Archive | Tháng Một 2012

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về người làm công tác tổ chức

– Mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi.

– Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gụi những người mình không ưa.

– Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ.

– Phải sáng suốt, mới khỏi bị vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt.

– Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 5, tr.279.

Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.278.

Nếu cán bộ không yên tâm làm việc, ta phải xem xét rõ cái chỗ lãnh đạo không đúng của ta, để thuyết phục và khuyên gắng người đó. Nếu vì công tác không hợp với năng lực của họ, phải tìm công việc thích hợp hơn cho họ làm.

Sđd, tập 5, tr.281.

Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào.

Sđd, tập 5, tr.281.

Biết người, cố nhiên là khó. Tự biết mình cũng không phải là dễ.

Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu.

Sđd, tập 5, tr.277.

Phải giúp cán bộ cho đúng. Phải luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ… Giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm. Khen ngợi họ lúc họ làm được việc. Và phải luôn luôn kiểm soát cán bộ.

Sđd, tập 5, tr.275.

Mình là người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình.

Sđd, tập 5, tr.105.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về công tác tổ chức

Về mặt tổ chức: Đảng phải có kỷ luật rất nghiêm. Kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức.

Đảng phải giữ vững chế độ dân chủ tập trung. Phải luôn luôn chỉnh đốn tổ chức, loại bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 7, tr.235.

Tổ chức phải gọn gàng. Nhiệm vụ của mỗi bộ phận, mỗi người phải được quy định rõ ràng. Các cấp và các cán bộ lãnh đạo phải giúp đỡ và đôn đốc thường xuyên, phải kiểm tra chặt chẽ.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 7, tr.91.

Về tổ chức: cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy từ trên xuống dưới làm cho nó gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân.

Sđd, tập 7, tr.89.

Tính tổ chức, tức là ta làm gì cũng phải do tổ chức, không được ra ngoài tổ chức, phê bình cũng phải trong tổ chức. Không nên nói lung tung, làm việc gì cũng phải bàn với tổ chức, không được đặt mình ngoài tổ chức. Tính kỷ luật không những là kỷ luật lao động, mà kỷ luật Đảng, kỷ luật của Chính phủ, kỷ luật của đoàn thể nữa cũng phải giữ chặt chẽ.

Sđd, tập 8, tr.385.

Tất cả cán bộ, đảng viên phải giữ tính kỷ luật, tính tổ chức. Nhớ rằng, không có việc gì làm ngoài tổ chức, ngoài kỷ luật mà thành công. Từ trước tới nay, Đảng ta gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Đảng ta vẫn phát triển được là nhờ có tính tổ chức, tính kỷ luật.

Sđd, tập 8, tr.344.

Muốn cải tiến tổ chức lao động cũng phải biết phương pháp tổ chức và có kinh nghiệm tổ chức. Về mặt này và mặt kia, hiện nay chúng ta đều còn kém. Cho nên phải “học, học nữa, học mãi”, như Lênin đã dạy.

Sđd, tập 10, tr.103.

Khi có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích.

Sđd, tập 5, tr.520.

Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hoá, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn.

Sđd, tập 7, tr.229.

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác chi bộ

Cần phải ra sức củng cố các chi bộ, để tất cả các chi bộ trở nên thật sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở mọi bộ, mọi ngành, mọi nghề, mọi nơi.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.271.

Chi bộ kém là vì đảng viên và cán bộ không một lòng một dạ phục vụ nhân dân; không lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Một số đảng viên và cán bộ còn mang nặng những thói xấu như tham ô, ích kỷ… họ đã không làm kiểu mẫu tốt, mà lại nêu gương xấu.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 11, tr.171.

Chúng ta cũng phải phê bình nghiêm khắc những chi bộ kém. ở những chi bộ ấy có những đảng viên không gương mẫu, nội bộ thiếu đoàn kết, xa rời quần chúng. Chẳng những không làm đúng mà có nơi, có lúc còn làm trái ngược đường lối, chính sách của Đảng.

Tệ hơn nữa là trong những chi bộ ấy có một số đảng viên và cán bộ, có cả cán bộ cao cấp, cán bộ lãnh đạo quan liêu mệnh lệnh nặng. Đảng cần phải thi hành kỷ luật nghiêm khắc những cán bộ mắc sai lầm đó.

Sđd, tập 12, tr.78-79.

Đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt. Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí. Nhiệm vụ của đảng viên là gì? Tư cách của đảng viên là thế nào? Đồng thời giúp đỡ đảng viên hằng ngày tự kiểm điểm mình.

Sđd, tập 12, tr.80.

Phải thật sự mở rộng dân chủ… Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em”, ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ. (…) Để làm những việc trên đây, chi bộ phải dùng cách chính trị, giáo dục, đề nghị, giải thích, khai hội bàn bạc với quần chúng… Chứ tuyệt đối không được lạm quyền, mệnh lệnh.

Các chi bộ bất kỳ ở cơ quan to nhỏ, đều nên đặt kế hoạch thi đua thiết thực…

Sđd, tập 7, tr.269.

Chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan.
– Làm sao cho toàn thể nhân viên đều cố gắng thực hiện đầy đủ chính sách của Đảng, của Chính phủ và hết lòng hết sức phụng sự nhân dân.
– Làm sao cho mọi người thực hành cần, kiệm, liêm, chính.
– Làm sao để tẩy trừ những bệnh quan liêu, hình thức, tham ô, lãng phí, a dua, dối trá, trái luật lệ của Chính phủ, trái kỷ luật lao động. Vạch rõ các khuyết điểm và đề ra cách sửa chữa, không để khuyết điểm nhỏ chồng chất thành khuyết điểm to.

Sđd, tập 7, tr.268.

xaydungdang.org.vn

Nhìn từ cuộc hành trình vĩ đại của Bác Hồ

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”


QĐND – Ngày 31-5, tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc Hội thảo khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – hành trình tìm đường cứu nước”, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011). Cuộc hội thảo do Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức.

Tôn kính và trách nhiệm

Tham dự hội thảo có nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an.

Toàn cảnh Hội thảo.

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười; Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương… gửi tham luận khoa học tham gia hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ tầm vóc lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 100 năm trước và mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn của hội thảo; sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu đối với sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: Với lòng tôn kính và trách nhiệm cao, các tác giả của các tham luận đã dày công nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi những tư liệu và nội dung khoa học phong phú. Các tham luận khoa học thực sự là nguồn tài liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ ý nghĩa lịch sử của sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) ra đi tìm đường cứu nước trên 4 mảng nội dung lớn: Quyết chí tìm đường cứu nước, bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; từ thành phố Sài Gòn, Người ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình vĩ đại; vững bước trên con đường Người đã chọn.

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, tham luận của đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư đã phân tích sâu sắc những cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo tư tưởng của Người, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, gắn với triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tạo thêm động lực, niềm tin thúc đẩy thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

“Vững bước trên con đường Người đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” là tiêu đề bản tham luận mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày, thu hút sự chú ý của các đại biểu dự hội thảo (toàn văn tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên số báo ra ngày hôm nay).

Trong tham luận của mình, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên, người dân thành phố được mang tên Người. Đồng chí đề cập những giải pháp cụ thể, vận dụng tư tưởng của Người xây dựng Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong sạch, vững mạnh; trong đó chú trọng các giải pháp bồi dưỡng, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố “đầu tàu” của cả nước. Lòng tôn kính đối với công lao trời biển của Bác chính là cội nguồn sức mạnh, hun đúc ý chí, nghị lực để Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX.

“Xây dựng Quân đội nhân dân, phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay” là tiêu đề tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi tới hội thảo. Với cách tiếp cận khoa học, xuyên suốt chiều dài hình thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã nêu bật những giá trị to lớn trong tư tưởng của Bác Hồ về quân sự và quân đội nhân dân. Những tư tưởng vĩ đại đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để quân đội không những ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, mà còn làm tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó… (Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu đến bạn đọc toàn văn tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh trên số báo ra ngày 2-6).

Quyết chí tìm đường cứu nước

Tham luận của các tác giả: Phan Đình Trạc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Trọng Xuất, Tổng Thư ký Ban biên soạn Công trình lịch sử Nam Bộ kháng chiến… và nhiều tác giả khác đã phân tích, tìm hiểu động cơ, động lực thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Các tác giả tập trung phân tích, lý giải trên phương diện khoa học lịch sử những yếu tố về quê hương, gia đình, xã hội…, góp phần hình thành trí tuệ, ý chí, khát vọng ra đi tìm đường cứu nước của Người.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trao đổi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu tại hành lang hội thảo.

Linh mục Nguyễn Công Danh, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam nhấn mạnh đến phẩm chất yêu nước, thương nòi của Bác. Phẩm chất ấy hình thành và phát triển ngay từ khi Người còn là một cậu bé ở vùng quê Nam Đàn. Linh mục nhấn mạnh: “Nhận thức “Hiếu với cha không bằng hiếu với nước” như lời dặn của cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc trước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đã trở thành phương châm hành động của Người, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết”. Xúc cảm trước hành trình cứu nước vĩ đại của Người, Linh mục đã trình bày ca khúc “Tiếng hát từ Thành phố mang tên Người” (Nhạc Cao Việt Bách, lời Đăng Trung), được cả hội trường nhiệt liệt hoan nghênh.

Từ tấm gương về ý chí, khát vọng của Người, các nhà nghiên cứu đã liên hệ, vận dụng, đề xuất những hình thức, giải pháp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bồi dưỡng thế hệ trẻ của đất nước hiện nay. Đó là giáo dục nhân cách, lối sống, xây dựng đạo đức làm người, đi đôi với học tập, bồi dưỡng kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Thời khắc lịch sử

PGS,TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu rõ trong tham luận: Sự xuất hiện của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Người đã xuất hiện đúng lúc, ra đi đúng thời cơ, chọn con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Lê Hưng Quốc, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh đã hệ thống hóa và lý giải vấn đề một cách lô-gic những quyết định phi thường của Bác ngay từ khi lựa chọn thời điểm rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước.

Đồng chí Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương với cách tiếp cận các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, đã chứng minh ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày 5-6-1911. Mốc thời gian ấy đã mở ra một trang sử hiện đại đối với con đường cách mạng Việt Nam, vốn trước đó hoàn toàn bế tắc.

