Võ Quý Huân và mẻ gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ

Mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, là một trí thức yêu nước, ông tích cực hoạt  động trong phong trào của Việt kiều hướng về Tổ quốc.

 – Võ Quý Huân sinh năm 1915 trong một gia đình giáo học, tại miền quê Thanh Tùng, Thanh Chương, Nghệ  An. Năm 1935-36, ông tham gia làm báo L’ activité Indochinoise và in truyền đơn chống chế độ thực dân Pháp. Bị lộ, năm 1937, ông phải trốn sang Pháp vừa làm vừa học… Năm 1940 đã tốt nghiệp 3 bằng kỹ sư: Cơ điện, Đúc, Công nghệ chuyên nghiệp và là đảng viên Cộng sản Pháp từ tháng 7/1939. 

Sinh thời có nhiều đóng góp nhưng có lẽ cuộc đời ông có 2 sự việc để lại dấu ấn sâu sắc. Đó là, Võ Quý Huân được Hồ Chủ tịch mời cùng Người từ Pháp trở về nước cuối năm 1946 và, mẻ gang đầu tiên của ngành Công nghiệp non trẻ do chính tay ông cùng các cộng sự rót ra, góp phần tạo nên những trái bom, những quả mìn diệt giặc Pháp.

Được theo Cụ Hồ về nước  

Là 1 trong những kĩ sư Đúc – luyện kim người Việt  đầu tiên tốt nghiệp tại Pháp, ông hành nghề tại nhiều công ty, nhà máy. Mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, là một trí thức yêu nước, ông tích cực hoạt  động trong phong trào của Việt kiều hướng về Tổ quốc.

Nghe tin Cách mạng Tháng Tám thành công, ông cùng các Việt kiều (là  đảng viên Cộng sản Pháp) thành lập ra “Việt Nam đồng chí Hội” rồi ông làm thư kí cho Hội Pháp-Việt và Hội Việt-Pháp hữu nghị. Tháng 3/1946, khi phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp đàm phán tại Hội nghị Phông-ten Nơ-blô, ông đã cùng Hội Việt kiều tổ chức bà con ta ra sân bay đón đoàn. Sau đó là người giao dịch cho phái đoàn những ngày ở Paris.

Bà con Việt kiều thời ấy kể lại Võ Quý Huân thoăn thoắt như con thoi, với camera trên tay, luôn lia máy chớp lấy những hình ảnh tư liệu quý giá có hình ảnh Hồ Chủ tịch. Khi về nước, những tư liệu này được bàn giao cho ông Nguyễn Sơn.

(Năm 1974, khi đạo diễn điện ảnh Phạm Kỳ Nam sang Pháp làm bộ phim “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh” (ghi lại thời gian Bác sống và hoạt động tại đây) đã sưu tầm đuợc hơn 1000 thước phim tư liệu do 2 ông Mai Trung Thứ và Võ Quý Huân quay khi Bác sang Pháp năm 1946).

Cũng chính thời gian ấy là thời gian Võ Quý Huân được gần gũi nhiều với Cụ Chủ tịch. Con người, tính cách của Cụ đã để lại trong Võ Quý Huân những ấn tượng đặc biệt. Từ khâm phục ở đức độ, tài năng, ông đem lòng yêu mến rồi đặt niềm tin tưởng hoàn toàn ở Người.

Kĩ sư Võ Quý Huân (1915-1967)

Thấy kết quả của hội nghị bất thành, Hồ Chủ tịch cho gọi số trí thức gần gũi lần lượt lên gặp. Bác bảo “Hội nghị Phông-ten Nơ-blô không thành công, Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Chú đã sẵn sàng chưa?”. Cũng chỉ cần 1 đơn xin nghỉ việc, còn mọi thủ tục khác đã có người lo (vì Hội Việt kiều yêu nước khi đó khá mạnh, người ở lại sẵn sàng giúp người ra đi).

