Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Chuyện của người làm nhà cho Bác Hồ

Những ngày được gần Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi thực hiện nhiệm vụ làm nhà cho Bác tại chiến khu Việt Bắc, để lại trong ông Lê Nhạ, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, những kỷ niệm không bao giờ quên.

Câu chuyện cuộc đời, gắn với trọng trách gần 60 năm về trước như cuốn phim quay chậm hiện dần trong ký ức ông.

chuyen-ngươi-lam-nha-1

“Chú Kiệm”, tên do Bác Hồ đặt tên, quàng khăn, hàng cuối. Ảnh: Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Vinh dự được Bác đặt tên

Ông Lê Nhạ trào nước mắt nhìn về cõi xa xăm: “Được sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ ngày ấy thật hạnh phúc. Những năm qua, bạn bè, đồng chí lần lượt ra đi, số còn lại chắc cũng chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay. Phần lớn họ đều là người nổi tiếng, được nhiều người biết đến. Riêng tôi, chỉ là một công nhân quốc phòng…”.

Ông nhớ lại, một buổi sáng mùa thu năm 1949, khi sương chưa tan trên đỉnh núi, ông cùng với ba anh em thợ mộc được ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam, hiện nghỉ hưu ở Hà Nội, lúc đó đang phục vụ Bác Hồ, gọi “đi nhận nhiệm vụ đặc biệt”. Một người ốm không đi được nên ông và hai người bạn khác lên đường.

Ba người đi theo ông Chiến đến giữa rừng rậm, bốn bề cây rừng cổ thụ, dốc đá cheo leo, phía dưới thung sâu là một con suối nước xanh trong như ngọc. Tại một ngôi nhà, đúng hơn là một cái lán bằng tranh tre, nứa lá dựng tạm, thì xuất hiện một cụ già cao thanh mảnh, hiền từ chào hỏi: “Các chú đến đây có biết đi mô không?”.

Ông Nhạ ngập ngừng, lúng túng, quên không chào bằng Bác mà lại buột miệng chào “ông Cụ”. “Bởi lúc ở quê, tôi chỉ biết và nghe người ta nói với nhau là “Cụ Hồ” mà thôi”, ông Nhạ giải thích.

Sau khi nghe ông Nhạ và hai người bạn báo cáo về việc được phổ biến đi làm công nhân, Bác ôn tồn nhắc các ông cất hành lý và dụng cụ rồi nhận nhiệm vụ.

Phía bên kia, cách mấy hàng cây cổ thụ, ông Nhạ thấy có khoảng vài chục người chừng tuổi như mình đang cần mẫn lao động.

Bác tự tay rót nước mời ba người thợ mới tới, nhẹ nhàng căn dặn: “Các chú đến đây thì ở lại làm việc cùng anh em. Mọi người làm gì thì các chú làm nấy. Ai cũng phải tuyệt đối giữ bí mật”.

Nói xong, Bác Hồ nhìn từng người rồi ân cần đặt tên theo một trong những từ theo khẩu hiệu Người nêu ra trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí, Công, Vô, Tư…  Ông Nhạ được Bác Hồ đặt tên là Kiệm, ông Ưng (Nghệ An) là Cần và ông Ngụ (Hà Tĩnh) là Liêm. Ba ông được ông Tạ Quang Chiến tiến cử làm nhà cho Bác.

Bác dạy câu chuyện cảnh giác và tính giản dị

“Khi được gặp Bác Hồ, chúng tôi ai nấy đều xúc động không nói nên lời, mắt đỏ hoe”, “chú Kiệm” bồi hồi tâm sự. Rồi ông kể, chờ qua cơn xúc động, Bác Hồ ôn tồn căn dặn chúng tôi, đại ý, công việc các chú làm không đơn thuần là chặt gỗ, đục nhà mà là công việc liên quan đến cách mạng, đến kháng chiến nên phải hết sức giữ bí mật, nêu cao cảnh giác, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà…

Sau khi về lán làm việc, vâng theo lời căn dặn của Bác Hồ, ông Nhạ cùng với hai người bạn, ai lo công việc nấy. Mỗi tiếng chặt, cưa, xẻ gỗ, mỗi tiếng đục, đẽo… các ông đều đặc biệt chú ý, không để phát ra tiếng động mạnh. Họ tuân thủ không tiếp xúc với ai khi chưa có lệnh của người chỉ huy.

Dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo trực tiếp của ông Chiến, chẳng bao lâu ba người và một số anh em khác đã hoàn thành ngôi nhà sàn để Bác làm việc và ở.

Nói là ngôi nhà sàn “cho oai” nhưng thực chất rất đơn sơ: Ngôi nhà chỉ bốn cây gỗ đục ra, cao khoảng 5m. Sàn nhà được lát bằng gỗ, phía trên là những tấm phên đan vội để Bác ở và làm việc. Phía dưới trệt là nền đất, có kê những khúc gỗ tròn làm ghế ngồi, và những “chiếc bàn” bằng tre và nứa dùng làm nơi họp Bộ Chính trị.

“Xung quang nhà được đan bằng phên nứa, gió và rét của núi rừng Việt Bắc lọt qua, lạnh thấu xương. Mỗi đợt gió mùa đông bắc kéo về rét tê tái, lòng chúng tôi vô cùng thương cảm Bác”, ông Nhạ buâng khuâng kể lại.

Sau này, ông Cần có “sáng kiến” đan và thưng (cài) thêm một lớp phên nữa để ngôi nhà được kín gió hơn nhưng Bác nhất quyết không đồng ý, vì lý do: ” Khi nào lán của tất cả các chú có hai lớp phên thưng xung quanh thì lúc đó mới thêm phên cho ngôi nhà Bác ở”.

Cảm động và thương Bác cháy lòng, để Người rét ba người thấy mình như có lỗi, nên ai nấy ra sức lao động để có đủ phên thưng hai lớp đỡ rét cho bản thân và cho Bác. Nhưng khi phên đan sắp đủ, do yêu cầu giữ bí mật, các ông được lệnh cùng Bác và Bộ Chính trị dời sang một địa điểm mới, vào sâu hơn trong núi rừng vẫn thuộc chiến khu Việt Bắc (Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn).

“Bác vẫn nhớ mình!”

“Trong suốt hơn ba năm ở, công tác và trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, chúng tôi đã ba lần dời địa điểm để đảm bảo bí mật và an toàn cho Bác Hồ và Chính phủ. Những ngày được bảo vệ Bác là những ngày hạnh phúc của cả đời người mà không bao giờ tôi quên bởi gần người ấm áp đến lạ thường”, “Chú Kiệm” kể tiếp.

Tuy Người rất bận công việc quốc gia đại sự nhưng cũng không quên những người công nhân, bảo vệ… Năm 1952, ông Nhạ được điều về xây dựng căn cứ địa ở chiến khu Việt Bắc, không còn được trực tiếp làm việc và bảo vệ Bác Hồ. Đầu năm 1953, khi ông đang lao động trên công trường thì được Bác đến thăm. Trong lúc anh em công nhân vui mừng khôn xiết  râm ran chào Bác, Người nói với cán bộ bảo vệ đi cùng: “Chú Kiệm đang làm việc trên đó kìa”. Xúc động trước chân tình của vị lãnh tụ, ông Nhạ chạy đến bên Bác.

“Một người công nhân, một chiến sĩ bảo vệ như tôi, xa Bác có dễ gần một năm, nay đến thăm công trường, Bác vẫn nhớ làm tôi vô cùng sung sướng vì vinh dự…”, ông Nhạ bày tỏ.

Theo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh

Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm rừng đá Lộ Nam (Trung Quốc)

Tháng 8 năm1962, trong dịp đi nghỉ ở Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm một thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Vân Nam – Rừng đá Lộ Nam. Bà Đỗ Lệ Hoa, một diễn viên giọng nữ cao của Đoàn ca múa tỉnh Vân Nam được tháp tùng Người. Đó là những ngày vinh hạnh trong cuộc đời của bà.

Một năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ và quen biết Đỗ Lệ Hoa. Đó là vào cuối năm 1961, trong dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang thăm Trung Quốc. Một hôm, Đoàn nghệ thuật Trung Quốc đang chuẩn bị đi thăm và biểu diễn ở Miến Điện thì được điều động đến biểu diễn phục vụ đoàn Việt Nam tại Hoài Nhân Đường, bà Đỗ Lệ Hoa là thành viên của đoàn. Kết thúc buổi biểu diễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi riêng Đỗ Lệ Hoa lên đứng giữa Người và Mao Chủ tịch chụp một bức ảnh. Nét mặt thân thương, hiền từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một ấn tượng không bao giờ phai đối với bà. Nhận được tin Hồ Chủ tịch mời bà và chồng bà cùng đi với Người thăm Rừng đá Lộ Nam, Đỗ Lệ Hoa vô cùng xúc động, không biết gần một năm đã trôi qua, Hồ Chủ tịch có thay đổi gì không? Bà chỉ ước ao được gặp ngay Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến.

Khi Đỗ Lệ Hoa đến khách sạn Thạch Lâm, Hồ Chủ tịch đã đứng đợi sẵn ở cửa. Vừa trông thấy Đỗ Lệ Hoa, Người nhanh nhẹn bước tới, thân thiết gọi: “Cháu Lệ Hoa, hoan nghênh cháu, cháu vẫn nhớ lần gặp mặt đầu tiên của Bác cháu ta ở Bắc Kinh chứ?. Đỗ Lệ Hoa vui vẻ trả lời: “Nhớ chứ ạ! Nhớ chứ ạ!Rồi bà rút ra một bức ảnh được phóng to đưa cho Hồ Chủ tịch. Người vừa xem bức ảnh vừa quay sang nhìn khuôn mặt Đỗ Lệ Hoa. Người ôn tồn hỏi: “Cháu ốm hay sao? Sắc mặt cháu hơi xanh!”. Đỗ Lệ Hoa báo cáo với Người rằng gần đây mình phải vào bệnh viện điều trị. Với giọng hiền từ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Diễn viên như các cháu là tài sản quý báu của đất nước, phải hết sức giữ gìn sức khoẻ đấy!Nghe Người nói, Đỗ Lệ Hoa cảm động không cầm được nước mắt.

