Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Nguyễn Tất Thành và hành trình tìm đường cứu nước qua nhận định của các học giả nước ngoài

“Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta. Có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Nhưng lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình mà trong quá trình phát triển đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định” – UNESCO

Đỗ Hoàng Linh
PGĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Loài người tiến bộ đánh giá rất cao và ngợi ca chủ nghĩa nhân văn đích thực, phong cách sống chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cao đẹp Hồ Chí Minh, khi: “Cần phải nhìn nhận thế giới như một quá trình phát triển mà sự thay đổi là cội nguồn của giàu có, tiến bộ và nhằm tìm kiếm ước muốn nhân đạo trong lĩnh vực đạo đức. Vì thế mà những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những giấc mơ của chính mình”(1). Hơn thế nữa, sự kiện UNESCO tôn vinh Người với danh hiệu cao quý: Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất đã khẳng định:“Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta. Có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Nhưng lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình mà trong quá trình phát triển đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định” (2).

Trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, sự kiện ngày 5/6/1911 không chỉ là một bước ngoặt trong cuộc đời anh thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, mà còn có ý nghĩa lịch sử đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Thời điểm lịch sử, diễn biến sự kiện và kết quả thực tế đã lý giải chính xác quyết định quan trọng, táo bạo và trí tuệ sáng suốt của anh thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lúc đó, nhưng phân tích về sự kiện xuất ngoại kéo dài ba thập kỷ này, không chỉ có những nhà nghiên cứu, sử gia, học giả trong nước mà rất nhiều tác giả nước ngoài, các nhà nghiên cứu quốc tế đã đưa ra quan điểm, nhận định, suy nghĩ riêng của mình.

William J. Duiker- nhà ngoại giao, giáo sư sử học Đại học Penn State đã viết: “Chỗ ở của Thành ở gần bến Nhà Rồng nơi các con tàu xuyên đại dương thường xuyên lui tới. Thành quyết định tìm việc làm trên một trong những con tàu đó để ra nước ngoài. Ngày 2/6/1911, một anh thanh niên tên là Ba xuất hiện ở cầu tàu Đô đốc Latouche Treville. Thuyền trưởng Louis Eduard Maisen e ngại nhìn khuôn mặt thông minh nhưng thân hình khá mảnh khảnh của anh. Ba quả quyết là việc gì anh cũng làm được và đã thuyết phục được Maisen cho một chân phụ bếp. Ngày hôm sau, anh bắt tay ngay vào công việc rửa bát, giặt quần áo, lau sàn, nhặt rau và đốt lò. Ngày 5/6, Đô đốc Latouche Treville rời Sài gòn ra biển Đông, thẳng tiến tới Singapore lúc đó đang thuộc Anh. Tại sao Nguyễn Tất Thành lại quyết định rời đất nước? Các nhà viết sử ở Hà Nội cũng thường nhắc đến những hồi ức của Hồ Chí Minh về việc rời đất nước như một sứ mệnh cứu nước. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì, khi rời Sài gòn tháng 6/1911, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hoàn toàn nhận thức được những bất công mà đất nước mình đang phải gánh chịu và trong nước không có lời giải. Biết đâu, anh có thể tìm kiếm được những lời giải ở nước ngoài”(3).

Bernard Fall, nhà văn, nhà báo, giáo sư khoa Quan hệ quốc tế trường Đại học Howard, Washington D.C, người đã hoàn thành luận văn tiến sĩ về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét rằng: “ Là một nhà hoạt động chính trị hơn là một lý thuyết gia, ông Hồ nhanh chóng bỏ nghề dạy học. Năm 1911, ông đi Sài Gòn theo một vài khoá dạy nghề rồi trở thành phụ bếp trên chiếc tàu buôn của người Pháp. Lúc này ông đổi tên là Ba, có lẽ vì ông là người con thứ ba trong gia đình, nhưng đây chưa phải là lần đổi tên cuối cùng. Bằng việc chọn một tàu biển của Pháp trên tuyến đường châu Âu, ông Hồ đã có một quyết định chính trị cơ bản: ông đã hướng về phương Tây chứ không phải phương Đông. Bởi vì, vào thời kỳ này có một số người Việt Nam nhất là những người dân tộc chủ nghĩa bảo thủ thường nhìn về phía Trung Quốc của Quốc dân đảng để tìm thấy gợi ý, một sự dẫn dắt hoặc hướng về Nhật Bản đang mở rộng bành trướng, những nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa như Phan Bội Châu đã thành lập phong trào Đông Du, tức là đi về phía Đông- một phong trào có nhiều người Việt Nam trẻ tuổi noi theo trong vòng hơn 20 năm” (4).

David Halberstam, phóng viên chiến trường, nhà văn, nhà báo Mỹ suy nghĩ về bản chất sự kiện Nguyễn Tất Thành sang phương Tây năm 1911 như sau: “Ông Hồ không theo Phan Bội Châu sang Nhật, nhưng ông đã nghe rất kỹ một lời khuyên của người ái quốc lão thành: để chống Pháp thành công cần phải có một đảng phái vững mạnh, một tổ chức theo đúng nghĩa của nó… Ông nghĩ có thể học được rất nhiều điều qua những cuộc viễn du ở thế giới bên ngoài hơn là ngồi học trong khuôn khổ do người Pháp tạo ra. Sau khi dừng chân tại làng chài Phan Thiết, ông quyết định rời Việt Nam đi sang phương Tây để nghiên cứu thế giới của người châu Âu. Sau này, những người Pháp, Mỹ khá bối rối không hiểu tại sao ông Hồ sau khi trải qua nhiều năm tháng ở nước ngoài lại có thể quay về và ngay lập tức nắm quyền lực chính trị tại Việt Nam? Nguyên nhân bởi thời điểm rời Việt Nam lúc đó rất thích hợp vì hai từ tự do không chỉ một người ra đi mong muốn mà tất cả đồng bào của ông đều đang khao khát”(5)

Sử gia người Đức Hellmut Kapfenberger có cách lý giải riêng; “Trên bến cảng có con tàu Amiral Latouche Treville của công ty Chargeurs Reunis. Một chàng thanh niên gày gò bước lên con tàu hơi nước này tự giới thiệu tên mình là Ba với những người Việt ở trên tàu. Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu dùng bí danh lần đầu tiên mà sau này trở thành tên anh trong một vài năm. Bởi bộ máy của cơ quan an ninh Pháp ở Đông Dương biết rõ ràng không chỉ về Nguyễn Sinh Sắc mà còn về các con ông, nên ta có thể giải thích cho chuyện này: đi sang Pháp, chàng thanh niên muốn đánh lạc hướng của các cảnh sát mật, để có thể có một khoảng thời gian tự do không bị sách nhiễu. Một trong ý nghĩa của việc đổi tên theo đạo Nho có thể hiểu anh chọn tên đơn giản để không làm tổn hại đến thanh danh của gia đình, do phải làm công việc thấp kém trên một con tàu. Vài năm sau đó, người ta biết rằng quả thật anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã từng là đối tượng theo dõi của mật thám Pháp tại quê hương mình”(6)

Phóng viên tạp chí Người New York, nhà nghiên cứu chuyên về châu Á Robert Sharplen phân tích theo khía cạnh khá đơn giản: “Ông Hồ là một người trung thành với lý thuyết của Đảng, một người tuân thủ kỷ luật nhưng cũng là người quốc gia chủ nghĩa, nhiệt thành và tự tin… Năm 1911, sau khi theo học trường trung học Huế, Hồ Chí Minh đã rời bỏ quê hương, xuống làm bồi bếp trên một chiếc tàu thuỷ đi sang Pháp. Trong ba năm tiếp theo, ông đi vòng quanh thế giới, làm nhiệm vụ của người phụ bếp và dành thời gian rảnh rỗi để đọc bất cứ cuốn sách nào có trong tay, từ Shakespeare, Tolstol cho tới Marx. Thời gian đi ngao du khắp nơi đã giúp ông phát triển tài năng ngôn ngữ đặc biệt của mình. Ông nói được tiếng Pháp, Anh, Nga, Đức, Thái và ba thổ ngữ Trung Quốc”(7). Tổng biên tập tạp chí Triển vọng Việt Nam của Pháp Dominique de Miscault liên tưởng và so sánh: “Vào năm 1911, Nguyễn Tất thành rời khỏi Sài Gòn. Nước mất nhà tan, Người chọn cuộc sống lưu vong, bôn ba nơi xứ người để tìm con đường cứu nước. Nguyễn Tất Thành lên tàu sang Pháp, mang theo bức thư xin vào học ở các trường thuộc địa, gửi tới Tổng thống cộng hoà và Bộ thuộc địa. Đối với người dân Pháp chúng tôi, cử chỉ này phản ánh một chủ nghĩa lý tưởng và sự mạo hiểm ngoài sức tưởng tượng!”(8)

Nhà nghiên cứu người Pháp Daniel Hémery lại cho rằng tình cảm gia đình chiếm phần chủ đạo trong lý do xuất ngoại: “Về phần mình, Nguyễn Tất Thành dường như đã bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa cải lương của Phan Chu Trinh hơn là sự bạo động được thể hiện một cách kiềm chế trong Đông Du. Việc tham gia vào các hoạt động của trường Dục Thanh mà Phan Chu Trinh lập ra khi qua Phan Thiết và nhất là ở quyết định sang Pháp của anh theo gương nhà nho lớn này… Việc lên đường sang Pháp hẳn có một lý do kép: tình cảm của lòng hiếu thảo, niềm hy vọng rằng ở đó có thể thực hiện được sự phục quyền cho cha mình. Chẳng phải ông Phan Chu Trinh đã thoát khỏi Côn Đảo nhờ hành động của Hội nhân quyền Đông Dương đó sao? Và cũng là kiên trì với ước muốn được hoà nhập vào tầng lớp tinh hoa mới, tận dụng điều kiện tốt bên ngoài mà người chịu trách nhiệm công cuộc khai thác thuộc địa như Albert Sarraut đã bộc lộ với những người theo cải cách”(9). Epghenhi Kobelep, nhà sử học người Nga lại tìm cách giải đoán bằng chiều sâu tri thức thông qua một nhân vật trung gian khác: “Nếu nhiều thanh niên cùng tuổi với Thành được Phan Bội Châu hướng về phương Đông, về nước Nhật, coi nước Nhật là hình mẫu của nước Việt Nam độc lập trong tương lai thì Thành lại hướng về một thế giới khác… Chắc hẳn ý tưởng đó lần đầu tiên nảy sinh ở Thành khi anh đọc các tác phẩm của Russo. Qua tác phẩm của ông, Thành được biết chàng thanh niên Russo trước khi trở thành nhà khai sáng vĩ đại đã có tới 10 năm lưu lạc trên các nẻo đường châu Âu. Vậy là ông đã học được nhiều ở một ngành khoa học quan trọng và cũng khó khăn nhất: khoa học cuộc sống. Rồi chính cuộc sống cũng như thế giới bất bình đẳng, đau khổ, nghèo đói xung quanh đã giúp ông sau này trở thành người đề xướng những tư tưởng cao quý về tự do, bình đẳng, bác ái và trở thành sứ giả của đại cách mạng Pháp”(10). Còn Lady Borton, nữ tác giả chuyên viết về Việt Nam của Đại học Ohio nói ngắn gọn: “Thế hệ những nhà yêu nước điển hình như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã tìm sự phản kháng thông qua học bổng và quản lý nhà nước. Thế hệ kế cận tiêu biểu là Hồ Chí Minh nhận thấy rằng muốn lật đổ người Pháp cần phải tổ chức lực lượng vững mạnh. Mặc dù Phan Bội Châu đã mời Hồ Chí Minh tham gia phong trào Đông Du nhưng Hồ Chí Minh đã chọn Tây Du để thâm nhập vào trung tâm quyền lực của chủ nghĩa thực dân. Và năm 21 tuổi, Người rời Việt Nam”(11).

Giáo sư sử học Josephine Stenson trường Đại học Florida Atlantis, người đã tự bỏ kinh phí đi khắp thế giới theo dấu chân hành trình của Nguyễn Ái Quốc để kiểm chứng lại lịch sử thì nhận định: “Chính từ việc biết đến câu châm ngôn của cách mạng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái mà Hồ Chí Minh quyết định rời Việt Nam đi tìm hiểu những thực tế khác và nguồn gốc triết học của câu châm ngôn đó. Bởi vậy, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh xin vào làm thuỷ thủ trên con tàu biển La Touche Treville như một người phục vụ trên tàu”(12). Miguel De Stephano, giáo sư Viện nghiên cứu châu Á của Cuba viết: “Khi còn là một thanh niên rất trẻ, Nguyễn Tất Thành đã phải rời Tổ quốc, hoà nhập vào thế giới để tìm hiểu con quỷ thực dân ngay trong sào huyệt của nó. Người tin tưởng sâu sắc là sẽ tìm thấy con đường xoá bỏ nghèo đói mà dân tộc mình đang phải chịu đựng”(13). Cốc Nguyên Dương, chuyên viên Viện khoa học xã hội Trung Quốc đưa ra một góc nhìn rộng hơn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết tâm rời Tổ quốc thân yêu, bôn ba khắp năm châu, bốn bể để đi tìm chân lý cách mạng và con đường cứu nước cứu dân. Hình bóng và dấu chân Người đã lưu lại từ châu Âu, châu Phi đến châu Á và châu Mỹ Latinh. Dù đi tới đâu, Người đều cùng sống với quần chúng lao khổ, nhóm lên ngọn lửa cách mạng ở đó”(14).

Không chỉ những nhà nghiên cứu lịch sử, nhà văn, nhà báo hay phóng viên chuyên nghiệp bày tỏ nhận định, hiểu biết của mình về cuộc đời, sự nghiệp và những mốc thời gian quan trọng trong quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh mà ngay cả những người lính, cựu chiến binh từng đến Việt Nam cũng dành một phần ghi chép từ cuộc chiến tranh một số suy nghĩ về một đối thủ lớn đáng kính, người lãnh đạo cuộc kháng chiến của Việt Nam, Ngài Hồ Chí Minh. Nếu như Jean Sainteny, sĩ quan tình báo, đại diện Chính phủ Pháp đàm phán với Việt Nam giai đoạn 1945- 1946 nói lướt qua sự kiện này trong hồi ký: “Nguyễn Văn Thành, tức Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung, Lý Thuỵ rồi từ 1944 là Hồ Chí Minh xuống tàu Latouche Treville làm bồi bếp khởi đầu một cuộc hành trình dài đến Mỹ, Anh, Đức rồi Paris là nơi ông định cư ở đó. Ông làm rất nhiều nghề, đặc biệt là nghề thợ ảnh. Đó là những cách để ông kiếm sống và để có điều kiện say sưa tham gia các vấn đề chính trị”(15). Dixee Batholomew Feis, chỉ huy cao nhất của tổ chức tình báo chiến lược OSS năm 1945 (tiền thân của CIA) đặt vấn đề một cách thẳng thắn: “Sinh năm 1890 tại Nghệ An, một tỉnh có truyền thống cách mạng, phần lớn thời trai trẻ Hồ Chí Minh bôn ba năm châu bốn biển, phải làm đủ nghề lặt vặt và thử nghiệm một loạt triết lý chính trị. Ngày 5/6/1911, Thành rời Việt Nam với mục đích khám phá thế giới bên ngoài sự thống trị của thực dân Pháp bằng cách nhận việc làm trên một con tàu Pháp”(16). Tuy có sai sót về lịch sử, nhầm lẫn về cả không gian, thời gian nhưng viên sĩ quan tình báo Mỹ Archimedes Patty vẫn mạnh dạn cho rằng: “Trong những năm sau khi mẹ ông mất vào khoảng 1900, ông Hồ không chịu đựng nổi sự kiêu ngạo của người Pháp cũng như thái độ thụ động của người Việt nên đã quyết định sang Pháp, đất nước của tự do, bình đẳng, bác ái. Mùa đông năm 1911- 1912, ông đã xin làm nhân viên trên một tàu buôn Pháp ở bến Sài Gòn”(17).

Như vậy, qua một số ý kiến, nhận định của các học giả, tác giả nước ngoài, chúng ta có thể thấy với nhiều nguyên nhân khác nhau được phân tích, sự kiện xuất ngoại của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ hướng tới một mục đích duy nhất: vì đất nước, vì dân tộc. Và chính Nguyễn Tất Thành hay Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này trong những lần tiếp các nhà báo nước ngoài cũng đã nói rõ về quyết định ra đi này của mình. Trả lời những câu hỏi của phóng viên Mỹ Koei Tche năm 1919: “Anh đến Pháp với mục đích gì?” “Để đòi quyền tự do cho dân An Nam!”. “Bằng cách nào?”. “Bằng cách làm việc hết mình và luôn xông xáo tiến lên!”(18). Trả lời nhà báo Liên Xô Oxip Mandenstam năm 1923, Người nói: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: tự do- bình đẳng- bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thủa ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”(19). Trả lời phỏng vấn của phóng viên Italy Giovani Germaneto năm 1924, Người nói: “Trước đây tôi có đọc một số tờ báo phát hành sang nước tôi, một vài tờ có tính chống đối ở An Nam, có những người lính lê dương do Poincare gửi sang để cải huấn. Những người lính lê dương này đọc đủ thứ. Họ là những kẻ chống đối về bản chất. Họ cho tôi đọc các báo Pháp. Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem mẫu quốc ra sao và tôi đã tới Paris”(20). Trả lời nhà văn Mỹ Anna Lui Strong năm 1965, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(21).

Nhµ văn Australia Allan Asbolt nhận định: “Một trong những nét nổi bật về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã sống nhiều năm ở nước ngoài – ở châu Âu, Anh, Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc. Người không bao giờ có tham vọng cá nhân, phù phiếm; Người không cố công để trở thành một nhân vật xuất chúng, theo ngôn ngữ của các xã hội tư bản. Người dành thời gian chủ yếu cho việc nghiên cứu và học hỏi, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thực tế có phần dựa vào kinh nghiệm hằng ngày của bản thân trong giai cấp công nhân. Người luôn luôn suy nghĩ làm thế nào để giải phóng nhân dân nước mình khỏi ách đô hộ và bóc lột thực dân. Người cũng nhận thức sâu sắc rằng cần phải kết hợp sức chiến đấu của ý thức dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy với những mục tiêu đồng cảm về cơ bản là hoà bình và nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Trong gần ba thập kỷ, Người đã sống và làm việc ở nước ngoài nhưng về ý thức, Người không hề xa Tổ quốc”(22).

Sự thật là Chân lý. Trong cuéc viÔn du 30 n¨m qua 29 quốc gia và vùng lãnh thổ, Nguyễn Tất Thành -Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc phù hợp với tiến bộ của lịch sử, theo đúng xu thế vận động của cách mạng thế giới. Và sự kiện này đã thêm một lần nữa khẳng định: “Hiếm người châu Á nào lại đóng một vai trò quan trọng như vậy trong việc tạo dựng một dân tộc mới như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khó có thể có được một người châu Á khác như Người ở thời đại của chúng ta cũng như trong các thế hệ mai sau. Người thực sự là một người châu Á của tất cả các thời đại với ý nghĩa đầy đủ nhất”(23)./


Chú thích:

1, Giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh trong thời đại hiện nay. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1990, tr 104
2, Chủ tịch Hồ Chí Minh- Anh hùng giải phóng dân tộc- nhà văn hoá lớn. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1990, tr 152
3, Ho Chi Minh- A life. Hyperion House, New York 2000.
4, Những suy nghĩ cuối cùng về một cuộc chiến tranh. Nxb Công an nhân dân 2004, tr 87- 88
5, Ho. Random House, New York 1971, tr 24-25
6, Hồ Chí Minh- một biên niên sử. Nxb Thế Giới 2010, tr 28
7, Anatomy of a conflict. Peacock Publisher Itasca, Illinois 1968
8, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay. Nxb Chính trị- Hành chính 2010, tr 718
9, Hồ Chí Minh- từ Đông Dương đến Việt Nam. Nxb Phụ nữ 2004, tr 23- 96
10, Đồng chí Hồ Chí Minh. Nxb Thanh Niên 2000, tr 49
11, Ho Chi Minh- a journey. Nxb Thế Giới 2010, tr 21
12, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh của UNESCO và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1990, tr 184
13, Sđd nt, tr 49
14, Sđd nt, tr 141
15, Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ. Nxb CAND 2003, tr 221
16, OSS và Hồ Chí Minh- đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật. Nxb Thế Giới 2007, tr 15- 33
17, Tại sao Việt Nam. Nxb Đà Nẵng 2000, tr 705
18, Hồ Chí Minh. Biên niên tiểu sử. Nxb CTQG 2006. Tập I, tr 69
19, Bác Hồ sống mãi với chúng ta. Nxb Chính trị quốc gia 2005. Tập II, tr 1147
20, Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb CTQG 2000. Tập I, tr 480
21, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Nxb CTQG 2006. Tập I, tr 41
22, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam, Hội thảo quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1995, tr. 177-183
23, Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại. Nxb Lao Động 2001, tr 90

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Bản sắc văn hóa dân tộc trong hành trình cách mạng Hồ Chí Minh

Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi rõ: “Sự đóng góp về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”(1).

Bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc được kết tinh từ truyền thống lịch sử của chính dân tộc đó. Trải qua hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước, cùng với kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới, nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển. Bằng lao động cần cù, thông minh và ý chí đấu tranh kiên cường, bền bỉ, nhân dân ta đã hun đúc nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc của dân tộc với những giá trị bền vững. “… Đó là lòng yêu nước nồng nàn; ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hoá dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”(2).

Hồ Chí Minh được thế giới suy tôn cùng một lúc với hai danh hiệu cao quý vừa là Anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là Nhà văn hoá lớn. Sự ghi nhận này đã làm sáng tỏ ý nghĩa của những danh hiệu cao quý mà nhân loại trao tặng cho người con vĩ đại đã làm rạng danh đất nước Việt Nam. Đồng thời, cũng là sự đánh giá hết sức khách quan những cống hiến của Hồ Chí Minh trong việc đưa những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần đã làm nên sắc thái riêng của dân tộc Việt Nam trong lịch sử và trong phát triển hoà nhập cùng những giá trị của nền văn hoá của nhân loại và sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại để làm giàu thêm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam của Hồ Chí Minh trong hành trình hoạt động cách mạng của chính Người.

Chịu sự tác động của phương thức sản xuất kinh tế thuộc về văn minh lúa nước nên xã hội Việt Nam được tạo ra chủ yếu bởi ba yếu tố có quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau: Nhà, làng, nước. Đây là một cấu trúc độc đáo của tổ chức xã hội Việt Nam phản ánh sắc thái văn hoá riêng có ở Việt Nam được lưu truyền từ ngàn xưa cho tới ngày nay. Bản chất của kết cấu xã hội này là sự hình thành tư tưởng cộng đồng, yêu thương, đoàn kết, đùm bọc, hoà hợp với nhau; là sự gắn kết giữa cá nhân và tập thể, giữa cái riêng và cái chung để chống chọi với thiên tai và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “Hồ Chí Minh là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết”(3). Vì vậy, nét tinh tuý làm nên bản sắc riêng trong kết cấu Nhà – Làng – Nước này đã thâm nhập vào tiềm thức của Người, trở thành một trong những hành trang Người mang theo mình lúc ra đi tìm chân lý cách mạng và theo sát toàn bộ sự nghiệp hoạt động của Người khi ở trong nước cũng như ở nước ngoài.

Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, trong một gia đình nhà Nho nghèo giàu lòng yêu nước, mọi người trong gia đình sống hoà thuận, êm ấm, trên kính, dưới nhường, luôn quan tâm và thương yêu lẫn nhau. Thân mẫu của Người, bà Hoàng Thị Loan là biểu tượng điển hình của những người phụ nữ Việt Nam truyền thống: Cần cù, chịu khó, đảm đang, tháo vát, thương yêu chồng con vô hạn, sống nhân hậu với bà con làng xóm… Những đức tính quý báu hết lòng vì chồng, vì con của Bà đã có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ, đến tâm hồn, tình cảm của người con Nguyễn Sinh Cung. Với vai trò của người mẹ, Bà đã giáo dục và hướng thiện trực tiếp tới người con của mình bằng câu hát ru:

Làm người đói dạy, rách thơm.
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền.

