Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần 2

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Con ngựa hoang

Mặc dù không có những ghi chép chính xác về các hoạt động của Thành sau khi rời Việt nam, những bằng chứng thu thập được cho phép dự đoán rằng phần lớn thời gian của Thành dành cho việc lang thang trên biển và đi qua khắp 5 châu. Vào thời đó, chế độ thực dân châu Âu đã thuộc địa hóa hầu như cả thế giới. Trên các bến cảng Á, Phi, Mỹ la tinh, những người dân bản xứ xun xoe thoả mãn nhu cầu của các ông chủ da trắng. Trong các tác phẩm sau này, HCM đã miêu tả sự tàn bạo của các ông chủ và sự khốn cùng của dân lao động một cách hết sức ấn tượng. Có thể phần lớn các quan điểm cách mạng của HCM đã được hình thành trong giai đoạn này.

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần 1

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Mất nước

Khi đội quân của ông đang rong ruổi ầm ĩ trên các đường phố tiếp nhận sự đầu hàng của quân thù, ông lặng lẽ vào thành phố, trong một ngôi nhà 2 tầng nhỏ với chiếc máy chữ đã theo sát mình từ Matxcova đến Trung hoa và Việt nam trong những tuần đầu 1941. 2h chiều ngày 2/9/1945 trên lễ đài dựng tạm tại một quảng trường mà sau này được gọi là Ba Đình, trong bộ quần áo kaki bạc màu, với chất giọng còn đậm nguồn gốc xứ Nghệ, ông đã đọc bản tuyên ngôn khai sinh cho một dân tộc độc lập. Những lời đầu tiên của bản hiến pháp đã làm sửng sốt một số người Mỹ có mặt trong đám đông: “Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá đã cho họ những quyền tối thượng trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Một Cuộc Đời: Phần giới thiệu

Lời tựa của dịch giả

Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt nam

Từ bé, tôi đã được dạy bài hát này, vì thế bây giờ vẫn thuộc. Lên 8 tuổi, tôi vẫn nhớ như in một buổi sáng, bà ngoại gọi tôi thảng thốt: “Nam ơi, Bác Hồ mất rồi”, chẳng biết gì nhưng thấy cả nhà khóc tôi cũng òa lên khóc. Lớn dần lên, biết thêm rất nhiều bài hát hay, thỉnh thoảng được khen là “cháu ngoan”,… thấy Bác vẫn là một cái gì đó thiêng liêng, nhưng quả thật giống như một vị thánh chẳng có ích gì nhiều trong cuộc sống. Tiếp tục đọc

Thư Trung Thu thời kháng chiến của Bác Hồ

– “… Lòng thân ái đó rất là quý, chúng tôi rất cảm động và cám ơn. Nay tôi và Phái bộ sắp trở về nước, chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào : 1. Phải triệt để đoàn kết 2. Ra sức tuyên truyền và ủng hộ mọi phương diện cho Tổ quốc 3. Thực hành khẩu hiệu Đời sống mới : cần , kiệm, liêm, chính  4. Mỗi người thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới”. Thư đề ngày 12/9/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi kiều bào Việt Nam tại Pháp  trước khi lên đường về nước, cảm ơn sự ủng hộ và căn dặn bà con Việt kiều.

“Cũng như đường xa, đi đến nơi thì thường nhọc mệt, sự nghiệp kháng chiến gần đến lúc thành công thì càng nhiều nỗi gian nan. Vậy chúng ta đã đoàn kết, càng phải đoàn kết chặt chẽ thêm, đã tiến bộ càng phải cố gắng mãi, chớ thấy bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu… Trước mặt trận cũng như ở hậu phương, muôn người như một, đều cùng quyết tâm làm trọn nhiệm vụ kháng chiến cứu quốc của mình. Như thế thì kháng chiến nhất định thành công cũng như Cách mạng tháng Tám thành công vậy”. Trích thư gửi đồng bào Liên khu III, đề ngày 12/9/1947.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi trên chiến khu thời kháng chiến chóng Pháp.jpg (64KB)Bác Hồ với các cháu thiếu nhi trên chiến khu thời kháng chiến chống Pháp.

“Trung Thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng/ Sau đây Bác viết mấy dòng/ Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ nhung”. Trong thư có đoạn: “Ngày nay các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới. Các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh… Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, thì Trung Thu sẽ vui vẻ hơn…”. Thư Trung Thu đề ngày 12/9/1951.

“Một năm đến Tết Trung Thu, Bác càng nhớ các cháu. Trung Thu trăng trong gió mát là cảnh thái bình. Mục đích của Bác và Đoàn thể cùng Chính phủ là cốt xây dựng cho các cháu đời sống thái bình, tự do và sung sướng… Nhân dịp Tết Trung Thu, Bác gửi các cháu thư này: Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh? Tính các cháu ngoan ngoãn. Mặt các cháu xinh xinh. Mong các cháu cố gắng. Thi đua học và hành. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Tuỳ theo sức của mình. Để tham gia kháng chiến. Để gìn giữ hoà bình. Các cháu hãy xứng đáng. Cháu Bác Hồ Chí Minh”.
 Thư Trung Thu năm 1952.

X&N
bee.net.vn

Mong ước của Bác Hồ

– Có mặt ở Moscow để dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã nói với nhà văn Ilia  Êrenbua: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”.

Ngày 25/9/1942, tại nhà tù của Quốc dân Đảng Trung Hoa, Bác sáng tác hai bài thơ chữ Hán với đề tựa “Trung thu”:

“ I. Trung Thu vành vạnh mảnh gương thu/ Sáng khắp nhân gian bạc một màu/ Sum họp nhà ai ăn Tết đó/ Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu”; “II. Trung Thu ta cũng Tết trong tù/ Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu/ Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt/ Lòng ta vời vợi mảnh trăng thu”.

25-9-1966 HCM thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo về thủ đô.jpg (99KB)Ngày 25/9/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô.

7 năm sau, Bác Hồ viết thư gửi các cháu thiếu nhi nhân Tết Trung thu kháng chiến:

“Mục đích của Bác và Đoàn thể cùng Chính phủ là cốt xây dựng cho các cháu đời sống thái bình, tự do, sung sướng”. 

Cuối thư Bác viết tặng bài thơ: “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh?/ Tính các cháu ngoan ngoãn/ Mặt các cháu xinh xinh/ Mong các cháu cố gắng/ Thi đua học và hành/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tuỳ theo sức của mình/ Để tham gia kháng chiến/ Để gìn giữ hoà bình/ Các cháu hãy xứng đáng/ Cháu Bác Hồ Chí Minh”. 