Tham luận của nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã vận dụng phương pháp luận khoa học để phân tích, lý giải tầm vóc, ý nghĩa to lớn của sự kiện Bác Hồ rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Sau 100 năm nhìn lại, ý nghĩa của thời khắc lịch sử ấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự, là niềm tin, động lực để Đảng ta, nhân dân ta lấy đó làm cơ sở, tiền đề tiếp tục vững bước thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Và cuộc hành trình vĩ đại

Tham luận của các nhà nghiên cứu đều khẳng định, hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là cuộc hành trình vĩ đại của lịch sử. Từ cuộc hành trình ấy, Người đã tìm ra ánh sáng chân lý từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin vận dụng sáng tạo vào cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chính Người đã mở lối, khai phá, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi thời kỳ tăm tối của lịch sử, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

PGS, TS Phạm Hồng Chương (Viện Nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) dưới góc độ tiếp cận của văn hóa, cho rằng: Giá trị cao nhất của văn hóa – văn minh là giải phóng con người, làm cho con người biết tự đứng lên để giải phóng mình. Hồ Chí Minh quan niệm giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển. Tư tưởng của Người về sức mạnh đoàn kết để giải phóng dân tộc đã tạo ra nguồn năng lượng, động lực cực kỳ mạnh mẽ từ mỗi người dân, từ sự đoàn kết của toàn dân, tạo nên sức mạnh vô song để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Để có được sức mạnh ấy, giá trị văn hóa – văn minh trong người cộng sản chính là đạo đức, nhân cách và tài năng, dũng khí…

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Nghiên cứu con đường cứu nước của Bác để rút ra bài học lý luận và thực tiễn bổ ích, góp phần làm giàu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước là phương châm xuyên suốt của hội thảo. Với phương pháp tiếp cận đó, tham luận của các tác giả đã trình bày dưới góc nhìn chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng – an ninh… Mỗi lĩnh vực đều có tư tưởng của Người soi rọi. Vận dụng, thực hiện thắng lợi tư tưởng của Người trên thực tiễn chính là “chìa khóa” thành công của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.

TS Nguyễn Công Bình, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh với tham luận “Từ sự ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cách đây 100 năm, nghĩ về định hướng XHCN ngày nay”, đã nêu các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN. Theo TS Nguyễn Công Bình, định hướng XHCN ngày nay là sự tích lũy sức mạnh và sự năng động xã hội, nhưng không để phân hóa xã hội mà phải giải quyết các mâu thuẫn xã hội bằng chính sách, pháp luật thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với an sinh xã hội. Chăm lo cho người nghèo, thực hiện thắng lợi công cuộc xóa đói, giảm nghèo hiện nay chính là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng của Bác trong thực hiện nền dân chủ xã hội theo định hướng XHCN.

Dưới góc nhìn giáo dục truyền thống, tham luận của Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu những hình thức, biện pháp nhằm phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hóa của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng.

Không chỉ gói gọn trong các tham luận, cuộc hội thảo thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị lớn của toàn Đảng, toàn dân thông qua sự tương tác của truyền thông. Những tham luận của các tác giả sẽ được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để các cấp, các ngành tiếp cận, làm cẩm nang cho công tác tuyên truyền, giáo dục, vận dụng vào từng chương trình hành động nhằm mang lại hiệu quả thiết thực.

Hội thảo đã nhận được 137 bản tham luận của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lão thành cách mạng, các nhà khoa học, cán bộ quản lý trong cả nước. Mỗi tham luận là một công trình khoa học, dưới những góc độ khác nhau, nêu bật tầm nhìn thời đại của Bác, thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Người, rút ra những bài học thực tiễn vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau. Có 16 tham luận được trình bày tại Hội thảo.

Bài và ảnh: Đào Văn Sư – Phan Tùng Sơn

qdnd.vn

Hồ Chí Minh với báo chí cách mạng Việt Nam

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm tới báo chí

Nhìn lại chặng đường họat động cách mạng của Bác, lúc bôn ba hải ngọai cũng như khi đặt chân về nước, Bác đã sớm thấy lợi khí cách mạng của báo chí. Bác sử dụng thành thạo, sắc bén báo chí làm phương tiện quan trọng chiến đấu vì sự nghiệp cứu nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà báo lớn và là người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam. Bác sáng lập tờ báo Thanh Niên và ngày 21-6-1925. Đó là một điểm mốc lịch sử đáng ghi nhớ của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Ngày 1-2-1985, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định lấy ngày 21-6 hằng năm làm Ngày Báo chí cách mạng Viêt Nam.

Nhìn lại chặng đường họat động cách mạng của Bác, lúc bôn ba hải ngọai cũng như khi đặt chân về nước, Bác đã sớm thấy lợi khí cách mạng của báo chí. Bác sử dụng thành thạo, sắc bén báo chí làm phương tiện quan trọng chiến đấu vì sự nghiệp cứu nước. Ngày 1-4-1922, khi đang họat động cách mạng ở Pháp, Bác đã sáng lập tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Tại Thái Lan, Bác thành lập báo Thân Ái, Đồng Thanh. Năm 1943, Bác cho ra đời tờ Việt Nam Độc lập. Sau khi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ngày 7-9-1945, Bác chỉ thị thành lập Đài phát thanh quốc gia (nay là Đài tiếng nói Việt Nam). Ngày 19-9-1945, Hãng tin quốc gia (nay là Thông tấn xã Việt nam) cũng được thành lập(1).

Quan điểm nhất quán của Bác khi đề cập đến báo chí cách mạng là phải xác định được mục đích, tôn chỉ và nhiệm vụ. Bác từng nói: Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cần phải chú ý đến cùng, phải coi quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Báo chí vừa là bộ phận cấu thành của văn hóa vừa là phương tiện cổ vũ, truyền bá thực thi văn hóa. Nó là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng (2).

Trong lớp học viết báo đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng), Bác đề ra 6 điểm chính của báo. Bác nói:

1. Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung.

2. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì: 3. Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Vì vậy:

4. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình, thì:

5. Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và:

6. Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa”(3).

Báo chí của Đảng hay báo chí của các đoàn thể chính trị – xã hội, trước hết phải là cơ quan tuyên truyền cổ động, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, là diễn đàn của quần chúng nhân dân về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Do vậy, các nhà báo cũng như các cơ quan báo chí cần phải nắm vững 6 điểm chính mà Bác đã nêu để không đi chệch đường lối chính trị của Đảng. Bác chỉ ra những khuyết điểm mà báo chí ta thường gặp đó là: “tuyên truyền thì không kịp thời và chính trị suông quá nhiều. Không biết giữ bí mật. Đôi khi đăng tin vịt…”(4). Bác nhắc nhở báo chí của ta không nên dùng chữ Tàu khi không cần thiết và phải thật sự tôn trọng sự kiện bởi nhà báo là người có khả năng tạo ra dư luận để ủng hộ hoặc phê phán một hiện tượng xã hội, vì thế mà phải công tâm, phải có phẩm chất trung thực.

Bác đã hướng dẫn các nhà báo một số điểm quan trọng khi viết báo:

1. Gần gụi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực.

2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài, để xem báo nước ngoài và học kinh nghiệm của người.

3. Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu.

4. Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ”(5).

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những lời căn dặn của Bác đối với những người làm báo, viết báo đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

———————————————-

(1) Theo Niên giám báo chí, H 2000
(2) Báo Nhân Dân số 19-5-2001 (Phan Quang)
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 5, tr 625.
(4), (5) Sđd, tr 626.

Đỗ Văn Thông
Q.Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm, chăm lo đến việc bồi d­ưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau – Thế hệ trẻ. Trong Di chúc, Người căn dặn “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết”(1). Nghiên cứu, học tập và vận dụng quan điểm của Ng­ười về chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ hiện nay là vấn đề có ý nghĩa chiến l­ược, nhằm đào tạo, bồi dưỡng lớp người kế tục vừa “hồng” vừa “chuyên” cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đánh giá cao vai trò của thanh niên đối với vận mệnh đất nư­ớc. Người nói: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(2). Vì vậy, Ngư­ời yêu cầu Đảng, Nhà nư­ớc, các tổ chức chính trị-xã hội, các thế hệ đi trước phải quán triệt sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Đồng thời, Ngư­ời cũng chỉ ra nhiệm vụ của thế hệ trẻ là noi gương những người đi tr­ước, thường xuyên rèn luyện, phấn đấu để đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của cách mạng. Người chỉ rõ: “Thanh niên muốn làm chủ cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cho tương lai đó”(3).

Theo Hồ Chí Minh, “Muốn xây dựng CNXH trước hết cần phải có con người XHCN”, tức là xây dựng thế hệ tương lai, chủ thể của đất nước phải là một nhiệm vụ chiến lược, đi trước một bước so với xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích của việc chăm lo bồi d­ưỡng thế hệ trẻ là đào tạo ra những con ng­ười mới, những cán bộ mới cho cách mạng, những chiến sỹ cách mạng kiên cường đấu tranh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Trước những điều kiện, hoàn cảnh mới trên thế giới và ở nước ta hiện nay, giáo dục, bồi d­ưỡng thế hệ trẻ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Giáo dục, bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ để thành người cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Theo Hồ Chí Minh, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ phải toàn diện: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(4). Trước hết và quan trọng nhất là giáo dục, bồi dưỡng lý t­ưởng cách mạng cho thanh niên. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, không có giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin cho lớp thanh niên yêu nước ở Quảng Châu (Trung Quốc), ở Liên-xô (cũ) và trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, thì không có thắng lợi của cách mạng tháng Tám và những thắng lợi sau này. Do vậy, trước hết và phải thường xuyên coi trọng giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên, mà hạt nhân là giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi thanh niên sống có lý tư­ởng cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thì dù khó khăn gian khổ thế nào, họ vẫn nguyện suốt đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp của Đảng, không từ bỏ con đường đã chọn, con đư­ờng đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

Coi trọng giáo dục, bồi d­ưỡng về học vấn và năng lực hoạt động thực tiễn.

Bồi dưỡng, nâng cao tri thức toàn diện, sâu sắc cho thế hệ trẻ là nội dung rất quan trọng. Không có trình độ học vấn thì không có khả năng tiếp thu những kiến thức khoa học, kỹ thuật và do đó không đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng, không làm chủ xã hội mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”(5).

Quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho thế hệ trẻ.

Thế hệ trẻ là người chủ tương lai của nước nhà, chúng ta không chỉ đòi hỏi ở họ cống hiến mà phải có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và sự tiến bộ của họ. Những nhu cầu, lợi ích chính đáng được thoả mãn là một động lực trực tiếp thúc đẩy họ hoạt động tích cực và hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với thanh niên. Phải quan tâm đến đời sống, công tác, học tập của thanh niên, phải tránh thành kiến, hẹp hòi, cô độc”(6).