Và lời hát ru mang đậm âm hưởng giá trị truyền thống văn hoá đó giống như những sợi tơ dệt nên nhân cách của Hồ Chí Minh ngay từ thời thơ ấu. Thân phụ của Người, cụ Nguyễn Sinh Sắc là một nhà Nho yêu nước thương dân. Cụ học rộng, đã đỗ Phó bảng nhưng từ chối không ra làm quan vì Triều đình phong kiến làm tay sai cho giặc, “quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (làm quan ở chốn nô lệ, đã nô lệ, lại càng nô lệ hơn). Khi bị thúc ép nhiều lần, Cụ bắt buộc phải ra làm quan với quan điểm riêng tiến bộ của Cụ “trung quân, ái quốc” là phải yêu nước, thương dân. Cho nên, dù ở cương vị nào Cụ cũng đều thông cảm với người nghèo, luôn dành những tình cảm ưu ái cho trẻ mồ côi, những gia đình bị bọn địa chủ, phong kiến và thực dân đẩy vào hoàn cảnh điêu đứng, khổ ải, lầm than.

Nghệ An – quê hương nơi Hồ Chí Minh cất tiếng khóc chào đời là vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, mang đậm chất văn hoá truyền thống chung của dân tộc và những nét đặc trưng riêng của dải đất miền Trung. Đất nghèo và phải luôn vật lộn mưu sinh trước sự hà khắc của thiên nhiên, địch hoạ nên người dân Xứ Nghệ sớm biết thương yêu, đùm bọc, đoàn kết với nhau để vượt qua mọi thử thách. Đặc biệt, môi trường này đã hun đúc để hình thành tính cách của người dân Xứ Nghệ với các đặc điểm: Lý tưởng trong tâm hồn, trung kiên trong bản chất, cần cù trong lao động, khắc khổ trong sinh hoạt, cứng cỏi trong thử thách, linh hoạt trong quan hệ, tinh tế trong ứng xử… và nổi bật hơn cả là truyền thống giàu lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng.

Như vậy, trước khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), ở Hồ Chí Minh đã hình thành các giá trị và chuẩn mực văn hoá định hướng cho con đường cách mạng của Người với tâm điểm là lòng nhân ái, yêu nước thương dân. Chính từ trong lòng mái ấm gia đình thanh cao cùng với một vùng quê đậm đà câu hát dân ca – nơi ươm trồng nhiều yếu tố văn hoá con người ấy đã nuôi dưỡng trong tâm hồn Hồ Chí Minh một khởi điểm nhân cách trọng nhân nghĩa theo triết lý của Nho gia là “gốc” trong đạo làm người, để rồi sau này, trong chiều sâu tâm linh của Người những đức tính khiêm nhường, ôn hoà, trọng nghĩa, trọng tình, không ham phú quý, không màng danh lợi, ham học hỏi, ham hiểu biết… và đặc biệt là đạo đức “lấy mình làm gương” đều do ảnh hưởng của nếp nhà chân nho ấy.

Dân tộc Việt Namlà dân tộc có truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm. Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh chống quân xâm lược, dân tộc ta đã sinh ra những người con đất Việt giàu lòng yêu quê hương, đất nước, căm thù quân xâm lược, có khí phách quật cường, có lòng dũng cảm, anh hùng bất khuất trước mọi kẻ thù. Tinh thần ấy, khí phách ấy đã hun đúc và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý chí và nghị lực của người thanh niên Nguyễn Tất Thành và bồi dưỡng cho Nguyễn Tất Thành những tư tưởng, tình cảm lớn của dân tộc mà cốt lõi vẫn là tinh thần yêu nước, thương dân. Không chỉ biết đấu tranh bất khuất trước mọi kẻ thù, con người Việt Nam có truyền thống trọng nhân nghĩa, có nếp sống giản dị, chân thành, nhân ái, chịu thương, chịu khó, cần cù, sáng tạo, càng trong khó khăn, hoạn nạn lại càng thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chính nét đẹp truyền thống của con người và đất nước Việt Nam đã tác động sâu sắc đến tâm tư, tình cảm và tâm hồn của Nguyễn Tất Thành và gieo mầm cho những tư tưởng nhân văn và tinh thần quốc tế vô sản của Hồ Chí Minh về sau này.

Nét vượt trội độc đáo ở Hồ Chí Minh là Người vừa bảo tồn và vừa phát triển những giá trị của nền văn hoá dân tộc hoà quyện hài hoà và nhuần nhuyễn với việc tiếp thu và xử lý giá trị văn hoá của nhân loại phù hợp với đặc tính truyền thống của văn hoá Việt Nam. Vì vậy, trong hành trình cách mạng, Hồ Chí Minh luôn kế thừa những giá trị tinh hoa thuộc về nền văn hoá thế giới để làm phong phú, làm giàu cho bản sắc văn hoá dân tộc mình. Điển hình là học thuyết về “Nhân” – học thuyết nhằm giải quyết đạo làm người và xây dựng xã hội có kỷ cương, trật tự… của Nho giáo; lòng nhân ái của Đạo Phật – tinh hoa văn hoá của Ấn Độ; lòng từ bi, bác ái, tính nhân từ và đức hy sinh… của Tôn giáo; tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng tư sản Pháp… nhưng đặc biệt hơn cả là khi Người đến và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, đỉnh cao tư tưởng nhân văn của nhân loại. Trên tinh thần hiểu biết và nhận thức khoa học, Hồ Chí Minh đã thực hiện và lãnh đạo thành công quá trình tiếp biến và thu nhận các giá trị văn hoá của Chủ nghĩa Mác-Lênin như một nhân tố bảo đảm sự cân bằng và tính ổn định để từng bước nâng nền văn hoá của dân tộc ngang tầm thời đại. Nhờ đó, đã kết tinh trong Người những giá trị văn hoá vừa dân tộc, vừa hiện đại, vừa nhân văn. Mà cốt lõi nhất là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con người và niềm tin đối với con người đã trở thành nguồn lực để Hồ Chí Minh trọn đời chiến đấu quên mình vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì hòa bình của nhân loại.

Lòng yêu nước – hạt nhân kết tinh truyền thống văn hoá hàng ngàn năm, là giá trị vĩnh hằng khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Và đó cũng là tài sản có giá trị nhất trong hành trang cứu nước của Hồ Chí Minh. Người cho rằng: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Chỉ có tinh thần yêu nước thì dân tộc ta dù phải trải qua nghìn năm Bắc thuộc và 80 năm dưới chế độ đô hộ của thực dân Pháp nhưng vẫn khẳng định được bản lĩnh anh hùng, không chịu khuất phục trước kẻ thù. Tinh thần yêu nước đó cũng là cơ sở, động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình cách mạng của Hồ Chí Minh và trở thành nền tảng vững chắc để Người gửi gắm lại niềm lạc quan và tin tưởng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta dù có “phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn”(4).

Yêu nước là phải thương dân, đó là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Trong con người Hồ Chí Minh, tình yêu nước thương dân, đạo đức thuỷ chung và sâu sắc của lớp lớp cha ông trước kia luôn hiện hữu nhưng đã được Người vận dụng sáng tạo cho phù hợp với thời đại. Với người cách mạng thì sức thuyết phục và cảm hoá hiệu quả nhất là phải làm gương qua hành động, “lời nói đi đôi với việc làm”chứ không bằng lý thuyết suông. Hồ Chí Minh khẳng định sự ham muốn tột bậc của mình là làm sao cho “nước ta được độc lập, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(5), “mọi người được ăn no, mặc ấm, được sung sướng, tự do” thì trong suốt cuộc đời, từ lúc cất bước ra đi tìm đường cứu nước – ngày 5/6/1911 cho đến khi về với thế giới Người hiền gặp cụ Lênin và Các-Mác, Người đã cống hiến không ngừng nghỉ, chấp nhận mọi khó khăn, gian khổ, thậm chí là cả tính mạng của mình để kiên quyết thực hiện cho bằng được ham muốn đã trở thành mục tiêu, lý tưởng và khát vọng của Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Những khi tôi ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó”(6). Khi đất nước mới giành được độc lập, tự do, trước nạn “giặc đói” đang đe doạ trầm trọng đến tính mạng của người dân nghèo, Hồ Chí Minh đã phát huy giá trị truyền thống “cộng đồng dân tộc Việt”, tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Ngưòi trong một nước phải thương nhau cùng” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”… thành phương châm hành động cụ thể, kêu gọi mọi người cùng nhường cơm, sẻ áo giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, hoạn nạn và chính Người cũng đã gương mẫu thực hiện 10 ngày nhịn ăn một bữa. Khi đất nước còn chiến tranh, miền Nam chưa được giải phóng và còn phải đổ máu ngày nào thì ngày đó Người ăn không ngon, ngủ không yên. Và cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời Người vẫn trọn vẹn “để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”(7).

Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý là nền tảng của giá trị văn hoá Việt Nam: “dân vi bang bản, bản cố bang ninh” (dân là gốc của nước, nước có vững dân mới yên ổn), “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ)… Nền tảng giá trị này đã được Hồ Chí Minh sử dụng xuyên suốt trong hành trình hoạt động cách mạng của Người mà trước hết được biểu hiện ở lòng tôn quý của Hồ Chí Minh về vai trò của con người và được Người khái quát qua triết lý của cuộc sống: nghĩ cho cùng, mọi vấn đề là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải yêu nước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, áp bức. Người khẳng định: “Lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của tôi không bao giờ thay đổi”(8). Như vậy, từ “thương người như thể thương thân” vốn là một khía cạnh đặc sắc trong bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam đã được Hồ Chí Minh tiếp nối và phát huy ở một tầm cao mới, mang một nội dung mới, sâu sắc và toàn diện. Tình thương đó, trước hết dành cho nhân dân lao động, cho những người cùng khổ bị áp bức, đoạ đày. Từ tình thương yêu đồng bào mình, dân tộc mình, Người mở rộng lòng yêu thương đó đến tất cả nhân loại khổ đau bởi áp bức, bóc lột, bất công. Đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, tình yêu thương con người đã được Hồ Chí Minh nâng lên thành chủ nghĩa nhân văn cách mạng. Người quan niệm: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân và:

“Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(9).

Do đó, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn dành thời gian gặp gỡ các tầng lớp nhân dân, chân thành lắng nghe ý kiến, cũng như quan tâm đến đời sống của người dân. Không những thế Người còn hoà đồng, đi sâu, đi sát với nhân dân trong cuộc sống, trong công việc, để từ đó, ân cần chỉ rõ, động viên, khuyến khích họ tự vươn lên, phấn đấu làm cho cái tốt nảy nở lấn át cái xấu và làm cho cái xấu từng bước bị mất đi. Với quan điểm, người cách mạng phải biết hy sinh cái “tôi” của chính mình và “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(10), Người luôn căn dặn, giáo dục Đảng ta “một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân” (11), đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết và “phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(12).

Chiều sâu của mọi giá trị văn hoá quy tụ lại ở giá trị con người. Vì vậy, đào tạo nguồn lực con người “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, chăm lo đến thế hệ trẻ được coi là nét nổi bật trong truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Thẩm thấu quan điểm đúng đắn của cha ông nên trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, bên cạnh việc luôn quan tâm đến vấn đề con người thì Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng đến sự nghiệp trồng người “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” với niềm tin vào vai trò làm chủ đất nước của thế hệ tương lai “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không? Dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(13).

Nhân và nghĩa luôn gắn với nhau trong nền văn hoá dân tộc, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” hay “phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu” (Nguyễn Trãi), “Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ” (Trần Quốc Tuấn)… cùng với lòng khoan dung, độ lượng, vị tha… là những đức tính thể hiện sự tinh tế trong văn hoá ứng xử, là cái gốc để “đối xử với người” và “tự xử với mình”. Nếu trước đây, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, ông cha ta không chỉ tha cho kẻ thù bại trận mà còn cấp cho chúng hàng trăm chiếc thuyền, hàng nghìn cỗ ngựa để cho chúng trở về nước thì ở Hồ Chí Minh sự khoan dung, độ lượng và vị tha của Người đã làm cảm hoá khối óc và trái tim của không ít những người đứng bên kia trận tuyến. Những người ngày hôm qua vẫn còn là kẻ thù không đội trời chung của dân tộc, đến ngày hôm nay đã trở thành những kẻ chiến binh thất bại thì Người cũng đã lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân để thay cường bạo, Ngườicăn dặn: “…Phải chăm sóc hết sức chu đáo, đối xử thật nhã nhặn để tỏ rõ sự ân cần của ta đối với người Pháp, để cho họ thấy rõ: Ta chiến đấu vì tiền đồ của quốc gia và dân tộc Việt Nam, chứ không có ý ghét bỏ người Pháp. Khẩu phần ăn của họ phải hơn người Việt Nam. Tổ chức việc nấu ăn và chăm nom họ cho kỹ lưỡng”(14). Đến thăm trại tù binh trong chiến dịch Biên giới, thấy một sĩ quan Pháp đang run lên vì lạnh, Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo ấm Người đang mặc đưa cho anh ta. Viên sĩ quan Pháp giơ tay nhận chiếc áo mà cảm động rơi nước mắt. Giăng Xanhtơny, người đại diện cho Chính phủ Pháp đảm nhiệm việc đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh thời kỳ 1945-1946, đã viết về Hồ Chí Minh bằng những lời rất trân trọng trong tập hồi ký Một nền hoà bình bị bỏ lỡ: “Hồ Chí Minh – đó là một nhân vật đang phải đối đầu và tôi là người đối thoại trong suốt 16 tháng. Do hiểu biết rộng, thông minh, hoạt động rất tích cực, tuyệt đối không nghĩ tới chuyện riêng tư, ông đã được nhân dân kính yêu, tin tưởng không ai sánh kịp. Rất tiếc là hồi đó Chính phủ Pháp đã đánh giá thấp nhân vật này và đã không hiểu được giá trị cũng như uy lực của ông”(15). Đến cuối đời, Giăng Xanhtơny đã phải thú nhận: Hồ Chí Minh là người đã đánh đắm cả chế độ thực dân Pháp nhưng vẫn là bạn của nước Pháp.

Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện độc đáo của văn hoá đạo đức thông qua cách ứng xử, nếp sống, lối sinh hoạt mang tính cộng đồng “mình vì mọi người”, theo khuôn mẫu giá trị xã hội. Ở Hồ Chí Minh thì ngay từ năm 1923, khi tiếp xúc với Người, nhà thơ Xô viết Mandenstam đã cảm nhận thấy qua Nguyễn Ái Quốc, mọi người có thể hiểu dân tộc Việt Nam là “một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái qua. Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc cũng đang toát ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị”. “Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”. “Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai”(16). Như vậy, Hồ Chí Minh đã thực sự là một hiện tượng văn hoá độc đáo của dân tộc và thế giới trong thời đại ngày nay. Hiện tượng văn hoá độc đáo ấy thể hiện chân thực và cảm động trong toàn bộ con người, sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh thông qua cuộc sống đời thường bình dị nhưng vĩ đại của Người. Đúng như nhà báo Mỹ Đavít Hanbớtstem đã viết: “Đó là sức mạnh của ông Hồ, vì Ông là người Việt Nam của quần chúng và bởi thế cho nên Ông không thích dinh thự và đồng phục của thống chế, của các vị tướng. Ông thường mặc bộ quần áo đơn giản chỉ khác người nông dân nghèo nhất, phong cách mà người phương Tây đã chế diễu nhiều năm. Cho đến một ngày nọ, họ mới hiểu mà nhận ra rằng, chính cái giản dị ấy là cơ sở cho sự thành công của Ông. Địa vị càng cao, Ông càng giản dị, trong sạch hơn. Hình như Ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”(17).

Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hoá là dân tộc đó đã tự đánh mất chính mình. Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, ông cha ta đã kiên cường, thông minh và sáng tạo để bảo vệ và chuyển giao cho thế hệ mai sau những di sản văn hoá vô giá mang đậm bản sắc dân tộc độc đáo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong thời đại Hồ Chí Minh, bản sắc văn hoá của dân tộc tiếp tục in đậm trong Nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh và Người là hiện thân của tất cả những gì là tinh hoa nhất trong truyền thống văn hoá hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Không những thế, Hồ Chí Minh còn khẳng định được những giá trị cao quý của nền văn hoá dân tộc trong sự phát triển chung của nền văn hoá nhân loại và trên nền tảng đó Người đã tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại để làm phong phú và phát triển hơn nữa nền văn hoá Việt Nam.

Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Vì vậy, trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới hiện nay để tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại, Đảng luôn quan tâm đến công tác văn hoá và phát triển sự nghiệp văn hoá của nước nhà. “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kế thừa, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội. Xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi, sống có văn hoá, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính”(18).

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân và đất nước ta. Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử”(19). Tiếp bước con đường vinh quang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ người Việt Nam nhất định sẽ bảo vệ, kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới những giá trị văn hoá truyền thống mà cha ông ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại, tạo nền tảng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện của dân tộc ta phát triển nhanh, mạnh, bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Th.s Cao Hải Yến
Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Tâm Trang (st)

(1). Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXBKHXH, Hà Nội-1990, Tr.9-10
(2). Đảng CSVN, Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm BCHTW khoá VIII, NXBCTQG, Hà Nội-1998, Tr.56
(3). Phạm Văn Đồng, “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc Việt Nam”, Học tập đạo đác cách mạng Hồ Chí Minh, NXB Thông tấn, Hà Nội-2007, Tr.315.
(4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.12, Tr.509.
(5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1995, T.4, Tr.161.
(6). Hồ Chí Minh, Về văn hoá, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội-1997
(7) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.12, Tr.512..
(8). Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình hình thành và nội dung cơ bản, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội-1993, T.1, Tr.47
(9). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1995, T.5, Tr.79
(10) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.7, Tr.544.
(11) .Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.6, Tr.416.
(12) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.12, Tr.510.
(13) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXBCTQG, Hà Nội-1995, T.4, Tr.33
(14) . Lê Văn Hiến, Nhật ký của một Bộ trưởng, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng -1995, Tr.6.
(15). Lê Kim, Bác Hồ tiếp xúc với tình báo đối phương, NXB Đà Nẵng – 1990, Tr.81
(16). Nhiều tác giả (biên soạn), Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động – 2000, Tr.143.
(17) . Vũ Kỳ, Bác Hồ viết Di chúc, NXB Văn hoá, Hà Nội-1998, Tr.19.
(18). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, Hà Nội-2011, Tr.40
(19) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, “Điếu văn của BCHTƯ Đảng Lao động Việt Nam”, Sdd, Hà Nội-1996, T.12, Tr.510.

bqllang.gov.vn

Tóm tắt cuộc đời hoạt động Cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

THỜI THƠ ẤU VÀ THANH NIÊN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
(1890-1911)

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 nǎm 1890 tại quê ngoại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho.

Thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Sinh Sắc, sinh nǎm 1862 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nhưng ông sớm có ý chí tự lập, thông minh, ham học.

Nǎm 1901 Nguyễn Sinh Sắc thi Hội và đậu Phó bảng. Tuy đỗ cao nhưng ông vẫn sống rất thanh bạch, khiêm tốn, ghét thói xu nịnh, cam phận của các quan lại trong triều đình Huế. Ông chỉ làm quan trong một thời gian ngắn và sau đó sống bằng nghề dạy học, bắt mạch bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Ông đã đi nhiều nơi, liên lạc với những người yêu nước, tuyên truyền đoàn kết, kêu gọi nhân dân sống có tình nghĩa thủy chung. Tư tưởng yêu nước tiến bộ, nhân cách cao thượng của ông đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến những người con. Ông qua đời tại thị xã Cao Lãnh (Đồng Tháp) vào nǎm 1929, thọ 67 tuổi.

Thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị Loan sinh nǎm 1868 trong một gia đình nho học. Bà là một phụ nữ thông minh, cần cù chịu khó, thương yêu chồng con và giàu lòng nhân ái. Bằng nghề làm ruộng và dệt vải bà đã hết lòng chǎm lo cho chồng và các con. Cuộc đời của bà tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại hình ảnh về một phụ nữ Việt Nam sống có tình nghĩa và có ảnh hưởng rất lớn tới tư cách của các con mình. Bà Hoàng Thị Loan qua đời tại Huế nǎm 1901, lúc 33 tuổi.

Chị gái Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Thị Thanh, sinh nǎm 1884. Chị đã tham gia nhiều phong trào yêu nước, nhiều lần bị thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt giam. Nguyễn Thị Thanh qua đời tại quê hương nǎm 1954, thọ 70 tuổi.

Anh trai Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Khiêm, sinh nǎm 1888. Từ tuổi thanh niên, Nguyễn Sinh Khiêm đã đi nhiều nơi truyền thụ kiến thức, mở mang vǎn hoá. Do tham gia các hoạt động yêu nước chống thực dân và phong kiến nên Nguyễn Sinh Khiêm đã từng bị tù đày nhiều nǎm. Nguyễn Sinh Khiêm qua đời nǎm 1950, thọ 62 tuổi.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TIẾP NHẬN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VÀ KHẲNG ĐỊNH CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
(1911-1920)

Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam do Nguyễn A'i Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây (Versailles)

Ngày 5 tháng 6 nǎm 1911, với bí danh Vǎn Ba, Nguyễn Tất Thành(1) nhận làm phụ bếp cho tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville) của hãng Nǎm sao, rời Sài Gòn đi Mác-xây (Marseille) Pháp, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Từ nǎm 1911 đến nǎm 1920, Nguyễn Tất Thành đã đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi , châu Mỹ, nghiên cứu và học hỏi để quyết định con đường Cứu nước.

Cuối nǎm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp. ở đây anh được biết ở nước Nga V.I Lênin đã lãnh đạo cách mạng thành công, sáng lập Nhà nước công nông đầu tiên trên thếgiới, bảo vệ quyền lợi của đại đa số nhân dân lao động. Tin vui ấy đã cổ vũ lòng hǎng hái của Nguyễn Tất Thành.

Nǎm 1918, chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc. Nǎm 1919 các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị Véc-xây (Versailles). Nhân dịp này thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn A’i Quốc (tên mới của Nguyễn Tất Thành) đã gửi tới Hội nghị bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam.

Tháng 7 nǎm 1920 qua báo Nhân đạo (L’Humanité) Pháp, Nguyễn A’i Quốc được đọc Luận cương của V.I Lê nin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Sau này nhớ lại niềm sung sướng khi đọc Luận cương của V. I Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Luận cương của V. I Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên nhu đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ.! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta.”

Nguyễn A'i Quốc phát biểu tại Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tours nǎm 1920

Nguyễn A’i Quốc là đại biểu duy nhất của nhân dân Đông Dương tham dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tua (Tours). Tại Đại hội này Anh đã cùng với những nhà hoạt động chính trị và vǎn hoá nổi tiếng của Pháp như: Macxen Casanh (Marcel Cachin), Pôn Vayǎng Cutưyariê (Paul Vaillant Couturier)… bảo vệ chủ nghĩa Mác, chống lại những người cơ hội. Trên diễn đàn của Đại hội, Nguyễn A’i Quốc đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, kêu gọi giai cấp công nhân và nhân dân Pháp ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và nhân dân các thuộc địa khác. Người đề nghị: “Đảng xã hội cần phải hoạt động một cách thiết thực để ủng hộ những người bản xứ bị áp bức … Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa. Chúng tôi thấyrằng việc Đảng xã hội gia nhập Quốc tế thứ ba có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể là từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa“. Cũng tại Đại hội này Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Sau Đại hội Tua, người cộng sản Việt Nam đầu tiên Nguyễn A’i Quốc bắt tay ngay vào hoạt động nhằm đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân các thuộc địa đấu tranh chống áp bức, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO
ĐƯỜNG LỐI CỦA V.I LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ THUỘC ĐỊA
(1920-1924)

Bìa sách "Bản án chế độ thực dân Pháp"

Nǎm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp thành lập Hội liên hiệp thuộc địa nhằm tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Điều lệ của Hội nêu rõ: “Mục đích của Hội là tập hợp và hướng dẫn cho mọi người dân các xử thuộc địa hiện sống trên đất Pháp để soi sáng cho những người dân ở thuộc địa về tình hình mọi mặt ở nước Pháp nhằm mục đích đoàn kết họ; thảo luận và nghiên cứu tất cả những vấn đề chính trị và kinh tế của thuộc địa”. Tuyên ngôn của Hội kêu gọi nhân dân thuộc địa đoàn kết đấu tranh tự giải phóng và nhấn mạnh “Vận dụng công thức của Các Mác chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện bằng sự nỗ lực của bản thân anh em. Hội liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy“.

Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động cách mạng ở các thuộc địa, Hội liên hiệp thuộc địa đã xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ). Nguyễn A’i Quốc là linh hồn của tờ báo, vừa là chủ nhiệm, kiêm chủ bút, thủ quỹ, báo xuất bản bằng tiếng Pháp nhưng ở trang đầu còn có tên báo bằng chữ ả rập và chữ Hán. Số 1 của tờ báo ra ngày 1 tháng 4 nǎm 1922, trong đó có lời kêu gọi nêu rõ: Báo Le Paria ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Ma-đa-gat-xca, ở Đông Dương, Ǎng ti và Guyannơ… Báo kêu gọi họ đoàn kết lại để đấu tranh cho sự tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ, hô hào họ tổ chức lại nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi những lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và hữu ái… Báo Le Paria là vũ khí chiến đấu. Sứ mệnh của nó đã rõ ràng: giải phóng con người.

Tác phẩm của Nguyễn A’i Quốc “Bản án chế độ thực dân Pháp” được xuất bản vào cuối nǎm 1925. Nhiều bài trong tác phẩm đã được đǎng báo Le Paria và một số báo, tạp chí ở Pháp và Liên Xô. Bằng những chứng cớ và số liệu cụ thể, những người thật việc thật Nguyễn A’i Quốc đã thức tỉnh nhân dân các thuộc địa, đồng thời chỉ ra con đường đấu tranh của cách mạng thuộc địa, Nguyễn A’i Quốc chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi thì cái vòi còn lại kia sẽ tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra“.

Nhà số 13 và 13/1 (nay là 248-250) đường Vǎn Minh, (Quảng Châu), nơi Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam

Trong bài viết nhan đề “Đông Dương” đǎng trong Tạp chí Cộng sản (La Revue Communiste) số 15 tháng 5 nǎm 1921, Nguyễn A’i Quốc nhấn mạnh : “Ngày mà hàng trǎm triệu nhân dân châu A’ bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc họ có thể giúp nhũng người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn“.

Tháng 6 nǎm 1923, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn A’i Quốc rời nước Pháp sang Liên Xô. Được thực tiễn cách mạng Nga lúc đó cổ vũ, Nguyễn A’i Quốc kiên trì đấu tranh bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự chú ý của Quốc tế Cộng sản tới phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa.

Nguyễn A’i Quốc đặc biệt quan tâm tới tình cảnh của người nông dân trong các nước thuộc địa. Họ chiếm đại đa số trong xã hội và cách mạng thuộc địa không thể thắng lợi nếu không có sự tham gia của đông đảo nông dân. Tại Hội nghị lần thứ I Quốc tế Nông dân (tháng 10 nǎm 1923) Nguyễn A’i Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và được cử vào đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người còn được mời làm chuyên gia của Ban thư ký giúp Hội đồng chuẩn bị nội dung cho các cuộc họp và là chuyên gia về những công việc liên quan đến các thuộc địa.

Người viết nhiều bài báo về tình cảnh nông dân Bắc Phi, nông dân Trung Quốc, nông dân Việt Nam. Trong bài phát biểu tại Hội nghị Quốc tế Nông dân, Nguyễn A’i Quốc đã tố cáo những thủ đoạn thực dân để biến nông dân thành nô lệ với hai bàn tay trắng. Vì vậy người nông dân không còn đường sống mà phải đấu tranh, họ là lực lượng cách mạng vô cùng to lớn. Kết thúc bài phát biểu Nguyễn A’i Quốc kêu gọi: “Thưa các đồng chí, tôi phải nhắc lại với các đồng chí rằng Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia Quốc tế của các đồng chí“.

Trong các bài phát biểu tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (nǎm 1924) Nguyễn A’i Quốc đã đề cập vấn đề về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc, kêu gọi sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới với cách mạng thuộc địa. Tại phiên họp XXV ngày 3 tháng 7 nǎm 1924 Nguyễn A’i Quốc chỉ rõ: “Trong tất cả các thuộc địa Pháp, nạn nghèo đói đều tǎng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Trong nhiều nước thuộc địa họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức , thiếu người lãnh đạo. Quốc tế cộng sản phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đườngđi tới cách mạng và giải phóng“.

Cuối nǎm 1924 Nguyễn A’i Quốc yêu cầu được trở về châu A’ để thực hiện hoài bão giải phóng nhân dân các dân tộc thuộc địa, trong đó có nhân dân Việt Nam

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SÁNG LẬP CHÍNH ĐẢNG CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
(1924-1930)

Bìa sách "Đường Cách mệnh" - Tác phẩm lý luận cách mạng Việt Nam

Ngày 11 tháng 11 nǎm 1924 Nguyễn A’i Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Trong báo cáo gửi Chủ tịch Đoàn quốc tế cộng sản ngày 18 tháng 12 nǎm 1924, Nguyễn A’i quốc đã thông báo về việc đã tiếp xúc với nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu để huấn luyện về phương pháp hoạt động tổ chức và sau ba tháng học xong sẽ trở về Đông Dương, và có một đoàn khác sang. Người nhấn mạnh: “Trong lúc này, đây là biện pháp duy nhất“.

Nguyễn A’i Quốc đã cùng một số đồng chí trực tiếp giảng bài cho các lớp huấn luyện. Những bài giảng của Người được tập hợp in thành sách mang tên “Đường Cách mệnh” xuất bản nǎm 1927. Một trong những vấn đề đầu tiên Nguyễn A’i Quốc đặc biệt quan tâm là đào tạo những người tự nguyện hy sinh phấn đấu suốt đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; hiểu lý luận Mác – Lênin; biết đoàn kết và tổ chức nhân dân cùng phấn đấu vì sự nghiệp chung. Phân tích những bài học kinh nghiệm của nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, Nguyễn A’i Quốc nêu rõ cách mạng Việt Nam phải theo gương cách mạng Nga đánh đuổi đế quốc giành độc lập dân tộc, đánh đổ phong kiến tay sai đem lại ruộng đất cho nông dân.

Người nói: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật… Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công phải lấy dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền“.

Tháng 6 nǎm 1925, trên cơ sở số cán bộ được huấn luyện, Nguyễn A’i Quốc thành lập Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng”, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 21 tháng 6 nǎm 1925, báo “Thanh niên” ra đời. Đây là tờ báo cách mạng làm nhiệm vụ tuyên truyền giới thiệu về chủ nghĩa Lênin và cách mạng Tháng Mười Nga; giải thích đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Báo là người tuyên truyền tập thể, người cổ động và tổ chức tập thể, góp phần quan trọng vào việc xúc tiến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5 nǎm 1927, Nguyễn A’i Quốc, rời Quảng Châu, đi Mátxcơva, sau đó đi Béc lin, tham dự Hội nghị Ban chấp hành mở rộng của Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc tại Brúc xen (Bỉ), đi Y’ và trở về Xiêm (Thái Lan). Cuối nǎm 1929, Người trở lại Trung Quốc, triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào cầu nǎm 1930

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – NGƯỜI TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THẮNG LỢI
VÀ SÁNG LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
(1930-1945)

Sau cao trào 1930-1931, sự khủng bố của thực dân Pháp càng gắt gao hơn, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tù đày, giết hại. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1931, Nguyễn A’i Quốc bị chính quyền Anh bắt giam trái phép tại Hồng Kông (Trung Quốc).

Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945

Cuối nǎm 1933, Nguyễn A’i Quốc rời Hồng Kông. Đầu nǎm 1934 Người trở lại Liên Xô. Tại đây Người vào học trường Quốc tế Lênin, nghiên cứu ở Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước trong hnh hình chủ nghĩa phát xít đã công khai đàn áp mọi phong trào dân chủ và hoà bình. Trong nhiều tài liệu Nguyễn A’i Quốc nêu lên sách lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kỳ 1936-1939, nhấn mạnh vấn đề tập hợp mọi tầng lớp nhân dân và thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đấu tranh đòi tự do, dân chủ và hoà bình.

Trước những chuyển biến của tình hình thế giới, tháng 10 nǎm 1938, Nguyễn A’i Quốc rời Liên Xô về Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1940 phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương. Cuối nǎm 1940

Người về sát biên giới Việt – Trung , bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước. Người đã mở lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị cán bộ đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Người nêu rõ trong tài liệu huấn luyện: “Sự nghiệp giải phóng dân tộc là sự nghiệp chung của các dân tộc, các giai cấp bị bóc lột ở Đông Dương. Toàn thể nhân dân Đông Dương không phân biệt dân tộc nào, giai cấp nào đều phải đồng tâm hiệp hội đoàn kết cùng nhau mới làm nổi“.

Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Nguyễn A’i Quốc về nước, Người chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn A’i Quốc chủ trì, nơi ra báo Việt Nam độc lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Nguyễn A’i Quốc chọn làm chỗ ở và làm việc của mình.

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Nguyễn A’i Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung, ai là ngườiViệt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề“.

Tháng 8 nǎm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh và với tư cách là đại diện Mặt trậnViệt Minh và phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, Người sang Trung Quốc. Ngày 29-8-1942 Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam, sau đó bị giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù”. Đến nay “Nhật ký trong tù” đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng.

Tháng 9 nǎm 1943, Hồ Chí Minh được trả lại tự do. Tháng 3 nǎm 1944, Người tham dự Hội nghị các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này Người đã đọc báo cáo về hoạt động của Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản, nêu rõ tiền đồ của sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mối quan hệ mật thiết và lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1944, Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng. Người gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của quân đội nhân dânViệt Nam.

Ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Cuộc chiến tranh thế giới thứ I cũng bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô các nước Đồng minh. Ngày 4 tháng 5 nǎm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) sau sự kiện Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản (ngày 9 tháng 8 nǎm 1945) và ồ ạt tiến công đạo quân Quan Đông của chúng, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima (6-8), và Nagadaki (9-8), ngày 10 tháng 8 phe Đồng minh đã gửi công hàm yêu cầu Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Chớp thời cơ ấy, ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào ngày 13 tháng 8 nǎm 1945. Hội nghị thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa, thành lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngày 16 tháng 8 nǎm 1945 Quốc dân đại hội Tân Trào đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát động khởi nghĩa của Đảng. Đại hội đã bầu ra ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trong bức thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến; toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên“. Ngày 19-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23-8 thắng lợi ở Huế, ngày 25 tháng 8 thắng lợi ở Sài Gòn.

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy“.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGƯỜI TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH
GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(1946-1954)

Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân đấu tranh xây dựng, củng cố và giữ vững chính quyền non trẻ. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời 3-9-1945, Người đề ra những nhiệm vụ cấp bách lúc đó là động viên toàn dân chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Bác thǎm một gia đình ở Việt Bắc

Để giữ vững thành quả cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những biện pháp cần thiết để xây dựng hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương tới địa phương, một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng tháng 10 nǎm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với dân phải đoàn kết thành một khối…. Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp Nhật.

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu tới việc xây dựng chính sách đại đoàn kết dân tộc. Ngày 3 tháng 12 nǎm 1945, Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Nhân dịp này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi tới đồng bào các dân tộc thiểu số, Người khẳng định: “Nhờ sự đoàn kết giữa các dân tộc, nhờ sự hy sinh của tất cả các đại biểu mà chúng ta tranh được quyền tự do độc lập và xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Từ đây về sau các dân tộc đã đoàn kết phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phải phấn đấu thêm nữa, để giữ gìn quyền độc lập cho vững vàng để xây dựng một nước Việt Nam mới“. Một phần quan trọng trong trưng bày ở phần này là giới thiệu các tài liệu hiện vật về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bảo vệ nền độc lập, giữ vững hoà bình ở Việt Nam. Trong bức thư ngày 23 tháng 11 nǎm 1946 gửi người Việt Nam, người Pháp và thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Trong khi phải giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng phải kiên quyết hy sinh…. Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc“.

Trước dã tâm của thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước. Sáng ngày 20 tháng 12nǎm 1946, trên làn sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, lời kêu gọi cứu nước của Người đã truyền đi khắp nước:

Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng quyết định chiến cục Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ

Một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo kháng chiến thắng lợi là sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể về xây dựng Đảng nhằm nâng cao vai trò tập hợp, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân. Trong tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” viết nǎm 1947, Người nêu lên những kinh nghiệm, những bài học thực tiễn có tính lý luận, bồi dưỡng tác phong lãnh đạo của người đảng viên cộng sản. Người đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao tư cách và đạo đức cách mạng của đảng viên và khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng phong trào Thi đua yêu nước. Người nhắc nhở toàn dân: “Mỗi một người lấy việc xung phong trong phong trào thi đua ái quốc làm nhiệm vụ thiêng liêng của mình“. Người yêu cầu các cán bộ Đảng, Chính quyền và các đoàn thể phải thấm nhuần và thực hiện tư tưởng: “Nước lấy dân làm gốc“, và chỉ rõ: “Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân, vậy tất cả anh chị em, các bộ đội cơ quan chính phủ và các đoàn thể trong khi tiếp xúc hoặc chung sống với dân, ai cũng phải nhớ và thực hành.

Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân“.

Tháng 2 nǎm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng khai mạc tại chiến khu Việt Bắc. Trong Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ chính trị của Đảng là : Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam, Người nói: “Chúng ta phải có một Đảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh cho đến thắng lợi Đảng Lao động Việt Nam phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi, các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó“.

Ngày 6 tháng 12 nǎm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị Trung ương Đảng thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Người chỉ thị cho Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân toàn dân, toàn Đảng, phải tập trung hoàn thành cho kỳ được“.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC
VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ XÂM LƯỢC, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
(1954-1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch nǎm 1961

Trở lại Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn cách mạng mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ của nhân dân Việt Nam là thi hành đúng Hiệp nghị Giơ ne vơ nǎm 1954 về Đông Dương; củng cố hoà bình, đấu tranh để thực hiện thống nhất đất nước bằng Tổng tuyển cử tự do; củng cố miền Bắc về mọi mặt; mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong cả nước. Đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, Người nhắc nhở đảng viên phải phấn đấu, chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng, coi đó là nền tảng của mỗi đảng viên để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình. Nǎm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng“, trong đó Người nêu lên tư cách của một người đảng viên là: Phải trung thành tuyệt đối với Đảng, quyết tâm suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng; ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi ích của cá nhân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì Đảng vì dân mà đấu tranh; gương mẫu trong mọi việc, ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và đồng chí mình tiến bộ.

Về phần mình, lời nói đi đôi với việc làm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là gương sáng về thực hành đạo đức cách mạng. Những kỷ vật của Người để lại được giới thiệu trong bảo tàng (như bộ quần áo gụ, đôi dép cao su v.v…) không chỉ nói về cuộc sống giản dị, đức khiêm tốn của một con người mà còn nói lên nhân cách của một vị lãnh tụ của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một ngày Tổ quốc chưa thống nhất, miền Nam chưa được giải phóng là một ngày tôi ǎn không ngon, ngủ không yên“.

Người luôn dành tình cảm sâu đậm với miền Nam, quan tâm theo dõi và cổ vũ từng bước tiến của cách mạng miền Nam. Trong Thư gửi đồng bào cả nước ngày 6 tháng 7 nǎm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn hết là một lực lượng tất thắng“. Đồng bào miền Nam luôn hướng về Bác Hồ, về Thủ đô Hà Nội, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những vật lưu niệm từ miền Nam gửi tới Người được trưng bày đã nói lên tình cảm tha thiết của nhân dân miền Nam đối với Người.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9 nǎm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà“. Đại hội đã bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất. Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên toàn Đảng toàn dân vừa xây dựng, phát triển kinh tế, giữ gìn và phát triển nền vǎn hoá dân tộc, vừa chǎm lo đến đời sống hàng ngày của nhân dân. Người cổ vũ nhân dân miền Nam ruột thịt đang chiến dấu anh dũng để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng con người mới, Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa“. Người đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và chỉ rõ: “Trong công tác giáo dục phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực hành, giữa giáo dục với lao động, vǎn hoá với đạo đức cách mạng; phải đẩy mạnh phong trào thi đua hai tốt: Dạy thật tốt và học thật tốt “.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao nhiệm vụ miền Bắc phải là nền tảng, là niềm tin đối với đồng bào miền Nam.

Nǎm 1962, khi tiếp Đoàn đại biểu nhân dân miền Nam ra thǎm miền Bắc, Chủ tịch Hổ Chí Minh nói: “Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi“. Người mong muốn miền Nam sớm được giải phóng để vào thǎm đồng bào, cán bộ và chiến sĩ thân yêu. Nǎm 1963 khi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị tặng Huân chương Sao vàng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đề nghị: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý đó. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng“.

Tháng 8 nǎm 1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ“, và từ tháng 2 nǎm 1965 đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc và ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam: “Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước“. Tháng 7 nǎm 1966 Mỹ đã dùng máy bay ném bom Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên nhân dân Việt Nam vượt qua hy sinh gian khổ và kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với nhân dânViệt Nam và luôn gắn cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong những nǎm kháng chiến cứu nước gian khổ, Người nói với nhân dân Việt Nam: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hoà bình thế giới“. Tháng 11 nǎm 1964, Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 64 đoàn đại biểu của 52 nước và tổ chức quốc tế là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam.

Về quan hệ với nước Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phân biệt sự khác nhau giữa những người Mỹ xâm lược và nhân dân Mỹ; Người thông cảm sâu sắc với nỗi đau của những gia đình, những người phụ nữ Mỹ có người thân tham gia cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều thư gửi nhân dân Mỹ, coi họ là những người bạn thân thiết. Trong bức thư gửi nhân dân Mỹ tháng 1 nǎm 1962, Người viết: “Nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam không thù oán gì nhau. Nhân dân Việt Nam kính trọng các bạn là nước đầu tiên phất cờ chống chủ nghĩa thực dân và chúng tôi mong muốn có quan hệ hữu nghị với các bạn“.

Từ nǎm 1965, khi tròn 75 tuổi, chuẩn bị cho cuộc “ra đi” của mình, Bác Hồ bắt đầu viết Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta. Trong những nǎm còn lại, cứ đến tháng 5, Bác Hồ lại sửa chữa và viết thêm vào vǎn kiện “tuyệt đối bí mật” này. Trong Di chúc Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, vǎn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sốngcủa nhân dân…“.

Vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 nǎm 1969, trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về những ngày tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội:

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa….

(1) Tên gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nǎm 1901

phuly.edu.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về cách lãnh đạo

Lãnh đạo đúng nghĩa là:

1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.

2. Phải tổ chức thi hành cho đúng. Mà muốn vậy không có dân chúng góp sức thì không xong.

3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng có quần chúng giúp mới được.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 5, tr.285-286.

Đảng phải:

…Lập chương trình hành động cụ thể trong từng huyện và từng tỉnh.

Phân phối đảng viên (như nhà binh phân phối binh sĩ).

Các đồng chí phụ trách một vùng hay một công tác nào đó phải lập chương trình hành động cho mỗi đồng chí trong mỗi một tổ chức.

Các ban chấp ủy phải quản lý và kiểm soát rất tỉ mỉ việc thi hành các chương trình hành động đó.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 3, tr.75.

Bất kỳ công việc gì, cũng phải dùng hai cách lãnh đạo sau đây: một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng. Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng.

Sđd, tập 5, tr.288.

Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Sđd, tập 6, tr.88.

Công việc càng gay go thì sự lãnh đạo càng phải liên hợp chặt chẽ với quần chúng, càng phải liên hợp chặt chẽ chính sách chung với chỉ đạo riêng, để phá tan cách lãnh đạo lờ mờ, quan liêu, chủ quan, bàn giấy.

Sđd, tập 5, tr.293.

Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng.

…Vì vậy, trong công việc chỉnh đốn Đảng, cũng như trong mọi công việc khác, quyết phải thực hành cách liên hợp sự lãnh đạo với quần chúng và liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng.

Sđd, tập 5, tr.290-291.

Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài.

Sđd, tập 5, tr.241.

…Cơ quan lãnh đạo cấp trên cần phải kinh qua những người phụ trách chung của cơ quan lãnh đạo cấp dưới, mỗi khi có việc gì liên quan đến một ngành hoạt động nào đó thuộc cấp dưới. Có như thế, mới đạt được mục đích phân công mà thống nhất.

Sđd, tập 5, tr.291.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan hệ đặc biệt Lào-Việt

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Kaysone Phomvihane (tháng 2-1966).

“Lào và Việt Nam là hai nước láng giềng, cùng sống chung trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, cùng uống chung dòng nước Mekong, cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và có mối quan hệ gắn bó với nhau từ lâu đời để cùng đấu tranh chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những đặc điểm, hoàn cảnh đó đã gắn kết hai nước chúng ta lại với nhau thành một khối thống nhất, gắn bó chặt chẽ, cùng chia sẻ ngọt bùi và đồng cam cộng khổ với nhau trong suốt thời gian qua và đến tận ngày nay.

Ngay từ năm 1921, khi truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào giải phóng “Các dân tộc thuộc địa,” các dân tộc bị áp bức Á Đông, Nguyễn Ái Quốc đã bền bỉ tố cáo chế độ thực dân Pháp và đã mô tả nỗi khổ chung của nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam trong chế độ bắt phu đi làm tạp dịch, làm đường tại Đông Dương thuộc Pháp.

Chế độ tạp dịch thường xuyên cùng với chế độ trưng tập phu làm đường làm cho nhân dân Lào khốn khổ, sống trong cảnh luôn luôn nơm nớp lo sợ… điều đáng chú ý là chế độ bắt phu làm đường của thực dân Pháp vô cùng hà khắc: chúng không hề phân biệt ai là Việt, ai là Lào, mà chỉ coi là dân Đông Dương thuộc Pháp; nếu trốn đi phu hay nổi dậy chống lại đều bị bắn chết, những ai ốm đau đều phải gửi xác lại nơi “rừng xanh núi đỏ.”

Trên các đoạn đường xuyên Đông Dương đều có xác phu Việt bên cạnh xác phu Lào. Đó là những con đường được gọi là đường Lào-Việt hoặc đường Việt-Lào, nối liền bờ Biển Đông của Việt Nam đến tận bờ sông Mekong, từ Tây Bắc Việt Nam đến Bắc và Đông Bắc Lào. Người viết: “ở Luang Prabang nhiều phụ nữ nghèo khổ thảm thương phải mang xiềng đi quét đường chỉ vì một tội không nộp nổi thuế.”

Không cam chịu ách nô lệ, từ đầu thế kỷ 20, nhân dân hai nước Lào-ViệtNam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp. Đó là các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Nam Lào dưới sự lãnh đạo của Ông Kẹo (1901), ông Kômmađăm (1907-1937); cuộc khởi nghĩa ở miền Bắc, từ Mường Thanh, Sơn La, Lai Châu của Việt Nam đến Houaphan, Xieng Khoang do Chạuphạ Pắtchay lãnh đạo (1918-1922).

Như vậy, trước 1930, đã xuất hiện đoàn kết Lào-Việt cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử. Nhưng tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt-Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng ở Lào với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”. Trong tư tưởng chỉ đạo và hoạt động thực tiễn, Người luôn luôn phát huy cao độ tính độc lập và chủ động của đồng bào các bộ tộc Lào.

Từ khi mới ra đời, tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định đường lối cách mạng của ba nước Đông Dương: ba nước đều là thuộc địa của Pháp… nên cần đoàn kết chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc…

Sau Hội nghị, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đảng viên của Đảng từ Việt Nam và Thái Lan đã sang hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở Lào, một số chi bộ cộng sản đã được thành lập ở Savannakhet, Thakhek, Vientiane, và đến tháng 9-1934 Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập tại Lào, chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào. Đó là những mốc son lịch sử trong quan hệ Lào-ViệtNam; cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hai nước gắn bó với nhau và ngày càng phát triển trong tình đoàn kết chiến đấu và tạo nên cơ sở cho tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng và hai nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản; luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ mật thiết cách mạng hai nước Lào-Việt Nam, nuôi dưỡng và phát huy sáng tạo sức mạnh chung của nhân dân hai nước để cùng tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Lào cũng như thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, giành độc lập cho nhân dân mỗi nước năm 1945.