Ngày 25/9/1965, Bác Hồ và Bác Tôn viết chung mấy câu thơ gửi cho các cháu học sinh Trường Hoàng Lệ Kha” ở vùng giải phóng Tây Ninh hứa: “Nam Bắc sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta sẽ gặp mặt trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu một anh hùng thiếu nhi”. 

Trước đó, ngày 25/9/1947, Bác viết thư gửi cụ Võ Liêm Sơn, Chủ tịch “Uỷ ban Trung ương Mùa Đông binh sĩ” xin được gửi một tháng lương:  “Nhờ Cụ mua giùm vật liệu và may giùm mấy chiếc chăn áo cho chiến sĩ, gọi tỏ chút lòng thành. Đồng bào ta đã giúp nhiều. Lần này, mặc dàu hoàn cảnh khó khăn, nhưng tôi rất mong đồng bào cũng ra sức giúp, để cho chiến sĩ khỏi lạnh lùng và đủ ấm áp để ra sức xung phong diệt địch”.   

Ngày 25/9/1954, Bác viết bài “Các lãnh tụ Trung Quốc” trên báo “Nhân Dân”: “Đối với Việt Nam cần kiệm liêm chính là đức tính của những người cách mạng Việt Nam phải thực hiện được”.

X&N
bee.net.vn

Hình ảnh Bác Hồ dưới con mắt sinh viên Nhật

Hinh anh Bac Ho duoi con mat sinh vien Nhat

Bác Hồ ôm hôn cháu bé tại Việt Bắc năm 1950.

Có lần, tôi hỏi em Simizu, sinh viên sắp tốt nghiệp của Khoa tiếng Việt, trường ĐH Ngoại ngữ Tokyo, nơi tôi đang giảng dạy, là “vì sao em học tiếng Việt?”. Simizu trả lời rất nghiêm túc, bằng tiếng Việt rất chuẩn: “Vì em muốn tìm hiểu tại sao Bác Hồ được đông đảo nhân dân Việt Nam kính trọng, còn ở Nhật, thì chưa có vị lãnh tụ nào được như thế”.

Bác không dạy cái tục xấu đó

Tôi thực sự kinh ngạc trước câu trả lời của em Simizu, một sinh viên Nhật giỏi của Khoa tiếng Việt. Các sinh viên người Nhật học tiếng Việt ở trường Đại học ngoại ngữ Tokyo phần đông học tiếng Việt vì yêu thích Việt Nam, vì có thiện cảm với Việt Nam, và với nhiều em, vì hình ảnh đáng kính của Bác Hồ.

Đề tài luận văn tốt nghiệp của em Simizu là về Bác Hồ. Simizu nói với tôi rằng em đã tự hài lòng được phần nào về câu trả lời cho câu hỏi trên của em. “Theo em, sở dĩ phần lớn nhân dân Việt Nam kính trọng, yêu thích Bác Hồ, là vì Bác Hồ có đạo đức rất trong sáng, và có phong cách rất dản dị, dễ gần với nhân dân. Và điều dĩ nhiên nữa, là Bác Hồ đã lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến giành độc lập cho nhân dân Việt Nam, mà nhiều nhà kháng chiến khác không làm được”.

– Thế cá nhân em thì sao? Em có yêu thích Bác Hồ không? tôi hỏi.

– Vâng, tất nhiên. Em nghĩ người nước ngoài biết đến nhân dân Việt Nam, cũng một phần nhờ hình ảnh của Bác Hồ. Nhưng tiếc rằng, giờ đây ở Việt Nam, có nhiều điều Bác Hồ dạy, người ta không thực hiện đâu. Em rất buồn.

Sau khi tốt nghiệp, Simizu làm việc cho một văn phòng đại diện của một cơ quan Việt Nam ở Tokyo. Nhưng sau đó em nhanh chóng bỏ việc, vì thấy ở đấy làm việc thiếu trong sáng. Hiện nay, Simizu đã thi đỗ, trở thành phóng viên hãng truyền hình NHK, hãng truyền hình lớn nhất Nhật Bản.

Kimura, một sinh viên khác cũng đã tốt nhiệp Khoa tiếng Việt, và đang làm việc cho một công ty Nhật có đầu tư ở Việt Nam. Kimura học tiếng Việt vì có thiện cảm với Việt Nam. Nhưng em đã bị một ấn tượng xấu về lớp cán bộ Việt Nam hiện nay. Có một đại diện cơ quan Việt Nam sang Tokyo liên hệ việc mua hàng của công ty Nhật, nơi Kimura làm việc. Người này đã gợi ý là muốn bán được hàng cho phía Việt Nam, thì công ty Nhật phải biết “nhập gia tùy tục”.

Kimura nói với tôi: “Em biết văn hóa người Việt Nam, là “nhập gia phải tùy tục”, khách đến nhà thì phải theo phong tục, tập quán của chủ nhà. Nhưng cái văn hóa đó không phải theo cái “tục xấu” mà người kia gợi ý. Em đã mời người đó về. Mời anh đi mua hàng ở công ty khác. Bác Hồ không dạy cái “tục xấu” đó cho các anh”.

Những lỗi lầm chính của quan chức

Hinh anh Bac Ho duoi con mat sinh vien Nhat

Cô Suzuki Kotona đang nghiên cứu về văn hoá ở Việt Nam: “Em chỉ mong người dân Việt Nam được thực sự hạnh phúc như Bác Hồ mong muốn”.

Có một em tên là Suzuki, tuy không học tiếng Việt tại Khoa tiếng Việt, trường Đại học ngoại ngữ Tokyo, nhưng rất giỏi tiếng Việt. Gần đây, Suzuki đưa cho tôi một cuốn sách đầu đề “Văn kiện Đảng 1945-1975”, do Ban nghiên cứu lịch sử đảng trung ương xuất bản năm 1978. Ngoài bìa thấy đề “lưu hành nội bộ”. Giở cuốn sách Văn kiện ra, tôi thấy các tài liệu về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam rất tốt, nhiều bài viết rất hay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rất đáng lưu hành rộng rãi cho nhân dân được biết, chẳng có gì đáng phải ghi là “lưu hành nội bộ” cả. (Bây giờ – năm 2005, đã gần 30 năm trôi qua, kể từ khi xuất bản cuốn sách Văn kiện này, có lẽ tình hình đã thay đổi, không cần phải “lưu hành nội bộ” nữa).