Ngày 16/9/1946, chuyến tầu hỏa đặc biệt, có 2 toa dành riêng, đưa Bác Hồ và đoàn tùy tùng rời Paris xuôi về  phía nam. Trên tầu có 6 người tháp tùng: thư kí Đỗ Đình Thiện (tư sản yêu nước, đảng viên Cộng sản Pháp), đại tá cận vệ Vũ Đình Huỳnh cùng 4 trí thức Việt kiều: bác sĩ Trần Hữu Tước, kĩ sư Mỏ-Luyện kim Võ Đình Quỳnh, kĩ sư Phạm Quang Lễ (sau này là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa) và kĩ sư Đúc-luyện kim Võ Quý Huân.

(Với  ông Lễ thì khá đơn giản vì đang sống độc thân, riêng ông Tước và ông Huân cũng phải có những thu xếp khéo léo với gia đình. Ông Huân có người vợ Pháp gốc Nga cùng  cô con gái. Ông hứa về nước một thời gian rồi sẽ đón mẹ con cùng về).

Từ Cảng Toulon, Thông báo hạm Dumont d’Urville của Hải quân Pháp đưa Hồ Chủ tịch về Việt Nam vào sáng 19/9/1946. Suốt 1 tháng lênh đênh trên biển, trên chính chiến hạm của kẻ địch có trang bị đại bác 155mm, pháo phòng không, súng đại liên cùng 150 sĩ quan, thủy thủ do 1 đại tá chỉ huy. Có khác gì “chim treo trên lửa”! Nhưng Bác cùng đoàn tùy tùng đã vượt qua mọi khiêu khích; thậm chí các sĩ quan, thủy thủ Pháp phải kính trọng.

Ngày 20/10/1946, Thông báo hạm cập cảng. Các đồng chí Phạm Văn  Đồng, Võ Nguyên Giáp cùng nhân dân Hải Phòng đã chào đón nồng nhiệt…

Kĩ sư Võ Quý Huân với mẻ gang đầu tiên 

Trở về nước, kĩ sư Phạm Quang Lễ được giao ngay trọng trách – Cục trưởng Cục Quân giới, còn kĩ sư Võ Quý Huân – Giám  đốc Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung bộ.

Ngày 19/12/1946 – toàn quốc kháng chiến. Võ Quý Huân chỉ  huy sơ tán 2 nhà máy Xe lửa Tràng Thi và Điện Bến Thủy lên rừng núi phía tây. Các nhà máy Kinh tế  1, 2, 3 cùng trường Cán bộ kỹ thuật Trung bộ  lần lượt được thành lập.

Tại Nhà máy Kinh tế 3 đã xây dựng lò cao sản xuất gang đầu tiên, phục vụ kháng chiến.

Sau được gọi là Nhà máy Kim khí kháng chiến (gọi tắt 3KC) do Võ Quý Huân làm giám đốc kiêm “tổng công trình sư” thiết kế lò cao 3KC1. Cộng sự  lúcđó gồm: đốc công Lê Tiến Văn, tổ trưởng luyện gang Lê Huy Yêm, Nguyễn Thái Đồng – công nghệ luyện cốc, Lê Khánh Cư – phụ trách năng lượng…

Mày mò, thử nghiệm. Chiều 15/11/1948, mẻ gang đầu tiên – từ  quặng sắt Vân Trì, Nghi Lộc, Nghệ An đã được nhiệt luyện, nóng chảy trong lò cao 450 lít (cao 2,4m, nhiệt độ lò: 400 độ C, áp lực gió 400 mm cột nước). Dòng suối gang chảy ra trong sự reo hò của cán bộ, công nhân nhà máy cùng bà con Cầu Đất, Con Cuông, Nghệ An. Bà con dắt ngay con bò mộng tặng, giết thịt ăn mừng những thỏi gang đầu tiên.

Trước niềm vui này, 3 công nhân Hiếu, Huệ, Thư tha thiết đề nghị giám đốc cho dùng các thỏi gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ để cảm ơn Người đã đưa các trí thức yêu nước từ Pháp về, xây dựng lò luyện kim ngay trên quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh. Anh em muốn báo cáo với Bác “ngành Đúc-Luyện kim non trẻ sẵn sàng có sản phẩm phục vụ kháng chiến”.

