Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Trưng bày chuyên cơ từng chở Bác Hồ

Sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu, chiếc chuyên cơ này sẽ được di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Quân chủng PKKQ đã thành lập đoàn công tác tiến hành khảo sát và xác minh lý lịch khoa học cho chiếc máy bay IL-14 mang số hiệu VN-C 516 hiện đang lưu giữ tại Trung đoàn Không quân 918-Quân chủng PKKQ.

Chiếc IL-14 số hiệu VN-C 516 là một trong số những máy bay do chính phủ Liên Xô tặng nhân dân Việt Nam từ năm 1958, được Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Chiếc IL-14 này có ý nghĩa đặc biệt vì nó là một trong những chiếc chuyên cơ Bác Hồ từng sử dụng lúc sinh thời.

Chiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiệnChiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiện

Thượng tá Lê Tôn Văn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo đảm kỹ thuật hàng không Trung đoàn Không quân 918 cho biết: “Chúng tôi đã kiểm tra toàn bộ các thông số kĩ thuật của chiếc IL-14. Hiện nay, công tác phục hồi nguyên trạng đang được thực hiện và dự kiến đến hết quý 1 năm 2012 sẽ hoàn thành”.

Theo kết quả làm việc gần đây nhất giữa Bảo tàng Lịch sử Quân sự với Quân chủng PKKQ, sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu cho chiếc chuyên cơ này, hai bên sẽ tiến hành bàn giao và di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Đây là một hiện vật có giá trị sẽ được Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trưng bày đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2012).

(Theo QĐND)
Vkyno (st)

Sẽ sửa phiên âm tên luật sư bào chữa cho Bác Hồ?

Gia đình luật sư Lôdơbi phải nhiều lần lên tiếng đính chính về cách đọc tên chưa chuẩn xác.

Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Chu Đức Tính, vừa lên tiếng đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa tên phiên âm trong sách giáo khoa của luật sư đã bào chữa thành công cho Tống Văn Sơ (tức Bác Hồ) tại tòa án Hồng Kông năm 1931.

Theo ông Chu Đức Tính, gia đình luật sư luôn gọi tên ông là Lôdơbi, Bác Hồ cũng từng phát âm như vậy để nói về vị luật sư ân nhân của mình. Tuy nhiên, trong các cuốn sách giáo khoa do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành, tên của luật sư lại được phiên âm thành Lôdơbai.

Cách phiên âm chưa chuẩn xác từ sách giáo khoa làm nhiều người Việt Nam đọc sai tên luật sư Lôdơbi, khiến gia đình luật sư phải nhiều lần lên tiếng đính chính.

(Theo QĐND)
Vkyno (st)

Gặp người giữ kỷ lục thể hiện hình ảnh Bác Hồ

nguoi the hien ha BH
Hình tượng Bác trong cuộc trao giải thơ

tại đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm đầu năm 2013

Mặc dù đã ở tuổi xưa nay hiếm nhưng nghệ sĩ Văn Tân vẫn đi khắp nơi, mang hình ảnh Bác Hồ tới công chúng. Chúng tôi gặp ông tại cuộc trao giải thơ tại Khu đền thờ danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo – TP Hải Phòng. Rất đông các tác giả được giải và người yêu thơ tham dự buổi lễ đứng bật dậy bồi hồi, xúc động khi “Bác Hồ” (do nghệ sĩ Văn Tân thể hiện) bước ra vẫy chào và chúc mừng những tác giả được giải. Giọng nói của “Bác” ấm áp, cử chỉ bình dị thân tình đã khiến cho buổi lễ trang trọng và sôi nổi hẳn lên.

Sau buổi lễ, nghệ sĩ Văn Tân đã dành thời gian trò chuyện với những người quan tâm tới công việc đóng vai Bác Hồ suốt mấy chục năm qua của mình. Năm 1970, sau khi Bác Hồ đã qua đời, Đảng ta đã có chủ trương đưa hình ảnh Bác lên sân khấu. Nhân dịp này nghệ sĩ Văn Tân lúc đó là diễn viên ở đoàn kịch Hà Bắc đã mạnh dạn nghiên cứu đóng vai Bác Hồ. May mắn của Văn Tân là hai lần được gặp Bác trước khi vào vai Bác. Đó là vào năm 1961 và 1963 trên chính quê hương. Từ đó hình ảnh Bác luôn hiện lên trong tâm trí của người nghệ sỹ và ông quyết tâm thể hiện ước mơ lớn của mình là đóng vai Bác Hồ trên sân khấu. Ông lấy cây đay ngâm kỹ, đập dập dùng sợi tết thành râu, tóc giả, tự hóa trang, tự viết hoạt cảnh, tập diễn với đoàn kịch Hà Bắc để thể hiện hình tượng Bác Hồ. Kết quả thật bất ngờ, rất nhiều người xem xong đã công nhận Văn Tân hóa trang giống Bác và diễn cũng có nhiều nét giống Bác. Đó là những động viên, khích lệ để Văn Tân càng tự tin, ra sức nghiên cứu sâu hơn ngôn ngữ, động tác của Bác.

Để có hình thức giống Bác nghệ sĩ Văn Tân đã phải hoá trang tất cả 17 chi tiết trên khuôn mặt như mũi, trán, cằm, râu… Lần đầu tiên hoá trang thành Bác Hồ các chuyên gia đã làm mất 10 tiếng đồng hồ mới xong. Riêng việc học nói giọng và cử chỉ đi đứng của Bác cũng mất rất nhiều thời gian, nhất là luyện ánh nhìn trìu mến thân thương của Người là vô cùng khó. Ngoài ra nghệ sĩ Văn Tân còn được đích thân cụ Hà Huy Giáp – nguyên Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh giảng giải cặn kẽ những đức tính của Bác để cảm nhận được từ trong ra ngoài một hình tượng vĩ đại mỗi khi nhập vai.

Nghệ sĩ Văn Tân nói: “Tôi đã xem đi xem lại hàng nghìn lần những băng đĩa về Bác Hồ để bắt chước cho thật giống, cứ có thời gian rảnh rỗi là tôi lại tập nói giọng của Người. Giọng Bác Hồ là giọng miền Trung pha Bắc và trầm ấm, còn giọng của tôi lại giọng cao nên rất khó bắt chước, tuy nhiên với tấm lòng kính yêu Bác tôi đã vượt qua, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Mặc dù đã đóng vai Bác Hồ hàng nghìn lần nhưng với nghệ sĩ Văn Tân thì lần nào cũng như là lần đầu tiên nhập vai vậy. Mỗi khi ra sân khấu giơ tay chào khán giả là tiếng hoan hô cổ vũ lại vang lên khiến cho buổi biểu diễn trở nên sống động lạ thường.

Lê Tự
Theo Báo Đại Đoàn Kết
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Tài chiêu hiền đãi sĩ của Bác Hồ

Bác Hồ đã nói: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý.

Nhân cách và ứng xử của Bác Hồ không chỉ thu hút trí thức kiều bào về nước xây dựng quê hương mà còn động viên họ một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc.

Cách sử dụng nhân tài của Bác Hồ là một bài học sâu sắc đối với những người và cơ quan quản lý sử dụng cán bộ, công chức trong hiện tại và cả tương lai. Xin giới thiệu bài viết của giáo sư Nguyễn Hoa Thịnh về vấn đề này.

’‘Dụng nhân như dụng mộc”

Những ngày đầu cách mạng, Bác đã mời về nước nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Họ có chung ba đặc điểm: yêu nước kiên trung, có kiến thức uyên thâm và có cống hiến đích thực, đã được kiểm nghiệm qua thực tế.

Thế hệ trí thức Việt Nam đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám được lịch sử ghi nhận như Vũ Đình Hoè, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài, trở về nước góp sức xây dựng đất nước.

Cách sử dụng nhân tài của Bác là một kinh nghiệm luôn mới đối với thực tế hiện nay. Có người Bác mời về nước làm việc ngay, nhưng cũng có người Bác chờ họ học tiếp rồi mới mời về.

d Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc.