Suzuki muốn tôi giải thích giúp em về một bài viết của Bác Hồ in trong tập sách này. Trang 16 có bài viết nhan đề “Gửi các ủy ban nhân dân, các Bộ, Tỉnh, Huyện và các Làng”, tháng 10/1945, ký tên Hồ Chí Minh. Nội dung đại khái như sau (xin trích):

“Hỡi các bạn. Nước ta bị Tây áp bức hơn 80 năm, bốn, năm năm bị Nhật áp bức. Dân ta đói rét khổ sở không thể nói hết… Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có nghĩa lí gì. Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc…

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, thì dân mới yêu ta, kính ta.

Tôi vẫn biết rằng trong các bạn có nhiều người làm theo đúng chương trình của chính phủ và rất được lòng nhân dân. Song cũng có nhiều người phạm những lầm lỗi rất nặng nề.
Những lầm lỗi chính là:

1. Trái phép – Những tên Việt gian phản quốc chứng cớ rõ ràng thì phải trừng trị đã đành, không ai trách được. Nhưng cũng có lúc vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu gia sản, làm dân oán thán.

2. Cậy thế – Cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân.

3. Hủ hóa – Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, đến các cô, các cậu ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai chịu?…”

Trong thư này Bác Hồ còn liệt kê thêm lỗi lầm tư túng, kéo bè kéo cánh để bổ nhiệm chức vụ cho nhau. Chia rẽ, bênh vực lớp này, chống lớp khác. Kiêu ngạo, tự coi mình là thần thánh, coi khinh nhân dân. Để kết luận, Bác Hồ viết: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa…Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ công bình, chính trực vào lòng”.

Sau khi tôi giải thích xong các khái niệm khó trong bức thư này của Bác Hồ – bức thư Bác viết sau khi Bác đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa đầy một tháng – Suzuki vô cùng thích thú. Em nói: “Giá như bây giờ người ta thực hiện tốt các lời Bác Hồ nói nhỉ”. Suzuki nói là bà chủ nhà ở Hà Nội, nơi em thuê nhà khi học ở Hà Nội, thường phàn nàn về tệ hách dịch, cửa quyền, xếch mé với dân ở chính quyền phường, khi dân có việc đến phường.

Đừng để tiếng ta thán nhiều thêm

Đọc lại lời Bác Hồ dạy từ 60 năm trước, ngay sau khi chính quyền cách mạng mới thành lập, người ta thấy vẫn còn nguyên giá trị. Ở Việt Nam giờ đây, nhiều người viện dẫn lời Bác Hồ rất nhuần nhuyễn, nhất là trên các diễn đàn hội nghị, nhưng trong thực tế không hề làm theo lời Bác Hồ dạy. Chính vì thế mà giờ đây, tiếng ta thán của người dân mới tăng lên, tệ tham nhũng tràn lan, người bất tài, đạo đức giả được trọng dụng, người tài bị khinh rẻ.

Tôi thường cố gắng nói đến những thành quả của công cuộc đổi mới ở Việt Nam cho sinh viên Nhật nghe. Nhưng nhiều sự thật không thể dấu được, nhất là với các sinh viên đã đi Việt Nam học, như chuyện thủ tục hành chính, chuyện tham nhũng, chuyện hành dân, chuyện oan sai. “Em chỉ mong người dân Việt Nam được thực sự hạnh phúc như Bác Hồ mong muốn” – Suzuki nói…

Minh Tuấn (từ Tokyo)
vietbao.vn

Gặp người Séc dịch “Nhật ký trong tù” của Bác Hồ

GS.TS Ngôn ngữ học và Quốc tế học Ivo Vasiljev là người Séc đầu tiên và đến nay là người duy nhất dịch trọn tập thơ “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông kể rằng từ năm 1953 ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam. Ivo Vasiljev và vợ cùng học một trường đại học ở Praha (Tiệp Khắc ngày đó). Sau khi tốt nghiệp đại học, ông chọn ngành nghiên cứu Việt Nam học, còn vợ ông nghiên cứu về Nhật Bản.

Ivo Vasiljev chỉ học tiếng Việt ở Praha song ông nói không khác là mấy so với người Hà Nội. Lúc đầu là học từ thầy người Tiệp Khắc, sau được học 2 thầy giáo người Việt Nam là Dương Khắc Từ hiện là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và ông Trần Xuân Đài, Đại học Sư phạm Hà Nội.

Ông Dương Khắc Từ đã dịch nhiều tác phẩm văn học Tiệp Khắc sang tiếng Việt Nam. Ông Từ đã dạy tiếng Việt cho Ivo Vasiljev một thời gian ngắn khi sang Tiệp Khắc học đại học.

Sau đó, Ivo Vasiljev tiếp tục học tiếng Việt từ ông Đài khi đó được Chính phủ Việt Nam cử sang Tiệp Khắc dạy tiếng Việt. Thời gian này, Ivo Vasiljev và thầy Đài làm việc theo kiểu một thầy, một trò mỗi tuần 18 giờ.

Ít lâu sau ông Ivo Vasiljev đủ trình độ cùng với thầy Đài đứng lớp dạy tiếng Việt cho học sinh Tiệp Khắc.

Năm 1966, lần đầu tiên Ivo Vasiljev được gặp Bác Hồ tại Hà Nội. Đó là lần ông làm phiên dịch cho đoàn đại biểu Chính phủ Tiệp Khắc sang thăm Việt Nam. Lần ấy ông có ấn tượng rất sâu sắc về Bác Hồ, đặc biệt là sự ân cần thăm hỏi của Người đối với người phiên dịch Ivo Vasiljev.

Từ ấn tượng sâu sắc được gặp Bác Hồ lần ấy, khoảng năm 1982 ông Ivo Vasiljev tìm hiểu và quyết định bắt đầu dịch Nhật ký trong tù.

Ivo Vasiljev cho biết ông không có năng khiếu thơ nên chỉ dịch ý từ nguyên bản, sau đó một nhà thơ Tiệp Khắc đã dịch sang thơ bằng tiếng Séc, một năm thì việc dịch xong xuôi. Trong cả tập thơ Nhật ký trong tù, ông Ivo Vasiljev thích nhất 2 bài thơ Nghe tiếng giã gạo và bài Học đánh cờ.