Tối hôm đó, trong phòng khách nhỏ của khách sạn, các nghệ sĩ tỉnh Vân Nam đã tổ chức biểu diễn văn nghệ chào mừng Hồ Chủ tịch. Đỗ Lệ Hoa tham gia biểu diễn đầy nhiệt tình. Bà đã hát hai bài hát Việt “Quê hương” và “Tiếng đàn tơ rưng”. Nghe xong bài hát thứ hai, Hồ Chủ tịch rất vui, Người đứng dậy đến bắt tay Đỗ Lệ Hoa và cảm động nói: “Cháu thực sự là nghệ sĩ của nhân dân hai nước Trung – Việt”. Đỗ Lệ Hoa thưa với Người rằng mình phát âm tiếng Việt chưa chuẩn lắm. Hồ Chủ tịch thân mật nói: “Không đâu, hát giống tiếng Việt lắm. Cháu hát quá tốt!.

Tiếp đó, Đỗ Lệ Hoa hát tặng Người một bài dân ca tỉnh Tứ Xuyên nhan đề “Cô gái Tứ Xuyên đảm đang”. Nghe xong, Hồ Chủ tịch bắt chước giọng Tứ Xuyên đọc lại lời của bài dân ca đó: “Cô gái Tứ Xuyên bao đảm đang, chân cô đi đôi giầy hoa…Nhìn dáng vẻ dí dỏm của Người, mọi người đều vui lây.

Những ngày nghỉ ở rừng đá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều thắng cảnh. Đứng ở Đình Vọng Phong, nơi cao nhất của rừng đá, Người trông thấy các xã viên người dân tộc Xa-ni đang làm ruộng ở gần đó, trong lòng rất cảm kích. Người nói: “Nhân dân Trung Quốc đã đổ mồ hôi, cần cù lao động như thế để chi viện cho nhân dân Việt Nam chúng tôi, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt – Trung thật là đằm thắm gắn bó như chân với tay!.

Dưới khối đá có hình tượng Asưma, Chủ tịch Hồ Chí Minh say sưa nghe Đỗ Lệ Hoa kể câu chuyện truyền thuyết đẹp đẽ về cô gái dân tộc Xa-ni có tên là Asưma. Nghe xong, với tình cảm sâu lắng, Người nói: “Ở Việt Nam cũng có những Asưma hiền lành và thông minh. Các cô gái đó dũng cảm, cần cù, không sợ cường bạo. Đó là niềm tự hào của dân tộc chúng ta!.

Trên đỉnh Liên Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh phóng tầm mắt ngắm nhìn phong cảnh bao la, tráng lệ và nói với những người cùng đi: “Ở đất nước Việt Nam cũng có nhiều nơi phong cảnh đẹp, nhưng phần lớn đã bị quân xâm lược Pháp tàn phá. Chúng tôi nhất định phải nhanh chóng khôi phục lại đất nước tươi đẹp của chúng tôi.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Họa sĩ Trần Từ Thành tự hào với “Bức tranh Bác Hồ”

“Bức tranh Bác Hồ” đặt trên nóc Nhà Thông tin Thành phố Hà Nội, số 93 Đinh Tiên Hoàng, hơn 30 năm qua, là niềm tự hào không chỉ của riêng tác giả Trần Từ Thành.

Tác phẩm tái hiện hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tươi cười bế một em bé trên nền chim hòa bình ngậm cành ô liu. Nét vẽ chim bồ câu được họa sĩ cách điệu từ hình chữ S (biểu hiện bản đồ Việt Nam) có bố cục chặt chẽ, màu sắc đơn giản. Bức tranh mang thông điệp về niềm khát khao hòa bình và đoàn kết dân tộc. Tác phẩm, đặt giữa trung tâm Thủ đô, hàng chục năm qua đã trở thành hình ảnh thân quen, gắn liền với mỗi người dân Hà Nội.

Họa sĩ Trần Từ Thành 1

Bức tranh mang niềm khát khao hòa bình.

Chia sẻ về ý tưởng hình thành nên tác phẩm này, họa sĩ Trần Từ Thành kể: Năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông hào hứng tìm đề tài cho bức tranh tham dự cuộc Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc đầu tiên tổ chức vào đầu năm 1976 tại khu triển lãm Vân Hồ, Hà Nội.

Sau nhiều cân nhắc lựa chọn, vị giảng viên Đại học Mỹ thuật Công nghiệp đã dựa trên ý thơ của nhà thơ Tố Hữu trong bài Ta đi tới: “… Lòng ta không giới tuyến. Lòng ta chung một Cụ Hồ. Lòng ta chung một Thủ đô. Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam…”.

Họa sĩ Trần Từ Thành 2

Họa sĩ tự hào vì tác phẩm của mình
trở thành hình ảnh quen thuộc nơi góc phố lớn tại Hà Nội.
 

Bức tranh được trao giải Nhì tại triển lãm năm đó và được Bộ Văn hóa – Thông tin lúc bấy giờ in và phát hành trên toàn quốc. Ngoài ra tác phẩm còn được treo ở Bảo tàng Lênin ở Matxcơva (Nga), La Habana (Cuba)….

Gần đây, nhiều nhà sưu tập trong nước và quốc tế “dạm mua” bản gốc của bức tranh nhưng Trần Từ Thành đều từ chối, bởi với ông “đó là kỷ vật riêng của đời mình”.

Ngọc Điệp

Theo http://vnexpress.net

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh non thiêng Ba Vì

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”– trích Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam đọc trong Lễ tang của Người năm 1969.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đã để lại muôn vàn thương tiếc cho đồng bào cả nước. Nhân dân cả nước đã lập bàn thờ Bác Hồ ở khắp nơi, từ trong chính ngôi nhà mình, ở các tỉnh, ở những nước Người đã bôn ba và đặt chân tới trên đường đi tìm đường cứu nước. Thậm chí trong nhiều đền, chùa, đình, đền, cũng lập bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ lòng thành kính, nhớ thương Người.

Một trong số những nơi thờ Bác được nhiều người biết đến là Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh non thiêng Ba Vì. Từ cuối năm 1998 đến đầu năm 1999, nghĩa là bước vào dịp kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đồng bào và cán bộ vốn có tâm huyết xây dựng Ðền thờ Bác Hồ. Sau đó, họ cùng nhau góp công sức tự tổ chức thiết kế và xây dựng chỉ trong khoảng sáu tháng đã căn bản hoàn thành công trình. Việc xây dựng Ðền thờ là phù hợp với một số ý tưởng trong Di chúc của Bác và cũng đã được sự phê chuẩn của đồng chí Ðào Duy Tùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư hồi đó. Ngôi đền tưởng niệm Bác Hồ được bắt đầu xây dựng từ ngày 1/3/1999 và khánh thành đúng vào ngày 21 tháng Bảy âm lịch năm ấy, ngày giỗ Bác. Người được vinh dự thiết kế ngôi đền là kiến trúc sư Hoàng Phúc Thắng, còn kiến trúc sư Nguyễn Trực Luyện làm chủ nhiệm công trình, chỉ đạo thi công. Kinh phí xây dựng đền do nhiều tập thể, cá nhân đóng góp, thể hiện sự biết ơn đối với Bác Hồ, người Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá do Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc tôn vinh.

Núi Ba Vì được coi là ngọn núi tổ của nước Đại Việt. Dãy núi Ba Vì có ba ngọn, đỉnh cao nhất là đỉnh Vua, cao 1.296m. Đỉnh giữa là đỉnh Tản Viên, cao 1.281m. Đỉnh thứ ba là đỉnh Ngọc Hoa, cao 1.120m. Trên đỉnh ngọn núi nổi tiếng nhất là Tản Viên có Đền Thượng thờ Thánh Tản – một trong “tứ bất tử” theo tín ngưỡng của người Việt (Thần Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Bà chúa Liễu Hạnh). Còn trên đỉnh núi Vua cao nhất tọa lạc một ngôi Đền thờ một con người, một nhân vật của lịch sử, của thời đại – Đền thờ Bác Hồ.

Để đến được Đền thờ Bác Hồ, từ chân núi Ba Vì, phải đi ô tô leo dốc quanh co vượt quãng đường dài 12km, tiếp đó, phải leo hơn 1.300 bậc thang đá bên vách núi. Tới đây du khách như lạc vào cõi thiêng, bởi được đi xuyên qua cánh rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ vút lên, mốc và rêu xanh bám phủ thân cây, dây leo chằng chịt, sương mù phủ giăng giăng mặc dù vẫn có mặt trời.

