Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Đạo đức yêu nước thương dân – một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử dân tộc, chúng ta thấy hơn một ngàn năm bị phương Bắc thống trị thì cũng hơn một ngàn năm dân tộc Việt Nam đã kiên trì cuộc đấu tranh yêu nước bất khuất – để giành lại đất nước mở ra kỷ nguyên phát triển rực rỡ.

Mở đầu là hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị. Đất nước sau 190 năm bị đặt dưới ách đô hộ của nhà Hán, dân tình khốn khổ trăm bề, hai Bà đã phát động cuộc chiến đấu với khẩu hiệu: Khôi phục sự nghiệp của các vua Hùng. Mặc dù chỉ giữ được nền tự chủ 3 năm (40-43) nhưng tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đã ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tất cả các thế hệ người Việt Nam chúng ta. Tiếp bước hai bà Trưng, bà Triệu ở tuổi 23 đã phất cờ: Cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng giữ, đánh đuổi quân Ngô, dựng quyền tự chủ, cởi ách nô lệ cho giang sơn… Ý chí cao cả của Bà Trưng, Bà Triệu chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta lúc ấy cao biết chừng nào.

Với ý chí không chịu khuất phục kẻ thù phất cờ khởi nghĩa của Lý Bôn, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Phùng Hải; rồi đến cuộc nổi dậy năm 905 của Khúc Thừa Dụ đã nắm quyền cai trị toàn bộ đất nước trong thực tế, chấm dứt ách đô hộ của người Hán. Người Hán mở hai cuộc phản kích hòng đặt lại ách đô hộ, nhưng đã bị Ngô Quyền đánh bại trên sông Bạch Đằng năm 938, chấm dứt vĩnh viễn thời kỳ Bắc thuộc.

Thân dân vốn là chính sách nổi tiếng của các vua Hùng. Vua và dân cùng đi săn khi bắt được những con thú rừng (hươu, nai…) vua chỉ ăn bộ lòng còn thịt thì để nhường thần dân. Các triều Lê, Lý, Trần đều có chính sách sử dụng những người có tài năng, đức độ trong nhân dân, trong các tôn giáo; mở cửa cho sự du nhập các trào lưu tư tưởng của nước ngoài, khuyến khích sự chọn lọc, đồng thời Việt hoá, biến những giáo lý chính trị đạo đức của Nho giáo thành những tín điều yêu nước, thương dân, tín nghĩa với bạn bè, hoà thuận trong gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, vợ chồng hiếu nghĩa, yêu thương lẫn nhau, lên án tệ chuyên quyền, áp chế và cuộc sống sa đoạ của vua, quan.

Trong bài hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, có những câu nổi bật để lại cho đời về lòng yêu nước, đồng cam cộng khổ giữa chủ tướng và quân sĩ. “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ giận chưa thể xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù… Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ ta thăng chức, lương ít ta cấp bổng, đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười…”.

Nguyễn Trãi trong Đại Cáo Bình Ngô đã tỏ rõ tư tưởng yêu dân, thương dân, tin dân, nên “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.

Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ cũng đã khẳng định rõ ràng tư tưởng vì dân, vì nước trong chiếu lên ngôi: “Ta sinh ra ở đất Tây Sơn, không có một tấc đất, vốn không có chí làm vua, chỉ vì gặp thời loạn, muốn giúp đời yên dân mà phải đứng ra gánh vác việc nước. Xong việc, ta sẽ trả lại tất cả, không ham phú quý. Ta sẽ làm một người thường, cưỡi một con lừa đỏ, rong chơi mọi miền đất nước cho thỏa lòng mong ước”.

Trải bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại thịnh đạt ở nước ta đã kiên trì chính sách lấy nước làm trọng, lấy dân làm gốc, vua tôi một lòng, cha con nhất trí, anh em gắng sức nên thời loạn đã động viên được toàn dân, trẻ già, trai gái, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc đứng lên kiên quyết chống giặc, bảo vệ đất nước. Trong thời bình đã thực hiện chính sách yên dân, bồi dưỡng sức dân, trọng dụng những người hiền tài, mong sao cho “Thôn cùng xóm vắng vơi đi những nỗi hờn giận, oán sầu“. Lê Thánh Tông đã thành công trong cải cách hành chính xây dựng một nhà nước pháp quyền nhưng cũng coi trọng cả nhân trị: “Pháp trị đi đôi với nhân trị mà nền tảng là: Tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, tư tưởng yêu nước, bảo tồn từng tấc đất của ông cha, tư tưởng an dân – lo sao cho dân được an cư lạc nghiệp”.

Hồ Chí Minh đã nâng cao đạo đức yêu nước thương dân thành trung với nước, hiếu với dân trong thời đại mới.Không giống những thanh niên con nhà khoa bảng cùng thời, lập chí lập thân bằng việc dùi mài kinh sử để thi đỗ làm quan, mưu cầu cuộc sống khá giả hơn người, Hồ Chí Minh có chí hướng khác hẳn. Bất bình trước cảnh mất nước, cuộc sống người dân nô lệ, lầm than, xã hội bất công, Người đã dấn thân vào con đường cứu nước cứu dân. Tháng 5-1908, khi còn là một học sinh ở Huế, Người đã tham gia cuộc biểu tình của nông dân 6 huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên đòi giảm phu đài, tạp dịch, sưu cao thuế nặng. Sau đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành không học ở trường Quốc Học Huế nữa mà theo cha vào Quy Nhơn.

Sớm có lòng yêu nước thương dân, Người đã đi khắp năm châu, bốn biển, tự lao động nuôi sống bản thân, quyết chí tìm đường cứu dân cứu nước. Qua 30 năm bôn ba đất khách quê người, Hồ Chí Minh càng đau lòng về tình cảnh các dân tộc thuộc địa bị chủ nghĩa đế quốc, tư bản bóc lột thậm tệ và sự bất công xã hội ở ngay những nước giàu có nhất. Người đã ý thức được một xã hội vô đạo đức sẽ đẻ ra biết bao tai hoạ mà Người đã chứng kiến ở những nơi Người đã đi qua. Trong con người Hồ Chí Minh, lý tưởng giải phóng dân tộc gắn liền với lý tưởng xây dựng nền tảng đạo đức cách mạng, ở đó quan hệ giữa người với người là quan hệ tình người, nhân nghĩa. Bởi thế khi về nước lãnh đạo phong trào cách mạng, ngay từ những lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên, Người đã có bài giảng quan trọng về đạo đức cách mạng “Tư cách của người cách mệnh” và trước khi qua đời bài viết cuối cùng của Người cũng là: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Hồ Chí Minh nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân“(1).Xây dựng xã hội đạo đức là lý tưởng của Hồ Chí Minh. Lý tưởng ấy thể hiện trong lý tưởng sống của Người: “Tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(2).

Đạo đức trung và hiếu có từ ngàn xưa của dân tộc ta, được Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo trong thời đại mới: Trung với nước, hiếu với dân. Hồ Chí Minh cho rằng quần chúng nổi dậy lật đổ chế độ cũ tất yếu là người làm chủ chế độ mới. Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là bước ngoặt chưa từng xuất hiện trong lịch sử của dân tộc ta, trở thành sức mạnh vô biên để kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chính quyền từ xã đên chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3).

Hồ Chí Minh gắn liền trung với hiếu, hiếu với trung. Chưa thấy người có hiếu mà phạm tội bất trung. Người cán bộ, đảng viên chân chính phải là người vừa trung với nước vừa hiếu với dân. Không thể xứng đáng làm người công bộc, người “đầy tớ thật trung thành” của nhân dân nếu không quan tâm đến những khó khăn, thiếu thốn, khốn khổ của nhân dân thậm chí còn tìm cách chiếm đoạt của cải, ức hiếp tinh thần của dân. Hồ Chí Minh răn dạy và yêu cầu cán bộ, đảng viên: “Việc gì có lợi cho dân thì gắng sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh” .Trong bài “Đạo đức cách mạng”, viết năm 1958, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân. Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”(4).Theo đồng chí Hoàng Tùng nguyên Bí thư Trung ương Đảng: “Hồ Chí Minh luôn luôn từ chối nắm quyền lực. Khi bị Quốc tế cộng sản phê phán một cách không công bằng và không được giao công tác, Người không hề oán giận, nhưng kiên trì chân lý. Nhiều lần Người từ chối nhận chức Tổng Bí thư. Khi làm Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Người vẫn nêu ra vai trò tập thể Bộ Chính trị, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Chính phủ. Người dứt khoát bác bỏ tham vọng quyền lực, chỉ muốn sẻ bớt cho người khác, nhưng làm việc hết sức mình với tinh thần trách nhiệm gương mẫu”(5).Có thể nói, Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời kết tinh đạo đức trung với nước hiếu với dân từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam đã nâng lên tầm cao mới trong thời đại ngày nay. Trước khi từ biệt cõi trần, Người viết trong Di chúc:“Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(6). Chúng ta mãi mãi thấm sâu lời căn dặn của Người: “Giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7).

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 5, tr.252-253, 698. (2) Sd, tập4, tr.161. (4) Sd, tập 9, tr.288. (6,7) Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, BCTTW ĐCSVN, H.1969. (3) Tư­ duy truyền thống tư tưởng Hồ Chí Minh của Hoàng Tùng, NXBCTQG, H.1998, tập 2, tr.113.

Hà Văn Tải

quangbinh.gov.vn

Thiêng liêng… lời hứa với Người

Chuyện về người phụ nữ hai lần gặp Bác:

Bà Phạm Thị Thược bây giờ (ảnh chụp tại nhà khách T.78, nơi bà Thược đã ở đây từ gần 7 năm qua.

Một phụ nữ đã sống, chiến đấu cho quê hương đất nước. Sau đó, bà lấy chồng là người nước ngoài làm nhà báo, chuyên viên chiến dịch Điện Biên Phủ, biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam đầu tiên. Khi theo chồng về nước, bà cũng làm việc cho một số cơ quan bên đó. Như để trải lòng và nguôi ngoai nỗi nhớ nhà, trong tâm trí của bà luôn khắc ghi lời hứa thiêng liêng với Bác Hồ là sẽ trở về quê hương trong những ngày cuối đời…

Để thực hiện lời hứa về chuyện sinh ra rồi mất đi sẽ trên đất nước Việt Nam thương yêu của mình, bà phải xa con cháu để trở về quê hương. Và nỗi lòng ấy như được sẻ chia khi chúng tôi tiếp chuyện bà. Đó là ước nguyện của bà Phạm Thị Thược (nguyên quán ở Thái Nguyên). Bà sinh trưởng trong nỗi bất hạnh cùng nhiều đau thương, trái ngang. Nhưng cũng không vì thế mà bà chịu đầu hàng số phận.

Ký ức trở về

Sau một hồi tâm sự, như hồi tưởng lại thời thơ ấu khó khăn cùng những tháng ngày gian khổ, bà kể lại: “Lúc mới được sinh ra thì bố lấy vợ hai, mẹ bỏ tôi lại cho ông bà nội. Hằng ngày, ông bà nội phải xin sữa những người có con nhỏ ở trong xóm làng để nuôi tôi. Khi gần 14 tuổi, ông bà nội mất, tôi phải di tản lên chiến khu Việt Bắc (Thái Nguyên) tìm mẹ nhưng mẹ đã có chồng khác.

Không ở được với mẹ, tôi xin đi dân công tải đạn nơi chiến trường phía Bắc và được giữ lại trong đơn vị quân nhu (sau này là đơn vị hậu cần). Sau đó, tôi kết hôn với một bác sĩ quân y, sinh được một đứa con gái đặt tên là Nguyễn Thị Trọng Hiền. Niềm vui chưa tày gang, ngay sau đó là nỗi buồn khi chồng tôi hy sinh nơi chiến trường.

Ngày giải phóng Hà Nội, tôi về với gia đình bên chồng ở phố Kim Mã và bán tân dược theo bằng cấp của chồng để lại. Một thời gian sau, tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam tại 58 phố Quán Sứ – Hà Nội mai mối tôi với đồng chí Tarrago làm chuyên gia ở Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, do yêu cầu của Đảng và Nhà nước chuyển chồng tôi sang Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam làm biên tập chương trình phát thanh thời sự quốc tế vào năm 1955.

Nghĩ lại, tôi vẫn cảm thấy sợ vì mình không biết tiếng Đức để nói với chồng, nhưng bản thân thì đặt trọn niềm tin vào tổ chức lãnh đạo của Đảng. Đám cưới của chúng tôi được lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam đứng ra tổ chức. Chúng tôi nhận được nhiều lẵng hoa chúc mừng hạnh phúc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các lãnh đạo cao cấp của Quân đội, Bộ Ngoại giao và các cơ quan Sứ quán nước ngoài.

Sau lễ cưới, chúng tôi được ở trong toà nhà số 8 Hồ Xuân Hương, Hà Nội. Lúc đó, ông Phạm Ngọc Thạch (Bộ trưởng Bộ Y tế), ông Phạm Huy Thông (Giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ở chung toà nhà) và Giáo sư Tôn Thất Tùng (công tác bên Bệnh viện Việt Đức, bạn của chồng tôi lúc công tác ở bên Pháp) đã giúp đỡ chúng tôi mọi trở ngại về ngôn ngữ.

Một vinh dự lớn lao là vợ chồng tôi được Bác Hồ mời cơm tại Phủ Chủ tịch. Tại đây, chúng tôi gặp ông trưởng lễ tân Nguyễn Việt Dũng, sau đó là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Năm 1964, Đảng và Nhà nước giải quyết cho tôi đi theo chồng, trở về phục vụ cho đất nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Khi chuẩn bị lên đường theo chồng về nước, gia đình tôi lại được Bác mời ăn cơm và dặn dò.

Gặp Bác, tôi chỉ biết khóc mà không nói được lên lời. Thấy vậy, Bác liền nói những lời căn dặn: “Cháu đi theo chồng cũng là một nghĩa vụ lớn, vì đồng chí Tarrago là người có đóng góp công lao to lớn cho Tổ quốc Việt Nam và là một đồng chí vô sản quốc tế đến làm nghĩa vụ với cách mạng Việt Nam. Người vợ của đồng chí là người con gái của đất nước Việt Nam anh hùng, cháu phải làm sao cho xứng đáng với người vợ của người chiến sĩ cách mạng vô sản quốc tế. Đây cũng là nghĩa vụ của người con gái Việt Nam với Tổ quốc”.

