn

Nghĩ tiếp về lời Bác Hồ: Đảng ta là đạo đức, là văn minh

Trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao/Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình/Đảng ta là đạo đức, là văn minh.  Khái niệm văn minh mà Bác dùng theo tôi hiểu tương ứng với khái niệm trí tuệ, năng lực nhận thức quy luật và hành động cách mạng đúng đắn mà hiện nay chúng ta đang dùng. Để là đội quân tiên phong chỉ có đạo đức thôi chưa đủ, tuy đạo đức là yêu cầu tiên quyết nhưng còn phải có năng lực, trí tuệ, phải biết phân tích chính xác tình hình, đề ra đường lối, chủ trương sát đúng, tổ chức được phong trào thực tiễn, đưa cách mạng tiến lên. Yêu cầu này là chung cho toàn Đảng, cho mọi tổ chức đảng, đến từng đảng viên.

Nhìn lại suốt chặng đường 80 năm qua, tuy cũng có lúc mắc phải sai lầm, khuyết điểm, nhưng về cơ bản, Đảng ta là “đạo đức và văn minh”, đủ tư cách lãnh đạo giai cấp và dân tộc, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, trong điều kiện hoà bình, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, dễ xuất hiện xu hướng không đúng trong việc xem xét mối quan hệ đức-tài trong xây dựng Đảng; dễ đề cao kiến thức năng lực, coi nhẹ đạo đức cách mạng. Thực tiễn xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới chứng minh rằng, đạo đức vẫn là cái gốc; đương nhiên, đạo đức không tách rời mà gắn liền với năng lực và hiệu quả thực tế trong công việc, và suy cho cùng, năng lực và hiệu quả công việc cũng chính là đạo đức. Đạo lý Việt Nam vẫn luôn tin cậy và coi trọng những người lãnh đạo có đạo đức. Tham ô, lãng phí, quan liêu đang là thách thức hàng đầu đối với chế độ ta. Ở đó có vấn đề năng lực quản lý, nhưng chủ yếu và trước hết là vấn đề đạo đức của những đảng viên cầm quyền. Chừng nào chúng ta không đẩy lùi những tệ nạn này thì uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước ta sẽ bị xói mòn nghiêm trọng. Có thể nói rằng “diễn biến hoà bình”, trong đó tự diễn biến bắt nguồn từ sự vô đạo đức, sự thối nát, mọt ruỗng của những kẻ thoái hoá trong bộ máy công quyền đã làm giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Điều này thật nguy hiểm.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức của Đảng đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa lợi ích của Đảng, của dân với lợi ích cá nhân. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và chế độ sở hữu dưới nhiều hình thức, thì những chuẩn mực giá trị cụ thể của đạo đức cách mạng, về lối sống… chắc chắn không thể giữ nguyên như thời chiến tranh hay như thời cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước hôm nay càng cần đạo đức cách mạng hơn bao giờ hết, với những tiêu chuẩn chặt chẽ và việc thực hiện là cả một cuộc đấu tranh gian khổ đối với mỗi tổ chức đảng cũng như đối với mỗi đảng viên. Không củng cố và tăng cường được nền đạo đức đó thì Đảng ta sẽ khó có thể giữ được vai trò tiên phong của giai cấp, của dân tộc. Vì thế Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”mà Đảng ta phát động có ý nghĩa hết sức lớn lao trong giai đoạn này.

Từ yêu cầu phát triển xã hội, công tác xây dựng đảng càng phải nêu cao khẩu hiệu tri thức hoá Đảng và Đảng Cộng sản phải là Đảng của trí tuệ. Tất cả đảng viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt thì mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Lẽ đương nhiên, xã hội đi lên, mặt bằng dân trí của xã hội nâng cao thì mặt bằng học vấn của đội tiên phong cũng phải tăng lên. Nhưng không được phiến diện, cực đoan; không rơi vào chủ nghĩa hình thức và nhất là coi thường những tiêu chuẩn cơ bản của một Đảng trí tuệ. Tình trạng chạy bằng cấp, làm bằng giả hoặc bằng tuy thật mà kiến thức không tương ứng đã làm mất uy tín của Đảng. Đào tạo cán bộ lãnh đạo đảng khác với đào tạo lãnh đạo các ngành khác. Rất có thể một cấp uỷ có rất nhiều người có bằng đại học, hoặc hơn thế nữa, nhưng lại chưa chắc đã có trí tuệ lãnh đạo cao. Tri thức đó phải được sử dụng trong thực tiễn lãnh đạo.

Với bất cứ một tổ chức đảng nào, dù là ở Trung ương hay cơ sở, lãnh đạo tốt  phải ra quyết định đúng, phải tổ chức thực hiện tốt, trong đó nhất thiết phải biết kiểm tra công việc, biết uốn nắn, xử lý những thiếu sót, sai lầm. Để có quyết định đúng thì phải nắm vững chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững điều kiện thực tiễn, có sự vận dụng sát, đúng, linh hoạt. Đảng phải thu thập được nhiều thông tin, đảng viên và nhất là người lãnh đạo phải am hiểu kiến thức về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, phải biết tổ chức tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, nhất là giới trí thức để cân nhắc lựa chọn phương án thích hợp. Cần hiểu rằng, việc ra quyết định của cấp lãnh đạo ngày nay chịu nhiều sức ép hơn trước. Sự phân hoá về kinh tế, sự phân tầng về xã hội tạo ra sự phức tạp trong đánh giá tình hình và nhu cầu xã hội. Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng phải nâng cao trí tuệ; dừng lại là tụt hậu.