Đến thăm Đền thờ Bác Hồ ở trên đỉnh non thiêng Ba Vì, ngồi bên trong ngôi Đền nhìn ngắm cảnh vật bên ngoài ta thấy thiên nhiên hòa quyện ùa vào từ mọi phía làm cho ngôi Đền luôn tràn ngập ánh sáng, chứ không cô tịch mờ ảo như ta thường gặp ở các ngôi đền khác. Ngoài bức tường phía sau Ban thờ Bác, ba bề xung quanh và phía trước của ngôi Đền có kiến trúc khác biệt với các ngôi đền truyền thống là không có tường bao quanh, tất cả được để mở bằng những chiếc cột to tròn dùng làm trụ đỡ cho toàn bộ mái Đền và những chân tường thấp chỉ nhô cao chừng 0,5m, mặt trên được lát những tấm gỗ dài chắc chắn tựa như những chiếc ghế băng dài làm chỗ nghỉ chân cho du khách. Ngôi Đền được kiến trúc thật gần gũi, hài hoà với thiên nhiên như những ngôi nhà lúc sinh thời Bác vẫn thường dùng để ở và làm việc, đúng như mong muốn mà Bác đã để lại trong Di chúc: “…Nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi…”.

dền thờ BácNgôi Đền thờ Bác trên đỉnh Vua núi Ba Vì

Trên bệ thờ đá có bức tượng Bác Hồ đúc bằng đồng trong tư thế ngồi, phía trên là bức hoành phi ghi dòng chữ nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trên cao là cờ Tổ quốc ghép bằng đá hoa cương màu đỏ. Hai bên bệ thờ là chuông đồng và khánh đồng. Ngoài ra còn nhiều hạng mục công trình khác tạo nên một không gian hài hòa, tinh tế nhưng vẫn hết sức giản dị.

ảnh bác ngopi đọc báo nhần dânTượng Bác Hồ trong tư thế ngồi đọc Báo Nhân Dân

Những hình ảnh và hiện vật về Bác được bày trang trọng tại đây làm ta càng nhớ tới Người. Trước Đền, một tấm bia đá lớn nguyên khối, mặt trước khắc một đoạn trong Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam được đọc trong lễ tang của Người năm 1969: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”. Mặt kia khắc bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

đền thượng bia đáTấm bia đá lớn nguyên khối, mặt trước khắc một đoạn trong Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam được đọc trong Lễ tang của Người năm 1969

Ở bức tường đầu hồi của Đền có hình trống đồng với hình bản đồ Việt Nam và dòng chữ màu vàng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi – Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Những cán bộ, nhân viên trạm kiểm lâm thuộc Vườn quốc gia Ba Vì, ngoài công việc tuần tra bảo vệ gần một nghìn héc-ta rừng thuộc đặc khu bảo vệ nghiêm ngặt, còn đảm nhiệm việc trông coi Ðền thờ Bác Hồ. Các cán bộ kiểm lâm ở đây cho biết từ khi khánh thành đến nay, hằng ngày Đền thờ Bác luôn ấm áp khói hương và hoa tươi. Ngôi Đền được các cán bộ kiểm lâm của Vườn Quốc gia Ba Vì túc trực, chăm sóc bất kể lúc thời tiết khắc nghiệt nhất. Vào những ngày lễ, Tết và ngày mồng Một, Rằm, số lượng người đến thăm Đền và lễ Bác rất đông. Đông khách nhất là vào ngày giỗ Bác, 21 tháng Bảy Âm lịch hằng năm, rồi đến trong dịp kỉ niệm ngày sinh của Bác (19-5), những ngày đầu năm, cuối năm.

1Một em bé theo bố mẹ đi lễ Đền thờ Bác Hồ

Mặc dù đường lên Đền thờ Bác phải leo qua không ít đoạn dốc dựng đứng của con đường nhỏ luồn lách, uốn lượn quanh những gốc cây rừng nhưng trong dòng người chậm rãi leo lên từng bậc thang đá, có rất nhiều trẻ em và cả những cụ già tay chống gậy, hai bên có con cháu dìu cho bước chân thêm vững để lên được đến Đền thờ thắp nén hương thơm dâng lên Người. Khi về đây cảm nhận sự thành kính của mỗi người khi đến thăm Đền thờ ta như thấy thêm kính yêu hơn vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Để từ đó nguyện suốt đời học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người và cũng hứa với Người sẽ cố gắng phấn đấu tu dưỡng học tập, rèn luyện đạo đức để đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Phong cách dân chủ của Bác

10a. Phong cách dân chủ của Bác1Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với Thường vụ Trung ương Đảng
quyết định mở Chiến dịch Biên Giới (1950)

Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước dân chủ, ở đỉnh cao của quyền lực, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể là phương châm chỉ đạo suy nghĩ và hành động của Người.

Trong hàng trăm, hàng nghìn câu nói của Người về dân chủ đều luôn luôn nổi bật vai trò chủ động, tích cực của dân, đều luôn luôn nhất quán với tinh thần trọng dân gắn liền với trọng pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh rành mạch và tường minh trong những khẳng định sau đây:

– Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới không có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

– Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân.

– Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.

– Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng, đều ở nơi dân…

Người còn nhấn mạnh, trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ. Cán bộ, đảng viên cũng như nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải thi hành nghĩa vụ của người chủ. Đây là những tóm tắt cô đọng nhất bản chất của dân chủ và quyền làm chủ, có giá trị như những định nghĩa kinh điển về dân chủ. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, dân là chủ thể gốc của quyền lực. Dân ủy quyền cho Nhà nước để Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của dân. Đảng cũng chỉ vì dân mà tồn  tại.

Dân chủ và quyền làm chủ của dân phải trở thành một giá trị thực tế chứ không phải một lời nói suông. Dân chỉ biết đến dân chủ, công bằng, bình đẳng khi dân được ăn no, mặc ấm. Độc lập tự do phải tranh đấu mà có được thì phải làm sao cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do độc lập rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Thiết thực đến như vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Đó là dân chủ thực chất để làm chủ thực chất, không hình thức giả dối, cũng không phù phiếm giả tạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người luôn đòi hỏi cán bộ, đảng viên trước hết là những người lãnh đạo phải có tác phong tập thể dân chủ thực sự. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể, mọi thói hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ.

Trước hết, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời tinh thần ấy cũng thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ đặt mình cao hơn tổ chức, ở ngoài sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, mà luôn luôn tranh thủ bàn bạc với tập thể Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội, khi cần thiết, triệu tập cả Hội nghị chính trị đặc biệt – một hình thức Diên Hồng của thời đại mới – để xin ý kiến các đại biểu quốc dân.

Khi bàn về cách làm và xuất bản loại sách Người tốt, việc tốt với một số cán bộ, Người nói: “Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: Bác nói gì, các chú cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa”.

Thứ hai, là phải mở rộng dân chủ để phát huy sức mạnh của tập thể. Người thường nói: Đề ra công việc, đẻ ra nghị quyết, không khó, vấn đề là thực hiện nó. Ai thực hiện? – Tập thể, quần chúng. Vì vậy, có dân chủ, bàn bạc tập thể mới cùng thông suốt, nhất trí, mới cùng quyết tâm thực hiện, tránh được “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Sở dĩ xảy ra mất đoàn kết vì người đứng đầu ở nơi đó còn chuyên quyền, độc đoán, áp đặt chủ quan, trong hội nghị thì mọi người miễn cưỡng đồng tình, sau hội nghị nếu đã không thông thì sẽ không quyết tâm thực hiện. Vì vậy, Người yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”; “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Bản thân Người là tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ. Trong công tác lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Người luôn có ý thức sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, sức mạnh tập thể và sức mạnh tổng hợp của quần chúng, nhân dân. Trước khi quyết định một công việc hệ trọng, Người đều hỏi lại cẩn thận và chu đáo những người đã giúp mình. Tất cả những ai đã được Bác giao việc đều cảm nhận sâu sắc điều đó.

Phong cách dân chủ Hồ Chí Minh được thể hiện từ việc lớn cho đến việc nhỏ: Chuẩn bị ra một nghị quyết hay dự thảo một văn kiện, viết một bài báo… Người đều đưa ra thảo luận trong tập thể Bộ Chính trị, tham khảo ý kiến những người xung quanh. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định: Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học – kỹ thuật… Người đều huy động sự tham gia của đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều được cân nhắc kỹ, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban hành, ít phải thay đổi, bổ sung.

Thứ ba, là nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, nhưng Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Người giải thích: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách, tức là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”.

Tác phong tập thể – dân chủ của Bác luôn luôn tạo ra được không khí làm việc hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo. Cương vị lãnh đạo càng cao, thì càng đòi hỏi phải có tác phong tập thể – dân chủ thật sự, chứ không phải hình thức. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể. Mọi thói hình thức chủ nghĩa, sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ. Nhiều lần, Người đã phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, do đó mà người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên, cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, không còn hăng hái, không còn sáng kiến trong khi làm việc. Từ thực hành dân chủ cho nhân dân, đến thực hành dân chủ trong Đảng, trong cơ quan, tổ chức, phong cách dân chủ của Bác Hồ là sự thể hiện nhất quán của tư tưởng đạo đức vì dân, vì nước, như Người từng khẳng định 5 điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

– Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.

– Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.

– Vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ cương của xã hội. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, hay ngược lại, dân chủ quá trớn, lợi dụng dân chủ để “kéo bè, kéo cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi, hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên pháp luật, làm cho nhân dân bất bình, cần phải bị lên án và loại bỏ. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh, tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào, phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo, đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói, nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ phát biểu tại Đại hội đại biểu thanh niên Hà Nội (Nói ngày 27/9/1945)

7a.
Ảnh Tư liệu

Các anh em nếu đến đây để đợi nghe một bài diễn văn bóng bảy, hoa mỹ thì các anh em sẽ thất vọng. Những lời tôi nói với anh em sẽ chỉ rất giản dị, rất thiết thực. Tôi sẽ không khen ngợi anh em, mà chỉ chú ý vạch ra những khuyết điểm của anh em. Những khuyết điểm ấy, có mấy điều lớn nhất sau đây:

Một là, thanh niên nhất là thanh niên Hà thành vốn giữ tính kiêu căng, biệt phái, bởi vậy những tổ chức đều chia rẽ, cô lập, chưa hợp thành được một mặt trận thống nhất.