Nắm chắc ph­ương châm giáo dục, bồi d­ưỡng thế hệ trẻ.

Theo Hồ Chí Minh là: “Học phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”(7). Giáo dục, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau phải xuất phát từ yêu cầu cách mạng mỗi giai đoạn, từ thực tiễn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song Y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là trí thức chỉ có một nửa. Trí thức của Y là trí thức sách vở, chưa phải trí thức hoàn toàn”(8).

Quán triệt T­ư t­ưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi d­ưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay cần phải tuyên truyền sâu rộng về vai trò của thanh niên, cũng nh­ư tầm quan trọng của việc chăm lo bồi d­ưỡng thế hệ trẻ. Không ngừng đổi mới, hoàn thiện nội dung, ph­ương pháp bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Trư­ớc hết, cần tập trung đổi mới nâng cao chất l­ượng giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, T­ư tư­ởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư­ tư­ởng và định hướng tình cảm trong thế hệ trẻ Việt Nam. Giáo dục cho thế hệ trẻ truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng, đạo đức cách mạng, sống và làm việc theo pháp luật. Không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, nắm bắt những tri thức khoa học hiện đại, làm cho thế hệ trẻ biết kết hợp chặt chẽ giữa yêu n­ước và yêu chế độ XHCN trong hành động, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

………

1. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.498.
2,3. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr 185.
4. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr 190.
5. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 4, tr 36.
6. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 8, tr 235.
7. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 6, tr 50.
8. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr 235.
Hoàng Văn Vân – Nguyễn Phượng Toản
Hệ sau đại học, Học Viện chính trị

Hoàng Văn Vân – Nguyễn Phượng Toản
Hệ sau đại học, Học Viện chính trị

xaydungdang.org.vn

Miền Nam yêu quý ở trong trái tim tôi

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng, của cả dân tộc ta, nhưng với miền Nam – mảnh đất đi trước về sau, kiên cường đánh giặc suốt mấy chục năm trường, từng chịu biết bao đau thương, gian khổ, là nơi Bác Hồ đã gửi gắm những tình cảm tin cậy và yêu thương nhất!

Miền Nam cũng là nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, nơi lưu giữ phần mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, người cha kính yêu của Bác, mà chưa một lần Bác được về thăm. Một lần gặp vợ chồng Giáo sư Trần Văn Giàu, Bác Hồ đã nói, tôi mong muốn đến ngày thống nhất, được vào miền Nam thăm đồng bào, đồng chí, cảm ơn tấm lòng cưu mang, chăm sóc của đồng bào đối với ông cụ thân sinh của tôi trong những ngày lánh nạn ở miền Nam.

Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, đoàn đại biểu Quốc hội Nam bộ do nhà cách mạng lão thành Nguyễn Văn Tạo dẫn đầu ra Hà Nội báo cáo trước Quốc hội, tố cáo những tội ác của thực dân Pháp đối với đồng bào ta ở Sài Gòn, Cao Lãnh… và nói lên niềm tin tưởng, kiên định của đồng bào miền Nam đối với chính phủ Hồ Chí Minh. Nghe xong, Bác Hồ bước tới ôm lấy đồng chí Nguyễn Văn Tạo, Người xúc động nói: “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi. Nam bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”(1).

Khi tiếp đoàn đại biểu miền Nam do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu ra thăm miền Bắc, Bác Hồ cũng đặt tay lên ngực mình và nhắc lại câu nói lịch sử đó: Hình ảnh của miền Nam yêu quý ở trong trái tim tôi.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh kể: Năm 1963, sau đồng khởi tôi ra Hà Nội báo cáo với Bác và Bộ Chính trị. Ra đến nơi, vừa vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: “Bác kêu anh đấy”. Tôi vội vàng đến chỗ Bác. Vào đến phòng họp, tôi thấy trên chiếc bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam. Vừa ngồi được một lát đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo nâu, Bác nói:

– A, chú Cúc hả? Chú ở miền Nam ra, trước hết là Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của đồng bào miền Nam ta. Chú ngồi xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ Trung ương cục đóng ở đâu?

Rồi Bác hỏi tình hình đấu tranh và đời sống của đồng bào miền Nam, Bác hỏi tỉ mỉ với mối quan tâm sâu sắc. Tôi thật sự xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với việc chăm lo đời sống cho đồng bào, chiến sĩ và cán bộ miền Nam…

Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc này, Bác đã mệt nhiều, khi tôi vào thăm thì Bác đã không còn ngồi dậy để tiếp được nữa. Tôi ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn tươi cười hỏi thăm tình hình miền Nam. Trên bức tường vẫn thấy treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình chiến sự…

Cho đến những ngày cuối cùng, Bác cho mời các đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó là cán bộ ở miền Nam ra, cũng được Bác kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã không còn nói được nữa. Nhưng đôi mắt Bác thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết… Tôi hiểu rằng qua cái nắm tay cuối cùng này, Bác muốn gửi gắm tấm lòng của mình tới đồng bào ruột thịt miền Nam!(2). Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha…”

Lại nhớ đến năm 1963, khi Quốc hội quyết định trao tặng Hồ Chủ tịch Huân chương Sao Vàng. Huân chương cao quý nhất của nước ta, Bác đã cảm ơn Quốc hội và đề nghị cho phép chưa nhận phần thưởng cao quý này, Người nói: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân sẽ sung sướng, vui mừng”(3).

Chưa vào được miền Nam, Bác yêu cầu: Hễ có đồng chí, đồng bào nào từ miền Nam ra thì phải cho Bác biết và đưa vào gặp Bác. Mỗi lần được gặp gỡ đại biểu từ miền Nam ra, Bác Hồ như vui khoẻ hẳn lên:

“Các anh, các chị, ở trong ra
Những đứa con yêu trở lại nhà
Có phải mỗi lần, ta gặp Bác
Bác vui như trẻ lại cùng ta!”

Tố Hữu

Giáo sư Trần Đại Nghĩa là một trí thức quê ở miền Nam, đã sống và học tập ở Pháp 11 năm. Năm 1946, nhân Hội nghị Phông-ten-nơ-blô và nhân dịp Bác Hồ thăm nước Pháp, ông đã tìm gặp và sau đó cùng một số anh em trí thức theo Bác trở về Việt Nam tham gia kháng chiến.

Trước khi về nước, biết ông là một nhà khoa học có nhiều nghiên cứu về vũ khí, Bác Hồ bảo với ông:

– Sớm muộn gì rồi nhân dân ta cũng phải kháng chiến để giành Độc lập.

Chú có còn giữ được những tài liệu về chiến tranh thế giới thứ hai không?
Bác lại nói:

– Về Việt Nam, lương của chú ít lắm, không được như ở Pháp đâu!

Lúc đó, lương của Giáo sư Trần Đại Nghĩa ở Pháp nếu tính ra tiền Việt Nam hiện nay thì khoảng hơn một trăm triệu đồng. Song ông đã thưa với Bác, ông về nước là để làm nhiệm vụ một người dân yêu nước.

Lúc theo Bác về nước, Giáo sư mới ngoài 30 tuổi, ông vốn tên là Phạm Quang Lễ, khi giao cho ông nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới, Bác đã đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa.

Một lần, nhân Ngày sinh của Bác, Giáo sư Trần Đại Nghĩa xúc động nói: Bác Hồ là người Việt Nam hiện đại mà tôi nhớ nhất! Có thể nói không dối lòng mình là ngày nào tôi cũng nhớ đến Bác. Hồi ở Pháp, trước khi được gặp Bác với tên Hồ Chí Minh thì tôi đã biết và cảm phục nhất con người Nguyễn Ái Quốc (4).

Hoà thượng Thích Minh Châu nói: “Phật tử ở Việt Nam chúng tôi càng thấm thía hơn bài học lớn về đạo đức của Hồ Chủ tịch. Chúng tôi muốn nói đến đức từ bi, đức trí tuệ và vô uý của Hồ Chủ tịch. Do lòng từ bi, Người đã chịu cam khổ, suốt đời đấu tranh cho dân tộc, cho hoà bình thế giới. Do đức trí tuệ, Người đã tìm được con đường cứu nước, lý tưởng công bình và phát triển xã hội. Do đức vô uý, Người đã không nề gian khổ, bền bỉ chịu đựng mọi gian nan, thử thách, quyết tâm lãnh đạo nhân dân chống phong kiến, thực dân, đế quốc”(5).

Cụ Phạm Khắc Hoè, tháng 9-1945 đã từ Huế đi cùng Bảo Đại ra Hà Nội gặp Hồ Chủ tịch. Trong một lần gặp riêng ngắn ngủi, cụ Hoè còn nhớ mãi: “Cụ Chủ tịch đặt hai bàn tay lên vai tôi, bảo ngồi thêm một chút nữa, và nói: Tôi mong rằng chúng ta sẽ gặp nhau lâu dài trong sự nghiệp chung của Tổ quốc”.

Thế rồi năm 1946, cụ Phạm Khắc Hoè, được cử làm đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ, mà bộ trưởng là cụ Huỳnh Thúc Kháng. Sau đó được Bác cử làm cố vấn phụ trách Tổng thư ký của phái đoàn Chính phủ ta, dự Hội nghị trù bị Việt-Pháp tại Đà Lạt.

Cụ Phạm Khắc Hoè kể: Một lần trên chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ hỏi tôi:

– Cái gì đã làm chú cương quyết đi theo kháng chiến?

Tôi trả lời một cách chân thật tự đáy lòng mình:

– Thưa Bác, yếu tố quyết định là hình ảnh Bác trong tim óc cháu!
Không ngờ, Bác nghiêm nghị nói:

– Chú nói thế là không đúng. Yếu tố quyết định nằm ngay trong bản thân chú. Đó là lòng yêu nước của chú. Chú cũng như tuyệt đại đa số đồng bào Việt Nam ta, ai cũng có lòng yêu nước, muốn cho nước được độc lập, thống nhất, giàu mạnh. Chỉ cần biết nhen ngọn lửa hồng ấy lên, là nó sẽ cháy thành ngọn lửa.

Và cụ Phạm Khắc Hoè nói tiếp:

– Hồ Chủ tịch chính là người đã nhen lên ngọn lửa yêu nước ấy trong lòng tôi! (6).