Thấy tôi khóc nhiều quá, chồng tôi đã hứa với Bác: “Nếu vợ tôi qua đời trước, xin hứa với các ngài là tôi sẽ đưa thi hài vợ tôi bằng chuyên cơ về Việt Nam để chôn cất theo truyền thống của người Việt Nam là “lá rụng về cội”. Lời hứa của tôi như vậy, nhưng nếu tôi chết trước vợ, tôi sẽ không thực hiện được lời hứa này với các ngài”. Chính vì lời hứa của chồng tôi với Bác nên tôi mong muốn bản thân mình thực hiện lời hứa thiêng liêng này.

Thiêng liêng… lời hứa với Người

Đó là lời hứa thiêng liêng mà chồng tôi đã hứa với Hồ Chủ tịch và các lãnh đạo của Đảng lúc bấy giờ. Dù thế nào, bằng mọi giá tôi cũng muốn thực hiện ước nguyện với Bác, với đất nước của mình. Giờ đây, tuổi đã cao (gần 80 tuổi), tôi nói lại những suy nghĩ của quá khứ này cũng là để mọi người hiểu dù đi đến chân trời góc bể nào thì con người Việt Nam cũng sẽ luôn tìm về nguồn cội.

Cũng bởi một lý do nữa là giờ đây khi phải xa con cháu nên không còn ai bên cạnh để lo cho mình. Ai cũng cần tình yêu thương thật sự, nhất là những người già như tôi. Chính vì thế, khi trở về đất nước của mình, tôi vẫn còn nhiều người thân ở ngoài Bắc, mong mọi người thân đón nhận sự trở về của mình. Thế nhưng, sự thật không được như mong muốn. Nó khiến tôi ngỡ ngàng, cứ suy nghĩ miên man và không thể thốt thành lời.

Từ phải sang, ông Trần Duy Hưng, bà Phạm Thị Thưọc, ông Lê Quý (TGĐ Đài Tiếng nói VN đầu tiên và trợ lý của ông Qúy).

Một phần do chồng tôi mất năm 1988, nên lời hứa của chồng tôi với Bác Hồ đã không thực hiện được. Tôi thay chồng thực hiện lời hứa với Người cũng là thực hiện cho tâm nguyện của tôi, một người con được sinh ra trên đất nước Việt Nam sẽ lại trở về với đất nước Việt Nam yêu quý. Thế là, từ năm 1990 đến nay, tôi vẫn sống với nỗi cô đơn của người phụ nữ già nhưng không quên được lời hứa mà chồng đã hứa với Người. Lời hứa đó cứ in sâu trong tâm nguyện của bản thân tôi.

Lý do mà tôi phải sống cô đơn cũng một phần vì các con đã có gia đình riêng nên tôi vẫn một mình đi về Việt Nam. Đến năm 2001, tôi về Việt Nam ở hẳn cho đến nay. Những năm đầu tôi sống ở Tuyên Quang, sau lên Thái Nguyên rồi vào Vũng Tàu và cuối cùng là TP HCM. Hơn 6 năm, tôi ở tại Nhà khách T.78 thuộc Văn phòng Trung ương Đảng phía Nam, số 145 Lý Chính Thắng, phường 7, quận 3, TP HCM.

Không biết cái ngày “gần đất xa trời” sẽ đến lúc nào và lo lắng cho hậu sự của mình nếu có xảy ra thì ai, cơ quan nào đứng ra tổ chức đám tang cho mình? Vì vậy nên tôi mong rằng những ước nguyện của mình nếu qua đời cũng chỉ biết nhờ vào Ban lãnh đạo Nhà khách T.78 lo hậu sự.

Thiết tha hơn nữa là mong các cơ quan chức năng giúp tôi thực hiện mong ước được “ra đi” trên mảnh đất Việt Nam quê hương yêu dấu. Đây chính là lời hứa thiêng liêng của chồng tôi đã hứa với Bác và là ước nguyện thiết tha nhất trong cuộc đời mình.

Cũng chính vì lời hứa với Người nên tôi mong các con của tôi là Nguyễn Thị Trọng Hiền Tarrago – Kleivert và Antoine Tân Việt Tarrago hiểu bố mẹ của chúng đã được Bác Hồ quan tâm, dạy bảo. Và vì đất nước Việt Nam có Bác Hồ là niềm kính yêu của cả thế giới nhân loại. Cũng là để các con, cháu của tôi luôn nhớ mãi và ghi sâu trong tim chúng có dòng máu của con người, đất nước Việt Nam anh hùng.

Sau khi theo chồng sang Cộng hoà Dân chủ Đức, bà đã tham gia hoạt động, làm việc ở Hội Liên hiệp Phụ nữ và Bộ Giáo dục Cộng hòa Dân chủ Đức. Bà đã đóng góp nhiều công lao vào việc nêu cao tinh thần “uống nước nhớ nguồn” vì mình là người Việt Nam. Bên cạnh đó, bà cũng tham gia, giúp chồng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ biên tập phát thanh tình hình quốc tế. Nhất là mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Đức.

Thiên Hùng (ghi theo lời kể của bà Phạm Thị Thược)

cand.com.vn

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh – một giá trị đặc trưng cho văn hoá hoà bình

Thế kỷ XX đã qua với hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng trăm cuộc chiến tranh khu vực lớn nhỏ. Nỗi khủng khiếp trước thảm họa Hirốima và Nagasaki đến nay vẫn chưa thôi nhức nhối trong trái tim nhân loại. Trái đất càng trở nên mong manh hơn khi vũ khí hủy diệt ngày càng được hoàn thiện, sự tích lũy ngày càng lớn, đủ sức làm nổ tung cả hành tinh bé nhỏ của chúng ta.

Hòa bình là khát vọng của nhân loại, bởi trong thực tế tồn tại mấy nghìn năm qua, loài người chưa bao giờ được sống trong một thế giới hòa bình. Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, bước vào thiên niên kỷ mới, loài người càng thấm thía nhận ra rằng không thể giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng vũ khí mà phải bằng thông cảm, hiểu biết, đối thoại, bằng văn hóa khoan dung. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hoà bình mà linh hồn của nó chính là lòng nhân ái, khoan dung.

“Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung, nhân ái Việt Nam.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở lòng yêu thương mênh mông, sâu sắc đối với con người, ở niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người, dù nhất thời họ có lầm lạc, còn nhỏ nhen, thấp kém; từ đó Người nhắc nhở chúng ta “phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. “Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ”.

Đối với những quan lại cũ, cả với những người từng có nợ máu với cách mạng, Người cũng khuyên “không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới,… mà nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung”. Để làm được điều đó, Người nhắc nhở chúng ta phải vượt qua những thiên kiến, hẹp hòi. “Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu”.

Chính sách đại đoàn kết và tấm lòng khoan dung, độ lượng của Bác Hồ đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã cảm hoá được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ, một lòng một dạ đi theo cách mạng và kháng chiến, không quản ngại gian khổ, hy sinh.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở thái độ trân trọng, cái nhìn rộng lượng đối với những giá trị khác nhau của văn hoá nhân loại, là chấp nhận giao lưu, đối thoại, tìm ra cái chung, nhằm đạt tới sự hoà đồng, cùng phát triển.

Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hoá. Trong khi chống Pháp, Người vẫn yêu mến và đề cao văn hoá Pháp; chống Mỹ và vẫn ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ. Bản thân Người là hình ảnh kết tinh của tinh hoa văn hóa nhân loại Đông và Tây. Trong một thế giới cộng sinh về văn hóa, có sự giao lưu giữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và cái dị biệt, khoan dung Hồ Chí Minh là chấp nhận đối thoại về giá trị, là truy tìm cái chung, cái nhân loại để hòa đồng. Người đã viết: “Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”.

Là một nhà ngoại giao biết thương lượng, có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết tìm ra mẫu số chung cho mọi cuộc đối thoại. Người nói với người Pháp: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức tự do, bình đẳng, bác ái độc lập”.

Với các tôn giáo, Hồ Chí Minh thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức – nhân văn của các vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định mà khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Mùa hè năm 1946 tại Paris, Người đã tiếp một nhóm linh mục công giáo đến thăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận, một người công giáo xác tín, chống cộng. Sau này, ông ta đã thuật lại trong cuốn hồi ký của mình lời của Hồ Chí Minh trong buổi gặp: “Mục đích của Chính phủ ta là đeo đuổi chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Để đạt hạnh phúc đó mọi người cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu đức Giễu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi đau của người đồng thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm cứu khổ loài người”.

Tại cuộc họp mặt đại biểu các tôn giáo, đảng phái tại Chùa Bà Đá mừng Chính phủ liên hiệp lâm thời vừa thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Giatô giáo tin ở Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với nhân dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn làm gì, ta phải theo nấy”.

Nói về khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh, chính J.Sainteny thừa nhận: “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu bất kỳ một tôn giáo nào'”.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác, bất công, xã hội và tất cả cái gì chà đạp lên “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi con người và mỗi dân tộc. Người nói: “Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp cách mạng của mình bằng một cử chỉ hòa bình: đưa yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vecxay (1919). Nhưng Người biết: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”, bởi vậỵ, Người cũng đã nói từ rất sớm: “Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hòa thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai, thích cánh với năm châu”.

Trong cuộc xung đột Việt – Pháp, giữa hai giải pháp hòa bình và bạo lực, Hồ Chí Minh luôn luôn chọn giải pháp hòa bình, nên Người đã chấp nhận thỏa hiệp, nhân nhượng: ký Hiệp định sơ bộ 6.3 rồi “Tạm ước 14.9; không quản bất trắc, hiểm nguy, Người sang tận thủ đô nước Pháp để tìm kiếm hòa bình. Rất tiếc, thiện chí đó đã không được đáp lại.

Đến khi đối phương buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên tự vệ, Người đã luôn luôn giáo dục chúng ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược phản động Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình và công lý. Người đã tìm mọi cách để hạn chế đến mức thấp nhất những thương vong trên chiến trường, cho quân ta và cho cả quân địch. Người nói một cách xúc động: “Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp hay là người Việt đều là người”. Người nhắc nhở mục tiêu của chúng ta là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lược của địch chứ không phải là đánh tiêu diệt hoàn toàn chúng trên chiến trường. Ta hiểu vì sao Người không tán thành cách gọi một trận đánh chết nhiều người là một trận đánh “đẹp”! Người nói: “Đánh mà thắng là giỏi, nhưng không đánh mà thắng lại giỏi hơn”, nên theo binh pháp của cha ông, “đánh vào lòng người là hơn hết, đánh vào thành trì là thứ hai”, vì vậy Người tất coi trọng địch vận, ngụy vận, coi “khéo ngụy vận thì đó cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch”.

Đối với những tù binh và thường dân Pháp bị ta bắt trong chiến tranh, Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ ta phải nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, phải đối xử khoan hồng đối với họ để “cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”. Người chỉ thị cho Bộ tài chính của ta cấp cho mỗi người lính hay thường dân Pháp bị bắt 200 đồng/mỗi tháng, trong khi mức ăn của bộ đội ta chỉ có 150 đồng/tháng, với lý do “ta có thể chịu kham khổ được, nhưng đối với họ cần phải rộng rãi hơn”. Một lần đến thăm trại tù binh Pháp bị bắt trong chiến dịch Biên giới, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì lạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo người đang mặc, trao cho anh ta.

Trong thư gửi cho tướng R.Xalăng, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, (6-1947), một người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt chuyến Người sang thăm nước Pháp, đã từng được Người coi là bạn, có đoạn viết: “Chúng ta đã từng là những người bạn tốt… Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!… Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta trở thành bạn hữu của nhau”.

Thật là ngôn luận của một hiệp sĩ, một chính nhân quân tử! Chúng ta chiến đấu vì những mục tiêu cao cả hòa bình, độc lập dân tộc, chứ không vì lý do nào khác. Hoàn cảnh đã buộc phải chiến đấu thì hãy chiến đấu ra trò, cao thượng và chính trực, để sau chiến đấu, lại trở lại là những người bạn! Người đã làm hết sức mình để không gây ra mối hận thù đối với dân tộc Pháp, một dân tộc mà Người luôn luôn yêu mến và kính trọng.

Qua đó, có thể thấy: khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh không phải là một sách lược mà là sự kế tục và phát triển truyền thống khoan dung, nhân ái của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử và cũng là sự thể hiện bản chất nhân văn, chính nghĩa của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Khoan dung cũng là một biểu hiện sức mạnh của cách mạng, chỉ có những cuộc cách mạng chân chính, được lòng dân, mới có sức thuyết phục, cảm hóa trái tim, khối óc của quần chúng, bao gồm cả những người lầm lạc và chống đối.

Ngày nay, trên thế giới, chiến tranh lạnh đã qua đi, nhưng loài người vẫn đang phải sống trong “một nền hòa bình nóng”. Nhiều nơi vẫn đang diễn ra những cuộc chiến tranh, xung đột đẫm máu về lãnh thổ, dân tộc, sắc tộc và tôn giáo. Do thiếu một thái độ khoan dung, người ta tự coi mình là độc tôn, đi tới dị hóa, kỳ thị với tất cả cái gì không phải là mình! Ngược lại, cũng đang có những thế lực mưu toan lợi dụng cái gọi là “bản chất chung của con người” để áp đặt cho các dân tộc khác những giá trị xa lạ với truyền thống văn hóa của họ. Khi không áp đặt được, họ sẵn sàng dùng sức mạnh của bom đạn, sắt thép để khuất phục ý chí của một dân tộc có chủ quyền. Chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang đe dọa quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc trong hòa bình, tự do, độc lập; quyền được lựa chọn con đường phát triển riêng theo lý tưởng và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc. Chính trong điều kiện đó, giáo dục, bồi dưỡng và phát triển lòng nhân ái, khoan dung đang là một yêu cầu cấp bách, trong đó tấm gương khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh đang được nhắc nhở như một giá trị tiêu biểu cho đặc trưng văn hóa của thế kỷ XXI – văn hóa hoà bình.

