Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất, đọc tại Lễ truy điệu trọng thể Hồ Chủ tịch, ngày 9 tháng 9 năm 1969

Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước,
Thưa các đồng chí và các bạn,

Hồ Chủ Tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa!

Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!

Dân tộc ta và Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại.

Phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất một chiến sĩ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết.

Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết! Anh em và bầu bạn khắp năm châu cùng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc của chúng ta.

*
*    *

Hơn 60 năm qua, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, Hồ CHủ TịCH đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ.

Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, Hồ Chủ Tịch đã sớm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin ánh sáng soi đường cứu dân, cứu nước. Hồ Chủ Tịch là người Việt Nam đầu tiên đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh nước ta, vạch đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam từng bước tiến lên, từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Hồ Chủ Tịch là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, là người xây dựng nền Cộng hoà dân chủ Việt Nam và Mặt trận Dân tộc thống nhất, là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta.

Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta.

*
*    *

Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là lời kêu gọi cứu nước khẩn thiết hiện nay của Tổ quốc, là lời hịch của ông cha ta vang vọng tự ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta đối với muôn đời con cháu. Người nói: “Nước ta là một, dân tộc ta là một”. “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”. Lúc còn sống, Người luôn luôn theo sát từng bước đi của cách mạng giải phóng miền Nam, ngày đêm Người tưởng nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam với tấm lòng thương yêu không bờ bến.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thoả lòng mong ước của Người.

*
*    *

Hoài bão lớn nhất của Hồ Chủ Tịch là Tổ quốc được giải phóng, nhân dân được hạnh phúc. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người còn nói: “Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Lúc còn sống, Người dành tất cả lòng hiền từ ấm áp cho đồng bào, con cháu, già, trẻ, gái, trai, miền Bắc, miền Nam, miền xuôi, miền ngược. Khi mất đi, Người còn “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Đem hết sức mình tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào.

*
*    *

Hồ Chủ Tịch hằng quan tâm và dày công xây dựng Đảng ta thành một khối đoàn kết, thống nhất vững mạnh. Người dạy: “Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí”. Hồ CHủ TịCH là hiện thân của khối đoàn kết dân tộc, là hiện thân tình ruột thịt Bắc – Nam. Người nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Người luôn luôn căn dặn chúng ta phải giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết và tình thương yêu đồng bào, đồng chí.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi.

*
*    *

Hồ Chủ Tịch là tượng trưng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trái tim, khối óc của Người dành cho dân tộc Việt Nam ta cũng hướng về giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Là người học trò trung thành của Các Mác và Lênin, Hồ Chủ Tịch chẳng những là một nhà yêu nước vĩ đại, mà còn là một chiến sĩ xuất sắc trong phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc của thế kỷ XX. Hồ CHủ TịCH thường dạy chúng ta phải chăm lo bảo vệ sự đoàn kết quốc tế, vì sự nghiệp to lớn của cách mạng Việt Nam, vì nghĩa vụ cao cả đối với cách mạng thế giới.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Luôn luôn phát huy tình cảm quốc tế trong sáng của Hồ Chủ Tịch, hết lòng góp sức vào việc khôi phục và tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và giữa các Đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản; thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc Đông Dương; ra sức ủng hộ phong trào cách mạng của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

*
*    *

Cả cuộc đời vĩ đại của Hồ Chủ Tịch là tấm gương mãi mãi sáng ngời chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Hồ Chủ Tịch dạy chúng ta: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ Tịch. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ Tịch tới đích cuối cùng.

*
*    *

Hồ Chủ Tịch đã qua đời! Nhưng Người để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu. Đó là thời đại Hồ Chí MIinh thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Toàn thể dân tộc Việt Nam ta, mỗi người Việt Nam ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ công ơn trời biển của Người.

Trước anh linh của Hồ Chủ Tịch, chúng ta nguyện suốt đời trung thành với Người, đem hết tâm hồn và nghị lực, đoàn kết thành một khối sắt thép, phấn đấu quên mình, quyết làm tròn nghĩa vụ cao cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân ta và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới.

Hồ Chủ Tịch đã qua đời! Nhưng Người luôn luôn dẫn dắt chúng ta. Chúng ta vẫn cảm thấy có Người luôn luôn bên cạnh. Bởi vì chúng ta vẫn đi theo con đường của Người, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người. Bởi vì Người vẫn sống mãi với non sông đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu trong trái tim, khối óc của mỗi chúng ta.

*
*     *

Các đồng chí và đồng bào thân mến!

Vĩnh biệt chúng ta, BáC Hồ có để lại cho Đảng ta, cho toàn thể đồng bào và chiến sĩ hai miền Nam – Bắc một bản Di chúc lịch sử. Đó là những lời căn dặn cuối cùng của BáC, là những tình cảm và niềm tin của BáC đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.

Chúng ta hãy xứng đáng với Bác hơn nữa!

Hãy nén đau thương, anh dũng phấn đấu, hăng hái vươn lên, đạp bằng mọi trở lực, chông gai, quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, thực hiện lời thề danh dự trong giờ phút vĩnh biệt thiêng liêng này!

HỒ CHỦ TỊCH, LÃNH TỤ VĨ ĐẠI, NGƯỜI THẦY KÍNH YÊU CỦA ĐẢNG TA, CỦA DÂN TỘC TA, ĐỜI ĐỜI SỐNG MÃI!

Lưu tại Kho Lưu trữ
Trung ương Đảng.

dangcongsan.vn

Ký sự: Hành trình theo chân Bác

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 1

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 2

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 3

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 4

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 5

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 6

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 7

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 8

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 9

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 10

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 11

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 12

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 13

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 14

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 15

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 16

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 17

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 18

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 19

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 20

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 21

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 22

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 23

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 24

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 25

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 26

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 27

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 28

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 29

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 30

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 31

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 32

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 33

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 34

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 35

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 36

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 37

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 38

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 39

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 40

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 41

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 42

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 43

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 44

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 45

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 46

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 47

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 48

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 49

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 50

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 51

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 52

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 53

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 54

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 55

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 56

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 57

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 58

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 59

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 60

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 61

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 62

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 63

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 64

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 65

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 66

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 67

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 68

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 69

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 70

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 71

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 72

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 73

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 74

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 75

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 76

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 77

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 78

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 79

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 80

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 81

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 82

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 83

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 84

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 85

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 86

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 87

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 88

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 89 (Hết)

Hồ Chí Minh – một hành trình (Trọn bộ 12 tập)

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 1

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 2

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 3

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 4

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 5

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 6

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 7

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 8

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 9

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 10

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 11

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 12

HANHTRINHTHEOCHANBAC

Giới thiệu phim tài liệu “Hồ Chí Minh – một hành trình”

Bộ phim dài 12 tập “Hồ Chí Minh – Một hành trình” do đạo diễn Lý Quang Trung và  của Hãng phim TFS thực hiện.

Nội dung phim phác họa quãng thời gian hoạt động cách mạng của bác Hồ từ khi rời ghế nhà trường đến lúc ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946. Đặc biệt là giai đoạn từ năm 1911 rời bến Nhà Rồng đến khi kết thúc chuyến thăm đàm phán với chính phủ Pháp ở Paris năm 1946.

imageview_02 Bìa cuốn sách “Hồ Chí Minh – một hành trình” của Lady Borton, người Mỹ

Chia sẻ về bộ phim, nhà biên kịch Trần Đức Tuấn cho biết: “Hồ Chí Minh – Một hành trình” phác hoạ một cách có hệ thống quãng thời gian hoạt động cách mạng của Bác Hồ từ khi rời ghế nhà trường đến lúc ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946. Đây cũng là đoạn đường đời, đoạn đường hoạt động cách mạng của Người nhận được sự quan tâm rất nhiều của cộng đồng xã hội cả trong và ngoài nước từ trước đến nay. Ở đó, ngoài sự nghiệp cách mạng thì đời sống riêng tư của Người cũng là điều rất đặc biệt. Tuy nhiên, bộ phim không đi sâu vào khía cạnh này, song đằng sau những thước phim người xem vẫn thấy phảng phất hình bóng một “đại trượng phu hành hiệp” giữa đời thường, trong sáng, từ bi, bôn ba góc biển chân trời một lòng vì nghĩa lớn, dành hết công sức, tâm trí cho sự nghiệp cao cả, cho đại gia đình là dân tộc và Tổ quốc Việt Nam.

fbh1_500 Đoàn làm phim TFS thực hiện một cảnh quay phim Hồ Chí Minh – một hành trình.
(Ảnh: Lý Quang Trung)

Phim ra đời từ sự sưu tầm, tập hợp nhiều nguồn tư liệu quý trong các bảo tàng, phòng lưu trữ, sách báo, phim ảnh, các nhà lưu niệm, những khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước và nhiều nơi trên thế giới. Tất cả những chất liệu đó được sắp xếp xoay quanh một trục chính là cuộc hành trình của đoàn làm phim qua 16 quốc gia và vùng lãnh thổ ở cả bốn châu lục, chỉ trừ châu Đại Dương. Ngoài chuyến đi quan trọng này, đoàn làm phim còn tiến hành ba chuyến đi trong nước từ vùng núi phía Bắc xuống tận đồng bằng sông Cửu Long và một chuyến đi ngang dọc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc…

——————

Tổng hợp từ Tuổi trẻ online và internet

Bác Hồ với Huế

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người tổ chức, xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam

Hồ Chí Minh – Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

hochiminhhocdotcom.jpgĐảng Cộng sản Việt Nam lấy Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho hành động. Ảnh: Tuấn Anh

Mùa xuân năm 1930, Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là đóng góp to lớn có tính bước ngoặt tìm ra con đường cách mạng Việt Nam của Người.