*

Ngày 14-7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Cu-ba Mác-ta Rô-nát. Bác nói: “Đồng chí muốn biết tình cảm của tôi đối với miền Bắc và đối với miền Nam phải không? Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam…

Ở Việt Nam có một câu nói phổ biến: Miền Nam đi trước về sau… Miền Bắc được giải phóng 25 năm rồi nhưng suốt cả thời gian ấy, miền Nam không được hưởng lấy một ngày hoà bình… mỗi người, mỗi nhà đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi.

Tôi nghĩ rằng tôi chưa làm tròn nghĩa vụ cách mạng của tôi đối với đồng bào miền Nam; mặc dù như vậy, tôi biết rằng đồng bào miền Nam vẫn yêu quý tôi cũng như tôi luôn luôn yêu quý đồng bào”(7).

Bác Hồ đã từng tâm sự với các đồng chí ở gần Bác: Quê mình ở Nghệ An, nhưng mẹ mình mất ở xứ Huế, cha mình mất ở Cao Lãnh. Quê mình trải dài đất nước. Những nơi như Phan Thiết, Sài Gòn… trước lúc ra nước ngoài, mình đã từng sống ở đấy. Thế mà bao năm rồi mình vẫn chưa được về thăm.

Trong tình cảm yêu thương đối với đồng bào cả nước, Bác Hồ luôn luôn dành một tình cảm nhớ thương đối với đồng bào và chiến sĩ miền Nam, những người đi trước về sau, luôn kiên cường trong gian khổ, đấu tranh, xứng đáng với danh hiệu Thành Đồng Tổ quốc.

Và đồng bào miền Nam trong trái tim mình cũng luôn luôn dành những tình cảm yêu quý nhất, kính trọng nhất đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thành phố Sài Gòn đã được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mảnh đất yêu quý, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Bác Hồ đi xa khi miền Nam chưa được giải phóng, nhưng trong Di chúc, Người đã nói: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”(8).

Khi đọc Di chúc của Người, nhà thơ Xuân Thuỷ đã viết:

“Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay
Ôi tự hào, tin tưởng, lạc quan thay
Bác vẽ sẵn cảnh vườn Xuân Thống nhất!”.

_____

(1) Hồi ký của cán bộ Văn phòng Quốc hội, NXB CTQG, H.2000, tr.27. (2) Trích “Bác Hồ với miền Nam – miền Nam với Bác Hồ”, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1986. (3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 11, tr.61, 62. (4) Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn, NXB Hội Nhà văn, H.2010, tr.253, 254. (5, 6) Nguồn sáng Hồ Chí Minh, NXB Thanh Niên, H.2009, tr.197, 198. (7, 8) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.560-561, 509.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Vũ Kỳ – “Chú tiểu đồng” của Bác Hồ

– Gần một phần tư thế kỷ làm thư ký, ông Vũ Kỳ không chỉ là “chú tiểu đồng” của Bác Hồ mà còn tâm huyết dành trọn cuộc đời còn lại gìn giữ và phát huy di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông Vũ Kỳ, tên khai sinh là Vũ Long Chuẩn, sinh năm 1921 ở Hương Canh, Vĩnh Phú, nguyên quán ở xã Mễ Sơn, nay là xã Nguyễn Trãi, huyện Thường tín, Hà Tây. Ngày 28/8/1945 là ngày đưa ông sang bước ngoặt cuộc đời khi được ông Trần Đăng Ninh dẫn đến ngôi nhà 48 Hàng Ngang – Hà Nội để nhận nhiệm vụ giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, và từ đó trở thành thư ký thân cận cho đến khi Bác qua đời.

Ông Vũ Kỳ và Bác Hồ tháng 9/1960. Ảnh tư liệu

Một phần tư thế kỷ làm người giúp việc kiên trung, tận tụy, ông được Bác Hồ trìu mến gọi là “chú tiểu đồng”. Song một mảng sáng, một dấu ấn Vũ Kỳ đậm nét được nhắc đến nhiều sau này, đó là sự nghiệp gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hồ Chí Minh.

Từ chối chức vụ

Ông Chu Đức Tính, giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kể: Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Trung ương có gợi ý bố trí công tác cho ông Vũ Kỳ một chức vụ tương xứng trong Chính phủ, nhưng ông đã báo cáo với Trung ương, tình nguyện được tiếp tục công việc gìn giữ các di sản của Bác Hồ để lại. Những trang tiếp theo của cuộc đời ông gắn liền với quá trình xây dựng Lăng Bác, sự hình thành, ra đời và phát triển của Bảo tàng Hồ Chí Minh, của hệ thống di tích lưu niệm và các bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh trong cả nước, từ Pác Bó đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số di tích của Người trên thế giới.

Đặc biệt, công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi lưu giữ và trưng bày tài liệu, hiện vật có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung tâm nghiên cứu, giáo dục về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người là thành quả của cả một chặng đường dài 20 năm chuẩn bị gian nan, đầy khó khăn và thiếu thốn. Và ông Vũ Kỳ đã dành trọn công sức nửa sau cuộc đời của mình để chăm lo cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản tư tưởng, văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh.

Đại tá Trần Văn Thùy, nguyên giám đốc Bảo tàng công an nhân dân gọi Vũ Kỳ là “anh”. Ông kể câu chuyện về vị thủ trưởng thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ.

Hơn ai hết, anh Vũ Kỳ thấm thía lời dạy của Bác Hồ: Cán bộ quyết định hết thảy”. Đại tá Thùy kể ông từng chứng kiến ông Vũ Kỳ trăn trở ra sao, lo lắng như thế nào khi thực trạng đội ngũ cán bộ của cơ quan trong nửa đầu những năm 70 thế kỷ trước. Và ông đã làm cuộc lựa chọn cán bộ và đào tạo cán bộ. Không chỉ đào tạo trong nước về lịch sử, chuyên ngành bảo tàng, ngoại ngữ, ông còn cho gửi cán bộ ra nước ngoài học hỏi, trao đổi kinh nghiệm để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

Bà Vũ Thị Thủy, một cán bộ bảo tàng gọi ông là “giám đốc đặc biệt nhất“. Nhớ lại chuyện cũ, bà kể: Ngày cắt băng khánh thành Bảo tàng Hồ Chí Minh, 19/5/1990, cũng là ngày ông xin nghỉ cương vị giám đốc. Sau một ngày vất vả đón tiếp đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế đến dự lễ khánh thành bảo tàng, ông nói với những cán bộ trẻ: Nguyện ước của ông đã hoàn thành. Ông trao quyền giám đốc cho một người khác, rồi trở về Khu di tích, nơi hình bóng Bác Hồ in dấu trong suốt mấy chục năm ông được ở bên Người. Ông lại tiếp tục công việc của mình, nghiên cứu, biên tập, ghi chép những tài liệu, những mẩu chuyện về Bác Hồ…

Kho tư liệu sống

Cho đến ngày ông qua đời, đã có hàng ngàn trang viết về Bác Hồ, gần một chục cuốn sách, hàng trăm bài đăng trên các báo và tạp chí, rất nhiều cuộc nói chuyện với các tầng lớp nhân dân, với bạn bè quốc tế yêu mến Bác Hồ.

Bà Nguyễn Thị Minh Hương, cán bộ bảo tàng cũng kể: “Một điều làm ông trăn trở là không ít thông tin về Bác viết trên sách báo những năm đó không được chính xác, có khi sai lệch, lúc lại thần thánh hóa Bác Hồ, người đọc sẽ học tập theo Bác ra sao đây? Ông suy nghĩ phải làm sao để các thế hệ sau này khi tiếp xúc với các sách, báo, tài liệu viết về Bác được tiếp nhận nhận thông tin chính xác, hiểu đúng về Bác để học tập và làm theo tấm gương của Người”.

Ông quan niệm, việc gì dù nhỏ, có ích cố gắng làm. Ông căn dặn cán bộ bảo tàng, nơi có thế mạnh là lưu trữ nhiều tài liệu tin cậy về Bác Hồ, phải giúp các nơi khi họ viết về Bác. Ông yêu cầu thư viện cơ quan phải bổ sung tất cả những sách báo viết về Bác và liên quan đến Bác. Riêng ông có cả một tập nhật ký nhiều cuốn ghi chép lại chi tiết những ngày đi theo Bác Hồ. Từng bước, ông mời các nhà xuất bản đến làm việc. Được gặp và làm việc với ông – người thư ký riêng của Bác Hồ, mọi người rất phấn khởi và cho đó là hướng đi đúng. Sau này cứ có sách viết về Bác là các nơi đều đưa đến “nhờ chỗ anh Vũ Kỳ thẩm định giúp“. Sau này ông chuyển công việc đó, hướng dẫn cho các cán bộ bảo tàng làm.

“Sau một thời gian xem cách chúng tôi làm, ông cùng chúng tôi rút kinh nghiệm. Lúc ấy ông chỉ ra một nguyên tắc: Khi đọc sách viết về Bác, trước các sự kiện cần đặt ra câu hỏi sự kiện đó có đúng không? Có logic không? Có tác dụng giáo dục không?”.

Trong khoảng thời gian từ năm 1976 đến 1988, ông Vũ Kỳ đã giúp nhiều nhà xuất bản: Sự thật, Thanh niên, Phụ nữ, Lao động, Kim Đồng…, các tác giả kịch, phim và các địa phương xuất bản sách về Bác Hồ, chỉnh sửa, bổ sung nhiều tài liệu quý về Bác làm cơ sở nghiên cứu cho đông đảo bạn đọc.

Ở tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hi”, ông tiếp nhận sự ra đi của mình một cách nhẹ nhàng và chủ động. Ông Chu Đức Tính kể, mùa xuân năm 2001, khi bước vào tuổi 80, ông Vũ Kỳ nói vui với mọi người đến chúc Tết: “Đêm qua tôi lại nằm mơ thấy Bác Hồ, Bác bảo tôi liệu mà thu xếp về với Bác…”. Rồi ông nhắc cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh tranh thủ hỏi, tranh thủ khai thác tài liệu. Khi bị bệnh nặng, phải nằm điều trị dài ngày ở bệnh viện Hữu nghị, mỗi khi có cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh tới thăm, ông không quan tâm đến bệnh tật của mình, mà chỉ hỏi về công việc cơ quan. “Ra đi ở tuổi 84, ông vẫn đau đáu một nỗi niềm”: Còn nhiều điều chưa kịp viết hết, chưa kịp kể hết những câu chuyện về Bác Hồ kính yêu”.