Ba công nhân (chưa 1 ngày được học kỹ thuật đúc) đã mày mò trong 5 ngày và cho ra bức tượng bán thân của Bác. Ai xem cũng khen rất giống. Bức tượng được chuyển về Sở Khóang chất kỹ nghệ Trung bộ rồi đầu 1949 được đem đi triển lãm ở Liên khu IV, sau đó chuyển ra Việt Bắc.

 Những ngày Bác sang Paris 1946. Bác đang bế cháu gái Võ Quý Việt Nga và trò chuyện với các trí thức Việt kiều

Sau đó, lò  cao 3KC2, 3KC3 với dung tích 1m3 lần lượt ra đời. Đồng chí Trần Đăng Ninh đã vào tận nơi kiểm tra. Sau đó Tổng giám đốc Nha Khoáng chất kỹ nghệ  vào và có báo cáo ra Việt Bắc: “Than Khe Bố hết xấu rồi/ Thượng lò lớn, nhỏ đồng thời ra gang/ Kính thưa Thứ trưởng Đỗ Hoàng/ Định ngày vào để sửa sang khánh thành”.

Theo sau đó những trái mìn, những quả lựu đạn, những vũ  khí “made in Vietnam” được chế tạo theo thiết kế của ông Trần Đại Nghĩa và sản xuất đại trà bằng gang của Võ Quý Huân lần lượt ra chiến trường, góp phần vào công cuộc kháng chiến.

Chuyện sau này mới kể  

Không chỉ là người làm ra mẻ gang đầu tiên của ngành Đúc-Luyện kim Việt Nam mà Võ Quý Huân còn là người thầy đào tạo ra những “thợ cả” đầu tiên chuyên ngành Đúc-Luyện kim.

Các học trò từ thời kháng chiến: Hà Học Trạc, Hoàng Bình, Thái Duy Thẩm, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hựu, Nguyễn Thái Đồng, Phan Cầu… và sau ngày hòa bình 1954: Trần Lum, Lê Ba, Trần Bạch Đằng, Vũ Đình Hoành… đều trở thành những cán bộ chủ chốt trong ngành Đúc- Luyện kim và Bộ Công nghiệp nặng. Sau này, ông được bầu là Phó Chủ tịch đầu tiên của Hội Đúc-Luyện kim.

Công lao của ông với đất nước là rất lớn nhưng không thể không nhắc đến sự hy sinh hạnh phúc cá nhân cho dân tộc. Khi trở về nước, ông phải xa vợ và con gái. Không ngờ, cuộc chia ly ấy kéo dài hàng chục năm.

Không thể quay lại Pháp ngay. Thời gian trôi qua, ông xây dựng gia đình mới. Với tình yêu tha thiết với ngành nghề mà con trai đầu – sinh đúng thời gian cho ra mẻ gang đầu tiên – được đặt tên Võ Quý Gang Anh Hào, sau này là Võ Quý Thép Hăng Hái.

Nhưng cũng chừng ấy năm, ông trăn trở vì còn có 1 gia đình ở lại Pháp. Thậm chí, con gái ông từng “mang hận với người cha thất hứa”. Trước khi nhắm mắt (tháng 9/1967) ông trăng trối hết với tổ chức và gia đình.

Và cũng phải gần 50 năm sau ngày chia ly, con gái Võ Quý Hòa Bình cùng cháu ngoại của ông đã đến Paris, tìm đến nhà chị Võ Quý Việt Nga. Cuộc trùng phùng với đầy nước mắt đã làm chị Việt Nga hiểu hơn về bố Võ Quý Huân đã hi sinh hạnh phúc và sự nghiệp để phụng sự Tổ quốc. Gia đình đoàn tụ, âu cũng làm cho ông dưới suối vàng thanh thản.

Võ Quý Huân, 1 trí thức yêu nước, đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc. Nhân dân không bao giờ quên ông!

Trần Kiến Quốc
Vkyno (st)