Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Một số bút danh, biệt hiệu của Bác Hồ

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ của chúng ta đã sử dụng hơn 100 tên, biệt hiệu, bút danh. Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cô nước (1911-2006), xin giới thiệu 70 tên gọi, bút danh, bí danh, biệt hiệu Người đã sử dụng trước cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thời thơ ấu của Bác, ở làng Sen, bà con thường gọi cậu bé Nguyễn Sinh Cung là Cậu Công. Trước khi lên tàu ra đi tìm đường cứu nước, trong phong trào đấu tranh chống sưu cao thuế nặng ở Huế, nổi lên người thanh niên học sinh yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau này là thày giáo Nguyễn Tất Thành ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết). Khi làm đầu bếp trên tàu Latouche Tréville, Nguyễn Tất Thành lấy tên là anh Ba hoặc Văn Ba. Trong lá thư gửi từ Niu-oóc về cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ của cụ Nguyễn Sinh Huy, Bác ký tên là Paul Tất Thành. Từ năm 1919, bắt đầu xuất hiện tên Nguyễn Ái Quốc ký dưới Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị quốc tế vì hoà bình họp ở Versailles và nhiều thư từ, kiến nghị, bài báo khác. Là một trong những người sáng lập Tờ báo Le Pa-ria của Hội Liên hiệp thuộc địa, chỉ trong năm 1922, Nguyễn Ái Quốc đã viết gần 20 bài phơi bày dã tâm và tội ác của chủ nghĩa thực dân. Đồng thời Nguyễn Ái Quốc cũng viết hàng loạt bài đăng trên báo L’Humanité của Đảng Xã hội Pháp, các báo La Viie Ouvrière, Le Journal du Peuple, Le Libertaire và các tập san La Revue Communiste, Inprekorr dưới các bút danh: Nguyễn A. Q, Ký Viễn, N. A. Q. Tiếp đó, trong những năm 1923-1924, Nguyễn Ái Quốc còn sử dụng thêm một số bút danh và tên gọi khác dưới các bài viết và trong hoạt động cách mạng: Chú Nguyễn, N, S Chon Vang, Cheng Vang, Trần Vương, Ai Qua Que, Nguyễn Hải Khách, Lý Thụy.

Thời gian từ năm 1925 đến năm 1930, hoạt động trên cương vị là Uỷ viên Ban Phương Đông, phụ trách Văn Phòng Phương Nam của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đảm nhận việc truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng, theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng ở một số nước, chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở trong nước. Nhiều bút danh đã được Người sử dụng trong thời kỳ này là: N. A. K ký dưới Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên và tất cả đồng bào bị áp bức, Ông Lý dưới Thư gửi đại diện Tổng Liên đoàn Lao động thống nhất Pháp ở Quốc tế Công hội, L. M. Wang dưới Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức ở Quốc tế Cộng sản, Vichto Lơbông dưới Thư gửi đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản, Paul dưới Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Mỹ… Ngoài ra, Người còn dùng nhiều tên, bí danh khác như Nilốpski, Ho Wang, Trương Nhược Tường, Vương Sơn Nhi, Vương Đạt Nhân, Lonis-Berlin, Loa Roi Ta, Thọ biệt hiệu là Nam Sơn.

Tiếp đó là thời gian Bác Hồ của chúng ta từ Trung Quốc qua Thái Lan rồi từ Thái Lan trở lại Trung Quốc để chuẩn bị về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Để đảm bảo bí mật, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần cải trang khi là lính hầu, lúc 1à thày địa ký, có khi lại là thầy lang bôn ba đây đó chữa bệnh cứu người. Tên tuổi, bút danh của Người cũng nhiều lần được thay đổi. Những khi tiếp xúc với kiều bào, Người là Chín, Thầu Chín, Chính, Nguyễn Lai, Lý Tín Tống, Trần, Lê, Pan, Ông Lý Hồng Công, Tiết Nguyệt Lâm. Dưới các bài báo Nguyễn Ái Quốc ký nhiều tên khác nhau: Howang T.S, Wang, A.P, N.K, N. Ái Quốc, Nguyễn, H, T, Loa Shing Lan, Victo, Vector Lebm, K.K.V, Line, LW Vương, T.V.Wang, Có khi Người chỉ ký một chữ V dưới bài “Nghệ tĩnh đỏ” viết bằng tiếng Anh; lấy bút danh Quac, E.Wan dưới các bài vạch mặt đế quốc Pháp; ký một chữ K Thư gửi Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Trong bản khai trích ngang dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản(1935), Người ghi “bí danh trong Đảng là Jeng Man Huân”, bí danh dùng trong Đại hội là Lan. Sau này, khi từ Tây An về Quảng Tây (Trung Quốc) hoạt động, Người đã đóng giả lính hầu cho một viên quan Trung Hoa (là người của Đảng Cộng sản Trung Quốc chọn cử), lúc lại là thiếu tá Hồ Quang bên cạnh tướng Diệp Kiếm Anh qua lại Văn phòng Bát lộ quân. Thời gian này Bác Hồ có biệt hiệu là ông Trần, là đồng chí Vương khi gặp gỡ các đại biểu từ Việt Nam sang. Bài viết đăng trên các báo được ký dưới nhiều bút danh mới như P.C.Line, Bình Sơn.

Từ tháng 1-1941, Bác về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Trong thời gian đầu, Bác lấy bí danh là Già Thu và chọn hang Pắc Bó (Cao Bằng) làm cơ sở hoạt động cách mạng bí mật. Những tháng ngày gian khổ ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác có bí danh là Thu Sơn, Ông Ké. Trong những ngày Tháng Tám 1945 sục sôi khí thế cách mạng, Bác ký tên Hồ dưới thư viết bằng tiếng Anh gửi Trung uý Charles Fenn, người trực tiếp điều khiển nhóm tình báo Đồng minh hoạt động trên đất Việt Nam khi đó; Ký tên C.M Hồ dưới thư gửi ông Ph. Tan, là người Mỹ gốc Hoa sẽ cùng về Việt Nam với Hồ Chí Minh để thực thi nhiệm vụ do nhóm công tác của Charles Fenn giao cho.

Đó là những biệt hiệu, bút danh gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác Hồ trong giai đoạn từ khi rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước mùa hè năm 1911 đến Cách mạng Tháng Tám 1945, căn cứ theo Biên niên tiểu sử và Toàn tập tác phẩm của Người.

quangbinh.gov.vn

Bác Hồ với phóng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong các bậc danh nhân kim cổ của nhân loại. Vị anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa được các sử gia Đông Tây thừa nhận là một trong số nhân vật kiệt xuất làm nên thế kỷ XX. Hội tụ ở Bác Hồ tinh anh dân tộc Việt Nam và tinh hoa nhân loại. Bất kỳ ai, ở phương trời nào đều có thể qua tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tìm được nhiều điều để học tập. Các nhà báo Việt Nam mong có dịp tiếp cận Người, hơn thế được phục vụ Người trong các chuyến đi công tác. Qua mỗi lần đi, thế nào cũng thu nhận được nhiều điều. Từ cách hành xử thường ngày đến từng câu nói tưởng ngẫu nhiên của Bác hầu như đều hàm chứa ý nghĩa nhân văn, do đó có sức truyền cảm.

Xin được kể lại dưới đây đôi điều mắt thấy tai nghe.

Có gì mà viết lắm thế?

Vụ lúa chiêm 1958, miền Bắc hạn to, ruộng đồng khô nẻ. Nhân dân khẩn trương làm thủy lợi, đào mương dẫn nước vào đồng. Bác Hồ về thăm tỉnh Hưng Yên. Hôm ấy, một ngày tháng giêng, trời rét đậm. Bác Hồ rời Hà Nội thật sớm. Đến huyện Tiên Lữ, có mấy vị lãnh đạo tỉnh chờ sẵn ven đường. Bác xuống xe bắt tay, hỏi han mọi người, rồi băng băng đi bộ vào cánh đồng.

Nông dân năm xã đang đào một con sông. Bác Hồ bước rất nhanh giữa cánh đồng khô, đến mỗi nơi có đồng bào làm là Bác dừng lại, thăm hỏi động viên. Bà con hoan hô Bác. Bác xua tay: “Đừng hoan hô Hồ Chủ tịch, hãy hoan hô nước khi nào nước về”. Hễ gặp các vị cao niên là Bác tiến đến thăm hỏi. Có một cụ tên là Đoàn Đình Kiêu, năm ấy 82 tuổi, người thôn Hoàng Xá, xã Trung Dũng cũng tham gia làm thủy lợi. Bác nắm chặt tay cụ, nói: “Tôi cảm ơn cụ đã làm gương cho con cháu”. Rồi Bác quay lại bảo cán bộ địa phương đi theo: “Các cụ cùng chống hạn để làm gương cho con cháu như thế là rất tốt, nhưng phải chú ý sức khỏe các cụ, chớ để các cụ làm quá sức”.

Gặp ông chủ tịch huyện quần áo tinh tươm đang đứng chờ để chào Bác. Bác bảo chủ tịch đưa tay xem. Rồi nói nhỏ: “Tay chú sạch quá. Thi thoảng cán bộ cũng phải cùng lao động với bà con, để cho bà con thấy mình là người của nhân dân”.

Đến xã cuối cùng, Bác Hồ dừng lại, rút trong túi ra một phong bì nhỏ: “Đây là phần thưởng của Bác. Tất cả có bảy chiếc huy hiệu. Năm chiếc tặng bà con năm xã, một chiếc thưởng xã nào thi đua giỏi nhất, còn một chiếc Bác tặng riêng cụ Kiêu”.


Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Do mỗi xã phụ trách một khúc sông, cho nên bà con tản mác. Bác Hồ đi bộ đến mấy cây số liền. Tôi tất tưởi theo, lắng nghe Bác nói chuyện với ai xong, lại tới hỏi rõ họ tên, người thôn nào xã nào…, để khi viết bài khỏi lẫn lộn, rồi vội vã chạy cho kịp đoàn. Hồi ấy tôi đang sức trai mà mệt phờ, nhưng vui vì nghe và ghi được nhiều điều, thú vị nhất là chuyện Chủ tịch nước đi bộ qua cánh đồng gồ ghề nứt nẻ. Con sông đang đào nới bác về thăm năm ấy sau khi hoàn thành được đồng bào gọi là sông Bác Hồ, nay vẫn giữ nguyên tên ấy.

Tối về Hà Nội, tôi viết bài tường thuật dài đăng báo Nhân dân. Hôm sau, khoảng chín giờ, có điện thoại từ Văn phòng Chủ tịch nước, mời tôi lên ngay. Anh Trần Quý Kiên chờ sẵn. Anh là cán bộ cách mạng lão thành, có thời gian làm Thứ trưởng Thủy lợi. Anh chỉ nói vắn tắt: Bác Hồ cho gọi. Anh vào báo cáo với Bác, rồi dẫn tôi vào.