Bác cũng dành những công việc phù hợp cho từng “hiền sĩ”. Người giao cho giáo sư Tạ Quang Bửu nhiều trọng trách ở Bộ Quốc phòng và trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, giáo sư Trần Đại Nghĩa phụ trách ngành quân giới Việt Nam và nhiều trọng trách khác, giáo sư Nguyễn Văn Huyên phụ trách ngành giáo dục, giáo sư Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di… thì tiếp tục cống hiến và dìu dắt các thế hệ ngành y phục vụ kháng chiến, kiến quốc.

Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc. Và thực tế, sự phát triển rất nhanh chóng về mọi mặt của đất nước những ngày đầu giành độc lập sau hàng thế kỷ bị nô lệ là một bằng chứng sống động về tài “chiêu hiền đãi sĩ” của Người.

Tôi nhớ một câu nói về Bác, đại ý, ở Nguyễn Ái Quốc toả ra ánh sáng của một nền văn hoá, không phải của châu Âu mà có lẽ là nền văn hoá của tương lai. “Con mắt tương lai” của Hồ Chủ tịch khiến chúng ta nể phục.

Dõi vào thực tế hiện nay, đâu đó vẫn còn tồn tại cách đánh giá người tài theo hệ thống “chức quyền”. Trong khi đó, người trí thức muốn cống hiến phải dành toàn tâm, toàn sức và thời gian cho nghiên cứu, không thể phân tâm làm những công việc hành chính. Vì lẽ đó, vô hình trung, những người làm khoa học thường có vị trí không cao trong xã hội.

Bác Hồ đã nói: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý. Những người trí thức theo Bác về xây dựng đất nước trong những buổi đầu đã nổi danh về tài, trí, hơn thế là lòng yêu nước sắt son. Chính Bác và dân tộc khi đó đã thổi vào lòng họ những tình cảm và sự trân trọng vô song với đất nước, làm bùng lên khát khao cống hiến cho nước nhà. Đối với các nhà khoa học, vốn là những tinh hoa của khoa học thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, “đồng lương” tinh thần ấy có giá trị gấp nhiều lần ưu đãi về vật chất.

Cơ hội cũng là thách thức với nhà khoa học trẻ

dGiáo sư Nguyễn Hoa Thịnh.

Các nhà khoa học thời chúng tôi, có thể nói, có nhiều thuận lợi hơn bây giờ. Chúng tôi được bao cấp hoàn toàn khi đi học và không phải lo nghĩ về chuyện xin việc khi học xong, vì đã có Nhà nước phân công công tác. Tuy vậy, chúng tôi không bao giờ thoả mãn học đến đâu là đủ.

Hiện, như chúng ta đã biết, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nếu trước kia, từ lúc có phát minh khoa học đến lúc áp dụng vào thực tiễn phải mất nhiều năm, thậm chí mất hàng thế kỷ thì ngày nay, khoảng cách đó đã rút ngắn lại, đến mức gần như không còn ranh giới, nghĩa là nhất thể hóa khoa học và sản xuất. Đó là cơ hội lớn cho các nhà khoa học trẻ, nhưng cũng là thách thức cho họ. Nếu họ bằng lòng với những cái đã có thì họ rất nhanh sẽ trở nên lạc hậu. Vì thế, hơn bao giờ hết, các nhà khoa học trẻ cần ghi nhớ lời Bác dạy: luôn phải gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn.

Những nhà khoa học trẻ hiện rất nhanh nhạy và khá thực tiễn. Họ chỉ cần được chỉ dẫn đúng hướng, Nhà nước quan tâm thì sẽ tiến rất xa. Sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng hệ thống giáo dục, khoa học công nghệ và sản xuất cùng những chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài…

Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, trung tướng Nguyễn Hoa Thịnh nguyên là giám đốc Học viện kỹ thuật quân sự, chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam, giám đốc Trung tâm (Viện) Khoa học và Công nghệ quân sự, hiện là chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Phát triển công nghệ, truyền thông và hỗ trợ cộng đồng.

(Theo GS. Nguyễn Hoa Thịnh – Đất Việt)
Vkyno (st)

Võ Quý Huân và mẻ gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ

Mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, là một trí thức yêu nước, ông tích cực hoạt  động trong phong trào của Việt kiều hướng về Tổ quốc.

 – Võ Quý Huân sinh năm 1915 trong một gia đình giáo học, tại miền quê Thanh Tùng, Thanh Chương, Nghệ  An. Năm 1935-36, ông tham gia làm báo L’ activité Indochinoise và in truyền đơn chống chế độ thực dân Pháp. Bị lộ, năm 1937, ông phải trốn sang Pháp vừa làm vừa học… Năm 1940 đã tốt nghiệp 3 bằng kỹ sư: Cơ điện, Đúc, Công nghệ chuyên nghiệp và là đảng viên Cộng sản Pháp từ tháng 7/1939. 

Sinh thời có nhiều đóng góp nhưng có lẽ cuộc đời ông có 2 sự việc để lại dấu ấn sâu sắc. Đó là, Võ Quý Huân được Hồ Chủ tịch mời cùng Người từ Pháp trở về nước cuối năm 1946 và, mẻ gang đầu tiên của ngành Công nghiệp non trẻ do chính tay ông cùng các cộng sự rót ra, góp phần tạo nên những trái bom, những quả mìn diệt giặc Pháp.

Được theo Cụ Hồ về nước  

Là 1 trong những kĩ sư Đúc – luyện kim người Việt  đầu tiên tốt nghiệp tại Pháp, ông hành nghề tại nhiều công ty, nhà máy. Mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, là một trí thức yêu nước, ông tích cực hoạt  động trong phong trào của Việt kiều hướng về Tổ quốc.

Nghe tin Cách mạng Tháng Tám thành công, ông cùng các Việt kiều (là  đảng viên Cộng sản Pháp) thành lập ra “Việt Nam đồng chí Hội” rồi ông làm thư kí cho Hội Pháp-Việt và Hội Việt-Pháp hữu nghị. Tháng 3/1946, khi phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp đàm phán tại Hội nghị Phông-ten Nơ-blô, ông đã cùng Hội Việt kiều tổ chức bà con ta ra sân bay đón đoàn. Sau đó là người giao dịch cho phái đoàn những ngày ở Paris.

Bà con Việt kiều thời ấy kể lại Võ Quý Huân thoăn thoắt như con thoi, với camera trên tay, luôn lia máy chớp lấy những hình ảnh tư liệu quý giá có hình ảnh Hồ Chủ tịch. Khi về nước, những tư liệu này được bàn giao cho ông Nguyễn Sơn.

(Năm 1974, khi đạo diễn điện ảnh Phạm Kỳ Nam sang Pháp làm bộ phim “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh” (ghi lại thời gian Bác sống và hoạt động tại đây) đã sưu tầm đuợc hơn 1000 thước phim tư liệu do 2 ông Mai Trung Thứ và Võ Quý Huân quay khi Bác sang Pháp năm 1946).

Cũng chính thời gian ấy là thời gian Võ Quý Huân được gần gũi nhiều với Cụ Chủ tịch. Con người, tính cách của Cụ đã để lại trong Võ Quý Huân những ấn tượng đặc biệt. Từ khâm phục ở đức độ, tài năng, ông đem lòng yêu mến rồi đặt niềm tin tưởng hoàn toàn ở Người.

Kĩ sư Võ Quý Huân (1915-1967)

Thấy kết quả của hội nghị bất thành, Hồ Chủ tịch cho gọi số trí thức gần gũi lần lượt lên gặp. Bác bảo “Hội nghị Phông-ten Nơ-blô không thành công, Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Chú đã sẵn sàng chưa?”. Cũng chỉ cần 1 đơn xin nghỉ việc, còn mọi thủ tục khác đã có người lo (vì Hội Việt kiều yêu nước khi đó khá mạnh, người ở lại sẵn sàng giúp người ra đi).