Ngày 2-9-1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời

Ngày 12-10-1945 tại Thủ đô Vientiane, Chính phủ lâm thời Lào Itsala được thành lập, thông qua Hiến pháp và tuyên bố nền độc lập trước thế giới. Ngày 14-10-1945, Việt Nam là nước đầu tiên gửi điện chúc mừng và tuyên bố thừa nhận Chính phủ Lào độc lập và ngày 30-10-1945, hai nước đã ký Hiệp ước Hợp tác tương trợ Việt-Lào. Với Hiệp ước này, quan hệ Việt-Lào đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn phát triển quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc anh em không chỉ trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, mà còn trên tầm quan hệ gắn bó giữa hai nhà nước.

Chủ tịch Souphanouvong đã khái quát ý nghĩa trọng đại của sự kiện này: “Quan hệ LÀO-VIỆT từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới,” kỷ nguyên của mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào-ViệtNam giúp đỡ nhau vì mục tiêu chung của hai dân tộc. Cũng ngày 30-10-1945, Chính phủ hai nước quyết định thành lập Liên quân Lào-ViệtNam.

Thắng lợi đó dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương là thắng lợi của nhân dân hai nước cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu, đoàn kết gắn bó với nhau, cùng đấu tranh giành thắng lợi. Đó là bài học lịch sử đầu tiên vô cùng quý giá trong lịch sử cách mạng giải phóng của hai dân tộc anh em.

Sau ngày tuyên bố độc lập không được bao lâu, thì năm 1946 thực dân Pháp lại trở lại xâm lược hai nước Lào, Việt Nam lần thứ hai và hai dân tộc lập tức cùng sát cánh bên nhau chống ngoại xâm.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: cần phải xây dựng ở Việt Nam, Lào và Miên từng Đảng cách mạng thích hợp để lãnh đạo phong trào cách mạng và công cuộc kháng chiến thắng lợi; để đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Lào thì phải xây dựng tại đây một vùng căn cứ địa của cả nước, nơi tập trung các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Mặt trận và tổ chức bộ máy lãnh đạo công cuộc cách mạng; trên cơ sở lực lượng đã có tích cực xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, trong đó có Quân đội quốc gia Lào.

Thực hiện chủ trương trên, Sam Nua (Houaphan) đã được chọn để xây dựng căn cứ địa trung ương của cách mạng Lào. Sau một quá trình chuẩn bị, ngày 20-1-1949 Quân đội Lào Itsala được thành lập, do đồng chí Kaysone Phomvihane trực tiếp chỉ huy. Ngày 13-8-1950 thành lập Mặt trận “Neo Lào Itsala” và thành lập “Chính phủ kháng chiến Lào,” Hoàng thân Souphanouvong được cử làm Chủ tịch Mặt trận kiêm Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 11-3-1951, Hội nghị nhân dân ba nước Việt-Miên-Lào thành lập Mặt trận Liên minh nhân dân Việt-Miên-Lào, đề ra những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Đông Dương là đánh đuổi thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho ba nước hoàn toàn độc lập. Tháng 9-1952, tại Hội nghị cán bộ Mặt trận Liên minh nhân dân Việt-Miên-Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Việt Nam đoàn kết chặt chẽ, Lào đoàn kết chặt chẽ, Miên đoàn kết chặt chẽ, cả ba nước đoàn kết chặt chẽ thì nhất định sẽ đánh tan bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, giành độc lập, tự do cho mỗi nước.

Những sự kiện lớn đó là những bước đi quan trọng của cuộc đấu tranh cách mạng Lào, phối hợp cùng đấu tranh, cùng đoàn kết với nhân dân Việt Nam chiến đấu giành thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử 1954, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva công nhận nền độc lập, tự do của ba nước Đông Dương.

Bằng việc xây dựng hệ thống quan điểm và chỉ đạo thực tiễn thực hiện liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa Việt Nam và Lào, cũng như sự quan tâm, phát hiện và xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, đã dẫn tới việc thành lập Đảng Nhân dân Lào ngày 22-3-1955, sau này là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 2-1972), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thật sự đã đặt nền móng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào.

Đó là mối quan hệ vừa bảo đảm lợi ích dân tộc, vừa bảo đảm kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để cùng hướng tới mục tiêu chung là giải phóng dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Đúng như Chủ tịch Kaysone Phomvihane đánh giá: “Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Hồ chí Minh sáng lập đã ra đời, là bước ngoặt lịch sử của cách mạng ba nước Đông Dương. Từ đó trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Mác-Lênin chân chính và với ngọn cờ cách mạng dân tộc, dân chủ cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào đã bước vào thời kỳ mới và với chất lượng mới hoàn toàn.”

Điều đó càng chứng tỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đóng góp về lý luận, đường lối, phương hướng cách mạng mà Người còn quan tâm đến cả việc tổ chức, chỉ đạo thực tiễn cách mạng Lào. Trong điếu văn đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức ngày 5-9-1969 tại Sam Neua, vùng giải phóng Lào, Tổng bí thư Đảng Nhân dân Lào nói: “Đối với cách mạng Lào chúng ta, đồng chí Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo cho Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tại Lào trước đây, cũng như sau này cho Đảng Nhân dân Lào khi Đảng đã được thành lập.”

Chủ tịch trực tiếp giúp cho chúng ta những ý kiến quan trọng về chiến lược, sách lược, về phương thức hoạt động. Nhờ đó mà trong tình thế vô cùng gay go gian khổ, Đảng đã ra sức vận động quần chúng, tổ chức và lãnh đạo nhân dân Lào đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám thành công giành chính quyền về tay mình, tuyên bố nền độc lập của Lào ngày 12-10-1945. Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tận tình cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý hướng dẫn việc chuyển hướng trọng tâm hoạt động trong từng thời kỳ, xây dựng cơ sở nhân dân, phát động quần chúng nông dân, xây dựng các khu căn cứ kháng chiến, xây dựng lực lương vũ trang cách mạng, mở rộng mặt trận thống nhất, xây dựng Đảng Mác-Lênin chân chính…

Trong các cuộc đấu tranh để thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc có lực lượng cách mạng Lào tham gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần dặn dò: vào hòa hợp là thắng lợi về sách lược, vấn đề chủ yếu quan trọng, có ý nghĩa chiến lược là phải quan tâm củng cố và phát triển lực lượng cách mạng để sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, không ngừng đưa cách mạng tiến lên.”

Thấm nhuần chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Nhân dân Lào (Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) đã lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào phát triển mạnh mẽ, giành những thắng lợi ngày càng to lớn và tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.

Sự nghiệp cách mạng của hai nước Lào-Việt Nam có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau một cách đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ điều đó và thường xuyên căn dặn: “Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào.”

Với quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào, với thiện chí chân tình, thông cảm nhau sâu sắc trên tình đồng chí anh em, giúp bạn là tự giúp mình, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn con em yêu quý của mình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu tại các chiến trường của Lào, máu của biết bao anh hùng, liệt sĩ Việt Nam hòa quyện với máu của quân và dân Lào để đem lại thắng lợi vẻ vang cho hai dân tộc.

Cũng với tình cảm đặc biệt, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã dành phần đất của mình để giúp Việt Nam xây dựng “Đường Hồ Chí Minh,” “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975 và tạo điều kiện cho cách mạng Lào giành thắng lợi hoàn toàn và thiết lập nên nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày 2-12-1975.

Thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại đó là minh chứng hùng hồn cho tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt, thủy chung, trong sáng và khẳng định lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt Nam kháng chiến có thành công, thì kháng chiến Miên, Lào mới thắng lợi; và kháng chiến Miên, Lào có thắng lợi, thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi.”

Tình hữu nghị và đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng Công sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và Lào, là một trong những thành quả cách mạng của hai dân tộc, do nhân dân hai nước cùng nhau xây dựng nên và được xây đắp bằng công sức, xương máu của nhân dân hai nước. Đó là di sản vô cùng quý giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta.

Kế thừa di sản quý báu của Chủ tịch Hồ chí Minh, từ sau ngày hai nước được hoàn toàn giải phóng, quan hệ hai nước bước vào giai đoạn mới chặt chẽ hơn, toàn diện hơn, giúp nhau khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, xây dựng đất nước hoà bình, độc lập, dân chủ với nền kinh tế, văn hóa, khoa học phát triển, giữ vững quốc phòng-an ninh, làm thất bại âm mưu bao vây cấm vận, phá hoại của các thế lực thù địch.

Ngày 18-7-1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào được ký kết, là cơ sở pháp lý quan trọng, đánh dấu mốc phát triển mới của mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, nhằm khai thác tiền năng, thế mạnh bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng phát triển và bảo vệ đất nước của mỗi nước.

Trải qua hơn 30 năm thực hiện, nhất là từ khi hai nước thực hiện công cuộc đổi mới, trong tình hình hội nhập với nhiều biến động, nhiều khó khăn và thách thức do tác động của tình hình thế giới và khu vực, nhưng với truyền thống tốt đẹp của mối quan hệ đặc biệt và dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam, quan hệ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, mở rộng và nhất định sẽ giành được những thắng lợi to lớn hơn, chất lượng và hiệu quả cao hơn, thiết thực góp phần vun đắp cho mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Lào-Việt Nam mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững như câu thơ bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Thương nhau mấy núi cũng trèo,

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Việt-Lào hai nước chúng ta,

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

Chủ tịch Kaysone Phomvihane cũng đã khẳng định: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào mãi mãi bền vững.”

Trong suốt cuộc hành trình lịch sử này, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào chúng tôi mãi mãi ghi nhớ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Chúng tôi nguyện cùng với nhân dân Việt Nam tiếp tục tăng cường củng cố và vun đắp tình hữu nghị giữa hai nước; tăng cường tuyên truyền giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, cho thế hệ trẻ hiểu biết sâu sắc và bảo vệ, phát triển mối quan hệ hữu nghị đặc biệt đó, vì quan hệ hữu nghị đặc biệt Lào-Việt Nam mãi mãi là tài sản vô giá, là hành trang không thể thiếu của hai dân tộc trên con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

(Nguồn:TTXVN)

xaydungdang.org.vn

Suy nghĩ về tư tưởng khoan dung của chủ tịch Hồ Chí Minh trong hai bức thư gửi đồng bào theo phật giáo và công giáo

Khoan dung, xét từ góc độ văn hoá, hàm chứa thái độ ứng xử tích cực, mang tính giao lưu đối thoại trong quan hệ giữa các cộng đồng người, các dân tộc khác nhau, thể hiện sự tôn trọng và học hỏi lẫn nhau, hướng đến những giá trị nhân loại chung. Văn kiên chính thức của UNESCO về khoan dung đã chỉ ra 4 ý nghĩa của nó như sau:

1. Khoan dung là sự tôn trọng, chấp nhận và đánh giá cao sự phong phú và đa dạng của các nền văn hoá thế giới, phương thức biểu đạt và cách thể hiện phẩm chất con người của chúng ta. Nó được khuyến khích bằng tri thức, sự cởi mở giao tiếp và tự do tư tưởng, ý thức về tín ngưỡng. Khoan dung là một đức tính khiến cho hoà bình có thể thực hiện được và góp phần vào việc thay thế văn hoá chiến tranh bằng văn hoá hoà bình.

2. Khoan dung … xuất phát từ việc thừa nhận các quyền phổ quát của con người và những tự do cơ bản của người khác. Trong bất kỳ trường hợp nào không thể viện ra khoang dung để bào chữa cho sự vi phạm những giá trị cơ bản này. Khoan dung cũng phải được thực hành bởi các cá nhân, các nhóm người và các nhà nước.

3. Khoan dung là trách nhiệm đề cao các quyền con người, sự đa dạng của thế giới (kể cả văn hoá) dân chủ và nhà nước pháp quyền…

4. Khoan dung có nghĩa là mỗi người được tự do chọn lựa những niềm tin của mình và chấp nhận những người khác cũng có quyền tự do như vậy. Nó… chấp nhận thực tế con người, đương nhiên khác nhau về vẻ ngoài, hình thể, ngôn ngữ, tập tính và các giá trị, đều có quyền sống trong hoà bình và tồn tại đúng bản chất của mình (1). Khoan dung do đó là một kích thích tố của phát triển và ổn định.

Khoan dung hẳn không phải là nét riêng của dân tộc này hay dân tộc khác, mà được hình thành từ lịch sử của nhiều dân tộc trong cuộc mưu sinh và bảo vệ phẩm giá của mình. Dân tộc ta từ xưa đã làm cho yếu tố này trở thành phổ biến trong hệ thống ứng xử và đánh giá đối với quan hệ bên trong lẫn quan hệ đối ngoại. Điều này bộc lộ rõ trong việc tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc đi trước, thực hiện sự sàng lọc nghiêm túc, dần dân biến thành cái của chính mình (2). Có thể tìm thấy bằng chứng sinh động của thái độ khoan dung này trong quá trình tiếp cận với Nho giáo và Phật giáo. Nho giáo du nhập vào Việt Nam thoạt đầu theo chân quân xâm lược phương Bắc, nhưng với thời gian, chịu sự thẩm định của sinh hoạt cộng đồng, nó một mặt được tầng lớp trí thức nước ta sử dụng ở bình diện đạo đức, lối sống, đúc kết thành những bài học phổ biến về rèn luyện nhân cách và tri thức, mặt khác được các triều đại phong kiến Việt Nam vận dụng vào việc củng cố các định chế pháp luật, bảo đảm ổn định xã hội. Cùng với Nho giáo, các thành tựu khác của văn hoá Trung Quốc cũng để lại dấu ấn đậm nét trong phong cách sáng tác, tư duy, bổ sung vào hệ thống ứng xử của người Việt Nam trong suốt nhiều thế kỷ. Phật giáo với hệ lý luận khá chặt chẽ và một triết lý nhân sinh giàu tính khoan dung đã được các tầng lớp nhân dân đón nhận, làm phong phú thêm văn hoá tâm linh của mình. Sự hội nhập những giá trị bên ngoài vào đời sống xã hội Việt Nam được cắt nghĩa bởi đạo lý “Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả”, và học hỏi nghiêm túc các giá trị nhân loại chung. Đạo lý ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt cuộc đời hoạt động không mệt mỏi vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội kế thừa và làm sâu sắc thêm trong các quan điểm, chủ trương, chính sách cụ thể. Triết lý tôn giáo của Người, nếu có thể gọi như vậy, không thể hiện trong những bài diễn văn hùng hồn, trong những chuyên khảo tự biên, hàn lâm, mà đi vào lòng người bằng lời nói và hành động thiết thực, qua đó toát lên chính sách đại đoàn kết và tấm lòng nhân đạo, truyền tải được ý nghĩ thầm kín của các tầng lớp nhân dân. Hơn thế nữa, tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh gắn với chủ nghĩa yêu nước, lấy chủ nghĩa yêu nước làm cơ sở xác định tính chất của khoan dung. Trong bài viết ngắn gọn này, chúng tôi không thể đề cập hết các khía cạnh của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh, mà chỉ tìm hiểu hai bức thư của Người gửi các vị tăng ni Phật tử và đồng bào Công giáo, một biểu hiện của khoan dung văn hoá, trong hoàn cảnh đầy thách thức của dân tộc. Hai bức thư được viết ra trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1947).

images-quy1-2010-BH_Phat_giao_917430909.jpgBác Hồ với các đại biểu Hội Phật giáo Việt Nam, ngày 3/1/1957. Ảnh: Tuấn Anh

Trong thư gửi Hội Phật tử Việt Nam ngày 30/ 08/ 1947 (tức ngày 15 tháng 07 âm lịch) có đoạn: “… từ ngày nước ta trở nên dân chủ cộng hoà, hiến pháp tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện. Bọn thực dân Pháp muốn cướp nước ta. Chúng đốt chùa chiền, phá tượng Phật, hành hạ tăng ni, tàn sát đạo hữu. Chúng hòng phá tan đạo Phật…Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải, xương máu,… làm theo lòng đại từ bi của đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ.” (3)

Trong thư gửi đồng bào Côn giáo nhân dịp lễ Noel 1947 có đoạn: “… gần 2000 năm về trước, Đức chúa đã cho loài người quyền tự do và dạy loài người lòng bác ái. Thế mà thực dân phản động Pháp tàn sát đồng bào ta, phá phách nhà thờ chung, khinh rẻ tôn giáo. Chúng làm trái lòng Chúa… Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do. Đức Chúa phù hộ chúng ta…” (4)

Có thể nhận thấy ở hai bức thư, hai mẩu “đối thoại” ấy, sự minh bạch của tư tưởng khoan dung. Thứ nhất, tôn trọng quyền tự do lựa chọn tín ngưỡng, niềm tin của con người, như văn bản của UNESCO sau này chỉ rõ. Điều cần nhấn mạnh ở đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xét nội dung học thuyết tôn giáo từ góc độ giá trị, và sinh hoạt tôn giáo mang ý nghĩa hướng thiện. Từ đó Người đặt các giá trị ấy vào hệ thống các giá trị cần được học tập. Vào những năm 1960, cách tiếp cận giá trị đã được Người cô đọng lại, để đối lập với các “giá trị” mà quân xâm lược đem đến cho dân tộc ta thông qua những phương tiện giết người tàn bạo. Người viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng  Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa.” Và mỉa mai: “… con đế quốc Mỹ thì: đạo đức là giết người” (5). Thứ hai là, hai bức thư đó không chỉ thể hiện thái độ văn hoá đối với tôn giáo, mà còn đề cập đến trách nhiệm của Nhà nước dân chủ cộng hoà, nhà nước của dân, do dân và vì dân đối với tôn giáo, đồng thời xác định vị trí của tôn giáo của giáo dân, trong sự nghiệp chung của dân tộc, hướng sự kết hợp biện chứng đạo pháp – dân tộc, hướng đến mục tiêu “tốt đạo, đẹp đời”. Truyền thống khoan dung đã được hiện thực hoá một cách sinh động trong điều kiện lịch sử cụ thể, cho thấy nguồn mạch xuyên suốt của tính cách Việt Nam, minh chứng một sức mạnh tổng hợp mà không thế lực ngoại bang, phản động nào có thể phá hoại nổi. Rất tự nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra rằng lý tưởng của chúng ta, và vì thế chỉ khi nào sự nghiệp chính nghĩa của toàn dân tộc đạt được thắng lợi thì đồng bào lương cũng như giáo mới được sống bình yên, tự do bày tỏ niềm tin của mình. Thứ ba, nhận diện kẻ thù phản Chúa và kẻ đi ngược lại “lòng đại từ đại bi của Đức Phật” cũng là cách thức bày tỏ nguyên tắc dứt khoát: không thể có sự khoan dung “nói chung”, sự khoan dung đồng nghĩa với nhượng bộ, mà phải đấu tranh, để bản thân tư tưởng này không bị xuyên tạc, hoen ố. Không dưới một lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra như một sự chỉ dẫn rằng Cách mạng mà dân tộc ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản chính là con đường hiêệ thực khôi phục lại các giá trị thiêng liêng. Sẽ không ngạc nhiên nếu đọc những dòng Nguyễn Ái Quốc viết sau đây về việc các thế lực thực dân, các tu sĩ đội lốt đã núp bóng Chúa để chống lại con người như thế nào: “… các sử giả của Chúa… hệt như bọn gian phi rình lúc mọi người đang hoảng hốt để nhảy vào hôi của sau khi nhà cháy… Chúa đầy lòng nhân ái và toàn năng. Là Đấng sáng chế tối cao, Người đã nặn ra một chủng tộc gọi là thượng đẳng để đạt lên lưng một chủng tộc gọi là hạ đẳng cũng do Người nặn ra” (6). Đó là những dòng đầy chua chát trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925). Hơn hai mươi năm sau, dân tộc Việt Nam giành được độc lập, các giá trị nhân văn, khai sáng được khôi phục và phổ biến trong điều kiện mới. Nhà nước dân chủ nhân dân, tiến hành đoàn kết toàn dân, không phân biệt tín ngưỡng, hướng tới mục tiêu chung mà đồng bào theo Phật giáo, Công giáo đều là thành viên bình đẳng. Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc, hầu như năm nào Hồ Chủ tịch cũng đều gửi thư cho đồng bào Công giáo và tăng ni Phật tử nhân những ngày lễ tôn giáo trọng đại.

images333077.jpgBác Hồ với các đại biểu công giáo. Ảnh: Tuấn Anh

Những dẫn chứng vừa nêu cho thấy tư tưởng khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể. Hồ Chủ tịch xem xét tôn giáo không chỉ từ bình diện chính trị – xã hội, mà còn từ bình diện giá trị đạo đức, nhân sinh – những nhận hình thức sinh hoạt tinh thần này như phương thức cần thiết bộc lộ “nhân tính”, đồng thời xác định vị trí của nó trong lịch sử phát triển đất nước.

Trở lại hai bức thư đã được trưng dẫn càng thấu hiểu cốt lõi tư tưởng khoan dung của Hồ Chủ tịch; nó hoàn toàn không phải là thứ sách lược tình thế, mà cố hữu ở các bậc thiên sứ của văn hoá khoan dung như một phần tính cách cuộc đời, mà mỗi giây phút đều mong đem lợi ích đến cho tất cả. Hiếm thấy người cộng sản triệt để nào có được lối xử mẫu mực của văn hoá khoan dung như Hồ Chí Minh, khi Người ngợi ca, vừa với tính cách của nhà lãnh đạo vừa với tính cách cá nhân, hình ảnh “đại từ, đại bi” của Đức Phật và lòng bác ái của Đức Chúa, đồng thời khẳng định dứt khoát rằng cuộc kháng chiến của đồng bào ta là hợp với đạo đức sáng ngời của các vị ấy.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, tư tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự chỉ dẫn vô giá đối với các tầng lớp nhân dân đang phấn đấu, bằng tất cả sức lực và trí tuệ của mình, xây dựng một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thực hiện đối thoại cởi mở và học hỏi kinh nghiệm của các dân tộc khác, hội nhập vào đời sống văn hoá của nhân loại.

Nguyễn Văn Công

CHÚ THÍCH

1. Tạp chí NgườI đưa tin UNSECO N0 3. 1996, ngày 20/ 04/ 1996, tr. 34.
2. Phạm Văn Đồng. Hồ Chí Minh – quá khứ, hiện tại, tương lai T.2. NXB Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 81.
3. Hồ Chí Minh toàn tập. T.5 NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 197.
4. Hồ Chí Minh, Sđd T. 5, tr. 333.
5. Hồ Chí Minh. Sđd T.6, tr. 225.
6. Hồ Chí Minh. Sđd T.2, tr. 101, 103.

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người

Copy1111 804152009164049 copy.pngYêu thương tất cả chỉ quyên mình. Ảnh: Tuấn Anh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản ủa toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”. Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình”. Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những “người nô lệ mất nước” và “người cùng khổ”. Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm “con người” của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm “giai cấp vô sản cách mạng”. Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v…) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: “Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không “dựa vào lực lượng của toàn dân”. Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc”; “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay”. Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, “cần có con người xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.

Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, “lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại” là “không bao giờ thay đổi”. Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm. Từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài. Người đã khẳng định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”1. Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân”, thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực “lấy dân làm gốc”, mặc dù cũng chủ trương khoan thư sức dân”, nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một “kế sách”, một phương tiện để thực hiện mục đích “trị nước”, “bình thiên hạ”. Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: “Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử”.

Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có cùng quan điểm “ái quốc là ái dân”, nhưng điểm khác cơ bản trong tư tưởng “ái dân” của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.

Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của “cái cá nhân” và “cái xã hội”, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.

Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là “đầy tớ trung thành” có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng “chăn dân” của những người cầm đầu nhà nước phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”; đang là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

TS. Vũ Thị Kim Dung

hochiminhhoc.com

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam – Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học

Dân tộc Việt Nam ta trong quá trình đấu tranh và xây dựng đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Và ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới mà ở đó chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết tinh cả chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Đông Tây và nhân lại xưa nay- có tác dụng định hướng lớn và phát huy cao độ nội lực trong phát triển, hiện đại hóa và hội nhập. Chủ nghĩa nhân văn này không chỉ là giá trị về mặt văn hóa mà còn có tầm tinh hoa, tầm triết học, thực sự là như một triết học. Nó cũng là một cơ sở và nội dung chủ yếu của chủ nghĩa duy vật nhân văn. Do đó, khác với nhiều bài viết khác cùng chủ đề, bài viết này là luận ở góc đội triết học là chính.

