Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Hình ảnh Bác Hồ trong tim nhà quay phim dân tộc Thái

Hình ảnh Bác Hồ mãi khắc ghi trong tim của nhà quay phim Điêu Chính Dụng.

Ông Dụng sinh ra trong một gia đình dân tộc Thái có truyền thống cách mạng ở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Hai người anh của ông đều là liệt sỹ, hy sinh thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Năm 1953, ông tham gia cách mạng, công tác tại Ty Tuyên truyền tỉnh Lai Châu, phục vụ trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, sau đó được chuyển về công tác tại Sở Văn hóa khu Tây Băc.

Năm 1961, người thanh niên dân tộc Thái (27 tuổi) Điêu Chính Dụng được  cấp trên cử đi học quay phim tại Xưởng phim Thời sự tài liệu trung ương. Ông Dụng được đào tạo vừa học, vừa làm trực tiếp tại Xưởng phim.

hinh anh Bac Ho trong tim nha quay phim dan toc Thai
Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Bất Bạt (Sơn Đà, Ba Vì, Hà Tây) năm 1969

Năm 1964 học xong, ông được kết nạp Ðảng và giữ lại Xưởng phim làm việc. Từ đó ông thường xuyên được phân công quay phim tư liệu về các hoạt động tại Phủ Chủ tịch và Bác Hồ.

Những hình ảnh, thước phim ông quay đã góp phần vào kho tư liệu quý giá về Đảng, Nhà nước và Bác Hồ. Bao nhiêu kỷ niệm của những năm tháng được phục vụ Bác Hồ vẫn còn in đậm trong trái tim ông.

Năm 1968, giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra ác liệt, Đoàn đại biểu Thanh niên dũng sĩ miền Nam ra miền Bắc được vào thăm Bác.

Ông Điêu Chính Dụng cùng ông Ma Cường phóng viên người dân tộc Tày được cử quay tư liệu. Đây là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời quay phim của ông.

Ông Dụng bồi hồi nhớ lại: Ngày 1/12/1968, Đoàn đại biểu Thanh niên dũng sĩ miền Nam ra báo cáo thành tích với Bác và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Bác ôm hôn các cháu, tôi thì đứng đấy quay lấy những hình ảnh thật là xúc động.

Khi đang quay, Bác quay sang tôi hỏi: Chú ở Xưởng phim nào?

Tôi trả lời: Dạ cháu ở Xưởng phim Tài liệu ạ.

Bác lại bảo: Bác có mấy ý thế này nhé: Thứ nhất, nghệ thuật quay phim, chụp ảnh của các cháu không đơn thuần là để giải trí mà còn làm công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân ở trong nước. Thứ hai, đất nước ta đang chiến tranh, phải ghi lấy những hình ảnh tội ác của đế quốc Mỹ để tố cáo trước nhân dân thế giới…

Tết Kỷ Dậu năm 1969, sau khi quay cảnh đón giao thừa tại Phủ Chủ tịch, sáng mùng 1 Tết, ông Dụng được lệnh quay phim tư liệu Bác trồng cây tại xã Bất Bạt, tỉnh Hà Tây.

Hôm đó Bác đã ân cần hỏi thăm mọi người, hỏi thăm sức khỏe và công việc của các phóng viên. Chính khoảnh khắc ấy, ông và đồng nghiệp thấy gần gũi bên Bác như cha với con, thân mật ấm áp vô cùng.

Tình cảm và lời căn dặn của Bác luôn dẫn đường cho ông, trở thành tâm niệm nghề nghiệp và cuộc sống của ông trong bước đường công tác sau này. Với lòng nhiệt tình, khát khao cống hiến, trong những năm 70 của thế kỷ XX, ông được cấp trên cử sang Lào làm chuyên gia hướng dẫn quay phim.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn đến mấy, nhớ lời Bác dạy, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của người chiến sỹ quay phim cách mạng. Với những thành tích đạt được trong công tác, năm 1970 ông và một đồng nghiệp được Xưởng phim cử làm đại diện Đoàn Việt Nam tham dự Liên hoan phim thế giới lần thứ 13 tại Berlin (Đức).

Giờ đây đã gần 80 tuổi, nhưng khát vọng cống hiến và tình yêu lao động nghệ thuật trong ông vẫn còn cháy bỏng.

45 năm đã trôi qua nhưng hình ảnh Bác Hồ kính yêu giản dị, hiền hậu với nụ cười trìu mến, luôn quan tâm thăm hỏi mọi người vẫn còn mãi khắc sâu trong trái tim ông. Chính từ tấm gương đạo đức của Bác đã giúp ông từ một thanh niên dân tộc Thái trở thành người cán bộ tốt và quyết tâm theo Đảng đến cùng.

Phát huy truyền thống cha ông, các con của ông nay đều đã trưởng thành và có gia đình riêng. Người làm công tác tài chính, người làm công an, làm công tác văn hóa, cán bộ di dân tái định cư huyện, với ông như thế là đã mãn nguyện.

Trở về với cuộc sống thường nhật, trong ngôi nhà sàn tái định cư thủy điện Sơn La khang trang đầy ắp những kỷ niệm về Bác và cuộc đời quay phim của mình, ông càng tự hào hơn và sẽ vẫn luôn học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để có cuộc sống mẫu mực, cho con cái noi theo./.

Theo http://vov.vn
Huyền Trang (st)

Bác của chúng ta thật giản dị

123th Anniversary of Uncle Ho

Mỗi năm, tháng Năm về lòng mỗi người dân Việt Nam ta lại bâng khuâng nhớ về ngày 19/5 kỷ niệm Ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Sinh thời, cứ đến dịp 19/5, Bác thường dặn các địa phương, cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình, vì Bác lo ngại tốn thời gian, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống nhân dân còn khó khăn. Đúng ngày 19/5, Bác thường đi công tác để tránh những nghi lễ tốn kém vì ngày sinh của Người. Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ tổ chức đánh bắt cá tại ao cá mà Người vẫn hàng ngày chăm sóc để biếu các cụ già, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cho anh em cơ quan phục vụ Bác để cải thiện bữa ăn.

Vào những dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan, đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết nhân kỷ niệm ngày sinh của mình. Năm 1959, nhân dịp kỷ niệm Ngày sinh 19/5 và kỷ niệm 5 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã lên thăm đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Nói chuyện với đồng bào và cán bộ dự mít tinh ở Châu Thuận, Bác khen ngợi tinh thần đoàn kết kháng chiến cũng như tinh thần đoàn kết sản xuất của tất cả đồng bào, bộ đội, cán bộ Tây Bắc. Bác có thơ chúc và trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Đoàn kết – Thi đua – Thắng lợi”. Bác nhắc nhở bà con dân tộc phải bảo vệ rừng vì rừng là vàng, là bạc, là máy móc cả. Bác đến thăm nông trường Mộc Châu, Bác tặng nông trường mấy câu: Luôn luôn cố gắng/Khắc phục khó khăn/Tiến lên thật hăng/Làm tròn nhiệm vụ”.

Dịp tháng 5/1963, ông Nguyễn Sinh Quế, Bí thư Đảng ủy xã Kim Liên, huyện Đàn (Nghệ An) có dịp ra Hà Nội đến mừng thọ Bác nhân dịp 19/5. Trước khi ông Quế ra về, Bác hỏi thăm về những xã, làng Mậu Tài, Hoàng Trù, Nguyệt Quả rồi Bác trao cho ông Quế và những người cùng đi một gói hạt phượng và Bác dặn “Các chú về chia cho mỗi nơi một ít và nhớ là phải trồng cây nào sống cây ấy”. Ngày nay, về Kim Liên, các trường học, trạm xá, các con đường có những cây phượng tháng 5 về đỏ rực một màu xen lẫn với những cây xà cừ lá xanh mượt mà.

Ngày 19/5/1965, Bác Hồ thọ 75 tuổi, đúng 18h, Trung ương “đột kích” vào chúc thọ Bác. Mọi người đông đủ, một bó hoa tươi trang trọng giữa bàn. Bác đứng dậy vui vẻ hỏi: “Bác muốn biết ai đứng ra chúc thọ hôm nay”? Đồng chí Lê Duẩn tủm tỉm cười, đồng chí Phạm Văn Đồng liếc mắt nhìn sang đồng chí Trường Chinh. Đồng chí Trường Chinh đứng dậy hướng về phía Bác:

– Thưa Bác, nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh của Bác, thay mặt Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, mặt trận và nhân dân cả nước kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu.

Bác đứng lên xúc động: “Bác cám ơn các chú nhưng trong lúc toàn dân đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại tổ chức chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên”.

Bánh kẹo được bày ra, Bác mời mọi người đến dự, mừng thọ Bác tuổi 75, lễ mừng thọ vị Chủ tịch nước đã diễn ra trong bầu không khí ấm cúng, giản dị như thế đó.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh của Người, bà Luy Stơroong – một nữ nhà văn nước Mỹ được vinh dự gặp Bác đã có những lời ca ngợi Bác của chúng ta: “Bác Hồ – hai tiếng mà người dân Việt Nam thường gọi, đó là một vị lãnh tụ giản dị nhất thế giới. Đó là nhà hiền triết đôn hậu hiểu rộng, biết sâu như thánh nhân. Đó là một người thừa trí tuệ che chở hết thảy cho mọi người khi gặp việc bất trắc xảy ra. Đó là người khi hỏi ai thì rất thân mật, cởi mở nhưng khi trả lời ai thì rất mau lẹ và bất ngờ”.