Ngày 16/9/1946, chuyến tầu hỏa đặc biệt, có 2 toa dành riêng, đưa Bác Hồ và đoàn tùy tùng rời Paris xuôi về  phía nam. Trên tầu có 6 người tháp tùng: thư kí Đỗ Đình Thiện (tư sản yêu nước, đảng viên Cộng sản Pháp), đại tá cận vệ Vũ Đình Huỳnh cùng 4 trí thức Việt kiều: bác sĩ Trần Hữu Tước, kĩ sư Mỏ-Luyện kim Võ Đình Quỳnh, kĩ sư Phạm Quang Lễ (sau này là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa) và kĩ sư Đúc-luyện kim Võ Quý Huân.

(Với  ông Lễ thì khá đơn giản vì đang sống độc thân, riêng ông Tước và ông Huân cũng phải có những thu xếp khéo léo với gia đình. Ông Huân có người vợ Pháp gốc Nga cùng  cô con gái. Ông hứa về nước một thời gian rồi sẽ đón mẹ con cùng về).

Từ Cảng Toulon, Thông báo hạm Dumont d’Urville của Hải quân Pháp đưa Hồ Chủ tịch về Việt Nam vào sáng 19/9/1946. Suốt 1 tháng lênh đênh trên biển, trên chính chiến hạm của kẻ địch có trang bị đại bác 155mm, pháo phòng không, súng đại liên cùng 150 sĩ quan, thủy thủ do 1 đại tá chỉ huy. Có khác gì “chim treo trên lửa”! Nhưng Bác cùng đoàn tùy tùng đã vượt qua mọi khiêu khích; thậm chí các sĩ quan, thủy thủ Pháp phải kính trọng.

Ngày 20/10/1946, Thông báo hạm cập cảng. Các đồng chí Phạm Văn  Đồng, Võ Nguyên Giáp cùng nhân dân Hải Phòng đã chào đón nồng nhiệt…

Kĩ sư Võ Quý Huân với mẻ gang đầu tiên 

Trở về nước, kĩ sư Phạm Quang Lễ được giao ngay trọng trách – Cục trưởng Cục Quân giới, còn kĩ sư Võ Quý Huân – Giám  đốc Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung bộ.

Ngày 19/12/1946 – toàn quốc kháng chiến. Võ Quý Huân chỉ  huy sơ tán 2 nhà máy Xe lửa Tràng Thi và Điện Bến Thủy lên rừng núi phía tây. Các nhà máy Kinh tế  1, 2, 3 cùng trường Cán bộ kỹ thuật Trung bộ  lần lượt được thành lập.

Tại Nhà máy Kinh tế 3 đã xây dựng lò cao sản xuất gang đầu tiên, phục vụ kháng chiến.

Sau được gọi là Nhà máy Kim khí kháng chiến (gọi tắt 3KC) do Võ Quý Huân làm giám đốc kiêm “tổng công trình sư” thiết kế lò cao 3KC1. Cộng sự  lúcđó gồm: đốc công Lê Tiến Văn, tổ trưởng luyện gang Lê Huy Yêm, Nguyễn Thái Đồng – công nghệ luyện cốc, Lê Khánh Cư – phụ trách năng lượng…

Mày mò, thử nghiệm. Chiều 15/11/1948, mẻ gang đầu tiên – từ  quặng sắt Vân Trì, Nghi Lộc, Nghệ An đã được nhiệt luyện, nóng chảy trong lò cao 450 lít (cao 2,4m, nhiệt độ lò: 400 độ C, áp lực gió 400 mm cột nước). Dòng suối gang chảy ra trong sự reo hò của cán bộ, công nhân nhà máy cùng bà con Cầu Đất, Con Cuông, Nghệ An. Bà con dắt ngay con bò mộng tặng, giết thịt ăn mừng những thỏi gang đầu tiên.

Trước niềm vui này, 3 công nhân Hiếu, Huệ, Thư tha thiết đề nghị giám đốc cho dùng các thỏi gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ để cảm ơn Người đã đưa các trí thức yêu nước từ Pháp về, xây dựng lò luyện kim ngay trên quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh. Anh em muốn báo cáo với Bác “ngành Đúc-Luyện kim non trẻ sẵn sàng có sản phẩm phục vụ kháng chiến”.

Ba công nhân (chưa 1 ngày được học kỹ thuật đúc) đã mày mò trong 5 ngày và cho ra bức tượng bán thân của Bác. Ai xem cũng khen rất giống. Bức tượng được chuyển về Sở Khóang chất kỹ nghệ Trung bộ rồi đầu 1949 được đem đi triển lãm ở Liên khu IV, sau đó chuyển ra Việt Bắc.

 Những ngày Bác sang Paris 1946. Bác đang bế cháu gái Võ Quý Việt Nga và trò chuyện với các trí thức Việt kiều

Sau đó, lò  cao 3KC2, 3KC3 với dung tích 1m3 lần lượt ra đời. Đồng chí Trần Đăng Ninh đã vào tận nơi kiểm tra. Sau đó Tổng giám đốc Nha Khoáng chất kỹ nghệ  vào và có báo cáo ra Việt Bắc: “Than Khe Bố hết xấu rồi/ Thượng lò lớn, nhỏ đồng thời ra gang/ Kính thưa Thứ trưởng Đỗ Hoàng/ Định ngày vào để sửa sang khánh thành”.

Theo sau đó những trái mìn, những quả lựu đạn, những vũ  khí “made in Vietnam” được chế tạo theo thiết kế của ông Trần Đại Nghĩa và sản xuất đại trà bằng gang của Võ Quý Huân lần lượt ra chiến trường, góp phần vào công cuộc kháng chiến.

Chuyện sau này mới kể  

Không chỉ là người làm ra mẻ gang đầu tiên của ngành Đúc-Luyện kim Việt Nam mà Võ Quý Huân còn là người thầy đào tạo ra những “thợ cả” đầu tiên chuyên ngành Đúc-Luyện kim.

Các học trò từ thời kháng chiến: Hà Học Trạc, Hoàng Bình, Thái Duy Thẩm, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hựu, Nguyễn Thái Đồng, Phan Cầu… và sau ngày hòa bình 1954: Trần Lum, Lê Ba, Trần Bạch Đằng, Vũ Đình Hoành… đều trở thành những cán bộ chủ chốt trong ngành Đúc- Luyện kim và Bộ Công nghiệp nặng. Sau này, ông được bầu là Phó Chủ tịch đầu tiên của Hội Đúc-Luyện kim.

Công lao của ông với đất nước là rất lớn nhưng không thể không nhắc đến sự hy sinh hạnh phúc cá nhân cho dân tộc. Khi trở về nước, ông phải xa vợ và con gái. Không ngờ, cuộc chia ly ấy kéo dài hàng chục năm.

Không thể quay lại Pháp ngay. Thời gian trôi qua, ông xây dựng gia đình mới. Với tình yêu tha thiết với ngành nghề mà con trai đầu – sinh đúng thời gian cho ra mẻ gang đầu tiên – được đặt tên Võ Quý Gang Anh Hào, sau này là Võ Quý Thép Hăng Hái.

Nhưng cũng chừng ấy năm, ông trăn trở vì còn có 1 gia đình ở lại Pháp. Thậm chí, con gái ông từng “mang hận với người cha thất hứa”. Trước khi nhắm mắt (tháng 9/1967) ông trăng trối hết với tổ chức và gia đình.

Và cũng phải gần 50 năm sau ngày chia ly, con gái Võ Quý Hòa Bình cùng cháu ngoại của ông đã đến Paris, tìm đến nhà chị Võ Quý Việt Nga. Cuộc trùng phùng với đầy nước mắt đã làm chị Việt Nga hiểu hơn về bố Võ Quý Huân đã hi sinh hạnh phúc và sự nghiệp để phụng sự Tổ quốc. Gia đình đoàn tụ, âu cũng làm cho ông dưới suối vàng thanh thản.

Võ Quý Huân, 1 trí thức yêu nước, đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc. Nhân dân không bao giờ quên ông!

Trần Kiến Quốc
Vkyno (st)

Mong ước của Bác Hồ

“Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”.

– Có mặt ở Moscow để dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã nói với nhà văn Ilia  Êrenbua: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”.