Bác đang làm việc, ngước mắt hỏi : “Chú Quang à ? Bác đã đọc bài của chú trên báo. Viết thế là được. Nhưng Bác hỏi chú, trong bài mấy lần chú nhắc đi nhắc lại chuyện Hồ Chủ tịch đi bộ giữa cánh đồng. Vậy ra từ trước tới nay, Bác Hồ toàn đi xe, chưa từng lội bộ bao giờ à? Bác Hồ đi bộ, thì có cái gì mà viết lắm thế?”. Tôi bối rối, chỉ còn biết chắp tay lúng búng: “Cháu xin cảm ơn Bác. Cháu đã thấy khuyết điểm. Cháu xin rút kinh nghiệm lần sau.”

Viết cho đúng, cho hay, có nhiều người đọc

Như một sự tình cờ, Tết Bính Thân tôi có vinh dự một mình đón Bác đến báo Nhân dân, đúng vào sáng mồng Một, nhằm ngày (12/01/1956), tôi được phân công trực tòa soạn. Số báo Xuân đã phát hành từ trong năm, báo nghỉ hai ngày để “ăn Tết”. Trực chẳng phải làm việc gì; chẳng qua cần có người, nhỡ có bạn đọc, cộng tác viên nào bất thần tạt vào thăm chăng.

Sáng đầu năm, đúng như dự kiến, có mấy cụ già phố Hàng Trống thay mặt tổ dân phố đến chúc Tết tòa soạn. Tôi đang tiếp mấy cụ ở phòng khách tầng trệt ngôi biệt thự thì người bảo vệ chạy vào, nói không ra hơi: “Bác Hồ! Bác Hồ đến!

Tôi vội chạy ra sân, nhìn về cổng chính không thấy ai. Thì ra, Bác Hồ đi từ Câu lạc bộ Thống Nhất sang, qua một cổng nhỏ vốn thông từ cơ quan báo sang sân chiếu phim của câu lạc bộ. Bác thoăn thoắt bước vào nhà. Theo sau có bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, cùng vài người cận vệ.

Tôi chắp tay rước Bác vào phòng khách. “Chú Tùng đâu?”, Bác hỏi. – “Thưa Bác, anh Hoàng Tùng lên Văn phòng chúc Tết Trung ương. Cháu là cán bộ được phân công trực cơ quan”.

Mấy cụ già lối phố sửng sốt trước vinh dự được gặp Bác Hồ đúng vào sáng tân niên, đứng dậy kính cẩn chắp tay, lúng túng không biết nên làm gì. Tôi giới thiệu với Bác, đây là mấy cụ ở cùng phố sang thăm cơ quan. Bác Hồ vui vẻ nói: “Năm mới, nhân được gặp các cụ, tôi chúc các cụ vạn sự như ý. Nhờ các cụ chuyển lời Hồ Chủ tịch chúc Tết gia đình và đồng bào khu phố”. Mấy ông già vẫn chưa hết ngỡ ngàng, bác sĩ Trần Duy Hưng rỉ tai: “Kìa, các cụ chúc Tết Bác đi”.


Buổi làm việc của Bác Hồ với báo Sự thật ở Việt Bắc

Hôm ấy, Bác Hồ đến thăm cán bộ miền Nam đang tập trung tại Câu lạc bộ mừng năm mới. Không rõ có ai báo tin Bác đến, hay vì trông thấy mấy chiếc xe hơi đỗ ở cổng chính Câu lạc bộ phía đường Lê Thái Tổ, mà chẳng mấy chốc đồng bào tập trung đông nghịt, chờ để được nhìn và hoan hô Bác. Càng lâu càng đông. Hôm ấy Bác Hồ còn có kế hoạch thăm một đơn vị quân đội và mấy nơi khác nữa ở mãi tỉnh Hà Đông. Chắc sợ trễ giờ, bởi đã gặp nhân dân đầu năm mới, thế nào Chủ tịch cũng cho dừng xe lại để thăm hỏi, các đồng chí tổ chức chuyến thăm liền mời Bác theo ngõ tắt, lối thông sang tòa soạn báo; từ đây ra cổng chính phía phố Hàng Trống.

Trong phòng khách, Bác Hồ vẫn đứng mà nói chuyện. Tôi mời Bác ngồi. Bác xua tay: “Chú để mặc Bác. Chú làm gì ở Tòa soạn?”. – “Thưa Bác, cháu làm phóng viên”. Bác nói: “Chú là nhà báo. Vậy năm mới, Bác chúc chú viết báo cho đúng, cho hay, có nhiều người đọc. Chú nói lại với chú Hoàng Tùng và toàn thể các cô, các chú trong cơ quan là Bác Hồ có lời chúc Tết anh chị em”.

Nói xong, Bác bắt tay mọi người, không quên mấy anh bảo vệ cơ quan vừa bỏ luôn nhiệm sở, chạy đến đứng thập thò ngoài cửa. Xong, Bác thoăn thoắt ra sân. Hai chiếc xe hơi vừa đến. Bác Hồ quay lại tươi cười đưa tay vẫy chào mọi người.

Mấy năm sau, tháng 4/1959 tôi lại được nghe Bác Hồ nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam. Nhân kể chuyện thời Bác tập làm báo tiếng Nga ở Liên Xô, Bác dẫn lời người hướng dẫn Bác: “Chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chí chỉ muốn biết sự thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc”.

Sao cho giàu nghèo ai cũng có Tết

Đêm cuối năm Bính Thân (1956), tôi được theo Bác đi thăm và chúc Tết đồng bào Hà Nội. Sau khi thăm khu tập thể công nhân nhà máy điện tại bãi Phúc Xá, xe đưa Bác về phố Lò Đúc. Tôi ngồi trên xe, căng mắt nhìn biển đề tên phố ở những ngã tư thiếu ánh sáng để định hướng mình sắp tới đâu. Bác ghé thăm nhà bà Khánh, người Thừa Thiên tập kết ra Bắc, có năm người con đi bộ đội, có người đang ở lại vùng do chế độ Sài Gòn kiểm soát. Bà thuộc diện “chính sách” nên tết nhất cũng tinh tươm. Nhà có hoa đào, hoa cúc. Chiếc bàn phủ tấm khăn mới toanh. Bác Hồ khen: “Nhà bà sang lắm!”. Tôi tò mò nhìn chồng sách đặt trên cái bàn nhỏ bên cạnh, nay còn nhớ rõ đấy là tập truyện phim Liên Xô, văn hóa phẩm thời thượng lúc bấy giờ; người Hà Nội không chỉ nô nức xem phim mà còn tranh nhau mua những tập kể tóm tắt nội dung của tác phẩm ăn khách…

Ra khỏi phòng, Bác Hồ thấy gian nhà bên cạnh tù mù, một bà đứng ngấp nghé ở cửa nhìn sang. Bác bước đến chào hỏi, chúc mừng rồi vào luôn trong căn nhà chật chội, bày trí sơ sài, chỉ treo có một bóng đèn vàng ệch. Đấy là bà Thơm, góa chồng, tần tảo nuôi mấy con dại. Hàng ngày bà kê cái chõng bán nước chè chén ở vỉa hè. Lên xe, Bác nói với Bác sĩ Trần Duy Hưng: “Các chú phải làm sao cho bất cứ nhà nào, giàu cũng như nghèo, cán bộ hay nhân dân, ai cũng có một chút Tết”. Về sau tôi được biết thêm, sau chuyến đi ấy, Bác có nêu lại ý kiến trên tại một cuộc họp Bộ chính trị, nhờ vậy từ đó hình thành chính sách chăm lo cái tết cho mọi gia đình. Từ đấy mới có lệ, ngày Tết mỗi hộ được phân phối thêm gói chè Thanh Hương hoặc Hồng Đào, mấy bao thuốc lá Điện Biên hoặc Tam Đảo, một hai lạng đường, mấy lạng thịt lợn…, tùy theo cấp bậc, chức vụ hoặc số nhân khẩu trong gia đình.

Bác Hồ đã bước một chân lên xe, còn quay lại đưa tay vẫy: “Xin chúc tất cả mọi người!”. Bà Khánh tiễn Bác, ròng ròng nước mắt, miệng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Bác Hồ quay lại, chào bà lần nữa và cười: “Chúc Bác Hồ sống lâu, sao bà lại khóc?”.

Chuyện về Bác Hồ còn dài dài, xin tạm ngừng ở đây, kỳ sau có dịp xin hầu chuyện tiếp.

honvietquochoc.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông nghiệp- nông dân – nông thôn

Từ thủa lọt lòng vào mùa hè năm Dần (1890) ở vùng quê Xứ Nghệ, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã sống trong cảnh làng quê với cây đa, giếng nước, luỹ tre xanh… 5 tuổi, bé Cung theo cha mẹ vào Huế, khi cả nhà nghỉ chân trên đỉnh Đèo Ngang, Cung nhìn ra biển thấy những thuyền buồm chạy theo chiều gió, Cung cho đó là những con bò đi trên ao lớn…(1).

Theo cha vào Huế lần thứ 2, đầu thời vua Duy Tân, Nguyễn Tất Thành học ở Quốc học Huế. Khi này tại Kinh đô thường xảy ra nhiều cuộc biểu tình của nông dân tỉnh Thừa Thiên chống sưu, chống thuế, Nguyễn Tất Thành và bạn đồng môn đã làm thông ngôn(2) giúp bà con nói rõ yêu sách với bọn thống trị, bị cảnh sát săn lùng, Nguyễn Tất Thành phải vào học tiếp chương trình tiểu học Pháp – Việt ở Quy Nhơn. Nghe lời cha, Nguyễn Tất Thành đi dần vào phương nam, tháng 6-1911 đã xuất dương tìm đường cứu nước.

Bốn tháng sau khi từ Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân (giữa tháng l0-1923), đã đọc bài tham luận nói lên tình cảnh nông dân Đông Dương đang bị thực dân Pháp bóc lột. Người nói:

“Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế khi không những nông dân ở Phương Tây, mà cả nông dân ở Phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị áp bức và bóc lột nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế của các đồng chí. Nếu đem so sánh người nông dân Nga với người nông dân Việt Nam, người ta có ấn tượng rằng: Khi nông dân Nga đang ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành, thì trong lúc đó, người nông dân Việt Nam đang bị treo ngược đầu xuống đất (?!)”(3).

Người đã dịch “Tuyên ngôn của Hội nghị Quốc tế Nông dân” (tháng 4-1924) ra tiếng Việt để gửi về nước.

Trong bài “Tổ chức dân cày” ở cuốn “Đường cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc viết: “Vì sao phải tổ chức dân cày?… Tây đồn điền choán ruộng thế nào?… Chính phủ Pháp đãi dân cày An Nam thế nào?… Muốn thoát khỏi vòng vây cay đắng ấy thì phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng… Có ích cho dân cày, có lợi cho nòi giống”(4).

Sau khi trở về Tổ quốc năm 1941, Bác viết bài thơ lục bát “Dân cày” đăng trên báo Cứu quốc (1-8-1941), lời thơ thống thiết, kêu gọi “Dân cày phải kiếm Việt Minh mà vào… Mai sau thực hiện chương trình: Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền” (nghĩa là theo chương trình Việt Minh, nông dân ai cũng có ruộng cày)(5).