Giáo sư cho rằng cả tập thơ Nhật ký trong tù toát lên sự khao khát tự do cháy bỏng không chỉ của tác giả bị cầm tù mà còn của cả dân tộc của Người đang phải sống dưới ách đô hộ của ngoại bang. Ivo Vasiljev cho rằng Bác Hồ không chỉ là một nhà chính trị tài ba, một lãnh tụ vĩ đại mà còn là một người có sự hiểu biết rất sâu sắc về con người.

Theo Nguyễn Đại Phượng
Tiền phong
dantri.com.vn

Những giờ phút cuối đời của Bác Hồ

Suốt 45 năm say mê theo đuổi sự nghiệp điện ảnh, hai tác phẩm mà đạo diễn Phạm Quốc Vinh mãn nguyện nhất và mãi mãi không thể quên là “Những giờ phút cuối đời Bác Hồ” và “Bác đi chiến dịch”.

Năm 1989, khi UNESCO chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, ông Vinh đang chuẩn bị nghỉ hưu thì được Điện ảnh Quân đội và Bảo tàng Hồ Chí Minh giao một trách nhiệm trọng đại trong đời làm điện ảnh: Hoàn thành bộ phim về những giây phút cuối cùng của Bác Hồ ở thời điểm sau 20 năm kể từ ngày Bác ra đi.

Suốt 20 năm trước đó, những thước phim tư liệu do 2 nhà quay phim quân đội Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà thực hiện về những ngày cuối cùng của Bác cho đến khi các chuyên gia Liên Xô (cũ) thực hiện kỹ thuật gìn giữ, bảo quản thi thể của Người đã được cất giữ, bảo quản cẩn mật, và lúc này cần phải dựng lại thành phim hoàn chỉnh để lần đầu tiên công bố trước nhân dân.

Trước khi bắt tay làm phim, ông Vinh đã tìm gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Vũ Kỳ – Thư ký của Bác, để tìm thêm tư liệu cần thiết. Và từng dòng ký ức dần hiện ra…

Bác bắt đầu lâm bệnh ngày 12/8/1969. Hôm ấy, trời Hà Nội đã vào thu, se lạnh. Hay tin phái đoàn nước ta từ cuộc đàm phán Paris về, Bác chủ động đến thăm, làm việc.

Đến ngày 28/8, sức khỏe của Bác bắt đầu suy giảm nghiêm trọng, từ nhà sàn Người phải chuyển xuống tầng trệt. Tuy vậy Người vẫn không ngừng lo toan cho vận mệnh quốc gia, cho cuộc sống của nhân dân…

Đương khi nước sông Hồng dâng cao, sợ cơn lũ có đột biến, các đồng chí gần gũi chăm sóc ngỏ ý muốn đưa Bác tới nơi an toàn, nhưng Bác nói: “Tôi không thể xa dân”.

Các vị lãnh đạo Đảng lúc ấy hằng ngày túc trực bên giường Bác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỗi ngày vào thăm Bác ba lần. Trong cuốn sổ tay, đại tướng ghi rõ từng ngày:

– 24/8/1969 trở đi Bác mệt nặng.

– 26/8/1969: Khi vào thăm, giơ tay chào, Bác chào lại rồi bảo: “Chú về nghỉ”.

– 28/8/1969: Buổi chiều Bác hỏi việc chuẩn bị Quốc khánh 2/9 và dặn đồng chí Phạm Văn Đồng tổ chức lễ kỷ niệm cho thật vui, thật tốt. Tối có bắn pháo hoa nữa.

Dù cuộc sống chỉ còn gang tấc, Bác vẫn muốn ra dự lễ để gặp đồng bào năm, mười phút.

Bác đã trao đổi với đồng chí Lê Văn Lương và đồng chí Vũ Kỳ rất cụ thể: “Bác sẽ buộc khăn che cổ, Bác ra ngồi sẵn trong đoàn chủ tịch rồi mới kéo màn che của hội trường và bắt đầu cuộc mittinh. Bác sẽ nói sao cho đồng bào không biết là Bác đau”.

Thế nhưng, trên lễ đài kỷ niệm Quốc khánh ngày 2/9/1969 Người đã không thể có mặt! Bác Hồ đã trút hơi thở cuối cùng lúc 9 giờ 47 ngày 2/9/1969, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho tất cả nhân dân VN đến tận hôm nay.

Đến sáng 1/9/1969, Bác đã rất mệt. Phải đến 16 giờ cùng ngày 2 quay phim Nguyễn Thanh Xuân, Trần Anh Trà mới lần đầu tiên được vào hẳn phòng bệnh để ghi hình Bác trong những giờ phút cuối cùng quanh sự vây bọc, canh nom, lặng im, thương xót, cảm động của các vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương…

Cho đến sáng 2/9/1969, khi tất cả các đồng chí cách mạng, học trò, người thân cận… sờ lên ngực, lên trán Bác và… cùng bật khóc!

Đạo diễn Phạm Quốc Vinh.
Ông Vinh kể lại: “Thanh Xuân giơ máy lên mà nước mắt cứ giàn giụa làm ướt cả thước ngắm của máy quay. Trong giây phút đó anh ấy chỉ còn biết để ống kính góc rộng và cứ thế giơ lên bấm máy”.

Tất cả đã lùi xa 20 năm nhưng ông Vinh vẫn ngỡ như giây phút lịch sử ấy mới vừa xảy ra hôm qua. Trong vai trò một đạo diễn, ông cùng các đồng sự phải chọn lọc những tư liệu, cảnh quay súc tích, đắt giá nhất của 2 nhà quay phim Thanh Xuân, Anh Trà và của chính ông quay được hình ảnh Bác trong những năm trước đó để làm một bộ phim để đời.

Từ những tư liệu cũ, ông Vinh thổi vào sự sáng tạo và với niềm rung cảm chân thành trong tim ông.

Với những cảnh Bác nằm bên dưới ngôi nhà sàn, đôi mắt nhìn đăm đăm ra xa, khi miền Bắc đương mùa nước lụt, ông Vinh liên tưởng ngay những thước phim tư liệu cũ ông quay những năm trước khi Bác còn khỏe, trong cảnh nước lụt mênh mang Người xắn quần, chân thấp chân cao bước lên cầu Long Biên để cùng bà con chống lụt.