Ngày 25/9/1942, tại nhà tù của Quốc dân Đảng Trung Hoa, Bác sáng tác hai bài thơ chữ Hán với đề tựa “Trung thu”:

“ I. Trung Thu vành vạnh mảnh gương thu/ Sáng khắp nhân gian bạc một màu/ Sum họp nhà ai ăn Tết đó/ Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu”; “II. Trung Thu ta cũng Tết trong tù/ Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu/ Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt/ Lòng ta vời vợi mảnh trăng thu”.

25-9-1966 HCM thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo về thủ đô.jpg (99KB)Ngày 25/9/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô.

7 năm sau, Bác Hồ viết thư gửi các cháu thiếu nhi nhân Tết Trung thu kháng chiến:

“Mục đích của Bác và Đoàn thể cùng Chính phủ là cốt xây dựng cho các cháu đời sống thái bình, tự do, sung sướng”. 

Cuối thư Bác viết tặng bài thơ: “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh?/ Tính các cháu ngoan ngoãn/ Mặt các cháu xinh xinh/ Mong các cháu cố gắng/ Thi đua học và hành/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tuỳ theo sức của mình/ Để tham gia kháng chiến/ Để gìn giữ hoà bình/ Các cháu hãy xứng đáng/ Cháu Bác Hồ Chí Minh”. 

Ngày 25/9/1965, Bác Hồ và Bác Tôn viết chung mấy câu thơ gửi cho các cháu học sinh Trường Hoàng Lệ Kha” ở vùng giải phóng Tây Ninh hứa: “Nam Bắc sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta sẽ gặp mặt trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu một anh hùng thiếu nhi”. 

Trước đó, ngày 25/9/1947, Bác viết thư gửi cụ Võ Liêm Sơn, Chủ tịch “Uỷ ban Trung ương Mùa Đông binh sĩ” xin được gửi một tháng lương:  “Nhờ Cụ mua giùm vật liệu và may giùm mấy chiếc chăn áo cho chiến sĩ, gọi tỏ chút lòng thành. Đồng bào ta đã giúp nhiều. Lần này, mặc dàu hoàn cảnh khó khăn, nhưng tôi rất mong đồng bào cũng ra sức giúp, để cho chiến sĩ khỏi lạnh lùng và đủ ấm áp để ra sức xung phong diệt địch”.   

Ngày 25/9/1954, Bác viết bài “Các lãnh tụ Trung Quốc” trên báo “Nhân Dân”: “Đối với Việt Nam cần kiệm liêm chính là đức tính của những người cách mạng Việt Nam phải thực hiện được”.

X&N
Vkyno (st)

Thư Trung Thu thời kháng chiến của Bác Hồ

Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới. các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh.

– “… Lòng thân ái đó rất là quý, chúng tôi rất cảm động và cám ơn. Nay tôi và Phái bộ sắp trở về nước, chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào : 1. Phải triệt để đoàn kết 2. Ra sức tuyên truyền và ủng hộ mọi phương diện cho Tổ quốc 3. Thực hành khẩu hiệu Đời sống mới : cần , kiệm, liêm, chính  4. Mỗi người thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới”.Thư đề ngày 12/9/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi kiều bào Việt Nam tại Pháp  trước khi lên đường về nước, cảm ơn sự ủng hộ và căn dặn bà con Việt kiều.

“Cũng như đường xa, đi đến nơi thì thường nhọc mệt, sự nghiệp kháng chiến gần đến lúc thành công thì càng nhiều nỗi gian nan. Vậy chúng ta đã đoàn kết, càng phải đoàn kết chặt chẽ thêm, đã tiến bộ càng phải cố gắng mãi, chớ thấy bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu… Trước mặt trận cũng như ở hậu phương, muôn người như một, đều cùng quyết tâm làm trọn nhiệm vụ kháng chiến cứu quốc của mình. Như thế thì kháng chiến nhất định thành công cũng như Cách mạng tháng Tám thành công vậy”. Trích thư gửi đồng bào Liên khu III, đề ngày 12/9/1947.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi trên chiến khu thời kháng chiến chóng Pháp.jpg (64KB)Bác Hồ với các cháu thiếu nhi trên chiến khu thời kháng chiến chống Pháp.

“Trung Thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng/ Sau đây Bác viết mấy dòng/ Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ nhung”. Trong thư có đoạn: “Ngày nay các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới. Các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh… Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, thì Trung Thu sẽ vui vẻ hơn…”. Thư Trung Thu đề ngày 12/9/1951.

“Một năm đến Tết Trung Thu, Bác càng nhớ các cháu. Trung Thu trăng trong gió mát là cảnh thái bình. Mục đích của Bác và Đoàn thể cùng Chính phủ là cốt xây dựng cho các cháu đời sống thái bình, tự do và sung sướng… Nhân dịp Tết Trung Thu, Bác gửi các cháu thư này: Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh? Tính các cháu ngoan ngoãn. Mặt các cháu xinh xinh. Mong các cháu cố gắng. Thi đua học và hành. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Tuỳ theo sức của mình. Để tham gia kháng chiến. Để gìn giữ hoà bình. Các cháu hãy xứng đáng. Cháu Bác Hồ Chí Minh”.
 Thư Trung Thu năm 1952.

X&N
Vkyno (st)

Đặc phái viên ngoại giao của Bác Hồ năm 1945

Sau ngày Cách mạng thành công, Trần Đình Long được Đảng giao nhiệm vụ làm đặc phái viên ngoại giao cho Hồ Chủ tịch.

 – Nhân dịp tháp tùng đại tá Lê Trọng Nghĩa, Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội 19/8/1945, ra Hà Nội dự giao lưu trực tuyến đêm 17/8/2005, trên VTV1 với chủ đề “60 năm: Những thông điệp từ quá khứ”, tôi nhận được những thông tin quý báu về gia đình ông Trần Đình Long (cố vấn của Uỷ ban khởi nghĩa).

d

“Ông cố vấn” Trần Đình Long.

Chiều chủ nhật 21/8/2005, tôi đến thăm chị Phong, con gái lão  cán bộ cách mạng Trần Đình Long, tại quận Bình Thạnh, TP.HCM. Chị cảm động kể: “Ba tôi sinh năm 1904.

Sau khi tốt nghiệp trung học ở Nam Định, ông sang Pháp học và tham gia hoạt động. Tại đây, ông được Đảng CS Pháp giới thiệu sang học tại trường Đại học CS Lao động Phương Đông tại Moscow từ 1928-31. Tốt nghiệp, ông trở lại Pháp rồi về VN. Tàu vừa cập bến, ông bị mật thám Pháp bắt vì tội “vượt biên sang Nga trái phép”.

Sau 4 tháng không có chứng cứ, chúng phải thả. Trần Đình Long tiếp tục hoạt động tại Hà Nội, rồi kết hôn với cô gái Hà Nội tên là Phương. Hai vợ chồng kinh doanh sách báo tiến bộ tại số nhà 26 phố Chợ Đồng Xuân. Thời kì Mặt trận Dân chủ (1936-39), ông hoạt động báo chí công khai của Đảng.

Ông có viết thiên kí sự “Ba năm ở nước Nga Xô viết” giới thiệu về cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân Liên Xô. Tháng 8/1939, khi vào Thanh Hoá phát hành báo chí, ông lại bị bắt vì lí do “đi cổ động nhân dân chống thuế”.

Năm 1940, chính quyền Pháp bắt ông lần thứ ba với tội danh “cộng tác với báo chí cộng sản và cổ động dân chúng chống chính phủ bảo hộ”. Ông bị đày lên Sơn La cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Xuân Thuỷ, Xích Điểu…

Trong thời gian ở tù, ông đã sáng tác nhiều tác phẩm kịch nói, cải lương, tuồng chèo và lập cả “Gánh hát phiêu lưu” của tù chính trị. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chi uỷ Đảng CS ngục Sơn La đấu tranh với giám ngục đòi giải phóng. Về đến Hà Nội, ông liên lạc ngay với Xứ uỷ Bắc kỳ và được giao nhiệm vụ “cố vấn” cho Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội.”