Linh Thư

vietnamnet.vn

Bác Hồ với hành trình lựa chọn con đường dân chủ

Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Mô hình dân chủ do Bác Hồ và Đảng ta thiết kế đã từng bước tỏ rõ sức sống và triển vọng phát triển của nó trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, nhất là trong 25 năm đổi mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng.

1. Sức hấp dẫn của những giá trị dân chủ tư sản…

Đau xót chứng kiến nỗi thống khổ, cảnh lầm than của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cũng như nhiều sĩ phu và thanh niên trí thức yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Tất Thành đã sớm có ý chí đuổi Pháp, giải phóng đồng bào. Rất khâm phục các sĩ phu dũng cảm tìm đường đấu tranh cứu dân, cứu nước nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành cũng sớm nhận ra những hạn chế trong con đường của các vị ấy… Cụ Phan Chu Trinh yêu cầu thực dân Pháp thực hiện cải lương, việc này “chẳng khác nào xin giặc rủ lòng thương”. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn, đã trực tiếp đấu tranh chống Pháp, nhưng còn nặng cốt cách phong kiến(1), mà con đường theo lập trường phong kiến thì đã hết thời…

Vào tuổi mười ba, nhận thấy sức hấp dẫn của những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái… mà người Pháp đã tuyên truyền, Người muốn tìm hiểu xem cái gì ẩn dấu đằng sau những từ ngữ mỹ miều ấy… Sức hấp dẫn của các giá trị văn minh dân chủ phương Tây đã khiến không ít người nghĩ rằng Anh có thể giúp ta, có người lại cho rằng có thể cậy nhờ nước Mỹ… Nguyễn Tất Thành thấy, cần phải ra nước ngoài xem cho rõ. Người đã nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao, nhất là xem họ “tổ chức và cai trị như thế nào”(2) rồi sẽ về giúp dân, giúp nước. Độc lập cho Tổ quốc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân, đó là mục đích, “ham muốn tột bậc” của Người. Với mục đích và ý chí đó, Người đã rời Sài Gòn đi ra nước ngoài vào ngày 5 tháng 6 năm 1911. Như vậy, sức hấp dẫn trong buổi đầu tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành không phải lá cờ của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu… mà chính là lá cờ cách mạng dân chủ tư sản ở phương Tây.

2. Dân chủ tư sản, từ những điều mắt thấy…

Nguyễn Tất Thành đã đi nhiều nước, đến nhiều nơi, tiếp xúc nhiều nền văn hóa, chính trị và đã dần hiểu rõ thực chất của nền văn minh tư sản, nền dân chủ tư sản dưới các hình thức khác nhau của nó. Đến Pháp, Người nhận thấy, hóa ra cũng có những người Pháp tốt và ở Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Người Pháp ở Pháp tốt và lễ phép hơn người Pháp ở Đông Dương. Ở Pháp, những sinh hoạt dân chủ như lập hội, mít-tinh, tranh luận trong các hội thảo, các câu lạc bộ chính trị, nghệ thuật… là chuyện của các gia đình, của đàn ông, phụ nữ, người trẻ, người già, nhưng những ai dám vạch tội ác của thực dân, dám đấu tranh cho quyền độc lập dân tộc, thì sẽ bị cảnh sát mua chuộc, dụ dỗ, dọa dẫm và cấm đoán. Đến các thuộc địa của Pháp, Người thấy rằng, những người Pháp thực dân thì rất hung ác và vô nhân đạo. Người thấy nhiều người Pháp hết sức căm phẫn và thấy nhục nhã khi biết những tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa. Người nhận ra rằng, trong cuộc chiến đấu để giải phóng đồng bào, giành độc lập cho Tổ quốc, chúng ta không cô độc, bên cạnh chúng ta còn có những người bạn Pháp dân chủ, chân chính… Đến Mỹ, quê hương của bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, thăm tượng nữ thần tự do, Nguyễn Tất Thành đã viết: “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”(3). Đến Ý, Thụy Sỹ, Người thấy Thụy Sỹ là một nước nhỏ, đường phố sạch sẽ, nhân dân có trình độ văn hóa khá cao; nước Ý có nhiều thành phố đẹp, nhiều lâu đài nguy nga, nhưng ở đây người thường dân thì cực khổ vì giá sinh hoạt đắt đỏ và thuế khóa nặng nề. Nói chung, ở các nước tư sản, ở trong nền dân chủ tư sản, tầng lớp trên sống một đời hết sức xa hoa và nhân dân thì sống một đời nheo nhóc(4)…

Vậy là, từ ách thống trị dã man, tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, từ nỗi thống khổ của đồng bào, từ những điều tận mắt trông thấy mà đau lòng ở những thuộc địa, nơi Người đã đặt chân tới, cũng như nếm trải, thấm thía những sự thật ở Pháp và các nước tư bản khác, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện ra những mặt trái của nền dân chủ và văn minh phương Tây. Sau sự kiện yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc-xây đòi những điều sơ giản nhất về dân chủ cho nhân dân Việt Nam của Người bị chính những kẻ nhân danh dân chủ từ chối thì những nhận xét của Người đối với nền dân chủ tư sản càng rõ rệt hơn. Người nhận rõ thực chất của nền dân chủ tư sản là “dùng chữ tự do, bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi đánh đổ phong kiến rồi thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”, “tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(5).

Nghiên cứu lịch sử cách mạng và “cách cai trị” của nhiều nước phương Tây, nhất là của nước Pháp, nước Mỹ, nước Anh, Nguyễn Ái Quốc đã nhận rõ sự “không đến nơi” của cách mạng tư sản, “sự giả dối” của các tuyên ngôn dân chủ, nhân quyền tư sản. Cho dù, cách mạng tư sản, “cách cai trị” của tư sản, nhất là cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ có ý nghĩa nhất định đối với cách mạng Việt Nam nhưng con đường ấy, mẫu hình ấy không thể đem lại độc lập thật sự cho dân tộc và tự do, dân chủ, hạnh phúc thật sự cho dân chúng số nhiều. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc chính thức đoạn tuyệt với học thuyết dân chủ tư sản, từ chối nền dân chủ tư sản dưới các hình thức của nó. Người chỉ rõ, cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã dạy chúng ta rằng, làm cách mạng thì không nên sợ phải hy sinh, và đã hy sinh làm cách mạng thì nên làm cách mạng cho “đến nơi”, nghĩa là làm cách mệnh rồi thì chớ để chính quyền trong tay số ít, chính quyền phải thuộc về dân chúng số đông.

3. V.I.Lênin và con đường giải phóng …

Đứng trong hàng ngũ đấu tranh của công nhân Pháp, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp và tham gia các hoạt động công nhân ủng hộ nước Nga Xô-viết. Lúc đầu, “về cảm tính” Người thấy mình có mối tình đoàn kết với cuộc cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy, nhưng Người biết rất ít về V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Tháng 7-1920, Người đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin. Trong văn kiện này, V.I.Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những người cầm đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến.

Tác phẩm của V.I.Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do thật sự cho đồng bào. Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(6). Như một lẽ tự nhiên, rất đơn giản và rõ ràng, sau khi đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, tin theo V.I.Lênin và quyết định lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười. Thời điểm đánh dấu bước ngoặt quan trọng này là tháng 12 năm 1920. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và Nguyễn Ái Quốc đồng thời cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Vậy là, từ hành trình khảo sát, nghiên cứu thực tiễn chính trị và lý luận hằng chục năm ở nhiều nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến kết luận dứt khoát. “Cách mạng có nhiều thứ”, “chủ nghĩa”, “học thuyết” cũng có nhiều nhưng chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là thành công “đến nơi” và Chủ nghĩa Mác-Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”(7).

Vậy là, trong thời đại ngày nay, muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, muốn nước độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Muốn có dân chủ hoàn bị, triệt để thì Tổ quốc phải độc lập và phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước không có độc lập, thống nhất thì mọi thứ dân chủ chỉ là giả dối, chỉ là trò bịp bợm. Nước được độc lập mà nhân dân không được hưởng ấm no, tự do, hạnh phúc, sung sướng thì độc lập ấy không có ý nghĩa gì. Chỉ có con đường cách mạng vô sản, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thật sự, dân chủ thật sự, dân chủ rộng rãi, dân chủ đến nơi. Nhưng để đi đến mục tiêu ấy thì mỗi nước tùy theo điều kiện của mình mà có thể có những bước đi khác nhau. Người khẳng định, “tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”(8).

4. Nền dân chủ vô sản non trẻ đầy sức sống ở Nga…

Được Luận cương của V.I.Lênin soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin về nước, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng cách mạng ở Việt Nam. Người tích cực nghiên cứu xây dựng đường lối cách mạng và từng bước phác thảo về một chế độ dân chủ ở Việt Nam sau khi cách mạng thắng lợi.

Nước Nga đã làm cách mang thành công, nước Nga được nhiều người yêu nhưng cũng nhiều kẻ ghét. Có kẻ cho nước Nga là địa ngục, có người bảo nước Nga là một thiên đường. Cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Nga hoạt động trong Quốc tế Cộng sản và trực tiếp quan sát, nghiên cứu việc xây dựng nền dân chủ mới – dân chủ vô sản. Không gặp được V.I.Lênin, V.I.Lênin đã mất, nhưng Nguyễn Ái Quốc nhận thấy nhân dân và đất nước Nga đã hồi sinh. Nước Nga là một đất nước đang xây dựng có nhiều ưu điểm nhưng chưa kịp sửa chữa hết những khuyết điểm. Nước Nga còn thiếu thốn mọi thứ, vết thương chiến tranh còn nhiều nhưng những vết thương đang được hàn gắn nhanh chóng và khắp nơi nhân dân phấn khởi, hăng hái làm việc. Do đó, đối với Người, nước Nga chưa phải là thiên đường nhưng nhất định không phải là địa ngục!