Hai là, thanh niên tuy có hăng hái, sôi nổi nhưng kém sáng kiến; việc gì cũng đợi ở Tổng bộ hoặc Chính phủ ra cho mệnh lệnh, chỉ thị, giúp hộ ý kiến hoặc định hộ kế hoạch; lại không biết tự ý đề nghị với Chính phủ những việc cần phải làm hay phải sửa chữa.

Ba là, các đồng chí phụ trách thanh niên không chịu đào tạo, dìu dắt thêm những cán bộ mới, tuy những phần tử có thể trở nên cán bộ vẫn không thiếu trong đám thanh niên.

Bây giờ, cần phải làm sao cho mất những khuyết điểm ấy. Việc cần trước nhất là làm thống nhất các tổ chức thanh niên. Mỗi giới thanh niên có một nguyện vọng, quyền lợi, đường lối phát triển riêng. Bây giờ không phân biệt, giới nào cũng phải đứng chung trong một tổ chức duy nhất. Nhưng điều đó không phải sẽ cột chặt tất cả sự hoạt động riêng của mỗi giới, không cho tự phát triển, miễn là những hoạt động ấy không đi ngược lại với hướng hoạt động chung của toàn thể. Sau đó, việc nên chú ý đến là sự định rõ những công việc và nhiệm vụ của thanh niên như là: Đi sâu vào quần chúng để san sẻ những thường thức về chính trị và quyền lợi công dân; ủng hộ Chính phủ không phải chỉ bằng những lời hoan hô suông thôi, mà cần phải một mặt giải thích cho dân chúng về những nỗ lực của Chính phủ, một mặt phê bình, giám đốc, tham gia ý kiến vào công việc của Chính phủ; chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự luyện ngay từ bây giờ để sau này lên thay những thủ lĩnh mà gánh vác việc trọng đại của nước nhà. Nói tóm lại, phải làm sao cho tổ chức thanh niên Hà Nội phải thành một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc.

Nói ngày 27-9-1945. Báo Cứu quốc, số 53, ngày 28-9-1945.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Những câu chuyện nhỏ kể về Bác Hồ

6a.Hình ảnh “Ông Ké” trở nên quen thuộc, gần gũi với đồng bào các dân tộc

Câu hát ví dặm

Chiều ngày 18-5-1969, các diễn viên Đoàn văn công Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để mừng thọ Bác 79 tuổi. Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa: “Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta…”. Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh: “Có hay không các chú?”. “Thưa Bác hay ạ!”. Bác hỏi chị Mai Tư: “Trong ta chừ còn dệt vải nữa không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. “ Rứa cháu có biết hát phường vải không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát, Mai Tư thưa với Bác: “Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết lời cũ ạ!”. Bác bảo: “Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy học trò”. Cháu tiếp đi…”. “Dạ, thưa Bác, có phải dài lưng tốn vải ăn no lại nằm không ạ!”. “Giờ cháu tiếp câu nữa đi”. Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc: “Lưng dài có võng đòn cong; áo dài đã có lụa hồng vua ban”. Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An. Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa: “Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng “A ờ ơ… Ru em em ngủ cho muồi”, Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi”. Minh Huệ hát tiếp: “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu; Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”. Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải”. Thế mới biết Bác Hồ đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà vẫn không quên từng tên làng, ngõ xóm, từng câu hát ví dặm của quê nhà.

Bác Hồ trên đồi Yên Lập

Tết Ất Tỵ 1965, đúng dịp kỷ niệm Đảng ta tròn 35 tuổi, Bác Hồ về chúc Tết đồng bào, chiến sĩ tỉnh Quảng Ninh. Tối 30 Tết, Bác nghỉ lại ở khu Bãi Cháy, nơi sáu tháng trước máy bay Mỹ bắn phá. Đoàn cán bộ, chiến sĩ đi theo Bác được lãnh đạo tỉnh mời dự bữa cơm đón giao thừa. Chúng tôi đang ngồi tập trung ở một phòng ăn nhỏ, bỗng thấy Bác Hồ từ trên gác hai đi xuống bước vào phòng. Bác chúc Tết mọi người cùng gia đình. Bác nói lời thông cảm với những anh chị em ngày Tết phải xa nhà để đi công tác ở Quảng Ninh.

Chúng tôi đứng cả dậy chúc Bác năm mới mạnh khoẻ, sống lâu để lãnh đạo nhân dân ta sản xuất, chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Bác bảo nhắc nhà bếp chuẩn bị xôi nắm cho Đoàn hôm sau đi đường.

Sáng mồng 1 Tết, Bác qua phà Bãi Cháy để sang thị xã Hòn Gai. Ở đầu bến phà, Bác đã thấy dấu tích còn lại của cuộc chiến đấu đánh thắng không quân Mỹ, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên. Hơn 20.000 đồng bào, chiến sĩ Quảng Ninh đứng kín một sânTrường học Hòn Gai reo mừng đón Bác. Bác nói chuyện, khen ngợi dân Quảng Ninh đã làm nên chiến thắng oanh liệt ngày 5-8-1964 và thợ mỏ Quảng Ninh đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 200.00 tấn than.

Bác rời Hòn Gai đi chúc Tết nhân dân ở huyện Yên Hưng. Bác “xông đất” một số gia đình xã viên Hợp tác xã Khe Cát. Các cụ, các cháu trong xóm chạy ra nắm tay Bác mời Bác vào nhà. Bác mừng thấy trong hoàn cảnh chiến tranh gia đình nào cũng có bánh mật, bánh chưng, chè Ba Đình và hoa đẹp. Bác chúc Tết các gia đình.

Bác ra đường, đi bộ một quãng. Bỗng Bác dừng bên một cột mốc khắc chữ: “Lộc Ninh – 1995 km”. Bác nói với anh em trong đoàn: “Tết này không biết đồng bào miền Nam ăn Tết có được yên ổn không?”.

Cả đoàn đề nghị Bác nghỉ một lát trước khi tiếp tục đi chúc Tết đồng bào, chiến sĩ. Bác đồng ý và chỉ mọi người lên ngồi nghỉ trên một đồi thông bên đường thuộc xã Yên Lập. Bác dặn: Đừng hái lộc để bảo vệ rừng.

Chúng tôi quây quần bên Bác. Bác gọi phóng viên Báo Nhân Dân đến cho ngồi cạnh Bác. Trời xanh cao. Tiết xuân ấm dịu. Đi làm việc từ mờ đất, mọi người đã đói. Bác nói: “Các chú đã có gói xôi mang theo. Các chú lấy ra ăn rồi lên đường”.

Nắm xôi ngày Tết ấy trên đồi Yên Lập bùi ngon đến lạ thường.

Những kỷ niệm sâu đậm nhất

Năm 1965, bắt đầu thời kỳ chiến tranh phá hoại của Giônxơn, tôi (Hoàng Thị Mễ) về công tác ở Vĩnh Linh, làm Trưởng Ban Kiểm tra của Đảng trong khu vực và được cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra toàn quốc.

Lần này, đến thăm hội nghị, Bác mặc một bộ ka ki giản dị. Trông người vẫn khoẻ khoắn, nhanh nhẹn. Tôi rất mừng. Bác huấn thị cho chúng tôi nhiều điều hết sức quý báu về công tác kiểm tra, về đạo đức, phẩm chất của người cộng sản. Bác dặn đi dặn lại, đại ý: Công tác kiểm tra có quan hệ đến sinh mệnh của từng người đảng viên. Làm công tác kiểm tra tốt thì có lợi cho Đảng, có lợi cho mỗi đồng chí của ta. Bác nhắc nhở các đại biểu nữ càng phải đi sâu kiểm tra, bảo đảm quyền lợi cho đảng viên phụ nữ. Chúng tôi ghi tạc những lời Bác dạy. Làm công tác kiểm tra không được thành kiến, phải có lượng khoan hồng, đồng thời cần cứng rắn về nguyên tắc. Những lời dạy của Bác thật là quý báu cho chúng tôi và cho đất Vĩnh Linh nóng bỏng lửa đạn quân thù. Ngay từ đầu Bác đã hết sức quan tâm đến mảnh đất này, Bác rất chú ý đến các cháu thiếu nhi và chị em phụ nữ Vĩnh Linh, Bác dặn: Trong cuộc chiến đấu ác liệt này, các cháu Vĩnh Linh là những hạt giống quý, những mầm non xanh tươi, phải được giữ gìn sao cho mầm non đó cứ tươi tốt lên, dù trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào. Bác chỉ thị: Phải sơ tán hết các cháu, không được để cháu nào bị địch giết hại ở Vĩnh Linh. Ngày Tết sắp đến, Bác nhắc các tỉnh phải gói bánh chưng gửi cho các cháu. Riêng Bác, Bác hay gửi bánh kẹo cho các cháu Vĩnh Linh. Cho đến giờ các cháu vẫn nhớ và nhắc đến “Quà Bác Hồ”. Thỉnh thoảng Bác lại hỏi thăm đồng bào và phụ nữ Vĩnh Linh có khoẻ mạnh không, sản xuất chiến đấu và học tập ra sao?