Ông Lê Trọng Nghĩa sôi nổi kể lại: “Hầu hết anh em trong Uỷ ban khởi nghĩa đều là học sinh, sinh viên, tuổi đời mới ngoài 20. Riêng anh Trần Tử Bình và anh Trần Đình Long già giặn và từng trải hơn. Anh Long làm cố vấn, còn anh Bình là thường vụ Xứ uỷ phụ trách 10 tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nhưng luôn theo sát Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội.

Ngay hôm 16/8, anh Khang cùng tôi và anh Long vào gặp cụ Phạn Kế Toại để thương thuyết nhưng cuộc họp bất thành. Sau ngày Uỷ ban chuyển hẳn vào 101 Gambetta (101 Trần Hưng Đạo), anh Long luôn đưa ra những ý kiến sắc bén để đối phó với các tình huống.

Chiều 19/8, Thường vụ và Uỷ ban quân sự cách mạng giao nhiệm vụ cho tôi và anh Long phải liên lạc và gặp được Toàn quyền Nhật. Trước khi đi, anh Long dặn đi dặn lại: “Khi vào hang cọp, không được nói năng động chạm đến việc phát xít Nhật đã bại trận hay bom nguyên tử đã nổ ở Hiroshima”.

Lúc đã vào bên trong phòng khánh tiết, thấy trên tường có treo lá cờ trắng với hình mặt trời đỏ to tướng; sĩ quan Nhật đứng vòng quanh, gươm súng đầy mình làm 2 anh em lo âu. Được giới thiệu là “đại diện của nhóm dân chúng Hà Nội chiếm Dinh Khâm sai trưa nay”, tôi cố gắng bình tĩnh, nói: “Nghe tin Thiên hoàng đã cho phép các ông rút lực lượng của mình khỏi Đông Dương  trong ít ngày nữa…”.

Vừa nghe đến 2 chữ “Thiên hoàng”, thấy thái độ của cánh sĩ quan thay đổi hẳn. Sau đó, họ “chấp nhận chính quyền mới” của Việt Minh và nhắc dân chúng không được bạo động…

Kỷ niệm này sống mãi trong tôi, làm tôi luôn nhớ đến một Trần Đình Long đầy bản lĩnh, sáng suốt, luôn dựa vào tình hình thực tế để đưa ra những quyết sách đúng đắn trên cương vị của một cố vấn”.

Sau ngày Cách mạng thành công, Trần Đình Long được Đảng giao nhiệm vụ làm đặc phái viên ngoại giao cho Hồ Chủ tịch. Cuối tháng 11/1945, ông đi cùng đại diện Việt Nam Quốc dân Đảng xuống Kiến An giải quyết tranh chấp giữa lực lượng của họ với anh em Vệ quốc đoàn. Trần Đình Long đã giải quyết một cách rất khôn khéo, dựa vào sách lược của Đảng, tránh được xung đột vũ trang. Xong việc, ông trở về Hà Nội vào chiều 24/11/1945.

Chị Phong nhớ lại: “Gia đình tôi khi đó ở 26 phố Chợ Đồng Xuân, ngày đó tôi mới 7 tuổi. Cụ rất yêu thương vợ, con, cứ xong việc là lại về nhà. Khi bố tôi trở về nhà và lên gác được một lúc thì thấy có chiếc xe Jeep chạy tới và dừng lại. Từ trên xe nhảy xuống 5-6 người, mặc binh phục Tàu-Tưởng. Họ vào nhà, dí súng vào bụng mẹ tôi, khi đó đang có mang em tôi, doạ: “Gọi ông Long xuống đây, nếu không sẽ bắn!”. Mẹ tôi phải gọi bố xuống. Rồi chúng bắt cóc ông, đem đi thủ tiêu. Ngay sau đó báo chí kêu gọi Việt Nam Quốc dân Đảng phải trả tự do cho ông, nhưng vô hiệu”.

Theo tư liệu về lớp học ở Quảng Châu do Hồ Chí Minh tổ chức, Trần Đình Long cùng tham dự học tập với các ông Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Phạm Văn Đồng… Còn theo nhà sử học Nga A.Xô-cô-lốp: “Trần Đình Long được xem là ứng cử viên Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Hồ Chí Minh 1946”.

Vừa  đúng 100 ngày kể từ 19/8/1945, sống và làm việc cho chính quyền dân chủ, nhân dân, Trần Đình Long đã ra đi. Vậy mà đã 65 năm! Tiếc rằng, cho đến giờ vẫn chưa biết ông được an nghỉ ở đâu?! Âu đó cũng là nghĩa vụ của người đang sống?

Trần Kiến Quốc
Vkyno (st)

Bác Hồ kể chuyện Tây du ký

Cuộc kháng chiến của chúng ta giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh.

 – Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đánh lớn, đánh tập trung. Thấy cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tình hình, nhiệm vụ. Bộ Chính trị quyết định triệu tập cán bộ, mở lớp học ngắn ngày. Nội dung lớp học là “Quán triệt tình hình, nhiệm vụ, chống tham ô lãng phí, quan liêu, quân phiệt”.

Học viên là cán bộ cao cấp các ngành quân, dân, chính, đảng trên mọi chiến trường trong cả nước. Lớp học được tổ chức giữa khu rừng đại ngàn khá đẹp, cạnh cơ quan Trung ương, gần nơi Bác ở và làm việc.

Ông Lê Văn Lương, Chánh văn phòng Trung ương Đảng được Bác chỉ định phụ trách lớp. Bác trực tiếp biên soạn giáo án, làm giáo viên hướng dẫn học tập, kiểm điểm. Công việc dạy và học được tiến hành rất thuận lợi, kết quả khả quan, Bác rất vui. Hôm làm kiểm thảo Bác nói:

– Các chú học đã thông lý thuyết, tranh luận cũng đã nhiều. Vận dụng lý luận đã học vào kiểm thảo là rất cần thiết. Bác bận không có thời gian xem hết lý luận của các chú. Tình hình, nhiệm vụ, các chú đã quán triệt, không cần thiết phải trình bày. Các chú đi vào kiểm điểm cá nhân, viết cụ thể xem mình tham ô, lãng phí bao nhiêu? Tất cả quy thành tiền. Quan liêu, quân phiệt bao nhiêu lần? Hành động thô bạo với nhân dân, với chiến sĩ bao nhiêu lần? Bao nhiêu người? Vậy thôi, không cần dài dòng.

Hôm trả bài, mọi người vừa có mặt đông đủ ở hội trường thì Bác bước vào. Nét mặt của Bác hôm đó không được vui. Cán bộ trực ban hô “Nghiêm!” rồi báo cáo Bác. Bác vừa ra hiệu cho mọi người ngồi xuống thì một đồng chí đứng lên hô to:

– Đả đảo tham ô, lãng phí, quan liêu, quân phiệt!

Bác giơ cao tập kiểm thảo của học viên lên nói:

– Lý thuyết! Lý thuyết! Thực tế đây này. Nhiều đồng chí sợ địch, ngại gian khổ, ngại hy sinh, ngại kháng chiến lâu dài. Nhiều đồng chí thiếu trách nhiệm để kẻ địch đốt hàng trăm tấn gạo, đổ xuống sông hàng trăm tấn muối, phá hủy hàng chục tấn súng đạn. Có đồng chí tham ô hàng vạn, hàng triệu đồng…, đánh đập, chửi mắng chiến sĩ, nhân dân.

Bác phân tích tác hại của hành động, làm ảnh hưởng xấu tới chính sách đại đoàn kết dân tộc, tới chính sách mặt trận, tới tài sản của nhân dân, ảnh hưởng tới thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Cả hội trường im phăng phắc nghe Bác nói.

Trưa hôm đó, một trưa hè oi nồng, vì không ngủ được nên một số anh em rủ nhau ra suối tắm. Giữa rừng sâu nên anh em tha hồ vừa thoải mái ngâm mình dưới dòng nước, vừa trao đổi về bài tổng kết của Bác. Ngay lúc đó, Bác từ trên nhà sàn bước xuống. Ai cũng đoán Bác đi sang khu Trung ương.