Ngày 3-9-1945 tại cuộc họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã đề nghị phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất để diệt giặc đói do phát xít Nhật, thực dân Pháp gây nên.

Năm 1949, cuộc kháng chiến chống giặc Pháp đã chuyển sang giai đoạn mới, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh giảm tô 25% để bồi dưỡng sức của nông dân tá điền. Cũng năm đó, trong bài “Dân vận”, Người viết: “Cán bộ canh nông thì hợp tác mật thiết với cán bộ địa phương, đi sát với dân (số đông là nông dân – VAP) thiết thực bày vẽ cho dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cách chọn giống, ủ phân, làm cỏ”(6)… để phát triển sản xuất nông nghiệp. Đã có 2 lão nông chi điền được Đảng, Chính phủ và Bác Hồ phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động tại Đại hội “Liên hoan chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc” giữa năm 1952 tại chiến khu Việt Bắc. Từ năm 1953 đến 1956 cuộc phát động giảm tô và cải cách ruộng đất được tiến hành từ Liên khu 4 trở ra, khẩu hiệu “Người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực.

Không chỉ trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp Người mới tổ chức tăng gia sản xuất, có đất ta trồng, có bãi ta chơi, thuận đường sang Bộ Tổng, tiện lối tới Trung ương mà khi về Thủ đô, bên cạnh nhà sàn, Bác cho làm một ao cá lớn, Người nuôi rất nhiều cá, đã có thời gian các địa phương đến đây nhận cá giống về nuôi trong các ao cá Bác Hồ.

Sinh thời, ngay cả khi tuổi đã cao, Hồ Chủ tịch thường xuống nông thôn, gặp gỡ bà con trên đồng ruộng, động viên bà con tích cực tăng gia, chăn nuôi. Bác đã tát nước gầu sòng, đạp guồng đưa nước vào ruộng, hoàn toàn không có sự cách biệt giữa Chủ tịch nước với bà con nông dân địa phương.
Trong những năm chống Mỹ ác liệt, Người đã viết thư khen nhiều xã viên, hợp tác xã nông nghiệp làm ăn giỏi. Người rất quan tâm đến thời vụ sản xuất. Báo Nhân Dân ngày 15-1-1967 đã đăng bài của T.L (Bác Hồ). “Phải cấy chiêm xong trước tết”. Người thưởng huy hiệu cho những nông dân xuất sắc, đồng thời Người cũng phê bình trên báo một số bộ, ngành, một số xã, HTX làm ăn kém cỏi, đùn đẩy trách nhiệm, gây nên hệ quả là “dân cần quan không vội”!

Tại Hội nghị cán bộ nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 12 (khoá 3) ngày 16-1-1966, Người nói: “Bác lên thăm nhà máy chè Phú Thọ, các đồng chí chuyên gia nói rất sẵn sàng dạy cho ta 20 cán bộ để làm thí điểm cách trồng chè cho tốt, nhà máy chè nghe như thế rất mừng. Nhà máy gửi báo cáo lên Bộ Nông Lâm. Ông Bộ Nông Lâm nói việc dạy học phải hỏi Bộ Giáo dục, chúng tôi không giải quyết. Lên Bộ Giáo dục, thì Bộ Giáo dục nói đây là việc trồng chè, chúng tôi không giải quyết được. Gần 2 năm không giải quyết. Khi Bác lên thăm tình cờ các chuyên gia nói lại. Khi về Bác gặp ông nông lâm, Bác nói nhất định phải cho 20 cán bộ học cái này; ông nông lâm giải quyết. Thế là học được”(7).

Cuối năm 1959 Bác viết bài “Tết trồng cây” kêu gọi toàn dân hưởng ứng. 10 năm sau trên báo Nhân Dân, 5-2-1969 lại đăng bài “Tết trồng cây” của T.L (Bác Hồ). Người biểu dương thành tích 10 năm nhân dân ta từ miền núi đến đồng bằng, ven biển đã trồng được hàng vạn hecta cây các loại; xã Đô Lương (Lạng Sơn) trong 5 năm (1964-1969) đã trồng được 270 ha rừng, đã bán cho Nhà nước và thị trường 2.000 m3 gỗ và củi. Nhờ có trồng cây, nên thuỷ lợi cũng tiến bộ, hơn 100ha ruộng trước kia bỏ hoá nay đã trở thành ruộng 5 tấn, hai năm 1967-1968 đóng góp nghĩa vụ lương thực được 271 tấn thóc, thu nhập của hợp tác xã năm 1965 được 16.250 đồng, năm 1967 đạt đến 50.240 đồng… Các địa phương phải học tập và thi đua với nơi có phong trào trồng cây khá. Bác còn nhắc chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa.

Câu nói: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây” của Bác Hồ đã trở thành mục tiêu, phương châm hành động của cả nước.

Ngày 15-5-1965, nhân dịp mừng 75 tuổi, Bác Hồ đã viết xong bản thảo Di chúc đầu tiên, trong đó có đoạn: “Nhân dân lao động ta (chủ yếu là nông dân – VAP chú thích) ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ… Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân…

Sau khi tôi qua đời… tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi… Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn… Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm… Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”(8).

Tháng 5-1968, Bác lại viết tiếp vào dự thảo bản Di chúc:

“Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta… Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi đẩy mạnh sản xuất”(9).

Lời Di chúc sâu sắc, đầy ý nghĩa với tam nông, nhưng Người rất tôn trọng nguyên tắc, chỉ có ý đề nghị, còn phần quyết định thuộc về Trung ương Đảng và Chính phủ sau này.

Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng khoá 10 năm 2008 đã ra nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó xác định:

“Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước…”.

Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tinh thần của nghị quyết này, nông nghiệp Việt Nam sẽ phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, liên minh công nhân, nông dân, trí thức vững mạnh tạo nền tảng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vững mạnh.

_____________________

(1) Theo Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng. (2) Hồ Chí Minh – Cuộc đời và sự nghiệp, NXB Nghệ An 2003, tr.16. (3) Việt Nam-Những sự kiện lịch sử 1919-1945 tr.60, NXB Giáo dục 2-2002. (4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.308-311. (5) Sđd, tập 3, tr.201. (6) Sđd, tập 5, tr.699. (7) Sđd, tập 12, tr.21. (8, 9) Sđd, tập 12, tr.498-504.
Vừ A Páo

xaydungdang.org.vn

Học tiếng Tây để đánh Tây

Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc, do căm thù thực dân, dân quân tự vệ nhất là ở nơi làng mạc xa xôi, phá hủy bất cứ cái gì liên quan đến Tây tức là Pháp. Các tự vị LAROUSSE đều bị đốt. Vô phúc ai đi đường mang vác gì có màu xanh – trắng – đỏ, cờ Pháp! Có khi bị giam khi qua trạm kiểm soát.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã uốn nắn nhận định sai lầm đó, tuy rằng toàn dân – toàn quân ta kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng vẫn coi nhân dân Pháp là bè bạn, vẫn tôn trọng văn hóa Pháp. Do đó, kháng chiến là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, không biến thành chiến tranh hận thù chủng tộc như Algeria. Từ đầu kháng chiến, đại đa số trí thức Tây học đã tham gia “đánh Tây”.

Từ lúc người An Nam buộc phải học tiếng Tây đến khi trí thức Tây đào tạo lại đánh Tây, cuộc hành trình đa dạng và đầy bi hài.

Sau khi chiếm được toàn bộ nước ta, để củng cố chính quyền, thực dân Pháp tạo ra một hệ thống giáo dục Francis – indigène (Pháp – bản xứ) để đào tạo nhân viên cao cấp của bộ máy cai trị và để xóa bớt ảnh hưởng của Trung Quốc ngự trị hàng nghìn năm. Thực hiện ý đồ này, năm 1904, toàn quyền Paul Beau ký nghị định thành lập Sở học chính. Triều đình Huế, theo lệnh Pháp, đã có dụ quyết định bỏ bài thi cử chữ Nho truyền thống vào năm 1919.

Trong hệ thống học đường, chữ Quốc ngữ ở mấy lớp dưới, lên trên là tiếng Tây (Pháp) thay cho chữ Nho. Vì vậy có lời than:

Thôi có ra gì cái chữ Nho,
Ông nghè ông cử cũng nằm co.

Thời buổi nhố nhăng, dù chỉ có nhà Nho biết vài chữ Tây còn làm cả thơ Đường pha lẫn Tây – Tàu – ta.

Ông tôi đỗ tú tài có lẽ vào khoa cuối, hoàn toàn Nho. Bố tôi cũng học chữ Nho trước khi quay sang học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp để làm kế toán cho sở máy điện Hà Nội. Tôi cũng học chữ Nho thầy đồ ở phố Hàng Quạt, Hà Nội rồi mới đi học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Vào những năm 20 thế kỉ XX, ảnh hưởng Nho học còn dai dẳng nên mới có sách Pháp tự diễn âm ca để học tiếng Pháp bằng thơ lục bát, theo kiểu Tam tự kinh học chữ Nho.

Chữ Nho như:

Thiên () trời địa () đất vân () mây

 () mưa phong () gió trú () ngày dạ () đêm

Tiếng Pháp thì:

Pe-rơ (perè) tiếng gọi là cha, me-re (merè) là mẹ, ông bà e-ơ (aïeux).

Trong Đại chiến thế giới thứ I, năm 1916, in đến 25.000 cuốn sách này cho lính thợ An Nam (ONS) đưa sang Pháp phục vụ các nhà máy quân khí.

Lăng nhăng học dăm ba chữ Tây đi làm bồi bếp, thông ngôn nửa mùa thì khối chuyện cười ra nước mắt.

Chuyện nịnh Tây mà cũng không xong. Có một anh bồi đi theo hầu một bà đầm vợ quan lớn. Buổi trưa hè, xe ô tô đỗ nghỉ ở bóng cây bên đường. Nóng như thiêu như đốt, anh ta lấy quạt quạt cho bà đầm và nói: “MADAME, VOUS ÊTES EN CHALEUR”. Liền bị một cái tát trời giáng. Vì CHALEUR là sức nóng, anh ta định nói: “Quý bà nóng quá”. Ai ngờ EN CHALEUR có nghĩa là động đực, thèm của ấy. Bà đầm tưởng anh bồi nói kháy.

Hà Nội những năm 30 đã “sính Tây” lắm. Các cửa hàng đều có biển tiếng Tây, bạn bè gọi nhau là tu (anh) với moi (tôi), nói tiếng Việt phải điểm vài chữ Tây thì mới thời thượng. Nam Xương viết hài kịch Ông Tây An Nam để giễu một anh đi học Tây về nói chuyện với bố bằng tiếng Pháp, phải có thông ngôn dịch. Chuyện này trên thực tế có thực. Trường Bưởi có ông giáo Sáu dạy toán bị học trò đặt biệt hiệu là “sáu lọ” (lọ là lố lăng), chỉ thích xì xồ tiếng Pháp. Khi đi làm đốc học, không nói tiếng Việt, đi đâu cũng có thông ngôn đi kèm. Phản ứng lại sự mất gốc ấy, học trò lập ra những nhóm chỉ nói tiếng Việt thuần túy, rất ghét cậu nào xì xồ theo giọng Pháp…


Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12-1920.