GS. Song Thành, Viện Hồ Chí Minh

quangbinh.gov.vn

Độc lập cho Tổ quốc là mục đích cao nhất

Bìa cuốn sách "Hồ Chí Minh - Người mang lại ánh sáng".

“Một thân hình gầy yếu với chòm râu nhỏ trong bộ đại cán cũ kỹ, và đôi dép cao su đã sờn, Hồ Chí Minh thể hiện hình tượng về một Bác Hồ khiêm tốn, hòa nhã. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn, nhà dân tộc nhiệt thành luôn theo đuổi một mục đích duy nhất: độc lập cho Tổ quốc mình…”.

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2011), 100 năm ngày Người rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước (1911-2011), Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Hội Xuất bản Việt Nam, dưới sự bảo trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông đã cho ra mắt đông đảo bạn đọc cuốn sách “Hồ Chí Minh – Người mang lại ánh sáng”. Sách do Nhà xuất bản Thời đại ấn hành.

Cuốn sách tập hợp 61 bài viết của nhiều tác giả quốc tế và Việt Nam, cung cấp những tư liệu quý về cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Có thể thấy trong tập sách này sự góp mặt của các tác giả thuộc nhiều quốc tịch khác nhau như: Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Ba Lan, Hàn Quốc và Việt Nam.

Ngay ở bài đầu tiên, cũng là tên tập sách, là bài viết của nhà báo Stanley Karnow đăng trên tạp chí Time. Stanley là cây bút đã từng đoạt giải Pulitzer và là một chuyên gia về Việt Nam, nổi tiếng với cuốn sách “Việt Nam: A history”. Phải nói thêm, Time là một tạp chí uy tín của Mỹ, phát hành toàn thế giới, đã nhiều lần đưa hình ảnh chân dung Hồ Chí Minh và các sự kiện về Việt Nam lên trang nhất. Time đã bình chọn Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như chính khách, khoa học, văn nghệ sĩ… có ảnh hưởng lớn nhất đến hành tinh của chúng ta trong thế kỷ XX.

Tác giả Stanley viết: “Một thân hình gầy yếu với chòm râu nhỏ trong bộ đại cán cũ kỹ, và đôi dép cao su đã sờn, Hồ Chí Minh thể hiện hình tượng về một Bác Hồ khiêm tốn, hòa nhã. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn, nhà dân tộc nhiệt thành luôn theo đuổi một mục đích duy nhất: độc lập cho Tổ quốc mình… Đối với người Mỹ, đây là cuộc chiến tranh dài nhất và là lần thất bại đầu tiên trong lịch sử của họ. Nó còn làm thay đổi nghiêm trọng cách nhận thức về vai trò của họ trên thế giới”.

Có thể kể ra trong cuốn sách những bài viết thú vị của tác giả nước ngoài như: “Những cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Franz Faber, “Hồ Chí Minh – Từ Cách mạng đến thần tượng của Pierre Brocheux, Hồ Chí Minh – Nhà cách mạng Đông Dương” của báo Nhân đạo Alain Ruscio, “Hồ Chí Minh và các giá trị phương Đông” của Georges Boudarel, “Những quan hệ đầu tiên giữa Hồ Chí Minh với Đảng Trung Hoa” của Qiang Zhai, “Kremli và Hồ Chí Minh” của I.B.Bukharkin, “Một nhà văn Nhật viết về Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Pháp” của Kiyosi Komatsu, “Kỷ niệm về Hồ Chí Minh” của Lise London… Mỗi người viết, từ nhận thức đánh giá và kỷ niệm riêng đã cho bạn đọc thấy rõ hơn tầm vóc quốc tế của Người và lòng kính trọng, khâm phục của bạn bè quốc tế, trong đó có cả những người không cùng chính kiến dành cho Người.

Nhà nghiên cứu người Pháp gốc Việt Pierre Brocheux nhận định: “Ông (Bác Hồ – PV) đã bộc lộ những đức tính và thiên tài gắn bó với con người ông và được mọi người thừa nhận. Một đặc điểm tư tưởng của ông là không hề có óc giáo điều, từ chối xóa bỏ hết mọi cái của quá khứ văn hóa, sự lo toan xây dựng cây cầu nối giữa quá khứ và hiện tại và bằng cách chọn lọc trong quá khứ những cái mà ông có thể kích thích hiện tại…Tính hài hước, tính nhạy cảm và sự gần gũi của ông đã khiến cho nhiều người đã biết ông trong những năm 1920 ghi nhớ trong kỷ niệm khi họ nhắc lại. Đấy là những nét đã hấp dẫn những ai đã gần ông hay có tiếp xúc với ông trong cuộc sống hàng ngày.

Nhà báo Đức F.Faber may mắn có nhiều dịp được đi với Bác Hồ về cơ sở đã kể lại: “Tôi đã có thể ngồi bên Người hàng giờ liền và được thấy rõ những đức tính tuyệt vời của Người, trên tư cách một vị lãnh đạo nhà nước và cũng trên tư cách một con người, mà ngay những kẻ chống đối tệ hại nhất cũng không thể hạ thấp Người được.

Tác giả người Pháp Georges Boudarel nhắc lại một câu nói của Bác Hồ: “Trong đoàn thể của chúng ta có những người chỉ biết nói, nói hàng 2-3h đồng hồ, nói mênh mông trời đất. Nhưng chỉ chừa một điều không nói đến là, những việc thiết thực cho địa phương. Những người như vậy thì không thể dùng vào công việc cụ thể”. Và Boudarel kết luận: “Chân dung đẹp nhất của Hồ Chí Minh là gì? Xét cho cùng đã có trong đạo đức kinh: Viên tướng giỏi không tỏ ra vũ dũng. Người giỏi tác chiến không tỏ ra hung hăng. Người khéo thắng địch không giao phong với địch. Người khéo chỉ huy thì tự đặt mình ở dưới người”.

Bác Hồ với đại biểu Quốc hội. Ảnh: Bùi Á.

Riêng trong quan hệ của Người với các bậc cách mạng tiền bối của Việt Nam theo nhiều khuynh hướng khác nhau, dẫu có lúc bất đồng, nảy ra các cuộc tranh luận, nhưng trước sau Người đều thể hiện niềm kính trọng yêu nước, yêu dân của các vị. Và điều đặc biệt là, các bậc cao niên ấy về sau đều chung lời khen ngợi và gửi gắm niềm tin vào một bậc hậu sinh có thể gánh vác vận nước là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Có tư liệu về lời các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền nhắn nhủ mọi người: “Độc lập của nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc”.

Trong bức thư bằng chữ Hán gửi quốc dân, cụ Huỳnh đã viết: “Người thân yêu kính mến nhất của đồng bào quốc dân chúng ta là Hồ Chí Minh tiên sinh. Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia, chân đi khắp năm châu, mát trông xa vạn dặm, nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ… Là người nổi tiếng kiên cường, bất khuất và ngang ngạnh trước bạo lực và cường quyền”. Cụ còn nói: “Ông Hồ không đồng xu dính túi. Nói về bằng cấp thì ông không tiến sĩ, phó bảng gì cả. Nhưng nói về tri thức và sự nghiệp cách mạng thì chắc chắn lớp chúng ta cũng như lớp trước chúng ta, không ai bì kịp. Sự hiểu biết của ông Hồ rất xa, rất rộng”.

Kể lại những câu chuyện về Người trong một cuốn sách quý, mỗi người Việt Nam sẽ có thêm niềm tự hào và động lực để tiếp tục sự nghiệp xây dựng đất nước. “Hồ Chí Minh – người mang lại ánh sáng” sẽ tiếp tục mang ánh sáng của Người soi rọi con đường của dân tộc hôm nay

Phương Trang

cand.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm trí Sư bà Thích Nữ Diệu Không

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Sư bà dạy tôi: “Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!

Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, mà tôi đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi) đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao. Bà Tâm Hải bảo tôi:

– Sư bà Thích Nữ Diệu Không rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp Bà và đề nghị Bà viết cho một bài. Tôi đến xin gặp Sư bà ngay nhưng lúc ấy Sư bà không có ở Huế.

Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ. Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự.

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình Người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm Người như một bậc Thầy.

Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo Chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.

Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi Chí lớn,
Lòng thành trong sạch Nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ thì có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.


Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác là Mùa thu Bính Thìn năm 1976, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (GS Bác cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch:

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách Thuyền quy,
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi.

Thích Nữ Diệu Không dịch:

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi.

(Mùa thu Bính Thìn, 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long – Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưaThăm tháp Quảng Đức(chùa Hòa Giai, Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịchThăm trường Quảng BáĐêm thu trên Hồ TâyĐi thăm mộ… và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi thăm lăng Hồ Chủ tịch:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù Người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời Di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà.

Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo. Sư bà dạy tôi:

– “Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!”.

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng… không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng và người thân của liệt sĩ ít dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận.

Sau chiến dịch Huế – Xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng. Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân” đứng ra xin chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan là một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế và chắc chắn không còn có nhà báo chuyên viết chuyện châm biếm sâu sắc Hoàng Thiếu Phủ sau này nữa.


Sư bà Diệu Không và các ông (hàng đứng, từ trái sang):
Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Ân sau ngày đất nước thống nhất
tại Hà Nội. Ảnh TL gia đình Hồ Đắc.

Và, anh trai của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế sẽ khó lòng được yên ổn để đi đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn, ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng Cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Nam Trung phần từ Huế vào đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn. Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng.

Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sỹ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo. Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật Sư.

Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện ngày 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch:

Tặng Việt Nam độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt này.

Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ, không những biết rõ sự nghiệp cứu nước của Bác mà còn đồng hành cùng hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Mặc dù, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam, nhưng theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo.

Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo Chánh / Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông”. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Vài nét về Sư bà Thích Nữ Diệu Không

Sư bà Thích Nữ Diệu Không, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42, thế danh Hồ Thị Hạnh, sinh 24/12/1905, quê ở làng An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên Huế, con gái của Đại thần Hồ Đắc Trung, em ruột của những người có tên tuổi như Tổng đốc Hồ Đắc Điềm, Bác sĩ Hồ Đắc Di, Đệ nhất Giai phi của vua Khải Định Hồ Thị Chỉ, Sư bà Diệu Huệ (thân mẫu của nhà bác học Bửu Hội)…

Tuổi nhỏ bà theo Nho học, lớn lên theo Tây học. Bẩm chất thông minh, xinh đẹp. Năm 24 tuổi (1929), bà kết duyên với ông Tham tá Cơ mật viện Cao Xuân Xang (con trai cụ Cao Xuân Dục). Năm 1930, bà sinh Cao Xuân Chuân, không lâu sau đó ông Tham tá thất lộc. Tình nghĩa của bà chỉ vỏn vẹn 11 tháng. Bà thủ tiết thờ chồng, nuôi con và hoạt động từ thiện xã hội với Đạm Phương nữ sử (thân mẫu của nhà văn Hải Triều Nguyễn Khoa Văn).


Bà Hồ Thị Hạnh thời trẻ.

Năm 1932, bà vào ở chùa Trúc Lâm, được học Phật với tổ Giác Tiên sau các vị Mật Khế, Đôn Hậu, Vĩnh Thừa, Mật Hiển, Mật Nguyện và Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Cuối năm 1932, bà lên chùa Khải Ân để cộng trú với Sư bà Thể Yến, Hướng Đạo (tức sư bà Diệu Viên).

Năm 1933, bà thành lập Ni viện ở Tổ đình Từ Đàm. Năm 1934, lập nên Ni viện Diệu Đức – Ni viện đầu tiên ở Huế. Năm 1938, bà vào chùa Giác Linh, tỉnh Sa Đéc để lập trường đào tạo Ni giới.

Năm 1949, bà khai sáng Hồng Ân Ni tự. Năm 1952, khởi xướng lập chùa Bảo Quang, chùa Bảo Thắng ở Đà Nẵng.

Năm 1953, xây dựng chùa Tịnh Nghiêm ở Quảng Ngãi. Năm 1960, xây dựng Ni viện Diệu Quang ở Nha Trang.

Năm 1961, lập chùa Dược Sư ở Gò Vấp, lập chùa Từ Nghiêm ở Chợ Lớn.

Năm 1963, tham gia phong trào tranh đấu Phật giáo để chống lại chính sách bất bình đẳng tôn giáo của dòng họ Ngô, bà liền tham gia cuộc tuyệt thực ở chùa Ấn Quang. Khi Ủy ban Liên phái quyết định có thể phải hy sinh thân mạng, bà xin tự thiêu trước. Nhưng rồi Ni chúng phải y theo Tăng chúng, Hòa thượng Thích Quảng Đức được vị Pháp thiêu thân trước.

Cũng thời gian đó, bà bí mật nhờ cháu là Bác sĩ Bửu Hội đưa hồ sơ chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo ra nước ngoài. Nhờ đó thế giới biết rõ tội ác của chính quyền Diệm.

Năm 1964, bà dựng chùa Diệu Giác ở Thủ Đức và góp phần xây dựng Đại học đường Vạn Hạnh. Năm 1965-1966, lại một lần nữa bà dấn thân cho cuộc tranh đấu đòi dân chủ dân quyền. Pháp nạn 1966 của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1967, tạo lập Tịnh xá Kiều Đàm ở đường Công Lý – Sài Gòn. Năm 1968, vâng lời Giáo hội Thừa Thiên, đứng ra lo công tác xây cất Cô nhi viện Bảo Anh ở Tây Lộc – Huế và Cô nhi viện Diệu Định ở Đà Nẵng, để có nơi nuôi dưỡng con em mồ côi do chiến tranh gây ra.

Năm 1970, bà biến trụ sở nhà in Liên Hoa cũ thành Tịnh xá Kiều Đàm, tổ chức đào tạo cán bộ y tế cấp tốc, lập các trạm y tế Hồng Ân, Diệu Đế, Hòa Lương để cứu giúp dân bị thương tích trong chiến tranh.

Năm 1975, tổ chức các hoạt động hưởng ứng công cuộc Giải phóng miền Nam. Năm 1986, tuy tuổi già sức yếu, bà vẫn đứng ra vận động và trực tiếp trùng tu chùa Đông Thuyền.

Về văn hóa, bà đã để lại những áng thơ hay, nhiều bản dịch kinh, luận như: Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Đại Trí Độ Luận, Thành Duy Thức Luận, Kinh Duy Ma Cật.