Người thoăn thoắt đi về phía anh em đang tắm. Mọi người hoảng, chưa biết xử trí ra sao, thì một cán bộ nhanh nhẹn mặc quần áo lên hướng dẫn Bác đi lối khác. Bác gạt đi:

– Bác cùng tắm với các chú cho vui!

Thế là Bác cháu cùng ngâm mình xuống dòng nước trong mát. Đàn cá con luồn lách trong khe đá, lượn lờ chung quanh mọi người. Cán bộ Lương Tuấn Khang cọ lưng cho Bác, xúc động thưa với Bác:

– Thưa Bác, Bác gầy quá!

Bác im lặng một chút, rồi hỏi đồng chí Khang:

– Kiểm thảo vừa rồi, chú có khuyết điểm gì không?

– Thưa Bác có chứ ạ! Cháu tham ô một vạn tư.

– Chú một vạn tư, chú kia một vạn tư, chú này một vạn tư thì Bác làm sao béo được!

Anh em tắm quanh đó lặng người, chú ý theo dõi câu chuyện của hai Bác cháu.

Cán bộ Khang lại hỏi Bác:

– Thưa Bác, không phải cháu tham ô, mà vì cháu đã có áo mưa, quân nhu không biết lại phát cho cháu một chiếc nữa. Cháu lãnh, rồi đem cho đồng chí khác chưa có (chiếc áo mưa hồi đó trị giá một vạn tư). Thưa Bác, như vậy có phải khuyết điểm không ạ?

Bác quay lại:

– Thôi chú cọ lưng cho Bác sạch rồi. Ta đổi công cho nhau.

Bác cọ lưng cho  Khang, rồi nói:

– Phải xem xét động cơ. Chú cho anh em không có sự đòi hỏi gì, cho với tinh thần vô tư thì việc cho của chú là tốt. Còn, chú cho bạn với động cơ có đi, có lại hoặc có điều kiện nào đó, thì việc cho áo mưa của chú cần phải xem xét.

Thời hạn lớp học sắp kết thúc. Hôm đó, Bác giải đáp để hôm sau các học viên trở về đơn vị. Bác yêu cầu anh em kể Tây du ký cho mọi người nghe… Câu chuyện cần phù hợp với nội dung bài học.

eBác Hồ với các chiến sĩ tại khu di tích Đền Hùng năm 1954. Ảnh TL.

Ông Tôn Quang Phiệt được Bác chỉ định kể đầu tiên. Suy nghĩ một hồi, ông Phiệt kể cho anh em nghe đoạn Tôn Hành Giả ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Một lần Tôn đánh chết ông cụ, một lần đánh chết bà cụ, một lần đánh chết cô gái, nên bị Tam Tạng đuổi về Hoa Quả Sơn.

Ông Tôn Quang Phiệt tóm tắt:

– Tôn Hành Giả biết phân biệt kẻ thù. Đã phân biệt chính xác kẻ thù thì tấn công quyết liệt, gặp bất cứ trở ngại gì cũng vượt qua.

Bác chỉ định một người khác kể. Cán bộ đó kể đoạn Bát Giới xin ở lại làm con rể phú ông. Cán bộ đó kết luận:

– Làm cách mạng là phải triệt để đừng như Bát Giới ham phú quý, giàu sang giữa đường định bỏ dở sự nghiệp.

Một cán bộ nữa xin Bác cho phép kể đoạn Đại Thánh đại náo thiên cung. Cán bộ kết luận:

– Đã là người anh hùng nắm chắc chân lý, thì ông trời cũng không sợ.

Bác cười khen:

– Các chú nhớ cả đấy. Chuyện nào cũng vậy, đều có thiện, có ác, có chính, có tà. Chuyện nào cũng dạy người ta ăn ở nhân nghĩa, bỏ điều ác, làm điều thiện. Có gian khổ mới có vinh quang thắng lợi. Thầy trò Đường Tam Tạng từ Đại Đường sang tận Tây Trúc lấy kinh, trải qua không biết bao nhiêu gian khổ, thử thách, gặp bao nhiêu yêu quái mới thỉnh được kinh đem về cho vua Đường. Thầy trò Đường Tăng đã vượt qua ba điều cấm: Một là không ham tiền tài, hai là không ham địa vị, ba là không ham gái đẹp.

Khi gặp Phật tổ Như Lai, lấy được kinh, Đại Thánh thưa với sư phụ: “Thưa thầy, chúng ta đã thành chính quả”. Tam Tạng nói với Đại Thánh: “Chưa đâu, đây mới là thành công bước đầu của thầy trò ta, đạt đến chính quả còn gian khổ lắm”.

Cuộc kháng chiến của chúng ta mới chỉ là những bước giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh mà thôi. Kháng chiến thành công, nước nhà độc lập cũng mới chỉ là bước đầu. Bác cháu ta còn phải kiến quốc làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân hạnh phúc, ấm no. Điều đó mới thực vất vả, khó khăn.

Bác cháu ta hiện nay mới chỉ bước những bước đầu tiên trên con đường kháng chiến, mà đã có nhiều đồng chí ham tiền tài, địa vị, gái đẹp thì kháng chiến ta làm sao thành công được. Xưa cũng như nay, muốn thành chính quả thì phải tránh ba điều răn. Muốn kháng chiến thắng lợi phải tránh ba điều cấm. Vì cuộc kháng chiến của Bác cháu ta còn phải trải qua muôn vàn gian khổ, có nỗ lực vượt qua được thì mới thành công, thắng lợi. Kết luận của Bác có thế thôi.

Sau đó, Bác cho phép mọi người nêu thắc mắc để Bác giải đáp. Đồng chí Nam Long đứng lên xin phép Bác được nêu thắc mắc:

– Thưa Bác, Bác nói trong con người ta có ông Thiện, ông Ác. Ông Thiện bảo ta làm những điều tốt lành. Ông Ác xúi ta làm những việc độc ác. Thưa Bác, trong Bác có ông Thiện, ông Ác không ạ?

Bác cười tủm tỉm:

– Có chứ! Bác cũng như mọi người đều có ông Thiện ông Ác. Từ nơi Bác ở tới lớp học phải qua một cái đèo cao. Leo tới đỉnh đèo thì Bác đã mệt. Phong cảnh tuyệt đẹp, trời trong xanh, mây bay vượn hót, chim kêu, nước chảy.

Ông Ác nói với Bác: “Dừng chân nghỉ một chút cho đỡ mệt, ngắm mây trôi, nước chảy, nghe vượn hót chim kêu, hút một điếu thuốc cho sảng khoái rồi lại lên đường. Kháng chiến còn lâu dài gian khổ, nghỉ một chút có sao đâu”.

Ông Thiện lại nói với Bác: “Không được! Hàng trăm người đang chờ đợi Bác. Chỉ cần chậm một phút là lãng phí hàng trăm phút. Mình là giảng viên, lại càng cần phải gương mẫu”.

Ông Ác nói cũng phải – mệt ngồi nghỉ một chút là lẽ thường tình, có chi phương hại. Ông Thiện nói cũng đúng – bắt hàng trăm con người chờ đợi, hao phí thời gian, đành tâm sao được.

Biết nghe ai bây giờ? Nghe ai và không nghe ai? Khó thật đấy! Song, cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình. Suy nghĩ một hồi, Bác quyết định nghe theo ông Thiện. Bác nhét điếu thuốc lá vào bao, cất bật lửa vào túi. Bác đi tới lớp học.

Đó, ai dạy mình điều phải. Ai xui mình làm điều sai. Cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình.

Mỗi khi gặp khó khăn, các học viên lớp học ngày ấy lại nhớ tới lời dạy của Bác qua các câu chuyện trong Tây du ký.