Ở đất nước của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc không chỉ nghiên cứu lịch sử cách mạng, con đường, phương pháp và những kinh nghiệm cách mạng trong giai đoạn “giành chính quyền” mà Người còn rất chú ý tìm hiểu cách thức, kinh nghiệm tổ chức xây dựng chế độ dân chủ mới. Người nhận thấy, ở nước Nga mọi người đều ra sức học tập, nghiên cứu để tiến bộ. Chính phủ giúp đỡ, khuyến khích nhân dân học tập. Ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước nhưng thực tế do nông dân sử dụng. Mọi người làm chung và phân phối theo lao động. Những người ốm đau được chăm sóc không mất tiền. Trẻ em, phụ nữ được Nhà nước, xã hội, nhà máy chăm sóc chu đáo. Trẻ em được ưu ái trong nuôi dưỡng, học hành. Những gì tốt nhất đều để dành cho trẻ em… Do đó, nếu nước Nga chưa phải là thiên đường cho tất cả mọi người thì nước Nga đã là một thiên đường cho trẻ em(9)… Đó là kết quả vận dụng lý thuyết dân chủ xã hội chủ nghĩa vào điều kiện nước Nga. Đó là những ưu việt của một nền dân chủ mới dưới ánh sáng khoa học của học thuyết dân chủ cách mạng Mác-Lênin. Dân chủ đã trở thành hiện thực sinh động, nhân dân Nga đã sáng tạo nên một nền dân chủ mới đầy sức sống và bước đầu thụ hưởng những giá trị dân chủ đích thực của chính mình. Những thành công “đến nơi” của cách mạng Nga, những ưu việt thực chất của nền dân chủ mới ở Nga đã trở thành mẫu hình quan trọng đầy tính gợi mở để Nguyễn Ái Quốc từng bước xây dựng mô hình dân chủ cho cách mạng Việt Nam.

5. Thiết kế mô hình và nguyên tắc vận hành của nền dân chủ ở Việt Nam…

Thiết kế xây dựng mô hình và nguyên tắc vận hành của nền dân chủ mới là một trong những vấn đề cơ bản của cách mạng nên đây cũng là một quan tâm lớn đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Điều này đã được Bác thể hiện trong rất nhiều bài viết, bài nói, trong các giai đoạn khác nhau, trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước cũng như trong những chỉ đạo thực tiễn, khi Bác ở nước ngoài cũng như khi Người về nước, trong quá trình vận động chuẩn bị thành lập Đảng, chuẩn bị giành chính quyền cũng như trong quá trình xây dựng, vận hành chính quyền mới, nền dân chủ mới. Theo Bác, nền dân chủ ở nước ta cần phải được xây dựng trên những nội dung cơ bản sau:

– Cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng của nền dân chủ: Chủ nghĩa Mác-Lênin, vì đây là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”.

– Mục tiêu của nền dân chủ: Nước được độc lập, nhân dân được hưởng ấm no, tự do, hạnh phúc, sung sướng. Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau có thuốc… “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(10).

– Mô hình dân chủ cộng hòa, trong đó,

+ Nhân dân là chủ thể mọi quyền lực. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là “dân là chủ”(11), “dân làm chủ”(12), “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Nền dân chủ xây dựng ở Việt Nam là nền dân chủ “tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân”. Hồ Chí Minh viết: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(13). Dân và nhân dân ở đây được hiểu với nội dung rất cụ thể và rộng lớn: gồm cả cộng đồng người, nhân dân, đồng bào, quần chúng nhân dân, công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thanh thiếu niên, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài. Những bọn tay sai cho đế quốc, thực dân, bọn phản bội lợi ích của Tổ quốc thì không thuộc nhân dân, đó là bọn phản nhân dân.

+ Nền dân chủ toàn diện, cụ thể, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nền dân chủ phải là: Về chính trị, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(14); xây dựng Nhà nước dân chủ pháp quyền của dân, do dân, vì dân; xây dựng Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Về kinh tế, xuất phát từ “chỗ bắt đầu đi của chúng ta” là “nước nông nghiệp lạc hậu”, nên dân chủ trên lĩnh vực kinh tế cần: tôn trọng, bảo đảm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, “công tư đều được chiếu cố, chủ và thợ đều có lợi”(15); trong đó, “kinh tế quốc doanh lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa”(16); dưới các hình thức, người lao động làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ trong quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động”(17), “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng – những người già yếu, tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom”. Về văn hóa – xã hội, xây dựng một nền văn hóa “dân tộc, khoa học, đại chúng”, mọi người Việt Nam đều hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, có kiến thức để xây dựng đất nước; xây dựng đời sống mới trên tất cả các lĩnh vực trong cả nước đến hoạt động sống hằng ngày ở gia đình và cộng đồng dân cư; xây dựng đạo đức công dân, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học và bảo vệ của công…

– Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của nền dân chủ:

+ “Đảng lãnh đạo… công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ nước nhà, xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính…”(18), nghĩa là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Nhà nước, đoàn thể đối với dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh. Dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân. Nhân dân đối với đoàn thể và Chính phủ của mình thì phải giúp đỡ, theo đúng kỷ luật, làm đúng chính sách, đôn đốc, kiểm soát, phê bình để Chính phủ và đoàn thể làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó.

+ Để có dân chủ thật sự, “tư tưởng phải được tự do”. Tự do tư tưởng là, “đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”, “khi tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”. Và cần lưu ý rằng, “chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”, “ra sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tức là phục tùng chân lý”(19).

+ “Chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân; chúng ta cần mở rộng dân chủ đối với nhân dân, đồng thời cần tăng cường chuyên chính với kẻ địch của nhân dân. Có tăng cường chuyên chính với kẻ địch thì mới bảo vệ được tự do và dân chủ của nhân dân ta”(20).

+ “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, để xây dựng nền dân chủ thì phải phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được đông đảo lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”(21). “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(22). Trong đó, trước hết cần đặc biệt chú ý thực hành dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng và dân chủ ở cơ sở, ở nông thôn…

Tóm lại, với Bác Hồ, yêu nước gắn với yêu thương và kính trọng nhân dân. Ngày 5-6-1911, rời Tổ quốc đi ra nước ngoài, với Người, mục đích rất cụ thể: tìm đường cứu nước, cứu dân, tìm kiếm con đường để nước được độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc, sung sướng. Đây là mục đích và cũng là “tiêu chí” để Người tìm kiếm, khảo sát, phân tích, đánh giá các lý thuyết giải phóng, các chế độ chính trị, các cuộc cách mạng, các nền dân chủ trên thế giới. Nghiên cứu lịch sử cách mạng và “cách cai trị”của nhiều nước trên thế giới, Bác nhận rõ cách mạng tư sản là “không đến nơi”. Trong thế giới bấy giờ chỉ có cách mạng Nga do đảng của V.I.Lênin lãnh đạo là thành công “đến nơi”. Do đó, để đi tới độc lập cho Tổ quốc, ấm no, tự do và hạnh phúc cho đồng bào, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Chủ nghĩa Mác-Lênin và tấm gương Cách mạng Tháng Mười. Đó là con đường xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác chính thức lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Mô hình dân chủ do Bác Hồ và Đảng ta thiết kế đã từng bước tỏ rõ sức sống và triển vọng phát triển của nó trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, nhất là trong 25 năm đổi mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng.

Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực…”(23). Đảng ta coi đây vừa là mục tiêu, động lực, vừa là con đường, giải pháp cơ bản để từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là sự tiếp tục con đường dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

————–

(1), (2), (4), (9) Trần Dân Tiên – Những mẫu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Trẻ, 2004, tr 10-11; tr 41; tr 40; tr 58-62.
(3) Http://bee.net.vn/channel/1984/201004/Toi-xin-cat-loi-ca-muon-man-cua-hau-the-ve-Nguoi-1750687/
(5),(7) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, tập 1, NXB CTQG, H, 2002, tr 274; 388.
(6) Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo chí, NXB Thanh Niên, H, 2005, tr 260.
(8), (15), (18) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, NXB CTQG, H, 1996, tr 210; 361; 217.
(10), (17), (22) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, NXB CTQG, H, 2000, tr 512; 568; 249.
(11), (14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, NXB CTQG, H, 1995, tr 515.
(12), (19), (20) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, NXB CTQG, H, 1996, tr 375; 216; 313,314.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr 698.
(16), (21) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, NXB CTQG, H, 1996, tr 590; 593.
(23) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, H, 2011, tr 85.

ThS. Nguyễn Anh Tuấn
Trường Đại học Tây Nguyên

xaydungdang.org.vn

Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn hiện nay

Chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng được xem như một nội dung liên quan trực tiếp tới vận mệnh của Đảng và quyết định đến thành công của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trước mắt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Do tính chất đặc biệt nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều biện pháp kiên quyết phòng trừ “thứ cỏ dại” và cần “phải diệt tận gốc” này. Từ tác phẩm “Đường kách mệnh” viết năm 1927, đến tác phẩm cuối cùng “Di chúc”, Người đã có gần 200 bài nói, viết về công tác xây dựng đảng, về rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên – Đó là hệ thống những quan điểm, biện pháp hữu hiệu để chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên không phải cứ viết trên trán mình 2 chữ “cộng sản” là được nhân dân yêu mến, mà phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, chống sa vào chủ nghĩa cá nhân, góp phần làm cho Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”. Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là “địch nội xâm”, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”(1).

Chủ nghĩa cá nhân luôn biến hóa “muôn hình vạn trạng”, bởi thế có nhiều người mơ hồ (hoặc cố ý mơ hồ), cho rằng đó là căn bệnh người khác mắc phải, còn mình thì không. Tuy nhiên, dù biến tướng thế nào, vẫn có thể nhận diện được nếu hiểu nguồn gốc, bản chất căn bệnh này: “Chủ nghĩa cá nhân là một loại giá trị và nguyên tắc đạo đức, là hệ thống lý luận chính trị, kinh tế và đạo đức của giai cấp tư sản”(2). Chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm của xã hội cũ dựa trên chế độ tư hữu, là sự đối lập giữa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, đặt quyền lợi của cá nhân trên quyền lợi tập thể. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh chỉ ra 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân cần nhận diện và phòng chống: bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh vô thực” (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều); bệnh cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tỵ nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh. Chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin cậy của dân với Đảng. “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(3).

Khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đồng nghĩa với việc họ làm biến chất, suy thoái Đảng. Do đó, thực hiện những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân, chống những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân, chính là giữ vững bản chất, sinh mệnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính. Rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng song hành với cuộc đấu tranh loại bỏ chủ nghĩa cá nhân bên trong mỗi người đảng viên. Đó là cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp, gian khổ, lâu dài bằng nhiều hình thức phong phú gắn với những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Hồ Chí Minh đã ví một cách hình ảnh “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng tốt lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”(4). Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thuận lợi, đang chịu sự chi phối từ những mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa. Chủ nghĩa cá nhân có nhiều điều kiện phát triển với những biểu hiện phức tạp, tinh vi. Nghị quyết Đại hội XI nhận định: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”(5). Chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội nhưng chậm được phát hiện và ngăn chặn kịp thời hoặc có ngăn chặn nhưng hiệu quả chưa cao. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện; ở một số cấp uỷ việc giáo dục đạo đức, lối sống còn bị xem nhẹ hoặc hình thức. “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có những diễn biến phức tạp”(6). Do thoái hoá về lý tưởng chính trị, biến chất về đạo đức, lối sống, để cho chủ nghĩa cá nhân phát triển đã làm ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, gây trở ngại lớn đến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Đảng ta xác định, chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng được xem như một nội dung liên quan trực tiếp tới vận mệnh của Đảng và quyết định đến thành công của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trước mắt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn hiện nay cần chú trọng một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục giáo dục, nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trang bị kiến thức toàn diện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, trọng tâm là nâng cao trình độ nhận thức lý luận Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuyên truyền rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân ta về tác hại và những biểu hiện mới của chủ nghĩa cá nhân, để từ đó nhận diện và có biện pháp ngăn chặn. Đẩy mạnh “Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân”(7). Qua đó tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động trong toàn Đảng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Hai là, phát huy, mở rộng dân chủ trong Đảng, trong toàn xã hội để đoàn kết, động viên và phát huy hết tiềm năng trí tuệ, sự ủng hộ cả tinh thần và vật chất của các tầng lớp nhân dân vì sự nghiệp cách mạng. Muốn vậy, Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của nhân dân, vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Ba là, phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức. Để thực hiện chủ trương đó, cần quy chế hóa, thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Triển khai thực hiện tốt Quy chế dân vận trong hệ thống chính trị; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác vận động nhân dân. “Định kỳ lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên”(8). Qua đó, phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, phòng chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, duy trì chặt chẽ chế độ tự phê bình và phê bình, kết hợp xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm về đạo đức, lối sống. Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng là nâng cao tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng sau mỗi lần sinh hoạt trưởng thành hơn về năng lực lãnh đạo, về nhận thức tư tưởng, tinh thần đoàn kết, ý thức đấu tranh chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Công khai hoá chế độ, tiêu chuẩn; tổ chức kê khai thu nhập, tài sản của cán bộ, đảng viên.

Năm là, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức. Xây dựng quy chế kiểm tra, giám sát có hiệu quả; phương pháp kiểm tra phải đồng bộ từ trên xuống và từ dưới lên nhằm mục đích phát hiện những sai lầm trong tư tưởng và hành động để kịp thời sửa chữa. Hồ Chí Minh nói: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định ít đi”(9). Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương,… Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân.

Các cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể xã hội cần quán triệt và tổ chức thực hiện một cách tích cực, sâu sắc, hiệu quả tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, đưa tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh ngang tầm với nhiệm vụ, lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

……………………………………..

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T5, tr.238 – 239.
2. Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc và chấn hưng đất nước, Nxb LLCT, H, 2006, tr.318.
3. Hồ Chí Minh. Sđd, t12, tr.557-558.
4. Hồ Chí Minh.Sđd, t9, tr.448
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.173.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd, tr.185.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd, tr.257.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd, tr.258.
9. Hồ Chí Minh: Sđd, T5, tr.287.

ThS. Đàm Trọng Tùng
Khoa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Kỹ thuật Quân sự

xaydungdang.org.vn

Nhận thức khái niệm “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng trong các bài viết, bài nói của mình các khái niệm “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền”. Việc nhận thức rõ các vấn đề đó trong tư tưởng của Người trong giai đoạn hiện nay là vấn đề hết sức cần thiết, làm cơ sở cho Đảng ta tiếp tục đổi mới về phương thức lãnh đạo. Trong phương hướng, giải pháp xây dựng Đảng của nhiệm kỳ Đại hội X, Đảng ta đã xác định: “Nghiên cứu, tổng kết, tiếp tục làm rõ quan điểm về Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền làm cơ sở đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách cơ bản, toàn diện”(1). Tại Đại hội XI, trong phương hướng, giải pháp xây dựng Đảng những năm tới, Đảng ta tiếp tục xác định: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền”(2).

1. Đảng lãnh đạo là một khái niệm được các nhà kinh điển Mác-Lênin nêu ra vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đánh dấu sự trưởng thành về mặt tổ chức với sự ra đời các đảng của giai cấp công nhân, lực lượng tiên phong thực hiện sứ mệnh lịch sử lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động thủ tiêu chế độ bóc lột, xây dựng một xã hội mới tiến bộ vì con người, không còn bóc lột, áp bức, bất công. Từ những phân tích của V.I.Lênin về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga đối với quần chúng nhân dân lao động trong cách mạng vô sản đã cho thấy, nội hàm khái niệm “Đảng lãnh đạo” được hiểu là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, là giai cấp công nhân – thực hiện vai trò tiên phong, gương mẫu, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân để làm sao có được sự đồng tình, ủng hộ một cách tự nguyện của đại đa số nhân dân lao động đối với đảng, kể cả khi đảng chưa giành được chính quyền, nhằm xây dựng một xã hội tiến bộ theo mục tiêu của đảng. V.I.Lênin viết rằng: “Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của mình, tức đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được. Nhưng sự đồng tình và ủng hộ đó không thể có ngay được và không phải do những cuộc bỏ phiếu quyết định, mà phải trải qua một cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài, khó khăn, gian khổ mới giành được. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản để giành lấy sự đồng tình, để giành lấy sự ủng hộ của đa số nhân dân lao động không phải kết thúc khi giai cấp vô sản đã cướp được chính quyền. Sau khi giành được chính quyền, cuộc đấu tranh đó vẫn tiếp tục như trước, có điều là với hình thức khác mà thôi”(3).

Trên cơ sở quan điểm của V.I.Lênin về đảng lãnh đạo, Hồ Chí Minh không chỉ bằng hành động thực tiễn là sáng lập ra một đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc để lãnh đạo toàn dân trong công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà đã góp phần làm rõ cả nhận thức khái niệm về Đảng lãnh đạo. Theo Người: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và làm cho tốt”(4); “Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(5).

Với các luận điểm trên, nội hàm khái niệm “Đảng lãnh đạo” trong quan điểm của Hồ Chí Minh đã được làm rõ qua các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, “Đảng lãnh đạo” là một khái niệm chỉ sự tác động, ảnh hưởng của Đảng (qua các tổ chức đảng và đảng viên) đối với quần chúng nhân dân. Tức chủ yếu chỉ nói đến sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh không bao giờ sử dụng các khái niệm “Đảng lãnh đạo Nhà nước” hay “Đảng lãnh đạo Chính quyền”, kể cả sau khi Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền. Đảng lãnh đạo quần chúng nhân dân có nghĩa là Đảng phải làm sao trở thành lực lượng tiên phong trong dân chúng, vạch hướng, xác định được mục tiêu đúng đắn đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng cơ bản của đông đảo quần chúng nhân dân; đồng thời phải có được uy tín cao do làm tốt sứ mệnh “người đày tớ trung thành của nhân dân” từ đó mà vận động, thuyết phục được quần chúng nhân dân ủng hộ, đi theo Đảng.

Thứ hai, Đảng lãnh đạo là một khái niệm không gắn với quyền lực. Tức Đảng không dựa vào quyền lực (quyền lực được hiểu theo nghĩa có sự cưỡng bức, ép buộc) trong sự ảnh hưởng, trong quá trình tác động của chủ thể lãnh đạo là Đảng đến đối tượng lãnh đạo là quần chúng nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân có đặc điểm là sự vận động mang tính thuyết phục. Đảng lấy uy tín của mình là một Đảng có “đạo đức và văn minh” để thuyết phục quần chúng nhân dân đi theo, ủng hộ, thực hiện các cương lĩnh, đường lối, nghị quyết của Đảng. Điều đó diễn ra cả trước và sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền.

Thứ ba, khái niệm Đảng lãnh đạo được hiểu như một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp cả trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính từ trong cuộc đấu tranh đó, Đảng đã tỏ ra là lực lượng “có sức hấp dẫn lớn”, được quần chúng nhân dân tin yêu, ca ngợi, tự nguyện suy tôn là lực lượng giữ địa vị lãnh đạo. Sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, sự suy tôn đó được kiểm chứng chủ yếu qua các đợt bầu cử dân chủ và khi mà có đa số đảng viên của Đảng được bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước các cấp. Tuy nhiên, nhân dân tự nguyện suy tôn địa vị lãnh đạo của Đảng không có nghĩa là Đảng có thể giữ mãi địa vị đó nếu Đảng đánh mất niềm tin của nhân dân, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nếu Đảng không chiến thắng được trong cuộc đấu tranh gian khổ chống chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ rằng: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”(6); rằng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(7).

2. Đảng cầm quyền là một khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây ngay khi xã hội bắt đầu hình thành các đảng chính trị. Ở nước Nga Xô-viết trước đây, V.I.Lênin cũng đã đề cập nhiều các vấn đề liên quan đến đảng cầm quyền. Theo V.I.Lênin, đảng cầm quyền được hiểu là “đảng nắm chính quyền” bằng những người đại diện của đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý trong bộ máy nhà nước. Theo V.I.Lênin, những cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước phải hoạt động làm sao bảo đảm vừa với tư cách là người đại diện cho đảng thực hiện việc tuyên truyền, vận động nhân dân đi theo đảng, tức là hoạt động “lãnh đạo”, vừa với tư cách là người đại diện cho đảng, đồng thời là đại biểu của nhân dân thực hiện công việc quản lý nhà nước, tức là hoạt động “cầm quyền”. Trong diễn văn tại Hội nghị II toàn Nga các cán bộ tổ chức (6-1920), V.I.Lênin đã viết: “Người cán bộ ấy phải nhớ rằng anh ta không những là người tuyên truyền bằng lời nói, không những phải giúp đỡ những tầng lớp nhân dân mê muội nhất; đó là nhiệm vụ chủ yếu của anh ta và không làm như vậy anh ta không thể tự coi mình là người cộng sản được. Nhưng ngoài ra, anh ta phải là người đại diện Chính quyền Xô- viết… người đại diện cho đảng nắm chính quyền hiện đang thông qua một bộ phận giai cấp vô sản mà điều khiển toàn bộ nước Nga”(8). Điều đó cho thấy, đảng cầm quyền là một khái niệm gắn với quyền lực. Tức đảng có quyền lực chính trị mà cụ thể là ở việc “nắm chính quyền” hay “nắm quyền lực nhà nước”. Không những thế, theo V.I.Lênin, khi đảng nắm được chính quyền thì đảng không chỉ có quyền lực chính trị, mà “với tư cách nhà nước, còn có thêm được quyền lực kinh tế”(9).

Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sớm về Đảng cầm quyền. Tuy không nêu rõ khái niệm “Đảng cầm quyền” là như thế nào, nhưng qua những bài viết, bài nói của Người cho thấy rằng, “Đảng cầm quyền” là khái niệm có những điểm khác với “Đảng lãnh đạo”. Đảng cầm quyền là một khái niệm gắn với quyền lực. Theo Người, Đảng cầm quyền cũng tức là Đảng nắm chính quyền, nghĩa là Đảng có quyền lực trong thực tế. Tuy nhiên, Đảng ta là đội tiên phong không chỉ của giai cấp công nhân mà là của cả dân tộc, “Đảng là đảng của giai cấp lao động, mà cũng là đảng của toàn dân”(10); đồng thời, những cán bộ, đảng viên của Đảng trực tiếp thi hành những nhiệm vụ quản lý trong bộ máy nhà nước đều chỉ là những người được nhân dân “ủy thác”, bầu ra để phục vụ nhân dân. Do vậy, ở nước ta, Đảng nắm chính quyền cũng tức là nhân dân nắm chính quyền, bởi Đảng chỉ là lực lượng tiêu biểu, đại diện cho toàn dân nắm chính quyền. Cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước có quyền lực nhưng quyền lực đó là thuộc về nhân dân. Người viết: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy”(11). Có thể thấy, đây là một nét đặc thù của Đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay. Điều này không có được đối với các đảng cầm quyền ở nhiều nước trên thế giới, khi mà đảng cầm quyền chỉ là đảng đại diện cho một lực lượng trong nhiều lực lượng khác nhau của các giai cấp, tầng lớp dân chúng trong xã hội.

3. Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền” nêu trên có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta hiện nay trong việc nhận thức đúng đắn nội hàm của các khái niệm đó làm cơ sở để đổi mới phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng một cách đúng hướng.

Trước hết, trong mối quan hệ, tác động của Đảng đối với Nhà nước mà từ trước đến nay chúng ta coi là quan hệ “lãnh đạo”, “Đảng lãnh đạo Nhà nước” cần phải có sự nhận thức lại rõ hơn. Đây phải được coi là quan hệ gắn với quyền lực, do sự “cầm quyền” của Đảng. Tức Đảng có quyền lực, “Đảng cầm quyền”, nắm quyền lực nhà nước bằng cách “Đảng “hóa thân” sự lãnh đạo của mình trong sự quản lý của Nhà nước, trên từng phương diện của đời sống kinh tế-xã hội”(12). Do vậy, hoạt động của Đảng hiện nay vừa có sự lãnh đạo, vừa có sự cầm quyền với các phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng.

Phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng có những điểm giống nhau và khác nhau. Điểm giống nhau chủ yếu ở chỗ: Sự tác động, ảnh hưởng của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội đều nhằm hướng tới thực hiện các cương lĩnh, mục tiêu do Đảng đề ra; Đảng phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Điểm khác nhau chủ yếu ở chỗ: Phương thức lãnh đạo của Đảng tập trung ở việc xác định đúng đắn đường lối, mục tiêu thể hiện trong các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng; ở tính thuyết phục của công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục của Đảng; ở việc toàn Đảng, mỗi đảng viên luôn tự rèn luyện, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu về mọi mặt, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực sự là “người đày tớ trung thành của nhân dân”, trở thành ngọn cờ dẫn đường, vận động, thuyết phục nhân dân tự nguyện đi theo, ủng hộ Đảng, phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối, mục tiêu của Đảng. Phương thức cầm quyền của Đảng tập trung ở việc thực hiện công tác cán bộ, cắt cử và nắm chắc, kiểm tra, giám sát những cán bộ ưu tú của Đảng giữ những vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước để trực tiếp và độc lập với những thẩm quyền nhất định trong việc điều hành quá trình hoạch định và thực thi các quyết định, chính sách của chính quyền nhà nước các cấp trên cơ sở pháp luật và các cơ chế đã được thể chế hóa nhằm thực hiện các định hướng mục tiêu của Đảng.

Sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng là hai mặt hoạt động có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Một mặt, để có và giữ vững địa vị cầm quyền, đòi hỏi Đảng phải có và giữ vững địa vị lãnh đạo, tức Đảng phải luôn có được vị trí tiên phong trong toàn xã hội, luôn được nhân dân tin yêu, đồng tình ủng hộ. Mặt khác, để có và giữ vững địa vị lãnh đạo, thì ngoài việc Đảng phải thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo, tức nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách đảm bảo đúng đắn, hợp lòng dân; làm tốt công tác tư tưởng tạo sự đồng thuận cao trong Đảng và toàn xã hội; làm tốt sứ mệnh “người đày tớ trung thành của nhân dân”, Đảng còn phải thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền của mình, tức làm tốt công tác tổ chức cán bộ, bảo đảm hiệu quả cao trong quản lý của Nhà nước bởi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ở các cơ quan quyền lực nhà nước và trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Chính từ việc thực hiện tốt các mặt hoạt động nêu trên sẽ là điều kiện tiên quyết để Đảng luôn giữ vững được lòng tin yêu của nhân dân đối với Đảng, từ đó nhân dân mới dành nhiều lá phiếu tiến cử các cán bộ thay mặt Đảng vào các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương trong những đợt bầu cử, trưng cầu ý kiến nhân dân, như bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp vừa qua.

—————————————

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 306.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 255.
3. V.I.Lênin: Toàn tập, t. 39, NXB Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1979, tr. 251.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 12, tr. 222.
5. Hồ Chí Minh. Sđd, t. 10, tr. 323.
6. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 3, tr. 139.
7. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 12, tr. 557-558.
8. V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 41, tr. 181.
9. V.I.Lênin: Sđd, t. 43, tr. 75.
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr.231.
11. Hồ Chí Minh. Sđd, t. 7, tr. 218-219.
12. Nhị Lê, Về sự cầm quyền của Đảng, Tạp chí Cộng Sản, số 16, 8-2006, tr. 44; Nguyễn Hữu Đổng (chủ biên), Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, tr. 154, 166.

PGS, TS. Nguyễn Hữu Đổng và TS. Ngô Huy Đức
Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

xaydungdang.org.vn

Gắn kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình (TPB và PB) cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau: Thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình. Củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm. Coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Bên cạnh sự tự giác thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Công tác này nhất thiết phải gắn bó mật thiết với TPB và PB một cách nghiêm túc. Lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. TPB và PB nhau theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra là bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng đảng, được tiến hành dựa trên các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng nhưng đồng thời phải làm tốt công tác TPB và PB. Trên cơ sở các nguyên tắc, Điều lệ Đảng về xử lý kỷ luật trong Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: phải gắn kết chặt chẽ, phát huy cao độ vai trò công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng theo Điều lệ Đảng trên cơ sở TPB và PB, lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa là chính, giúp đồng chí mình tiến bộ, giúp tổ chức đảng lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Trong giai đoạn cách mạng mới, trước những yêu cầu đặt ra từ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm không ngừng kiện toàn và nâng cao sức lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đấu tranh thắng lợi trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị tư tưởng, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng càng phải gắn bó mật thiết với công tác TPB và PB. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra giám sát trong Đảng với công tác TPB và PB sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đảng, xây dựng ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống cho mỗi cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu; nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Một là, thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình.

Đối với đảng viên, cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ phụ trách công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và các cấp ủy cần phải có nhận thức đúng về sự kết hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB. Đây còn là một trong những nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo ở đâu, lĩnh vực gì, nhiệm vụ nào đều phải gắn liền công tác kiểm tra giám sát ở lĩnh vực, nhiệm vụ đó.

Công tác kiểm tra, giám sát ở các tổ chức cơ sở đảng phải được tiến hành theo nguyên tắc Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên. Quá trình kiểm tra, giám sát phải gắn với TPB và PB để giáo dục, thuyết phục, uốn nắn đảng viên, cán bộ, định hướng công tác lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, tạo điều kiện phát huy dân chủ trong Đảng, giữ vững nguyên tắc và chế độ sinh hoạt đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Công tác kiểm tra, giám sát gắn với TPB và PB là nhằm làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững định hướng chính trị, nhận thức tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức trong sáng. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách dân chủ, đúng nguyên tắc, gắn với tự trọng, tự giác trong TPB và PB.

Hai là, củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi phải làm tốt công tác củng cố kiện toàn cơ cấu ủy ban kiểm tra các cấp, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đủ về số lượng và có năng lực và trình độ hoàn thành nhiệm vụ chức trách được giao.

Trước khi bắt đầu cho một nhiệm kỳ mới, các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở phải làm tốt công tác củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp. Chức năng, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra phải được xác định phù hợp với tính chất nhiệm vụ lãnh đạo của từng tổ chức đảng cụ thể. Điều đó cũng có nghĩa, ủy ban kiểm tra các cấp và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải được kiện toàn đồng bộ, ngang tầm với tính chất nhiệm vụ được giao. Yêu cầu đặt ra là: Đối với người cán bộ làm công tác kiểm tra phải tận tụy, công tâm, trung thực, liêm khiết, khách quan, dân chủ, có lý có tình, kiên quyết và khôn khéo; đối với ủy ban kiểm tra các cấp là sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, kỷ cương trên cơ sở các nguyên tắc được quy định trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Người cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát cũng như uỷ ban kiểm tra cần chủ động, đồng bộ, sâu sát, tỉ mỉ, khách quan, thận trọng trong mọi khâu, mọi bước của công việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo tính công minh, chính xác, kịp thời.

Ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải đóng vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được lựa chọn phải thường xuyên học tập, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tự kiểm tra, giám sát mình và chịu sự giám sát, phê bình của cấp ủy, chi bộ và quần chúng; ra sức nâng cao trình độ mọi mặt, mẫn cán, nhạy cảm, tinh thông nghiệp vụ.

Ba là, coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB .

Công tác kiểm tra được tiến hành theo phân cấp, cấp trên kiểm tra cấp dưới, ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp kiểm tra đảng viên thuộc quyền về chấp hành nguyên tắc, chế độ, phục tùng kỷ luật Đảng và thực hiện nghị quyết các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Trong đó, TPB và PB là nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt đảng mà các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB là một giải pháp khoa học nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, chủ động cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm và giải quyết dứt điểm các vụ việc trên cơ sở nguyên tắc Điều lệ Đảng.

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Minh Đức
Trường Đại học Nguyễn Huệ

xaydungdang.org.vn