Năm 1968, địch buộc phải ngừng bắn, Bác chỉ thị ngay phải tiếp tế khẩn trương cho Vĩnh Linh, chủ yếu là đường, vải, thuốc. Các xe tải phải chuyên chở cho Vĩnh Linh, Cồn Cỏ và phải coi đây là một công tác rất quan trọng. Hồi đó tôi là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Vĩnh Linh, được phụ trách phân phối hàng về các xã. Tôi đã chấp hành nghiêm chỉnh lời Bác dạy. Việc phân phối được bảo đảm công bằng, hợp lý, chú ý các cháu mồ côi, các cụ già, bà mẹ các thương binh, bệnh binh…

Nhận được quà Bác cho, đồng bào Vĩnh Linh vô cùng hồ hởi bảo nhau: chúng ta phải làm gì để tỏ lòng biết ơn Bác.

Riêng tôi, lời dạy của Bác luôn là nguồn khuyến khích, động viên lớn nhất. Nhớ lại những lời dạy bảo của Bác về phẩm chất của người đảng viên, người cán bộ phải hết lòng vì nhân dân phục vụ, lại nghĩ tới tình thương yêu của Bác đối với nhân dân Vĩnh Linh như biển cả, tôi thấy mình có thêm sức mạnh, cùng với anh chị em dân quân, du kích làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Đi thăm miếu Khổng T

Ngày 19-5-1965, nhân lúc đang thăm Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến quê hương Khổng Tử. Hai giờ chiều, trong bộ quần áo lụa Hà Đông, Bác Hồ thong thả bước vào Khổng phủ trang nghiêm, cổ kính. Bác kể cho các cán bộ cùng đi: “Cho đến năm 1937, Khổng Đức Thanh là lớp con cháu đời thứ 77. Bố Khổng Tử có ba vợ. Khổng Tử là con vợ thứ ba. Khổng Tử lấy vợ sinh con là Khổng Lý… Đời Tống, Nguyên, Thanh đều góp của, góp công sửa sang Khổng phủ, Khổng miếu… Điều đó chứng tỏ học thuyết Khổng Tử từ lâu thành hệ tư tưởng chính thống, có sức sống qua nhiều thời đại. Chúng ta không gạt bỏ tất cả mà phải chọn lọc, tiếp thu những cái tốt đẹp nhất để làm giàu cho mình, cho con cháu mình…”. Đứng dưới gốc cổ thụ ở Khổng miếu mà nghe nói chính tay Khổng Tử trồng, cách đây 2.400 năm, Bác nói, giọng trầm lắng: “Khổng Tử là người chủ trương quyền bình đẳng về của cải và sự công bằng trong đời sống. Câu “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” mà Bác trích là từ câu của Khổng Tử: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên. Đã công bằng thì không nghèo, đã hoà mục thì không thiếu, lòng dân đã yên thì không sợ nghiêng đổ”. Rời Khổng miếu, sang Khổng Lâm, dạo bước dưới bóng cây cổ thụ, Bác Hồ lại tiếp tục nói chuyện. Bác nhắc đến chữ “nghĩa chiến” của Mạnh Tử trong sách “Khổng học đăng” chính là chiến tranh nhằm mục đích nhân nghĩa, Bác nói: “Khổng Tử thường nêu “dân vi bang bản” (dân là gốc của nước) hoặc “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc)…”. Gần ba giờ vừa đi xem cảnh, vừa nói chuyện, đến năm giờ chiều, Bác cùng đoàn cán bộ lên xe lửa về Tế Nam. Ngồi trên tàu, nhìn nắng chiều nhạt dần trên triền núi mờ xa, Bác đọc bài thơ chữ Hán vừa làm: Thăm Khúc Phụ :

“Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ

Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa

Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?

Lấp loáng bia xưa, chút ánh tà”.

Câu chuyện về chiếc tàu thủy phá lôi mang biệt hiệu T5 và tấm lòng của Bác

Năm 1965, tôi (Phan Trọng Tuệ) làm Chính ủy kiêm Tư lệnh đường mòn Hồ Chí Minh. Một hôm anh Vũ Kỳ gặp tôi và nói:

– Anh có phim tư liệu gì mới đem vào chiếu cho Bác xem.

Tôi đưa cuộn phim về giao thông vận tải, quay từ Hà Nội vào đến Vinh cho Bác xem. Bác xem phim rất chăm chú và hỏi thăm tình hình nhân dân trong đó.

Tôi báo cáo với Bác:

– Chúng cháu muốn đảm bảo giao thông phải dựa vào dân. Nhân dân nhiều khi phá cả nhà để lát đường cho xe qua.

Bác nói:

– Nhân dân không nhà không cửa thì ở vào đâu? Các cháu học hành thế nào?

Tôi thưa với Bác:

– Các cháu vẫn được học. Học dưới hầm. Giao thông vẫn có những chuyến xe đặc biệt chở dụng cụ học tập và sách vở cho học sinh.

Nghe tôi nói thế, Bác mới yên tâm và khen:

– Thế là tốt. Nếu chú có gặp các đồng chí trong đó, cho Bác gửi lời thăm đồng bào.

Bác vừa nói chuyện vừa suy trầm tư, vẻ mặt Bác rất xúc động.

Tôi vào khu IV truyền đạt lời thăm hỏi của Bác cho các đồng chí trong đó, các đồng chí rất xúc động.

Bộ phim mang vào chiếu cho Bác xem có cảnh phá thủy lôi bằng kích thích. Cho ca nô chạy nhanh qua bãi thủy lôi. Thủy thủ lái ca nô mặc áo bảo vệ kèm phao bơi. Bác xem và hỏi:

– Mặc như thế kia thì cử động thế nào được?

Tôi báo cáo với Bác:

– Ca nô chạy nhanh, thủy lôi sẽ nổ, thủy thủ phải mặc như thế để đảm bảo an toàn.

Bác nghe xong, suy nghĩ một lát rồi nói:

– Các chú đó thật dũng cảm. Nhưng chú thử nghĩ xem có phương pháp nào điều khiển ca nô chạy tự động qua bãi thủy lôi, chứ làm thế này nguy hiểm cho tính mạng của các chiến sĩ.

Tôi suy nghĩ rất nhiều về gợi ý của Bác. Sau đó tôi cho họp Hội đồng kỹ thuật, báo cáo lại ý kiến của Bác. Mọi người đều rất tán thành và đề nghị thiết kế tàu không người lái, điều kiển từ xa.

Sau đó một loại tàu mới có biệt hiệu là T5 ra đời, có người điều khiển từ xa để phá hủy thủy lôi. Đó là do bao công sức đóng góp của các anh em làm công tác kỹ thuật sáng chế.

Khi chiếc tàu này mới được chế tạo, chúng tôi cho mang lên Hồ Tây chạy thử. Lần chạy thử đó có mời đồng chí Tố Hữu đến xem. Nhờ chiếc tàu đó mà chúng tôi đã phá được rất nhiều thủy lôi, đảm bảo giao thông đường thủy thông suốt, lại không nguy hiểm đến tính mạng cho các chiến sĩ.

Lời phát biểu của Bác đã tác động đến anh em kỹ thuật, giúp họ suy nghĩ, phát huy sáng kiến và chế tạo ra chiếc tàu mang biệt hiệu T5.

Ngồi xem phim với Bác, Bác hỏi nhiều điều mà chúng tôi không lường hết được. Bác quan tâm đến mọi vấn đề. Bác muốn biết hết tất cả mọi việc.

Bác quan tâm đến công việc chung, nhưng cũng không quên những việc nhỏ, làm cho tôi rất cảm động. Tôi đưa phim vào chiếu cho Bác xem. Sau đó Bác cho phép tôi mang vợ con vào thăm Bác. Tôi còn nhớ khi đó là đầu năm 1967.

Bác hỏi tôi:

– Chú đi vào trong kia bằng phương tiện gì?

Tôi báo cáo với Bác:

– Cháu đi bằng ô tô. Đoạn nào không đi được bằng ô tô thì đi xe đạp.

Bác nghe, rồi nói:

– Đi bằng ô tô hay đi bằng xe đạp cũng phải thật chú ý và cảnh giác vì máy bay Mỹ có thể bắn phá bất ngờ.

Trên đây là một số kỷ niệm về Bác mà tôi còn ghi nhớ. Những kỷ niệm này sẽ mãi mãi không bao giờ phai mờ trong ký ức của tôi.

Tâm Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Cố hoạ sĩ Vũ Cao Đàm và món quà của người xa xứ

Sinh năm 1908 tại Việt Nam, mất năm 2000 tại Pháp, Họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm là tác giả của nhiều tranh, tượng sáng giá, được săn lùng trong các phiên giao dịch quốc tế…

Co hoa sy 1Tượng Bác Hồ do Vũ Cao Đàm thực hiện năm 1946

Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng (ông là em ruột của bác sĩ Vũ Đình Tụng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương binh; là anh ruột của dược sĩ Vũ Công Thuyết, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), năm 1946, nhân chuyến Hồ Chủ tịch sang thăm Pháp, Vũ Cao Đàm đã tới chào và xin được nặn tượng Người, trở thành nghệ sĩ Việt kiều đầu tiên và duy nhất được nặn tượng Người trong chuyến công cán năm ấy…

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương bắt đầu khai giảng khóa I từ năm 1925, với 8 sinh viên đầu tiên là các họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Nguyễn Tường Tam, Mai Trung Thứ, Lê An Phan và George Khánh. Vũ Cao Đàm là sinh viên khóa II của trường này, nhưng là khóa đầu tiên của Khoa Điêu khắc (1926-1931). Thoạt đầu, Vũ Cao Đàm tham gia cả hội họa và điêu khắc, nhưng tới năm thứ nhì thì ông chuyển hẳn sang điêu khắc. Về việc này, ông từng kể: “Thầy Tardieu (Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – NV) thấy tôi có khả năng về điêu khắc và tôi đã nặn tượng bán thân cho cha tôi, ông khen đẹp. Cho nên năm thứ nhì, tôi học thẳng sang ngành điêu khắc và tôi rất thích, sau đó tôi chuyển về chân dung”.