Kỷ niệm Ngày sinh của Bác chúng ta lại càng nhớ Bác, nguyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, cuộc đời Bác mà như nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi:

“… Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng soi những lối mòn…”.

Văn Song
Theo Báo Hòa Bình

Tâm Trang(st)

Một lá thơ bằng tiếng Pháp của Bác Hồ

la-thu-tieng-phap-bTiễn Bác Hồ đi Pháp, hè 1946

Cuộc chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, sau khi Chính phủ Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì có thể làm nhằm cứu vãn hòa bình. Nhưng người Pháp không muốn dễ dàng từ bỏ Đông Dương.

-*-

Ta gặp lại tướng Raul Salan, Tổng Chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam – người đã nói chuyện rất nhiều lần với Chủ tịch Hồ Chí Minh, từng tháp tùng Bác Hồ đi Pháp năm 1946. Cuộc chiến Việt – Pháp bùng nổ và số mệnh buộc họ lại là đối thủ của nhau.

Một bức thư bằng tiếng Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 10.6.1947 viết cho tướng Salan:

“Tướng quân thân mến!

Tôi vừa nhận được tin ông trở lại đất nước tôi. Năm ngoái (đối với tôi, tưởng chừng như mới chỉ hôm qua mà cũng như là đã nhiều thế kỷ), chúng ta đã cùng đi với nhau trên chặng đường dài. Chúng ta đã nói chuyện nhiều với nhau. Về rất nhiều vấn đề, về các nhân vật, các sự kiện, chúng ta đều thống nhất ý kiến. Nói tóm lại một câu, chúng ta là những người bạn rất thân.

Những tình huống ngoài sự mong muốn của chúng ta đã làm chúng ta trở thành những địch thủ của nhau. Thật rất đáng tiếc!

Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, nếu ông đã có mặt ở đây và có những quyền hành cần thiết, những sự việc đau lòng đã có thể tránh được.

Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, trong thâm tâm ông không đồng tình với cuộc chiến tranh huynh đệ này, chẳng giải quyết được cái gì cả mà chỉ tổn hại đến tình thân thiện và chậm lại sự hợp tác có tính chất xây dựng giữa hai nước chúng ta.

Nhưng thôi! Đối với tôi, bổn phận thiêng liêng của người yêu nước ra lệnh cho tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và vì đồng bào của mình. Đối với ông, chức trách quân nhân ra lệnh cho ông làm điều mà trái tim ông phản đối.

Vì chúng ta đã bắt buộc phải đánh nhau, vậy thì hãy là những hiệp sỹ cao thượng và những địch thủ đứng đắn, trong khi chờ đợi lại trở thành bạn của nhau. Chúng ta đã từng là bạn. Về mặt cá nhân, chúng ta vẫn còn là bạn. Ông có muốn thế không?

Nhân danh tình yêu nhân loại và nhân danh tình bạn giữa cá nhân chúng ta, tôi đề nghị ông hãy nghiêm cấm quân đội Pháp, không được giết hại thường dân, cưỡng hiếp phụ nữ, thiêu cháy những xóm làng không có gì tự vệ, hủy diệt các nhà thờ, đền chùa như đã làm cho mãi tới nay.

Tôi đảm bảo với ông, các quân nhân và dân sự người Pháp trong tay chúng tôi đều được đối xử rất tử tế. Tôi mong, người của chúng tôi cũng được các ông đối xử tương tự.

Ông Đại úy Các-chi-ê tốt bụng còn đi theo ông không?

Nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới bà Xa- lăng và những cái hôn âu yếm của tôi tới hai cháu trai lớn và cháu bé mới sinh của ông bà.

Mong tướng quân hãy tin vào những tình cảm đặc biệt nhất của tôi”.

Một bức thư “địch vận” cực kỳ khéo léo, được viết bằng lời văn Pháp rất uyên bác, thể hiện phong cách và tình cảm của Hồ Chí Minh. Tướng Xa-lăng cho biết: “Sau khi đọc xong, một hoài niệm tràn ngập trong tôi”…

Theo trươngtansang.net
Kim Yến (st)

Khánh thành bia kỷ niệm 100 năm Bác Hồ tới Anh

Khanh thanh bia ky niem 100 nam Bac Ho toi AnhBạn bè Anh, cán bộ cơ quan đại diện Việt Nam và du học sinh bên tấm bia kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ đến Anh. (Ảnh: Lê Phương)

Tấm bia đá kỷ niệm 100 năm Ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành đặt chân tới Anh được đặt ở vị trí trang trọng nhất ngay cửa sông Ouse đổ ra Eo biển Anh.

Ngày 19/5, tại thị trấn Newhaven thuộc quận Lewes, vùng Sussex, miền Nam nước Anh, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh và Bắc Ireland phối hợp với chính quyền thị trấn đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa nhân kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-2013), 100 năm Ngày Nguyễn Tất Thành tới nước Anh (1913-2013) trong hành trình tìm đường cứu nước.

Newhaven là nơi mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng đến khi Người làm việc trên tuyến phà quốc tế nối giữa thị trấn này với Dieppe (Pháp) qua Eo biển Anh vào khoảng thời gian sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Vì vậy, điểm nhấn của chương trình cũng chính là lễ khánh thành tấm bia đá kỷ niệm 100 năm Ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành tới Anh và sự kiện Người từng đặt chân đến Newhaven trong hành trình tìm đường cứu nước.

Nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ chân thành từ phía chính quyền Newhaven cũng như chủ sở hữu đất, chỉ trong một thời gian rất ngắn, tấm bia đã được hoàn thành ở vị trí trang trọng nhất ngay cửa sông Ouse đổ ra Eo biển Anh.

Ngay trước đó, chính quyền Newhaven cũng đã long trọng khai trương tấm banner vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các danh nhân khác từng có thời gian đến và sống ở thị trấn này.

Hội đồng thị trấn Newhaven hy vọng rằng những tấm banner vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh và các danh nhân khác sẽ giúp quảng bá hình ảnh của thị trấn nhằm thu hút thêm khách du lịch.

Giáo sư Martin Evans – Trường Lịch sử thuộc Đại học Sussex, cho biết 25 năm trước đây, một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp ở thị trấn Dieppe (Pháp) đã nói với ông rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm việc trên tuyến phà Dieppe-Newhaven.

Đối với một nhà sử học dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về cuộc đời Hồ Chí Minh, thông tin này khiến ông phải chú ý. Ông nói: “Lúc đó, có thể Người làm đầu bếp trên tuyến phà này. Đó cũng là điều khá rõ ràng bởi Hồ Chí Minh từng đến nhiều nơi trên thế giới bằng tàu thuyền.”

Người bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước tới Pháp, Mỹ…, đó là những quãng thời gian rất có ý nghĩa đối với vốn kiến thức về cách mạng của Hồ Chí Minh.

Khi kết nối những địa điểm như Paris, Dieppe, London, thì Newhaven góp phần làm giàu hơn tư liệu về hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhân dịp này, thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi tặng bức tượng đồng Bác Hồ ngồi đọc báo cho Bảo tàng Newhaven, cùng hai bức ảnh Bác Hồ tiếp gia đình Luật sư Loseby.

Phát biểu tại đây, Đại sứ Việt Nam tại Vương quốc Anh và Bắc Ireland Vũ Quang Minh khẳng định rằng việc trao tặng tượng Bác Hồ không chỉ góp phần làm giàu kho sưu tập của Bảo tàng mà còn tăng cường mối quan hệ giữa Việt Nam với thị trấn cảng Newhaven.

Đón nhận món quà đầy ý nghĩa từ phía Việt Nam, đại diện Ban Quản lý Bảo tàng Newhaven đã gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời nhấn mạnh rằng đây là một sự kiện trọng đại đối với thị trấn Newhaven đúng vào dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh tới nước Anh trong hành trình tìm đường cứu nước.

Cả hội trường lặng đi khi nghe ông Len Aldis – Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh Việt kể về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, đặc biệt là quãng thời gian 30 năm Người đi tìm đường cứu nước.

Người đã không quản ngại bất cứ công việc nặng nhọc, khó khăn nào, từ quét tuyết, nấu bếp đến làm bánh… Vừa lao động kiếm sống, vừa học hỏi, Người đã gặp nhân dân lao động tại các nước mà Người dừng chân để tìm hiểu về cuộc sống của họ từ đó tìm ra con đường giải phóng dân tộc mình khỏi ách đô hộ của thực dân – phong kiến.

Còn đối với Charlotte Crookston – Thị trưởng trẻ của Newhaven (The Young Mayor of Newhaven – vị trí danh dự nhiệm kỳ 1 năm dành cho những người trẻ tuổi có cơ hội tham gia công việc chung của chính quyền), thế hệ trẻ như cô cần phải biết về lịch sử, và việc Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đến Newhaven là sự kiện rất có ý nghĩa.