Có một tầng lớp trí thức Tây học, có khi du học ở Pháp về, có ý thức dân tộc cao… Họ rất ghét, thậm chí căm thù thực dân Pháp nhưng biết phân biệt thực dân Pháp và văn hóa Pháp.

Trường hợp ông Phạm Duy Khiêm khá đặc biệt. Ông thuộc loại đại trí thức tốt nghiệp đại học Paris, cùng một khóa với tổng thống Pháp Georges Pompidou, tổng thống Senegal Léopold Sédar Senghor. Cứ là chịu ảnh hưởng của nhà xã hội học Pháp Lévy-Bruhl, ông cho tiếng Việt còn ở trình độ sơ khai (sauvage), tiền logic. Ông viết Tập truyện huyền thoại của các miền thanh bình (một số truyện cổ Việt Nam, Trung Quốc) là một tác phẩm tiếng Pháp hay và cộng tác viết về văn phạm Tiếng Việt.

Coi thường tiếng dân tộc thì không nên. Nhưng nếu sử dụng tiếng nước ngoài mà thuận lợi để nói lên tư duy tình cảm của mình và dân tộc mình là điều bình thường. Các cụ ta làm thơ văn chữ Hán khi chống Trung Quốc, thế hệ hiện đại dùng chữ Pháp chống Pháp cũng vậy. Có cả một nền văn học Việt Nam, bằng tiếng Pháp vẫn đang tiếp tục ở Pháp.

Nguyễn Ái Quốc viết tiếng Tây. Cuốn sách lên án thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết thơ chữ Hán những ngày trong tù. Kỹ sư cầu đường Đăng Phúc Thông, thứ trưởng Bộ Giao thông, năm 1947, kẹt ở Hà Nội khi Pháp chiếm đóng. Pháp cho hai nhân vật cao cấp đến thăm dò ý kiến, ông tiếp họ rồi viết báo cáo bằng tiếng Pháp gửi lên chiến khu Việt Bắc.

Trong kháng chiến chống Pháp, GS. Hồ Đắc Di, người Hoàng tộc, khi khánh thành trường Đại học Y ở Chiêm Hóa, đọc một bài diễn văn hùng hồn bằng tiếng Pháp, kêu gọi sinh viên hết lòng vì nước. Trong núi rừng chiến khu, bác sĩ Tôn Thất Tùng nhớ thủ đô Hà Nội làm một bài thơ tiếng Pháp đầy tình cảm ca ngợi anh bộ đội đi chân đất:

Khu rừng đầy ánh nắng, sau đêm giá lạnh
Nói với anh về giang sơn Việt Nam muốn sống
Anh cất tiếng ca và lòng rạo rực
Bay theo hai tiếng thần kì: Tổ quốc và Tự do

(1948)

Ghi chú

Hẳn nhiều độc giả, nhất là những người biết tiếng Pháp và ở Pháp, tìm đọc nguyên văn bài thơ tiếng Pháp của Tôn Thất Tùng. Chúng tôi xin in lại sau đây.

En se souvenant de Hà Nội

BS. Tôn Thất Tùng

Tu ne reverras plus le temps des accordailles,
Les amants enlacés sous les pruniers en fleurs
Les pruniers ne sont plus. Une aube de terreur
Se lève à l’horizon où gronde la mitraille.
Nous avons remisé dans leurs plus beaux cartons
Nos rêves quotidiens et nos joies coutumières,
Nous qui n’avons connu ni su ce qu’est la guerre,
Nous avons tout quitté en nous disant: Partons!
Frère, est-ce toi, héros pur de la délivrance
Qui passes en chantant, les pieds nus sans souliers?
L’azur de notre ciel couleur de liberté
Chante avec ta chanson l’honneur et l’espérance.
La brousse ensoleillée après les soirs glacés
Lui parle chaque fois du Việt Nam qui veut vivre
Il chante sa chanson et son âme s’enivre
Aux mots ensorceleurs: Patrie et Liberté.
O bonheur de bâtir sur une aube nouvelle
Le pays retrouvé à l’heure du destin!
Et voici notre offrande au Việt Nam de demain
Et voici notre sang pour une aube éternelle.
Alors nous reverrons ce tranquille bonheur
De vivre pauvrement dans nos calmes chaumières.
Le riz reverdira sur nes vertes rizières,
Les amants s’en iront sous les pruniers en fleurs.

Ngày 24/3/1948

Dịch thơ

Nhớ về Hà Nội

Em sẽ không còn thấy những ngày mừng cưới;
Bao cặp tình nhân ôm nhau dưới tán mai vàng.
Mai vàng không còn. Chỉ còn một bình minh ghê rợn,
Ló lên phía chân trời, nơi súng máy gầm vang.
Chúng ta cất trong những rương đẹp nhất
Bao ước mơ và niềm vui thường nhật
Chúng ta, những người chưa hiểu biết gì chiến trận,
Bỏ hết mọi thứ, cùng tự nhủ: “Lên đường!”
Bạn ơi, có phải anh, người anh hùng giải phóng
Vừa qua đây hát vang, không dép chân trần?
Bầu trời xanh của chúng ta màu Tự Do
Ca cùng bài ca của anh Quang Vinh và Hy Vọng
Cánh rừng tràn nắng sau những chiều lạnh cóng
Nói với anh mỗi khi, Việt Nam quyết sống
Anh ca bài ca của mình và tâm hồn bay bổng
Theo những từ say mê quyến rũ: Tổ Quốc, Tự Do.
Ôi! hạnh phúc được xây trong bình minh tươi mới
Đất nước hồi sinh vào phút giờ lịch sử!
Và đây hiến dâng của chúng ta cho Việt Nam ngày mai
Và đây dòng máu của chúng ta cho một bình minh vô tận.
Khi ấy, chúng ta sẽ hưởng lại hạnh phúc thanh bình
Được sống nghèo trong những nhà tranh yên tĩnh.
Lúa lại xanh trên những cánh đồng xanh
Và bao cặp người yêu lại bên nhau dưới tán mai vàng.

BS. Trịnh Phúc Nguyên dịch

honvietquochoc.com.vn

Tự phê bình và phê bình phải là vũ khí sắc bén

QĐND – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục cán bộ, đảng viên nắm chắc, khéo sử dụng vũ khí tự phê bình – phê bình và sửa chữa để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố chính quyền. Người khuyên: “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động đúng đắn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề và tự giải đáp: “Tự phê bình là gì? Là thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguồn: Internet

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Tự phê bình chính là cuộc cách mạng diễn ra ngay trong bản thân mỗi con người, là cuộc đấu tranh trong nội tâm để tự hoàn thiện mình. Tự xét mình đó là ý thức tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự phấn đấu, tự răn mình. Một số người sợ mất uy tín và thể diện mình, không dám tự phê bình, lại còn bao biện, nếu phê bình khuyết điểm của mình, của đồng chí mình, của Đảng và Chính phủ, thì địch sẽ lợi dụng mà công kích ta… “Nói như vậy là lầm to. Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết cũng la lết quả dưa”. Thực tế cho thấy, những cán bộ không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, thì người đó ngày càng lao vào khuyết điểm, càng giảm sút uy tín dẫn đến hư hỏng. Phê bình công khai có làm “suy giảm bớt uy tín của đoàn thể và chính quyền” không? Dứt khoát là có. Nhưng có “giảm bớt” này là tạm thời để rồi uy tín lại tăng lên, nếu quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là việc làm như cơm “ăn cho khỏi đói”, như “rửa mặt cho khỏi bẩn”. Đó là công việc hằng ngày, hiển nhiên cần thiết. Người đặc biệt phê phán thái độ phê bình không trên tinh thần đồng chí, không có lòng xây dựng, không chân thành giúp đồng chí. Đó là thái độ “đao to búa lớn” “việc bé xé to”, hoặc lợi dụng phê bình, cường điệu nâng quan điểm để hạ bệ nhau, mạt sát nhau… Còn nếu nể nang, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chất chứa lại. Thế thì khác nào tự mình bỏ thuốc độc cho mình! Nói về Đảng, một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình – phê bình thật dễ hiểu và dễ thực hiện. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc giải phóng dân tộc…, tự phê bình – phê bình được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện đúng đắn, nghiêm túc. Đây là vũ khí sắc bén, góp phần quan trọng nâng cao lòng yêu nước, tinh thần và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trước vận mệnh đất nước, đã làm nên những chiến thắng huy hoàng của dân tộc ta.

Tuy nhiên, hiện nay việc hiểu và thực hiện tự phê bình và phê bình  ở một số địa phương, đơn vị, một số bộ, ngành, đang có những biểu hiện không đúng đắn. Chẳng hạn, có những kẻ, trước các kỳ đại hội, hoặc bổ nhiệm, thì tung tin, dựng chuyện cho “đối thủ”, rồi lợi dụng tự phê bình – phê bình hạ thấp uy tín để tranh chức, đoạt quyền.  Đó đây vẫn còn biểu hiện tự phê bình và phê bình mang tính hình thức, tự phê bình thì nói về thành tích thật to lớn, sâu sắc, nhưng đề cập đến khuyết điểm chỉ kể ra cho gọi là có. Khi phê bình cấp trên, thì toàn nói về những khuyết điểm xét về hình thức có vẻ nghiêm trọng, nhưng thực chất là sự nịnh nọt, tâng bốc lẫn nhau, nhất là những kẻ cơ hội về chính trị… Chính vì vậy, các thế lực thù địch  đã lợi dụng để ra sức tuyên truyền, xuyên tạc một cách hiểm độc về tư tưởng tự phê bình – phê bình của Hồ Chí Minh. Một mặt chúng cho rằng, tự phê bình và phê bình chỉ là công cụ để tranh giành quyền, chức trong bộ máy Đảng và chính quyền các cấp. Mặt khác, chúng tìm mọi cách lôi kéo, móc nối với những kẻ cơ hội trong Đảng sử dụng tự phê bình – phê bình để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện những ý đồ đen tối.

Để góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch và phát huy tốt hiệu quả của vũ khí tự phê bình và phê bình, các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung tuyên truyền nâng cao ý thức của cán bộ, đảng viên và hiệu quả tự phê bình – phê bình. Trong đó tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, phải tổ chức học tập và quán triệt lại một cách nghiêm túc, sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình – phê bình.