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mở ra một thời đại mới trong lịch sử phát triển của loài người. Hồ Chí Minh cho rằng, sau Cách mạng Tháng Mười, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trên toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Như vậy, cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc là bước thứ nhất, bước tiếp theo là tiến lên chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó là con đường giải phóng triệt để nhất phù hợp với đòi hỏi của dân tộc, nguyện vọng của nhân dân và xu thế của thời đại.

Trong khi Hồ Chí Minh tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, thì nhiều người Việt Nam yêu nước vẫn đang lúng túng không biết đi theo lối nào để có độc lập dân tộc. Từ Pa-ri, Hồ Chí Minh không những nhìn rõ vai trò lịch sử của giai cấp vô sản Việt Nam mà qua cuộc đình công có tổ chức của 600 công nhân nhuộm ở Chợ Lớn, Người đã thấy nó báo hiệu một thời kỳ mới – thời kỳ đấu tranh tự giác của giai cấp vô sản Việt Nam. Mặc dù vậy, khi từ châu Âu về hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc (11-1924), Hồ Chí Minh không thành lập đảng chính trị của giai cấp vô sản Việt Nam ngay, mà Người triệu tập và mở nhiều lớp bồi dưỡng lý luận cách mạng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, trong đó có nhiều người là công nhân. Sau đó, Hồ Chí Minh phái họ về nước, đi vào phong trào cách mạng, đặc biệt phong trào “vô sản hóa” ở các cơ sở công nghiệp, hầm mỏ, đồn điền, để không những rèn luyện họ trưởng thành mà theo đó giai cấp vô sản cũng có bước phát triển vượt bậc, ý thức được sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Phong trào cách mạng Việt Nam kể từ năm 1925 chuyển mạnh theo xu hướng vô sản. Cách làm này của Hồ Chí Minh không những thể hiện sự thận trọng, giàu kinh nghiệm, mà còn thể hiện rõ tính khoa học, sáng tạo của Người là đã tạo ra sự đòi hỏi tự thân cần có đảng cách mạng của giai cấp vô sản.

Đến năm 1929, đòi hỏi này càng trở nên cấp bách. Yêu cầu khách quan cần có đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã được đặt ra tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (5-1929). Nhưng Đại hội đã không đáp ứng được đòi hỏi đó của lịch sử. Vì vậy, chỉ trong khoảng 6 tháng kể từ tháng 6-1929, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời. Song, ba tổ chức này lại tranh giành quần chúng và ảnh hưởng của nhau, không có lợi cho phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, tháng 12-1929, Quốc tế Cộng sản đã ra Nghị quyết về Đông Dương, trong đó chỉ đạo việc thành lập Đảng. Có ý kiến cho rằng, trước khi đứng ra tổ chức thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh không nhận được Nghị quyết này. Và qua Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản của Hồ Chí Minh sau khi thành lập Đảng (18-2-1930) cũng như Thư của Trung ương gửi cho các cấp Đảng bộ (9-12-1930) của Đảng ta, thì nhiều khả năng Hồ Chí Minh không nhận được Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản. Điều đó càng cho thấy tài năng, bản lĩnh và tính sáng tạo của Hồ Chí Minh – người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây chấm dứt thời kỳ “đen tối như không có đường ra”, chấm dứt thời kỳ bế tắc, khủng hoảng về đường lối của cách mạng nước ta. Sự ra đời của Đảng đã mở ra thời đại mới của lịch sử nước ta – thực hiện độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội và góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Một sáng tạo rất lớn của Hồ Chí Minh là Người đã vận dụng sáng tạo công thức của V.I. Lê-nin về sự ra đời của một đảng vô sản vào một nước nông nghiệp như nước ta. Người không chỉ truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào công nhân mà đồng thời truyền bá vào phong trào yêu nước Việt Nam – một yếu tố phổ quát, trường tồn và có sức mạnh to lớn trong lịch sử phát triển của dân tộc. Như vậy, Người đã kết hợp một cách sinh động yếu tố dân tộc và giai cấp, tạo ra cơ sở xã hội – chính trị rộng lớn chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sáng tạo này của Hồ Chí Minh thực sự là bước phát triển có tính nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về sự ra đời và phát triển không ngừng một đảng cách mạng của giai cấp vô sản.

Hồ Chí Minh – Người xây dựng, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh

Vai trò của Hồ Chí Minh trong tổ chức, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam vô cùng to lớn. Song, vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là Người đã xây dựng và rèn luyện Đảng ta thành một đảng mác-xít – lê-nin-nít kiên cường, giàu bản lĩnh và kinh nghiệm trong lãnh đạo cách mạng cũng như xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trước hết, trên cơ sở giải quyết sáng tạo, khôn khéo yếu tố dân tộc và giai cấp, vững vàng về nguyên tắc và phương châm xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh xác định: Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong cách mạng của dân tộc. Qua thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh cho rằng: Đảng ta xứng đáng là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Quan điểm này cũng là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. Về vấn đề này, năm 1848, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng, trong cuộc đấu tranh giành lấy chính quyền thì giai cấp vô sản “phải tự vươn lên thành giai cấp, phải tự mình trở thành dân tộc”. Với Hồ Chí Minh, quan điểm này đã được cụ thể hóa vào thực tiễn sinh động của phong trào công nhân và cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong xây dựng Đảng, không phải chỉ có giai cấp công nhân mà cả nhân dân lao động và toàn dân tộc đều tham gia. Cả dân tộc thừa nhận Đảng là của mình, cả dân tộc tin tưởng ở Đảng, quyết tâm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, tích cực bảo vệ và tham gia xây dựng Đảng. Điều này thực sự là niềm tự hào của Đảng ta, không phải đảng nào cũng có được.

Hai là, trong xây dựng, rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tính hệ thống, cơ bản, toàn diện và thiết thực: từ tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức đến phương thức lãnh đạo và phong cách công tác.

Về tư tưởng: Ngay trong quá trình tiến tới thành lập Đảng, Người khẳng định: Đảng muốn lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi thì Đảng phải vững; Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu và làm theo chủ nghĩa ấy; chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác – Lê-nin; Đảng Cộng sản Việt Nam muốn vững mạnh, trong sạch thì Đảng phải được xây dựng trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, thì Đảng phải thường xuyên nâng cao trình độ nhận thức chủ nghĩa Mác – Lê-nin cho cán bộ, đảng viên; phải làm cho cán bộ, đảng viên biết dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để giải quyết những vấn đề của cách mạng đặt ra; đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để góp phần bồi bổ lý luận Mác – Lê-nin; đoàn kết, thống nhất đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, xét lại để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Xây dựng Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin là yếu tố cơ bản nhất, quyết định sự bảo đảm bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bảo đảm tính cách mạng, trình độ trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng của Đảng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giữ vững và nêu cao tính cách mạng của giai cấp công nhân, tính kiên cường bất khuất của phong trào yêu nước Việt Nam; luôn bảo đảm tính khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về lý luận và trong giải quyết thực tiễn, đặc biệt là khả năng độc lập, sáng tạo để đi tới mục tiêu của cách mạng. Đảng luôn coi việc trau dồi những phẩm chất đạo đức theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở truyền thống của dân tộc cho cán bộ, đảng viên làm “gốc” để có lối sống lành mạnh, vững vàng trong mọi thử thách, mọi hoàn cảnh. Như Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng phải là đạo đức, là văn minh”. Suốt chặng đường cách mạng 75 năm qua, Đảng luôn thực hiện và giữ được sự gắn bó máu thịt với nhân dân, gần gũi, sâu sát thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tôn trọng, học hỏi nhân dân trong công cuộc lãnh đạo nhân dân thực hiện xây dựng chế độ mới.

Về chính trị: Theo Hồ Chí Minh, xây dựng, rèn luyện Đảng về chính trị có mối quan hệ mật thiết với xây dựng, rèn luyện Đảng về tư tưởng. Muốn xây dựng Đảng về chính trị đúng đắn, trước hết phải đứng vững trên một nền tảng tư tưởng vững chắc. Dưới ánh sáng của nền tảng tư tưởng mà hoạch định đường lối của Đảng, tổ chức đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống, biến đường lối của Đảng thành kế hoạch, thành luật pháp của Nhà nước, thành hành động cách mạng của quần chúng đông đảo. Đảng phải tổ chức tổng kết thực tiễn, rút ra những kết luận mới để bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng, đồng thời bổ sung và hoàn thiện lý luận của Đảng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Người thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác – Lê-nin để dùng lập trường, quan điểm và phương pháp của nó mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta.

Về tổ chức: Hồ Chí Minh đòi hỏi phải thường xuyên kiện toàn bộ máy của Đảng trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Khi kiện toàn, phải chú ý mặt tổ chức bộ máy, đồng thời xác định cơ chế hoạt động của bộ máy Đảng từ trung ương đến cơ sở nhằm phát huy cao nhất vai trò nền tảng của tổ chức cơ sở đảng và vai trò quyết định của tổ chức lãnh đạo cao nhất trong xây dựng, rèn luyện Đảng về tổ chức. Mặt khác, Hồ Chí Minh rất chú ý tới mối quan hệ giữa bộ máy và con người trong kiện toàn tổ chức, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt và người đứng đầu bộ máy.