Theo Giáo sư Martin Evans, sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại không chỉ trong lịch sử Việt Nam mà cả thế giới, từng đến Newhaven luôn khiến mọi người xúc động.

Phát biểu tại lễ mít tinh kỷ niệm với sự tham dự đông đảo của bà con kiều bào, du học sinh Việt Nam và bạn bè Anh, ông Norman Baker – Hạ nghị sỹ, Quốc vụ khanh Bộ Giao thông Anh, khẳng định rằng các sự kiện diễn ra đúng sinh nhật lần thứ 123 của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mở chương mới trong quan hệ giữa Việt Nam và Vương quốc Anh nói chung và với thị trấn Newhaven nói riêng.

Theo bà Julie Carr – Thị trưởng Newhaven, sự kiện Bác Hồ từng đến Newhaven là một phần lịch sử của thị trấn này và có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với thế hệ trẻ. Trong tương lai, bà cho rằng hai bên sẽ nỗ lực tăng cường mối quan hệ hợp tác cùng có lợi, vì sự phồn vinh và phát triển của cả Việt Nam và Vương quốc Anh, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch, thương mại và đầu tư.

Đề cập đến vấn đề này, Đại sứ Vũ Quang Minh khẳng định rằng mối quan hệ hữu nghĩ giữa Việt Nam và Vương quốc Anh đã có lịch sử lâu đời. Trên cơ sở những di sản quý báu đó, hai nước nói chung và với thị trấn Newhaven nói riêng sẽ tiếp tục phát huy để thúc đẩy mối quan hệ hợp tác và tình hữu nghị. Những sự kiện diễn ra đúng dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2013 sẽ là bước đi cụ thể đầu tiên để tăng cường mối quan hệ này./.

 Theo http://www.vietnamplus.vn
Huyền Trang (st)

Bác không đồng ý với Nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức kỷ niệm Ngày sinh của Người

Câu chuyện sau đây do đồng chí Nguyễn Văn Lương, nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, BCH TƯ Đảng kể lại.

Năm 1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày kỷ niệm lớn: Kỷ niệm lần thứ 40 Ngày thành lập Đảng ta, kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Lênin, mừng thọ Hồ Chủ tịch 80 tuổi và kỷ niệm lần thứ 25 Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồi đó, sức Bác đã yếu. Để giữ gìn sức khỏe của Bác, Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng và Nhà nước thì mời Bác chủ trì, còn khi bàn những việc thứ yếu thì cứ bàn rồi báo cáo lại. Bác cũng đồng ý như vậy. Khi Bộ Chính trị bàn việc tổ chức kỷ niệm bốn ngày lễ lớn thì Bác không dự. Nghị quyết đó ra từ tháng 4. Đến ngày 8-7 thì đăng trên báo Nhân Dân. Mọi việc lớn hay nhỏ, khi Bộ Chính trị đã bàn xong đều báo cáo lại. Riêng việc này, các đồng chí cũng ngại rằng nếu Bác biết thì thể nào cũng không để tổ chức kỷ niệm ngày sinh của mình.

Hôm đó, đọc báo xong, Bác gọi các đồng chí trong Bộ Chính trị vào, Bác chỉ vào tờ báo Nhân Dân để trên bàn và hỏi: Nghị quyết này các chú bàn bao giờ mà tại sao không cho Bác biết? Bác nói đại ý: Tất cả các Nghị quyết của Đảng đều do Bộ Chính trị quyết định tập thể. Gần đây, Bác mệt, có một số cuộc họp không dự được. Đó là khuyết điểm của Bác. Khi đọc Nghị quyết đăng trên báo, Bác tán thành nhiều điểm. Chỉ có việc riêng của Bác, Bác không đồng ý. Ai cũng biết Bác là Chủ tịch Đảng ta. Đọc Nghị quyết này, người ta sẽ nghĩ rằng Bác chủ trì phiên họp Bộ Chính trị để bàn việc tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của mình cho linh đình. Thế là không đúng. Bác ngừng một lúc, giở tờ báo, chỉ tay vào một đoạn trong nghị quyết và nói: Lênin là bậc thầy của cách mạng thế giới. Bác chỉ là học trò của Lênin? Sao các chú lại đặt việc riêng của Bác ngang với những việc lớn của Đảng và Nhà nước? Bác lại chỉ tay vào một đoạn nữa trong Nghị quyết và hỏi các đồng chí trong Bộ Chính trị: Sao các chú cho in sách của Bác nhiều thế? Bây giờ nước nhà còn thiếu thốn, sách học, giấy học cho các cháu còn thiếu, thế mà sách báo của ta, kể cả sách của Bác, thì in lu bù. Nên bớt đi, cái gì cần lắm hãy in, để giấy cho các cháu học. Nói xong, Bác lại lấy ngón tay dò dò trên tờ báo. Thì ra vẫn chưa hết! Chỉ tay vào một chỗ trong Nghị quyết, ghi việc xây dựng và tu bổ những nhà bảo tàng, nhà lưu niệm của những địa phương cơ sở cách mạng Bác nói: việc này cũng cần thiết, nhưng Bác nghỉ nước ta đang có chiến tranh, nhà cửa của nhân dân bị tàn phá nặng nề, chúng ta nên để dành vật liệu trước hết xây dựng nhà ở cho nhân dân, trường học cho các cháu và nhà giữ trẻ. Khi đời sống nhân dân sung túc, lúc đó ta hãy xây dựng bảo tàng này, bảo tàng nọ.

Từ một Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bác chỉ ra nhiều bài học rất thấm thía. Bác rất khiêm tốn, không muốn đề cao cá nhân mình, lúc nào Người cũng chỉ nhận mình là học trò của Lênin vĩ đại. Mỗi việc làm của Bác đều vì dân vì nước. Ngay cả đến khi sắp từ biệt thế giới này, Bác vẫn còn căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Nhờ Bác, chúng ta nhớ những lời Bác dạy. Mọi chính sách, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ điều kiện thực tế của đất nước, và luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.

Trích từ sách: Bác Hồ sống mãi với chúng ta, t.2.
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.

Theo http://phuly.edu.vn
Thu Hiền (st)

Cựu Phó Đô đốc Hải quân Ấn Độ với kỷ niệm về Bác

Được sự giới thiệu của ông Tống Đức Huấn, Tham tán Chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ, chiều 30/4, chúng tôi tới thăm cựu Phó Đô đốc Hải quân Ấn Độ Sukhmal Jain, người đã từng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1958.

Khi nghe giới thiệu các nhà báo Thông tấn xã Việt Nam tới thăm và muốn tìm hiểu những kỷ vật, kỷ niệm của ông với Bác Hồ và trong những chuyến thăm Việt Nam, ông Jain bắt tay chúng tôi thật chặt như những người bạn thân thiết lâu ngày gặp lại và niềm nở mời chúng tôi vào nhà.

cuu pho do docÔng Sukhmal Jain (giữa) nâng bức ảnh Đoàn Hải quân Ấn Độ chụp chung với Bác Hồ tại Hà Nội năm 1958. (Ảnh: Minh Lý-Tiến Hiến/Vietnam+)

Tòa nhà của ông Jain tọa lạc tại khu Ananand Lok, ngay mặt đường August Kvanti, ở trung tâm Thủ đô New Delhi. Ngôi nhà được bày biện đơn sơ nhưng sang trọng và ấm cúng. Trong phòng khách, bên cạnh những đồ nội thất, đồ trang trí của Ấn Độ, ông kê hai bộ salông và một chiếc tủ khảm trai mua từ Việt Nam cách đây hai năm.

Ông Jain sống một mình, vì vợ ông qua đời cách đây 3 năm và hai người con gái đều đã yên bề gia thất, ra ở riêng. Dù đã ở tuổi 82, ông Jain vẫn rất nhanh nhẹn và minh mẫn. Ông dẫn chúng tôi tham quan ngôi nhà, giới thiệu những kỷ vật mà ông được tặng trong những chuyến thăm Việt Nam.

Qua câu chuyện chân tình, ông Jain cho biết, năm 1958, ông là thành phần trong Phái đoàn Hải quân Ấn Độ tới thăm Việt Nam, vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội. Ông thật sự xúc động và khâm phục trước hình ảnh giản dị, rất gần gũi của Bác Hồ. Ông còn nhớ như in đôi dép cao su Bác đi và bộ quần áo kaki màu bàng bạc mà Bác mặc hôm tiếp Đoàn Hải quân Ấn Độ.

Ông Jain cùng các sỹ quan trong đoàn đại biểu Ấn Độ được lên thăm nhà sàn, chụp ảnh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Bác tặng hoa. Cho đến nay, đã hơn 50 năm trôi qua, bức ảnh đen trắng mà đoàn hải quân Ấn Độ chụp cùng Bác Hồ vẫn được ông đóng khung cất giữ như một báu vật.

Tháng 5/1982, ông Sukhmal Jain trở lại Việt Nam lần thứ hai với cương vị Phó Đô đốc Hải quân, Chỉ huy trưởng con tàu Dunagiri của Hải quân Ấn Độ tới thăm chính thức Việt Nam. Ông đã thăm Bến Nhà Rồng, được ông Mai Chí Thọ, lúc đó là Phó Bí thư thứ nhất Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tiếp và tặng bức tranh sơn mài phong cảnh Việt Nam mà cho đến nay ông vẫn treo trên tường nhà.