Trần KỳTap chí Hồn Việt
Vkyno (st)

Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, Đoàn đại biểu Quân sự cấp cao Liên bang Nga do Đại tướng Sergei Shoigu, Bộ trưởng Quốc phòng dẫn đầu, sang thăm và làm việc tại Việt Nam từ ngày 4 đến ngày 5/3/2013. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Đại tướng Sergei Shoigu, Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga, kể từ khi nhậm chức ngày 6-11-2012. Trong thời gian thăm và làm việc Việt Nam, sáng ngày 5/3/2013, Đại tướng Sergei Shoigu và Đoàn đại biểu đã đến đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga kính viếng”.

Bo quoc phong Nga
Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga
cùng Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga diễn ra trong bối cảnh hai nước Việt Nam và Liên bang Nga đã nâng cấp quan hệ từ quan hệ đối tác chiến lược lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (tháng 7 – 2012).

Chuyến thăm lần này của Đại tướng Sergei Shoigu góp phần củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, phát triển hợp tác lâu dài, bền vững trong lĩnh vực quân sự và kỹ thuật quân sự; đưa quan hệ quốc phòng giữa hai nước lên tầm cao mới, thiết thực, phù hợp với quan hệ hữu nghị truyền thống và ngang tầm với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Người phương Tây cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Đó là Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris.

Sinh ngày 17/9/1920, Charles Fourniau đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

TS. Phan Văn Hoàng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM):

Một đồng nghiệp của báo L’Humanité (cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp) báo tin buồn: Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris và được an táng ngày 29/4/2010 tại nghĩa trang La Chaise.

dNhà sử học Charles Fourniau. Nguồn: Internet.

Sinh ngày 17/9/1920, ông đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

Ông từng chủ trì cuộc hội thảo về lịch sử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (tổ chức tại Đại học Provence).

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ông, nhiều sinh viên đã trở thành những nhà Việt Nam học có uy tín.

Không chỉ là một nhà sử học uyên thâm, ông còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình.

Là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, ông phản đối mãnh liệt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời không bao lâu, ông là một trong những người sáng lập Hội hữu nghị Pháp – Việt (Association d’amitié Franco-Viêtnamienne) (1961), từng làm Tổng thư ký và Chủ tịch của Hội. Năm 1962, Hội xuất bản cuốn Vấn đề Nam Việt Nam (La question du Sud-Vietnam) giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam.

Từ tháng 10/1963 đến tháng 7/1965, ông được báo L’Humanité cử làm phóng viên thường trú ở Hà Nội. Ông tận mắt chứng kiến những trận ném bom dã man của Mỹ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam. Là một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông nhận thức được truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm, nên trong những bài báo gửi về Paris, ông khẳng định: Nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ thắng.

Vào thời điểm 1965, nhiều người trên thế giới lo ngại cho một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam trước sự tàn phá khủng khiếp của Không lực Hoa Kỳ, nên không phải ai cũng nghĩ như ông. Hiệp định Paris 27/1/1973 và chiến thắng 30/4/1975 cho thấy dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông là người phương Tây cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ hai tuần lễ trước khi Người qua đời (1969). Năm sau, ông cùng Léo Figuères biên tập cuốn Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta (Hô Chi Minh, notre commarade).

Sau ngày Việt Nam hòa bình và thống nhất, Hội hữu nghị Pháp – Việt tiếp tục hoạt động cho sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Ở tuổi 83, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000 (Le Viêtnam que j’ai vu 1960-2000).

dBìa quyển sách Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000
(Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914).

Charles Fourniau qua đời, nhân dân Việt Nam mất một người bạn thủy chung, giới sử học Việt Nam mất một đồng nghiệp khả kính.

Xin chúc ông an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

TS ALAIN RUSCIO (Nhà Việt Nam học của Pháp):

Charles Fourniau là một nhà sử học được nhiều đồng nghiệp biết tên tuổi, nhưng ông còn là một người có niềm tin vững chắc, là nhà sáng lập Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) mà ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký trong một thời gian dài. Ông vừa qua đời ở tuổi 89, để lại một khoảng trống mà với thời gian, chúng ta sẽ ngày càng thấm thía.

Trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ông là một chiến sĩ của phong trào Hòa bình, bắt đầu dấn thân vào việc bảo vệ dân tộc Việt Nam dũng cảm. Sau đó, trong cuộc chiến tranh của Mỹ – màn thứ hai của cuộc xâm lược từ phương Tây, ông sang Việt Nam lần đầu tiên. Khi trở về Pháp, ông đã bị dân tộc Việt Nam chinh phục: ông đã có một sự lựa chọn dứt khoát cho cả đời mình.

dBìa quyển sách Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale).

Hai năm sau, ông trở lại đất nước này với tư cách là một nhà báo. Tờ L’ Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp) yêu cầu ông sang đó làm phóng viên thường trú của báo. Ở đó, ông tự hào được gần gũi các nhà lãnh đạo của nước này, được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, trở thành một người thân cận của Người và là người nước ngoài cuối cùng được gặp Người (trước khi Người qua đời).

Ông là một trong những người đầu tiên chứng kiến tận mắt việc Mỹ leo thang chiến tranh. Ông thường kể lại bài báo đầu tiên ông gửi về cho báo L’ Humanité năm 1965 sau những trận ném bom ồ ạt của Mỹ. Trong bài báo ấy, ông dự đoán rằng cuối cùng Việt Nam sẽ chiến thắng. Lúc đó, sự chênh lệch về lực lượng (giữa Việt Nam và Mỹ) quá lớn khiến tòa soạn ở Paris phải do dự một lúc trước khi cho đăng. Mười năm sau, Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính kiến thức của một nhà sử học đã giúp ông nhìn xa hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Charles Fourniau là một trong những người đầu tiên tự hỏi về nguồn gốc của sức đề kháng độc đáo của dân tộc này (ông rất ghét gọi nước này là một nước “nhỏ”).

Và ông đã tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn khái niệm “chiến tranh toàn dân” đã bén rễ từ nhiều thế kỷ qua trong tâm trí người Việt Nam, từ nhà vua đến người làm ruộng, trong vô số những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại người Trung Quốc, rồi trong cuộc kháng chiến chống lại sự chinh phục của thực dân Pháp (mà ông lấy làm đề tài cho luận án tiến sĩ của ông). Ông giải thích: Rốt cuộc, ở thế kỷ XX, tướng Giáp chỉ đơn giản sử dụng lại những truyền thống cổ xưa này, đồng thời thêm vào đó nét thiên tài của chính ông.

Ông có một đức tính đặc biệt mà những người ở gần ông đều biết rất rõ: ông là một người truyền đạt kiến thức giỏi, một ông thầy dạy hay. Ông hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên. Họ nghe ông giảng, chia sẻ nhiệt tình của ông và sau đó trở thành những nhà Việt Nam học có tên tuổi.

“Trong nhiều năm, tên tuổi của ông đã gắn liền với cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân Việt Nam”

Marie – George Buffet, Bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp

Nhà khoa học này là một người dấn thân. Ông là một nhà thông thái, đồng thời cũng là một nhà tranh đấu. Tất cả ở ông là sự kết hợp hài hòa hai từ này mà ông không muốn tách rời nhau. Ông có thể đọc một bản tham luận xuất sắc tại một cuộc hội thảo quốc tế và ngay trong tuần lễ đó, nhân dân Hội Hữu nghị Pháp – Việt mà ông quý mến, ông đi dự một cuộc họp mặt của làng hay của khu phố.

Là một trí thức cộng sản, ông có những xác tín cơ bản – mà có người cho là quá thẳng – song ông không tìm cách che giấu rằng trong đó có những vấn đề và những hoài nghi mang tính phê phán gay gắt. Có lẽ ông có cả hai nét này nhờ ông hiểu một cách sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Mong bà Paulette và năm người con của ông – mà trước đây ông đã đưa sang Việt Nam cùng ông – cùng các cháu mà ông yêu quý, hãy nhận những lời phân ưu chân thành của tất cả những người yêu mến Charles của họ mà cũng là một phần của chúng tôi.