Thứ hai, tổ chức hoạt động tự phê bình và phê bình trong các cấp bộ Đảng, chính quyền, nhất là cấp cơ sở một cách thường xuyên, liên tục và hiệu quả. Đây là giải pháp có tầm quan trọng bậc nhất và mang ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng Đảng, Nhà nước và quân đội ta trong sạch, vững mạnh.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình với cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham ô, tham nhũng nhằm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Thực hiện tốt giải pháp này cùng một lúc đạt được các mục tiêu sau: Giảm thiểu được những thiếu sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong bộ máy Đảng và chính quyền các cấp, trong thi hành công vụ: Phát hiện sớm các biểu hiện tham ô, tham nhũng, nhờ đó giảm thiểu tổn thất về tài sản và tiền bạc của Nhà nước và nhân dân, đồng thời, bảo vệ được cán bộ, đảng viên và uy tín của Đảng, Nhà nước: Hạn chế tối đa những kẽ hở, không để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.

Tóm lại, tự phê bình – phê bình là hoạt động mang tính tất yếu, thường xuyên, liên tục của một đảng cầm quyền như Đảng ta. Có làm tốt hoạt động này, thì Đảng mới vững mạnh, mới hoàn thành sứ mệnh của một đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thắng lợi.

Đại tá, PGS, TS Hoàng Minh Thảo

qdnd.vn

Tư duy Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh – đó là chủ nghĩa Mác – Lênin trong cái phần tinh hoa và thực tiễn của nó, ở Việt Nam.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã dặn rằng, học thuyết của các vị không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động. Cho nên học Mác không chỉ đơn giản là đọc sách, làm theo sách hay diễn giải sách theo ý riêng mình. Điều cốt tử là nắm lấy linh hồn của học thuyết đó, vận dụng nó vào thực tiễn, lấy thực tiễn kiểm nghiệm và điều chỉnh lý thuyết. Hồ Chí Minh đã làm như vậy. Và Cụ đã từng bị người ta phê phán. Nhưng Cụ đã đúng.

Khi còn trẻ, Cụ đã từng đưa ra một nhận xét táo bạo và sâu sắc, rằng học thuyết Mác chưa bao hàm cả văn hóa – triết học phương Đông. Đúng như vậy thật, và đó cũng là điều dễ hiểu: Mác chưa nghiên cứu phương Đông nhiều, đặc biệt là Trung Hoa; trong khi Nguyễn Ái Quốc là người xuất phát từ nền văn hóa đó, trên đất Việt Nam… Ngày nay, chúng ta thấy nên có một sự tổng hợp mới, Đông – Tây để làm phong phú và toàn diện chủ nghĩa Mác.

“Dĩ bất biến ứng vạn biến” – câu châm ngôn này là vũ khí tư duy của Hồ Chí Minh. Có lẽ, nó xuất phát từ tinh thần của Kinh Dịch và được một triết gia cổ đại nào đó nêu lên. Nhưng một khi nó được Hồ Chí Minh thốt ra, trong bối cảnh của năm 1946 ở nước Việt nam với cụ Huỳnh Thúc Kháng, thì nó có nghĩa là hãy lấy lòng yêu nước, khí phách kiên cường để ứng biến với mọi tình thế phức tạp. Ba mươi năm sau đó, kháng chiến và cách mạng Việt Nam, đã sáng tạo theo phương châm này và đã giành thắng lợi.

Hồ Chí Minh đọc rất nhiều, từ cổ đến kim, bằng nhiều ngoại ngữ. Nhưng người không nệ vào sách, không thích trích dẫn, không thích một sự phân tích dài dòng văn tự. Những người thích làm thế, nhiều khi dựa theo những tiên đề sai của sách, của lý thuyết. Tư duy tư biện hoặc máy móc không có chỗ trong tư duy Hồ Chí Minh. Người nghiên cứu, tìm hiểu, sống với đời sống và nói lên chân lý, theo kiểu của nhà hiền triết hơn là của một nhà lý luận.

Người rất ghét từ chương, sáo ngữ, biện luận dài dòng. Vì thế mà những lời của Người dễ vào lòng người, dễ nhập tâm dân chúng, và ai cũng thấy như Người phát ngôn cho mình. Các mục tiêu định ra là rõ ràng, chân thật, ai cũng tán thành.

Người thích diễn đạt bằng tục ngữ, ca dao, văn vần, thành ngữ, những cách nói dân dã. Người lại thích dẫn những câu thành ngữ Hán học mà vào thời đó các cụ nhà nho, các người có chút vốn học vấn đều thuộc, để diễn đạt ý mình. Sâu xa, đó là thừa kế có chọn lọc kho tàng tri thức Á Đông. Chẳng hạn câu: “Không sợ thiếu (vì nghèo), chỉ sợ không công bằng” (Bất hoạn bần nhi hoạn bất quân) trong kho cổ ngữ Trung Hoa.

Thế cho nên, người ta thấy Cụ Hồ gần mình lắm, tư tưởng của Cụ bình dị và gần gũi như cánh đồng lúa Việt Nam, đi vào lòng triệu triệu người.

Văn hóa, tức là cái đã được lọc, được quên đi và còn lại. Hồ Chí Minh là một bộ lọc vĩ đại đã lọc văn hóa của nhân loại, của phương Đông và Việt Nam. Học theo Người, chúng ta phải học nhân loại, học phương Đông, học Việt Nam và cố gắng tư duy một cách sáng rõ, gần với chân lý nhất, gần với cuộc đời nhất.

Bởi vì phàm đã là chân lý thì nó đơn giản. Các thứ lý thuyết rắc rối, cố làm ra vẻ cao siêu, khó hiểu, thần bí… đều trôi qua. Còn những lời minh triết của Cụ Hồ thì sống mãi.

honvietquochoc.com.vn

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người là một phim tài liệu của đạo diễn Bùi Đình Hạc và Lê Mạnh Thích được thực hiện năm 1990.

Đây là một bộ phim tài liệu tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (1890-1990), một trong những tác phẩm điện ảnh về đề tài Hồ Chí Minh được đánh giá cao, bộ phim thường được Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng vào dịp kỉ niệm ngày sinh (19 tháng 5) hoặc ngày mất (2 tháng 9) của Hồ Chí Minh.

Sản xuất

Năm 1980 nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, đạo diễn Bùi Đình Hạc từng thực hiện bộ phim tài liệu Ðường về Tổ quốc.[1] Mười năm sau đó vào đúng dịp 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, đạo diễn Bùi Đình Hạc đã cho ra đời Hồ Chí Minh – Chân dung một con người.

Để thực hiện bộ phim này, đoàn làm phim đã sang Liên Xô để tìm tư liệu trong các bảo tàng ởMoskva và Leningrad. Trong quá trình tìm tư liệu, đoàn làm phim đã phát hiện và đưa vào phim nhiều tư liệu quý giá về Hồ Chí Minh trước đó chưa từng được sử dụng như hình ảnh ông cởi trần tắm suối hay khăn vắt vai chống gậy mở đường.[1] Kịch bản của Hồ Chí Minh – Chân dung một con người được giao cho nhà biên kịch Bành Bảo, phần lời bình do nhà thơ, nhà văn Nguyễn Đình Thi chấp bút và phần hình ảnh được phụ trách bởi đạo diễn, nhà quay phim Lê Mạnh Thích.[2]

Theo đạo diễn Bùi Đình Hạc, nhà văn Nguyễn Đình Thi ban đầu định từ chối viết lời bình cho bộ phim vì bận nhưng sau đó do yêu thích bản nháp của phim nên ông đã quyết định viết lời bình cho tác phẩm này. Ban đầu Bùi Đình Hạc dự định đặt tên phim là Hồ Chí Minh, một con người nhưng sau đó ông đã đổi lại thành Hồ Chí Minh – Chân dung một con người, đây là một trong ba phim tài liệu của đạo diễn về Hồ Chí Minh, hai tác phẩm còn lại là Đường về tổ quốc và Nguyễn Ái Quốc đến với Lê Nin.[3]

Clip nguồn: nhoNguoicha

Đánh giá

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người được coi là một tác phẩm điện ảnh về đề tài Hồ Chí Minh có giá trị cao,[4][5] bộ phim thường được Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng vào dịp kỉ niệm ngày sinh (19 tháng 5) hoặc ngày mất (2 tháng 9) của Hồ Chí Minh.[3]

Xem thêm phần hai: Hồ Chí Minh – Chân dung một con người (Phần hai)

vi.wikipedia.org

Một đời thanh bạch chẳng vàng son

Trong bài thơ “Khóc Bác” tiễn Bác theo thế giới người hiền, nhà thơ Tố Hữu có viết: “Một đời thanh bạch chẳng vàng son, mong manh áo vải hồn muôn trượng, hơn tượng đồng phơi những lối mòn…”

Cuộc đời 79 mùa xuân của Bác chỉ biết lo cho dân nước. Bác hy sinh hạnh phúc riêng tư cho hạnh phúc dân tộc. Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta độc lập, dân tộc ta được tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Hai mốt tuổi, tại bến Nhà Rồng, Người lên tàu xuất dương tìm đường cứu nước. Có người hỏi: “ở nước ngoài, làm gì để sống?” Bác cười chỉ vào 2 bàn tay. Bác làm đủ việc : rửa bát, hầu bàn, chụp hình, viết báo… Cho đến khi làm Chủ tịch Nước, bữa cơm của Người cũng chỉ giản dị đĩa cá kho, bát canh rau và món mắm quê hương xứ Nghệ. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người được ăn cơm với Bác nhiều nhất bảo: “Ông cụ, bữa cơm, lúc nào cũng tóm vén, nhắc mọi người ăn cho hết. Ai để sót cơm, bị Bác phê bình là lãng phí sức lao động của người nông dân”.

Ngày Bác về thăm quê, Tỉnh ủy Nghệ An mời cơm. Thấy thức ăn nhiều, Bác sớt để riêng bảo: “để người khác khỏi ăn thừa!”

Ngày Cách mạng Tháng 8 thành công, Chính phủ bố trí Bác ở nhà Toàn quyền, Bác từ chối xin ra ở nhà sàn – Phủ Chủ tịch, sáng chiều tập thể dục, trồng cây, nuôi cá. Dừa, cam có trái, Bác hái chia quà. Rau, cá thu hoạch Bác đem cho nhà bếp, góp phần cải thiện bữa ăn cho cơ quan.

Một hợp tác xã Hà Nội có nghề đúc đồng truyền thống, xin được đúc tượng Bác, Bác bảo:

– Nước đang có chiến tranh, để dành đồng đúc súng đạn đánh Mỹ, nếu có đúc, nên đúc tượng anh hùng liệt sĩ, đúc tượng Bác làm gì?

Thấy áo Bác sờn rách, đồng chí phục vụ xin thay, Bác bảo:

– Rách có tí, vá cho Bác! Đồng chí phục vụ bảo:

– “ Chủ tịch nước, ai lại mặc áo vá.”

Bác cười bảo: “Có ông Chủ tích nước mặc áo vá là hạnh phúc cho dân lắm!”

Bác có một bộ vét bằng kaki vàng, dùng đi nước ngoài, ngoại giao, dự lễ, bị sờn. Anh em bàn nhau bí mật thay mới. Tìm vải tốt, nhưng làm màu hơi cũ đi như màu áo Bác để Bác không phát hiện. Ay thế mà ông cụ tinh, biết, phê bình.