Rồi ông chợt nghĩ đến những gì đã mãi mãi trở thành lần cuối cùng của đời Bác: bài viết cuối cùng về “người tốt việc tốt” Bác còn để lại, cây đa cuối cùng Bác trồng ở xã Vật Lại (Ba Vì, Hà Tây), buổi sinh hoạt vui cuối cùng với các cháu thiếu nhi… Cảnh ngôi nhà sàn đã buông rèm, căn phòng với giường chiếu đơn sơ của Người giờ trở nên trống lạnh với những kỷ vật nằm im, lưu giữ lại một phần lịch sử…

Kết thúc phim, ông Vinh muốn nhấn mạnh sự sống mãi của Hồ Chủ tịch trong lòng nhân dân VN bằng hình ảnh cuộc sống bình dị, thường ngày của Bác quanh ngôi nhà sàn thân yêu khi bài hát Bác Hồ, một tình yêu bao la cất lên.

“Những giờ phút cuối đời Bác Hồ” của đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã được Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp duyệt ngày 17/4/1989; sau đó phim được tặng các bạn bè quốc tế và từ đó đến nay được chiếu thường xuyên tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thủ đô.

Năm 1990, chỉ với hơn 20 bức ảnh tư liệu của nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp tại chiến dịch biên giới năm 1950 cộng với một vài cảnh tài liệu do Phan Nghiêm quay được cùng năm đó, đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã sử dụng lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để dựng nên những cảnh phim rất sinh động trong Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới.

Một số nhà phê bình đánh giá đây là bộ phim tài liệu vào loại đặc biệt nhất trong các phim tài liệu VN do đạo diễn đã tìm được cách làm phim rất sáng tạo trong bối cảnh nguồn tư liệu có được quá ít ỏi.

Từ năm 1960 đến nay, đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã thực hiện tổng cộng 101 bộ phim, trong đó có 71 phim nhựa 35mm; năm phim nhựa 16mm.

Những tác phẩm mà ông trong vai trò biên kịch và đạo diễn đến nay vẫn còn nguyên giá trị như: Tiếng hát những người chiến thắng (1974), Ngọn cờ chiến thắng, Phía nam sông Hậu (1975), Chiến thắng Tà Xanh (1979), Lính Mỹ lại đến Hà Nội (1989), Bác nhớ miền Nam (1992), Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1993), Chiếu văn chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2004)…

Hiện đã ở tuổi 79, nhưng ông vẫn còn hợp tác với Điện ảnh Quân đội làm phim tài liệu về đề tài chiến tranh cách mạng…

Những cuốn phim tư liệu nay xếp chật trong ngôi nhà đạm bạc của ông ở phố Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội) và được bảo quản bằng cách cứ 2 – 3 tháng lại một lần rang gạo bỏ vào các túi để chống ẩm!

Theo Đoài Sơn
Tuổi trẻ Chủ nhật
dantri.com.vn

Người đúc tượng Bác Hồ nhiều nhất Việt Nam

(Dân trí) – Dân trong làng Ngũ Xã, Ba Đình (Hà Nội), nói nhiều đến ông Nguyễn Văn Ứng vì cái tài đúc tượng danh nhân bằng đồng, đặc biệt là tượng Bác Hồ. Ông đã táo bạo giữ lửa cho làng nghề ấy bằng cách thế chấp nhà để lấy tiền đầu tư vào việc đúc các sản phẩm bằng đồng.

Vực dậy một làng nghề

Nghề đúc đồng làng Ngũ Xã đã có từ hơn bốn trăm năm về trước (ngày 1/11 âm lịch hàng năm là ngày giỗ tổ của làng). Ông tổ nghề đúc đồng là Quốc sư Nguyễn Minh Không, do tài cao đức trọng, giỏi về đúc đồng và tinh thông nghề thuốc để cứu dân độ thế nên đã được vua Lý Thái Tổ phong là Lý Triều Quốc Sư.

Thời gian qua đi cùng với bao thăng trầm biến cố, làng Ngũ Xã đã ít dần đi những người đúc đồng. Ngày nay, chỉ còn lại vài hộ giữ nghề bằng cách đúc những đồ thờ cúng như tượng phật, chuông, lư hương, đỉnh, nến, lọ… sự mai một ấy như một tổn thất lớn của làng những năm gần đây. Ông Ứng lớn lên đã nghe ông bà cha mẹ kể về nghề. Thời gian qua đi cùng với bao binh biến loạn lạc nhưng cái nghề ấy đã thấm vào ông lúc nào không hay và ông chỉ biết đón nhận nó như một cơ duyên vậy.

Còn nhớ năm 1968 khi trận Mậu Thân đang diễn ra ác liệt, những lúc tạm ngưng tiếng súng, anh bộ đội Nguyễn Văn Ứng lại nhớ về Hà Nội, nhớ về cái nghề đúc đồng truyền thống của làng mình. Anh mang chuyện ấy kể cho các bạn cùng nghe một cách rành rọt, có đồng đội thấy thú vị liền nói vui rằng bao giờ đất nước thống nhất cho mình về Hà Nội học nghề này nhé. Sau khi rời quân ngũ ông trở về làng với mong muốn bằng chính đôi tay của mình sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị đích thực.

Ông vào nghề với hai bàn tay trắng, khó khăn cứ thế nối tiếp nhau, ông phải quay sang đúc nhôm để lấy vài chục ngàn nuôi gia đình sống qua ngày. Mặt bằng nhà xưởng chỉ có 40m2. Nhưng rồi trong cái khó ló cái khôn, ông đã tính chuyện “giật gấu vá vai” bằng cách nhận những hợp đồng nhỏ như đúc lư hương, tiền đồng, đỉnh đồng, tượng Phật cỡ nhỏ… lấy tiền trang trải trước mắt, bên cạnh đó ông có thời gian đào tạo đội ngũ thợ trở thành những đôi tay tài hoa sau này. Đó là công tác chuẩn bị cho một kế hoạch lâu dài.

Ông mạnh dạn tham gia các triển lãm, hội thảo… để giới thiệu các tác phẩm của mình. Minh chứng cho thành công đó là việc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tặng giải thưởng “kỹ năng thủ công tinh xảo” với tác phẩm lọ củ tỏi đúc đồng khảm tam khí do cơ sở đúc đồng Hoa Mai của ông làm. Như được tiếp thêm sức mạnh, lần lượt những tác phẩm quy mô ra đời tại xưởng của ông. Số tiền vay được do thế chấp nhà, ông đầu tư thêm vào việc thuê 1000m2 đất ở Yên Phụ, Tây Hồ, đầu tư máy mài, máy tiện, xây lò nung, mua vật liệu… và bắt đầu nhận những hợp đồng lớn với trị giá hàng trăm triệu đồng.