Bà quản lý hai tờ báo Phật giáo Viên Âm và Liên Hoa từ số đầu tiên cho đến ngày đình bản.

Sư bà viên tịch vào ngày 23/8 năm Đinh Sửu (nhằm ngày 24/9/1997), hưởng thọ 93 tuổi, 65 năm ở chùa và được 53 hạ lạp.

honvietquochoc.com.vn

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Bác Hồ đời đời – Sự thật về DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”

LÊ TRỌNG VĂN (San Diego, California)

Trước hết, xin có đôi lời, tôi chỉ là người Việt Nam bình thường như mọi người Việt Nam khác biết yêu thương quê hương và nòi giống Lạc Hồng. Tôi không phải là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay hội viên của bất cứ tổ chức chính trị nào. Sở dĩ, tôi viết bài này vì nhận thấy gần đây có nhiều người viết sai sự thật lịch sử về Hồ Chí Minh.

Lý do tôi viết bài này

Hôm nay là ngày 2 tháng 9, ngày lễ Độc lập của nước Việt Nam; để tưởng nhớ đến sự nghiệp cách mạng và công ơn Bác đã lãnh đạo, quy tụ được trí thức, chủ trương toàn dân đoàn kết kháng chiến giành độc lập thắng lợi, nên tôi viết bài này.

Đối với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của riêng Việt Nam mà đích thực, Hồ Chí Minh là vĩ nhân của thế giới. Người đã đi tiên phong trong công cuộc giải phóng dân tộc của các nước bị trị bởi thực dân trên toàn thế giới. Không phải bây giờ tôi mới nói điều này mà tôi đã viết trong quyển: Việt Nam – Những sự kiện lịch sử trong thế kỷ 20, trang 201, xuất bản tại Mỹ năm 2005:


Chủ tịch Hồ Chí Minh tại mặt trận Đông Khê (1951). Ảnh TL.

Tất cả công trạng ông Hồ đòi được và nhờ vậy sau này ông Diệm được hưởng, quốc vương Lào Savang Vatthana, ông hoàng Norodom Sihanouk của Cao Miên, đòi được độc lập năm 1954; Tunisie được trả độc lập năm 1956, Madagascar năm 1960, Sénegal năm 1960, Congo năm 1960, Cộng hòa Nam Phi năm 1962, Algérie năm 1962; Ấn Độ thuộc địa Anh được độc lập năm 1947 (ngày 14/8/1997 họ mới kỷ niệm 50 năm độc lập), Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949, Mã Lai Á thuộc địa Anh được độc lập năm 1957, Singapore năm 1958. Chỉ riêng Philippines được Mỹ tự ý trao trả độc lập năm 1946. Tất cả đó là do công của ông Hồ và Đảng cộng sản Việt Nam đứng lên lãnh đạo cuộc chiến tranh thần thánh giải phóng dân tộc, đánh đổ chế độ thuộc địa, chế độ thực dân trên toàn thế giới”.

DVD Sự thật về Hồ Chí Minh chỉ là ác ý, bịa đặt, nói xấu

Mới đây, ở nước ngoài; một nhóm chống Cộng và chống luôn cả dân tộc đã hồ hởi làm ra một DVD Sự thật về Hồ Chí Minh. DVD đó là “sản phẩm trí tuệ” của linh mục Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo? Và hai người này đồng thời lập ra một tổ chức có tên gọi là “Phong trào Quốc dân đòi đổi tên Sài Gòn”.

Thật ra, người ta chỉ mượn danh Lm. Lễ để lôi kéo những người công giáo vào cho đông. Đằng sau DVD này là nhiều tổ chức, trong đó có Việt Tân và có nhiều chuyên viên làm phim thực hiện.

Mặc dù DVD được phát không và đã được vận động ồn ào, quảng cáo rầm rộ trên nhiều báo, nhiều đài, nhiều trang web; nhưng đa số người Việt di tản thầm lặng không mấy hưởng ứng, đến nỗi phải quảng cáo phát không và gửi đến tận nhà không mất cước phí.

Sau khi DVD Sự thật về Hồ Chí Minh được tung ra, thì đã có nhiều bài viết đả kích và cũng có nhiều người lên tiếng ủng hộ trong giới chống Cộng.

Tôi cũng được một người bạn gửi tặng DVD quảng cáo Sự thật về Hồ Chí Minh, tôi đã xem hai lần, nhưng trong đó không có gì về sự thật Hồ Chí Minh cả, mà chỉ nói vớ va, vớ vẩn về đời tư của ông. Những người này nói ông Hồ Chí Minh có nhiều tên. Ngày sinh nhật không phải ngày 19 tháng 5. Ông có nhiều vợ và đã làm đơn xin việc với Phủ Toàn quyền Đông Dương…

Chẳng lẽ họ không biết rằng, một người muốn hoạt động chống thực dân phải có nhiều tên để che giấu lý lịch của mình. Họ cũng không biết rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những 1205 bài báo và có tới 53 bút danh. Còn nói Hồ Chí Minh có nhiều vợ thì mọi người đều biết rằng lúc về Hà Nội, Bác chỉ sống độc thân cho tới lúc mất.


Hồ Chủ tịch lội suối đi công tác. Ảnh TL.

Cái mà mọi người để ý đến là Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu gì trong việc cứu nước? Về vấn đề làm việc hay xin việc làm với chính quyền bảo hộ, tôi cho rằng nếu muốn chống lại kẻ địch thì cách tốt nhất nên đi sâu vào nội bộ địch. Họ đã cố tình hiểu sai, viết sai và nói sai với mục đích xuyên tạc sự thật.

Rõ ràng việc làm ra DVD này là không trung thực và hàm hồ vì những người có liên hệ đến DVD Sự thật về Hồ Chí Minh đều là những người có lập trường chống Cộng. Hơn nữa, họ không phải là những nhà viết sử chân chính. Họ không phê bình Hồ Chí Minh hay việc làm của ông mà toàn là bịa đặt, xuyên tạc, nói xấu. Xét ra, họ không đủ tư cách để viết hay nói về cuộc đời của Hồ Chí Minh.

Phản tác dụng của nhóm làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh

Hai tác giả của DVD là Lm. Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo đã có nhiều tai tiếng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Nhất là trong vụ Bùi Đình Thi (cựu đại úy của miền Nam), Lm. Lễ đã ra làm chứng trước Tòa án Mỹ nhằm buộc tội ông Thi nên bị nhiều người phản đối. Còn ông Trần Quốc Bảo, người đứng đầu tổ chức đảng Phục Hưng Việt Nam có liên hệ với Việt Tân cũng là đại diện của “Phong trào Quốc dân đòi lại tên Sài Gòn”.

Với Lm. Lễ, xin hãy đọc một đoạn sau đây thì biết Lm. Lễ là người như thế nào? Trong Thư ngỏ đăng trên báo Người Việt gửi Lm. Nguyễn Hữu Lễ của ông Joseph Minh Tong (minh7us@yahoo.com) viết:

Xin hãy trở về với “Thiên chức linh mục” của mình và xin linh mục hãy từ bỏ những bài báo, e-mail và những cụm từ không mấy tốt đẹp mà dân gian vẫn dùng kèm theo với chữ “cha” để diễn tả.

Xin hãy dẫn dắt đoàn chiên của ngài đến ăn những đồng cỏ xanh tươi, uống những dòng suối nước trong lành, không có độc tố hận thù, ích kỷ, nhỏ mọn. Tội nghiệp thay cho đoàn chiên Việt chúng tôi đã quá đau khổ trong bao nhiêu năm qua vì hận thù, chém giết. Xin cho chúng tôi và con cháu chúng tôi nghe chuyện yêu thương, tha thứ, rộng lượng và còn biết bao nhiêu giá trị tinh thần khác mà hơn ai hết là một mục tử ắt linh mục biết, nhưng có lẽ linh mục đã để lòng thù hận che mất đi từ khi nào.

Cái nhìn của linh mục đã quá ư hẹp hòi và văn chương của linh mục chứa đầy hận thù, ích kỷ và gương xấu. Linh mục có dự định yêu cầu bà con ở Việt Nam chấm dứt xuất ngoại, cũng như đừng gửi thư ra nước ngoài xin giúp đỡ và rồi kiều bào Việt Nam ở hải ngoại đừng gửi tiền về cho thân nhân không? Số tiền giáo dân giúp cho Giáo hội Việt Nam làm sao sánh được với số tiền khổng lồ mà bà con ở hải ngoại gửi về giúp thân nhân hằng năm”.

Việc đòi lại tên Sài Gòn

Theo tôi, phải đặt câu hỏi: Ai đòi và đòi ai?

Ông Bảo nói: Quốc dân đòi. Thật ra từ “Quốc dân” để chỉ nhân dân ở trong nước. Ngay cả ông Bảo và Lm. Lễ đã xin đổi quốc tịch Việt Nam rồi. Đâu còn quốc tịch Việt Nam nữa. Hai chữ “Quốc dân” dính liền với đồng bào trong nước. Ông Bảo lấy tư cách gì mà hiệu triệu quốc dân đồng bào?


Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Ảnh TL.

Và nếu đòi được thì đòi bằng cách nào? Đòi với ai?

Chúng ta cứ xem lịch sử Hoa Kỳ thì biết, người dân Mỹ là những dân nhập cư tứ xứ, hợp chúng nhưng người ta không mang trong đầu óc hận thù, thiển cận, hẹp hòi. Miền Bắc thắng miền Nam và đi tới thống nhất đất nước Hoa Kỳ. Họ đâu có nuôi hận thù và gây chia rẽ; trái lại họ đã chung lưng đấu cật, xây dựng một Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ giàu mạnh nhất thế giới.

Bất kỳ ở bang nào tại Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ cũng lấy tên tổng thống Washington; không một bang nào là không có. Vậy thì việc đổi tên thành phố Sài Gòn ra Thành phố Hồ Chí Minh không phải là điều lạ mà là điều phổ thông trong lịch sử cận đại.

Lịch sử đã sang trang, dù những người chống Cộng ở nước ngoài có muốn thay đổi cũng không thể lật ngược được lịch sử?

Làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh để bịa đặt, nói xấu và làm tiền

Lý do tại sao họ làm ra DVD trên đây? Vì những người chống Cộng ở nước ngoài nghĩ rằng cứ đạp đổ huyền thoại về Hồ Chí Minh tất nhiên sẽ đem lại thắng lợi trong công cuộc chống Cộng. Cái tên “Hồ Chí Minh lừng lẫy khắp năm châu”, cái tên Hồ Chí Minh làm cho họ ăn không ngon, ngủ không yên nên phải tìm cách hạ cho bằng được, bất kể bằng phương tiện nào?

Mục đích của những người làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh là để trục lợi. Nhưng họ đã mua lấy thất bại vì ngây thơ tưởng rằng sẽ bán DVD được nhiều là có tiền. Nhưng sự thật lại khác hẳn, đa số Việt kiều thầm lặng không ai mua và cũng không muốn xem đồ giả được ráp nối sơ sài. Chỉ có một số ít chống Cộng lấy DVD về xem nhưng lại “quên” gửi tiền ủng hộ.

Mặt khác, nếu chúng ta xem kỹ DVD sẽ thấy trong DVD, họ đã không cắt xén được sự nghiệp cao cả cứu nước của Hồ Chí Minh.

Nếu nhận xét kỹ, chúng ta sẽ thấy những phần tử chống Cộng ở nước ngoài chẳng làm nên trò trống gì mà chỉ biết nói ba hoa, viễn vông; sống với dĩ vãng chẳng có gì là tốt đẹp như vấn đề “cờ vàng ba sọc đỏ” chẳng hạn. Họ đều gọi cờ đó là quốc kỳ. Nếu đã là quốc kỳ thì phải có đủ các yếu tố: Lãnh thổchủ quyền và nhân dân làm gốc. Thiếu một trong những điều kiện trên đây thì sao gọi là quốc kỳ được?

Hiện tại, họ đang sống gửi trên đất người. Hơn ba chục năm chống đối Việt Nam từ chống Cộng đi tới chống lại dân tộc, chưa có lần nào đạt được thắng lợi cho dù là cỏn con. Kết quả là đi từ thất bại này đến thất bại khác; riết rồi hy vọng trở thành ảo vọng. Hiện tại thì gãy đổ, tương lai thì mù mịt, quanh quẩn chỉ đấu láo với nhau và nuôi dưỡng hận thù.

Họ không có gì để bám víu nên chỉ sống với quá khứ để tự an ủi lấy mình, sống cho qua ngày vì họ đã tự mình đánh mất quê hương.

Bước đầu tiên là họ chống giải tỏa cấm vận Việt Nam đã thất bại. Sau đó là cấm Việt kiều gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước cũng đi tong. Thứ đến, chống việc đặt quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng thất bại. Chống không cho Việt Nam vào WTO cũng thất bại. Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã lập thêm một Tòa Tổng lãnh sự Việt Nam tại Houston, Texas.

Cách đây, chừng vài năm về trước, văn hóa phẩm Việt Nam được họ gọi là văn hóa nhà quê, răng đen mã tấu, nhưng hiện nay báo chí trong nước và băng nhạc trong nước đã tấn công văn hóa chống Cộng; các cửa hàng Việt Nam bán rất nhiều đĩa nhạc xuất xứ từ Việt Nam. Thậm chí đài truyền hình Việt Nam VTV4 đã công khai và lan tràn đến với từng nhà bà con Việt kiều với nỗi vui mừng được thấy hình ảnh đẹp đẽ tuyệt vời của quê hương hàng ngày.

Cái đau đớn nhất của họ là hai vấn đề mà họ chống đều thất bại. Đó là cấm Việt kiều về thăm quê hương Việt Nam và gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước. Mỗi năm, gần đến Tết cổ truyền của dân tộc là Việt kiều về nước ăn Tết mỗi ngày có đến mấy nghìn người. Và theo con số thống kê thì Kiều hối gửi về trong năm 2008 lên đến 7 tỉ đô la.

Những nhà viết Sử chân chính mới có đủ tư cách
viết về cuộc đời Hồ Chí Minh

Điều trước tiên, phải thành thật nói rằng, những người chống Cộng và làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh không phải phê bình đúng cách mà chỉ biết đặt điều nói xấu, kể ra những điều không đúng sự thật và như vậy là bịa đặt. Họ chỉ nói theo cảm quan của riêng mình: Họ không có khả năng lý luận như những nhà viết sử chân chính và không khách quan nhìn vào những sự việc đã thực sự xảy ra.