Về đạo đức: Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức cách mạng là cái “gốc”, cái nền của người cán bộ, đảng viên. Trong xây dựng, rèn luyện Đảng, không thể thiếu việc xây dựng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở chỉ ra những chuẩn mực đạo đức chung, bao giờ Hồ Chí Minh cũng cụ thể những yêu cầu đạo đức trong từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng. Người chỉ rõ mối quan hệ giữa đạo đức của Đảng, đạo đức cộng sản với đạo đức xã hội, đạo đức công dân; đạo đức của đảng viên với đạo đức của người lãnh đạo. Với Hồ Chí Minh, khái niệm và trách nhiệm đạo đức của mỗi đối tượng là cụ thể, không chung chung, trừu tượng. Người đòi hỏi đảng viên phải “đi trước, làng nước theo sau”, nói và làm phải đi liền, phải thống nhất với nhau. Bởi vậy, trong xây dựng, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, phải kiên quyết đấu tranh chống thói đạo đức giả, phi đạo đức. Hồ Chí Minh nhắc nhở nhiều lần rằng, cán bộ tốt thì việc gì cũng xong, cán bộ kém thì việc gì cũng không xong.

Về phương thức lãnh đạo và phong cách công tác: Đây là lĩnh vực phương pháp cách mạng và phong cách hoạt động của Đảng, của cán bộ, đảng viên. Nó có quan hệ trực tiếp đến việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, đến sự thành công hay không thành công của cách mạng, đến sức mạnh và sự tồn vong của Đảng.

Về nguyên tắc, đường lối quyết định phương thức lãnh đạo và phong cách công tác. Nhưng trên thực tế, khi đã có đường lối đúng, cũng phải trải qua nhiều thử nghiệm trong thực tiễn lãnh đạo và công tác, mới có thể dần dần xây dựng được phương thức lãnh đạo và phong cách công tác đúng đắn, phù hợp. Bởi vậy, trong thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh lưu ý cán bộ, đảng viên: đối với bất kỳ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Có như vậy, mới xây dựng, hình thành được phương thức lãnh đạo và phong cách công tác phù hợp với quy luật của cách mạng, với mỗi đối tượng, mỗi cấp lãnh đạo và phong cách công tác của cán bộ, đảng viên.

Ba là, Hồ Chí Minh lãnh đạo Đảng ta thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Trong xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng phải xuất phát từ thực tiễn xây dựng Đảng ta mà thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và sáng tạo những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Khi đề cập nội dung các nguyên tắc, Người sử dụng nhiều khái niệm: nguyên tắc, chế độ, quy luật… Nhưng tất cả những nội dung đó phải được Đảng thực hiện một cách hệ thống và đầy đủ trong xây dựng, rèn luyện thì Đảng mới trở nên trong sạch và vững mạnh. Người đòi hỏi Đảng ta phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc có tính nền tảng là Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Trong tổ chức, Đảng phải thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ – một nguyên tắc quyết định sức mạnh của Đảng. Trong lãnh đạo, Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Thực hiện đúng đắn nguyên tắc này mới tránh cho Đảng không rơi vào chủ quan, độc đoán, chuyên quyền và mới biến đường lối của Đảng trở thành thực tiễn sinh động. Trong sinh hoạt Đảng, Hồ Chí Minh đặt vấn đề phải thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình – một vũ khí và là quy luật làm cho Đảng trở nên trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, Đảng phải thực hiện tốt nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh và tự giác, cũng như nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng, cán bộ đảng viên phải tự giác chấp hành kỷ luật của Đảng, phải giữ gìn sự thống nhất của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, Đảng không có lợi ích riêng mà chỉ có một lợi ích vì độc lập tự do của dân tộc, ấm no hạnh phúc của nhân dân mà phấn đấu hy sinh. Bởi vậy, trong xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh còn đòi hỏi Đảng phải thực hiện thường xuyên và làm tốt nguyên tắc quan hệ mật thiết với nhân dân. Chỉ có nhân dân bảo vệ, giúp đỡ thì Đảng mới tồn tại và phát triển, mới trong sạch, vững mạnh.

Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Thực hiện đoàn kết quốc tế là một nguyên tắc được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, cũng là một nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam mà hiện nay Đảng ta đang tiếp tục vận dụng và thực hiện.

Bốn là, để Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, trong quá trình xây dựng, rèn luyện Đảng, Hồ Chí Minh đề ra phải thực hiện thật tốt công tác kiểm tra của Đảng.

Theo Người, lãnh đạo mà không kiểm tra tức là không lãnh đạo. Kiểm tra tốt thì bao nhiêu ưu điểm, khuyết điểm, đều thấy rõ. Bởi vậy, kiểm tra phải toàn diện và mọi sai lầm, khuyết điểm phải xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng Điều lệ của Đảng và luật pháp của Nhà nước. Công tác kiểm tra đòi hỏi người đi kiểm tra phải gương mẫu, có hiểu biết sâu rộng, vững vàng.

Với truyền thống, kinh nghiệm và bản lĩnh suốt 75 năm qua, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, ngày nay nhất định Đảng ta sẽ tiếp tục được xây dựng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành trọng trách lãnh đạo dân tộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Theo TS. Hoàng Trang
Theo Tạp chí Cộng sản số 732 tháng 5/2005

hochiminhhoc.com

Đảng là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân

Trong Di chúc năm 1969, cuối phần nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Đảng là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dânChủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam (5/9/1960).

Câu nói đó, Bác đã khái quát yêu cầu bản chất về đạo đức của cán bộ, đảng viên (CBĐV) và yêu cầu xuất phát từ bản chất cách mạng của Đảng ta, từ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong sự nghiệp cách mạng (CM). Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có chức năng lãnh đạo cuộc CM vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì hoàn toàn không có một bức tường ngăn cách nào giữa nhiệm vụ lãnh đạo và nhiệm vụ phục vụ. Ngày 3/3/1951, trong lời kết thúc buổi lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Những người mà:

– Giàu sang không thể quyến rũ

– Nghèo khó không chuyển lay

– Uy lực không thể khuất phục”.

Bác còn nói: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành cho nhân dân”.

Tháng 1/1960, tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Bác Hồ nói: “…Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó khăn hơn nhiều. Ngày nay ở miền Bắc  hoàn toàn giải phóng, Đảng đoàn kết và lãnh đạo nhân dân ta thi đua kiến thiết chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống vui tươi, no ấm và mỹ tục thuần phong. Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta.

Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có một lợi ích nào khác”.

Đảng ta là như vậy. Vậy, đảng viên, cán bộ của Đảng phải như thế nào? Phải hiểu mối quan hệ giữa lãnh đạo và phục vụ như thế nào cho đúng?

Người nói: “Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”…

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947), Bác Hồ đặt ra câu hỏi: “Lãnh đạo đúng nghĩa là thế nào?” và Bác trả lời: “Cố nhiên không phải ngồi phòng giấy mà viết kế hoạch, ra mệnh lệnh. Lãnh đạo đúng nghĩa là:

– Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng.

– Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

– Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì phải có quần chúng giúp mới được.

… Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”.

Ngày 18/1/1947, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu, Bác nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Muốn lãnh đạo được quần chúng trước hết phải có đạo đức cách mạng”. “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính. Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng. Vì vậy, Bác nhấn mạnh: “Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân… Làm đầy tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”.

Tư tưởng đảng viên và cán bộ “vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân” là tư tưởng nhất quán và xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ, đặc biệt từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền. Ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần lời căn dặn đó mới có thể đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi.

Vấn đề xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là vấn đề cực kỳ quan trọng, bức thiết, song vô cùng khó khăn, phức tạp. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Nếu không xây dựng được Đảng vững mạnh, có uy tín trong nhân dân, được nhân dân tin yêu và bảo vệ thì phát sinh nhiều nguy cơ đối với Đảng, với chế độ, với đất nước. Vào Đảng là tự nguyện tuân theo nguyên tắc tổ chức của Đảng, theo kỷ luật của Đảng, trong khi yêu cầu quyền lợi cá nhân của con người bây giờ rất lớn, rất đa dạng và tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa trong nước và trên thế giới diễn biến rất mau lẹ, phức tạp, khó lường, cho nên xây dựng Đảng lại càng khó khăn. Bởi vậy, muốn xây dựng Đảng vững mạnh và tạo được lòng tin yêu của nhân dân thì Đảng phải “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Nông Văn Mậu

baocaobang.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người tạo lập nền y đức mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với GS. Trần Hữu Tước và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch (người ngồi bên trái). Ảnh: TL suckhoedoisong.vn

Suốt cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh phấn đấu cho sự nghiệp cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, đói nghèo, bệnh tật. Vì vậy, ngành y tế, ngành chǎm lo sức khỏe con người, là một trong những ngành được Người quan tâm nhiều nhất.

Những tư tưởng, quan điểm của Người rất toàn diện, sâu sắc về y học – y tế đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của ngành y tế suốt từ những ngày đầu cách mạng đến tận mai sau. Những tư tưởng, quan điểm đó là: xây dựng nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc, đại chúng, vấn đề y đức là vai trò của y học dự phòng, vấn đề kết hợp đông y với tây y, kết hợp quân – dân y trong sự nghiệp bảo vệ và chǎm sóc sức khỏe nhân dân…

Y đức là vấn đề trung tâm, vấn đề cốt lõi trong quan điểm về y tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không nghề nào quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe và tính mạng con người như nghề y. Không nghề nào mà sai lầm hay thiếu sót ảnh hưởng lớn đến sự sống còn, đến sức khỏe con người như nghề y. Mọi nghề đều có thể làm ra sản phẩm không đủ tiêu chuẩn, có thể có hàng thứ phẩm. Ngành y tuyệt đối không cho phép như vậy. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam DCCH đã quan tâm sâu sắc đến việc bảo vệ và chǎm sóc sức khỏe nhân dân, đến ngành y. Cách mạng vừa thắng lợi, thù trong giặc ngoài rình rập, mọi việc còn ngổn ngang trǎm mối, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn phát động phong trào đời sống mới, khởi xướng phong trào “khỏe vì nước”. Người chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công”.