Cái thần, cái hồn ở mỗi chi tiết

Ông lẳng lặng bước về phía những người thợ đang hoàn thiện những pho tượng Bác Hồ với vẻ mặt không hài lòng khi thấy thợ hơi mạnh tay ở chi tiết chòm râu. Đối với những bức tượng danh nhân mà đặc biệt là tượng Bác Hồ thì không được cẩu thả, phân tán tư tưởng. Cần phải tập trung cao độ, sao cho phải toát lên vẻ uy nghi, phong thái mà lại gần gũi từ chòm râu, ánh mắt. Mẫu mang đến mà xấu thì ông không làm dẫu công có cao đến mấy. Cẩu thả, ẩu là mang tiếng cả đời.

Nghề này làm hết đời cũng không thấy mình giỏi, có thợ theo nhà ông làm nghề gần 20 năm vậy mà cũng đành giải nghệ. Còn Long, người con nuôi của ông thì từng nghiện ma tuý, đến với ông đã cai nghiện thành công, giờ đây Long trở thành thợ giỏi.

Khi nhận được yêu cầu đúc tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 1,7m lần đầu tiên dát vàng để Đảng bộ và nhân dân Thủ đô kính dâng lên kỳ đại hội Đảng ông vừa thấy vinh dự vừa lo lắng nhiều, đêm nhưng cuối cùng đã hoàn thành tốt đẹp. Năm 2003, tiếp tục hoàn thành và kính dâng tượng Bác tại Khu di tích lịch sử Ba Đình. Năm 2004, Ban Giám đốc khu di tích tiếp tục đặt hàng 200 pho tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh để kính biếu các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các vị khách quốc tế nhân dịp 35 năm ngày Bác đi xa… Ông không nhớ nổi mình đã đúc bao nhiêu tượng Bác Hồ nữa, chỉ biết rằng nhiều lắm nhưng lần nào đúc ông cũng thấy niềm vinh dự và cứ hồi hộp như mình đúc pho tượng đầu tiên.

Cơ sở của ông vừa hoàn thiện 2 đơn hàng của chùa Đông và chùa Phố tỉnh Hưng Yên, tác phẩm tượng Phật có khối lượng 2 tấn với giá 300 triệu đồng. Trong năm nay, ông đã mang hai quả chuông nặng 30kg/quả sang Australia để trưng bày, mọi người kể cả người Việt định cư tại đây cũng lấy làm thích thú gửi thư về khen ông và mong muốn được mua những chiếc chuông đó làm quà tặng cho các nhà chùa. “Tôi mong sản phẩm của mình ra nước ngoài, sẽ tạo đà cho làng nghề vươn vai sau kỳ nghỉ dài” – Đó là mong muốn của ông.

Tiến tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã cấp cho gia đình ông 82,4m2 đất để xây dựng phòng trưng bày các sản phẩm làng nghề. Dự kiến đầu xuân này sẽ trưng bày những sản phẩm làng nghề để giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước. Tiền thế chấp nhà ông chủ yếu dồn vào việc xây dựng phòng trưng bày. Khó khăn cũng đã qua, 15 thợ luôn có việc làm ổn định với mức lương từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng một tháng, tay nghề họ ngày càng vững chắc.

Nguyễn Đông Hà
dantri.com.vn

Bác Hồ lần đầu về thăm quê

(Dân trí) – Ngày 14/6 năm Đinh Hợi này là chẵn 50 năm ngày Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất, cũng là ngót 100 năm từ ngày Bác rời quê hương làng Sen bôn ba đi khắp góc bể chân trời.

Bác Hồ về thăm quê ở Kim Liên, Nghệ An ngày 8-12-1961

Nghe tin Bác về thăm quê, không riêng dân làng Sen quê nội, Hoàng Trù quê ngoại mà nhân dân cả huyện Nam Đàn, cả tỉnh Nghệ An đều náo nức mong chờ. Thời điểm đó miền Bắc mới được giải phóng, vừa bước qua thời kỳ 2 năm khôi phục kinh tế và văn hoá, hàn gắn vết thương chiến tranh; đời sống nhân dân còn nghèo, cơm ăn còn bữa có bữa không, áo quần chưa thật lành, nhưng đã hạnh phúc trong độc lập, tự do. Tin Bác về, từ trẻ em đến người già, ai ai cũng náo nức, phấn khởi, mặc những bộ quần áo đẹp nhất, mới nhất đi đón người con quê hương – lãnh tụ kính yêu của mình.

Buổi sáng ngày tháng sáu ấy trời nắng chan hoà. Những tia nắng như cùng reo vui chiếu rọi lên từng nét mặt chan chứa vui sướng tự hào cuồn cuộn đổ về Nam Đàn, về Kim Liên.
Bác kia rồi! Trong bộ quần áo ka ki bạc màu, đôi dép cao su mòn gót, Bác tươi cười vẫy chào nhân dân. Cả rừng người hò reo mừng đón Bác.

Một đồng chí lãnh đạo tỉnh Nghệ An trịnh trọng mời Bác đi vào nhà khách mới được xây cách đấy không lâu, nhưng Bác ngăn lại:

– Tôi xa nhà, xa quê đã lâu nay mới có dịp trở về, tôi phải về thăm nhà tôi trước đã. Nhà tiếp khách là để dành cho khách, tôi có phải là khách đâu!

Nói rồi Bác rẽ đi về lối nhà mình. Đến trước chiếc cổng tre dẫn lối đi vào nhà ngang thấy hàng chữ ghi trên tấm bảng nhỏ “nhà Bác Hồ”, Bác quay lại bảo với mọi người:

– Đây là nhà Cụ phó bảng chứ có phải là của Bác Hồ đâu!

Đúng vậy. Ngôi nhà gỗ 5 gian lợp tranh là của dân làng Kim Liên xuất quĩ công mua và dựng mừng quan đại khoa Nguyễn Sinh Sắc vừa thi đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901. Người anh của Cụ là Nguyễn Sinh Trợ cùng bỏ tiền dựng 3 gian nhà nhỏ dùng làm nhà ngang, mừng người em sắp vinh qui bái tổ.

Bác đứng tần ngần, nhìn bao quát 2 ngôi nhà, sân vườn. Khi nghe tiếng người cán bộ hướng dẫn mời Bác đi vào nhà, Bác ngập ngừng trong vài thoáng rồi thong thả đi dọc theo hàng rào bước đến góc vườn rẽ phải, theo hàng rào dâm bụt đi thẳng vào sân:

– Các chú mở lối đi vừa rồi là sai, cổng nhà Cụ Phó bảng ở hướng đông này chứ!