Nhân dân nước Nga đặt hoa trước tượng đài Hồ Chí Minh
kỉ niệm lần thứ 64 ngày Quốc khánh nước Việt Nam
và lần thứ 40 ngày mất của Hồ Chủ tịch. Ảnh: Châu Hồng Thủy.

Nói chung, họ không đủ tư cách để viết về cuộc đời và việc làm của ông Hồ Chí Minh trong việc tranh đấu giành lại độc lập, thống nhất cho nước nhà.

Bằng chứng khác, Hoa Kỳ là một đất nước tự do, tuy có chiến tranh Việt Nam xảy ra nhưng không vì lẽ đó mà họ cho rằng ông Hồ Chí Minh là người xấu. Nên các thư viện ở Mỹ, thư viện nào cũng có sách của người Mỹ viết về Hồ Chí Minh. Không riêng gì ở Mỹ mà ở Canada, Úc, Tân Tây Lan và cả các nước ở châu Âu, ở châu Á thì Thái Lan, Nhật… bất kỳ thư viện nào cũng có sách viết về cuộc đời Hồ Chí Minh.

Cũng vì vậy mà chúng ta thấy có nhiều tác giả người ngoại quốc từ Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan, Nhật, Pháp, Đức… viết sách về Hồ Chí Minh vì họ quan niệm Hồ Chí Minh là người của lịch sử. Sách của họ viết có dẫn chứng và trung thực khách quan.

Tôi không có khả năng liệt kê hết các tên tuổi của những tác giả ngoại quốc khác viết về Hồ Chí Minh. Xin thành thật xin lỗi quý độc giả vì điều thiếu sót này. Và sau đây là tên các tác giả viết về Hồ Chí Minh (1) mà tôi đã xem qua:

  1. Pierre Brocheux với quyển: Biography of Ho Chi Minh.

  2. Peter A. Decaro với quyển: Ho Chi Minh Rhetoric for Revolution.

  3. Peter Deway với quyển: Strategy, Tactics and Ho Chi Minh.

  4. William J. Duiker với quyển: Ho Chi Minh: A life.

  5. Charles Fenn với quyển: Uncle Ho.

  6. Frances Fitzgerald với quyển: Chairman of the Worker’s Party of Vietnam.

  7. Bamber Gascoigne với quyển: Ho Chi Minh – Nguyen Sinh Cung.

  8. Jean Lacouture với quyển: A Political Biography.

  9. Milton Osborne với quyển: A History of Ho Chi Minh trail.

  10. Sukprida Phanomyong với quyển: Prathet Viet Nam kab Lung Ho.(Nước Việt Nam và Bác Hồ).(2)

Một bằng chứng hùng hồn khác là ở Thái Lan, mặc dù Chính phủ Thái Lan thân Mỹ nhưng họ vẫn công nhận Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo có tài, có đức nên Chính phủ đã cho phép chính quyền địa phương lập ra những nhà lưu niệm để giữ kỷ vật của Bác Hồ khi Bác còn hoạt động ở Thái Lan và tổ chức cán bộ.

Hiện ở các tỉnh: Phi Chịt, Mahả Sảrakham, Sakol Nakhorn, Nakhorn Phanôm, Uđon đều có các nhà lưu niệm kỷ vật của Bác Hồ.

Tại sao Việt kiều ở Thái Lan rất sùng kính Bác Hồ? Vì rằng, họ đã thấy tận mắt những gì Bác Hồ bươn chải, gian lao, khó nhọc khi đi làm cách mạng, vì nước vì dân nên họ đặt niềm tin nơi Bác.

Chúng ta thử nghĩ xem, không nhẽ Việt kiều ở Thái Lan, tất cả đều là những người thơ ngây, nhẹ dạ. Bạn cứ đến vùng Đông Bắc Thái Lan bạn sẽ thấy Việt kiều, nhà nào cũng có bàn thờ Tổ quốc, trên bàn thờ đều có quốc kỳ nền đỏ sao vàng và ảnh bán thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phải thành thật mà nói rằng, Việt kiều ở Thái Lan trang trọng thờ kính Bác Hồ như một vị thánh sống. Xem như vậy đủ biết uy tín của Bác như thế nào? Dưới suối vàng Bác sẽ mỉm cười với sự nghiệp cách mạng mà Bác đã lựa chọn.

Ở nước ngoài những thành phần phản động, vô Tổ quốc làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh nhằm mục đích phá vỡ huyền thoại về Hồ Chí Minh đã mang lấy thất bại vì không được sự hưởng ứng của đa số Việt kiều thầm lặng; họ chẳng thèm để ý đến và cho đó là chuyện vớ vẩn. Cho nên nhóm làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh không đạt được mục đích. Trái lại, còn bị đả kích dữ dội.

Khách quan mà nói cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành đối tượng nghiên cứu cho khoa học. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Còn đối với thế giới, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xây dựng khối hòa bình gồm nhiều dân tộc, coi nhau như bầu bạn, cùng sống với nhau trên những nguyên tắc hòa thuận hữu nghị, cùng nhau ra sức giữ gìn hòa bình thế giới”.

Người mong muốn như vậy và hành động vì mục tiêu đó – vì dân tộc và nhân loại. Vì vậy, UNESCO đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, một Nhà văn hóa lớn vì Người đã làm sáng tỏ khát vọng ý chí của các dân tộc bị áp bức, giải quyết các mối quan hệ bằng phương thức hòa bình vì tương lai của nhân loại.

Kết luận

Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung có giáo mác, ngựa voi. Hồ Chí Minh chỉ có tầm vông vạc nhọn và vài khẩu súng lỗi thời, so với địch là các cường quốc có máy bay, xe tăng, pháo binh, xe lội nước, tàu chiến và nhiều tiền cùng với chư hầu tay sai và đạo quân thứ năm lúc nào cũng sẵn sàng phản bội Tổ quốc để làm nội ứng cho quân thù, là một cuộc đọ sức không cân sức. Thế mà, do tài tổ chức, lãnh đạo thao lược và nhất là trí tuệ của Hồ Chí Minh đã đạt được thắng lợi và thống nhất đất nước.

Hồ Chí Minh đích thực là Anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam, và là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Cuộc đời của Người vĩ đại không chỉ trong lịch sử Việt Nam mà cả trong lịch sử thế giới.

Với riêng tôi, tôi kính trọng Bác Hồ về nhiều mặt: Trí tuệ, tài đức (cần – kiệm – liêm – chính)… Thật vô cùng cảm động lúc Bác ra đi chỉ để lại có bộ quần áo kaki và một đôi dép râu.

California, viết để kỷ niệm ngày Độc lập 2 tháng 9.

Vài dòng về tác giả

Ông Cửu Long Lê Trọng Văn từng là cố vấn tình báo của Ngô Đình Nhu. Nhưng sau biết Ngô Đình Nhu và chế độ Ngô Đình Diệm làm việc không phải vì dân tộc Việt Nam, ông Văn rút lui. Vì thế, ông đã viết rất nhiều sách lên án tội ác của chế độ Diệm (như cuốn hồi ký Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ DiệmMẹ Việt Nam, NXB ở Hoa Kỳ năm 1997). Ông cũng viết nhiều sách về Trương Vĩnh Ký, viết về những trí thức làm tay sai cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cách đây hơn 10 năm, ông đã có một bài viết về Bác Hồ đăng trên Đông Dương Thời Báo.


Vài tác phẩm của tác giả


(1) Những tác giả trên đây có người viết rất nhiều sách về Việt Nam và Bác Hồ.

(2) Sukprida Phnomyong là một trong sáu người con của cựu thủ tướng Thái, ông Pridi Phanomyong. Lúc làm Thủ tướng, ông Pridi đã có nhiều cảm tình với Bác Hồ. Vì thế, cho nên lúc Việt kiều mới tản cư từ Lào qua Thái Lan, Thủ tướng Pridi cho đắp đê dọc sông Mê-kông với mục đích tạo công ăn việc làm cho Kiều bào.

honvietquochoc.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh hình ảnh dân tộc

Hồ Chủ tịch là người cha già của dân tộc Việt Nam. Ngót ba mươi năm bôn ba bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần túy phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam. Ngôn ngữ của Người phong phú, ý nhị như ngôn ngữ dân quê Việt Nam; Người khéo dùng tục ngữ, hay nói ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị. Làm thơ, Người thích lối ca dao vì ca dao là Việt Nam cũng như núi Trường Sơn, hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy. Mấy mươi năm xa cách quê hương, Người không quên mùi vị những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua, tương ớt, và ngày thường bây giờ, Người vẫn ưa thích những thứ ấy. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch Chính phủ kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”.

Lối ăn ở của Hồ Chủ tịch giản dị như thế nào, chúng ta đã từng biết. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt nhất nhất như anh em. Kể ra, Người có chỗ được biệt đãi: đó là bát nước cơm mà anh Lộc, đồng chí cấp dưỡng lành nghề và thân mến của chúng tôi lúc bấy giờ, bao giờ cũng để dành riêng cho Người, từ biên giới Cao Bằng cho đến Tân Trào, trước khi về Hà Nội. ở Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ có phòng làm việc, phòng tiếp khách, nhiều khi chủ tọa những bữa tiệc long trọng, nhưng bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch Chính phủ cùng nhân viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ, thức ăn không còn gì, Hồ Chủ tịch vẫn vui cười ăn đủ mấy bát cơm như thường lệ.

Người vẫn thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Trước đây, Người đi bộ một ngày 50 cây số là thường và có thể đi như thế ngày nọ qua ngày kia. Lúc ở Côn Minh, sáng nào Người cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. ở Liễu Châu, mùa đông, một hôm tướng Trương Phát Khuê đi ngựa dạo buổi sớm gặp Người tắm trên sông, Trương tướng quân lấy làm lạ một người phương Nam châu á chịu rét giỏi đến thế. ở Cao Bằng, có lúc cơ quan đóng tại một cái suối lớn vừa ở trong hang đá chảy ra, nước trong xanh biếc dưới bóng mát của rừng cây, Hồ Chủ tịch suốt ngày làm việc ở đó với cái máy chữ “Hét-mét” luôn đi theo Người từ năm 1938 đến khi về Hà Nội.

ở rừng, Hồ Chủ tịch chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào. Trong suốt thời gian ở thượng du Bắc Bộ trước cuộc khởi nghĩa, nhiều ngày Người luôn tay nắn một hòn đá tròn bầu dục, cốt để luyện gân tay và hoạt động cơ thể.
Người ít ưa dùng thuốc, chỉ lúc nào sức cơ thể chống không nổi bệnh thì mới dùng. ở Hà Nội, bác sĩ Tùng, bác sĩ Cẩn chuyên lo sức khỏe của Người, nhưng không mấy khi Người phiền đến. ở Pháp, anh em buộc bác sĩ Cưu ở bên cạnh Người, nhưng rồi bác sĩ làm việc văn phòng nhiều hơn việc thầy thuốc. Sinh hoạt chiến khu thường cực lắm. Có lần suốt mấy tháng mùa mưa, Hồ Chủ tịch ở trong một cái hang chật hẹp, ẩm thấp, ban đêm sâu bọ ở ngoài tràn vào.

Lúc ấy vì cơ sở quần chúng kém, nên dẫu ẩn nấp trong hang cùng mà cũng không yên, thường vẫn phải chạy “cảnh báo”. Hễ có “cảnh báo” là phải mang hết đồ đạc chạy lánh đến một chỗ an toàn hơn. Lúc ấy Hồ Chủ tịch yếu, nhưng bất kỳ đêm ngày, hễ có tin địch là mấy phút sau Người đã sẵn sàng trước anh em, tay sách máy chữ. Lúc đến Pháp, ngay hôm gặp đầu tiên, lối ăn ở giản dị của Hồ Chủ tịch làm cho kiều bào rất cảm động. Hôm ấy, tại Bi-a-rít, đại biểu kiều bào đến thăm người, hồi hộp và sung sướng. Khách đông, phòng khách không đủ ghế ngồi, giản dị Hồ Chủ tịch ngồi xuống sàn và mời mọi người ngồi thế nói chuyện. Đây không phải vị Chủ tịch Chính phủ, đây là Cha già của dân tộc ân cần và thân mật hỏi thăm đàn con bao năm lưu lạc ở quê người.

Hồ Chủ tịch, người giản dị ấy, cũng là người lịch sự một cách thanh tao cao quý và mọi người ngoại quốc đều có dịp tiếp chuyện Người đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quý mà họ cho là đặc sắc của người phương Đông. ở chiến khu, trong cơ quan, Hồ Chủ tịch thường mặc một bộ đồ xanh, chân đi đất; về Hà Nội, Người mặc một bộ đồ Ka-ki chân đi giày vải. Nhưng khi sang Pháp thì Người mang giày da và mặc một bộ đồ nỉ, cổ cứng. ở Paris, có ngày Hồ Chủ tịch tiếp luôn ba bữa cơm khách, bữa sáng với bạn thân, bữa trưa với khách thường, bữa tối với khách đặc biệt, mỗi bữa có khi kéo dài 3 tiếng đồng hồ, nhưng Hồ Chủ tịch thủy chung vẫn ân cần niềm nở.

Đời sống của Hồ chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác. Phải khắc khổ, cần lao và tranh đấu để mưu cầu hạnh phúc ngày mai. Có người e đời sống nghiêm khắc ấy không còn chỗ cho tình cảm. Nhưng chính Hồ Chủ tịch thường nói: người cách mạng là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm nên làm cách mạng. Người mà cả dân tộc tôn làm vị Cha già của mình phải có lòng thương yêu mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Trong thời kỳ bí mật, phút mặc niệm chiến sĩ cách mạng là lúc Hồ Chủ tịch rơi nước mắt. Tại Quốc hội, Hồ Chủ tịch vừa khóc vừa ôm hôn anh Nguyễn Văn Tạo sau khi anh đọc một bài diễn văn thống thiết về Nam Bộ.