Trước công nguyên, phương Tây có Hi-pô-crát, phương Đông trải qua nghìn, vạn nǎm chưa thấy ai (kể cả ở những quốc gia có nền vǎn minh tối cổ đồ sộ như ấn Độ, Trung Quốc) nói đến vấn đề y đức. Các sách cổ Trung Hoa từ Hoàng đế, nội kinh đến bản thảo cương mục, v.v. chỉ nói về y thuật, không nói đến y đức.

ở nước ta, y đức được các danh y như Tuệ Tĩnh, nhất là Hải Thượng Lãn Ông nêu lên từ những thế kỷ trước. Nó biểu hiện truyền thống nhân ái, chuộng đạo lý, quý trọng con người của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến y đức, Người là hiện thân của đạo đức cách mạng trong sáng đối với ngành y. Người luôn luôn quan tâm giáo dục những người làm công tác y tế về vấn đề y đức.

Trong các thư gửi Trường Quân y nǎm 1946, Hội nghị Quân y nǎm 1948, Trường y tá Liên khu I nǎm 1949, Hội nghị y tế toàn quốc nǎm 1953, Người luôn nêu vấn đề này.

Người viết: “Người ta có câu: “Lương y như từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”. (Thư gửi Hội nghị Quân y tháng 3-1948), “Phải thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân”, “Lương y như từ mẫu” (Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc 1953)”, “Phải thương yêu, sǎn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn, lương y phải như từ mẫu” (Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế tháng 2-1955).

Không một nội dung nào sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, ngắn gọn hơn, súc tích hơn, đúng đắn hơn, nói lên được sự cao cả, thiêng liêng của ngành y tế, của người thầy thuốc như lời dạy của Người về y đức. Lòng người mẹ thương con là tình cảm cao cả, thiêng liêng nhất trong mọi tình cảm của con người. Tình thương yêu, đùm bọc giữa các anh chị em ruột thịt trong gia đình là tình cảm thân thiết, quý trọng nhất, sự quan tâm nỗi đau đớn, sướng khổ của bản thân mình là gắn bó, thân thiết nhất đối với mỗi người trong cuộc đời. Trước Hồ Chí Minh, y đức chỉ là vấn đề nhân đạo, là nhân thuật, là sự giữ mình, là bổn phận, là thái độ ứng xử sao cho có lương tâm, có trách nhiệm của con người với đồng loại, của người nọ với người kia, của thầy thuốc với người bệnh. Nội dung lời thề của Hi-pô-crát chỉ là “Tôi sẽ cho chế độ ǎn uống có lợi cho bệnh nhân, không cho thuốc giết người nếu có ai yêu cầu. Tôi sẽ giữ gìn sao đời sống của tôi được trong trắng và thần thánh…”

Chín điều rǎn dạy của Hải Thượng Lãn Ông cũng chỉ là: “Chớ vì giàu sang hay nghèo hèn mà đến (thǎm bệnh) trước đến sau hay bốc thǎm lại phân biệt hơn kém…”. Đến Hồ Chí Minh, y đức được nâng lên tầm cao chưa từng có. Còn gì thiêng liêng, cao quý hơn tình cảm mẹ con? Người mẹ không những sinh thành, tạo ra cuộc sống, nuôi dưỡng, dạy dỗ con mà còn có thể hy sinh tất cả, kể cả cái quý nhất là cuộc sống của mình cho con. Còn gì thân thiết hơn, gần gũi hơn tình cảm anh em cốt nhục ? Người anh nào khi em hoạn nạn không đem tất cả sức lực, tâm huyết, không làm tất cả mọi việc có thể làm được cho em mình qua cơn hoạn nạn. Còn gì thiết thân hơn, sát sườn hơn đối với con người là sự đau đớn của chính mình? Có người nào không hết lòng, hết sức chạy chữa cho bản thân mình khi đau ốm? Hồ Chí Minh đã đem tất cả những tình cảm cao quý, thiêng liêng (tình mẹ con, tình anh em, tình cảm đối với bản thân mình) vào đạo đức của người thầy thuốc. Từ một vấn đề mang tính trách nhiệm, là thái độ ứng xử chuyển thành vấn đề không chỉ mang tính trách nhiệm, nhân đạo mà còn mang sắc thái thiêng liêng, tình cảm. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo lập nên nền y đức mới, y đức cách mạng.

Ngành y đã lấy nội dung những lời dạy của Người nêu trên làm cốt lõi tư tưởng trong mọi hoạt động. Bao tấm gương đẹp, tận tụy, hết lòng, hết sức phục vụ người bệnh nở rộ trong sự nghiệp chǎm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân: Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Đặng Vǎn Ngữ, v.v. đều đã thấm nhuần và làm theo lời dạy của Người về y đức. Truyền đạt tinh thần “Thầy thuốc như mẹ hiền” của Người thành hành động cụ thể, Phạm Ngọc Thạch đã nêu: “Đến, tiếp đón niềm nở. ở, chǎm sóc tận tình. Đi, dặn dò chu đáo” làm châm ngôn, mọi thầy thuốc, nhân viên trong ngành phải tuân thủ trong việc chǎm sóc, phục vụ người bệnh. Nǎm 1979, Bộ Y tế đề ra nǎm tiêu chuẩn của người cán bộ y tế nhân dân. Nǎm 1982, Bộ Y tế nêu những yêu cầu cụ thể về “thương yêu người bệnh” cho cán bộ, nhân viên hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau đối với việc bảo vệ, chǎm sóc sức khỏe nhân dân. Nǎm 1996, Bộ trưởng y tế Đỗ Nguyên Phương nêu lên 12 điều quy định về y đức. Ngày 10-8-1999, lại ban hành Quy định về đạo đức hành nghề dược. Ngày 3-1-2000, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu gửi thư cho ngành y tế qua báo Sức khỏe và Đời sống đã phát triển, làm rõ hơn, cụ thể hơn lời dạy của Bác Hồ về y đức trong hoàn cảnh mới của đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức từng giai đoạn, từng thời kỳ đã được thể chế hóa, cụ thể hóa thành những việc rõ ràng trong công tác phục vụ người bệnh, bảo vệ và chǎm sóc sức khỏe nhân dân. Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền vǎn hóa mới, đạo đức cách mạng mới trong lịch sử dân tộc. Đạo đức Hồ Chí Minh là sự khoan dung, nhân hậu, là lòng thương người hết mực. Trong tình thương yêu con người đó, mọi người đều có chỗ. Người không bỏ sót ai, không quên ai, nhất là những người lao khổ, bần cùng, ốm đau, bệnh hoạn. Người nói: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng, gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Chỉ có tấm lòng cao cả, thương người lớn lao như vậy mới có thể thấu hiểu được nỗi đau đớn của người ốm đau, bệnh tật, mới có thể nêu lên y đức của người thầy thuốc cao cả, thiêng liêng, sâu sắc như vậy.

Tư tưởng về y đức của Người mãi mãi là “pháp bảo” của ngành y tế, soi đường chỉ lối cho những người làm công tác y tế vượt qua mọi khó khǎn, thử thách, xây dựng và phát triển ngành, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự nghiệp bảo vệ và chǎm sóc sức khỏe nhân dân.

PGS, TS. Hoàng Minh

quangbinh.gov.vn

“Các Vua Hùng dựng nước, bác cháu ta giữ nước”

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn luôn tâm niệm cội nguồn dân tộc. Người thường nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân ta phải phát huy truyền thống con cháu Lạc Hồng, giữ gìn giang sơn gấm vóc, phấn đấu đưa nước ta sánh ngang với các cường quốc năm châu!

images47070_BH_noi-chuyen-voi-cs.jpgBác Hồ nói chuyện với các chiến sĩ tại đền Hùng – Phú Thọ (ảnh: tư liệu)

Ngày 18/2/1946, hơn 5 tháng sau ngày đọc “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 22 CNV/CC cho công chức cả nước được nghỉ ngày Giỗ tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm để tưởng nhớ tổ tiên. Ngày 18/9/1954, trước Đền Hạ thuộc Đền Hùng, Phú Thọ, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô. Bác căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”! Lời Bác dạy không chỉ đối với quân đội, mà còn đối với toàn Đảng, toàn dân. Ngày nay, càng suy ngẫm lời Bác, chúng ta càng thấm thía tâm huyết của Người đối với đất nước và dân tộc, càng thấy tầm nhìn xa trông rộng của vị lãnh tụ thiên tài.

Bác Hồ khẳng định và tôn vinh “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”. “Công dựng nước” của các Vua Hùng thật to lớn! Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta luôn luôn phải đấu tranh chống những tên giặc ngoại xâm vô cùng hung hãn. Trong quá trình dựng nước và giữ nước đầy gian khổ, hy sinh, dân tộc ta đã tạo nên một truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường, thông minh, sáng tạo, và có tinh thần độc lập, tự chủ. Vì thế, dân ta đã làm nên biết bao chiến công oai hùng, dựng nên đất nước, khẳng định chủ quyền và bồi đắp bản sắc dân tộc.

Các Vua Hùng là những người đầu tiên viết nên những trang sử vẻ vang ấy, và truyền nối cho muôn đời con cháu đến hôm nay và cả mai sau. Vậy nên, tưởng nhớ và biết ơn các Vua Hùng là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của mỗi người dân Việt Nam ta, thể hiện niềm tự hào và tự tôn dân tộc một cách chính đáng, đồng thời để tăng thêm sức mạnh cho chúng ta, phấn đấu đưa đất nước tiến tới văn minh và giàu mạnh.