1634086016965468750.jpg

I- Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam hướng tới chủ nghĩa nhân văn mácxít cần phát huy trong thời kỳ mới

1- Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam

Trong lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam ta, thấy rằng có một số nhà trí thức hoặc một số lãnh tụ của dân tộc thường bàn về các triết lý Nho giáo, triết lý Phật giáo, triết lý yêu nước và nhân ái Việt Nam hoặc sau này là một số triết lý và tư tưởng phương Tây như là những tư tưởng triết học về giải phóng con người (cá nhân) trần gian gắn liền với chính trị, gắn liền với đời sống nhân sinh.

Công bằng mà nói dân tộc ta ít để lại những nhà triết học và những lý thuyết triết học thật sự. Nhưng điều đó không có nghĩa là dân tộc ta không có tư tưởng triết học. Triết học là tinh hoa của một nền văn hóa nhất định. Nền văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa lâu đời nên có chiều sâu triết học của nó.

Chúng tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu và giáo dục có hệ thống chủ nghĩa nhân văn Việt Nam nhất là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là việc làm thật sự cần thiết. Gần đây có một số sách đã xuất bản nói về lịch sử tư tưởng Việt Nam, lịch sử văn hóa Việt Nam, tư tưởng triết học Việt Nam, thực chất là theo hướng đó. Tuy rằng việc làm trên cần được tốt hơn nữa để tạo ra sự nhận thức nhất quan về bản sắc, bản linh và sức mạnh văn hóa Việt Nam. Có thể nói rằng chủ nghĩa nhân văn (yêu nước và nhân nghĩa) Việt Nam là kết tinh, thể hiện tập trung và nổi bật nhất bản sắc và bản lĩnh đó. Tinh túy ấy thực chất là tư tưởng triết học Việt Nam từ truyền thống lên hiện đại.

Để hiểu những tư tưởng triết học của nền văn hóa ấy, chúng ta phải làm nhiệm vụ phân tích, hệ thống hóa nó, xây dựng thành một lý thuyết triết học thật sự mang sắc thái dân tộc Việt Nam, trí tuệ và tình cảm Việt Nam. Ngày nay chúng ta có điều kiện làm việc đó dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống này bao gồm những tư tưởng của các nhà chính trị các nhà trí thức và bao gồm cả những triết lý cơ bản trong dân gian. Tất cả những điều đó tổng hợp lại thành một hệ thống giá trị thể hiện cả mặt trí tuệ, ý chí, khí phách, tình cảm và đạo lý. Hệ thống đó có nội dung đa dạng, nhiều cấp độ nhưng nói chung có bản chất nhân bản, nhân đạo, nhân văn. Do đó có thể khái quát bằng một tên gọi là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trong suốt 4000 năm lịch sử có tư tưởng cốt lõi của nó. Đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và nhân nghĩa Việt Nam. Có thể sử dụng hai khái niệm của chủ nghĩa này để diễn đạt các phương diện tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Nhưng theo chúng tôi chủ nghĩa nhân văn rộng hơn khái niệm chủ nghĩa yêu nước, bởi vì tư tưởng yêu nước là tư tưởng nhân văn chủ đạo của dân tộc Việt Nam, bên cạnh đó còn có thành ohần cơ bản khác là nhân nghĩa Việt Nam. Do đó, gần đây khái niệm về chủ nghĩa nhân văn Việt Nam đã được giới khoa học chú ý nghiên cứu có hệ thống và sâu hơn nhưng vẫn chưa có chiều sâu triết học.

Có thể trình bày chủ nghĩa nhân văn Việt Nam theo quá trình lịch sử tư tưởng gắn với quá trình lao động và đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Nhưng trước hết chúng tôi muốn trình bày về mặt lôgíchh, tổng quát mang tính lý luận triết học, làm nổi bật những nội dung quan trọng của nó. Điều đó còn nhằm mục đích luận chứng cho quan niệm chủ nghĩa nhân văn Việt Nam với tư cách là một triết học theo cách nhìn hiện đại ngày nay.

Có thể nói rằng trung tâm của sự suy nghĩ, sự biện luận, sự cảm nhận và hành động của con người Việt Nam là xoay xung quanh số phận của con người, số phận của dân tộc trong quá trình đấu tranh và lao động. Đúng là dân tộc ít bàn về thế giới tự nhiên mà bàn về số phận của con người và dân tộc mình. Số phận của con người và dân tộc từng được nhìn dưới góc độ sau đây: số phận của con người trong chế độ áp bức bóc lột, bất công, chuyên chế và trước sức mạnh tàn khốc của thiên nhiên, số phận này thể hiện một mặt là nghèo đói, bệnh tật, một mặt là bị áp bức, đàn áp. Một góc độ nữa của số phận con người là số phận của dân tộc trước họa xâm lăng của ngoại bang với sự chết chóc và bị đàn áp diễn ra liên miên trong nhiều thế kỷ. Bàn về số phận của con người, nỗi khổ đau, tủi nhục của con người trong tư tưởng Việt Nam như vậy là khác với tư tưởng Phật giáo mặc dù có sự tương đồng, đồng cảm nào đó. Những nhà chính trị, những hiền nhân và kể cả nhân dân lao động đi tìm nguyên nhân của số phận con người và dân tộc Việt Nam trước thiên tai địch họa. Cũng có thể có ý kiến cho rằng nỗi khổ nhục như vậy là do thiên mệnh. Không, đa số các bậc trí thức và nhân dân đều nhận thấy rằng nỗi khổ chính là do con người gây nên trước hết là giặc ngoại xâm, sau nữa là quan lại tham tàn. Đọc Tuyên ngôn của Lý Thường Kiệt, Binh pháp của Trần Hưng Đạo, thơ Nguyễn Du, Đại Cáo Bình Ngô của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, đọc các tác phẩm Phan Bội Châu, đọc Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh và tục ngữ ca dao Việt Nam chúng ta đều cảm nhận được đều đó. Sự nhận thức những vấn đề nói trên của dân tộc ta vừa bằng lý trí vừa bằng tình cảm, vừa bằng hữu thức vừa bằng vô thức. Ở đây không tuyệt đối duy lý hoặc, duy tình mà lý tình kết hợp, có lý có tình.

Người Việt Nam cảm nhận mình là con người, phải vươn lên sống xứng đáng là con người trong cộng đồng dân tộc, do đó rất đề cao đạo lý làm người, đồng thời đấu tranh chống áp bức bất công để được sống xứng đáng với con người. Khát vọng ấy, lý tưởng ấy là một hiện thực khác quan. Dân tộc Việt Nam tự xác định là một dân tộc, tự quyết, tự tôn và độc lập mang tính tất nhiên như trời đất,có đất đai lãnh thổ, phong tục, văn hóa, văn hiến riêng biệt. Đó là dân tộc không chịu làm nô lệ, không có gì quí hơn độc lập tự do. Đó cũng là khát vọng và xu hướng khách quan của lịch sử. Tất cả đã tạo thành sức mạnh, bản lĩnh Việt Nam.

Con đường để trở thành một dân tộc độc lập, một con người tự do không phải chỉ là con đường cầu mong, “cầu trời khấn phật”, hoặc đơn giản tu thân tề gia, hoặc thực nghiệm tâm linh để giải thoát mà chủ yếu là con đường dấn thân vào cuộc đấu tranh trong hiện thực xã hội với mọi thế lực xâm lược và áp bức nhân dân. Nhận thức rõ kẻ thù của dân tộc và nhân dân, tìm con đường đấu tranh bằng sức mạnh của nhân dân dựa vào thế núi non, dựa vào lòng dân, dựa vào sức mình mà sáng tạo và chiến thắng. Trải qua thực tiễn đoàn kết xây dựng và đấu tranh như vậy mà đúc kết lên thành những quan niệm những tư tưởng, những phương sách để đấu tranh và chiến thắng. Tư duy như vậy là một tư duy thấm nhuần tính chất duy vật, thực tiễn và biện chứng, đồng thời thấm nhuần tinh thần nhân đạo và nhân văn.

Con người và dân tộc Việt Nam mang trong mình những phẩm chất yêu và thương, lý và tình kết hợp. Yêu hòa bình, yêu tự do, yêu công bằng và lẽ phải. Yêu cái đẹp, yêu chân lý và thương người như thể thương thân, bầu ơi thương lấy bí cùng. Tóm lại là tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, quý trọng độc lập, tự do, thủy chung, từ bi hỉ xả, bao dung, bác ái, lạc quan và yêu đời. Do đó trong khổ đau vẫn vươn lên, trong thất bại vẫn hi vọng thành công. Tin ở sức mạnh đoàn kết của cộng đồng, tin ở sức mạnh của nhân dân, dân là gốc của nước. lật thuyền mới biết dân mạnh như nước. Dân tộc Việt Nam biến sức mạnh căm thù thành sức mạnh chiến thắng. Nhưng khi kẻ thù chịu thua trận thì sẵng sàng dối xứ khoan dung, tử tế, “trải chiếu hoa” và cấp lương thực cho về nước, là lầy nhân nghĩa tháng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo. Trong hành động của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam luôn luôn thể hiện việc giải quyết đúng đắn giữa mối quan hệ giữa tình và lý, giữa tình thương và lẽ phải, giữa thiện và ác. Do đó tư tưởng triết học của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam thật sự mang tính chất nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Triết học đó đề cao con người, tin yêu vào sức mạnh của con người trần thế. Triết học đó cũng giải quyết tốt mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của cuộc đấu tranh và tạo dụng, giải quyết mối quan hệ giữa gia đình với đất nước, làng xóm với tổ quốc, giữa những con người cùng chung một cảnh ngộ cần đoàn kết để đấu tranh và phát triển và đúng là đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công thành công, đại thành công như sau này chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết. Triết học đó cũng giải quyết mối quan hệ giữa thực tại và ý thức, nhu cầu và hành động. Từ đó phát huy sức mạnh của nội lực để thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Dân tộc Việt Nam trong quá trình phát triển, xây dựng và đấu tranh luôn luôn có sự giao lưu và tiếp nhận các luồng tư tưởng và văn hóa của các nước khác ngày càng mở rộng. Nhưng đó là quá trình giao lưu, tiếp nhận và sáng tạo, giữ gìn bản sắc Việt Nam, làm phong phú tư tưởng, trí tuệ, tình cảm Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Đạo Nho, đạo Phật ở đây đã trở thành đạo Nho đạo Phật Việt Nam khi bao hàm tư tưởng yêu nước và bị chi phối bởi tư tưởng yêu nước Việt Nam. Đạo Phật vào đây cũng vậy Và sau này tinh hoa văn hóa phương Tây, nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin đã tiếp thu và vận dụng ở Việt Nam cũng vậy. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế công nhân, giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc và xã hội, gắn văn hóa nhân văn của dân tộc với khoa học công nghệ hiện đại càng thể hiện rõ điều đó.

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam có nguồn gốc bản địa và tố chất của văn hóa Việt Nam nhưng cũng được bồi bổ bằng chủ nghĩa nhân văn phương Đông và phương Tây và cuối cùng hoà nhập với chủ nghĩa nhân văn mácxít, được nâng lên một trình độ mới và thể hiện tập trung trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Chất nhân văn trong con người Hồ Chí Minh được nhiều người mô tả một cách sinh động. Theo J.Roux thì đó là “người kết hợp tới mức nhuần nhuyễn phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời và tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với lòng nhân đạo đối với con người”. Còn N. K. Sing thì “Hồ Chí Minh là một con người quần chúng… biết kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết nhất”; “là người gắn kết một cách tự nhiên sự tao nhã cao quí với tác phong dễ gần gủi, rất dân chủ giữa tự do không nghi thức, thoải mái và tự nhiên với thái độ đàng hoàng và thận trọng”. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam thấm nhuần tinh thần trong cuộc đời của con người Việt Nam là “đem hết sức mình để đem lại cơm ăn, nước uống cho những ai đói khát, bênh vực cho những kẻ yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ” (Montaron, Báo Bằng chứng Thiên Chúa giáo) . Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là một tình yêu lớn mà “ngay cả trong đời sống hàng ngày đều dành chỗ cho mọi người, không sót một ai… lo lắng chu đáo cho mỗi người việc làm, đời sống và học tập, vừa nghiêm khắc đòi hỏi, vừa yêu thương dìu dắt” (Phạm Văn Đồng). Theo Inđra Gandi cho rằng “Tính độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hi sinh và lòng dũng cảm sẽ cổ vũ cho các thế hệ mai sau” (trích theo PGS. PTS Bùi Khánh Thế: Bản sắc văn hóa – tiếp cận từ ngôn ngữ trong Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vai trò của nghiên cứu và giáo dục, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, tr 561) .

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam như một dòng chảy của dân tộc suốt chiều dài lịch sử đất nước. Từ đỉnh cao của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, ta nhìn lại khơi nguồn, hệ thống hóa để xây dựng thành chủ nghĩa nhân văn Việt Nam ngày nay. Cần phải lý luận hóa tư tưởng, trí tuệ và tình cảm nhân văn ấy. Đồng thời lại thực tiễn hóa nó trong quá trình xây dựng xã hội mới như một tư tưởng chỉ đạo cơ bản có ý nghĩ thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận. Điều đó là nằm trong bản chất của chủ nghĩa xã hội chân chính khoa học và nhân bản. Chủ nghĩa xã hội là một chủ nghĩa nhân đạo hiện thực và hoàn bị như sự khẳng định của chủ nghĩa Mác – Lênin và thể hiện rất rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam ngày nay là thời đại mới của chủ nghĩa nhân văn. Có thể coi chủ nghĩa nhân văn từ thế kỷ XIX về trước là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam truyền thống. Chủ nghĩa nhân văn từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cho đến ngày nay gọi là chủ nghĩa nhân văn cách mạng mà tiêu biểu nhất là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Quá trình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội gọi là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa nhân văn trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa nhân văn có tính tự giác cao, có tính hệ thống. Về mặt thực tiễn, chủ nghĩa nhân văn này có cơ sở kinh tế xã hội mới, những nội dung và hình thức mới, những tính chất và trình độ mới. Chẳng hạn chủ nghĩa nhân văn hiện nay bao hàm cả vấn đề nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho tất cả nhân dân. Chủ nghĩa nhân văn này bao hàm cả vấn đề dân chủ, vấn đề công bằng xã hội, bao hàm cả giải phóng cá nhân và cộng đồng, xóa bỏ nghèo đói tiến lên giàu mạnh văn minh. hướng tới tôn trọng tư do và phát triển toàn diện con người. Nói tóm lại là những khát vọng nhân đạo và nhân văn trong các lý tưởng tốt đẹp của mọi tôn giáo, mọi xu hướng tư tưởng tiến bộ được thực hiện và dần dần đảm bảo đầy đủ ngày càng cao cùng với quá trình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Chúng tôi nhất trí với nhận định sau đây của PGS PTS Bùi Khánh Thế cho rằng: chủ nghĩa nhân văn Việt Nam luôn luôn là cốt lõi, là hằng thể ẩn tàng trong những biến thể của bản sắc văn hóa Việt Nam. Bằng vào thực tế và cách suy nghĩ biện chứng chúng ta có thể đoán trước rằng bản sắc văn hóa Việt Nam rồi đây bước vào thế kỷ XXI sẽ có thể có thêm những biến thể mới, nhưng chừng nào nhân tố hằng thể ấy – chủ nghĩa nhân văn Việt Nam – còn bảo tồn thì bản sắc văn hóa Việt Nam vẫn sẽ không bị phai nhạt “chủ nghĩa nhân văn Việt Nam cũng như cấu trúc ngữ pháp đối với một ngôn ngữ”( PGS. PTS Bùi Khánh Thế: Bản sắc văn hóa – tiếp cận từ ngôn ngữ trong Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vai trò của nghiên cứu và giáo dục, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, tr 561) . Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam là nền tảng bền vững, cái bất biến trong cái vạn biến. Đó là cái sức mạnh bất chiến bất thắng từ xưa đến nay và cả sau này của dân tộc Việt Nam. Đó là sức mạnh tạo ra cấp số nhân trong vănhóa Việt Nam cả phương diện không gian văn hóa, và thời gian văn hóa, là “sự hòa hợp tuyệt vời giữa quá khứ và hiện tại”, “thời gian tích tụ, như ngưng đọng lại thành một sức mạnh”, “một thời gian đông đặc, một thời gian không hề vơi đi”, “không làm cho quá khứ chết thêm mà làm sống lại quá khứ” như lời khẳng định của nữ sĩ Blaga Đimitrôva trong tác phẩm Ngày phán xử cuối cùng (trích theo GS. TS Nguyễn Duy Quý)

Do đó, cần phát huy và vận dụng chủ nghĩa nhân văn Việt Nam – Hồ Chí Minh như là nhân sinh quan và phương pháp luận, hệ tư tưởng và đạo lý trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và bảo vệ tổ quốc thân yêu của mình. Nhưng làm sao đó thế hệ trẻ tiếp nhận một cách có hệ thống, sâu sắc chủ nghĩa nhân văn ấy như một nội lực và sức mạnh thần kỳ để vượt qua mọi khó khăn thử thách trên bước đường đi tới. Câu trả lời là tiếp tục nghiên cứu, giáo dục và thể hiện trong mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước để dễ dàng đi vào cuộc sống.

2- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam- tập trung bản sắc, bản lĩnh và động lực của văn hóa nhân văn Việt Nam

Từ xưa đến nay, chúng ta đều thừa nhận rằng ở Việt Nam có một chủ nghĩa yêu nước – đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Giới nghiên cứu, các nhà khoa học cũng đã đề cập rất nhiều, từ các góc độ khác nhau đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Nhưng nhìn chung vẫn thiên về tình cảm, ý chí, tinh thần yêu nước, chứ chưa đề cập nhiều về mặt tư tưởng, về mặt trí tuệ có hệ thống. Hoặc vấn đề được trình bày nhiều về phương diện thông sử mà, chưa đề cập có hệ thống về mặt văn hóa học. Nghĩa là vấn đề chủ nghĩa yêu nước- sự thể hiện tập trungbản sắc,bản lĩnh , động của văn hóa và xã hội Việt Nam chưa được nhìn đầy đủ ở cấp độ lý luận, cấp độ phương pháp luận.

Trước yêu cầu của sự phát triển ngày nay, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò động lực của văn hóa truyền thống, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời kỳ xây dựng mới, buộc chúng ta phải nghiên cứu sâu hơn, cơ bản hơn, có hệ thống hơn về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Và làm được điều đó không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn ý nghĩa về mặt giáo dục, và về mặt thực tiễn.

Tôi muốn có một cách nhìn nhận hơi khác hoặc nhận thức lại chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, trên cơ sở kế thừa sự nghiên cứu và đánh giá của giới khoa học nưóc ta, đặc biệt trong những công trình lớn có tính chất tổng kết về văn hóa và tư tưởng Việt Nam.

Trước hết, chúng ta đều thấy rằng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tình cảm, ý chí của dân tộc Việt Nam, có chiều sâu trong tâm linh, trong tâm tưởng dân tộc. Tình cảm, ý chí ấy là hết sức mãnh liệt, được kết tinh lại, trở thành những làn sóng ngầm và được thể hiện rõ nét nhất trong những thời kỳ dân tộc gặp nguy nan, phải cứu dân, cứu nước. Đó là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là những làn sóng ngầm mạnh mẽ đã nhiều lần nhấn chìm các thế lực xâm lược, đưa dân tộc đến bến bờ độc lập tự do. Đó là tinh thần không chịu làm nô lệ, không có gì quý hơn độc lập tự do, được hun đúc nên trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Nó có sức cố kết dân tộc trong việc chiến thắng thiên tai và địch họa.

Dân tộc nào cũng có tinh thần yêu nước, nhưng mức độ sâu đậm là khác nhau do hoàn cảnh lịch sử tạo ra. Cái độc đáo trong hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam là phải chống giặc ngoại xâm liên tục trong nhiều nghìn năm, trong nhiều thời đại với nhiều đế quốc to và hùng mạnh như chúng ta đã biết. Chính vì vậy, tinh thần yêu nước ở đây như một “tôn giáo” chính thống của dân tộc. Nó còn hơn cả một tôn giáo vì nó có chiều sâu tâm linh, chiều cao của niềm tin, chiều rộng của cộng đồng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ mọi người, toàn dân đánh giặc, cứu nước, sẵn sàng “tử vì đạo” yêu nước. Đạo yêu nước này không viễn vông cao xa, thoát tục, mà rất đời sống, nhưng cũng hết sức linh thiêng. Khắp đất nước ta đã có nhiều đền thờ các anh hùng dân tộc, những người có công đã xả thân hy sinh vì nước. Dân tộc ta coi Hùng Vương, Trần Hưng Đạo … Hồ Chí Minh như là một vị thánh. Đó là điều ít có ở các dân tộc khác. Nói chung, người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước nồng nàn, dù theo đạo hay không theo đạo nhưng đều bị thu hút bởi chủ nghĩa yêu nước. Và chủ nghĩa yêu nước ấy đã trở thành điểm sáng và sức sống chủ yếu trong tâm hồn họ.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không đơn giản là ý thức tinh thần, mà còn là khí phách dân tộc, là ý chí, là trí tuệ, là hành động đoàn kết, bất khuất, kiên cường, quật khởi trong hành động. Điều đó tạo thành chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam là hành động thực của chủ nghĩa yêu nước. Trong sự nghiệp chiến thắng thiên nhiên xây dựng đất nước, nhất là sự nghiệp chiến thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ quyền tự quyết, quyền độc lập tự do của dân tộc, thì không chỉ làm nảy sinh hành động anh hùng ở một số người, một số tầng lớp đặc biệt nào đó, mà là ở tất cả mọi tầng lớp người, và ở trong tất cả các dân tộc của cộng đồng Việt Nam trong các giai tầng, trong các giới tính. Anh hùng vô danh hoặc anh hùng có tên tuổi hoặc hành động anh hùng đã trở thành phổ biến trong nhiều thời kỳ lịch sử đã hun đúc nên phẩm chất anh hùng của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam. Phẩm chất ấy được lưu giữ, di truyền trong gen của nhiều thế hệ. Hình tượng Thánh Gióng là một hình tượng nhân cách hóa, thần thoại hóa, dả sử hóa của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. Trong thời chiến tranh cứu nước, khi nói rằng “ra ngõ gặp anh hùng” là hoàn toàn chính xác. Vì vậy, không chỉ yêu nước thành chủ nghĩa, mà anh hùng cũng thành chủ nghĩa, hai mà một

Chính vì chủ nghĩa ấy mà nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết trong thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước : “Có lúc dân lấy hạt muối cuối cùng nuôi cán bộ, ta mất hết còn gì đâu, còn lại cái anh hùng. Từ gốc ấy bỗng xuân về chớm nở, lại xanh chồi, rừng lộc biếc xanh um” !

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là tình cảm, không chỉ là hành động mà nó còn là trí tuệ của dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh phải đối đầu chống giặc ngoại xâm trong nhiều nghìn năm, trong nhiều thời đại du lúc thắng lúc thua nhưng cuối cùng đều đánh đổ được giặc xâm lăng, giành độc lập cho dân tộc. Trong môi trường thực tiễn đó đã tạo ra một kho tàng kinh nghiệmvà trí tuệ của dân tộc được đúc kết, trở thành có tính lý luận, có tính khoa học, có hệ thống đủ sức soi đường và trở thành vũ khí tinh thần của dân tộc, của toàn dân mà không có một thế lực nào, một vũ khí nào, có thể đè bẹp được. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được nâng lên ở trình độ tự giác, nhưng không phải được luận lý theo kiểu hàn lâm mà là theo kiểu lý luận thực hành, và không phải chỉ bàn luận trong sách vở mà trở thành triết lý trong dân gian trong các lời hịch cứu nước, trở thành cách suy nghĩ của cả một dân tộc yêu nước. Chẳng hạn dân thì nói rằng “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” hoặc tướng lĩnh đã nói rằng “Hết cỏ nước Nam mới hết người đánh Tây” hoặc “Bệ hạ muốn đầu hàng thì hãy cắt đầu thần trước”… Đó còn là cách nói có luận lý nước mất nhà tan, thà hy sinh tất cả, nhưng quyết không làm nô lệ, đó còn là phương pháp lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo, dựa vào dân với kế sâu rễ bền gốc, dựa vào thế núi non hiểm trở, xây dựng thành trong lòng dân hơn xây dựng thành lũy bằng đất đá v.v… Chính vì vậy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là kết tinh trí tuệ của dân tộc và luôn luôn được bồi đắp mở rộng và có thể nói rằng đã xây dựng nên khoa học về chiến tranh nhân dân, khoa học về cứu nước, khoa học về sự nghiệp giải phóng dân tộc mà thể hiện cao nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh của thời đại chúng ta. Chủ nghĩa yêu nước như vậy có giá trị như một triết học nhân sinh cơ bản của Việt Nam. Dù rằng tư tưởng triết học trong lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng và có kế thừa nhiều dòng triết học Đông – Tây, nhưng chủ nghĩa yêu nước với tinh thần, trí tuệ như vậy là triết học nhân sinh cơ bản của Việt Nam, trở thành cội nguồn, hạt nhân của các giá trị truyền thống Việt Nam.