Người xưa nói: Có việc phải lo, lo trước thiên hạ, có việc đáng vui, vui sau thiên hạ. Hồ Chủ tịch nói một cách giản dị và thống thiết hơn: “Một ngày đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”

Câu nói đó đã bộc lộ tâm trạng Người, mối tình cảm ruột thịt bao bọc trăm họ của đại gia đình Việt Nam.

Đối với người giản dị và lão thực ấy, một câu nói và một việc làm và có làm thì mới nói. Giản dị và lão thực trong sự ăn ở, tính tình, trong lời nói, viết, Người cũng giản dị và lão thực trong chủ trương chính trị nữa. Dân tộc Việt Nam bây giờ muốn gì ? Muốn thống nhất, độc lập, muốn ấm no, muốn biết chữ, muốn đời sống bớt tối tăm. Cho nên Hồ Chủ tịch chủ trương: đoàn kết kháng chiến, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, đời sống mới. Dân tộc Việt Nam quyết tâm và mỗi ngày tiến mạnh trên con đường sống còn sau lưng Hồ Chủ tịch.

Hồ Chủ tịch thật là hiện thân của dân tộc Việt Nam và mọi người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch.

Sức mạnh của Hồ Chủ tịch và sức mạnh của dân tộc Việt Nam là ở chỗ đoàn kết thống nhất ấy.

quangbinh.gov.vn

Ông đã chiến đấu vì một sự nghiệp rất vẻ vang

Khi nhà báo Wilfred Burchett qua đời (2-10-1983) ở Bulgaria – quê hương vợ ông – các đồng nghiệp và nhân dân Việt Nam vô cùng thương tiếc ông. Thép Mới đưa tiễn ông với bài báo xúc động mang tít “Người bạn chiến đấu của Việt Nam”. Sau đó nhiều năm, một đồng nghiệp khác lại viết về ông, gọi ông là “người bạn tận tụy của Việt Nam”…

Tại triển lãm ảnh “Wilfred Burchett và Việt Nam” được tổ chức ở Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà báo ưu tú này, đồng chí Chủ tịch nước đã bày tỏ cùng con trai ông – George Burchett – lòng biết ơn sâu sắc của chúng ta đối với những cống hiến của ông dành cho sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam và gọi ông là “một ân nhân, một người bạn lớn của nhân dân Việt Nam”.

Không phải ngẫu nhiên mà ông đã được Chính phủ ta trao tặng huân chương cao quý: Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Đó là sự đánh giá rất cao những hoạt động của ông dành riêng cho Việt Nam.

Thật xúc động khi đọc bức thư của ông gửi ba đứa con yêu quý được viết tại chiến trường miền Nam Việt Nam, trong đó ông tâm sự cùng các con: “Cha đang làm việc vì một sự nghiệp rất vẻ vang. Giúp đỡ nhân dân miền Nam Việt Nam bảo vệ đất nước của họ và đánh tan bọn đế quốc Mỹ, những kẻ đang cố chiếm lấy miền Nam rồi xâm lăng miền Bắc Việt Nam”.

Với tấm lòng của nhà báo tiến bộ, thiết tha yêu chính nghĩa, ông nói với các con: “Nhân dân Việt Nam là những người bạn rất thân thiết của chúng ta”. Nhà báo người Australia này là một trong số ít những người cầm bút quốc tế đầu tiên đến với Việt Nam và liên tiếp trong rất nhiều năm viết báo, viết sách bày tỏ sự gắn bó sâu sắc với cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của nhân dân ta. Những bài báo và các tập sách như: “Bắc vĩ tuyến 17” (1955), “Việt Nam: Câu chuyện bên trong cuộc chiến tranh du kích” (1965), “Bắc Việt Nam” (1966), “Việt Nam sẽ thắng” (1967)… thuộc vào những tác phẩm ưu tú, nóng hổi, đầy sức mạnh chiến đấu của ông.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett tại Hà Nội.

Cũng cần nói ngay rằng, trong các tập sách ấy, ông cho in cả hàng trăm bức ảnh do chính ông chụp, vừa có giá trị thời sự vừa có giá trị lịch sử. Nếu chỉ nhìn riêng về khía cạnh nhiếp ảnh, ông xứng đáng được thừa nhận là một nhà nhiếp ảnh tài năng. Những bức ảnh được giới thiệu ở Bảo tàng Hồ Chí Minh đã cuốn hút đông đảo khán giả Việt Nam và quốc tế trong suốt thời gian mở cửa.

Thật ra, “kho ảnh” của ông – như con trai ông cho biết có tới hàng ngàn tác phẩm đã chụp ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong những thời kỳ khác nhau. Riêng ở triển lãm nói trên, ngoài một loạt chân dung Bác Hồ và các nhà lãnh đạo khác như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, có thể chia làm hai phần: Những hình ảnh của miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong công cuộc chống chiến tranh phá hoại và của miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Thời gian đã lùi xa, những bức ảnh ông chụp cùng những bài báo, trang sách ông viết giúp chúng ta sống lại các giai đoạn lịch sử nói trên, đó là không khí hối hả ở miền Bắc những năm đầu xây dựng lại sau chiến tranh, từ các công trường xây dựng thủy lợi, đắp đập, những người thợ cưa gỗ làm tà vẹt đường sắt đến những người nông dân làm cỏ lúa, các bè nứa chở tà vẹt xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, những phiên chợ ở Điện Biên Phủ, những bản làng người Thái ở Tây Bắc, những người thợ điển hình. Đó là không khí nóng bỏng trong những ngày chống chiến tranh phá hoại do giặc Mỹ gây ra, được phản ánh bằng ảnh và lời như một bản anh hùng ca đầy khí thế chiến thắng.

Một lớp học thời chiến giữa rừng dành cho con em người M’Nông ở Tây Nguyên giữa thập niên 1960. Ảnh: Wilfred Burchett

Chúng ta, những độc giả và khán giả của hôm nay, được gặp lại hình ảnh các chị em phụ nữ trong lao động sản xuất và chiến đấu, các em nhỏ đi học dưới làn bom đạn và các cụ già rất đỗi lạc quan. Chúng ta càng nhớ đến các nữ tự vệ trong các nhà máy ở Hà Nội (như Nhà máy Dệt 8-3), trong bệnh viện dã chiến sơ tán trong một ngôi chùa ở Gia Lâm, cả những em nhỏ bên hồ Hoàn Kiếm và những lứa đôi trong phút yên tĩnh tại Công viên Thống Nhất…

Đáng nói nhất là hai năm liền (1962 – 1964), Wilfred Burchett đã hoạt động ở miền Nam nước ta như một chiến sĩ giải phóng thực thụ, cũng bộ quần áo bà ba, quàng khăn rằn, đội nón hoặc mũ tai bèo, chân đi dép lốp với chiếc xe đạp cũ. ông có mặt và chiến đấu cùng các chiến sĩ du kích ở Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, trong những đêm lửa trại, tại phòng xét nghiệm dã chiến trong rừng, sản xuất lựu đạn. ông không quên nói đến những cuộc văn nghệ trên núi rừng, các chiến sĩ đã ca hát trong những ngày gian khổ…

Tất cả những bài viết và hình ảnh do ông viết ra, ghi lại đều đã được báo chí quốc tế phản ánh đầy đủ, trung thực, góp phần không nhỏ vào việc làm cho bè bạn khắp năm châu hiểu sâu hơn về cuộc chiến đấu của nhân dân ta, để rồi như được tiếp thêm lửa, càng khẳng định mạnh mẽ tình đoàn kết keo sơn với cuộc chiến đấu đó. Trong đời mình, tôi chưa bao giờ được gặp ông, nhưng qua sách báo và hình ảnh của ông, tôi thấy Wilfred Burchett thật gần gũi.

Bệnh viện dã chiến giữa rừng xanh của quân đội Giải phóng. Ảnh: Wilfred Burchett

Một người bạn của ông, nhà báo Đức Franz Faber đã kể tôi nghe về ông, về nhà báo Pháp Madelene Riffaud khi ông cùng họ được Bác Hồ tiếp tại Phủ Chủ tịch ngay sau ngày Người từ Việt Bắc về Hà Nội. Và tôi được biết Burchett đã từng hoạt động báo chí trong những năm 30 của thế kỷ trước ở Berlin. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ông lại viết và phát đi những thiên phóng sự từ Berlin cho Daily Express. Riêng ở Đức, tôi đã đọc khá nhiều cuốn sách hấp dẫn, đầy sức cuốn hút của ông.

Cho đến nay, tôi còn nhớ các tác phẩm: “Bình minh ở châu á” (1948), “Cuộc chiến tranh lạnh ở Đức” (1950), “Trung Hoa biến đổi” (1952), “Bên bờ sông Mekong” (1959), “Đất nước nóng bỏng” (tập phóng sự về Liên Xô, 1962), “Những người du kích chống các tướng lĩnh” (1965). Ấn tượng sâu sắc của tôi về tác phẩm của ông là: ông không chỉ thể hiện những sự kiện diễn ra trước mắt ông, mà ông còn tìm mọi cách đi sâu vào thế giới nội tâm của các nhân vật mà ông phản ánh.

Chính chiều sâu tâm hồn, những niềm vui, nỗi buồn, những khát vọng của con người về cuộc sống, niềm tin sắt đá vào ngày mai tốt đẹp làm cho những trang văn của ông càng thấm đượm chất nhân văn, chất trữ tình. ấn tượng của tôi càng được khẳng định khi tôi nghe câu chuyện của nhà thơ Giang Nam kể lại sau ngày gặp Burchett. Đó là năm 1964, đang ở chiến trường miền Nam, Burchett hỏi Giang Nam: “Nghe nói bạn đã có gia đình và hai vợ chồng vẫn sống xa nhau, điều đó có ảnh hưởng gì đến công việc và hạnh phúc gia đình không?”. Nhà thơ của chúng ta trả lời: “Tất nhiên là có rồi, nhưng chúng tôi đã quen dần. Chúng tôi vì công việc và vì bom đạn Mỹ nên có lúc 5, 7 năm, thậm chí 10 năm phải sống xa nhau trong nỗi nhớ thương da diết”.

Nhà báo Australia nắm lấy tay nhà thơ và nói: “Xin cảm ơn bạn đã tâm sự chuyện riêng tư ấy với tôi. Thật khó tưởng tượng các bạn đã sống như thế. Tôi càng hiểu vì sao Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”. Từ các bài viết và hình ảnh của ông nói về Việt Nam, người con trai ông đã dựng nên hai bộ phim tài liệu: “Trong bưng biền Việt Cộng” và “ở miền Bắc Việt Nam dưới bom đạn”.

Không phải ngẫu nhiên mà con trai ông, họa sĩ George Burchett, đã nói về cha mình rằng: “Cha tôi đến với Việt Nam từ tiếng gọi của chính trái tim mình. Việt Nam là phần quan trọng nhất trong đời làm báo của cha tôi. Đọc sách và xem ảnh của ông, càng khám phá ông, tôi càng ngưỡng mộ ông. Ông là một nhà nhân văn thực sự. Ông đã giúp tôi hiểu hơn về thế giới. Thế giới này thật khó khăn và cần những người như Wilfred Burchett dũng cảm đương đầu với hiểm nguy, đến tận nơi để giải thích cho mọi người về thế giới. Ông giúp tôi biết rằng không nên hoài nghi, cần tin vào chính mình, tin vào loài người, cần hiểu người khác, cần tin vào người khác”.

Tầm vóc lớn lao về sự nghiệp của Burchett mãi mãi được tôn vinh – một sự nghiệp vì chính nghĩa. Vì lẽ đó, Mick Shimmin, trong lời nói đầu tác phẩm “Nhà báo nổi loạn” của Burchett, khẳng định ông là “nhà báo lớn nhất của Australia, là một trong những nhà báo đối ngoại ưu tú nhất trên thế giới”.

Còn Denis Warner thì ca ngợi: “Một trong những tính cách kiệt xuất của ông là lòng quả cảm vĩ đại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett tại Hà Nội.

Trần Đương

cand.com.vn

Bài thơ chữ Hán viếng Hồ Chủ tịch của nhà sư Nhật Bản…

Cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983) trụ trì chùa Thanh Thủy ở phía đông thành phố Kyoto là một vị cao tăng rất có uy tín trong giới phật tử và nhân dân Nhật Bản. Cụ rất kính trọng và cảm phục Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm, cụ bày tỏ nguyện vọng: Đến ngày Việt Nam chiến thắng, nhân dân Nhật Bản sẽ được đón tiếp Hồ Chủ tịch sang thăm, và cụ sẽ được gặp Người.

Năm 1969, cố Hòa thượng Onishi Ryokei đã 96 tuổi, nghe tin Hồ Chủ tịch từ trần, cụ rất đau xót, bỏ ăn mấy ngày và tự tay viết bài thơ bằng chữ Hán kính viếng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, không chỉ là tổn thất không thể bù đắp đối với dân tộc Việt Nam ta mà còn để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng bè bạn quốc tế.

Cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983) trụ trì chùa Thanh Thủy ở phía đông thành phố Kyoto là một vị cao tăng rất có uy tín trong giới phật tử và nhân dân Nhật Bản. Cụ rất kính trọng và cảm phục Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm, cụ bày tỏ nguyện vọng: Đến ngày Việt Nam chiến thắng, nhân dân Nhật Bản sẽ được đón tiếp Hồ Chủ tịch sang thăm, và cụ sẽ được gặp Người.


Một góc chùa Thanh Thủy. Ảnh từ Internet.

Năm 1969, cố Hòa thượng Onishi Ryokei đã 96 tuổi, nghe tin Hồ Chủ tịch từ trần, cụ rất đau xót, bỏ ăn mấy ngày và tự tay viết bài thơ bằng chữ Hán kính viếng. Nguyên văn bài thơ của cố Hòa thượng Onishi Ryokei:

救國眞人昇碧空
迷途民衆哭悲衷
古今稀見老英傑
一葉飜風秋色濛

Cứu quốc chân nhân thăng bích không
Mê đồ dân chúng khốc bi trung
Cổ kim hi kiến lão anh kiệt
Nhất diệp phiên phong thu sắc mông.


Bút tích cố Hòa thượng Onishi Ryokei

Vì nhiều lý do, một thời gian sau, bài thơ mới được chuyển đến Viện Hán-Nôm. Bài thơ được nhận định là khó đọc và khó dịch. Sau khi cân nhắc, lãnh đạo Viện quyết định giao cho Trần Duy Vôn dịch. Và ông đã dịch thành công:

Trời xanh đón người cứu nước về
Đau lòng chúng sinh trên đường mê
Xưa nay hiếm bậc lão anh kiệt
Chiếc lá thu bay trời ủ ê.