Đảng phải thể hiện trí tuệ không chỉ trong lý luận mà phải thể hiện trong hành động, tính khoa học và nghệ thuật tổ chức công việc, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện những mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng. Khi có quyết định đúng rồi, còn phải biết tổ chức công tác thực tiễn, đưa quyết định vào cuộc sống. Công việc đó cũng thuộc phạm trù trí tuệ của Đảng. So với thời kỳ chưa có chính quyền, thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc thì công tác tổ chức thực tiễn của Đảng ta ngày nay phức tạp hơn về nhiều mặt, đòi hỏi Đảng càng phải có đạo đức và trí tuệ hơn.

Năm 2010 là năm diễn ra nhiều sự kiện trong đại của đất nước, năm diễn ra đại hội các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Mỗi chúng ta đều có quyền tự hào “Đảng ta thật là vĩ đại” như Bác Hồ đã tổng kết. Nhưng để làm tròn nhiệm vụ của một Đảng đạo đức, Đảng văn minh, thì mỗi đảng viên chúng ta cần phải học tập thật nhiều: Học không bao giờ cùng; học mãi, tiến bộ mãi; càng tiến bộ càng thấy phải học thêm, như điều Bác hằng mong muốn.

Thân Minh Quế Nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang

xaydungdang.org.vn

Triển lãm ảnh Bác Hồ trong những ngày đầu năm mới

(Dân trí) – Gần 100 bức ảnh quý trong hàng triệu khoảnh khắc đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trưng bày trong triển lãm tại trung tâm thành phố Vinh, thu hút nhiều người dân đến xem.


Cụ Nguyễn Thị Tỵ xúc động khi ngắm những bức ảnh hết sức dung dị của Bác Hồ vào dịp đầu năm mới

Tại Quảng trường Hồ Chí Minh (thành phố Vinh, Nghệ An) đang trưng bày gần 100 bức ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với một chặng đường phát triển của lịch sử dân tộc. Triển lãm về Bác Hồ do Sở VH-TT&DL Nghệ An phối hợp với Ban quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và tượng đài Bác Hồ thực hiện. Hai khu vực triển lãm với 3 chủ đề: Bác Hồ – Người là niềm tin tất thắng; Bác Hồ – người cha thân yêu của quân đội nhân dân Việt Nam và Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trời rét cộng với mưa phùn cũng không thể ngăn bước chân của hàng ngàn người dân đến Quảng trường Hồ Chí Minh du xuân và dâng hoa dưới chân tượng đài Bác Hồ. Khu vực diễn ra triển lãm cũng là điểm nhấn “níu chân” du khách. Cụ Nguyễn Thị Tỵ (phường Trường Thi, thành phố Vinh) năm nay đã 81 tuổi nhưng còn rất minh mẫn. Dò bàn tay xương xẩu trên từng bức ảnh, cụ thuật lại cho người bạn già của mình nội dung của từng bức.

“Tôi vinh dự được gặp Bác Hồ 2 lần, một lần là Bác về thăm làng nuôi dưỡng trẻ em miền Nam tập kết ra Bắc, lần thứ 2 là lần Bác Hồ nói chuyện với nhân dân thành phố Vinh tại sân vận động thành phố. Giờ già rồi, không thể nhớ chính xác là năm nào nữa nhưng tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh Bác Hồ ân cần, trìu mến thăm hỏi đồng bào quê nhà và căn dặn mọi người phải hăng say sản xuất xây dựng đất nước, đóng góp sức người, sức của để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, cụ Tỵ xúc động nhớ lại.

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng Tết năm 1967

Nhân dịp xuống thành phố Vinh chơi Tết cùng gia đình cô con gái, bác Trần Mạnh Cung (huyện miền núi Tân Kỳ, Nghệ An) cùng con cháu dạo quanh quảng trường Hồ Chí Minh. Dừng lại thật lâu bên những bức ảnh hết sức đời thường của vị cha già dân tộc, bác Cung rưng rưng nước mắt: “Mỗi bức ảnh là một tư liệu quý về Bác Hồ. Trong những ngày đầu xuân năm mới, hoạt động ý nghĩa này cũng là một cách để giáo dục lớp trẻ thêm quý trọng và biết ơn công lao của Bác Hồ đối với sự trường tồn của đất nước”.

Triển lãm cũng thu hút nhiều bạn trẻ tham gia. Em Nguyễn Thị Ngọc – học sinh lớp 12, Trường THPT Nghi Xuân (huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh) cũng các bạn trong lớp du xuân sang thành phố Vinh và chọn Quảng trường Hồ Chí Minh là điểm dừng chân đầu tiên. Ngọc tâm sự: “Xem những bức ảnh về Bác Hồ trong cuộc triển lãm đầu năm mới này giúp chúng em hình dung rõ hơn về đạo đức, nhân cách của Bác Hồ. Có những bức ảnh chúng em đã được thấy trong sách nhưng cũng có những bức ảnh lần đầu tiên chúng em mới được thấy”.

Một số hình ảnh tại triển lãm ảnh về Bác Hồ diễn ra tại thành phố Vinh do PV Dân trí ghi lại vào chiều mồng 3 Tết:


Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa


Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu phụ nữ dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, tháng 2/1951


Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 923


Bác Hồ trò chuyện với các chiến sĩ Điện Biên 1954


Thăm cánh đồng HTX Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên vào mùa gặt năm 1954


Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938


Chủ tịch Hồ Chí Minh tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9/1960


Người thăm bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây vào ngày 20/4/1963


Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu các dân tộc tỉnh Hà Giang về thăm Hà Nội vào ngày 25/11/1965


Bác Hồ tăng gia lao động tại Việt Bắc.


Triển lãm thu hút nhiều người tới xem.

Hoàng Lam

dantri.com.vn