Cũng trong chuyến thăm này, ông vinh dự được Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Quốc phòng Văn Tiến Dũng tiếp và được gặp gỡ nhiều tướng lĩnh quân đội Việt Nam. Ông Jain cho chúng tôi xem một kỷ vật đặc biệt mà ông được tặng trong chuyến thăm, là một vỏ đạn pháo, trên có khắc dòng chữ “Một trong những viên đạn đầu tiên bắn vào Bộ Tổng Tham mưu Mỹ-Ngụy trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.”

Thận trọng lật từng trang quyển album lưu giữ những tấm ảnh kỷ niệm trong chuyến thăm Việt Nam năm 1982, ông Jain giới thiệu với chúng tôi về từng cuộc gặp và ông vẫn còn nhớ tên các nhân vật trong ảnh, trong đó có ảnh chụp với Thứ trưởng Quốc phòng Trần Văn Quang ngày 6/5/1982 và Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu, Tư lệnh Quân khu VII ngày 7/5/1982.

Ông Jian cho biết lần gần đây nhất ông tới thăm Việt Nam là năm 2011. Sau gần 30 năm quay trở lại, Việt Nam đã thay đổi nhiều, song ông vẫn cảm thấy rất đỗi thân quen và gần gũi.

Nói về quan hệ Ấn-Việt, cựu Phó Đô đốc Sukhmal Jain cho rằng hai nước cần đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có kinh tế, thương mại, giáo dục, khoa học-công nghệ và quốc phòng.

Tiễn chúng tôi, cựu Đô đốc Jian nói ông rất cảm mến Việt Nam; kỷ niệm về những cuộc gặp trong các chuyến thăm, đặc biệt là cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khắc sâu trong tâm trí ông. Trước khi chia tay chúng tôi, ông Jain nói ông muốn học một câu tiếng Việt “Chào tạm biệt” và “Hẹn gặp lại”./

Theo http://www.vietnamplus.vn/
Huyền Trang (st)

“May mắn lớn nhất cuộc đời tôi là 5 lần được gặp Bác Hồ”

“Nếu ai hỏi may mắn lớn nhất cuộc đời tôi là gì, tôi sẽ trả lời ngay đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Nhờ có Bác Hồ kính yêu, tôi mới có cuộc sống hôm nay” – Đại úy Từ Thị Công Lễ, diễn viên Đoàn Văn công Quân khu 5, chia sẻ.

Là diễn viên của Đoàn Văn công quân khu 5, vợ chồng Trung tá Lê Tôn Sùng và Đại úy Từ Thị Công Lễ có cơ hội gặp Bác Hồ nhiều lần và đã từng vinh dự được biểu diễn phục vụ Bác. Mỗi năm vào dịp sinh nhật Bác, những ký ức về Bác lại hiện về trong tâm trí đôi vợ chồng nghệ sĩ – chiến sĩ.

Bà Lễ sinh năm 1940, quê ở Quảng Ngãi, người dân tộc Hrê; ông Sùng sinh năm 1937, quê ở Bình Định. Cả hai đều là diễn viên múa của Đoàn Văn công quân khu 5, quen nhau từ những lần đi diễn chung rồi nên nghĩa vợ chồng.

may man  3
Bà Lễ vinh dự 5 lần được gặp Bác Hồ

Bà Lễ từng được 5 gặp Bác Hồ còn ông Sùng từng 3 lần được gặp Bác Hồ. Với bà Lễ, trong 5 lần gặp Bác Hồ thì lần đầu tiên và lần cuối cùng để lại trong bà nhiều ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc nhất. Bà Lễ bồi hồi nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác: “Đó là năm 1956, khi ấy tôi mới 14 tuổi, là học sinh của miền Nam tập kết ra Bắc để học tập. Tết Trung thu năm đó, với thành tích học tập xuất sắc, tôi vinh dự có mặt trong đoàn học sinh đến Phủ Chủ tịch gặp Bác. Khi Bác xuất hiện, tất cả học sinh chúng tôi đều đứng vây quanh Bác. Tôi cố len giữa đám đông để được đứng gần Bác hơn. Tôi nói với Bác: “Bác ơi! Người dân quê cháu dặn cháu rằng nếu có điều kiện gặp Bác Hồ thì phải cố gắng nhìn cho thật kỹ, xem Bác có giống như những người bình thường không mà sao Bác giỏi thế. Bác cho cháu được nắm tay Bác, vuốt chòm râu nữa Bác nhé”. Nghe xong Bác cười và gật đầu, đôi mắt nhìn tôi âu yếm. Suốt cả buổi hôm đó tôi chỉ chăm chú nhìn Bác mà không biết hôm đó Phủ Chủ tịch chiếu phim gì cho chúng tôi xem. Trước đó, Bác đã phát cho chúng tôi mỗi đứa một cái kẹo nhưng không ai dám ăn mà để dành như một vật quý báu”.

may man  1
Ông Sùng 3 lần được gặp Bác Hồ

“Lần cuối cùng tôi được gặp Bác là năm 1967. Đây là lần Đoàn Văn công của quân khu 5 ra Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác. Đội múa của chúng tôi biểu diễn tác phẩm “Tổng ngốc sa lầy” đả kích Tổng thống Níc-xơn bị sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tại phòng chúng tôi biểu diễn, tường được lắp bằng kính nên chúng tôi vừa múa vừa nhìn Bác. Bác Hồ vừa xem vừa cười rất sảng khoái, nên chúng tôi cũng vui lây. Sau buổi biểu diễn, Bác nói: “Các cháu diễn hay lắm. Các cháu có đói không? Các cháu ăn phở nhé!”. Rồi Bác quay sang nhà thơ Tố Hữu đứng cạnh, dặn: “Chú Hữu nhớ cho các cháu ăn thật no, thật ngon vào”. Trước khi ra về, cả Đoàn được chụp ảnh cùng Bác. Lúc này sức khỏe của Người đã xuống, chúng tôi phải đỡ Bác đứng dậy”, bà Lễ xúc động nhớ lại.

Những lần khác, bà Lễ được gặp Bác khi Bác về thăm Đoàn Văn công quân khu 5. Có lần bà vinh dự được mang hoa ra sân bay đón Bác (lúc đó Đoàn văn công quân khu 5 đóng trên đất Vinh – Nghệ An).

Cũng giống như vợ mình, ông Sùng được gặp Bác trong những lần Bác thăm Đoàn Văn công quân khu 5 và vào Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác.

Ngoài ra, ông Sùng còn có dịp được biểu diễn cho Bác xem khi Bác đến thăm Đoàn Văn công Mai Dịch. Và cũng chính Bác Hồ đã đồng ý cho Đoàn Văn công của ông Sùng đi Trung Quốc biểu diễn. Sau khi qua Trung Quốc được mấy ngày thì Bác gửi thư động viên mọi người trong Đoàn. Hiện ông Sùng còn giữ bức thư đó như một báu vật.

Năm 1968, bà Lễ về làm giáo viên dạy múa Trường Nghệ thuật quân đội. Còn ông Sùng vào chiến trường Quân khu 5 tiếp tục phục vụ các chiến sĩ.

Ngày Bác Hồ mất, bà Lễ đang mang thai đứa con đầu lòng tháng thứ 8. Bà khóc nhiều lắm.

may man  2
Hai vợ chồng đã từng biểu diễn phục vụ Bác

“Hồi bố mẹ tôi mất tôi đi xa nên không biết mà khóc. Còn lúc Bác mất tôi khóc nhiều lắm. Chồng tôi phải thường xuyên động viên để tôi vơi đi nỗi buồn”, bà Lễ cho biết.

Sau giải phóng bà Lễ về công tác tại Đoàn Văn công Quân khu 5, làm Đội trưởng Đội múa; nghỉ hưu năm 1982 với quân hàm Đại úy. Còn ông Sùng nghỉ hưu năm 1990 với quân hàm Trung tá, là Phó Trưởng đoàn Văn công Quân khu 5.

15 năm nay hai vợ chồng bà Lễ tham gia công tác xã hội đều đặn, là diễn viên, biên đạo múa của đội văn nghệ Câu lạc bộ Thái Phiên Đà Nẵng. Hiện hai vợ chồng ông Sùng, bà Lễ đang sống trong căn nhà trên đường Trường Chinh, TP Đà Nẵng. Những lúc dàn dựng hay biểu diễn các tiết mục hát múa về Bác Hồ, vợ chồng bà lại nhớ về Bác trong niềm xúc động sâu sắc.

“Nếu ai hỏi may mắn lớn nhất trong đời tôi là gì, tôi sẽ trả lời ngay đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Nhờ có Bác Hồ kính yêu, tôi mới có cuộc sống hôm nay”, Bà Lễ xúc động chia sẻ.