Bài thơ của cố Hòa thượng Onishi Ryokei và bản dịch của Trần Duy Vôn mãi đến ngày 19/5/1973 mới được công bố trên báo Thống Nhất.

Trần Duy Vôn (1906-1979) hiệu là Nhàn Vân Đình với các bút danh: Hải Âu, Mạc Như… người xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Thuở nhỏ, ông rất thông minh, hiếu học. Mười chín tuổi, ông đã thông hiểu kinh điển Hán học. Tiếc vì triều đình đã bãi bỏ thi chữ Hán, nên ông không có cơ hội ứng thí để ra làm quan, phò vua giúp nước – giấc mộng và cũng là con đường tiến thân của hầu hết nho sĩ thời phong kiến.

Toàn bộ sở học, Trần Duy Vôn dành trọn cho việc làm thơ, viết báo và trước thuật. Dưới chế độ cũ, từ năm hai mươi mốt tuổi (1927), ông đã viết bài cho rất nhiều báo khắp ba miền Bắc Trung Nam. Đáng chú ý là trong 8 năm (1927-1934), ông là trợ bút, phụ trách mục Hán văn của báo Nam Phong. Năm 1932, do có nhiều công tích viết báo, ông đã được triều đình ban phẩm hàm “Cửu phẩm Văn giai”. Năm 1941, do dâng hai cuốn Đế vương Bảo Giám và Thiên hạ Mẫu nghi, ông được triều đình sắc phong “Hàn lâm viện cung phụng”.

Do vậy, người quê quen gọi Trần Duy Vôn là Hàn Vôn. Cuộc đời ông có nhiều năm cơ cực, oan uổng, nhưng ông vẫn lạc quan, vẫn làm thơ và miệt mài nghiên cứu, viết sách. Cuộc đời 74 năm, Trần Duy Vôn đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ gồm hơn 40 tác phẩm, 523 bài thơ chữ Hán, 799 bài thơ Quốc ngữ và hàng trăm bài phú, văn tế…

Năm 1972, sau nhiều lần gửi thư mời, Viện Hán-Nôm đã cử người đón ông lên công tác tại Viện. Được coi là “bậc cố vấn”, “tự điển sống” của Viện. Trần Duy Vôn đã đóng góp nhiều công sức vào việc nghiên cứu, dịch thuật Hán – Nôm và đào tạo cán bộ chuyên ngành. Dịch thành công bài thơ chữ Hán của nhà sư Nhật Bản, là một minh chứng cho trình độ Hán – Nôm uyên thâm của ông.

honvietquochoc.com.vn

Người bảo vệ Bác Hồ thăm đền Hùng trước ngày tiếp quản Thủ đô

Đại tá Tống Xuân Đài kể rằng ông chính là người nhặt một mẩu gạch non, khoanh một vòng tròn rồi thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu ngồi xung quanh Bác như thế này ạ”.

Trong kí ức tuổi thơ tôi, lời dạy của Bác Hồ “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” và bức ảnh Người nói chuyện với Sư đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ đô năm 1954, đã khắc sâu vào tâm trí. Lớn lên, mỗi lần được đi thăm Đền Hùng, lúc dừng chân tại Đền Giếng, tôi lại bâng khuâng mường tượng nơi Bác ngồi trên bậu cửa, xung quanh là những đại diện ưu tú của Quân đội nhân dân anh hùng…

Đầu Xuân Canh Dần trong lần vào thăm Khu di tích Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, tôi ngẫu nhiên gặp một cựu sĩ quan quân đội, là nhân chứng trong đoàn quân quây quần bên Bác tại Đền Hùng. Ông giới thiệu đầy tự hào: “Tôi là người đã trực tiếp bảo vệ Bác Hồ khi Bác thăm Đền Hùng 56 năm về trước và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 (Quân Tiên Phong) trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội”…

Đúng hẹn, tôi đến thăm Đại tá Tống Xuân Đài tại nhà riêng – một ngôi nhà đẹp, ấm cúng nằm trong ngõ nhỏ của phố “Nhà binh” Lý Nam Đế – Hà Nội. Với tác phong nhanh nhẹn, quy củ của một cựu chiến binh, ông đã chuẩn bị những tư liệu cần thiết giúp tôi.

Tôi ngạc nhiên bởi ngoài những bức ảnh được chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người thăm Đền Hùng và nói chuyện với bộ đội, ông Đài còn rất nhiều ảnh khi tháp tùng, bảo vệ Hồ Chủ tịch thăm các đơn vị quân đội những năm sau đó. Nhiều bức ảnh rất có giá trị, rất đẹp lần đầu tiên tôi được xem – dù tôi là người luôn chú ý tìm hiểu, sưu tầm tư liệu và đã viết khá nhiều bài về Bác Hồ và công tác bảo vệ Bác.

Ông Tống Xuân Đài (thứ 2 bên phải) tại Đền Giếng, nơi đặt bia đá ghi lại sự kiện Bác Hồ huấn thị “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Quê ở Phù Cừ – Hưng Yên, năm 1940, mới hơn 10 tuổi, cậu bé Đài rời quê lên Hà Nội kiếm sống. Cũng như nhiều thanh niên khác, Tống Xuân Đài sớm đến với cách mạng; là tự vệ thành Hoàng Diệu, tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong đội ngũ Trung đoàn 66 do đồng chí Phùng Thế Tài phụ trách… Được tôi luyện, trưởng thành trong chiến đấu, đến tháng 3/1954, ông được cử đi học lớp nghiệp vụ bảo vệ do Cục Bảo vệ – Tổng cục Chính trị tổ chức tại Việt Bắc.

Hơn nửa thế kỉ đã qua, Đại tá Tống Xuân Đài vẫn nhớ như in thời khắc được bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng, trên đường từ Việt Bắc về Hà Nội. Đôi mắt ông như sáng lên khi những dòng kí ức trở lại: “Trung tuần tháng 9/1954, anh Lại Xuân Thát – chính trị viên tiểu đoàn 254 – Bộ Tư lệnh 350, và tôi được gọi lên giao nhiệm vụ. Sau khi có giấy công lệnh, chúng tôi được sử dụng một chiếc xe Zeep chiến lợi phẩm, triệu tập 4 đồng chí nữa đến bến phà Bình Ca và Đoan Hùng tìm một chiếc phà loại tốt, đợi sẵn phía bờ Tuyên Quang để đón đoàn thượng cấp. Chúng tôi quy ước, khi thấy đoàn xe ôtô, chiếc đi đầu có đồng chí Thanh Quảng (tức Nguyễn Văn Thanh, từng là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình được điều động làm Phó Văn phòng Tổng Quân ủy) thì đưa cả đoàn xuống phà, qua sông ngay rồi di chuyển đến Đền Hùng.

Ngày 18/9/1954, mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch, nhưng chúng tôi chờ mãi đến xẩm tối vẫn không thấy đoàn xe có anh Thanh Quảng xuất hiện, dù đã có nhiều xe qua phà. Vừa sốt ruột, vừa lo lắng, tôi và anh Thát bổ đi tìm. Thấy phía chân đồi có ánh đèn (sáng hôm sau tôi mới biết đây là Đền Giếng), chúng tôi tiến lại thì bất ngờ nhận ra anh Thanh Quảng. Anh đi nhanh ra ngoài, ngăn chúng tôi lại và bảo: “Khách” đến rồi, đang ở trong đền. Các anh về nghỉ, sáng mai đưa bộ đội vào sớm”.

Vậy tối hôm đó thì bộ đội tập kết ở đâu? – Tôi hỏi Đại tá Đài. “Bộ đội vào nhà dân quanh vùng xin nghỉ nhờ. Do làm tốt dân vận, hơn nữa khí thế chiến thắng của Điện Biên Phủ làm nức lòng nhân dân cả nước, nên bà con rất thương bộ đội Cụ Hồ”. Đại tá Đài kể tiếp: Sớm hôm sau, tầm gần 7h thì tôi và anh Thát trở lại Đền Giếng.

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ Sư đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng, ngày 19/9/1954.

Vào đến sân đền, chúng tôi thấy Bác đang ung dung ngồi trên bậc thềm ngắm cảnh thiên nhiên mùa thu của vùng Trung du buổi ban mai. Bác mặc bộ đồ gụ, bên ngoài khoác chiếc áo đại cán. Hai anh em mừng rỡ, lại gần chào Bác theo đúng quân lệnh.

Bác gật đầu chào lại rồi hỏi: “Bộ đội đã ăn sáng chưa?”. Tôi chưa kịp trả lời thì anh Thát lại cuống, líu ríu: “Dạ thưa Bác, tối qua…”. Bác nhìn anh Thát, cười độ lượng rồi phê bình: “Bác hỏi chú bộ đội đã ăn sáng chưa, chứ không hỏi chú tối hôm qua”… Sau khi nghe chúng tôi báo cáo cụ thể tình hình bộ đội, Bác nói: “Sáng rồi, các chú còn nhiều việc phải chuẩn bị. Bây giờ, các chú mời bộ đội đến đây để Bác nói chuyện”.

Theo trí nhớ của Đại tá Tống Xuân Đài, tham gia sự kiện này, có khoảng 80 cán bộ từ cấp đại đội trở lên, đại diện cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308. Lúc 7h15′ ngày 19/9, các đại biểu có mặt đông đủ tại sân đền. “Do sân hẹp, cán bộ, chiến sĩ đều mải ngắm Bác nên chúng tôi chưa biết tập hợp đội hình thế nào để mọi người ổn định, nghe Bác nói chuyện. Tôi bèn nhặt một mẩu gạch non, khoanh một vòng tròn rồi thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu ngồi xung quanh Bác như thế này ạ”.

Bác quan sát, rồi gật đầu đồng ý và giơ tay ra hiệu cho bộ đội ngồi xuống các bậc thềm dẫn từ sân lên cửa Đền. Bác ngồi trên bậu cửa đền; đồng chí Vũ Yên – Tham mưu trưởng ngồi ở bậc thềm chính diện trông lên Bác.

Bác quay sang bảo đồng chí Song Hào – Chính ủy Đại đoàn 308: “Chú ngồi đây (mặt hè bên phải Bác, còn chú Quảng ngồi đây (mặt hè bên trái Bác)”. Sau khi bộ đội ổn định chỗ ngồi, Bác chỉ vào tôi, nói: “Còn chú, chú ngồi chỗ kia (bậc thềm thứ hai từ mặt hè xuống, phía bên phải đồng chí Song Hào”.

Hồ Chủ tịch đã mở đầu buổi nói chuyện với bộ đội bằng câu hỏi: “Các chú có biết đây là đâu không”? Có nhiều đồng chí nhanh nhẹn trả lời: “Thưa Bác, đây là Đền Hùng ạ. Đây là nơi thờ Hùng Vương ạ!”. Bác lại hỏi tiếp: “Hùng Vương là người như thế nào với nước ta”. Lặng đi một lát chưa có ai trả lời, đồng chí Vũ Yên đứng dậy: “Thưa Bác, ngày xưa…”. Bác giơ tay ra hiệu cho đồng chí Vũ Yên ngồi xuống rồi nói: “Đúng đây là Đền Hùng, thờ các Vua Hùng. Hùng Vương là người đã sáng lập ra nước ta, là tổ tiên của dân tộc ta. Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!”…

Tiếp đó, Bác căn dặn: Hơn 8 năm gian khổ chiến đấu, được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ, bộ đội và dân quân du kích dũng cảm đánh giặc; ta đã giành thắng lợi, buộc quân Pháp phải rút khỏi miền Bắc nước ta. Ta có nhiệm vụ về tiếp quản Hà Nội, thủ đô của cả nước và những thành phố khác nữa. Nhiều năm các chú ở nông thôn và rừng núi, nay về thành phố nơi tạm chiếm của địch, đồng bào đã nhiều năm bị địch hành hạ, cưỡng bức, rất khổ, có người bị địch bắt buộc hoặc vì cuộc sống phải làm việc cho địch…

Khi vào tiếp quản đóng quân trong thành phố, các chú phải: Gần gũi, tôn trọng dân, làm tốt công tác dân vận; giải thích cho đồng bào hiểu chủ trương, chính sách của Chính phủ. Không được coi những người dân sống trong vùng địch tạm chiếm là đi theo địch mà xa lánh họ… Bác căn dặn kĩ cả việc sinh hoạt, sử dụng điện, nước máy tại đô thị; việc học tập chính trị, tuần tra canh gác…

Sau dòng hồi tưởng, ông Đài xúc động kể tiếp: “Khoảng gần 9h sáng, buổi nói chuyện của Bác với bộ đội kết thúc. Anh em bộ đội ra về và luôn ghi lòng tạc dạ lời dạy bảo sâu sắc của Hồ Chủ tịch, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Mấy anh em Cảnh vệ Quân đội chúng tôi và Cảnh vệ Công an cùng tháp tùng Bác rời khỏi Đền Giếng. Quãng đường từ đền ra đường cái, một đồng chí cận vệ đi trước, dẫn đường. Bác đi thứ hai, còn tôi đi ngay sau Bác. Bác đội mũ cát và dùng một chiếc khăn che chòm râu dài. Tới điểm ôtô đỗ, chúng tôi từ biệt Bác và đứng lặng nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất hẳn”.

Tìm trong tập tài liệu, Đại tá Tống Xuân Đài đưa cho tôi xem một cuốn họa báo Trung Quốc đã ngả màu vàng, xuất bản năm 1957 tại Bắc Kinh… Đôi mắt ông đầy hoài niệm: “Khi Bác nói chuyện với bộ đội, tôi không biết là có người chụp ảnh. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, tôi được cử sang Trung Quốc học tập. Trong một lần đến thăm Sứ quán ta, tôi được Đại sứ Nguyễn Khang cho xem một số tài liệu. Lần giở cuốn họa báo này, tôi ngạc nhiên khi thấy bức ảnh lịch sử, thấy mình trong ảnh. Anh Nguyễn Khang cũng ngạc nhiên không kém và đồng ý tặng tôi cuốn họa báo này!”.