Bác dừng lại giữa sân, như muốn thu toàn bộ cảnh quan vào đôi mắt. Người chỉ cho những người đi theo đâu là nơi trồng cây ổi, chỗ nào có cây thanh yên đã mọc trên mảnh vườn xưa của nhà Bác. Bác đi vào nhà lớn, đi hết năm gian, đi đến đâu Bác chỉ cho mọi người vị trí đặt, để các đồ vật theo ký ức của Người.

Ở gian thứ nhất có kê bộ phản lớn làm nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc tiếp khách. Chính tại nơi đây, Nguyễn Sinh Cung đã được nghe không ít cuộc đàm đạo của các chí sĩ yêu nước, những người đồng chí hướng với thân phụ mình. Bàn thờ được đặt ở gian thứ 2. Chiếc bàn thờ này không có chân mà nó được đỡ trên 2 tấm gỗ đóng ống vào cột nhà. Bàn thờ là một tấm liếp bằng nứa trên trải chiếu mộc. Đồ thờ đều làm bằng gỗ mộc không sơn son thiếp vàng. Gian thứ 3 được quây kín thành một gian buồng giành cho chị gái bác là Nguyễn Thị Thanh tức Bạch Liên. Gian thứ 4 giành riêng để Cụ Phó bảng đọc sách, nghỉ ngơi. Ngoài bộ phản còn có một cái án thư. Gian thứ 5 cũng được kê một bộ phản dành riêng cho 2 anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung. Bác chỉ cho mọi người biết chiếc võng đay được mắc ở đâu, cái rương gỗ đựng thóc kê ở vị trí nào, cái tủ 2 ngăn đựng chén bát được đặt ở đâu… Đi hết nhà lớn, Bác bước xuống nhà ngang, ngày trước dùng để nấu nướng và để đồ.

Bác lại đi ra sân, đứng ngắm lại ngôi nhà đã gắn bó một giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời Bác. Ngôi nhà này là một kỷ vật chứng kiến quá trình lao động, học tập và trưởng thành từ năm mười một tuổi đến năm mười sáu tuổi của Bác, là nơi ghi dấu những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước, về nhận thức xã hội và ghi dấu những hoạt động cứu nước bước đầu của Người.

Đã 50 năm trôi qua, những ai được vinh dự có mặt trong giờ phút thiên liêng của buổi sáng ngày 14/6/1957, hẳn không quên lời Bác:

– Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do.

Quê hương nghĩ nặng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình

Nguyễn Hoàng Tửu
(ghi theo Vũ Kỳ)
dantri.com.vn

Gặp người 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

(Dân trí) – Một ngày tháng 6, ông Nguyễn Đình Ngọc, người lái chiếc xe Com-măng-ca BKS BAA400 nhận lệnh của cấp trên: Chở một cán bộ cấp cao từ Hà Nội về thăm quê. Khi vị khách bước lên xe, ông mới ngỡ ngàng nhận ra: Bác Hồ.

Giờ đã ở cái tuổi xấp xỉ 100 nhưng cứ nhớ lại lần được chở Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê, cụ Ngọc vẫn thấy tự hào lắm.

Nhà cụ Ngọc ở phía sau Bến xe Vinh thuộc khối 4, phường Lê Lợi, TP Vinh, Nghệ An. Để vào được nhà cụ phải đi qua một đoạn đường đất, cỏ cây mọc lút hai bên. Tiếp chúng tôi là anh con trai út của cụ, Nguyễn Đình Hằng (sinh năm 1953). “Hơn 10 năm ni cha tui chẳng tự đi lại được vì bị tai nạn bể đôi đầu gối chân phải. Muốn đi mô lại phải đỡ thôi nhưng ông còn minh mẫn lắm”, anh Hằng mở đầu câu chuyện.

Cụ Ngọc ngồi bên cạnh, mái tóc đã bạc trắng, đôi mắt trõm sâu chỉ còn nhìn thấy mờ mờ nhưng đôi tai còn rất tinh tường. Cụ tiếp lời: “Lúc đó xe cộ đông lắm. Xe tui làm nhiệm vụ bảo vệ, còn xe chở Bác là xe khác. Nhưng Bác nỏ đi mà lại lên chiếc xe cọc cạch tui ngồi. Bác vận đồ rất giản dị. Cả hai lần Bác về thăm quê đều thế. Tui run và bất ngờ lắm vì trước đó nỏ ai thông báo là Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê mô”.

“Thế Bác có nói chuyện chi với cụ không?”. “Tui chỉ biết cầm chắc tay lái vì nghĩ có răng Bác mới lên xe mình. Lỡ có chuyện chi thì dở. Bác ngồi phía sau xe chẳng nói chi cả. Mà có hỏi tui mô mà nói”.

Cụ Nguyễn Đình Ngọc sinh năm 1909, quê gốc Thọ Hạc, Đông Sơn (nay là TP Thanh Hoá). Năm 1946 cụ vào Nghĩa Đàn (Nghệ An) tham gia kháng chiến. Năm 1954 làm lính lái xe chở hàng tiếp viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau đó lại được nhận nhiệm vụ chở đoàn Ấn Độ về thực hiện hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam. Năm 1955, làm lái xe cho Tỉnh uỷ Nghệ An chuyên chở công văn, tài liệu hoả tốc đi khắp nơi.

Cụ Ngọc có 5 người con 3 trai, 2 gái. Năm 1980 một người con đã hy sinh. Hiện cụ đang ở với người con út.

Hồi tưởng lại ngày đáng nhớ, đó là ngày 12/6/1957. Trước đó, anh lính lái xe Nguyễn Đình Ngọc chỉ nghe về Bác Hồ qua những câu chuyện người khác kể, qua đài báo. Mong ước được gặp vĩ nhân ngỡ chẳng bao giờ thành hiện thực. Hôm đó lãnh đạo Tỉnh uỷ Nghệ An họp đột xuất và giao nhiệm vụ chuẩn bị đón Đoàn khách trung ương về, ngoài ra không tiết lộ thêm thông tin gì.