Khánh Hồng
Theo tinmoi.vn
Kim Yến (st)

68 năm trước, Bác đã nói về “xe công”

Tháng 10-1945, nhà thơ Tố Hữu nhận được điện của Trung ương gọi ra Hà Nội và được gặp Bác Hồ. Cuộc gặp đầu tiên này đã được Tố Hữu ghi lại chi tiết trong hồi ký Nhớ lại một thời (NXB Văn Hóa Thông Tin tái bản 2002, trang 116-120).

Xin trích đoạn: … “Anh Vũ Đình Huỳnh nói nhỏ nhẹ: “Thưa cụ, anh Tố Hữu đến đấy ạ!”. Cụ nhìn thấy tôi, vẫy tay gọi đến gần và hỏi: “Chú ra đấy à?”. Tôi: “Dạ!”.

– Chú ra bằng gì? – Cụ hỏi.

xe-cong-aChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Xưởng may 10. Người góp ý kiến về cách cắt may sao cho nhanh, tiết kiệm, đảm bảo chất lượng (8-1-1959) – Ảnh tư liệu

Tôi thưa:

– Dạ, bằng ôtô.

– Ôtô của ai?

– Dạ thưa, ôtô của mình…

Cụ nhìn tôi, có vẻ ngạc nhiên, nói lại:

– Của mình, là của ai?

– Dạ, của cơ quan ạ.

Cụ cười:

– Nhớ nhé, ôtô của cơ quan chứ không phải của các quan đâu đấy!

Mới nghe lần đầu đã thấy cụ thật sắc sảo. Cụ vừa dạy bảo rất nghiêm khắc, vừa “chơi chữ” như đùa vui: “của cơ quan, chứ không phải của các quan”… Thế là đã được một bài học. Cụ nói tiếp:

– Bây giờ Đảng cầm quyền có nhà cao cửa rộng, có ôtô sang trọng, dễ lên mặt “quan” lắm. Xe của cơ quan là để đi làm việc công, không phải để các chú đi chơi mang cả quan ông, quan bà, quan cô, quan cậu, thế là hỏng đấy.

Tôi thưa nhỏ:

– Dạ, bọn tôi đâu dám làm bậy”.

Ngày 17-10-1945, báo Cứu Quốc đăng thư Hồ Chủ tịch gửi các Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư này một lần nữa câu chuyện xe công đã được nói đến khi nêu ra những lỗi lầm rất nặng nề mà nhiều người phạm. Đó là những lỗi lầm: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.

Chuyện xe công được nêu ra trong đoạn viết về lỗi lầm hủ hóa: “Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, tự hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên cho đến các cô các cậu ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai chịu?” (Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 1, NXB Sự Thật Hà Nội, 1980, trang 370-371).

Bác Hồ coi việc tùy tiện sử dụng xe công là thuộc về “hủ hóa”. Hủ hóa, theo Từ điển Hán – Việt, là “trở thành hư hỏng, thối nát, tồi tệ” (trang 177). Mới đây chuyện xe công, nhà công lại rộ lên trong dư luận và công luận, bao gồm cả ý kiến phát biểu của một số cựu và tân bộ trưởng. Xem ra thì lại vẫn còn phải “chờ xem” về cả hai mặt tự nguyện và sửa đổi các qui định để việc sử dụng xe công không làm cho “hủ hóa” cán bộ, công chức, tức là không bị hư hỏng, tồi tệ, thối nát.

Theo Tuổi Trẻ Online
Thúy Hằng (st)

Hồ Chủ tịch với vấn đề đọc sách và tự học

Trong bài nói chuyện tại hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 1961, Hồ Chủ tịch đã tâm sự : “Về văn hoá tôi chỉ học hết tiểu học. Về hiểu biết phổ thông : 17 tuổi tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20 tuổi mới nghe rađio lần đầu.”  Vậy mà Người đã có một trí tuệ phi thường, một sự hiểu biết đáng khâm phục, đúng như nhà nghiên cứu Vasiliep đã nhận xét : “Hiếm có chính khách nào của thế kỷ XX có thể sánh được với Hồ Chí Minh về trình độ học vấn, tầm hiểu biết rộng lớn và sự thông minh trong cuộc đời”. (1)

doc-sach-tu-hoc-aBác Hồ với bạn bè quốc tế

Đạt được tầm hiểu biết ấy là nhờ Hồ Chủ tịch đã không ngừng học tập,  nói đúng hơn là không ngừng tự học. Khi nói chuyện với các đảng viên hoạt động lâu năm ( Vào ngày 9 tháng 12 năm 1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự : Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học… Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Và với Bác, nguyên lý và phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau : “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học dân”.(2) Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng đi vào tìm hiểu về phương pháp đọc sách báo của Bác Hồ và qua đó chúng tôi cũng cố gắng phân tích và nêu lên được vai trò của sách báo đối với việc tự học của Bác Hồ.

Kế thừa truyền thống ham đọc sách của dân tộc và gia đình, Hồ Chủ tịch đã luôn coi trọng sách báo. Nhưng với Người, đọc sách không chỉ đơn thuần là để giải trí hay để giải quyết các công việc sự vụ, nâng cao các hiểu biết thông thường. Người đọc chủ yêú là để phục vụ cách mạng với niềm khao khát tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Niềm ham muốn khao khát ấy đã đi theo Bác suốt cuộc đời, chi phối mọi hoạt động của Người.

Sinh ra trong cảnh nước mất, lớn lên chứng kiến nỗi bế tắc của bao tầng lớp sĩ phu yêu nước và nỗi thống khổ của nhân dân. Chính Phan Bội Châu cũng phải than rằng :

“ Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

(Nghĩa là : Non sông mất rồi sống càng thêm nhục. Sách thánh hiền tẻ ngắt càng đọc càng thêm mụ mẫm ).

Mặc dầu vậy, Bác Hồ vẫn miệt mài đọc sách. Và không chỉ đọc sách  bằng chữ quốc ngữ, sách Hán mà Người còn đọc cả sách Pháp. Với Người, sách chính là “thuốc chữa tội ngu” và là một trong nguồn quan trọng có thể đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi tự do, bình đẳng, bác ái là gì ? Từ những thắc mắc đầu tiên ấy về sau cũng chính nhờ sách báo Bác đã tìm ra con đường cứu nước cứu dân và hình ảnh “Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin” đã đi vào lịch sử.

Khi tìm hiểu về phương pháp đọc của Bác Hồ, bài học đầu tiên mà chúng ta cần phải chú ý đến là : Muốn trở thành người hiểu biết phải đọc cho rộng và khi đọc phải có ghi chép và phân loại ngay các thông tin trong sách báo. Là một người ham hiểu biết Người đã say mê đọc sách ngay từ ngày còn là một cậu trò nhỏ. Và cũng ngay từ khi tuổi trẻ Người đã có một phương pháp đọc rất đáng chú ý : Người thường khuyên và đánh dấu vào những chỗ đọc thấy cần thiết. Trong “Búp sen xanh” Sơn Tùng đã ghi lại lời tâm sự của cậu ấm Phạm Gia Cần, một người bạn của Hồ Chủ tịch thưở thiếu thời : “ở gần Thành, mình học hỏi được nhiều thứ, nhất là cách đọc sách.”(3)

Do ý thức không muốn mất thời gian đọc đi đọc lại để nhặt thông tin, nên khi đọc nghiên cứu tài liệu Hồ Chủ tịch luôn chú trọng đến việc ghi chép, đánh dấu, gạch chân, đóng khung và thậm chí cắt gián. Với cường độ đọc cao, một ngày khoảng trên hai chục tờ báo trong và ngoài nước nếu không có những biện pháp đọc khoa học thì khó có thể nhớ và tổng hợp hết được các vấn đề và thông tin đã đọc. Theo tài liệu của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương, Bác đã từng căn dặn : “Những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng để viết”. Không có ghi chép cẩn thận thì những khi cần sẽ phải mất nhiều thời gian để tìm kiếm lại.

Lênin có tác phẩm “Bút ký triết học” nổi tiếng. Trong đó ghi lại những  nhận xét và đánh giá của ông về các trào lưu tư tưởng triết học của các tác gia trên thế giới. Hồ Chủ tịch của chúng ta có “Bút ký đọc sách” trong đó ghi lại những ý chính của các cuốn sách Bác đã đọc cùng với những nhận xét đánh giá của mình.Với Hồ Chủ tịch, đọc sách không chỉ cho riêng bản thân mình mà Người luôn quan tâm đến đối tượng thích hợp liên quan đến các bài viết hoặc thông tin  được đăng trong sách báo. Trong “Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch”, Người đã viết: “Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo. Báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần, báo ngoại quốc. Báo có gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu vào, rồi bảo anh em xem”.