Văn hóa truyền thống Việt Nam, trong đó trước hết là chủ nghĩa yêu nước tạo thành một hệ thống giá trị, nhưng chủ nghĩa yêu nước là giá trị lớn nhất, giá trị ấy thể hiện tập trung ở mệnh đề mà Hồ Chí Minh đã tổng kết, trở thành chân lý của dân tộc và thời đại là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Như thế, là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là hệ tư tưởng của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Dân tộc ta làm chiến tranh cứu nước và tự vệ luôn là những cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì lợi ích chính đáng của dân tộc. Chúng ta không bao giờ xâm lược ai mà chỉ đánh quân xâm lược để khẳng định chủ quyền dân tộc.

Dân tộc ta hình thành sớm ngay từ thời dựng nước và hình thành dân tộc không giống như các dân tộc ở phương Tây sau này. Nó được hình thành không chỉ do những điều kiện tự nhiên, ngôn ngữ, văn hóa mà trưóc hết là trong cuộc đụng đầu với các thế lực ngoại bang. Do đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam phản ánh nguyện vọng, lợi ích, lý tưởng hiện thực trong sự hình thành, bảo vệ, tự khẳng định và phát triển dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn của Lý Thường Kiệt: Nam quốc sơn hà nam đế cư, Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!.

Hay tuyên ngôn của Nguyễn Trãi – Lê Lợi trong Đại cáo Bình Ngô đã khẳng định chủ quyền dân tộc, nền văn hiến và văn hóa lâu đời, khẳng định chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, lòng bao dung và trí tuệ của dân tộc. Hoặc Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là một bản tổng kết lịch sử trong thời đại ngày nay về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam gắn với chủ nghĩa quốc tế chân chính, không chỉ về mặt tinh thần, khí phách mà cả trí tuệ, tư tưởng của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam còn trở thành hệ quy chiếu, phương pháp nhìn nhận xem xét đâu là bạn đâu là thù, đâu là chính đâu là tà. Đâu là đạo đức, đâu là phi đạo đức. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là đạo lý của dân tộc Việt Nam có sức bền vững, trở thành cội nguồn của sức sống dân tộc. Giữ và phát huy được truyền thống ấy với việc tiếp thu của tinh hoa thời đại thì không có sự việc nào là không thành công.

Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người và đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, nâng chủ nghĩa yêu nước lên một tầng cao mới. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành một trong những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, và tất nhiên cũng là một trong những nguồn gốc chủ yếu hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, dù trong lịch sử gắn liền với các chế độ xã hội khác nhau trong lịch sử, nhưng đều như một dòng nước trong, ánh sáng tinh khiết trong đời sống tinh thần Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước ấy ngày nay thông qua tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nội dung quan trọng của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam và dân tộc Việt Nam trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó chủ nghĩa yêu nước ấy đang mang những nội dung mới, hình thức mới, tiếp tục đóng vai trò động lực, tiếp tục giải phóng mọi nguồn lực trong sự nghiệp chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, chiến thắng mọi thế lực muốn diễn biến hòa bình đối với chế độ mới ở nước ta.

Gần đây cùng với vai trò của văn hóa truyền thống được nâng cao trong quan điểm phát triển theo lối mới, Đảng ta đã nhấn mạnh tiếp tục phát huy, phát triển chủ nghĩa yêu nước việt Nam trong thời kỳ mới hội nhập quốc tế để chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tiến đến dân chủ, giàu mạnh và văn minh. Chủ nghĩa ấy phải được phát huy, phát triển cả vầ mặt tình cảm ý thức, cả về mặt ý chí và khí phách, cả về mặt trí tuệ và tư tưởng, cả về mặt nhận thức và phương pháp luận.

Do đó, phải tiếp tục nghiên cứu nó sâu hơn, toàn diện và cơ bản hơn. Không chỉ về mặt thông sử và lịch sử văn hóa và cả về mặt lý luận. Đáng tiếc là chưa có một công trình lý luận nào tầm cỡ xứng đáng với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Đây không phải là đề cao mình, mà sự thật lịch sử là như vậy, chân dung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là như vậy. Vai trò và sứ mệnh lịch sử của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là như vậy. Công tác tuyên truyền giáo dục về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam mà trong đó chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi vẫn chưa đạt đến một trình độ cơ bản, có hệ thống. Dù rằng việc này chúng ta đã làm nhiều với những hình thức khá sinh động và thực sự ít nhiều có hiệu quả. Nhưng làm điều đó trong chiến tranh cứu nước thường dễ hơn, nhưng trong hòa bình xây dựng thì khó hơn nhiều.

Trước thời cuộc phát triển kinh tế thị trường mở cửa; công nghiệp hóa – hiện đại hóa; hội nhập xu thế toàn cầu hóa thì nền văn hóa các dân tộc nói chung, ở nước ta nói riêng đang đứng trước những thử thách to lớn. Ở đây đòi hỏi nâng cao chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới, nội dung mới để bảo vệ và phát triển dân tộc mình trước cuộc chiến tranh không tiếng súng về tư tưởng, về thông tin, về công nghệ, về kinh tế. Nhìn nhận một cách sâu sắc thì đây là thời điểm phải thức dậy ý thức dân tộc. Dân tộc, yêu nước bây giờ là tiến lên giàu mạnh về kinh tế và giàu mạnh về văn hóa, bảo vệ nền bản sắc văn hóa dân tộc, chủ quyền dân tộc, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, sức sáng tạo của trí tuệ Việt Nam.
Niềm tự hào của dân tộc bây giờ chủ yếu không phải là chiến thắng một kẻ thù xâm lược, trực tiếp mà là ở chỗ ra sức phát triển kinh tế xã hội để nâng cao vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Ngày xưa, kẻ thù thường khinh ta là quân man di, mọi rợ, nhưng khi ta thắng chúng thì chúng phải khâm phục và nhất là trong các cuộc chiến tranh cứu nước trong thế kỷ XX của dân tộc ta, thì Việt Nam đã trở thành lương tâm của thời đại, nhiều người nước ngoài đã từng ao ước sau một đêm ngủ dậy trở thành người Việt Nam. Chúng ta tự hào thời Bà Trưng, Bà Triệu, thời Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi, thời Quang Trung thì chúng ta tự hào thời dựng Đảng – tức thời đại Hồ Chí Minh, Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta. Nhưng thế giới còn khinh ta nghèo, không biết làm ăn kinh tế. Quả thật chúng ta còn là một trong hai mươi nước nghèo nhất thế giới, nếu xét về mặt kinh tế. Có nhiều nguyên nhân kể cả nguyên nhân chủ quan nhưng chủ yếu là do bị chiến tranh liên miên. Ngày nay chúng ta đã có hòa bình đang ổn định và phát triển, có nhà nước của dân, do dân và vì dân, Đảng tin dân – dân tin Đảng, một dân tộc thông minh và quật cường nhất định sẽ làm được sự nghiệp vì dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh. Ngày nay đã có cơ hội cho các dân tộc chậm tiến, vượt lên nhanh chóng trở thành giàu mạnh, văn minh. Các con rồng châu Á là một điển hình thuyết thục, chúng ta sẽ làm được điều mà các dân tộc đi trước trong sự nghiệp xây dựng kinh tế đã làm được.

Hơn mười năm đổi mới với những thành công bước đầu đã nâng cao vị thế nước ta trong hoàn cảnh mới; là một bằng chứng mà người nước ngoài không còn dám coi thường, họ đã bắt đầu thất sự phục hưng của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã chịu nhiều đau thương và mất mát…

Tất nhiên, chúng ta phải chiến thắng, vượt qua những trở lực không phải chỉ ở bên ngoài mà trước hết ở trong chính mình, ở trong Đảng cầm quyền, ở trong Nhà nước của dân, ở các cấp các ngành và ở mọi người dân yêu nước. Cùng với các sức mạnh và sự sáng suốt khác của thời đại mà ta có được, thì chủ nghĩa yêu nước là một cái chủ yếu trong đó.

Chúng ta rất tự hào có chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường, thu hút tinh hoa, trí tuệ và nhân tâm nhân lọai, nhất định sẽ thực hiện được khát vọng của dân tộc và của Hồ Chí Minh – anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của nhân loại.

II- Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh- một tầm cao mới

1- Di chúc Hồ Chí Minh và cơ sở triết học của chủ nghĩa nhân văn cách mạng

Có thể nói rằng Di chúc Hồ Chí Minh là một sự tóm tắt trí tuệ, tư tưởng, tình cảm của Người. Đó là một tấm gương phản chiếu cô đọng tập trung nhất gợi mở chiều sâu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Nói cách khác phải hiểu chiều sâu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh mới thấm nhuần được những tư tưởng và chỉ dẫn trong Di chúc của Người.

Nội dung của chủ nghĩa nhân văn thể hiện trong Di chúc trên khá nhiều phương diện gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới. Ở đó Người quan tâm đến số phận của nhân dân, số phận của tất cả các tầng lớp con người trong xã hội, vừa là chủ thể của công cuộc giải phóng đã có nhiều cống hiến xuất sắc, nhưng đồng thời cũng như nạn nhân chịu nhiều đau thương, mất mát do chế độ thực dân và tay sai thống trị và đàn áp dân tộc trong nhiều thập kỷ qua. Người yêu cầu Đảng và cách mạng phải đền đáp và phải có kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống cho nhân dân, xây dựng đất nước và môi trường cảnh quan ngày càng tươi đẹp; đồng thời xây dựng những thế hệ cách mạng nòng cốt, trẻ tuổi để trở thành lực lượng chủ lực xây dựng thắng lợi xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là từng bước thực hiện cho được những mục tiêu nhân văn mà Người và cả dân tộc theo đuổi, đó là: Toàn Đảng, toàn dân đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Với Di chúc mà nội dung cụ thể đã được nhiều bài viết đề cập, ở đây chỉ xin nói gọn lại là: Người để lại cho Đảng ta và nhân dân ta một tư duy độc lập sáng tạo, luôn luôn đổi mới; để lại một tình cảm thương yêu rộng lớn, nồng hậu trên tinh thần của chủ nghĩa nhân văn cách mạng; để lại một thông điệp có tính cương lĩnh cho một thời kỳ xây dựng và phát triển mới của đất nước; và cũng đã để lại cho nhân loại tiến bộ trên thế giới một ngọn cờ của hoà bình và hạnh phúc, biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai. Đó là tiếng nói của một Con Người gửi đến Con Người vì Con Người.

Chúng ta hãy trở lại mạch nguồn của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh. Trước hết là lô gích của lịch sử, ta thấy rằng người thanh niên Nguyễn Tất Thành sống trong khung cảnh nước mất nhà tan, dân tộc và nhân dân bị nô lệ, Anh đã mang trong trái tim mình tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, nói rộng ra là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam để đi tìm đường cứu dân, cứu nước với một cách tiếp cận khác những người đi trước. Hành trang của Hồ Chí Minh còn có chủ nghĩa nhân văn phương Đông Nho giáo và Phật giáo và đã bắt đầu gặp chủ nghĩa nhân văn của thời Phục hưng, và cách mạng tư sản Pháp. Người đã đến với nền văn hóa và tư tưởng nhân văn tiến bộ ở phương Tây thông qua con đường tự học tập, lao động, đấu tranh cho nước nhà được độc lập, dân được tự do, sau nữa là cho những người lao động và bị áp bức trên toàn thế giới. Từ rất sớm Người đã nói rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội là do những người lao động và bị áp bức thực hiện. Đó là niềm tin vô hạn vào sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của con người. Người nói trong bầu trời không có gì mạnh bằng sức mạnh nhân dân, không có gì quý bằng nhân dân. Từ đó Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin tiếp thu phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa nhân văn thực tiễn trên cơ sở một nhận thức khoa học và thực tiễn của thời đại. Người trở về sáng tạo ra Đảng cộng sản Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từng bước thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh và hoàn chỉnh nó lên một trình độ mới.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh như vậy là có cội nguồn trong lịch sử tư tưởng và thực tiễn của thời đại và dân tộc. Lô gích lịch sử ấy của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã mở ra một con đường độc đáo hội nhập văn hóa Đông – Tây, kết hợp truyền thống và hiện đại, xây dựng một nền văn hóa nhân văn đầy đủ nhất, tiến bộ nhất trong thời đại ngày nay. Đó là chủ nghĩa nhân văn xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh là một đỉnh cao mới trên con đường chiếm lĩnh và sáng tạo chủ nghĩa nhân văn ấy. Đó là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam hiện đại năng động và có tính chiến đấu cao.

Mặt khác, chúng ta lại thấy rằng về mặt lôgíc nội dung, lôgíc cấu trúc của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là sự hội tụ và phát triển tất cả những tinh hoa tốt đẹp nhất trong cuộc sống của con người, trong lịch sử của dân tộc và nhân loại được thể hiện trong những phạm trù: hòa bình, hữu nghị, độc lập, tự do, dân chủ, công bằng,bình đẳng, bao dung, bác ái, ấm no, hạnh phúc và tiến bộ cho mọi con người và mọi dân tộc mọi cộng đồng xã hội trước hết cho dân tộc mình rồi sau đó là toàn bộ nhân loại. Hồ Chí Minh đã đưa ra một triết lý nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tư tưởng hạt nhân đó của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết dính được toàn bộ nội dung tiến bộ trong chủ nghĩa nhân văn tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn triết học Đông và Tây. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh như một hệ thống tư tưởng thấm nhuần trong tất cả đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường sinh thái. Nền tảng của chủ nghĩa nhân văn ấy lại dựa trên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Đó là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trong thời đại ngày nay dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin có sức lay động mọi con tim và khối óc trong lao động và đấu tranh cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của con người, xứng đáng hơn với con người. Đó là cuộc đấu tranh chống nạn áp bức dân tộc, áp bức và bất công xã hội, đấu tranh chống nghèo đói, lạc hậu, dốt nát, đấu tranh chống cường quyền, độc đoán, quan liêu và chủ nghĩa cá nhân để hướng tới độc lập tự do, ấm no hạnh phúc cho dân tộc và nhân dân, tức là vươn tới một vương quốc tự do, con người làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên, làm chủ bản thân mình. Đó là một sự nghiệp vô cùng vĩ đại, lâu dài, khó khăn nhưng hết sức vinh quang mà nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân chắc chắn sẽ dành được. Chính vì sự nghiệp đó, với tư cách là người suốt đời phấn đấu hy sinh và cùng nhân dân mình thực hiện từng bước mà được thế giới công nhận Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa, của thế giới.. Nhưng chúng ta còn thấy Người là một nhà hiền triết lớn của thời đại, một lãnh tụ cộng sản lỗi lạc.

Là một nhà nhân văn hành động, Người đã dốc toàn lực cùng với toàn Đảng, toàn dân tìm con đường cụ thể đề ra những mục tiêu và biện pháp cụ thể hết sức thiết thực để thực hiện công cuộc giải phóng. Tự khẳng định mang tính chất phát hiện là chỉ có con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, và nói rộng ra là giải phóng được xã hội và con người, Hồ Chí Minh trở thành một kiến trúc sư của cách mạng Việt Nam, đã thiết kế và chỉ đạo công cuộc giải phóng ấy. Mô hình và tiến trình về đại thể là đi qua cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; thực hiện dân chủ mới đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Toàn bộ những nội dung và chỉ đạo cụ thể phải phù hợp với quy luật tiến hóa, xu hướng thời đại và đặc điểm của đất nước trong từng thời kỳ. Hồ Chí Minh thựcsự là một nhà nhân văn hiện thực, một nhà cách mạng nhân văn triệt để. Người tránh được các ảo tưởng trong các tư tưởng tôn giáo, tính không triệt để và hẹp hòi trong các tư tưởng nhân văn trong lịch sử cổ đại và cận đại (chẳng hạn chủ nghĩa nhân văn thời phục hưng, chủ nghĩa nhân văn Khổng giáo). Nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp, các trước tác và Di chúc của Người, có lẽ không cần nêu dẫn chứng ở đây, chúng ta đều thấy rõ điều đó. Con đường của Người, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã và đang được thực hiện là thể hiện sinh động, lôgích của tiến trình hành động của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh và trình bày cuối cùng là: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh tiếp tục đặt cơ sở, một sự gợi mở đầy sáng tạo để xây dựng một triết học nhân văn hiện đại. Nói cách khác, đó là chủ nghĩa duy vật nhân văn trong quan hệ thống nhất và là một sự tiếp tục nhất quán của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chủ nghĩa duy vật nhân văn là một triết học toàn diện về con người và sự nghiệp giải phóng con người. Bộ phận mới đó, hình thái mới đó của triết học Mác hiện đại có vị trí khá cơ bản trong hệ thống triết học do Mác sáng lập. Chủ nghĩa duy vật nhân văn khắc phục được thiếu sót duy tâm của chủ nghĩa nhân bản Phơbách cũng như trong các tôn giáo và trong triết học tư sản hiện đại; đồng thời khắc phục được quan niệm duy vật thô thiển, tầm thường, máy móc hoặc quan niệm duy lý hoặc duy tình về vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con người.

Không chỉ là một vài vấn đề triết học về con người được trình bày trong các giáo trình triết học hiện nay mà vấn đề là phải được xây dựng và trình bày thành một hệ thống triết học về con người với tư cách chủ nghĩa duy vật nhân văn, một triết học tương đối độc lập. Đặt vấn đề như vậy chúng ta mới có điều kiện kế thừa tất cả những giá trị triết học nhân văn trong lịch sử, triết học về đời sống, và khoa học nhân dạng, đồng thời phát triển, bổ sung mới dựa trên các thành tự khoa học hiện đại như cận sinh học, cận tâm lý học và từ thực tiễn của những cuộc đấu tranh vì hòa bình công bằng, an toàn sinh thái và tiến bộ xã hội trên thế giới hiện nay, để làm sáng tỏ hơn nữa tầm triết học về vấn đề con người. Tại sao không? Có thể nói rằng những vấn đề triết học và thế giới vật chất, về xã hội loài người đã được căn bản giải quyết thông qua triết học Mác-Lênin. Nhưng những vấn đề triết học về con người, dù có một số công trình nghiên cứu nhưng còn là một khoảng trống khó khăn và chưa trở thành một triết học thật sự (nhìn vào các giáo trình triết học hiện nay chúng ta càng nhận thấy điều đó). Triết học nhân văn hiện đại dựa trên nguyên lý Thiên – Địa – Nhân hợp nhất, con người là tiểu vũ trụ, sánh ngang với trời đất; dựa trên quan điểm của Mác về con người thực tiễn và sự nghiệp giải phóng con người và cũng dựa trên xu hướng chủ đạo của thời đại ngày nay là xu hướng văn hóa và nhân văn.

Triết học nhân văn nói trên có đối tượng nghiên cứu nguồn gốc, cấu trúc, bản chất vai trò và số phận của con người; những động lực, những điều kiện hình thành và phát triển con người cũng như sự nghiệp giải phóng con người một cách toàn diện và triệt để. Chủ nghĩa duy vật nhân văn với ý tưởng vừa đặt ra và nêu tóm tắt ở trên, chúng tôi đã có dịp trình bày trên tạp chí lý luận của Đảng như là tạp chí Cộng sản, tạp chí Sinh hoạt lý luận và ở một Hội thảo khoa học trong những năm gần đây (Tạp chí Cộng sản, năm 1994; Tạp chí Sinh hoạt lý luận năm 1992, 1995, 1998; Hội thảo của Học viện Nguyễn Ái Quốc năm 1992) . Muốn hiểu được chủ nghĩa nhân văn nói chung và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nói riêng một cách có hệ thống, khoa học phải đặt nó trên một cơ sở triết học trực tiếp. Cơ sở triết học trực tiếp đó là chủ nghĩa duy vật nhân văn. Triết học nhân văn này cần phải được tiếp tục xây dựng, làm cơ sở thế giới quan, phương pháp luận cho các khoa học nhân văn, các vấn đề con người và văn hóa, sự nghiệp và xây dựng phát triển chủ nghĩa xã hội do con người và vì con người trước hết ở Việt Nam.

Trở lại Di chúc Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh mà nội dung bao trùm và cốt lõi là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong hành động như những giá trị bền vững, tiếp tục thúc giục, soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa nhân văn ấy có giá trị nhân loại hết sức hấp dẫn mà nhiều nhà tư tưởng và chính khách đã đánh giá. Chúng tôi nghĩ rằng cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa nhân văn ấy ở tầm triết học, nghĩa là tầm triệt để nhất để thấy cả nền móng của một ngôi nhà, phần chìm của một tảng băng, gốc của một cây đại thụ. Mô tả về chi tiết, những biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh làm cho nó trở nên sinh động và cụ thể là hết sức cần thiết. Nhiều bài viết đã biểu đạt khá sinh động và có cách tiếp cận khá thú vị về vấn đề này trên các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh nhất là tư tưởng về văn hóa đã được công bố gần đây. Trân trọng và kế thừa sự nghiên cứu ấy. chúng tôi muốn nghiên cứu về lô gích của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh; đồng thời muốn đặt ra tình huống của sự xuất hiện triết học nhân văn hiện đại và suy nghĩ về cách xây dựng triết học ấy.

Thế giới còn đổi thay nhưng chủ nghĩa nhân văn cách mạng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng chúng ta đi.

TINH-DAU-HOA-SEN-NGUYEN-CHAT-L`ATURELLE-1634079187516875000.jpg

2- Hệ thống phạm trù trong tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh

Chủ nghĩa nhân văn hành động trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ đề còn mới mẻ, chưa được nghiên cứu theo chiều sâu ở giác độ triết học. Sau đây xin trình bày một số suy nghĩ khái quát về mặt phương pháp luận – mặt lô gích của tư duy và tư tưởng nên không đi vào chi tiết.

Trong các tư tưởng cấu thành học thuyết Hồ Chí Minh với tư cách là một hệ thống (gồm tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức, tư tưởng kinh tế…), thì nền tảng, tinh hoa, sợi chỉ đỏ xuyên suốt, kết dính tất cả là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh và theo tôi, đó là “chủ thuyết” triết học của Người (mặc dù Người không có ý định lập thuyết ). Mà về mặt chính trị là thực hành một xã hội, xã hội chủ nghĩa nhân văn.

Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh có chiều sâu là chủ nghĩa duy vật nhân văn. Đó là một triết lý, một triết học về sự phát triển xã hội theo mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Chúng ta đã từng biết đến triết học duy vật, triết học biện chứng, trí tuệ và văn hóa nhân loại, cũng như dân tộc với xu hướng cơ bản của thời đại đang làm lộ ra, hé mở đích thực một triết học nhân văn. Có thể lúc đầu là những ý tưởng, những tư tưỏng, lẫn vào trong chính trị, hòa nhập vào văn hóa, trong nhiều trường hợp như ở tư tưởng Hồ Chí Minh cũng vậy.
Đã đến lúc cần xây dựng lý thuyết nhân văn, phạm trù và nguyên lý nhân văn với tư cách đặt nền móng cho một triết học nhân văn. Đó là triết học thống nhất trong nó ba phạm trù truyền thống chân – thiện –ích- mỹ được cụ thể hóa thành những phạm trù nhân sinh độc đáo có tính thời đại. Và từ đó có lẽ gọi là triết học nhân văn tổng quát hơn, rộng hơn, khái niệm nhân đạo hay nhân bản. Và tất nhiên không phải là nhân bản duy tâm như Phơbách.

Triết học nhân văn là thực chất của triết học về bản chất con người và sự nghiệp giải phóng con người. Đó là chủ nghĩa duy vật nhân văn, bắt nguồn từ chủ nghĩa duy vật lịch sử, duy vật thực tiễn của Mác, nhưng dần dần sẽ trở thành một bộ phận cơ bản cùng với chủ nghĩa duy vật lịch sử tạo thành triết học Mác hiện đại.