Sau khi về nước, ông Đài tiếp tục công tác trong lực lượng Cảnh vệ Quân đội. Những năm kháng chiến chống Mỹ, ông là Phó, rồi Trưởng phòng Cảnh vệ (Phòng 45) – Cục Bảo vệ Quân đội, Bộ Quốc phòng. Ông Đài đã vinh dự nhiều lần bảo vệ Bác Hồ thăm các đơn vị quân đội, thị sát các trận địa phòng không, không quân. “Hồi đó, việc bảo vệ Bác chủ yếu do Cảnh vệ Công an. Nhưng khi Bác đi thăm các đơn vị Quân đội thì bên Cảnh vệ Quân đội chúng tôi đảm nhiệm với sự phối hợp của Cảnh vệ Công an. Chúng tôi và các anh Hoàng Hữu Kháng, Phan Văn Xoàn… bên Cảnh vệ Công an quý nhau lắm, thường xuyên gặp gỡ, phối hợp”.

Sau khi nghỉ hưu, Đại tá Tống Xuân Đài là một thành viên tích cực của “Hội cựu sỹ quan cận vệ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối”. Đây là một tổ chức được thành lập năm 2001 theo ý tưởng của Thượng tướng Phùng Thế Tài (người từng bảo vệ Bác Hồ trước năm 1940 tại Trung Quốc) và được chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tên. Thành viên của Hội là các cựu sĩ quan Cảnh vệ Công an và Quân đội.

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Bình dân học vụ

Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”.

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(1)

Đó là lời nói thể hiện hoài bão lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời cho việc thực hiện hoài bão ấy. Ngay sau khi tuyên bố nước nhà được độc lập, một trong những nhiệm vụ cấp bách mà Người chỉ ra là “diệt giặc dốt” và Người đã phát động phong trào Bình dân học vụ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu  những chỉ đạo cùng với sự quan tâm của Người với phong trào Bình dân học vụ qua tài liệu lưu trữ.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hiếu học. Nhưng hơn tám mươi năm Pháp thuộc, thực dân Pháp đã câu kết với bè lũ phong kiến, địa chủ kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt để đàn áp và bóc lột. Nạn mù chữ và thất học trầm trọng: 95% dân số không biết đọc, không biết viết.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Trong bản Tuyên ngôn, Người đã lên án và tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp với việc “chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” trên đất nước ta. Theo thống kê cứ 3245 trẻ em mới có một trường học mà cứ 1000 dân thì có một nhà tù(2).

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà. Một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất, thiết thực nhất mà chính quyền Cách mạng vừa mới ra đời phải giải quyết trong hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn đó là “nạn dốt”. Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” (3).

Hồ Chủ tịch nói chuyện với các học viên nhân buổi khai mạc lớp huấn luyện Bình dân học vụ khóa Hồ Chí Minh năm 1945.

Chiến dịch chống nạn mù chữ chính thức dược phát động từ ngày 8 tháng 9 năm 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt nam; Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối; Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền. Để phục vụ chiến dịch xoá mù chữ, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1945. Khoá huấn luyện cán bộ bình dân học vụ đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh mở tại Hà Nội. Ngày 4 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi “Chống nạn thất học” gửi tới toàn thể quốc dân đồng bào: “…Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi” (4)

Theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, phong trào Bình dân học vụ được nhóm lên, lan rộng, ăn sâu vào các thôn xóm. Bình dân học vụ trở thành một phong trào nhân dân thực sự với những hình thức tổ chức hết sức linh động, thích nghi với điều kiện sinh hoạt của nhân dân lao động. Người học là những em bé, những cụ già, đặc biệt rất nhiều chị em phụ nữ. Giáo viên là các thầy giáo dạy ở các trường học, là cán bộ các ngành, là học sinh, bộ đội, từ mọi tầng lớp nhân dân, từ những người vừa thoát nạn mù chữ, ai đọc thông viết thạo đều có thể trở thành giáo viên bình dân học vụ. Lớp học là trụ sở của các trường phổ thông, các cơ quan chính quyền, doanh trại quân đội, nhà của tư nhân, đình, chùa …Nhiều nơi lá chuối, mo nang được đem dùng thay cho giấy; gạch non, sắn khô thay cho phấn viết; mặt đất, tường nhà, vách đá, lưng trâu … thay cho bảng đen. Mọi bước đi của phong trào Bình dân học vụ đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, theo dõi, chỉ đạo và động viên. Người tới thăm rất nhiều lớp bình dân học vụ, mỗi một thành tích lớn nhỏ của bình dân học vụ đều được Người gửi thư khen ngợi. Người thường xuyên gửi thư động viên anh chị em giáo viên bình dân học vụ. Trong thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ ngày 1 tháng 5 năm 1946 Người viết: “ Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu để mở mang trí thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc. Anh chị em làm việc mà không lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “ vô danh anh hùng”. Tôi mong rằng trong một thời gian ngắn, lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả rất vẻ vang; Đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng.” (5)  Không chỉ động viên, khen ngợi, Người còn nhắc nhở anh chị em giáo viên vừa dạy, vừa học để nâng cao trình độ.

Diễu hành cổ động phong trào Bình dân học vụ năm 1946.
(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh Phông Bộ Ngoại giao,KH: 3373, 3379)

Chỉ một năm sau ngày phát động phong trào đã tổ chức được 75.000 lớp học với trên 95.000 giáo viên; trên 2.500.000 người biết đọc, biết viết.(6)  Mỗi khi phong trào bước sang một giai đoạn mới, Người lại gửi thư chỉ rõ cho cán bộ và giáo viên bình dân học vụ những công việc cần phải làm. Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến, bình dân học vụ nhận thêm nhiệm vụ mới là trừ nạn mù chữ để đẩy mạnh kháng chiến với khẩu hiệu “Mỗi lớp học bình dân là một ổ tuyên truyền kháng chiến”. Trong thư gửi cho cán bộ và giáo viên bình dân học vụ khu III, Người chỉ rõ: “ Các lớp bình dân học vụ chẳng những dạy cho đồng bào học chữ, làm tính mà lại dạy thêm về công cuộc kháng chiến cứu nước, tăng gia sản xuất, giúp mùa đông binh sĩ, giúp đồng bào tản cư”(7)

Năm 1948 với phong trào thi đua yêu nước mà Người đề ra, bình dân học vụ chuyển sang một giai đoạn mới. Trong thư gửi cho anh chị em bình dân học vụ nhân dịp phát động phong trào thi đua ái quốc và kỷ niệm ngày Độc lập 2 tháng 9 năm 1948, Người chỉ rõ hướng đi tiếp theo của bình dân học vụ: “Trong phong trào thi đua ái quốc tôi mong các bạn cũng hăng hái xung phong. Vùng nào còn sót nạn mù chữ thì các bạn cố gắng thi đua diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng. Vùng nào đã hết nạn mù chữ, thì các bạn thi đua để tiến lên một bước nữa, bằng cách dạy cho đồng bào:

1-      Thường thức vệ sinh, để dân bớt ốm đau.
2-      Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm.
3-      Bốn phép tính để làm ăn quen ngăn nắp.
4-      Lịch sử và địa dư nước ta (vắn tắt bằng thơ hoặc ca) để nâng cao lòng yêu nước.
5-      Đạo đức của công dân, để trở thành người công dân đứng đắn.” (8)

Như vậy bình dân học vụ không chỉ dạy cho dân biết đọc, biết viết mà còn phải dạy cho đồng bào kiến thức khoa học thường thức, nâng cao dần trình độ dân trí.

Người còn nhắc nhở mọi người, mọi đoàn thể phải đoàn kết, đồng tâm hiệp lực thì mục tiêu “Tất cả đồng bào Việt Nam từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc, biết viết” sẽ hoàn thành thắng lợi.

Phong trào Bình dân học vụ được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính Phủ ngày càng phát triển. Từ 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ năm 1946 tới năm 1948 là 6 triệu người và đến năm 1952 là 10 triệu người, chiến dịch xoá nạn mù chữ cơ bản được hoàn thành. Đi đôi với việc diệt giặc dốt, việc bổ túc văn hoá để củng cố sự đọc thông, viết thạo của những người đã thoát nạn mù chữ được tổ chức và đẩy mạnh, trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân lao động cũng được nâng lên.

Đã hơn sáu mươi năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào Bình dân học vụ, nền giáo dục Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc. Từ chỗ 95% dân số mù chữ, đến nay cả nước đã cơ bản phổ cập giáo dục, mỗi năm có hơn 20 triệu học sinh, sinh viên các cấp học đến trường, đội ngũ giáo viên các cấp học cũng ngày càng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng. Thấm nhuần tư tưởng của Người về phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, từ những kinh nghiệm của phong trào Bình dân học vụ, chúng ta hy vọng ngành giáo dục Việt Nam sẽ thực hiện thành công mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đề ra: ” Phấn đấu xây dựng một nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân, vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(9)./.

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, NXBCTQG.H 1995, tập 4, tr.161
2. Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III, Phông Bộ Giáo dục, hồ sơ 146.
3.  Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG. H 1995, tập 4, trang 8.
4. Sdd, trang 36
5. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2663
6. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 146
7. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2663
8. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, hồ sơ 2663.
9. Văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X, NXBCTQG, Hà nội 2006

Phạm Hải Yến –Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III

archives.gov.vn

3 bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Lê Thị Thanh, Nguyễn Thị Bình và cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh

Những bức thư này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III- Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chưa được bao lâu thì Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Để bảo vệ những thành quả của cách mạng, giữ gìn độc lập tự do của dân tộc vừa giành được, quân và dân ta đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ và ác liệt. Trong cuộc kháng chiến ấy, nhiều chiến sĩ, đồng bào ta đã bị thương và hi sinh. Đảng, Bác Hồ và nhân dân luôn biết ơn và dành tình cảm yêu thương cũng như ủng hộ về vật chất để chăm sóc các gia đình liệt sĩ, anh em thương binh, bệnh binh tận tình chu đáo. Nhiều hoạt động giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ đã được thực hiện, được nhiều người, nhiều tầng lớp tham gia, đặc biệt là các em nhỏ.

Tháng 2/1948, Bác Hồ đã phát động phong trào Trần Quốc Toản để các cháu thiếu nhi tham gia giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội. Thực hiện lời dạy của Bác, nhiều em đã tham gia phong trào này bằng nhiều cách khác nhau như quét nhà, gánh nước, lấy củi, giữ em, dạy chữ quốc ngữ, tiết kiệm tiền gửi tặng các chú thương binh, bộ đội…

Năm 1953, có hai em học sinh là Lê Thị Thanh và Nguyễn Thị Bình ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã tiết kiệm được một số tiền và gửi lên Bác để làm quà tặng anh em bộ đội và thương binh.

Với sự quan tâm đặc biệt tới các cháu thiếu niên nhi đồng và anh em bộ đội, thương binh, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian gửi thư khen ngợi và động viên hai cháu.

Thư gửi cháu Thanh, Bác viết:

Thân ái gởi cháu Thanh,

Bác cảm ơn cháu đã gởi lên Bác 10 vạn đồng để làm giải thưởng và làm quà tặng anh em bộ đội và thương binh.

Bác giữ lại 5 vạn của cháu, và Bác thêm vào 5 vạn để làm quà và làm giải thưởng. Bác gởi lại cháu 5 vạn để cháu làm vốn mà tăng gia.

Bác mong cháu thương yêu và nghe lời cha mẹ, cố gắng học để đọc thông viết tốt, và cố gắng tăng gia.

Bác hôn cháu.

Bác gởi biếu cháu 1 cái huy chương”.

                                                     Tháng 1 năm 1953

                                                          BÁC HỒ

Thư Bác Hồ gửi cháu Lê Thị Thanh (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), tháng 1.1953. (1).

Thư gửi cháu Bình, Bác viết:

Thân ái gửi cháu Bình,

Bác cảm ơn cháu đã gửi lên Bác 2 vạn đồng để làm quà tặng anh em thương binh.

Bác giữ 1 vạn của cháu, và thêm vào 1 vạn của bác để làm quà cho các anh thương binh. Còn 1 vạn, Bác gởi lại cho cháu, để cháu làm vốn mà tăng gia.

 Bác mong cháu luôn luôn ngoan, và cố gắng học viết chữ cho tốt hơn.

Bác gửi biếu cháu 1 cái huy chương.

Bác hôn cháu”.

                                                                               Tháng 1 năm 1953

BÁC HỒ

Thư Bác Hồ gửi cháu Nguyễn Thị Bình (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), tháng 1.1953. (2)

Hai thư Bác viết ngắn gọn, lời lẽ giản dị, gần gũi. Bác đề xuất cách sử dụng số tiền tiết kiệm của các cháu thật ý nghĩa. Với mỗi cháu Bác đều dặn dò khuyên nhủ làm những việc thiết thực, có ích.

Số tiền của hai cháu cùng với số tiền của đồng bào các nơi gửi đến Bác đã gửi cho Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh làm quà tết cho anh em thương binh cùng với thư như sau:

“ Thân ái gởi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh.

Tôi xin gởi sang Cụ 50 vạn đồng (năm mươi vạn), do đồng bào các nơi gửi đến tôi, trong đó có 12 vạn đồng do các cháu nhi đồng gởi.

Nhờ cụ chuyển số tiền đó làm quà Tết ta cho anh em thương binh, với lời chào thân ái của tôi, của đồng bào và các cháu nhi đồng”.

                                              Chào thân ái và quyết thắng,

                                                     HỒ CHÍ MINH  

                     1/53

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh, tháng 1.1953. (3).

Trên đây là toàn văn nội dung 3 bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Thanh, Bình và Cụ Bộ trưởng Bộ thương binh Cựu binh, tháng 1/1953. Những bức thư này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 1494. Cả 3 bức thư đều chưa được công bố trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1995.

Nhân dịp kỉ niệm 64 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2011), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn 3 bức thư cùng bạn đọc. Qua những bức thư này, một lần nữa chúng ta lại thấy được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới các cháu thiếu niên nhi đồng, tới anh em thương binh bệnh binh, cũng như thấy được truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”- một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta.

Phạm Hải Yến – Trung tâm lưu trữ quốc gia III

Tài liệu tham khảo:
(1)(2)(3) Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 1494.

archives.gov.vn