Mỗi tấc đất này đều phải đổi bằng núi xương, sông máu và mồ hôi của các thế hệ người Việt Nam ta. Bởi vậy, “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”! Đấy là bổn phận, là tình cảm, là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả những ai mang dòng máu Lạc Hồng. Đấy là lẽ đương nhiên, là điều tất yếu. Với Bác Hồ, “giữ nước” trước hết là quyết tâm chiến đấu, hy sinh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất và chủ quyền của đất nước. Trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, Bác từng nói: “… Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”.

Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Bác khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Với Bác, “giữ nước” là toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Bởi nhân dân là gốc của đất nước. Đấy chính là kế “sâu dễ bền gốc” mà ông cha ta truyền lại.

Ngày nay, thực hiện lời dạy giữ nước của Bác cùng với việc cảnh giác, đề phòng giặc ngoại xâm, kiên quyết đánh trả và chiến thắng mọi kẻ địch đồng thời còn phải ra sức đấu tranh với “giặc nội xâm” là những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đang gây ra quốc nạn tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng. Đâu phải chỉ trong chiến tranh mới đặt ra yêu cầu “giữ nước” mà đấy còn là nhiệm vụ cấp thiết và cực kỳ hệ trọng ngay trong xây dựng hòa bình!

Đào Ngọc Đệ
Nhà báo & Công luận

tuoitre.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngành Y tế Việt Nam

Giáo sư Tôn Thất Tùng (người mặc comple trắng bên trái) hướng dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh viện Việt - Đức sau ngày Hà Nội giải phóng (10/10/1954). Ảnh Internet

Cả cuộc đời dành trọn cho quê hương, đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất đã để lại cho các thế hệ con cháu Việt Nam những tư tưởng cao quý, có giá trị sâu sắc. Trong đó phải kể đến những tình cảm, những tư tưởng khoa học mang tính định hướng lâu dài dành cho ngành Y tế – một trong những ngành giữ vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

Trong di sản của Người để lại, tài liệu viết về ngành Y tế không nhiều song những giá trị cốt lõi được thể hiện trong tư tưởng của Bác về lĩnh vực này đã trở thành kim chỉ nam hành động đối với toàn thể cán bộ, nhân viên trong ngành. Điều này được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, Bác Hồ luôn đánh giá cao vai trò, nhiệm vụ của ngành Y tế trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Trong bức thư viết tháng 2/1955, Bác Hồ nêu rõ: “Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang”. Bác Hồ cũng đã nhiều lần căn dặn cán bộ: Trên đời này không có gì sung sướng, vẻ vang hơn là được phục vụ nhân dân. Sức khỏe là vàng, không có sức khỏe thì con người không thể làm bất cứ việc gì. Chính vì vậy, muốn đất nước ngày càng phát triển thì trước hết nhân dân phải có sức khỏe tốt. Và đó là nhiệm vụ của ngành Y tế: Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Đó là lý do mà Bác kính yêu đã khẳng định công việc của những người trong ngành Y tế là một “nhiệm vụ rất vẻ vang”.

Công lao của những người làm việc trong ngành Y tế có ý nghĩa rất to lớn. Sự hy sinh thầm lặng của họ đáng được Đảng, Chính phủ và toàn dân ghi nhận, trân trọng và khen ngợi thỏa đáng. Bác Hồ từng nói: “Bây giờ ta chịu khổ với nhau. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công điều kiện cho phép, Chính phủ quyết không quên công lao anh em đã cố gắng: “Chính phủ sẵn sàng khen thưởng những người xuất sắc nhất” (Tháng 6/1948).

Bác cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục, tập quán không tốt thì dần dần xóa bỏ”. “Ốm đau có thuốc” được Bác nêu lên chính là nhiệm vụ, trách nhiệm và vai trò của ngành Y tế. Nhiều cuộc họp của Bộ Chính trị và Trung ương Đảng mà Bác Hồ dự và chủ trì, đều quan tâm đến vấn đề này. Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác Hồ đã nhiều lần làm việc với cán bộ lãnh đạo ngành Y tế, quan tâm, động viên, thăm hỏi đội ngũ thầy thuốc, khẳng định tầm quan trọng của nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Những thành tựu mà ngành Y tế đã đạt được trong cả thời chiến và thời bình đã khẳng định vai trò quan trọng của ngành trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước đúng như quan điểm của Bác Hồ.

Trong kháng chiến chống Pháp, dưới sự quan tâm lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ với đường lối kháng chiến kiến quốc đúng đắn, cán bộ ngành Y tế đã khắc phục mọi khó khăn, cố gắng bền bỉ đưa công tác y tế của đất nước tiến lên. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh, công tác y tế của nước ta thời kỳ này “đã đi dần vào con đường phục vụ quảng đại nhân dân”. Lịch sử ghi danh những chiến sỹ áo trắng không quản ngại nguy hiểm, khó khăn, thiếu thốn luôn có mặt tại các chiến hào để cứu chữa thương bệnh binh, phục vụ đắc lực cho tiền tuyến. Biết bao tấm gương y, bác sỹ – chiến sỹ kiên trung, dũng cảm đã xuất hiện trên khắp chiến trường, nhiều người đã để lại một phần máu xương của mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước, cũng có không ít người đã vĩnh viễn ra đi, để lại bao niềm đau nỗi nhớ cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. Ngày 2/1/1947, Người đã có thư khen ngợi sự tận tâm của các y sĩ, khán hộ cứu thương, trong đó có đoạn: “Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”. Trong “Báo cáo tại Hội nghị chính trị đặc biệt” (ngày 28/3/1964), Người đánh giá rằng: “Công tác y tế đã có nhiều thành tích, đã ngăn chặn được nhiều dịch bệnh và bệnh xã hội cũ, sức khỏe của nhân dân được nâng cao. Trẻ em ngày càng được săn sóc chu đáo hơn”. Công tác y tế thời kỳ này không chỉ là một mặt trận kháng chiến mà còn là một mặt trận đấu tranh chống lại bệnh tật, đem lại sức khỏe cho toàn dân, vì cuộc sống của nhân dân.

Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời kháng chiến trường kỳ chống Mỹ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ngành Y tế đã nêu cao tinh thần cống hiến hết mình và nỗ lực không ngừng để vừa góp phần xây dựng cuộc sống mới, vừa trở thành hậu phương vững chắc cung cấp đầy đủ thuốc men cho toàn quân, vừa kề vai sát cánh với các chiến sĩ sẵn sàng cứu chữa kịp thời thương bệnh binh, đảm bảo sức khỏe cho họ tiếp tục kiên cường đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Rất nhiều sinh viên y khoa mới tốt nghiệp cũng xung phong vào các chiến trường khốc liệt, đem tài sức của mình kề vai sát cánh với những người lính ngoài trận địa, góp phần vì sự nghiệp cách mạng cao đẹp của nước nhà. Hàng trăm nghìn tấn thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế đã được vận chuyển vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam quy về một mối, ngành Y tế đã khẩn trương cùng với các ngành bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước và khắc phục những hậu quả của chiến tranh để lại. Mặc dù phải đối phó với những tác động của nền kinh tế thị trường khi bước vào thời kỳ đổi mới, ngành Y tế đã không ngừng khắc phục khó khăn, phấn đấu đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân. Phương châm đổi mới của ngành y tế là kế thừa, nâng cao chất lượng, kết hợp phòng bệnh và chữa bệnh, lấy dự phòng làm chính, đông tây y kết hợp để xây dựng nền y học Việt Nam phát triển bền vững.
Đánh giá cao những thành tựu của ngành Y tế đã góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho các tập thể, cá nhân ngành Y tế nhiều phần thưởng cao quý, như Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập. Nhiều giáo sư, bác sỹ, dược sỹ, các nhà khoa học và cán bộ của ngành Y tế có những cống hiến to lớn trong các lĩnh vực y tế, đã đ­ược Đảng và Nhà nước trao tặng các danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động và giải thư­ởng cao quý khác.

Thứ hai, Bác Hồ luôn dành sự quan tâm sâu sắc đối với những người làm việc trong ngành Y tế.

Lịch sử dân tộc vẫn còn lưu giữ những hồi ký rất cảm động của các cán bộ trong ngành Y tế khi nhớ về Bác kính yêu. Đó là sự quan tâm và tình cảm ấm áp, chân tình của Bác đối với bác sĩ Trần Hữu Tước trong chuyến tàu từ Pháp trở về Tổ quốc năm 1946, cũng như thời gian sau này. Đó là những lời lẽ hết sức xúc động của Người trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng chia sẻ nỗi đau khi vừa biết tin con trai của bác sĩ hi sinh trong trận chiến đấu chống trả cuộc tấn công của quân Pháp vào Hà Nội. Đó còn là sự quan tâm của Người đối với những bác sĩ sống ở Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn (thư gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam ngày 19/3/1947). Khi nghe tin vợ bác sĩ Đặng Văn Ngữ mất, Bác viết thư thăm hỏi, động viên (thư ngày 10/6/1954)…

Đáp lại tình yêu thương vĩ đại Bác dành cho, nhiều thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã cố gắng sống và làm việc, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà. Giáo sư Hồ Đắc Di – một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam, hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Y khoa của nước Việt Nam độc lập, là người hiểu thấu tư tưởng và thấm nhuần đạo đức, lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông từng nói: “Càng sống lâu, càng suy ngẫm, càng hiểu sâu biết rộng, càng nhìn thấu kim cổ Đông Tây, ta càng thấy rõ Bác Hồ của chúng ta quả là bậc vĩ nhân của các vĩ nhân. Theo tôi, Người là một Einstein về mặt đạo đức. Lời nói nào của chúng ta có sâu xa đẹp đẽ đến đâu chăng nữa, cũng không thể nào nói lên đầy đủ tầm vóc của Người. Có lẽ chính lịch sử mới đủ sức nói lên tầm vóc đó. Điều kỳ diệu của Bác Hồ là Người là bậc thánh nhân xuất chúng nhưng lại không xa rời nhân dân đại chúng, là nhân vật thần thoại truyền kỳ nhưng lại gần gũi biết bao đối với những con người bình thường, nhỏ bé và bất hạnh. Người có ảnh hưởng sâu xa đến tâm tư, tình cảm của mỗi chúng ta, trẻ cũng như già”.

Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng – vị bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với Bác, “dưới ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”, tâm hồn ông đã đi theo cách mạng. Trong suốt cuộc đời mình, Giáo sư đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, tin cậy với niềm tin yêu đặc biệt và tình cảm gần gũi. Không phụ lòng tin yêu của Bác, Giáo sư đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp với mong muốn đưa nền y học Việt Nam sánh ngang với các nước trên thế giới. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã để lại cho nền y học nước nhà 123 công trình khoa học, đặc biệt Ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên xây dựng phương pháp mổ gan mang tên ông: “phương pháp Tôn Thất Tùng” (hay “phương pháp mổ gan khô”). Giáo sư từng viết: “Bác ơi, công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Con nhắc lại mấy kỷ niệm đánh dấu từng chặng đời con, để ghi vào lòng, tạc vào dạ rằng, chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là người cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”.

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, Người lại đi thăm và chúc Tết các tầng lớp nhân dân. Năm nào Bác cũng dành thời gian đến thăm và chúc Tết một, hai vị trí thức ngành y vào đêm giao thừa. Gặp gỡ các vị giáo sư, Bác luôn gửi lời thăm và chúc tết tới các cán bộ đang làm việc tại các bệnh viện, các bệnh nhân còn ở lại bệnh viện.

Bác Hồ nói chuyện thân mật với trí thức ngành y. Ảnh: Internet

Đối với các thầy thuốc làm việc trong ngành Y tế, Bác luôn dành cho họ sự tin tưởng, quan tâm, ân cần chỉ bảo, sử dụng đúng khả năng, động viên kịp thời. Xuất phát từ tình cảm chân thành, sâu sắc với cán bộ ngành Y tế, Bác Hồ đã chỉ ra những nội dung ngắn gọn song lại có ý nghĩa định hướng hành động cho mọi người. Ngày 27/2/1955, trong bức thư gửi Hội nghị cán bộ ngành y tế, Người căn dặn “phải thật thà đoàn kết” để “vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích”. “Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành Y tế – từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành Y tế, trong việc phục vụ nhân dân”.

Trong thư gửi cán bộ và nhân viên quân y ngày 31/7/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần căn dặn: “Bác nhắc nhủ các cô, các chú phải:Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kĩ thuật”.

Thứ ba, phải đẩy mạnh công tác phòng bệnh

Đây là quan điểm cơ bản của công tác chăm sóc sức khỏe mà Người nêu ra từ sau Cách mạng Tháng Tám. Người nói “Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khỏe mạnh tức là góp phần làm cho cả nước khỏe mạnh. Việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám, trong 12 điều răn cán bộ, Người căn dặn “Phải dạy đồng bào: Vệ sinh thường thức”. Đầu năm 1946, Người kêu gọi “Luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” và nói: “Việc đó không tốn kém, khó khăn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Người đã phát động phong trào “Đời sống mới” với nội dung chủ yếu là giữ gìn vệ sinh. Từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc và trong những năm chống Mỹ cứu nước, mỗi khi đi thăm một xí nghiệp, một HTX, cơ quan, đơn vị bộ đội, trường học hay bệnh viện, trước hết Người xem xét nơi ăn, chốn ở, nhà bếp, nguồn nước, nhà tắm, hố xí và dặn dò mọi người ăn ở trật tự vệ sinh.

Người còn cho rằng vấn đề sức khỏe có mối quan hệ trực tiếp với cuộc kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”. Vì lẽ đó mà đối với tầng lớp nào, lứa tuổi nào, Người cũng luôn dặn dò mọi người phải giữ gìn và nâng cao sức khỏe. Đối với các cháu thiếu nhi, Người khuyên “Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang”. Trong lần về thăm bệnh xá Vân Đình vào ngày 20/4/1963, Bác căn dặn: “cần chú ý đến việc phòng bệnh, tuyên truyền và giải thích cho đồng bào xung quanh nhà thương và trong huyện biết cách giữ gìn vệ sinh, làm cho mỗi người bệnh khi khỏi bệnh biết cách phòng bệnh cho họ và gia đình họ…”.

Bác Hồ thăm Bệnh xá Vân Đình, năm 1963. Ảnh Internet

Năm 1964, trong Hội nghị chính trị đặc biệt họp tại Thủ đô Hà Nội, khi thấy Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên (Viện trưởng Viện mắt), Bác liền hỏi: Chú chữa mắt, chú có biết vì sao về các thôn, xóm vẫn thấy các cháu còn toét mắt nhiều? Và trong lúc giáo sư tìm câu trả lời thì Bác đã nói: Các cô, các chú chưa chú ý tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân. Phải đẩy mạnh công tác phòng các bệnh mắt sâu rộng bằng nhiều cách thì mới ăn sâu vào ý thức của mỗi người.

Trong cuộc đời, không ai muốn mình bị mang bệnh tật, ốm đau bởi “sức khỏe là vàng”. “Chữa bệnh” vừa đau đớn, vừa tốn kém về thời gian, tiền bạc. “Phòng bệnh” vừa giúp mọi người tăng cường sức khỏe, tránh được tổn hại về thể lực, tinh thần và tài chính; chủ động hơn với thời gian và cuộc sống của mình; đóng góp nhiều hơn cho gia đình, xã hội. Chính vì lẽ đó mà người ta lựa chọn: “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Thứ tư, “Lương y phải như từ mẫu”.

Nghề thầy thuốc là một nghề cao quí, bởi đây là nghề chữa bệnh cứu người. Đối với các nghề khác nếu mắc phải sai lầm có thể còn có cơ hội để sửa đổi, còn đối với nghề y, nếu xảy ra một lỗi lầm hay một thiếu sót dù rất nhỏ cũng có thể gây nên những tác hại lớn đến sức khỏe và thậm chí đến tính mạng của con người, mà người mắc lỗi có khi không còn cơ hội sửa chữa, khắc phục được nữa. Cho nên, người thầy thuốc không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải có tâm, có đức. Y đức là phẩm chất tốt đẹp, là giá trị cốt lõi của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh như chăm lo cho những người thân yêu trong gia đình của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu” nghĩa là người thầy thuốc đồng thời phải như một người mẹ hiền. “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu” (Thư gửi Hội nghị Quân y, tháng 3/1948).
Năm 1955, trong thư gửi cán bộ y tế toàn quốc, Bác viết: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe của đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ phải thương yêu, phải săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói đó rất đúng”.

Khi vào thăm Bệnh xá Vân Đình, Người căn dặn: “Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần. Có thuốc tốt thức ăn ngon còn cần có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt”.

Người nhắc cán bộ y tế: “Đừng ngại khó, ngại khổ. Phải lao mình vào chỗ bẩn để làm cho sạch, phải dấn thân vào chỗ đau để giảm bớt khổ đau, lương y phải như từ mẫu, phải dịu dàng khiêm tốn, không được hách dịch, ban ơn”.

“Lương y phải như từ mẫu” – lời dạy của Bác là yếu tố cốt lõi của đạo đức ngành y. Y đức thể hiện từ trong suy nghĩ đến hành động. Thực hiện theo lời dạy của Bác, người cán bộ y tế phải niềm nở, dịu dàng trong tiếp xúc với bệnh nhân; tận tình, cẩn trọng khi chăm sóc; ân cần, tỉ mỉ lúc dặn dò. Không được có thái độ coi thường, lạnh nhạt, dùng những lời nói vô lễ đối với người bệnh và gia đình người bệnh; không được đùn đẩy, gây phiền hà cho bệnh nhân; không được tùy tiện, qua loa, tắc trách,… dẫn đến bỏ sót bệnh, nhầm lẫn, sai sót có hại cho sức khỏe và tính mạng người bệnh,…

“Lương y như từ mẫu” là một lời khái quát ngắn gọn nhất về bản chất đạo đức của người thầy thuốc. Đó là tư tưởng quán triệt trong truyền thống y học Việt Nam từ Tuệ Tĩnh, Lãn Ông cho đến ngày nay. Trong lịch sử ngành Y tế, các thầy thuốc của thế hệ đi trước như Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Chung, Trần Hữu Tước, Đỗ Tất Lợi và thế hệ tiếp nối như Tôn Thất Bách, Lê Thế Trung, Đặng Thuỳ Trâm v.v.. đã để lại tấm gương sáng ngời về y đức, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp y học và y tế của nước nhà.

Đất nước bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển. Người thầy thuốc hiện nay đang phải đấu tranh với những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Thời gian vừa qua, hiện tượng “phong bì” đang diễn ra phổ biến trong các bệnh viện, làm xói mòn giá trị đạo đức của người hoạt động nghề Y. Người dân bức xúc trước sự thiếu trách nhiệm, thái độ thờ ơ, ứng xử thiếu tôn trọng đang có xu hướng gia tăng của một bộ phận cán bộ y, bác sĩ đối với người bệnh. Điều này trở thành nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, của những người thầy thuốc tâm huyết với nghề. Trước những cám dỗ của đồng tiền, người thầy thuốc phải giữ bản lĩnh của mình, nhìn thẳng vào căn bệnh, vào thể trạng bệnh nhân mà điều trị, không phân biệt giàu nghèo để có sự quan tâm như nhau, phải lấy tư tưởng y đức của Bác làm kim chỉ nam để không bị lầm đường lạc lối gây ra những buồn phiền cho người bệnh.