Năm 1931, Vũ Cao Đàm tốt nghiệp khóa học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với kết quả xuất sắc. Ông được nhận học bổng sang Pháp nghiên cứu và nâng cao kiến thức về tạo hình tại Bảo tàng Louvre. Năm 1938, Vũ Cao Đàm kết hôn với nghệ sĩ dương cầm Pháp Renee. Trong thời gian diễn ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), việc làm tượng trở nên hết sức khó khăn. Lý do là ở thời kỳ ấy, nhất là khi quân đội Đức chiếm đóng nước Pháp, họ sẵn sàng tịch thu những vật dụng bằng đồng để phục vụ việc đúc vũ khí. Việc đổ khuôn đồng bị cấm. Vũ Cao Đàm phải nặn tượng bằng đất nung rồi đánh bóng (như các bức ông dựng chân dung vợ chồng thi sĩ Jean Tardieu, con trai thầy dạy cũ của mình). Tình thế khiến Vũ Cao Đàm quyết định chuyển từ làm tượng sang vẽ tranh. Ông vẽ, thoạt tiên là tranh lụa, rồi sơn dầu. Lý do chuyển sang sơn dầu, ngoài sự đam mê khám phá còn xuất phát từ sự bất tiện trong việc thực hiện cũng như bảo quản tác phẩm. Ông cho biết: “Tôi thấy tranh lụa bị giới hạn bởi kích thước của bức tranh, vì có miếng kính che gìn giữ cho lụa cho nên không thể vẽ to được”.

Co hoa sy 2Hoạ sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm (thứ hai từ trái qua) thời là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Cùng với các họa sĩ Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu…, bằng những sáng tác giàu tìm tòi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật truyền thống phương Đông và hội họa phương Tây, Vũ Cao Đàm đã góp phần nâng cao vị thế của người họa sĩ Việt Nam với bạn bè quốc tế. Nếu như ở Pháp, từng có thời kỳ, mỗi cuộc triển lãm mở ra, tranh của Vũ Cao Đàm chỉ bán được một vài bức, thì sau này, Vũ Cao Đàm đã có thể bán tranh cho các galery ở Mỹ và Bỉ. Trong các họa sĩ từng định cư tại nước ngoài, cùng với Lê Phổ, Vũ Cao Đàm là họa sĩ có giá tranh bán luôn ở mức cao và liên tục nhiều năm. Ngoài tranh lụa, tranh sơn dầu, Vũ Cao Đàm còn tham gia sản xuất tranh in đá. Cách đây ít lâu, một bức tranh in đá của ông đã được nhà đấu giá Sothebys bán với giá lên tới 30.000 USD.

Bây giờ, xin được nói kỹ hơn về việc họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm thực hiện bức tượng và phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người sang thăm Pháp năm 1946.

Chúng ta đã biết: Ngày 31/5/1946, Bác Hồ bắt đầu thực hiện chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo ông Raymond Aubrac sau này kể lại thì ngày 27/7 năm ấy, trong một cuộc chiêu đãi do các Việt kiều ở Pháp tổ chức để chào mừng người đứng đầu của nước Việt Nam mới, ông Aubrac đã mời Bác Hồ về ở nhà mình – một căn nhà được xây dựng từ thế kỷ XVIII, có vườn tược rộng rãi, nằm ở phía Bắc Thủ đô Paris và cách Paris khoảng 20 phút xe hơi. Bác vui vẻ nhận lời và ngoài ăn ở, sinh hoạt, Người còn thường xuyên tiếp khách tại nhà ông Aubrac. Ông Aubrac còn nhớ rõ, tháng 7 năm ấy, nhân ngày sinh nhật của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh ghi cảnh một bà mẹ đang vươn cánh tay dài với những ngón mảnh dẻ vuốt đầu đứa con mới sinh của mình. Bức tranh do họa sĩ Vũ Cao Đàm thực hiện.

Trong biên niên sử về Hồ Chí Minh có ghi: Ngày 1/7/1946, họa sĩ Vũ Cao Đàm đến chào Hồ Chủ tịch, xin phép được vẽ và nặn tượng Người. Cùng ngày hôm ấy, một số văn nghệ sĩ Pháp tên tuổi như Richard Bloch, Aragon, Triolet, Moussinac, Borne, Masson cũng đến diện kiến Người.

Hiện nay, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh có lưu giữ một bức phù điêu tròn và tấm ảnh chân dung Bác Hồ do đích thân họa sĩ Vũ Cao Đàm chụp, phía sau ảnh có chữ ký và bút tích của Bác: “Tặng vợ chồng chú Đàm và các cháu – Thân ái. Hồ Chí Minh”. Hai kỷ vật này họa sĩ Vũ Cao Đàm trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh nhân chuyến người em trai ông – dược sĩ Vũ Công Thuyết có chuyến công tác tại Pháp năm 1976.

Con gái họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm là họa sĩ Yanick Vũ, trong một bài viết đã kể lại: Sau buổi tiếp chuyện Vũ Cao Đàm, Bác Hồ đã tặng nhà họa sĩ ảnh và huy hiệu của Người. Tấm huy hiệu đó đã được Vũ Cao Đàm “nhân bản” thành nhiều bức phù điêu tại một cơ sở đúc tiền. Và những bức phù điêu này đã được phái đoàn của ta dùng làm quà tặng chính thức trong thời gian công cán ở Pháp. Có thể nói, để thực hiện công việc giàu ý nghĩa này, Vũ Cao Đàm đã gặp nhiều khó khăn. Sau khi cuộc chiến tranh Pháp – Việt nổ ra, nhà của Vũ Cao Đàm thường xuyên bị nhà chức trách Pháp kiếm cớ khám xét, lục soát. Có lần, do bị người gác cổng tố giác nên cảnh sát đã ập đến khám xét nhà Vũ Cao Đàm. May mà ông kịp giấu ảnh và các tấm phù điêu chân dung Bác Hồ vào hòm đàn dương cầm nên cảnh sát không tìm ra. Tuy nhiên, họ đã bắt nhà họa sĩ đưa đi tra vấn tới gần sáng mới thả.

Năm 1950, 20 tấm phù điêu về Chủ tịch Hồ Chí Minh do Vũ Cao Đàm thực hiện và giấu ở một chỗ kín trong phòng khách đã bị cảnh sát tịch thu, đem đi mất. Cũng trong năm này, do phổi yếu, Vũ Cao Đàm phải chuyển xuống sống ở miền Nam nước Pháp cho phù hợp với điều kiện dưỡng bệnh. Để bảo toàn được bức tượng mà chúng ta thấy sau này, ông đã gửi nhờ gia đình một người nông dân Pháp sống ở Béziers, một thành phố thuộc tỉnh Hérault, nằm ở miền Nam nước Pháp cất giữ. Đến năm 1967, vợ chồng tác giả trở lại tìm bức tượng. Một chuyện thật cảm động: Mặc dù đã già yếu và trong tình cảnh bệnh nặng, gần như mất trí nhớ, nhưng sau khi nghe vợ Vũ Cao Đàm gợi chuyện, người nông dân nọ đã hỏi: “Thưa bà, bà đi tìm bức tượng Hồ Chí Minh phải không?”. Thì ra, bức tượng được cất giấu trong kho đồ cũ, dưới một lớp rơm. Năm sau, gia đình Vũ Cao Đàm định chuyển bức tượng này về Việt Nam thì đúng thời điểm diễn ra cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) nên không xin được hộ chiếu.

Bức tượng gốc vốn được làm bằng chất liệu thạch cao. Để lưu giữ được lâu dài tác phẩm đặc sắc này, năm 1996, họa sĩ Yanick Vũ đã mang bức tượng sang Tây Ban Nha, tìm một cơ sở đúc đồng nổi tiếng để chuyển bức tượng từ chất liệu thạch cao sang chất liệu đồng. Bức tượng nặng 35 kg, trong đó phần chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được làm bằng chất liệu đồng đen, cao 45,7 cm, và phần bệ bằng đá màu ghi đen, cao 11, 8cm. Năm 1998, bức tượng đã được gia đình họa sĩ Vũ Cao Đàm tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bức tượng đã nhiều lần xuất hiện trong các cuộc triển lãm tổ chức tại đây và công chúng đã rất ấn tượng với một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện được phong thái của vị lãnh tụ kính yêu trong thời điểm vận nước hết sức khó khăn. Câu chuyện càng trở nên có ý nghĩa khi bức tượng là tác phẩm của một nghệ sĩ Việt kiều đầu tiên và duy nhất nặn tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến Người thăm Pháp năm ấy.

Năm 2000, tức là hai năm sau khi bức tượng được tặng lại cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam, họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm qua đời. Hẳn ông rất thanh thản bởi trước khi ra đi nơi đất khách quê người, ông đã trọn nghĩa vẹn tình với quê hương yêu dấu…

Tạ Ngọc Châu
Theo http://cand.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Phong trào thi đua ái quốc: Những lời Bác Hồ căn dặn thiếu niên, nhi đồng

 “ Các cháu yêu quý

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Sau đây Bác viết mấy dòng

Gửi cho các cháu, tỏ lòng nhớ thương”.

Đây là những dòng mở đầu Bức thư trung thu gửi các cháu nhi đồng (đăng trên báo Cứu quốc, số 1904, ngày 12/9/1951). Có thể nói, trong suốt cuộc đời, Bác Hồ luôn hết mực quan tâm đến các cháu thiếu niên, nhi đồng. Với Bác, “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”.