Theo Người, bất luận làm công việc gì cũng cần phải đọc sách. Người mới học chữ cần đọc để không mù lại, người làm công an cần đọc để nắm tình hình. Những người làm công việc chuyên môn cần phải đọc để nâng cao trình độ. Người làm quản lý lãnh đạo cần phải đọc để quản lý, lãnh đạo tốt hơn. Làm nhà báo, nhà văn lại càng phải đọc. Không chỉ đơn thuần “Cần phải xem báo Đảng”(4), Người khuyên chúng ta : “Muốn có nhiều tài liệu phải xem cho rộng…Xem được nhiều thứ báo chừng nào thì lấy được nhiều tài liệu chừng ấy”(5). Và Người còn nói thêm : “Tìm tài liệu cũng giống như công tác khác, phải chịu khó. Có khi xem tờ báo này có vấn đề này, xem tờ báo khác có vấn đề khác, rồi ghép hai ba vấn đề, hai ba con số làm thành tài liệu mà viết”.(6)

Không chỉ dừng lại việc đọc rộng và biết cách ghi chép, đánh dấu, bài học thứ hai có thể rút ra trong phương pháp đọc sách báo của Hồ Chủ tịch là đọc luôn phải có suy nghĩ kĩ càng không nhất thời hồ đồ tin ngay theo sách. Người đã từng nhấn mạnh : “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu trong sách. Có vấn đề thông suốt thì mạnh dạn đề ra cho vỡ lẽ, đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt ra câu hỏi :  vì sao” đều phải suy nghĩ kỹ càng, xem nó có hợp với thực tế hay không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo một cách xuôi chiều. Phải suy nghĩ cho chín chắn.”(7)

doc-sach-tu-hoc-bBác Hồ nói chuyện với đồng bào Hưng Yên

Với những sách báo quan trọng, có những từ hoặc vấn đề không hiểu Người có thể đọc đi đọc lại nhiều lần cho đến khi hiểu cặn kẽ mới thôi. Ví dụ điển hình nhất cho nguyên lý này là việc Bác Hồ đọc tác phẩm “Tư bản luận” của Mác và “Luận cương” của Lênin. Chính nhờ việc đọc sâu hiểu kỹ Người đã có thể đem những điều đã đọc vào áp dụng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đọc sách báo là một công việc nhiều người có thể làm được, nhưng đọc để hiểu được cái thần của sách, đánh giá được những ưu điểm và hạn chế của sách báo thì không phải ai cũng làm được. Muốn làm được điều đó đòi hỏi người đọc phải có sự hiểu biết rộng và khả năng phân tích tổng hợp tốt. Vì lẽ đó chúng ta không ngạc nhiên khi nghe ông Giăng Pho, một người bạn Pháp của Bác Hồ nhận xét : “Chữ Pháp thì tôi biết nhiều hơn anh Nguyễn, điều đó không có gì là lạ vì tôi là người Pháp. Nhưng xem sách lý luận bằng chữ Pháp, nhiều khi tôi phải nhờ anh Nguyễn cắt nghĩa dùm”.

Sinh thời Người rất không tán thành lối đọc để mà đọc, không hiểu biết thực sự những điều đã đọc và theo Người đó là dạng đọc phù phiếm. Trong cuốn “Về vấn đề học tập” trang 58 đã nêu một ý kiến rất xác đáng của Bác : “Có đồng chí thuộc lòng một số sách vở về chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ tự cho mình là người hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin hơn ai hết. Song khi gặp việc thực tế, thì họ hoặc máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ không nhất trí. Họ học sách vở Mác – Lênin. Học để trang sức chứ không phải để vận dụng vào công việc cách mạng”.

Bài học thứ ba và cũng là bài học quan trọng nhất trong phương pháp đọc của Hồ Chủ tịch là vấn đề áp dụng những điều đã đọc được vào thực tiễn cách mạng, thực tiễn cuộc sống. Tiếp thu quan điểm của Nguyễn Trãi : “Sửa mình lấy thiện làm vui. Lập thân đâu phải cứ ngồi đọc suông” và tán thành quan niệm của Lê Quí Đôn: “Đọc sách không cần nhiều, đọc được một chữ đêm áp dụng được một chữ, thế là được”, Hồ Chủ tịch luôn rất chú trọng đem ứng dụng các điều đã thu lượm được qua sách báo. Người đã từng nói : “Siêng xem sách và xem được nhiều sách là quí” nhưng Người đã nhấn mạnh : “Dù xem được hàng ngàn quyển lý luận nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào cái hòm đựng sách.”. Nếu như trong học tập Hồ Chủ tịch luôn nhấn mạnh đến chữ hành thì trong đọc sách Người luôn quan tâm đến vấn đề áp dụng. Và phải biết áp dụng dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của thực tiễn. Người rất ghét lối đọc chỉ để mà đọc, với Người đó là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Và sự vân dụng tài tình những điều đã học và đã đọc chính một trong những điểm mấu chốt trong vấn đề đọc sách của Bác Hồ. Trong cuốn con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác – Lênin trang 110, Người đã viết : “Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của  Lênin nhưng vận dụng một cách có sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng ta đã chiến đấu và giành được thắng lợi như các đồng chí đã biết”.

Khi bàn về “Bản sắc văn hoá Việt Nam” ông Phan Ngọc đã nêu ra một nhận định rất xác đáng “ truyền thống văn hoá Việt Nam là truyền thống vượt gộp” .“Vượt gộp có nghĩa là tiếp thu cái mới nhưng đổi mới được nó trên cơ sở  cái cũ cũng đã được đổi mới cho thích hợp với hoàn cảnh mới”(8). Và cũng theo Phan Ngọc, bên cạnh Nguyễn Trãi, Hồ Chủ tịch là người đã thực hiện thành công nhất nguyên lý đó.Từ những tinh hoa văn hoá văn minh của nhân loại tiếp thu qua sách báo, từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và đặc điểm thực tiễn cách mạng của Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã biết “vượt gộp” để đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than, ngẩng mặt lên kiêu hãnh làm người.

Xã hội loài người phát triển được một phần lớn là nhờ con người có khả năng học tập lẫn nhau cộng hưởng các sức mạnh cá nhân tạo nên sức mạnh to lớn của cộng đồng. Sách báo sẽ là một nguồn tài nguyên vô giá giúp cho con người học tập và không ngừng vươn lên để tự hoàn thiện mình. Bài học tự học qua sách báo của Hồ Chủ tịch sẽ mãi là tấm gương sáng cho mỗi người chúng ta học tập và noi theo. Và một lần nữa chúng ta  lại có thêm một minh chứng của việc “Đọc sách, mắt như đèn muôn dặm” (như lời Cao Bá Quát xưa từng nói ). Ánh sáng từ đôi mắt ấy mãi mãi sẽ là ngọn đèn soi rọi trên con đường  dân tộc chúng ta đi.

Tài liệu trích dẫn

1. Về cách mạng Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. -H.: Uỷ ban khoa học xã hội, 1990

2. Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến bộ.- H.: Sự thật, 1960.- Tr 14

3. Sơn Tùng. Búp sen xanh. H.: Kim Đồng, 2000.- Tr 176

4. Tên một bài báo Hồ Chủ tịch viết năm 1954

5. Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Tập 6.- Tr 72

 6. Chúng ta có Bác Hồ .- H.: Lao động, 1990. -Tr 46

7. Hồ Chí Minh. Về vấn đề học tập. H.- Sự thật, 1971.- Tr 53

8. Phan Ngọc. Bản sắc văn hoá Việt Nam.- H.: Văn hoá thông tin, 1998.- Tr 28.

Vũ Dương Thúy Ngà – http://huc.edu.vn
Thúy Hằng (st)

Bà giáo già và bộ sưu tập tư liệu về Bác Hồ

Mấy lần gọi điện thoại đến nhà riêng, người nhà đều bảo “bà đi ra ngoài chưa về”.

1. Mấy lần gọi điện thoại đến nhà riêng, người nhà đều bảo “bà đi ra ngoài chưa về”. Tôi lấy làm lạ. Năm nay đã tròn 80 tuổi, về hưu cũng đã lâu rồi. Vậy bà còn bận bịu với công việc gì, mà chưa chịu nghỉ ngơi ở nhà? Đến khi gặp bà, tôi mới hiểu: bà vẫn đang là Phó Chủ tịch Hội Khuyến học của Phường, nên công việc cũng lu bu. Bà bảo: “Cũng đều là những việc không tên cả. Không tốn nhiều sức lực, nhưng rất cần có tâm và lòng nhiệt tình. Đến năm 2014 mới hết nhiệm kỳ, cũng ráng làm cho trọn với lương tâm, trách nhiệm của mình…”.

Bà là Nguyễn Thị Ngọc Bích, người gốc Hà Nội, một cựu chiến binh, nhà giáo lão thành. Nhưng nhắc đến bà, mọi người không chỉ biết đến một nhà giáo mẫu mực, một cán bộ quản lý giáo dục mẫn cán, tận tụy với nghề suốt mấy chục năm, mà còn rất kính nể bà – một người cần mẫn sưu tầm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong hơn 30 năm qua. Bộ sưu tập này đã trở thành những kỷ vật quý giá của bà giáo và cho cả thế hệ trẻ mai sau.