Theo dõi thành quả nghiên cứu hiện nay, ta càng rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận mới, một trình độ mới của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là gạch nối, hội tụ – cộng sinh trí tuệ văn hóa Đông, Tây, kim cổ, Việt Nam và thời đại trong đó hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội khoa học. Lấy nguyên lý giải phóng dân tộc, giải phóng đồng bào làm điểm xuất phát nhưng lại gắn chặt với nguyên lý giải phóng con người, giải phóng giai cấp trong chủ nghĩa Mác-Lênin; nguyên lý và phạm trù nhân – nghĩa, kiêm ái ở phương đông, tư tưởng yêu nước Việt Nam; lòng từ bi của đạo Phật, lòng bác ái của đạo Thiên Chúa của Giêsu; phạm trù bình đẳng, tự do, bác ái, trong ngọn cờ cách mạng tư sản, tư tưởng nhân quyền và dân chủ Tây phương… trên lập trường mới. Hồ Chí Minh không những tích hợp, lựa chọn mà còn là sáng tạo cho riêng mình, cho Việt Nam đương đại hệ phạm trù, nguyên lý, tư tưởng triết học (dù người không có ý định làm triết gia). Đó là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà hệ thống của nó thể hiện trong các mệnh đề rất cơ bản.

Độc lập – tự do – hòa bình – thống nhất – đoàn kết – hữu nghị – giàu mạnh – dân chủ – công bằng – ấm no – hạnh phúc- tiến bộ -văn minh.

Môi trường thực hiện trước hết trước hết là ở Việt Nam, nhưng lại có ý nghĩa phổ quát toàn cầu.

Đó là lý tưởng nhân văn và hiện thực cuộc đời mà Người theo đuổi. Hạt nhân của tư tưởng nhân văn đó như ta đã biết là “Độc lập – Tự do – Ấm no – Hạnh phúc” được ghi dưới tiền đề Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cần nghiên cứu có hệ thống những phạm trù, nhưng tư tưởng nhân văn nói trên, sắp xếp thành hệ thống. Nhưng dù sao cũng khẳng định được rằng yêu nước, thương dân; cứu nước, cứu dân, độc lập dân tộc là phạm trù xuất phát cơ bản và rất mới của Người. Những phạm trù cao nhất là hạnh phúc và tiến bộ. Có thể xếp các phạm trù trên thành từng cặp theo hệ thống thứ bậc và mạng lưới, tức là theo lô gích của tư duy và tư tưởng:

Độc lập – Tự do; Hòa bình – Thống nhất; Dân giàu – Nước mạnh; Dân chủ – Công bằng;
Đoàn kết – Hữu nghị; Văn minh – Tiến bộ; Ấm no – Hạnh phúc; Nói và Làm…

Đó là hệ thống phạm trù kế thừa nền văn minh và văn hóa nhân loại nhưng lại mang nội dung dân tộc được ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể Việt Nam mà rất nhân loại. Những phạm trù này đã làm rõ các khía cạng phong phú trong bản chất con người mà bao trùm là bản chất nhân văn. Mô hình và tiến trình thực hiện tư tưởng nhân văn đó là thông qua cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa để tiến lên cho ngoài xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người hành động, con người cách mạng, không chỉ là cộng đồng, đồng bào mà là con người cá nhân mà không quên con người xã hội, dân tộc và con người giai cấp. Không chỉ là con người chính trị, con người văn hóa mà còn là con người đạo đức. Trong con người toàn diện ấy nổi lên là con người nhân văn, cả trong cuộc đời và sự nghiệp của Người. Và đó cũng là từ con người thực tiễn của Mác. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất hiện thực – cụ thể. Con người trí tuệ, con người lý trí, con người tình cảm, con người hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về con người nhân văn – hiện thực và hành động – tự giải phóng. Con người đó là cá nhân, tập thể, nhân dân và nhân loại mà Người hằng yêu mến, quí trọng (Xem thêm: PGS.TS.Thành Duy:Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 23-103) .Do đó, quan niệm về con người ở Hồ Chí Minh là con người toàn diện như thực thể tự nhiên- xã hội- văn hóa hài hòa giữa cá nhân và đồng lọai, con người tu dưỡng đạo đức, tinh thần, tự học và chăm bồi phát triển trí tuệ và con người hành động thực tiễn hiệu quả, chứ không phải là con người một mặt, con người tự nhiên chủ nghĩa, nhân bản thuần túy; không phải là con người ần dật tu thân, hay chỉ rèn luyện tâm linh, hoặc không phải là con người cá nhân cô lập, buồn chán, thất vọng hiện sinh chủ nghĩa, cũng không phải là con người thực dụng, hoặc con người lý tưởng đến mức không tưởng.

Hồ Chí Minh đến với con người và để lại cho con người không chỉ là một trí tuệ lớn mà còn là một tình thương bao la, một ý chí kiên nhẫn, khí phách quất cường, một tinh thần năng động sáng tạo và biết đổi mới, một nhân cách vì dân vì nước. Do đó, tự nó nâng chủ nghĩa nhân đạo lên tầm khoa học và nâng khoa học lên tầm nhân đạo, nhân văn, biến thực tiễn thành lý luận và biến lý luận thành cuộc sống. Do vậy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh kết tinh giá trị nhân tâm và trí tuệ của dân tộc và nhân loại

Hồ Chí Minh ít bàn luận lý về con người nhưng lại suy tư về thân phận con người, thân phận đồng bào, thân phận dân tộc mình và của các dân tộc khác, bằng cả họat động và trải nghiệm của Người, đã hòa nhập chủ nghĩa nhân văn Việt Nam với chủ nghĩa nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản để trở thành chủ nghĩa nhân đạo hiện thực.

Suy tư về các nền văn hóa Đông – Tây cổ kim cổ, đễ tìm con người đường xác lập một thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận cho một sự nghiệp và đã thành công vì không chỉ đúng, mà còn tốt, không chỉ khoa học mà còn văn hóa. Người đã hòa nhập khoa học và văn hóa, chính trị và đạo đức làm một trong tính thống nhất hài hòa và cụ thể trên con đường cách mạng của dân tộc tất cả vì con người do con người, cho con người. Suy tư và hành động ấy, với kết quả tất nhiên, tự nhiên đã làm rộ ra một tư tưởng triết học thật sự của chủ nghĩa duy vật nhân văn, triết học nhân văn hiện đại rất Việt Nam mà rất nhân loại cần phải được phát triển.

Triết học ấy tạo thành sức sống và sinh khí của dân tộc Việt Nam đương đạo xét cả lý luận và thực tiễn, thế giới quan và phương pháp luận.

Hồ Chí Minh là nhà hiền triết mác xít phương Đông kiểu Việt Nam, có hình thái, phong cách, bộ mặt riêng, bác học mà bình dân, khoa học mà văn hóa, tư tưởng mà rất đời, rất thực… Người không định làm triết học, nhưng Người đã tiếp nối triết học Mác và đã sản sinh ra tiền đề của một triết học mới theo phong cách phương Đông. Do đó chúng ta phải nhận lấy, phân tích xây dựng nó về mặt lý thuyết khoa học.

Chúng tôi nghĩ rằng, chính nhờ triết học mới này, bộ phận nhân sinh quan, thế giới quan và phương pháp luận mới không chỉ biện chứng mà còn nhân văn này mà định hướng chủ nghĩa xã hội của Người không chỉ là chủ nghĩa xã hội khoa học, mà còn là chủ nghĩa xã hội nhân văn. Đó là một tư tưởng, một chủ nghĩa định hướng cho chúng ta đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công như đã thành công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Ngày nay, chúng ta càng rất cần chủ nghĩa Mác-lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hơn bao giờ hết trong bước thử thách ngặt nghèo này. Chúng ta còn thiếu khoa học kỹ thuật hiện đại, thiếu nền pháp quyền hoàn chỉnh, thiếu kinh tế thị trường phát triển. Tất thảy đều cần để tạo ra cơ sở của chủ nghĩa xã hội đích thực. Không được coi thường mặt nào của cơ thể xã hội hiện đại, nhưng cần thấy đâu là mục đích, đâu là phương tiện.

Nhưng chúng ta có thế mạnh của lịch sử và văn hóa dân tộc với một chủ nghĩa yêu nước mạnh mẽ, và nếu triết học đó kế thừa và phát triển được những tư tưởng triết học tiến bộ trong các tôn giáo và các tư tưởng triết học khoa học, duy vật hiện đại.

Triết học Mác không thiếu vấn đề con người, thiếu vấn đề “nhân sinh”, dù thực tế là có lúc trong các giáo trình lý luận triết học có lúc đã có khiếm khuyết đó (thậm chí một khiếm khuyết lớn) thì hãy nhìn vào Hồ Chí Minh – một nhà Mác xít bậc danh nhân thế giới dưới hai danh hiệu anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn mà cả thế giới công nhận.

Dù chưa trình bày, luận chứng được tường tận, nhưng tôi tin rằng có tư tưởng triết học chính trị, triết học nhân văn ở Hồ Chí Minh, và không chỉ là một số tư tưởng mà tương đối có hệ thống. Và chúng ta cũng không nên hiểu rằng triết học nào cũng được trình bày một cách trừu tượng theo lôgích như triết học của Hêghen, kiểu phương Tây. Quả là có nhiều dạng thức triết học như triết học Khổng Tử, triết học Phật giáo, triết học Hiện sinh. Cố nhiên, không nên tầm thường hóa mọi ý nghĩa, mọi hành động đã là triết học. Mà quan trọng xem tự ý thức, cái hữu thức, tường minh trong tư tưởng, hành động của tác giả dưới vẻ tự nhiên, có khi rất đời thường, nhưng lại rất thâm thúy với chiều sâu triết lý có hệ thống theo phương thức tảng băng trôi.

Quả là với cách tiếp cận, thể hiện về thực thi chủ nghĩa Mác-Lênin, theo phong cách văn hóa, đặc thù hóa, nhân văn hóa, truyền thống hóa mà hiện đại ở Hồ Chí Minh, đang để chúng ta ngẫm về việc giáo dục, thực thi và phát triển triết học Mác. Tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh gắn liền với tư tưởng triết học xã hội của Mác. Thế hệ con cháu phải hệ thống hóa, xây dựng triết học nhân văn ấy, nâng cao tư tưởng triết học ấy.

Triết học trước hết suy tư về con người và thế giới có con người trong cái nôi của thế giới tự nhiên. Tư tưởng Hồ Chí Minh suy tư chủ yếu về số phận con người, số phận đồng bào và dân tộc mình, suy tư về con người và sự nghiệp giải phóng và đã hiện thực hóa suy tư ấy, đưa họ lên địa vị độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, tiến bộ với những mục tiêu từ thấp lên cao rất đời thường hiện thực – “hiện sinh” (ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ai cũng được tự do, mưu cầu hạnh phúc, ai cũng tiến bộ).

Triết học là hạt nhân và”gạch nối” và là “linh hồn” của khoa học với văn hóa. Triết học nhân văn của Hồ Chí Minh là triết học như thế. Tư duy đúng đích thực về triết học là gì cho chúng ta một phương pháp nhận thức lại chất triết học trong nền văn hóa dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hơn nữa nó sẽ mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển triết học Mác-Lênin và triết học Việt Nam.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một lô gích triết học nhân văn cần phải được phát triển.

TS. Hồ Bá Thâm (*)
Sách Chủ nghĩa duy vật nhân văn và định hướng nhân văn của sự phát triển xã hội (2005)

hochiminhhoc.com

Giương cao ngọn cờ Đại đoàn kết Hồ Chí Minh vững bước vào thời kỳ phát triển mới

Để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo bước đột phá trong phát triển đất nước, những năm tới Đảng Cộng sản Việt Nam phải dành nhiều công sức tạo bước chuyển biến rõ rệt về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực.

Story.axd copy.jpg

Dĩ bất biến ứng vạn biến

Càng đi sâu nghiên cứu, suy ngẫm, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đối chiếu với sự vận động theo dòng chảy thời gian của đời sống, càng thấy tầm phủ sóng rộng lớn và độ mở khôn cùng tư tưởng của Người. Có thể tìm thấy trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh nhiều, rất nhiều vấn đề còn nóng hổi tính thời sự, đặc biệt là tư tưởng đại đoàn kết – sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các bài viết, bài nói và cuộc đời hoạt động vô cùng phong phú, cao đẹp của Người. Đại đoàn kết, từ tư duy truyền thống đến Hồ Chí Minh đã trở thành một chiến lược cách mạng nhất quán, thành bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc đấu tranh trường kỳ giành và giữ độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tập hợp, phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành những thắng lợi vĩ đại. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công công là sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bài học lịch sử cơ bản, phản ánh quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, trung thành với tư tưởng cách mạng và khoa học của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng củng cố, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam hoàn thành thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới.

Ở thời điểm kết thúc thập niên thứ nhất, chuẩn bị bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Việt Nam đứng trước những thời cơ, vận hội phát triển mới, đồng thời cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ. Thành quả to lớn sau một phần tư thế kỷ tiến hành sự nghiệp đổi mới đã làm tăng thêm nhiều lần thế và lực của đất nước; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền được giữ vững; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế và uy tín quốc tế được nâng cao. Đó là nền tảng cơ bản, tạo đà cho bước phát triển bứt phá trong chặng đường sắp tới. Tuy nhiên, tiềm lực và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh của nền kinh tế đất nước trong cuộc ganh đua kinh tế gay gắt, quyết liệt toàn cầu; những hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục trong quản lý, giải quyết những vấn đề văn hóa, xã hội, nhất là tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội; cuộc đấu tranh cam go chống tham nhũng, tiêu cực nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; tính chất gay gắt của cuộc đấu tranh tư tưởng trước sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch và sự phức tạp trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền trước xu hướng gia tăng cuộc chạy đua tranh giành tài nguyên, năng lượng và các địa bàn chiến lược giữa các quốc gia… là những khó khăn, thách thức đang đặt ra, đòi hỏi phải được giải quyết.

Trong bối cảnh đó, kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chính là phương sách tạo nên sức mạnh vô địch dựng nước và giữ nước; chính là lấy cái bất biến để ứng phó với cái vạn biến của thời cuộc.

Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do con người, vì con người

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trọn đời hy sinh phấn đấu vì mục đích cao cả: dân tộc độc lập – nhân dân tự do – con người hạnh phúc. Mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động của Người đều hướng vào, đều xoay quanh mục tiêu duy nhất đó. Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trở thành ngọn cờ hiệu triệu, động viên sức mạnh vĩ đại của đông đảo lực lượng yêu nước, cách mạng chính là vì Người đã nhận thức đúng đắn sự thống nhất biện chứng và giải quyết hài hoà lợi ích dân tộc – lợi ích giai cấp – lợi ích con người phù hợp với yêu cầu và điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng.

Những năm tháng đất nước bị chủ nghĩa thực dân đô hộ, nhân dân sống trong lầm than nô lệ; độc lập, chủ quyền dân tộc bị chà đạp; Tổ quốc bị chia cắt, độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất là đòi hỏi khách quan của toàn dân tộc, là ý nguyện của mọi giai tầng xã hội, là khát vọng của mỗi người Việt Nam yêu nước. Lúc này, lợi ích dân tộc, giai cấp, con người thống nhất làm một – nước mất thì nhà tan; không giành được lợi quyền cho dân tộc thì lợi ích của giai cấp, của con người đến vạn năm cũng không đòi lại được. Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu: Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải giành cho được độc lập, nếu còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch chúng đi … Những lời kêu gọi tràn đầy tính tư tưởng và hành động của Người đã khơi dậy chủ nghĩa yêu nước và khí phách anh hùng của dân tộc, nhân dân, con người Việt Nam, tạo nên những kỳ tích trong Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Trong khi đề cao lợi ích dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến lợi ích con người. Trước khi giành được chính quyền, Người đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ: ruộng đất cho dân cày; tăng lương, giảm giờ làm cho thợ thuyền; quyền tự do cho công chức, viên chức, học sinh, sinh viên… Đất nước vừa được độc lập, trước sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài, tình thế như ngàn cân treo sợi tóc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa lãnh đạo Chính phủ lâm thời lo chống giặc ngoại xâm, vừa dồn sức chống giặc đói, giặc dốt. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Người chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa đánh giặc vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đảm bảo đời sống cho nhân dân, bộ đội. Trong quá trình xây dựng chế độ xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương chăm lo cho con người, từ cái kim sợi chỉ, tương cà mắm muối, việc học hành, khám chữa bệnh, đến đảm bảo quyền tự do, bình đẳng và cơ hội phát triển, tiến bộ. Trước khi qua đời, trong Di chúc gửi lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn ”Đầu tiên là công việc đối với con người”’,(1) ”Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm nâng cao đời sống của nhân dân” (2). Có thể nói, như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: ”Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về với con người với những khả năng thiên biến vạn hóa của nó”(3).

Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do con người, vì con người – đó chính là nền tảng trong Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh; là mẫu số chung để tăng cường sự thống nhất, đồng thuận và hóa giải những khác biệt, thậm chí mâu thuẫn về lợi ích theo phương châm cầu đồng tồn dị. Đây là bài học lớn đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.

Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo đất nước luôn nhất quán mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trước mắt, đang động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu lý tưởng đó thật cao đẹp; mục tiêu phấn đấu trước mắt có ý nghĩa thật lớn lao, thiết thực. Cần tăng cường tuyên truyền, vận động để mục tiêu phấn đấu đó từ ý tưởng trong Cương lĩnh, trong Chiến lược của Đảng thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, của mỗi người Việt Nam yêu nước, trở thành khát vọng, ý chí, quyết tâm chấn hưng đất nước, thành mẫu số chung quy tụ đại đoàn kết toàn dân tộc, biến nó thành sức mạnh hành động trong lao động, sáng tạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Trung thành với chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt vấn đề con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực, ”thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.” (4) Trên thực tế, cùng với những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã thành công trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, thực hiện thắng lợi những mục tiêu thiên niên kỷ. Điều kiện sống, lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe của người Việt Nam không ngừng được cải thiện; quyền con người được tôn trọng, bảo đảm; ước mơ, hoài bão và tài năng sáng tạo của con người được khuyến khích, trân trọng. Tuy nhiên, do tiềm lực kinh tế còn hạn chế, do tác động của thiên tai cùng ảnh hưởng những biến động khó lường của kinh tế quốc tế trong bối cảnh hội nhập và do cả những yếu kém trong quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội, đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, những người làm công ăn lương, những gia đình chính sách, neo đơn, cô quả… còn khó khăn; khoảng cách giàu nghèo chậm được thu hẹp; tiến bộ và công bằng xã hội triển khai chưa đồng bộ; có nơi, có lúc quyền và lợi ích của con người còn bị xâm phạm. Bước vào thời kỳ phát triển mới, Đảng, Nhà nước cần đầu tư thích đáng các nguồn lực; hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống và bồi đắp, phát huy tài năng lao động, sáng tạo vốn rất tiềm tàng của người Việt Nam, nhân lên sức mạnh kết đoàn và nguồn năng lượng nội sinh vô tận. Những năm tháng này, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo cho con người có ý nghĩa thời sự sâu sắc biết nhường nào: ”Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng rất cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người”(5)

Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân

Trong các di cảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi ngời sáng những dòng chữ viết về Nhân Dân:

”Nước lấy dân làm gốc”

”Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”;

”Trong bầu trời không có gì quí hơn nhân dân.

Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”;

”Dễ trăm, lần không dân cũng chịu,

Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Đại đoàn kết toàn dân tộc thực chất là đoàn kết toàn dân. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phạm trù Nhân Dân mở rộng biên độ tới tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giàu nghèo, trong nước hay ở nước ngoài – ai tự nguyện nhận mình là con Lạc cháu Hồng thì người đó là một tế bào của Nhân Dân. Theo Người, Nhân Dân tuy là một phạm trù mở về biên độ, nhưng chặt chẽ về cơ cấu, tổ chức – Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp là tổ chức tập hợp, vận động, hướng dẫn và đại diện cho quyền lợi của Nhân Dân, liên minh công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ máu thịt giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cách mạng với Nhân Dân. Một mặt, Nhân Dân chỉ có thể trở thành lực lượng tự giác và phát huy cao nhất tiềm năng, sức mạnh của mình một khi có Đảng Cộng sản, lãnh đạo; mặt khác, Đảng Cộng sản chỉ nắm được và giữ vững quyền lãnh đạo đất nước, xã hội khi nào Nhân Dân tin tưởng, đi theo và hết lòng ủng hộ. Vì vậy, Đảng Cộng sản phải hết lòng, hết sức phụng sự Nhân Dân; cán bộ, đảng viên phải là người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ, người công bộc thật sự trung thành của Nhân Dân. Tất cả quyền lực và của cải là của Nhân Dân; Nhân Dân trao quyền cho Nhà nước điều hành, quản lý, và do vậy Nhà nước phải phấn đấu trở thành nhà nước thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, mang lại những lợi ích thiết thực phục vụ nhân dân.

Trọng dân, gần dân, hiểu dân, yêu dân, học dân, có trách nhiệm với dân; nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin, mọi chủ trương, chính sách xuất phát từ dân và trở về với dân… chính là phương châm hành động và phong cách Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tình nguyện làm một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào mà phấn đấu hy sinh, ”Hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”. (6) Nhân dân Việt Nam thành kính biết ơn, tuyệt đối tin theo và đoàn kết xung quanh Người chính là vì lòng yêu nước, thương dân bao la đó.

Mấy chục năm qua, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân Việt Nam hăng hái đấu tranh, tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.(7) Ở thời điểm chuẩn bị bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI với mục tiêu phấn đấu có ý nghĩa lịch sử, trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá hòng phân hóa nội bộ nhân dân, kích động chia rẽ, đối lập Nhân Dân với Đảng, việc kế thừa, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát huy dân chủ, quyền làm chủ và tiềm năng to lớn của Nhân Dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa sống còn. Vấn đề cấp bách phải làm ngay là tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một phận cán bộ, đảng viên; khắc phục những yếu kém, khuyết điểm trong quản lý kinh tế, xã hội; giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội và dân sinh bức xúc; nâng cao dân trí, dân khí, dân sinh; kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh tâm lý – thông tin của các thế lực thù địch… nhằm củng cố niềm tin và bồi đắp quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhân Dân với Nhân Dân. Làm tốt những công việc này thì khó khăn, thử thách nào cũng có thể vượt qua; mục tiêu, nhiệm vụ nào Việt Nam cũng có thể thực hiện thắng lợi.

Quan san muôn dặm một nhà

Trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc luôn gắn liền với đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính luôn hòa quyện và thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Hiếm có lãnh tụ quốc gia nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh, một phần lớn cuộc đời tranh đấu của mình lại gắn bó mật thiết, ở tầng sâu và tầm cao, với thực tiễn phong trào cách mạng thế giới; nhận thức và giải quyết những vấn đề của đất nước, dân tộc mình từ tầm nhìn nhân loại và xu thế thời đại. Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi phải có một đảng chân chính lãnh đạo để trong thì tập hợp mọi lực lượng yêu nước, ngoài thì liên kết với giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức, bóc lột nơi nơi. Khi đất nước đã giành được độc lập về chính trị, phải tiến hành sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước và xây dựng chế độ xã hội mới, với trách nhiệm là người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Việt Nam chỉ muốn hoà bình và độc lập để cộng tác thân thiện với các dân tộc trên thế giới”(8); Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á, một bộ phận trong nền hòa bình chung toàn thế giới; “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước châu Á là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là thái độ bạn bè” (9); “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(10). Tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh có sức thu hút và lan tỏa sâu rộng bởi lẽ đó là tư tưởng vì hòa bình, công lý, vì tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc, là sự kết hợp hài hoà đoàn kết để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của nhân loại tiến bộ với thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả theo tinh thần thuỷ chung, trong sáng. Người thường căn dặn: giúp bạn chính là giúp mình.

Là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội (…), những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”(11). Những người yêu chuộng hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới khâm phục, ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh vì Người là hiện thân cho tình anh em bốn biển và thông qua những hoạt động không mệt mỏi, những cống hiến xuất sắc của Người đối với cộng đồng quốc tế, nhân loại tiến bộ hiểu nhiều hơn, ủng hộ và hết lòng giúp đỡ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam anh hùng. Đáp lại tình cảm và sự giúp đỡ quốc tế quý báu đó, trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tâm nguyện thay mặt nhân dân Việt Nam đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam.(12)

Thế giới ngày nay đã có nhiều thay đổi. Nhân loại đang chứng kiến sự cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Toàn cầu hóa cùng sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ và sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu và những hiểm hoạ chung đang và sẽ đặt trước nhân loại những vận hội và thách thức mới. Xu hướng hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu hướng lớn, chủ đạo; các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau trong sự tùy thuộc về lợi ích và yêu cầu chung tay giải quyết những vấn đề toàn cầu. Tuy nhiên, sự phục hồi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và sự gia tăng cuộc cạnh tranh ảnh hưởng, quyền lực, tài nguyên… vẫn là những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến mâu thuẫn và xung đột khu vực và quốc tế không thể xem thường.

Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tiếp tục kế thừa, phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tê.ë Việt Nam đang và sẽ là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế (13), vừa kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vừa làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Một thế giới hòa bình, thịnh vượng, một cộng đồng quốc tế hữu nghị, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần anh em, bè bạn – đó là mong muốn và phấn đấu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng là ước nguyện của dân tộc Việt Nam, một dân tộc khao khát, yêu chuộng hòa bình, đạo lý nhân nghĩa thủy chung và cũng là một dân tộc sẵn sàng đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệ hòa bình, độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình

Đảng Cộng sản Việt Nam là thành viên đặc biệt của Mặt trận dân tộc thống nhất, là hạt nhân đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, hướng dẫn hoạt động của Mặt trận. Sự đoàn kết, thống nhất của Đảng tác động rất lớn đến việc tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến công tác xây dựng Đảng, nói chung, đến việc củng cố, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí của Đảng, nói riêng. Trong bản Di chúc lịch sử, với tư cách là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những suy nghĩ trăn trở cả một đời về Đảng, xem đó là công việc quan trọng trước hết để dặn lại những người đồng chí của mình. Người viết: ”Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Người dặn dò, trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phêâ bình; phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. (14) .

Hơn bốn mươi năm đã trôi qua, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Tuyệt đại bộ phận những người cộng sản Việt Nam đã giữ đúng lời thề khi vĩnh biệt vị Lãnh tụ thiên tài và vô cùng kính yêu của mình: Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi. (15) Tuy nhiên, trong tiến trình cách mạng và đổi mới, do tác động của những tàn dư tư tưởng phong kiến, thực dân chưa bị quét sạch, tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ chưa được khắc phục; do tính chất lâu dài, gian khổ, phức tạp của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; do sự kích thích, cám dỗ của mặt trái cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế chưa được phòng ngừa, ngăn chặn; do sự kích động chống phá tinh vi và hiểm độc của các thế lực thù địch chưa bị đánh bại và do cả những thiếu sót trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, một bộ phận cán bộ, đảng viên không chịu tu dưỡng, rèn luyện đã bị tha hóa, biến chất. Đã có biểu hiện dao động, hoài nghi đường lối, chủ trương của Đảng; đã xuất hiện tư tưởng công thần, địa vị, cục bộ, bè phái; đã có hiện tượng đam mê, tranh giành quyền lực, chạy chức, chạy quyền… Những tiêu cực đó đã ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, hạn chế sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo bước đột phá trong phát triển đất nước, những năm tới Đảng Cộng sản Việt Nam phải dành nhiều công sức tạo bước chuyển biến rõ rệt về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực.

Đây là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam.(16)

87 năm trước, Nhà văn Xô viết Oxíp Manđenxtam đã viết trên báo Ogoniok về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với một dự cảm tốt đẹp: ”Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. (17) Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh bên thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chính là dịp để những người cộng sản Việt Nam, một lần nữa, ôn lại những di sản tư tưởng vô giá của Người Thầy vĩ đại, để tin tưởng vững bước vào tương lai./.

GS.TS. Phùng Hữu Phú
UVTƯ Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực
Ban Tuyên giáo Trung ương

———————–

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t12, tr.503
(2) Sdd, tr. 511
(3) Phạm Văn Đồng: Bản Di chúc bất hủ sáng ngời tính thời sự, 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 277
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.77
(5) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.8, tr. 272
(6), (7) Hồ Chí Minh; Toàn tập, t. 12, tr. 512, 510
(8), (9), (10) Hồ Chí Minh; Toàn tập, t.5, tr.22, 136, 220
(11) Nghị quyết của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr. 509
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr. 112
(14) Hồ Chí Minh; Toàn tập, t. 12, tr. 510
(15) Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 56
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr. 130
(17) Hồ Chí Minh; Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 478

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục – 1

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” ở nước ta, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực.

293.jpg

Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành qủa của sự chắt lọc tinh tế tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại, vừa mang đậm hơi thở của cuộc sống. Do vậy, ở Hồ Chí Minh, lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau. Đúng như Nghị quyết UNESCO đánh giá: “Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Có thể nói, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo và phê phán từ các tiền đề: Một là, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, giáo dục và tinh thần nhân ái Việt Nam, Hai là, triết lý giáo dục phương Đông, đặc biệt là triết lý nhân sinh của Nho, Phật, Lão và Ba là, những tư tưởng tiến bộ thời kỳ cận đại. Nhưng tiền đề quan trọng nhất, cái tạo nên sự phát triển về chất trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên cơ sở đó và cùng với quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng sinh động, phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm hết sức sâu sắc và mới mẻ về vai trò, mục đích, nội đung và phương pháp giáo dục.

Về vai trò và mục đích của giáo dục. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới. Người nói: “Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên”.

Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Người kêu gọi:

“Quốc dân Việt Nam!
Muốn giữ vững nền độc lập,
Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,

Mọi người Việt Nam… phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Từ thực trạng nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã vạch trần và lên án chính sách giáo dục của thực dân Pháp là làm cho “ngu dân dễ trị”. Bằng ngòi bút với lời lẽ sắc bén, Người đã chỉ rõ bộ mặt thực của cái gọi là “khai hoá văn minh” của thực dân Pháp: những người đến trường được “đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp”, những người không đến trường thì bị đầu độc bằng các thói hư, tật xấu như rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện. Do vậy, theo Người, để khẳng định chính mình, mỗi người phải thẳng thắn đấu tranh với cái lỗi thời, lạc hậu và các tệ nạn xã hội. Người viết: “Phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ. Và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Thật vậy, ngay từ những năm đầu bước vào đời, khi tham gia giảng dạy ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, tại đây, bên cạnh việc truyền bá những kiến thức về văn hoá, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú trọng đến việc truyền thụ tinh thần, truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc.

Nhưng mục đích cao cả của Hồ Chí Minh – mục đích mà Người nguyện suốt đời phấn đấu – là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi, đối với Người, “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Suốt đời, Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản Chủ nghĩa. Và để xây dụng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại mới. Và như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa”, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”, rèn “đức” cho cán bộ. Bởi, theo Người, “có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người”.

Đạo đức trong quan niệm của Hồ Chí Minh được coi như “cái gốc” của cây, “cái nguồn”của sông, do đó, theo Người, “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Như vậy, đạo đức mà Hồ Chí Minh quan niệm hoàn toàn khác với đạo đức của chế độ thực dân phong kiến “đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời”. Đạo đức mà Người hướng tới là đạo đức cách mạng, đạo đức của giai cấp công nhân, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, thực hành nhân, nghĩa, trí, dũng… chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Còn tài là giỏi về kiến thức chuyên môn và giỏi về cách thức, phương pháp vận dụng kiến thức đó vào hoạt động thực tiễn, làm cho ích nước lợi dân. Tài không có nghĩa là kiến thức hoàn chỉnh, tuyệt đối, khép kín, mà là một kiến thức mở, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn được bổ sung và phát triển qua thực tiễn cách mạng sinh động. Do đó, theo Người, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc… học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”.

Người có tài tham gia hoạt động thực tiễn phải biết dựa vào dân, bởi theo Hồ Chí Minh, “có dân là có tất cả”. Người viết:

“Dễ mười lần không dân cũng chịu,
Khó trăm lần dẫn liệu cũng xong”.

Là Người luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân, Người rất chú trọng việc giáo dục nâng cao trình độ văn hoá cho dân để dân “làm ăn có ngăn nắp”, “bớt mê tín nhảm”, “bớt đau ốm”, “nâng cao lòng yêu nước” và “để thành người công dân đứng đắn”. Người chỉ rõ: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc làm cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, văn minh và giàu mạnh”.

Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới. Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phối hợp. Ở thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, Người tập trung vào việc triển khai các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ về con đường cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đến giai đoạn toàn quốc kháng chiến và xây dựng nền dân chủ, Người kêu gọi sửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài kháng chiến kiến quốc. Tất cả giáo dục tập trung phục vụ kháng chiến kiến quốc. Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, mục đích giáo dục lại gắn liền với tình hình mới. Đó là thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội, làm chủ sản xuất, biết quản lý cơ quan, xí nghiệp, trường học…

Về phương pháp giáo dục. Tuy Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm, một hệ thống lý luận về phương pháp giáo dục, nhưng những việc làm thiết thực, những bài viết ngắn gọn, súc tích của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực. Người lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người sử dụng trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… Nó được coi như “kim chỉ nam” để lồng dẫn nhận thức, hành động và bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho tất cả mọi người. Hơn nữa, nguyên tắc này có tính chất quyết định trong việc chuyển hướng giáo dục và trở thành đặc trưng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Người nhấn mạnh: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”.

Để nâng cao trình độ nhận thức của người lao động, Hồ Chí Minh cho rằng cần có quan điểm dân chủ, thẳng thắn, không nhồi sọ và cần có sự đối thoại trong quá trình học tập, nhận thức. Người chỉ rõ: “Mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh”. “Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý”. Từ đó, Hồ Chí Minh kêu gọi cán bộ, nhà giáo phải biết tôn trọng ý kiến người khác, không nên có thành kiến đối với các ý kiến trái với ý kiến của mình.

Trong khi viết và nói, Hồ Chí Minh luôn dùng các khái niệm giản dị, dễ hiểu, nhưng văn phong vẫn trong sáng, ý tưởng phong phú. Phong cách đó làm cho mọi tầng lớp, mọi người ở trình độ khác nhau đều hiểu. Đối với Hồ Chí Minh, viết và nói là làm cho người khác hiểu, cho nên viết và nói phải biết cách. Viết và nói phải thiết thực, ngắn gọn, rõ ràng, dễ nhớ và phải xuất phát từ người đọc, người nghe.

Trong giáo dục, theo Hồ Chí Minh, cần có phương pháp phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục. Giáo dục phải căn cứ vào “trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng”. Cần có phương pháp tổ chức giáo dục sao cho bảo đảm được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh giáo dục với đối tượng giáo dục. Người viết: “công nhân, nông dân bận làm ăn, nếu dạy không hợp với người học, với làm ăn, bắt phải đến lớp có bàn có ghế là không ăn thua. Phải tuý theo hoàn cảnh làm ăn mà tổ chức học mới duy trì được lâu dài, mới có kết quả tốt”.

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc kết hợp các hình thức giáo dục, không tuyệt đối hoá bất cứ một hình thức giáo dục nào. Người viết: “Giáo dục dù trong nhà trường có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Trong cuộc sống, trong việc làm… Hồ Chí Minh luôn là người đi đầu. Phương pháp làm gương là một biện pháp hữu hiệu nhất trong việc thống nhất giữa lời nói và việc làm. Người dạy: “Mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá”.

Đối với Hồ Chí Minh, tất cả các phương pháp giáo dục như phương pháp đối thoại, phương pháp học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, phương pháp làm gương, phương pháp kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội… đều nhằm mục đích “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”, nâng cao nhận thức, chất lượng và hiệu quả giáo dục. Các phương pháp này vừa mang tính truyền thống, lại vừa hiện đại, vừa hệ thống, khoa học, lại vừa cụ thể, thiết thực, luôn gắn với đời sống và thời đại.

Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình với việc chăm lo, mở mang và xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo, mọi người đều được học hành, không phân biệt giai cấp, tuổi tác, trình độ, giới tính…

Kế tục và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn và cao cả đó của Người, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương khoá VIII đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là “nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ. Và mới đây, tại Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng đinh: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội.

Hơn 50 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm, chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo con người luôn soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam. Tư tưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục nói riêng, ngành giáo dục nói chung hiện nay.

Nguồn:  Tạp chí Triết học

hochiminhhoc.com

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất và suốt đời xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện Ðảng ta; người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; người sáng lập nên Mặt trận dân tộc thống nhất và suốt đời xây đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho Ðảng ta, nhân dân ta Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Ðó là hệ thống những quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống những quan điểm đó, nổi bật lên tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất. Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của cách mạng. Cách mạng muốn thành công phải có lực lượng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng xã hội mới. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ và lâu dài toàn dân tộc thành một khối. Ðoàn kết dân tộc kết hợp với đoàn kết quốc tế sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù.

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lược. Ðó là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Ðó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được nhằm tạo thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù.

Người căn dặn, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng, được xây dựng trên cơ sở lấy lợi ích tối cao của đất nước và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích gia đình với lợi ích xã hội, lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc. Lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Ðó là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Ðấy là nguyên tắc “bất biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Lấy cái bất biến, cái thống nhất, cái chung, cái ổn định làm điểm tương đồng mà điều hòa, giải quyết cái “vạn biến”, tức cái khác biệt về lợi ích, về ý kiến, về thị hiếu, về thành phần xã hội vốn có trong nhân dân, trong xã hội.

Những lợi ích cơ bản của nhân dân lao động được biểu hiện cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng. Ðể giải quyết đúng đắn mối quan hệ đó, theo Hồ Chí Minh, trước hết phải xử lý đúng mối quan hệ cốt lõi giữa giai cấp và dân tộc. Ði đôi với việc nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa dân tộc với quốc tế.

Vì vậy, để cách mạng thành công, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải tiếp tục quán triệt sâu sắc trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, như Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã chỉ rõ: “Ðại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”… “Ðại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu”. Ðại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Ðảng, cũng là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Như vậy, đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình, là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ðảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, biến những đòi hỏi khách quan, tự phát của nhân dân thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Người đã kết hợp nhuần nhuyễn luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng với tư tưởng truyền thống lấy dân làm gốc. Dân, theo tư tưởng của Người, bao gồm mọi công dân không phân biệt dân tộc thiểu số với đa số, người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, không phân biệt giàu, nghèo.

Yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống chết vì dân, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân là nguyên tắc tối cao và xuyên suốt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã dành cả cuộc đời tạo dựng và chăm lo cho rừng cây đại đoàn kết dân tộc ngày càng đâm chồi nảy lộc, nở hoa kết trái.

Người căn dặn chúng ta: Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của tổ tiên, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người.

Một sáng tạo lớn, đồng thời là một cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng đối với dân tộc ta và các dân tộc bị áp bức trên thế giới là việc sáng lập nên Mặt trận dân tộc thống nhất. Theo Người, đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi chung chung, mà phải trở thành đường lối chiến lược cách mạng, thành khẩu hiệu hành động của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta. Nó phải trở thành sức mạnh vật chất, một lực lượng mạnh có tổ chức. Tổ chức đó chính là Mặt trận dân tộc thống nhất.

Trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nội dung và hình thức tổ chức của Mặt trận có sự thay đổi phù hợp với nhiệm vụ cách mạng từng lúc, từng nơi. Ðó là Mặt trận dân chủ Ðông Dương trong những năm đấu tranh hợp pháp 1936 – 1939, Mặt trận Việt Minh trong cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật đưa tới thành công của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Liên Việt trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (ở miền Bắc) và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình (ở miền Nam) trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ðoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã làm nên chiến thắng Ðiện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, giải phóng được một nửa nước, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam ruột thịt.

Ðoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, nhân dân ta đã làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; đưa đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HÐH.

Kế tục vai trò lịch sử của các hình thức tổ chức Mặt trận trước đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam, không phân biệt quá khứ, thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, ý thức hệ, ở trong nước hay ở nước ngoài, miễn là tán thành mục tiêu chung là giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

80 năm đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Ðảng, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam đã rút ra cho mình một bài học lớn: Ðó là khi nào Mặt trận nắm vững tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết và phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc thì dù có khó khăn đến mấy cách mạng cũng vượt qua. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục thực hiện tư tưởng, đường lối đại đoàn kết dân tộc của Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh để phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc, đẩy mạnh CNH, HÐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

VŨ TRỌNG KIM
Ủy viên T.Ư Ðảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
(Nguồn: Báo Nhân Dân)

xaydungdang.org.vn

Nhà báo cách mạng bậc thầy Hồ Chí Minh

Năm 2010 chúng ta kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong niềm vui công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang thu được nhiều thắng lợi, trong đó có công sức đóng góp không nhỏ của nền báo chí cách mạng. Bác Hồ là người thầy báo chí cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người luôn luôn mới với chúng ta.

Với tư cách là người làm báo lâu năm, lại vinh dự nhiều lần được nghe Bác huấn thị, được đọc, được tìm hiểu tư tưởng của Bác về công tác báo chí cách mạng và lại có những giai đoạn được quản lý báo chí, tôi xin đề cập một khía cạnh mà tôi cho là quan trọng, mãi mãi quan trọng, nhất trong tình hình hiện nay “còn mang tính thời sự”, về một số lời khuyên của nhà báo bậc thầy Hồ Chí Minh với các nhà báo Việt Nam về quá trình thu thập thông tin và xử lý thông tin để hình thành các tác phẩm báo chí có chất lượng cao.

Theo tôi hiểu, quá trình hình thành các bài báo là quá trình xử lý thông tin và công bố thông tin. Nhưng muốn xử lý thông tin chính xác, đúng đắn, trước hết lại phải có nguồn thông tin qua quá trình thu thập thông tin của một nhà báo. Nhiều nhà báo có uy tín trong nước và thế giới đều cho rằng, một nhà báo giỏi bao giờ cũng rất giỏi thu thập thông tin, thậm chí cho rằng cả cuộc đời làm báo là cuộc đời thu thập thông tin. Ít nguồn thông tin và bản lĩnh chưa vững của nhà báo thường được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm cho bài báo kém chất lượng, thậm chí sai lạc.

Đọc các giáo trình giảng dạy về báo chí hoặc các phát biểu về nghiệp vụ của các nhà báo có uy tín thường có nội dung hướng dẫn các nhà làm báo cách thu thập thông tin. Phương pháp, kinh nghiệm thu thập thông tin ngày càng phong phú, với công nghệ ngày càng hiện đại và rất bổ ích với người làm báo trong quá trình đổi mới và hội nhập, giao lưu quốc tế.

Trước khi đề cập vấn đề thu thập thông tin, tôi muốn đề cập tới lời khuyên quan trọng và cơ bản của Bác Hồ về công bố thông tin, khi Người căn dặn: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”. “Biết” theo từ điển tiếng Việt, là “nhận rõ thực chất”, tức là phải hiểu đến bản chất sự việc mới nói và viết, nghĩa là thông tin tuy luôn luôn cần nhanh, kịp thời nhưng phải được tìm hiểu, phân tích sâu sắc trước khi công bố; không thể làm việc vội vàng, hời hợt hoặc vì một động cơ không chính đáng nào khác.

Tại Đại hội Đảng lần thứ VI mở đầu thời kỳ đổi mới, có một phương châm rất nổi tiếng cho giới lãnh đạo, quản lý – tôi nghĩ – cũng là cho giới truyền thông là “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Nhìn thẳng vào sự thật là tôn trọng sự thật khách quan, không che giấu, thổi phồng hoặc bóp méo. Nhưng lại cần nhớ là chỉ “nói rõ sự thật” khi đã “đánh giá đúng sự thật”, nghĩa là sự việc đó đã được tìm hiểu, phân tích sâu sắc tới bản chất sự thật. Phương châm thông tin sự thật mà Đại hội VI đề cập là sự tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “biết rõ” trước khi nói và viết.

Ở trên tôi đã trình bày sự cảm thụ của mình về tư tưởng của Hồ Chí Minh trong việc định hướng xử lý thông tin. Nhưng như trên đã phân tích, muốn xử lý thông tin cho chính xác và đúng đắn thì cùng với động cơ trong sáng, bản lĩnh vững vàng còn cần có nhiều nguồn thông tin nhiều chiều qua hoạt động thu thập thông tin. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà báo Hồ Chí Minh cũng đưa ra những lời khuyên về hoạt động thu thập thông tin mà Người gọi là “Tìm tài liệu” để nói và viết. Người nêu lên năm hoạt động: Nghe, Hỏi, Thấy, Xem, Ghi. Tôi sợ dài dòng, chỉ nói việc “xem” theo giải thích của Người là xem sách, xem báo trong nước và nước ngoài, mà ngày nay ta hay dùng từ “Đọc”. Năm phương pháp đó, theo tôi hiểu là hoạt động thường xuyên của nhà báo cũng như hoạt động chuẩn bị cho một bài báo cụ thể, bao gồm thu thập thông tin trực tiếp (qua thấy) và gián tiếp (qua nghe, hỏi, xem).

Chí lớn trên đời thường gặp nhau. Đọc Lời khuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhớ Lời khuyên của học giả Lê Quý Đôn về Đi, Đọc, Nghĩ, Viết. Cụ nói: “Trong bụng phải có hàng vạn cuốn sách”, chân phải “đi muôn dặm đường”, mắt “phải có sức sống kỳ lạ của thiên hạ” thì hãy cầm bút.

Đối chiếu với việc làm của giới báo chí chúng ta, việc làm được cũng như chưa làm được, bài báo thành công cũng như chưa thành công, chúng ta càng thấy bên cạnh những bài báo chính xác, có tư liệu phong phú lại thấy những bài báo và một số tác giả thông tin vội vàng, hấp tấp dẫn tới thiếu sót, thậm chí sai lạc, khi chưa “biết rõ” đã viết và nói ào ào gây nguy hại cho cá nhân và xã hội.

Ngày nay giới báo chí rất vui vì có “Người phát ngôn” của các cơ quan có thẩm quyền để các nhà báo có điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin chính thức. Cũng cần có quy chế cụ thể về “Người phát ngôn” để họ không chỉ thông báo mà còn có khả năng và thẩm quyền đối thoại với các nhà báo.

Tuy nhiên, cho dù quy chế Người phát ngôn có hoàn hảo và có trở thành nguồn thông tin chính thức, quan trọng cũng không thể thay thế mọi nguồn thông tin, vì Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động thu thập thông tin của nhà báo, chỉ trong việc “hỏi” đã rất công phu. Ngoài việc hỏi cán bộ, đảng viên, Người còn khuyên các nhà báo phải hỏi “những người không quan trọng”, nghĩa là Người khuyên phải tiếp xúc nhiều lớp người, nhiều nguồn không chỉ là nguồn thông tin của các nhà lãnh đạo, quản lý để “thông tin nhiều chiều” như văn kiện của Đảng đã yêu cầu.

Trong thời kỳ đổi mới, với kỹ thuật hiện đại, đặc biệt với thông tin nối mạng toàn cầu, giao lưu quốc tế rộng mở, việc thu thập thông tin ngày nay có rất nhiều thuận lợi. Sách, báo rất nhiều. Rồi truy cập với các “Nhà tìm kiếm” trên mạng có thể trong một vài phút đã biết được rất nhiều tư liệu.

Bên cạnh những thuận lợi lớn trong việc thu thập thông tin, lại cần đề phòng việc nhiễu loạn thông tin. “Đói thông tin” hoặc “Nhiễu thông tin” đều làm cho con người khó định hướng tư duy và hành động. Đồng thời lại bắt đầu xuất hiện “Những nhà báo sau máy tính” để miêu tả một số bạn đồng nghiệp (đã bắt đầu xuất hiện ở nước ta), không cần đi đâu, không cần gặp ai, chỉ truy cập thông tin trên mạng để viết bài vì trên mạng có thể có tư liệu, có sự đánh giá của nhiều tác giả khác nhau để người viết lựa chọn. Như thế “nhà báo sau máy tính” sẽ mất khả năng tự tìm hiểu, quan sát, do đó chỉ còn nói dựa theo người khác, không thể có bản sắc để đồng nghiệp và người nghe, người xem tôn trọng, đồng thời làm cho sự nghiệp báo chí kém phong phú.

Trong bài viết này, nhân bàn về thu thập thông tin và xử lý thông tin, tôi muốn ôn lại một số lời khuyên quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy báo chí cách mạng Việt Nam, mà tôi nghĩ rằng nó luôn mới với chúng ta.

Hữu Thọ (Nguyên Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương)
(Nguồn: Báo QĐND)

xaydungdang.org.vn