Cả cuộc đời, Bác luôn dành tình yêu thương, dành sự quan tâm sâu sắc cho thiếu niên, nhi đồng. Và hơn thế, Bác coi thiếu niên, nhi đồng cũng chính là một lực lượng quan trọng trong phong trào thi đua ái quốc. Chính vì vậy, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948), khi nhắc đến lực lượng này, Bác đã nhấn mạnh: “Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn”.

thi-dua-ai-quoc-nhi-dong-cdJPG
Bác Hồ luôn dành tình yêu thương sâu sắc cho nhi đồng

Thật vậy, phong trào thi đua ái quốc là một ngọn lửa mạnh mẽ, tạo nguồn sức mạnh quan trọng cho dân tộc ta. Để có được sức mạnh ấy cần có sự chung tay, chung sức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong đó, không thể thiếu thế hệ thiếu niên, nhi đồng. Dù tuổi còn nhỏ nhưng cũng chính là một lực lượng quan trọng. Bởi khi hoàn cảnh đất nước gặp nguy nan, mỗi người góp sức nhỏ để tạo nên sức mạnh lớn cho dân tộc. Và như thế, thiếu niêu, nhi đồng có vai trò không nhỏ trong sự nghiệp cách mạng: “Người lớn cứu nước đã đành/ Trẻ em cũng góp phần mình một tay/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tuỳ theo sức của mình”.

Trong Lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công, đăng trên báo Sự thật, ngày 1/8/1949, Bác Hồ đã nói: “Các cháu nhi đồng thì thi đua học tập và giúp mọi công việc. Có nhiều cháu đã gửi tiền nhờ tôi góp vào quỹ kháng chiến”.

Trong bài “Giấc ngủ mười năm” (đăng trên báo Sự thật, Xuân Kỷ Sửu 1949) Bác Hồ một lần nữa nhấn mạnh: “Các em nhi đồng thi đua học hành và giúp đỡ công việc nhẹ cho người lớn. Các em cũng hăng đáo để. Nhiều nơi, ngoài buổi học, các em còn tự tổ chức từng tốp nuôi vịt, nuôi tằm trồng rau, trồng sắn”.

thi-dua-ai-quoc-b
Các em nhỏ ở mọi miền của Tổ quốc đều mong muốn được vào Lăng viếng Bác Hồ
Ảnh: Điệp Anh

Trong bức thư trung thu gửi các cháu nhi đồng (đăng trên báo Cứu quốc, số 1904, ngày 12/9/1951), Bác đã khuyên các em nhỏ như sau:

“Các cháu phải ghét, ghét cay ghét đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn. Vì chúng nó mà ta khổ.

Các cháu phải yêu, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động.

Các cháu phải gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình chiến sĩ, gắng giữ gìn vệ sinh và giữ gìn kỷ luật, gắng học hành.

Các cháu phải đoàn kết, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam với nhau, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam cùng nhi đồng Trung Quốc, Liên Xô, các nước bạn và nhi đồng thế giới.”

Khi nhắc đến phong trào thi đua, Bác Hồ nhấn mạnh:

“Các cháu phải thi đua, tùy theo sức của các cháu làm được việc gì có ích cho kháng chiến thì thi đua làm việc ấy.

Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, kháng chiến thắng lợi thì trung thu sẽ vui vẻ hơn”.

Trong những năm kháng chiến, mỗi khi nhận được thư hay bất cứ thông tin nhi đồng khổ sở thế nào, Bác đều rất đau đớn. Nhưng trên hết, vượt qua những nỗi khổ ấy, nhi đồng ta vẫn đấu tranh. Dù những hành động nhỏ nhưng điều đó chính là minh chứng cho lòng yêu nước, tinh thần thi đua ái quốc của nhi đồng ta. Khi nói về những kết quả đấu tranh của các em nhi đồng Bác đã nói: “… Làm cho Bác vui lòng, vì các cháu ấy dũng cảm. Làm cho Bác và tất cả đồng bào càng căm ghét bọn thực dân và bù nhìn”.

Trong thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi năm 1951 Bác viết: Ngày 1-5, ngày của những người lao động thế giới tỏ tình đoàn kết, đấu tranh. Còn ngày 1-6 “là ngày của các cháu nhi đồng trong thế giới tỏ tình đoàn kết và sức đấu tranh của mình…”. Hình thức đấu tranh của các cháu nhi đồng mà Người đưa ra rất cụ thể, thiết thực. Đó là, các cháu cần phải “thi đua học tập, thi đua tăng gia sản xuất; thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ. Thế là các cháu đấu tranh”. Bác còn khuyên nhủ: “Các cháu phải đoàn kết, thương yêu nhau” và là đoàn kết, thương yêu giữa nhi đồng trong nước với nhau, cũng như bạn bè thiếu nhi trên thế giới. Bác gọi “đó là tinh thần quốc tế”.

Nhi đồng chính là lực lượng quan trọng, là tương lai của một đất nước. Chính vì vậy, Bác luôn quan tâm đến cuộc sống của từng em nhỏ. Bác luôn dành tình thương yêu đặc biệt, động viên thế hệ măng non của đất nước qua các lá thư nhân ngày Quốc tế thiếu nhi: Các cháu yêu quý! Ngày 1-6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới. Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô… Nhưng nước Việt Nam ta, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của. Cho nên, người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến. Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng.“Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng”.

thi-dua-ai-quoc-nhi-dong 2
Các em nhỏ chính là các mầm non, là tương lai của đất nước

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Bác Hồ luôn dành sự thương nhớ đến thiếu niên, nhi đồng miền Nam. Bởi chiến tranh gian khổ quá, các cháu thiếu niên, nhi đồng sẽ phải chịu rất nhiều đau thương. Vì thế, trong thư gửi các cháu miền Nam năm 1965, Bác ao ước:“Bắc Nam sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta gặp mặt, trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu là một anh hùng thiếu nhi”. Hơn thế, Bác luôn căn dặn các cháu phải “yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, phải tự lực cánh sinh… thi đua học tập, thi đua trong mọi việc…”.

Có thể nói, những lời dặn dò của Người đã tạo động lực cho thế hệ thiếu niên, nhi đồng thi đua, cố gắng, phấn đấu để góp sức vào sự thành công của cách mạng Việt Nam.

Đất nước đã hòa bình, thế hệ thiếu niên, nhi đồng giờ được hưởng những điều kiện sống đầy đủ hơn. Và hơn lúc nào hết, các em cần cố gắng hơn để xứng đáng với những mong muốn của Bác, với những hy sinh của cha anh.

Trước lúc đi xa, Bác để lại muôn vàn tình yêu thương cho dân tộc Việt Nam, trong đó Người không quên nhắc đến thế hệ thiếu niên, nhi đồng bằng những tình cảm đặc biệt: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Một lòng khắc sâu tình cảm, những lời dạy của Bác, thiếu niên, nhi đồng Việt Nam luôn cố gắng phấn đấu học tập làm theo lời Bác để xứng đáng với danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”. Bởi như lời Bác đã nói: “Ngày nay, các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới”.

Thanh Huyền
bqllang.gov.vn

Tình cảm của Bác với các cháu thiếu nhi

thi-dua-ai-quoc-nhi-dongBác Hồ với thiếu nhi

Trong muôn vàn tình thân yêu của Người dành cho nhân dân, có một tình yêu lớn dành cho thiếu niên nhi đồng. Thiếu niên và nhi đồng luôn luôn được Bác Hồ dành cho một tình thương yêu đặc biệt. Tấm lòng yêu thương và những lời dạy của Người vẫn luôn đồng hành cùng thiếu niên nhi đồng cả nước, là di sản văn hóa vô giá của toàn Đảng, toàn dân và của thế hệ trẻ nước ta.

Sinh thời, dù luôn bận bịu với việc nước, nhưng Bác Hồ vẫn dành nhiều thời gian quan tâm đến thế hệ măng non, bởi theo Bác, chính những thế hệ này sẽ là những chủ nhân tương lai của đất nước. Bác Hồ thường có thư gửi các cháu mỗi dịp khai trường, hay Tết Trung thu, Tết Thiếu nhi. Lời lẽ trong thư luôn ân cần, trìu mến, chí tình. Bác luôn nhắc thiếu nhi phải đoàn kết, thi đua học tập, lao động, rèn luyện đạo đức, rèn luyện sức khoẻ. Tấm lòng của Người đối với thiếu nhi được thể hiện qua những bức thư, những bài thơ mà cho đến hôm nay vẫn chan chứa tình thương yêu vô hạn.

Những vần thơ của Bác Hồ dành cho thiếu nhi chứa đựng tình thương yêu sâu sắc và thắm thiết. Người luôn nhắc đến trẻ em với một tình cảm trìu mến, nâng niu:

“Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan

Chẳng may vận nước gian nan

Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng”…

Hết lòng thương yêu và ân cần dạy bảo thiếu nhi, Bác Hồ rất tin tưởng xác định trách nhiệm trọng đại của thiếu nhi đối với tương lai đất nước. Trong thư gửi học sinh vào tháng 9 năm 1945, Bác đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Cụ thể hơn, nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội thiếu niên Tiền Phong tháng 5 năm 1961, Bác gửi đến thiếu nhi cả nước 5 lời dạy thiêng liêng:

“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào

Học tập tốt, lao động tốt

Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

Giữ gìn vệ sinh

Thật thà dũng cảm”

Cho đến hôm nay, thiếu nhi cả nước vẫn xem như đó là mục tiêu để phấn đấu, là tiêu chuẩn để đánh giá đội viên tiêu biểu của Đội. Cũng ngay trong lá thư này, Bác ân cần nhắc nhở thiếu niên nhi đồng: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Không chỉ yêu thương thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ còn khẳng định vai trò quan trọng của thiếu nhi đối với tương lai mai sau của đất nước và xác định trách nhiệm chăm sóc giáo dục các em không phải của riêng ngành nào, tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải quan tâm đến việc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, ngày 25 tháng 8 năm 1950, Bác Hồ viết: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc,thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả”.