Thường thì Bác mặc quần áo nâu, đi dép cao su (còn gọi là dép râu). Dùng lâu, một hôm dép đứt 1 chiếc quai. Đồng chí phục vụ báo cáo Bác thay đôi mới, Bác bảo: đứt quai thì thay quai, chứ sao lại mua mới, phí. Đồng chí phục vụ quay mặt đi, khóc, thương Bác quá. Trước tấm gương đạo đức sáng ngời của Người, nhân dân ta tự hào về Người, nguyện học tập và làm theo mãi mãi.

quangbinh.gov.vn

Học theo Bác, một bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc

Năm 1959, chúng tôi là những nữ sinh miền Nam đang theo học tại trường phổ thông cấp III Nguyễn Trãi. Trường chúng tôi ở số 30 đường Phan Đình Phùng thuộc khu Ba Đình, Hà Nội. Vì là nữ sinh miền Nam, lại ở nội trú, dễ tập họp, nên mỗi khi Bác Hồ đón khách quốc tế, chúng tôi thường được triệu tập đến phủ Chủ tịch để rải hoa đón khách.

Một lần, trong khi chờ khách đến, biết chúng tôi đang ở đó, Bác Hồ ra cổng và chúng tôi ùa tới vây quanh Bác, nói cười ríu rít rồi xin Bác cho chụp ảnh chung. Bác đồng ý và nói: – Các cháu xếp hàng lại đi, lớn đứng trước, nhỏ đứng sau. Các cháu đồng ý không? Chúng tôi mừng quá chẳng cần suy nghĩ, vội vàng hô vang: – Đồng ý, đồng ý. Thế là Bác liền rầy: – Bác nói, lớn đứng trước, nhỏ đứng sau, thế mà các cháu cũng đồng ý à? Lúc bấy giờ chúng tôi mới chưng hửng.


Bác Hồ với các cháu thiếu nhi. Ảnh TL

Bác nói tiếp: – Dù là Bác nói, cũng phải suy nghĩ xem đúng, sai, rồi mới đồng ý. Một bài học thật nhẹ nhàng phải không các bạn. Nhưng với chúng tôi, những nữ sinh miền Nam ngày ấy, vẫn nhớ suốt đời.

* Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 4-5 – NXB Sự thật, năm 1985.
** Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X.

honvietquochoc.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh – một con người, một sự nghiệp mà tên tuổi của Người gắn liền với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Tư tưởng đó đã thôi thúc nhiệt tình cháy bỏng của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, mới ngoài 20 tuổi đời đã rời quê hương thân yêu đang bị bọn thực dân phong kiến, cai trị để đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

2_ng_x11-450.jpgNguyễn Ái Quốc và lớp bồi dưỡng lý luận chính trị tại Quảng Châu (Trung Quốc).
Ảnh: Tuấn Anh

Qua bao năm bôn ba ở nước ngoài, đi đến nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước văn minh nhất và những nước lạc hậu nhất ở châu á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ la tinh. ở đâu Hồ Chí Minh cũng thấy bộ mặt thật của bọn thực dân, đế quốc. Và Người đã rút ra kết luận, bọn thực dân, đế quốc như con đỉa hai vòi, một vòi bám vào các nước thuộc địa, một vòi bám vào chính quốc. Chúng là một bè lũ xâm lược xảo quyệt và tàn bạo. Không chỉ ở những nước thuộc địa, nhân dân bản xứ mới bị nô dịch, bị áp bức bóc lột đến tận xương tuỷ, mà ngay ở chính quốc, những người lao động và tầng lớp dưới cũng không thoát khỏi cảnh nghèo khổ, bị bần cùng hoá do chính giai cấp tư sản và bọn thực dân, đế quốc gây ra cho đồng bào mình dân tộc mình.

Trong những năm sống ở đất khách quê người, Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức cho việc học tập nghiên cứu lý luận. Người đã tìm hiểu ở những người bạn Pháp, những người cách mạng cùng chí hướng để bổ sung cho mình những nhận thức mới về những gì ẩn giấu đằng sau các từ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” mà bọn xâm lược thường rêu rao. Trở thành đảng viên Đảng xã hội Pháp vào năm 1919, một đảng tiến bộ lúc bấy giờ và cùng với những đảng viên ưu tú của Đảng xã hội Pháp bỏ phiếu tán thành Quốc tế III – Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập, Hồ Chí Minh trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ đây, Người được trực tiếp đọc các trước tác của C. Mác Ph. ăngghen, V.I. Lênin. Được vũ trang bằng chủ nghĩa Lênin và được cổ vũ bởi Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại từ một người yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh đã trở thành một người cộng sản kiên cường, một lãnh tụ vĩ đại của Đảng và cách mạng Việt Nam. Người là hiện thân của tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần cách mạng triệt để, vô song của nhân dân Việt Nam hơn bảy thập kỷ qua. Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Lênin với tất cả những thiện cảm và tư tưởng của một người khát khao độc lập tự do cho đất nước hạnh phúc cho nhân dân. Người kể lại rằng: “Luận Cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo. Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”1

Trong những di sản mà Hồ Chi Minh để lại cho Đảng ta, cho cách mạng Việt Nam có rất nhiều tư tưởng và quan điểm mà Đảng ta đã và đang vận dụng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tư tưởng của Người là vô cùng phong phú, đề cập đến rất nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, về xây dựng đảng, về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân… Bài viết này chỉ đề cập đến bốn tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thưc tiễn đối với cách mạng Việt Nam trước đây và hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam thể hiện trên những vấn đề sau.

1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Là một người yêu nước, thương dân, ngay từ thời niên thiếu Hồ Chí Minh đã chứng kiến sự ngang trái, bất công của xã hội đương thời, của bọn vua quan phong kiến và bọn thực dân, đế quốc xâm lược. Người rất đau lòng trước cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân một cổ hai tròng, không được làm người với tư cách là một con người, sản phẩm của tạo hóa sinh ra. Với tư chất thông minh lại được sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, được chứng kiến cảnh khổ đau của dân tộc, Hồ Chí Minh đã nung nấu trong lòng một ý chí, một quyết tâm giải phóng dân tộc, đánh đuổi thực dân, đế quốc. Chính tư tưởng này đã đẩy chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh lên tầm cao mới vượt khỏi Chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các nhà yêu nước tiền bối khác. Hồ Chí Minh đã tạm gác việc nhà, hy sinh hạnh phúc gia đình để tìm đường cứu nước, cứu dân. Với một tư duy sắc sảo, có tầm nhìn xa, trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấu hiểu tâm địa và bản chất của kẻ thù, đồng thời cũng biết được chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng, biết được chí khí và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Người nói “…chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”2. Đây là đặc điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà những người yêu nước đàn anh của Người chưa vươn tới.

Từ một người yêu nước trở thành một đảng viên cộng sản, một nhà cách mạng kiệt xuất, một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh luôn canh cánh bên lòng nỗi yêu nước, thương dân. Người nói, chừng nào nước nhà chưa được độc lập, nhân dân chưa được tự do thì tôi ăn chưa ngon ngủ chưa yên. Bởi vậy, suốt đời Hồ Chí Minh đã đem hết tâm trí, nghị lực để đấu tranh cho sự trường tồn của dân tộc, nước nhà sạch bóng quân thù, xóa bỏ áp bức, bất công xã hội, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Khác với những nhà yêu nước khác, muốn dựa vào “lòng tốt” của tư bản nước ngoài để đòi độc lập tự do cho đất nước mình, theo kiểu “cõng rắn cắn gà nhà”, Hồ Chí Minh nhận thức một cách sâu sắc rằng muốn giành được độc lập phải dùng sức ta mà giải phóng cho ta. Người phân biệt một cách rõ ràng, bọn thực dân, đế quốc, giai cấp tư sản phản động với những người cách mạng, những người yêu nước và nhân dân lao động ở chính quốc. Do đó, một mặt phải có thái độ kiên quyết với kẻ thù, đấu tranh không khoan nhượng với chúng, không mơ hồ ảo tưởng vào những luận điệu giả nhân, giả nghĩa của chúng. Mặt khác, luôn luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới, với phương châm thêm bạn bớt thù để làm cho sức ta ngày càng mạnh lên, đồng thời để cô lập và đánh bại kẻ thù. Rõ ràng tư tưởng cứu nước, cứu dân và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã vượt xa tư tưởng giải phóng dân tộc của những nhà yêu nước khác. Điều này đã được lịch sử chứng minh hoàn toàn đúng đắn.

Tư tưởng giải phóng dân tộc và con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, Người nói, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Chính tư tưởng này đã chỉ đạo Hồ Chí Minh và Đảng ta trong việc đề ra chiến lược và sách lược cách mạng trong việc tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta vùng lên đấu tranh phá xích xiềng nô lệ của bọn thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh của một nước thuộc địa, nửa phong kiến, một nước nông nghiệp lạc hậu, nhân dân sống lầm than, khổ cực cùng với giặc ngoại xâm thì giặc đói, giặc dốt cũng đe dọa không kém. Nhưng với truyền thống quật cường của dân tộc, với tài thao lược của cha ông, được Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Lênin dẫn đường, Hồ Chí Minh đã quyết chí, bền lòng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng với một quyết tâm sắt đá: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Hồ Chí Minh khẳng định: “Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất”3 Và Người tin rằng “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ. Vậy ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà.”4

Hồ Chí Minh tỏ rõ thái độ và quyết tâm chống thực dân, đế quốc đến cùng để giải phóng dân tộc. Cho dù chiến tranh có thể kéo dài, nhân dân ta có thể chịu đựng nhiều hy sinh, gian khổ, nhưng chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Người kêu gọi đẩy mạnh kháng chiến với tinh thần “Chúng ta phải hy sinh, chịu khổ và phải gắng sức. Nhưng chúng ta quyết hy sinh, chịu khổ và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá ta xiềng xích nô lệ hơn 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sau”5.

Như vậy, tư tưởng độc lập dân tộc và con đường giái phóng dân tộc cúa Hồ Chí Minh là nhất quán, trước sau như một, dù có khó khăn gian khổ đến mấy, dù có tổn thất hy sinh bao nhiêu cũng quyết tâm kháng chiến, chống thực dân, đế quốc đến cùng và phải giành cho được độc lập, tự do cho nước, cho dân và trước khi từ giã cõi đời này, Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, cho thế hệ hôm nay và mai sau một bản Di chúc lịch sử, trong đó Người khẳng định: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể có kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, con nước, còn người

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước ra sức đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và quyết tâm chống đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn ở miền Nam, lập nên chiến thắng vĩ đại vào mùa xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2. Giương cao hai ngọn cờ: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Từ khi đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh luôn ấp ủ trong lòng mình một hoài bão là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được ấm no hạnh phúc, mọi người trong xã hội được bình đẳng, không còn chế độ người bóc lột người. Tư tưởng đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động Cách mạng gần 60 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người cho rằng, độc lập rồi mà nhân dân không được ấm no hạnh phúc, không được học hành thì nền độc lập đó cũng trở nên vô nghĩa, không thực hiện được mục đích cuối cùng của cách mạng và như vậy là có tội với dân tộc. Cho nên, việc giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, không chỉ Người đã hấp thụ chủ nghĩa Mác – Lênin, được Cách mạng Tháng Mười Nga soi sáng, cổ vũ, mà với thiên tài của mình, Người đã nhìn thấy xu hướng phát triển của lịch sử, của thời đại là chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản thì mới thực hiện triệt để mục tiêu của cách mạng nước ta, nếu không thì cũng chỉ mới một nửa cách mạng.