(Bài đăng trên website http://www.humanite.fr V.H. dịch)

GS Nguyễn Văn Hoàn
:

Tôi quen Fourniau từ năm 1963, năm ông sang Hà Nội làm việc. Tôi quen toàn bộ gia đình, cả vợ và con Fourniau. Sau này, lần nào qua Ý, tôi cũng ghé ở nhà ông ấy. Khi Fourniau về hưu, có một hội nghị khoa học về ông, tôi có viết bài.

dĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Nhà sử học Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Nguyễn Văn Kự.

Đó là một con người làm việc nghiêm túc, đến nơi đến chốn, một người Pháp thân tình thực sự với Việt Nam. Một lần, ông đến Vân Kiều, một vùng dân tộc thiểu số ở Vĩnh Linh, họ rất ngạc nhiên thấy một “ông Tây” hiền và tốt đến như vậy. Tôi nói với ông điều đó, và ông, với vẻ mặt buồn buồn, nói: “Nếu tôi có thể gây một ấn tượng tốt cho người Việt Nam (khác với những người Pháp thực dân) thì tôi rất hạnh phúc”.

Tại đại hội Đảng bộ Vĩnh Linh, một đại biểu người Vân Kiều nói: “Ngày xưa, gặp một người Kinh ở trong rừng thôi, tôi đã bỏ chạy. Nay ngồi cạnh một ông Tây mà tôi rất an tâm, tự hào, vì tôi tin tưởng ở Bác Hồ”. Cả hội trường vỗ tay như sấm. Fourniau sung sướng khi nghe dịch lại.

Từ thời sinh viên cho đến lúc mất, Fourniau là một người bạn chí tình của Việt Nam. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng… đều có “biệt nhỡn” đối với ông. Giới học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều… đều gặp và nói chuyện trực tiếp với ông bằng tiếng Pháp. Ông cũng thân thiết với Võ Nguyên Giáp. Ông thường đến thăm Võ Nguyên Giáp, nói chuyện bằng tiếng Pháp với Võ Nguyên Giáp.

Những tác phẩm sử học của ông rất nghiêm túc về công tác tư liệu. Khi làm phóng viên tại Hà Nội, ông đã tìm các tư liệu về lịch sử cận đại Việt Nam và tôi đã giúp ông tìm các tư liệu lịch sử chưa in như Gia phả Nguyễn Quang Bích và Ngọ Phong thi tập. Sau đó, ông nhờ Cao Xuân Huy, Phạm Thiều giảng lại từng câu. Ông vào thăm chiến khu Ba Đình – Thanh Hóa và ghi âm bài vè Ba Đình rồi dịch toàn văn ra tiếng Pháp. Trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence coi ông như người nhà, và ông đã giới thiệu tôi đến đó đọc tư liệu và photocoppy miễn phí.

aBìa quyển sách Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914)

Suốt đời ông gắn bó với Hội hữu nghị Việt – Pháp, từ cương vị Tổng thư kí đến cương vị Chủ tịch đại diện lúc cuối đời. Ông thuộc diện người Pháp hết lòng với Việt Nam. Như Henry Martin, Raymon Dienne, Madelain Rifaud…, những người bị bọn xấu cho là cuồng tín. Ông sống suốt đời vì Việt Nam với trái tim chân thành, công khai chống lại cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam.

Ông là một trong nhóm phóng viên nước ngoài chịu đựng cuộc ném bom của Mỹ xuống Đồng Hới ngày 11/2/1965. Ông đã ở đó cùng với đứa con trai lớn nhất của mình 11 tuổi.

Nhóm phóng viên đó, trong đó có phóng viên Liên Xô, gửi về sứ quán Liên Xô rồi từ đó gửi về Mạc Tư Khoa rồi gửi về Pháp một bức điện: “Chúng tôi đã chứng kiến cảnh Mỹ ném bom Đồng Hới tại Việt Nam, một máy bay Mỹ bị bắn hạ và một phi công Mỹ đã bị bắt”. Vợ ông ở Paris đọc tin ấy phát hoảng: “Ông muốn làm gì thì làm, nhưng ông hãy trả con về cho tôi”. Và ông đã gửi con về Paris qua ngã Praha. Đó là một người “dấn thân” vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Một hôm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cả nhà ông đến ăn cơm, một lát thì Bác Hồ xuất hiện. Cô con gái lớn của ông xúc động, xin phép hôn Bác Hồ. “Khi Hồ Chí Minh vào phòng, con có cảm tưởng cả phòng sáng rực lên”. Từ đó, cả nhà gọi Bác Hồ là L’oncle Hồ. Ông cũng là người vinh dự được Bác Hồ tiếp trước khi Bác mất một tuần. Đó là điều vừa tự hào vừa đau buồn sâu sắc đối với ông.

Theo Tạp chí Hồn Việt
Vkyno (st)

Bác Hồ và Tổng thống Indonesia

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia, Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno”.

– Ngày 28/6/1959, trước cuộc mít tinh của 20 vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình chào mừng Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Indonesia : “Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em”.

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia mà Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno” Bác chia sẻ quan điểm : “Đoàn kết, đoàn kết lại đoàn kết / Khó khăn gì chúng ta cũng nhất định vượt được hết/ Kẻ thù nào chúng ta cũng đánh tan hết/ Thắng lợi to lớn gì chúng ta cũng tranh thủ được hết”.

Bác nhắc lại kỷ niệm: “Mùa Xuân năm nay, lúc Bác sang thăm Indonesia, chẳng những gia đình Tổng thống từ bác gái cho đến các cháu coi Bác như một người anh em trong nhà mà cả Chính phủ, Quốc hội và tất cả nhân dân Indonesia cũng không xem bác là người khách mà xem Bác là người anh em bạn hữu thân thiết của Indonesia.

Bác ở bên ấy mười ngày, đi tỉnh này qua tỉnh khác, hàng triệu nhân dân ra đón Bác, luôn luôn tỏ ra một tình thân rất nồng nhiệt. Tình ấy không chỉ tỏ cho Bác mà còn tỏ cho tất cả nhân dân Việt Nam…”.

 Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.

Trong buổi tiệc chiêu đãi, tổ chức tối cùng ngày, đáp từ bài phát biểu của tổng thống Sukarno, Bác nói bằng văn vần : “Lặng nghe lời nói như ru/ Tình hữu nghị giữa hai dân tộc muôn thu vững bền/ Chúng ta cùng bước tiến lên/ Thống nhất và độc lập, chúng ta xây dựng cái nền vẻ vang… Lực lượng chủ nghĩa xã hội thì trưởng thành khắp nơi/ Chúng ta cùng nhau xây dựng cuộc đời/ Người người sung sướng, người người ấm no…”.

Ngày 29/6/1959, tiễn đưa Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà Indonesia do Tổng thống Sukarno dẫn dầu kết thúc chuyến thăm hữu nghị nước ta, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh quyến luyến đọc mấy vần thơ: “Nhớ nhung trong lúc chia tay/ Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo Người/ Người về Tổ quốc xa khơi/ Chúc Người thắng lợi. Chúc Người bình an”.

Indonesia là một quốc gia Đông Nam Á có hoàn cảnh lịch sử giống nước ta. Là một thuộc địa của Hà Lan, tháng 8/1945, Indonesia giành được độc lập từ tay phát xít Nhật thành lập nhà nước Cộng hoà do ông Sukarno đứng đầu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một trong những quốc gia mà Bác đi thăm sớm nhất là Ấn Độ và Indonesia.

Ngày 26/2/1959, Bác và đoàn Đại biểu Chính phủ ta sang thăm Indonesia được Tổng thống Sukarno đón tiếp rất nồng hậu. Chuyến đi kết thúc vào ngày 11/3/1959.

Bốn tháng sau, ngày 24/6/1959. Tổng thống Sukarno sang thăm Việt Nam và cũng đuợc Bác và Nhà nước Việt Nam tiếp đón rất trọng thể và thân mật. Indonesia là một quốc gia đông dân, đóng vai trò to lớn trong cộng đồng các quốc gia không liên kết và luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nó giải thích sự thân tình vượt ra khỏi nghi thức ngoại giao mà Bác đã giành cho vị nguyên thủ nước bạn.

X&N
Vkyno (st)