Bác cũng căn dặn người lớn phải quan tâm chăm sóc, giáo dục các em. Người dạy, ngày Tết Thiếu nhi 1-6 nhắc nhủ người lớn trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn Thanh niên nhớ nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng và người lớn phải là tấm gương cho trẻ em, phải “khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành người công dân có tài, có đức”.

Ba tháng trước ngày đi xa, Bác lại viết bài: “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” in trên báo Nhân dân. Bác viết: “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Trong thời gian tới và trong dịp hè này, cần phải đẩy mạnh công tác thiếu niên nhi đồng đạt nhiều kết quả tốt và thiết thực”.

Trong Bản Di Chúc lịch sử của mình, Bác Hồ cũng đã hai lần nhắc đến các cháu nhi đồng, và Người đã dành muôn vàn tình thân yêu của mình cho các cháu nhi đồng Việt Nam và nhi đồng quốc tế. Tấm lòng của Bác Hồ đối với thiếu nhi Việt Nam ví như trời biển. Nỗi thương nhớ của Bác đối với các cháu không bao giờ vơi cạn. Cho đến ngày Bác phải đi xa, trong Di chúc của mình, Bác còn gửi gắm: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho các cháu thiếu niên và nhi đồng…”

Ngày nay, thiếu niên nhi đồng nước ta đã và đang được Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và toàn xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đã được thể hiện bằng luật định. Nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi 1-6, thiếu nhi nước ta một lần nữa ôn lại lời dạy của Bác Hồ kính yêu trong những câu thơ mà Bác đã gửi cho các em vào tết trung thu năm 1952:

“Mong các cháu cố gắng

Thi đua học và hành

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tùy theo sức của mình…

Các cháu hãy xứng đáng

Cháu Bác Hồ Chí Minh”.

Nhớ ơn Bác, toàn thể thiếu nhi Việt Nam nguyện cố gắng học tập, tu dưỡng và rèn luyện thật tốt, trở thành con ngoan, trò giỏi để xứng đáng là “Cháu Bác Hồ Chí Minh” như Người hằng mong đợi./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Người có công với cách mạng quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng vào Lăng viếng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 66 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, sáng ngày 29/5/2013, Đoàn đại biểu Người có công với cách mạng quận Thanh Khê, thành phố Đà Nãng đã ra thăm Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Bác và tham quan Khu Di tích K9 – Đá Chông.

da-nang-a
Các đại biểu được đón tiếp tại Nhà khách số 8 Hùng Vương

Đà Nẵng là mảnh đất anh hùng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Khi đất nước hòa bình, Đà Nẵng là một trong những địa phương trong cả nước thực hiện tốt công tác “Đền ơn, đáp nghĩa” cho các đối tượng chính sách. Với tình cảm đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng đã thực hiện chính sách ưu đãi đối với những người có công với cách mạng, gia đình có công với cách mạng góp phần nâng cao đời sống của các gia đình người có công.

Đoàn đại biểu ra thăm Thủ đô Hà Nội và vào Lăng viếng Bác lần này có 36 đại biểu là những người có công với cách mạng. Họ là biệt động thành, công an vũ trang, bộ đội, cựu lãnh đạo tỉnh ủy, cán bộ tiền khởi nghĩa, thương bệnh binh, vợ liệt sỹ, trong đó người nhiều tuổi nhất là cụ Trần Hữu Toàn, thương binh 4/4, năm nay 81 tuổi.

Tại buổi tiếp, đồng chí Nguyễn Văn Thanh, Phó Chánh Văn phòng Ban Quản lý Lăng đã tiếp đón Đoàn ân cần, chu đáo tại Nhà khách số 8 Hùng Vương và giới thiệu khái quát về công tác giữ gìn thi hài Bác trong suốt 44 năm qua, về công tác đón tiếp tuyên truyền phục vụ chu đáo đồng bào trong nước và khách quốc tế nói chung cũng như đón tiếp phục vụ các đối tượng chính sách nói riêng và trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho từng thành viên trong Đoàn. Đồng thời, đồng chí gửi lời chúc Đảng bộ, nhân dân thành phố Đà Nẵng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của mảnh đất anh dũng kiên cường trong công cuộc xây dựng thành phố, chúc các má, các bác tiếp tục là tấm gương sáng để giáo dục con cháu, thế hệ trẻ lòng yêu nước, hăng say học tập, lao động, phấn đấu xây dựng quê hương Đà Nẵng giàu đẹp hơn.

Trong không khí xúc động, bác Võ Minh Bình, nguyên chiến sỹ vệ binh Tỉnh đội Quảng Nam tâm sự: Năm 2000 là dịp lần đầu tiên tôi ra thăm Thủ đô Hà Nội và vào Lăng viếng Bác, trong niềm trào dâng xúc động tôi đã viết bài thơ “Nhớ mãi Bác ơi” trong đó có đoạn:

“Con đi dưới nắng Ba Đình

 Mà nghe sâu nặng ân tình Bác ơi !

Con nhìn Lăng Bác hồi lâu

Lòng thương nhớ Bác hồi đầu ra đi

……….”

Bác Võ Minh Bình nói tiếp: Trong lòng tôi vẫn còn nguyên niềm xúc động bồi hồi, và thầm hứa với Bác kính yêu sẽ sống xứng đáng với lời dạy của Bác.

Thay mặt đoàn đại biểu Người có công với cách mạng quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, đồng chí Trần Đình Chiến – Phó Chủ tịch UBND quận đồng thời là Trưởng đoàn đã chân thành cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu của lãnh đạo Ban Quản lý Lăng. Đồng chí bày tỏ tình cảm biết ơn và lòng tự hào sâu sắc đối với Bác và xin hứa với Bác sẽ ra sức phấn đấu sống và học tập theo tấm gương đạo đức của Bác, làm tốt mọi việc để góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng giàu đẹp.

Vân Phương
bqllang.gov.vn

Lễ báo công dâng Bác của đoàn đại biểu cháu ngoan Bác Hồ thành phố Việt Trì lần thứ 13, năm 2013

Ngày 28/5/2013, tại Quảng trường Ba Đình, 123 đại biểu cháu ngoan Bác Hồ thay mặt cho hơn 15 nghìn “Cháu ngoan Bác Hồ” thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ đã về báo công dângBác. Tham dự buổi lễ có lãnh đạo Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố, lãnh đạo Tỉnh đoàn Phú Thọ, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể thành phố, thành đoàn Việt Trì.

viet-tri-bao-cong-a
Không khí báo công thiêng liêng tại Quảng trường Ba Đình

Thay mặt Đoàn đại biểu, em Lê Thu Trang học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Tân Dân thành phố Việt Trì báo cáo với Bác những thành tích thiếu nhi thành phố Việt Trì đã đạt được trong năm qua. Cụ thể:

Về học tập: Đã có 4.880 học sinh giỏi các cấp; 236 học sinh giỏi cấp Quốc gia; 491 học sinh giỏi cấp tỉnh, 2975 học sinh giỏi cấp thành phố; trên 95% bạn xếp hạnh kiểm tốt trong toàn thành phố.

Cùng với những phong trào: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, “Thiếu nhi Việt Trì thi đua thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Đi tìm địa chỉ đỏ”, “Giúp bạn đến trường”, “Kế hoạch nhỏ”, với nhiều hình thức như vận động các bạn thiếu nhi quyên gópđược trên 15 triệu đồng từ phong trào “Kế hoạch nhỏ”; trên 1000 quyển vở, 1000 chiếc bút, trên 2000 bộ quần áo; tặng trên 50 suất quà trị giá 200.000đ/1 suất; giúp đỡ được hơn 100 học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn trong và ngoài thành phố; thường xuyên tới chăm sóc và thăm hỏi các Mẹ Việt Nam anh hùng, tặng trên 80 suất quà cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng.

Ngoài việc học tập, các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, các sân chơi “Nhi đồng vui khoẻ”, “Tuổi thơ khám phá”, “Kính vạn hoa”, “Rung chuông vàng” đã thu hút được đông đảo đội viên tham gia, tạo thành phong trào thi đua rèn luyện sôi nổi tại các chi đội, liên đội; có 68 Câu lạc bộ đang hoạt động tại các liên đội như Câu lạc bộ Toán tuổi thơ, Câu lạc bộ Ngữ văn;được nhận Bằng khen của tỉnh Đoàn về Cuộc thi tìm hiểu Công ước quốc tế về Quyền trẻ em với 03 giải Nhất, 04 giải Nhì, 02 giải Ba; thành lập được 51 Đội Tuyên truyền, Phát thanh măng non hoạt động hiệu quả, tiêu biểu là Đội Phát thanh măng non liên đội Trường Tiểu học, Trung học cơ sở Gia Cẩm, Văn Lang, Thọ Sơn, Đinh Tiên Hoàng…

Trước anh linh Chủ tich Hồ Chí Minh, những đại biểu tham dự Đại hội Cháu ngoan Bác Hồthành phố Việt Trì lần thứ 13, năm 2013 nguyện nối dài cánh tay và trí tuệ, quyết đem sức mạnh chảy thành dòng bồi đắp xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.

viet-tri-bao-cong-b
Đoàn đại biểu kính cẩn dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi Lễ, Đoàn đại biểu kính cẩn dâng hoa và vào Lăng viếng Bác.

Hải Yến
bqllang.gov.vn