Bà hẹn tiếp tôi tại nhà riêng ở gần sân bay Tân Sơn Nhất (quận Tân Bình, TP. HCM). Trong căn phòng nhỏ, với tủ tài liệu về Bác Hồ được xếp ngay ngắn, bà kể cho tôi nghe về một thời gian khó, nhưng cũng rất tự hào, về cuộc đời và sự nghiệp của mình.

suu-tap-bac-ho-aBà Ngọc Bích tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh TP.HCM)

2. Nhớ lại tuổi thơ của mình, bà không thể quên ngày 2/9/1945, khi đó bà mới 12 tuổi, được ba đưa đi dự Lễ Quốc khánh và nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Bà bảo lúc ấy còn nhỏ, chưa hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập, nhưng không bao giờ quên được hình ảnh uy nghiêm của Bác Hồ cùng các vị đại diện Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên lễ đài, và giọng nói ấm áp của Người: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Hình ảnh và lời nói hào sảng của Bác đã là nguồn cổ vũ rất lớn để bà đi theo cách mạng.

Cô gái Hà Nội Ngọc Bích đi bộ đội khi vừa tròn 16 tuổi, được làm giao liên tại Đại đoàn 320 nổi tiếng thời kháng chiến chống Pháp. Sau 3 năm tham gia kháng chiến, cô bị thương, nằm trong hang đá suốt 3 tháng trời. Khi đơn vị phát hiện, vết thương ở chân đã quá nặng, phải đoạn chi để cứu mạng. Thủ trưởng đơn vị lúc ấy là Tướng Văn Tiến Dũng, thấy Bích còn trẻ, tương lai và hạnh phúc còn ở phía trước nên đề nghị quân y tìm mọi cách giữ lấy đôi chân cho cô. Thật may mắn, vết thương không bị nhiễm trùng nặng, sau một thời gian thì lành lặn và cô được xuất ngũ.

Trở về Hà Nội, mới 19 tuổi, cô xin đi học Sơ cấp sư phạm. Ra trường, 21 tuổi, cô tình nguyện đi dạy học ở vùng khó khăn, hăng hái tham gia phong trào xóa nạn mù chữ, là một trong số những Chiến sĩ tiêu biểu trong phong trào “Diệt giặc dốt” của thanh niên ngành Giáo dục Hà Nội, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1958, tại Lễ tổng kết phong trào này, cô giáo trẻ Ngọc Bích đã vinh dự được nhận thư tuyên dương và Huy hiệu của Bác Hồ gửi tặng. Đây là phần thưởng cao quý, là nguồn động viên lớn lao đối với cô giáo Ngọc Bích, trong suốt chặng đường dài cống hiến tâm sức cho sự nghiệp trồng người.

Sau này, khi đã có gia đình, cô Bích lại tiếp tục xin đi học nâng cao trình độ ở trường Cao đẳng Sư phạm, rồi Đại học Sư phạm (hệ tại chức) và lần lượt được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp 2 ở Hà Tây, Hưng Yên… trong suốt những năm máy bay Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Năm 1975, đất nước thống nhất, cô lại xung phong vào Quảng Ngãi quê chồng dạy học, rồi lại lần lượt làm Hiệu phó các Trường phổ thông cấp 3 Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Nghĩa Lộ I, Nghĩa Lộ II, Lê Hồng Phong – tỉnh Nghĩa Bình (sau này tách ra thành Quảng Ngãi và Bình Định).

Có một điều mà những người làm giáo dục ở Nghĩa Bình hồi ấy đều biết và cảm phục cô Ngọc Bích. Đó là cô luôn chấp nhận được giao về làm quản lý ở các trường yếu kém. Sau khi xây dựng nhà trường khá lên, cô lại được điều động về gây dựng một trường yếu kém khác. Cứ như vậy, cô lần lượt về làm hiệu phó chuyên môn ở 5 trường, chỉ trong vòng gần 5 năm.

Năm 1979, bà Ngọc Bích cùng gia đình chuyển công tác vào TP. HCM, được phân công về làm Hiệu phó Trường Bổ túc văn hóa Quận Tân Bình, với những học trò lớn tuổi, phần lớn là cán bộ nòng cốt của quận, trước đây do tham gia kháng chiến chống Mỹ nên chưa có điều kiện học hết chương trình phổ thông. Trường Bổ túc văn hóa sau này đổi tên thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên, bà tiếp tục làm Phó Giám đốc cho tới ngày nghỉ hưu (1986). Và bây giờ, bà lại tham gia Hội Khuyến học của phường, của quận… cho đến nay.

Bà luôn tự hào về dòng họ đã có 5 đời làm nghề giáo của mình. Cuộc sống của nhà giáo tuy nghèo, nhưng thanh bạch và luôn giữ được nền nếp gia phong, luôn là tấm gương mẫu mực để con cháu noi theo. Bà bảo, tài sản quý nhất của bà bây giờ là 4 người con (2 gái, 2 trai) đều được ăn học đến nơi đến chốn và đều thành đạt, cùng những đứa cháu nội ngoại học giỏi, chăm ngoan. Thế là hạnh phúc lắm!

suu-tap-bac-ho-bBà Ngọc Bích trước tủ tư liệu quý về Bác Hồ. Ảnh: Đ.Q.T

3. Hành trình sưu tầm tư liệu về Bác Hồ của bà bắt đầu từ năm 1980, sau khi bà được bạn bè gửi tặng những tấm ảnh quý, chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi Pháp dự Hội nghị ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp – Việt năm 1946. Đây là bộ ảnh gốc rất quý, vì thời điểm đó ở trong nước ít ai có được. Sau này, bà đã tặng bộ ảnh gốc này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh TP. HCM), chỉ giữ lại bản photocoppy.

Kể từ đó, sau những giờ dạy học, bà lại kể cho học sinh nghe những câu chuyện về Bác Hồ. Nghe rồi, học sinh lại đòi bà kể tiếp khi gặp cô. Để những câu chuyện về Bác thêm sinh động và sâu sắc, bà đã dày công sưu tầm những tư liệu về Bác, để minh họa. Những tấm ảnh chụp Bác được bạn bè gửi tặng, những cuốn sách cũ viết về hành trình tìm đường cứu nước, cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, những bài báo viết về Bác, từ trước đến nay, ở trong và ngoài nước v.v… đều được bà trân trọng lưu giữ.

Bằng tấm lòng tôn kính Bác Hồ, với tính cẩn thận, khoa học của một nhà giáo, bà đã tập hợp tất cả hình ảnh, tư liệu về Bác thành từng tập, theo từng chủ đề, như: Thời niên thiếu của Bác; Bác rời Bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước; Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945); Đảng và Bác lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại; Toàn Đảng, toàn dân đời đời nguyện theo chân Bác…

Lặng lẽ, miệt mài sưu tầm, đến nay, bộ sưu tập về Bác Hồ của bà đã có hàng chục tập tư liệu, với gần 2.000 bức ảnh, bài báo viết về Bác. Những người quen, ai cần tài liệu về Bác Hồ, hoặc những sinh viên làm luận văn tốt nghiệp về đề tài Hồ Chí Minh, đến mượn tư liệu, hình ảnh về Bác, bà đều sẵn lòng giúp đỡ vô điều kiện.

Bà bảo, mỗi khi đến kỳ nhận lương hưu, bà đều nhờ con cháu đưa tới những tiệm sách cũ, tìm mua những tài liệu về Bác, vì “mua sách cũ giá rẻ hơn và nhiều tư liệu cũ có giá trị, mà bây giờ, sách mới chưa chắc đã có!”.

Tôi hỏi bà, động lực nào mà suốt hơn 30 năm qua, bà đã lặng lẽ, miệt mài, cần mẫn sưu tầm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy? Bà bảo: “Có lẽ, một giáo viên dạy văn như tôi, mỗi khi giảng những vần thơ, bài văn cho học sinh nghe, là một lần có cơ hội được tìm hiểu về Bác và thấy được gần Bác hơn. Khi tìm hiểu về Bác, tôi càng tìm ra những tầng nhân cách cao đẹp trong một con người bình dị, càng thấy được những bài học quý giá cho bản thân mình”.

Ngoài việc sưu tầm tư liệu về Bác, những năm qua, bà luôn tích cực tham gia các cuộc thi kể chuyện, thi viết, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bà cũng thường xuyên đến các trường học kể chuyện về Bác Hồ cho nhiều thế hệ học trò. Trong tâm khảm của mình, bà luôn trăn trở, làm sao những hình ảnh, tư tưởng của Bác, tiếp tục được lưu giữ và truyền lại trọn vẹn cho những thế hệ mai sau.

Đào Quốc Toàn
Theo http://thegioimoi.vn
Thu Hiền (st)

Đạo đức người ăn cơm

Một chiến sĩ bảo vệ Bác – sau này được phong quân hàm cấp tướng – có lần nói rằng: “Bác thường dạy quân dân ta “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” Bác dạy phải làm gương trước. Bác dạy phải nêu cao đạo đức cách mạng.

Có cán bộ nghĩ rằng “đạo đức” cách mạng là để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác thấy ngay trong khi ăn cơm, Bác cũng đã dạy cho chúng tôi thế nào là “đạo đức”.

Thứ nhất, Bác không bao giờ đòi hỏi là Chủ tịch nước phải được ăn thứ này, thứ kia. Kháng chiến gian khổ đã đành là Bác sống như một người bình thường, khi hòa bình lập lại có điều kiện Bác cũng không muốn coi mình là “vua” có gì ngon, lạ là “cống, tiến”.