Về lý luận và thực tiễn đã chứng minh luận điểm độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn, và đó là sự lựa chọn duy nhất của người cộng sản, của cách mạng vô sản ngoài ra không có con đường nào khác. Cũng phải khẳng định rằng con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hợp quy luật, hơp với tiến trình lịch sử – tự nhiên. Nhưng đây cũng là một sự lựa chọn khó khăn đối với rất nhiều nước trong thế giới đương đại. Điều này lý giải vì sao hiện nay có rất nhiều nước giành được độc lập rồi nhưng vẫn còn dừng lại ở cách mạng dân tộc, dân chủ, chưa tiến lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí có những nước đi theo xu hướng tư bản chủ nghĩa. Ngay cả Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sau khi tan rã lại quay trở lại con đường tư bản chủ nghĩa gia nhập NATO, một liên minh quân sự của các nước đế quốc mà cách đây không lâu là một đối trọng của các nước Đông Âu.

Đối với Hồ Chí Minh và Đảng ta ngay từ đầu đã xác định rõ con đường đi của mình là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”7. Đây là một quyết định sáng suốt, dứt khoát có ảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của đất nước ta, dân tộc ta. Chính nhờ giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên sau khi giải phóng một nửa đất nước ở miền Bắc vào năm 1954 và giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975, Đảng ta chủ trương thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và 25 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước tuy còn nhiều khó khăn, thử thách lớn lao phải vượt qua, nhưng những thành tựu kinh tế – xã hội đạt được trong mấy chục năm qua nhất là 15 năm đổi mới đất nước có ý nghĩa quan trọng. Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: nước ta đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Với đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng ta, đất nước ta tiếp tục phát triển đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

3. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, chống chia rẽ, bè phái

Đại đoàn kết dân tộc là một tư tưởng lớn, thường trực trong con người Hồ Chí Minh. ở Người, hai từ Đoàn kết được vận dụng nhuần nhuyễn trong mỗi hành động, mỗi lời nói đối với mọi người ở đâu, bao giờ Người cũng luôn luôn nói đến đoàn kết nhất trí, nói đến sức mạnh của tập thể, của cộng đồng. Bởi lẽ, đó chính là nguyên nhân dẫn đến mọi thắng lợi, biến yếu thành mạnh, biến khó thành dễ. Người nói “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Chính nhờ có đoàn kết nhất trí, chung sức, chung lòng mà từ buổi bình minh của lịch sử và trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước ông cha ta đã chiến thắng biết bao kẻ thù, vượt qua biết bao gian lao thử thách để giữ cho sự phát triển vững bền của đất nước sự trường tồn của con Lạc, cháu Hồng.

Ngay trong những thời điểm kháng chiến ác liệt nhất chống kẻ thù xâm lược, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn Đảng toàn quân toàn dân đoàn kết chống kẻ thù. Người hiệu triệu: “Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc”. Và “Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng vào sức mạnh đoàn kết chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn răng chịu đựng nền tự do muôn ngàn đời sắp tới thì cũng bỏ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng bốn chữ cần, kiệm, liêm, chính thì cuộc trường kỳ kháng chiến của chúng ta nhất định vững vàng”8.

Hồ Chí Minh không chỉ là người thừa kế và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc ta từ ngàn xưa mà Người còn là một tấm gương sáng về thực hiện đoàn kết. Nội hàm về đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, nó bao hàm cả sự khoan dung đối với mọi người và sự đấu tranh tự phê bình và phê bình trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đoàn kết tất cả các lực lượng, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc, đoàn kết trong đảng và ngoài xã hội, đoàn kết Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. “Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ, đồng bào ta trở thành những người anh hùng. Do đó chúng ta đã đánh thắng các liên minh ghê tởm giữa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai”.9

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đoàn kết nhất trí, làm sao cho triệu người như một, đồng tâm hiệp lực nhất hô bá ứng thì bất cứ nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn Đảng ta “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con người của mắt mình”.Và không chỉ thế, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến sự đoàn kết quốc tế, đến các đảng cộng sản anh em. Người tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhưng cũng rất đau lòng vì sự bất hòa của các đảng anh em và “mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đại đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý, có tình”.

Đối với Hồ Chí Minh chỉ có một nguyên tắc là đoàn kết nhất trí, do đó Người rất ghét những tư tưởng chia rẽ bè phái. Coi đó như một loại kẻ thù nguy hiểm cần phải chống lại, cần phải kiên quyết đấu tranh. Nếu không sẽ làm suy yếu nội bộ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng với chế độ. Trong thực tế Đảng ta đã vận dụng đúng đắn tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh nên đã tập hợp được tất cả mọi lực lượng, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác cho đến thắng lợi hoàn toàn.

4. Tư tưởng Hồ Chi Minh về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại

Ngay trong những ngày đầu tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy một sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam – một dân tộc anh hùng có bốn ngàn năm lịch sử, một dân tộc giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, dân tộc này vẫn ngẩng cao đầu, không chịu khuất phục trước lưỡi lê, họng súng và uy vũ của quân thù. Nhưng Hồ Chí Minh cũng tự đặt ra cho mình một câu hỏi. Vì sao, với một dân tộc anh hùng như vậy, nhưng không đánh đuổi được thực dân Pháp xâm lược, mà phải chịu 80 năm đô hộ? Phải chăng, lúc đương thời chưa có những lãnh tụ cách mạng đủ sức, đủ tầm để vạch ra đường lối đúng đắn chống thực dân, phong kiến. Phải chăng, ông cha ta chưa biết khơi dậy sức mạnh của cả dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc? Về một khía cạnh nào đó những vấn đề nêu trên thật có lý, nhưng không hoàn toàn đúng. Bởi, ngoài những lý do đó còn có vấn đề nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, biết đánh và biết thắng kẻ thù, biết kết hợp sức mạnh bên trong và sức mạnh bên ngoài, sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đã có công lao to lớn trong việc gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Người luôn coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Do đó, Người chủ trương khơi dậy sức mạnh của dân tộc, động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn dân, huy động tối đa sức người, sức của vào công việc kháng chiến và kiến quốc. Mặt khác, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, của các đảng cộng sản anh em cả về tinh thần lẫn vật chất, cả đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao làm cho kẻ thù ngày càng bị cô lập bị chia rẽ và suy yếu.

Lịch sử đấu tranh chống thực dân, đế quốc và phong kiến của nhân dân ta đã chứng minh, trong những thời điểm khó khăn, phức tạp nhất, quyết liệt nhất, nếu biết phát huy sức mạnh tổng hợp từ bên trong và bên ngoài, biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại thì sẽ nhân sức mạnh của cách mạng, của dân tộc lên gấp nhiều lần. Và đó là một trong những nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng, cho sự phát triển bền vững của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

TS. Phạm Hảo (Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 4(41)/2000)

hochiminhhoc.com

Mấy suy nghĩ về việc học tập và làm theo đạo đức của Bác Hồ

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm guơng đạo đức Hồ Chí Minh được Đảng phát động đến nay đã gần hai năm. Đã có rất nhiều hình thức sôi động đem lại những hiệu quả thiết thực cho phong trào có ý nghĩa sâu sắc này. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều bài viết về đạo đức, tác phong sinh hoạt của Bác; nhiều tin tức phản ảnh sự hưởng ứng rộng khắp cuộc vận động ở các ngành, các địa phương. Đáng chú ý là cuộc thi kể chuyện đạo đức Bác Hồ do Ban Chỉ đạo cuộc vận động Trung Ương phát động, đã làm tăng thêm sự sôi động từ cơ sở đến các ngành ở Trung Ương trong phong trào này. Buổi tổng kết đã được tổ chức trọng thể ở Hà Nội và đích thân đồng chí Tổng Bí thư trao giải thưởng cho những người đoạt giải cũng đã chứng minh tính chất quan trọng của cuộc thi.

Tuy nhiên, dư luận rộng rãi cho là cuộc vận động vẫn còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, còn có tính chất rầm rộ phô trương chứ chưa đi sâu vào thực chất yêu cầu đề ra. Điều mà xã hội quan tâm đã học rồi, nhưng làm theo Bác mới là quan trọng. Và việc làm theo đó, trước hết phải là trong cán bộ, Đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo từ Trung Ương đến cơ sở. Mặt khác, những việc làm theo đó đã đạt được những hiệu quả cụ thể, thiết thực như thế nào phải được thông báo rộng rãi để khích lệ phong trào, đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu.

Thực ra, đạo đức Bác Hồ đã được Bác cô đọng trong mấy chữ: “Trung với nước, hiếu với dân” và “cần – kiệm – liêm – chính, chí công vô tư”. Bác cũng đã giải thích rõ cần, kiệm, liêm, chính là thế nào trong bài viết rất sâu sắc và súc tích từ năm 1949*. Ở Bác Hồ, đạo đức gắn liền với tác phong sinh hoạt, lề lối làm việc, quan hệ ứng xử, văn hoá giao tiếp. Đương nhiên, tình hình kinh tế xã hội thời hoạt động của Bác khác với hiện nay, nhưng tác phong, đạo đức của Bác vẫn luôn là một hình mẫu vừa mang tính bền vững, vừa mang tính thời sự cho mọi đối tượng trong xã hội chúng ta, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cả dân sự và quân sự, cả thế hệ hôm nay và mai sau.

Học tập và làm theo Bác cũng không phải cứng nhắc, làm y như Bác một cách thô thiển. Ngày trước, khi đi công tác, giờ ăn trưa, Bác không vào trụ sở của tỉnh vì ngại phiền địa phương, Bác cùng anh em lái xe, cần vụ, giúp việc đưa cơm nắm ra ăn và trải ni-lông nằm nghỉ dưới gốc cây, sau đó mới vào làm việc. Nay thì các vị nguyên thủ của ta không thể làm thế. Vì nếu làm như thế thì có thể bị cho là giả tạo! Nhưng cái chính là phải học và làm theo cái gương không gây phiền hà cho địa phương của Bác.