Thứ năm, xây dựng nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng; kết hợp Đông y và Tây y.

Người từng viết: “Trong những năm nước ta bị nô lệ, thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: Khoa học, dân tộc và đại chúng.

Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “đông” và thuốc “tây”. (Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, ngày 27/2/1955).

Ngày 16/1/1961, khi đến thăm Viện Nghiên cứu Đông y ở Hà Nội, Bác Hồ căn dặn: “Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được; thuốc ta chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc tây chữa được… Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa được bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thầy thuốc tây phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học Tây y… Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như người có hai cái tay, hai bàn tay cùng làm việc thì làm việc được tốt, cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào”. Đó chính là sự kết hợp giữa y học hiện đại và y học dân tộc.

Năm 1955, Hội nghị cán bộ y tế được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, vào đúng ngày 27/02/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị. Bức thư ấy đã trở thành tài sản vô giá của ngành Y tế nước ta. Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, ngày 06/02/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27/02 hàng năm làm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” và cũng kể đó, ngày 27/02 đã trở thành ngày truyền thống của ngành Y tế.

Thực hiện Chỉ thị số 06 – CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Quyết định số 01-QĐ/BCĐCVĐ ngày 22/10/2007, Ban Chỉ đạo Trung ương cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã chọn ngành y tế là đơn vị chỉ đạo điểm Cuộc vận động. Ngành y tế đã quán triệt sâu sắc rằng đây là một cuộc vận động chính trị lớn, là một chủ trương đúng đắn của Đảng, có ý nghĩa trước mắt và lâu dài, là cơ hội quý giá để ngành y tế tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục cán bộ công chức, viên chức nâng cao trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của mình theo lời dạy của Bác Hồ với tâm nguyện: Những người thầy thuốc Việt Nam chung lòng phấn đấu thực hiện lời dạy của Người đối với ngành Y tế Việt Nam “Lương y phải như từ mẫu”- tất cả vì sức khỏe của mỗi người dân, và của cộng đồng-một yếu tố cơ bản được tạo thành dân cường nước thịnh, quốc thái dân an.

Những tư tưởng sâu sắc của Người đối với ngành Y tế là di sản quý giá cho các thế hệ thầy thuốc Việt Nam, là nền tảng đạo lí của người làm nghề y, là định hướng đúng đắn cho mọi hoạt động xây dựng và phát triển ngành Y tế nước nhà. Trong giai đoạn hiện nay, hơn lúc nào hết, ngành Y tế cần đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” và xây dựng nền y tế nước nhà “hiện đại, hiệu quả, phát triển và công bằng”, góp phần làm cho đất nước phát triển hùng mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Trong những ngày này, đội ngũ cán bộ, công nhân viên phục vụ trong ngành Y tế trên cả nước đang hướng tới kỷ niệm 57 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 – 27/2/2012). Khắc sâu lời dạy của Người: “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”, toàn ngành Y tế Việt Nam đang nỗ lực không ngừng, ra sức thi đua phấn đấu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ nhân dân để xứng đáng với lòng tin yêu, dạy dỗ của Bác Hồ kính yêu, sự tin tưởng của Đảng, sự mong đợi của nhân dân và vì một đất nước Việt Nam hùng mạnh.

Thu Hiền

bqllang.gov.vn

Năm nội dung chủ yếu theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh ban hành 5 nội dung chủ yếu theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh để đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức thuộc các đảng bộ, chi bộ cơ quan, đơn vị trong Khối quán triệt và tổ chức thực hiện như sau:

1/ Đối với quê hương, đất nước: Phát huy hơn nữa truyền thống quê hương Quảng Bình “Hai giỏi”, yêu đất nước Việt Nam anh hùng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, thực hiện các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nói và làm đúng quan điểm, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chống suy thoái về đạo đức, dao động về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Chung sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam và quê hương Quảng Bình giàu đẹp.

2/ Đới với nhân dân: Phải gần dân, hiểu dân, trọng dân, học dân, vì dân; nêu cao ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân thể hiện bằng những việc làm thiết thực hàng ngày, tự mình làm gương để quần chúng nhân dân noi theo; tập trung giải quyết dứt điểm các công việc liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Chống các biểu hiện quan, hách dịch, gây phiền hà cho nhân dân.

3/ Đối với đồng chí đồng nghiệp: Xây dựng tinh thần tương thân, tương ái, yêu thương, đoàn kết, hợp tác với đồng chí, đồng nghiệp. Chống chia rẽ bè phái, cục bộ địa phương, cá nhân chủ nghĩa. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, xây dựng tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị và đoàn thể trong sạch vững mạnh, xây dựng môi trường công tác tốt.

4/ Đối với công việc: Phải tận tuỵ, gương mẫu, chủ động, sáng tạo, có trách nhiệm; xây dựng đức tính cần, kiệm, coi trọng chất lượng và hiệu quả công việc, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; chống lười biếng, ỉ lại; chống phô trương hình thức, chống lãng phí thời giờ và tiền bạc của Nhà nước, của nhân dân.

5/ Đối với bản thân: Phải thường xuyên học tập, rèn luyện; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng phẩm chất liêm, chính, khiêm tốn và trung thực; sống có nghĩa tình, thuỷ chung. Chống hối lộ, bê tha, mê tính dị đoan, nói không đi đôi với làm; chạy theo danh vọng, địa vị, lợi ích cá nhân thuần tuý; lạm dụng chức quyền để tham nhũng, làm điều bất chính. Làm tròn nghĩa vụ người công dân, xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá nơi công cộng; xây dựng gia đình văn hoá, cơ quan văn hoá.

quangbinh.gov.vn

Bác Hồ và “quê hương nghĩa trọng tình cao”

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Mỗi lần nói những lời trìu mến, thành kính về Bác Hồ kính yêu, chúng ta, bạn bè ta, nhất là các nhà khoa học, thường nêu câu hỏi: Những gì đã tạo dựng, hun đúc nên thiên tài Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất? Quê hương, gia thế của Hồ Chí Minh có vai trò thế nào trong việc hình thành nhân cách, trí tuệ, bản lĩnh của Người?.

Quê Bác nằm ở hạ lưu sông Lam của xứ Nghệ, nơi hội tụ của các trung tâm văn hóa vùng Bắc Trung bộ, nơi phát tích nhiều nền văn hóa cổ, một vùng văn hóa dân tộc học đặc sắc. Bác sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước, ở một vùng quê giàu truyền thống văn hiến và cách mạng.

Vùng quê ấy, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, thường xuyên đương đầu với muôn vàn giặc giã, thiên tai, trong khổ đau vẫn gan góc, trong mất mát vẫn kiên cường. Truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương đã ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến tuổi ấu thơ của Bác, đến việc hình thành nhân cách, tư tưởng của Người.

Người yêu quý, giữ gìn, nhập tâm nhiều làn điệu hát ví, hát dặm, hát phường vải của quê nhà. Người ưa lẩy Kiều và đã vận dụng nghệ thuật dân gian này đến độ sáng tạo, tinh tế. Người sử dụng rộng rãi, linh hoạt các thể loại văn học truyền thống, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân dã như:Tập Kiều, lẩy Kiều, tập cổ, thơ lục bát, thơ tự vịnh, thơ cổ điển, thơ mừng tuổi, thơ chúc Tết. Trong thơ văn, Người hay dùng tục ngữ, ca dao, dân ca, lối nói ví von, so sánh sinh động, dễ hiểu của nhân dân lao động.

Trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân lên hầu khắp các châu lục, nhiều quốc gia, nhiều nền văn hóa, thông thuộc nhiều thứ tiếng nước ngoài. Vậy mà một đêm ở Thái Lan xa xôi, Người thốt lên:

“Xa nhà chốc mấy mươi niên
Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.

Người vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, vang vọng của quê nhà. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người xúc động nói:

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Người không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, cây bưởi trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ – của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của bà…

Người nhớ và ghi sâu công đức người thầy khai tâm của mình, những kỷ niệm với người bạn câu cá, nhà ông thợ rèn, những buổi trưa thả diều, chăn trâu, đánh trận giả…

Người nhớ và nhắc giúp ca sĩ quê nhà hai câu cuối của một bài hát dân ca, về cách phát âm, cách luyến láy một số từ giọng Nghệ khi hát xướng. Trong bữa ăn thường nhật, Người ưa món tương, nhút, quả cà giòn tan, mằn mặn của quê xa.

Quê hương Người có rất nhiều truyền thống quý báu, mang đặc trưng văn hóa xứ Nghệ khó lẫn. Tuy nhiên, con người và vùng đất ấy cũng có những hạn chế khó tránh khỏi. Để khắc phục những hạn chế ấy, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, nhân dân tỉnh nhà rằng: Phải biết phát huy lòng yêu nước, tinh thần bất khuất trước địch họa, thiên tai, cần cù trong lao động, thủy chung trong nghĩa tình, giản dị, mộc mạc, ngay thẳng trong điều ăn lẽ ở.

Đồng thời cũng phải biết khắc phục tâm lý nông dân sản xuất nhỏ, manh mún, hẹp hòi; tiết kiệm quá thành hà tiện; ít giao tiếp nên dễ kém năng động; chỉ ham cái lợi nhỏ trước mắt mà không lo cái lợi to lớn, lâu dài; kiên định không đúng cách dễ trở thành bảo thủ, quan liêu, duy ý chí.
Hồ Chí Minh là tấm gương thanh cao về nếp sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dĩ công vi thượng. Nếp sống đó không chỉ có ở Người khi hoạt động cách mạng bí mật, gian khổ, hiểm nguy mà giữ nguyên vẹn khi Người đã là Chủ tịch nước yêu kính của dân tộc.