Sáng hôm sau, mọi người tập trung đông đủ tại sân bay Vinh đón khách. Bác Hồ giản dị trong bộ trang phục kaki cũ, bước xuống từ chiếc trực thăng trong sự ngỡ ngàng của mọi người. Vinh dự hơn, tự hào hơn cho ông Ngọc là chiếc xe Com-măng-ca ông lái lại được Bác chọn ngồi. Bỗng nhiên ông Ngọc thấy mình thật hãnh diện, xen lẫn cảm giác căng thẳng vì đảm trách một nhiệm vụ lớn lao.

Chiếc xe của ông Ngọc đưa Bác đi một số địa điểm trong TP Vinh rồi chở Bác Hồ về thăm quê nhà Kim Liên. “Cả đoạn đường về quê, muốn được nói chuyện với Bác, hỏi thăm sức khoẻ Bác nhưng sao chẳng nhích môi được, chỉ còn biết chăm chăm vào tay lái” – cụ Ngọc tiếc nuối.

Lần thứ hai, hạnh phúc lại đến với ông Ngọc khi lại được là người chở Bác về thăm quê ngày 8/12/1961. Nhớ lại lần đó, cụ Ngọc còn rưng rưng: “Lần đó Bác đã không còn khoẻ, tóc đã bạc nhiều. Bác căn dặn nhiều lắm… Không ngờ đó lại lần cuối cùng Bác về thăm nơi chôn rau cắt rốn”.

Sau những năm dài triền miên trên các nẻo đường, năm 1971 cụ Ngọc nghỉ hưu. Nhưng suốt gần 15 năm sau đó cụ vẫn không hề ngơi nghỉ vì UBND TP Vinh mời cụ tham gia làm Hội thẩm nhân dân. Nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng hàng ngày cụ Ngọc vẫn luôn nhắc nhở con cháu gìn giữ hàng chục giấy khen, bằng khen từ Uỷ ban kháng chiến, UBND tỉnh Nghệ An… như những báu vật.

Và có một ký ức cụ mãi mãi không bao giờ quên, đó là 2 lần cụ vinh dự được chở Bác Hồ kính yêu về thăm quê hương.

Đặng Nguyên Nghĩa
dantri.com.vn

Chuyện “bé Vách” hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ

22 tuổi được phong Anh hùng lao động, và hai năm sau trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

17 tuổi, cô đoàn viên Phạm Thị Vách (sinh năm 1940, tại xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên) đã nổi tiếng trong các phong trào thủy lợi “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “nghiêng đồng đổ nước ra sông”.

Tuổi đôi mươi, Vách là kiện tướng thủy lợi. 22 tuổi được phong Anh hùng lao động, và hai năm sau trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

Tuổi gần thất thập nhưng nữ anh hùng Phạm Thị Vách vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh, vẫn tinh anh phụ giúp con dâu bán hàng ngay tại nhà ở thị trấn Lương Bằng (huyện Kim Động). Nhớ lại chuyện 50 năm trước, người đàn bà nhỏ nhắn đưa tay vuốt hai khóe miệng thắm đỏ quết trầu, khoe hàm răng hạt na đen nhánh, chậm rãi kể…

Cuối năm 1958, khi về thăm đại công trường Bắc Hưng Hải, Bác Hồ nghe chuyện cô kiện tướng thủy lợi, đã gửi huy hiệu nhờ bí thư tỉnh ủy Hưng Yên tặng lại cho Vách…

Chỉ hơn một năm sau, năm 1960, Bác lại về thăm Hưng Yên và đích thân Người trao huy hiệu lần hai của mình cho Vách. “Tôi không thể nào quên được ngày hôm đó. Bác về Hưng Yên (khi đó luôn dẫn đầu miền Bắc về làm thủy lợi) dự Hội nghị tổng kết công tác thủy lợi toàn miền Bắc. Sau khi nghe báo cáo thành tích làm thủy lợi, Bác hỏi bí thư tỉnh ủy Lê Quí Quỳnh về những điển hình nữ có nhiều không.

Bí thư Quỳnh dẫn tôi lên, Bác cười tươi lắm, gọi tôi là “bé Vách”. Rồi Bác hỏi hội nghị: “Mọi người thấy thành tích của bé Vách có tốt không? Mọi người có đồng ý để Bác tặng bé Vách huy hiệu lần thứ hai không?”. Cả hội trường đều hô to “đồng ý ạ”. Không chỉ trực tiếp gắn huy hiệu trước hội nghị, lời dặn của Bác khi tặng huy hiệu cho bà làm bà nhớ mãi: “Cháu làm tốt rồi, học tập tốt rồi thì phải làm tốt hơn nữa, học tốt hơn nữa. Phải gần gũi lắng nghe quần chúng, học tập quần chúng để mà làm”.

Tuổi gần “thất thập” nhưng AHLĐ Phạm Thị Vách vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và tinh anh.

Theo lời Bác, cô thôn nữ Phạm Thị Vách quyết đi học thêm. Học bổ túc cấp III xong, cô được bầu giữ chức chủ nhiệm HTX, rồi chủ tịch xã, bí thư đảng ủy xã khi tuổi mới chỉ ngoài đôi mươi. Vinh dự hơn, tháng 5/1962, Vách được bầu đi dự Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần 3 tại Hà Nội. Tại đây, một lần nữa “bé Vách” lại được gặp Bác Hồ. Đêm trước đại hội, Bác mời các đại biểu trẻ, đại biểu nữ đến Phủ Chủ tịch, “đãi” kẹo.

Thấy Vách rụt rè, Bác cười tươi: “Bé thế mà là anh hùng đấy, giỏi quá. Nhưng sao bé Vách không ăn kẹo đi, các cháu trai khác ăn mất phần bây giờ”. Rồi Bác ân cần hỏi chuyện chồng con của Vách. Vách trả lời: “Cháu đợi nước nhà thống nhất mới tính”. Bác cười bảo: “Cháu là con trai như mấy anh kia đâu mà đợi. Con gái có thì, lo làm, lo cho dân thì cũng phải lấy chồng chứ”.

Tại đại hội, với những thành tích đóng góp trong công tác thủy lợi, nhất là những sáng kiến và liên tục là “kiện tướng”, chiến sĩ thi đua bốn năm liền, Phạm Thị Vách đã được phong Anh hùng lao động – và chị là người duy nhất (lại là nữ) trong số hàng vạn người tham gia “đại công trường” thủy nông Bắc Hưng Hải được đón nhận vinh dự ấy khi mới tròn 22 tuổi. Cũng năm ấy, Vách được đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản.

Theo Đức Bình, Đình Tú
Tuổi Trẻ
dantri.com.vn