Có chuyện kể lại rằng, thời chống Pháp, giấy viết hiếm, Bác thường nhặt các phong bì còn một mặt viết được để sử dụng. Bây giờ thì trong các cơ quan không ai làm như Bác vì giấy viết không phải quá hiếm, nhưng cái cần học tập ở Bác là phải biết tiết kiệm, cái gìvật gì còn dùng được thì sửa sang mà dùng, không tốn tiền nhà nước để mua sắm mới. Nhưng hiện nay thì các cơ quan nhà nước ta còn quá lãng phí: ô tô còn chạy tốt đã thay, bàn ghế còn tốt đã phế đi để đóng mới; vào dịp cuối năm, mừng Tết thì Thiệp chúc mừng và lịch biếu được in vô tội vạ, trong khi nhiều học sinh nghèo không có tiền mua sách giáo khoa.

Những sinh hoạt của Bác như thế có thể coi là chuyện thường ngày. Ở nước ta, trong cuộc đấu tranh chống lãng phí, nếu các cán bộ, công chức đều có ý thức học tập và làm theo tấm gương tiết kiệm như Bác, chắc sẽ đem lại lợi ích không nhỏ. Nước ta còn nghèo, thu nhập bình quân đến nay mới đạt 1.000 USD một đầu người trong một năm, nhưng xem ra việc tiêu xài ở các cơ quan công quyền vẫn còn khá lãng phí.

Vừa qua, trong kỳ họp Quốc hội cuối năm, khi thảo luận về chống lãng phí, có đại biểu đã phát biểu là nước ta đang có bệnh “hoành tráng” nghĩa là cái gì cũng muốn cho oai, phô trương, hình thức, tiêu tiền công không tiếc! Đấy là chưa nói đến việc lãng phí thời gian, công sức. Nếu Bác còn sống, chắc Bác sẽ phê bình nghiêm khắc.

Năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang rất ác liệt, chính quyền còn rất non trẻ, nhưng trong đội ngũ cán bộ đã có biểu hiện quan liêu, cục bộ, hẹp hòi, địa phương…, Bác đã viết tài liệu “Sửa đổi lề lối làm việc” để cho cán bộ Đảng, nhà nước, quân đội học tập nhằm chống các căn bệnh trên. Bác đề cao đạo đức cách mạng là nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng. Có thể nói, tất cả những điều Bác viết trong tài liệu này cho đến nay vẫn đậm tính thời sự, đặc biệt trong tình hình mà “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức đang diễn ra nghiêm trọng**.

Do đó,việc phát động cuộc vận động học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh là rất cần thiết, nếu không nói lẽ ra cần phải sớm hơn. Nhưng học chỉ là một vế, còn vế quan trọng hơn là làm theo, vì đây mới là mục tiêu chủ yếu của cuộc vận động. Dư luận cả nước hy vọng là trong thời gian tới, việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác sẽ gặt hái được nhiều kết quả thiết thực, cụ thể, to lớn hơn.

Cuối năm 2008

honvietquochoc.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ là minh chứng cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc mà còn là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Đây là một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận Mác – Lênin, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho thành công của cách mạng Việt Nam.

images332462_BH.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển từ cơ sở lý luận, thực tiễn của mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) và đặt ách thống trị ở nước ta cho đến đầu thế kỷ XX, các ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đã liên tục dấy lên. Nhân dân ta đã chiến đấu rất quyết liệt và anh dũng, song tất cả đã bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Bởi lẽ lãnh đạo các cuộc kháng chiến là các sỹ phu, văn thân mang nặng ý thức hệ phong kiến hoặc ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, đường lối cứu nước không rõ ràng. Thực tiễn lịch sử các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ rằng, không thể giải quyết vấn đề dân tộc, giành độc lập dân tộc dựa trên những quan điểm phong kiến, hay tư sản.

Lịch sử dân tộc đặt ra một đòi hỏi cần có một lực lượng lãnh đạo đất nước với một con đường cứu nước mới, có khả năng tập hợp và phát huy sức mạnh toàn dân tộc để đưa dân tộc ta đến độc lập tự do thực sự. Trong điều kiện lịch sử ấy, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Điểm xuất phát và là động lực tinh thần của sự ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Người đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc là để luôn nhắc nhở bản thân và cổ vũ đồng bào mình. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đã nghiên cứu khảo sát nhiều cuộc cách mạng trên thế giới. Nghiên cứu cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Mỹ 1776, cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, Người đã chỉ ra rằng, mặc dù cách mạng tư sản đã thành công, chủ nghĩa tư bản đã xây dựng và phát triển hàng trăm năm ở những nước này, nhưng “công nông vẫn cực khổ”, vì tính chất không triệt để của cách mạng tư sản, trong thì “tước lục công nông, ngoài thì áp bức thuộc địa”.

Nghiên cứu Cách mạng Nga và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Người dã rút ra kết luận quan trọng: Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như thực dân Pháp khoe khoang bên An Nam. Người rút ra kết luận: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”[1]. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là cách mạng vô sản”[2].

Tư tưởng này của Người đã chỉ ra rằng, ở Việt Nam cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa địa chủ với nông dân, giữa giai cấp vô sản với tư sản, giữa toàn dân tộc với thực dân đế quốc xâm lược phải theo lập trường của giai cấp công nhân. Cuộc cách mạng đó phải dựa vào lực lượng của toàn dân tộc, của nhân dân, nòng cốt là liên minh công nông do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng. Xuất phát từ quan điểm đó, Hồ Chí Minh đã tích cực chuẩn bị cho sự ra đời chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam. Sau nhiều năm chuẩn bị, Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng vào mùa xuân 1930. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Người soạn thảo đã khẳng định tư tưởng con đường cứu nước đúng đắn là phải gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và xã hội. Đường lối chiến lược đó đáp ứng nhu cầu lịch sử của dân tộc và phù hợp với xu thế thời đại.

Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân. Trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng hy sinh, phấn đấu vì độc lập thống nhất Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng hết lòng phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Với những thắng lợi mà nhân dân ta đã giành được, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế ngày càng rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và thế giới. Những thắng lợi đó có được là nhờ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu. Đây chính là minh chứng hùng hồn về sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về việc giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”[3].

Vậy mà hiện nay, một trong những ngón đòn tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng ta, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp với vấn đề dân tộc. Các thế lực thù địch cố chứng minh rằng, mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một nước nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối; rằng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc; rằng Hồ Chí Minh du nhập học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin đã dẫn đến cảnh “nồi da nấu thịt”.

Theo họ ở nước ta hiện nay chỉ nên đề ra giải quyết vấn đề dân tộc còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra. Thực chất của những luận điệu xuyên tạc lừa mị ấy là phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam; tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp tư sản. Những quan điểm ấy đã bị cả lý luận và thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua bác bỏ.

2. Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giành độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, là tiền đề để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đặt cách mạng dân chủ nhân dân trong phạm trù của cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội chính là tính toàn diện, triệt để của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ thực tế xã hội Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh chỉ rõ mâu thuẫn chủ yếu, nổi bật cấp bách cần giải quyết là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai bán nước. Vì vậy, ở giai đoạn đầu của cách mạng cần đặt vấn đề dân tộc lên trên hết. Từ đó, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu cốt yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam là giành độc lập dân tộc.

Đây là quan điểm mà Hồ Chí Minh kiên trì và nhất quán từ khi Người tìm ra con đường cách mạng Việt Nam. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã triệu tập và chủ trì hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám của Đảng (5-1941). Hội nghị khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc.

Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[4]. Ở đây, rõ ràng vấn đề giai cấp được Hồ Chí Minh đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với lợi ích quốc gia dân tộc, vấn đề dân tộc được giải quyết theo lập trường của giai cấp công nhân, chứ đâu phải là sự “hy sinh cái nọ cho cái kia” như có người đã cố tình xuyên tạc. Thực tiễn cho thấy, mục tiêu độc lập dân tộc được đặt ra và giải quyết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thông qua đội tiền phong của của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Việt Nam đã thức tỉnh cổ vũ động viên cả dân tộc Việt Nam đấu tranh chống thực dân, đế quốc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng tám 1945 đã minh chứng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sau cách mạng Tháng tám năm 1945, độc lập dân tộc đứng trước thủ thách mới, bảo vệ độc lập dân tộc lúc này là sự sống còn đối với đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Thời kỳ đất nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cùng với tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc phải đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước. Như vậy, với Hồ Chí Minh để đi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề cần giải quyết trước tiên là phải có độc lập dân tộc. Giành độc lập dân tộc mới có điều kiện xây dựng, phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang nội dung sâu sắc và triệt để. Đó phải là một nền độc lập thật sự, các quyền dân tộc cơ bản được bảo đảm, độc lập, dân chủ phải trên nguyên tắc nước Việt Nam của người Việt Nam; độc lập phải gắn với quyền tự quyết dân tộc.

3. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là làm cho cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được tiến hành triệt để, bảo đảm cho nền độc lập dân tộc được giữ vững, nhân dân có đời sống ấm no, tự do hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”[5]. Đây là sự khẳng định một hướng đi mới phù hợp với xu thế của thời đại, khác về căn bản so với các lãnh tụ của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Giải thích vì sao cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm xoá bỏ mọi chế độ người bóc lột người ở nước ta, nhằm đưa lại đời sống ấm no cho nhân dân ta. Đó là cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là cuộc cách mạng gay go, phức tạp và khó khăn nhất”[6]. Từ bản chất của nó, chủ nghĩa xã hội, tạo ra các khả năng điều kiện phát triển bền vững của dân tộc, loại bỏ được ách thống trị nô dịch dân tộc. Với ý nghĩa ấy cách mạng xã hội chủ nghĩa là làm cho cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được tiến hành triệt để; đồng thời tạo ra những cơ sở bảo đảm cho nền độc lập dân tộc được giữ vững.

Hồ Chí Minh là người đầu tiên xác định cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như nước ta có khả năng tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Theo Người, sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đế quốc đã thức tỉnh nhân dân các dân tộc bị áp bức: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi”; và Người chỉ ra các khả năng, điều kiện để cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; Xây dựng củng cố tăng cường khối liên minh công nông trí thức làm hạt nhân xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; Phối hợp chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng vô sản ở chính quốc (cách mạng vô sản Pháp). Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng ở các nước thuộc địa có thể và cần phải nổ ra trước cách mạng vô sản ở chính quốc là hoàn toàn đúng đắn sáng tạo.

Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lừa mị rằng, ở Việt Nam hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết vấn đề dân tộc, dân chủ theo chủ nghĩa dân tộc Hồ Chí Minh, nên gác định hướng xã hội chủ nghĩa lại. Từ đó họ đòi đổi tên nước, đổi tên Đảng. Ý đồ xấu xa, nham hiểm của các thủ đoạn xuyên tạc, lừa mị đó là bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa đất nước ta vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong 25 năm đất nước đổi mới đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là cái bảo đảm cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đại tá, TS Trần Ngọc Tuệ
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng
Theo CPV.ORG.VN

[1] .Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập1, tr.416.
[2] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập10, tr.9.
[3] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập10, tr.128.
[4] . Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, t.7, tr.113.
[5] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập12, tr.305.
[6] .Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập9, tr.156.

hochiminhhoc.com