NGUYỄN THẾ KỶ
Theo tuoitre.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Phong cách, nhân cách nhà báo Hồ Chí Minh

… Cái thuở mà Le Paria “tung hoành” trong 38 số cách đây gần… 90 năm. Thời đó mà trang 4 của báo đã có đăng quảng cáo thuốc men, đăng giờ tàu đến và đi, quảng cáo cho các dụng cụ cắt cỏ… thì mới hiểu Nguyễn Ái Quốc đã “làm” báo vất vả và sáng tạo như thế nào.
Nhà báo đặc biệt

Trong thế giới đương đại, nếu phải bầu chọn nhà báo đặc biệt nhất thì chắc chắn người đó phải là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Trước hết, nếu nói về những nhà báo đi lên và thành công từ gian khổ, vất vả; trên thế giới có không ít, nhưng bôn ba gần khắp trái đất, làm hàng chục nghề khác nhau suốt 30 năm trời thì khó có thể tìm ra người thứ hai. Một nhà báo, viết bài báo đầu tiên trong đời – ngày 2.8.1919, báo L’Humanité, bài “Vấn đề người bản xứ” – khi chưa thật sự rành rẽ về ngôn ngữ (tiếng Pháp), đó cũng là Nguyễn Ái Quốc.

Điều đó nói lên rất rõ rằng, báo chí “đến” với Người, trước hết là bởi yêu cầu chiến đấu, dùng ngòi bút để làm đòn xoay chế độ, vì dân tộc, vì độc lập, tự do; xuất phát từ lòng dũng cảm và lòng yêu nước vô bờ bến. Hồ Chí Minh cũng là nhà báo có nhiều bút danh nhất thế giới với gần 200 bút danh khác nhau; thậm chí có những “bút danh” kỳ lạ như: Bé Con, Xung Phong, X.L., T.L., Một Người An Nam, Một Người Bạn, Hy Sinh (trên báo Độc Lập, 1941-1942)…

Hồ Chí Minh cũng là nhà báo viết rất nhiều (trên dưới 2.000 bài) và là nhà báo đạt đến vị trí lãnh tụ tối cao của một dân tộc, người sáng lập ra một chính đảng, một nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở vùng Đông Nam Á; đồng thời là nhà báo duy nhất được LHQ tôn vinh là Danh nhân văn hóa của thế giới. Hồ Chí Minh còn là nhà báo “kỳ lạ” nhất của hành tinh này: “Khởi nghiệp” bằng tiếng Pháp, tiếp tục bằng tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc; rồi sau đó mới viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Việt! Sau cùng, cũng rất cần nhắc đến một sự đặc biệt nữa của nhà báo Nguyễn Ái Quốc: Người vừa là chủ nhiệm của tờ báo “Người Cùng Khổ” (Le Paria) đồng thời là chủ bút, hoạ sĩ biếm họa, thợ rửa ảnh, thủ quỹ, phát hành, bán báo…

Dẫu chưa đầy đủ, nhưng những sự kiện được thống kê trên đây, rất đủ cho mỗi nhà báo Việt Nam hôm nay nói riêng, nhân dân ta nói chung hiểu rõ sự phi thường trong con người – nhà báo Hồ Chí Minh.

Phong cách Hồ Chí Minh

Với Hồ Chí Minh, mục tiêu, động lực để viết báo là rất rõ ràng. Tại Trường Chỉnh Đảng Trung ương ngày 17.8.1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, trước khi viết phải tự hỏi: “Vì ai mà mình viết? Mục đích viết là gì?”.

Sau này, trong Đại hội II của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 16.4.1959, Hồ Chí Minh khẳng định, Người viết báo là để “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu rõ ràng, động cơ sáng trong và ngọt lành như nắng ban mai; đó là điều đầu tiên làm nên nhân cách và sự thành công của một nhà báo vĩ đại. Với nguyên tắc “viết cho ai”, nên ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ của một lăng kính đa chiều, luôn hấp dẫn và mới mẻ.

Ở Pháp, viết cho thực dân đế quốc đọc, Nguyễn Ái Quốc chơi chữ rất tài tình. Chẳng hạn, sống ở Paris, Người đặt tên tờ báo là Le Paria – có nghĩa là “dưới đáy, người khổ sở tận cùng trong xã hội”. Thời kỳ sống và hoạt động ở căn cứ địa Việt Bắc, những bài báo của Người chủ yếu viết cho đồng bào miền núi đọc, nên ngôn từ lại trở nên mộc mạc, dễ hiểu. Chúng ta rất dễ nhận thấy một điểm đáng chú ý: Viết cho thanh niên, Hồ Chí Minh dùng ngôn ngữ của lớp trẻ; viết cho thiếu nhi là cách dẫn dụ mộc mạc của ngôn từ giản dị, viết cho nông dân là ngôn ngữ của chân quê…

Nhà báo Nguyễn Ái Quốc còn là một nhà báo rất năng động, nhạy cảm. Chúng ta hãy hình dung cái thuở mà Le Paria “tung hoành” trong 38 số cách đây gần… 90 năm. Thời đó mà trang 4 của báo đã có đăng quảng cáo thuốc men, đăng giờ tàu đến và đi, quảng cáo cho các dụng cụ cắt cỏ… thì mới hiểu Nguyễn Ái Quốc đã “làm” báo vất vả và sáng tạo như thế nào. Nên lưu ý rằng, theo tài liệu của mật thám Pháp, có lúc Le Paria phát hành đến 2.000 bản, một nửa được gửi cho các nước thuộc địa (!).

Phong cách của nhà báo Hồ Chí Minh còn là sự hiểu biết rất rộng, rất sâu mà lại rất gần gũi quần chúng. Đọc những bài báo của Người, chúng ta kinh ngạc về kiến thức: Từ Ấn Độ đến Palestine, từ Tunisia đến Hoa Kỳ, từ Trung Quốc đến Madagasca…; gần như cái gì Nguyễn Ái Quốc cũng hiểu một cách tường tận. Hiểu biết như thế, những bài báo không sắc, không sâu, không sinh động mới là chuyện lạ.

Sống mãi tinh thần Hồ Chí Minh

Bài báo sau cùng mà Hồ Chí Minh viết là bài: “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”, ký tên T.L, đăng trên báo Nhân Dân ngày 1.6.1969. Đó không hề là sự ngẫu nhiên. Nếu như bài báo đầu tiên Người viết là vì độc lập cho dân tộc Việt Nam, thì bài cuối cùng là “muôn vàn tình thương yêu” dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Ý chí chiến đấu mạnh mẽ và cái TÂM rộng lớn, sâu sắc ấy là điều cần nhất cho bất kỳ một nhà báo nào khi cầm bút.

Trong lần gặp mặt cuối cùng trước đông người – tại buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng LĐLĐVN) ngày 18.7.1969 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần nhắc đến báo chí. Lần thứ nhất, Người nói: “Bác xem báo Lao Động, có bài viết về chuyện một số công nhân nào đấy mỗi ngày chỉ làm rất ít giờ. Bác rất đau lòng”. Lần thứ hai, Bác đưa tờ báo Nhân Dân ngày 16.7.1969 ra để nói về chuyện báo đăng lời phê bình của công nhân là rất tốt.

Người nhắc thêm: “Báo Lao Động nên mở rộng mục này cho quần chúng phê bình trên báo. Như vậy, vừa bảo đảm quyền dân chủ công nhân, vừa nâng cao tinh thần chiến đấu của tời báo” (Hồ Chí Minh, TT, T.12, tr. 565-567). Có lẽ, cho đến tận hôm nay, chúng ta vẫn phải tự hỏi là mình đã làm đủ, làm đúng những gì Bác Hồ mong muốn hay chưa?

Trong thư căn dặn những người sắp trở thành nhà báo do Báo Cứu Quốc tổ chức năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những khuyết điểm của báo chí của ta như: Tuyên truyền không kịp thời, chính trị suông quá nhiều, không biết giữ bí mật, đôi khi đăng tin vịt, tờ báo không vui… Ngẫm lại, cứ ngỡ những điều Người nói như vừa mới diễn ra sáng nay! Vẫn còn không ít tờ báo “chính trị suông” quá nhiều, hay không biết cách để giữ bí mật quốc gia. Có báo thật buồn tẻ từ trang đầu cho tới trang cuối; thậm chí, người dân không còn muốn đọc nữa.

Gần 90 năm đã trôi qua kể từ khi Nguyễn Ái Quốc viết bài báo đầu tiên; 82 năm, kể từ khi Báo Thanh Niên ra số đầu tiên (21.6.1925), mở đầu cho dòng báo cách mạng của dân tộc; báo chí Việt Nam hôm nay đã phát triển mạnh mẽ về cả số lượng lẫn chất lượng. Chúng ta ghi nhớ công lao của nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh đồng thời cũng rất cần ghi nhớ thêm rằng, phong cách và tinh thần, tư tưởng và ý chí, tâm huyết và ngọn bút mẫn tiệp, sắc sâu của Người vẫn sống mãi với sự tươi mới, vững bền bất kể thời gian, vượt qua mọi không gian.

Với tư cách là một trong những đỉnh cao của báo chí thời đại, ngọn bút Hồ Chí Minh là ngọn tháp rực rỡ, là tấm gương sáng ngời để cho muôn đời sau hướng tới, bước tiếp trên con đường tươi đẹp của tổ quốc Việt Nam.

(Theo Hà Văn Thịnh – Lao Động )

quangbinh.gov.vn