Thứ hai, món ăn của Bác rất giản dị, toàn các món dân tộc, tương cà, cá kho… thường là chỉ 3 món trong đó có bát canh, khá hơn là 4,5 món thôi…

Thứ ba, Bác thường bảo chúng tôi, ăn món gì cho hết món ấy, không đụng đũa vào các món khác. Gắp thức ăn phải cho có ý.

Nhớ lần đi khu 4, đồng chí Bí thư và Chủ tịch Quảng Bình ăn cơm với Bác, trong mâm có một bát mắm Nghệ nhưng rót hơi nhiều. Bác dùng bữa xong trước, ngồi bên mâm cơm. Hai cán bộ tỉnh ăn tiếp rồi buông đũa. Bác nhìn bát mắm nói:

– Hai chú xẻ bát mắm ra, cho cơm thêm vào ăn cho hết.

Hai “quan đầu tỉnh” đành phải ăn tiếp vừa no, vừa mặn… Chiều hôm đó, hai đồng chí đưa Bác đi thăm bờ biển, trời nắng, ăn mặn nên khát nước quá.

Lần khác, một cán bộ ngoại giao cao cấp người Hà Tĩnh được ăn cơm với Bác, đã gắp mấy cọng rau muống cuối cùng vào bát tương ăn hết. Tưởng là đã “hoàn thành nhiệm vụ” nào ngờ Bác lại nói:

– Tương Nghệ đồng bào cho Bác, ngon lắm. Cháu cho thêm ít cơm vào bát “quẹt” cho hết….

Thứ tư, có món gì ngon không bao giờ Bác ăn một mình, Bác xẻ cho người này, người kia rồi sau cùng mới đến phần mình, thường là phần ít nhất. Ăn xong thu xếp bát đũa gọn gàng, để đỡ vất vả cho người phục vụ.

Thứ năm, tôi có cảm giác là đôi khi ăn cơm có những giây phút Bác cầm đôi đũa, nâng bát cơm. Bác như tư lự về điều gì đó. Tưởng như Bác nghĩ đến đồng bào, cụ già, em bé đói rách ở đâu đâu.

Tưởng như Bác nhớ lại những ngày lao động ở xứ người kiếm từng mẩu bánh để ăn, để uống, để làm cách mạng… Hay là Bác lại nghĩ đến những lần tù đày không có gì ăn.

Thật khó hiểu mà càng khó hiểu, tôi lại càng thương Bác quá, thương quá. Bây giờ vào những bữa tiệc cao lương, mỹ vị, rượu bia thức ăn bày la liệt, quái lạ tôi lại nhớ đến Bác rồi… có ăn cũng chẳng thấy ngon như khi xưa ngồi vào mâm cơm đạm bạc với Bác”.

Theo Tiền Phong Online
Thúy Hằng (st)

“Tiền Cụ Hồ”- đồng tiền tiếp nối truyền thống thời lập quốc

Hình ảnh Cụ Hồ là biểu tượng xuyên suốt, tiếp nối các giá trị, truyền thống trong lịch sử từ trước đến nay.

Ngày 31/11/1946, sau hơn 1 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, lần đầu tiên tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được chính thức phát hành, khẳng định vai trò lưu thông của một đồng tiền tự chủ.

Qua thời gian, các hệ thống đồng tiền có hình Cụ Hồ còn có một giá trị đặc biệt, gắn bó chặt chẽ với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ (1954-1975) và 38 năm xây dựng, phát triển đất nước (1975-2013).

1. “Tiền Cụ Hồ”

Lúc đầu, “Tiền Cụ Hồ” là tên gọi bắt nguồn từ tình cảm của người dân dành cho vị Chủ tịch nước đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Cụ Hồ Chí Minh. Các loại  tiền giấy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên có mệnh giá 100 đồng, 20 đồng, 5 đồng và 1 đồng; trên tờ tiền có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng và Giám đốc Ngân khố Trung ương Phạm Khoa.

tien CU HO
Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh do nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Năng An chụp vào khoảng năm 1945 – 1946 được các họa sĩ dùng vẽ trên hệ thống tiền đầu tiên của nước                      Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông Nguyễn Ngọc Oánh, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kể: Thời kỳ đó sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội, toàn quốc đứng lên kháng chiến nhưng nhiều người vẫn tìm mọi cách để có được đồng tiền Việt Nam có hình Bác Hồ. Nhiều khi không có tiền lẻ, người ta sẵn sàng xé đôi tờ tiền để tính giá trị một nửa, để được chia nhau niềm hạnh phúc được sở hữu đồng tiền kháng chiến. Đồng tiền dù rách nát đến mấy nhưng cứ “tiền Cụ Hồ” là nhân dân yêu chuộng, nhiều người giữ lại không tiêu dùng mà mang đặt lên bàn thờ tổ tiên rất trân trọng vì trên tờ giấy bạc có chân dung Bác Hồ…

Tại Chiến khu Việt Bắc, việc tiêu dùng tiền Cụ Hồ là hiện tượng bình thường. Tuy nhiên, tại vùng Pháp tạm chiếm, nhất là Hà Nội và các vùng phụ cận, việc tiêu tiền bị hạn chế do chính quyền Thực dân cấm đoán, thu giữ… Mặc dù vậy, người dân vẫn cất giấu, lưu truyền để “vừa tiêu, vừa thờ”.

Tại Nam Bộ, do tình tình khó khăn trong liên lạc và vận chuyển, tháng 11/1947, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh cho phép Ủy ban Kháng chiến Hành chính (UB KCHC) Nam Bộ in và lưu hành tiền giấy riêng.

Theo tài liệu ghi chép của Viện Bảo tàng Long An, xưởng in tiền nằm bên dòng kênh Dương Văn Dương ở vùng Đồng Tháp Mười (nay thuộc huyện Tân Thạnh). Thời kỳ này tại Nam Bộ các loại giấy bạc Việt Nam mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 50 đồng và 100 đồng, cùng với một số tín phiếu đã được phát hành, có in chân dung Bác Hồ do ông Phạm Văn Bạch – Chủ tịch UB KCHC Nam Bộ ký.

Trong những năm chiến tranh, đặc biệt là kháng chiến chống Mỹ, cả miền Nam chìm trong khó khăn, nhưng vẫn hướng về cách mạng và miền Bắc thân yêu. Nhiều người dân Nam Bộ đã cất giấu những tờ giấy bạc Cụ Hồ bằng nhiều hình thức khác nhau như: Bỏ vào ống sữa bò chôn xuống đất, bỏ vào ống tre trên mái nhà, trong ống cuốn vải, sau giải phóng 1975 đem ra như là bằng chứng về lòng quả cảm, trung thành với cách mạng, nhiều người trong số họ còn đem hiến tặng cho ngành bảo tồn, bảo tàng tại địa phương nơi sinh sống. Sau một số đợt công tác khảo sát, ngành ngân hàng ghi nhận nhiều địa phương như: Cà Mau, Long An, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh còn lưu giữ được được rất nhiều hiện vật như vậy.

2. Những câu chuyện vẽ “tiền Cụ Hồ” từ các họa sỹ

Nhân kỷ niệm 62 năm thành lập (6/5/1951- 6/5/2013), ngành Ngân hàng đang xúc tiến cho việc xây dựng, nâng cấp một phòng truyền thống, trong đó có phần trưng bày các hệ thống tiền Việt Nam. Để tương xứng với chủ đề “Tiền Cụ Hồ” đây là đòi hỏi rất lớn về công sức, trí tuệ của người làm công tác chuyên môn. Trước hết, cần ghi nhận các địa điểm tại Hà Nội như số 6 Lê Lai, 65 Nguyễn Thái Học, nơi làm việc và sinh sống của các họa sỹ liên quan đến “Tiền Cụ Hồ”.

Theo chúng tôi được biết, tất cả các họa sỹ vẽ ra hệ thống tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên đều đã qua đời, nhiều người thân trong gia đình của các cố họa sỹ đều có chung một mong muốn khi tôn vinh “Tiền Cụ Hồ” hãy luôn ghi nhớ công sức đóng góp của các họa sỹ thực hiện vẽ từng tờ tiền đó. Đó là: Họa sỹ Mai Văn Hiến vẽ tờ 5 đồng, họa sỹ Nguyễn Đỗ Cung vẽ tờ 1 đồng, họa sỹ Nguyễn Văn Khanh vẽ tờ 20 đồng và họa sỹ Nguyễn Huyến vẽ tờ 100 đồng.

Một số giai thoại mà báo chí còn lưu truyền có thể là cơ sở tư liệu góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về thân thế và công việc của họ tại thời điểm tham gia vẽ tiền cho chính quyền cách mạng.

Ví như năm 2009, nhà văn Đỗ Chu đã viết trên báo Người cao tuổi bài “Một người vẽ tiền” nói về họa sỹ Mai Văn Hiến. Nội dung có đoạn rất đáng lưu ý: “…Một đêm, tại căn nhà số 6 phố Lê Lai, ông đang ngồi hí hoáy vẽ tiền cách mạng thì nghe sát vách bên kia có tiếng nói quen lắm. Tò mò, ghé mắt nhìn qua một khung cửa tràn ngập ánh sáng, trước mắt ông hiện ra một cảnh tượng rất ít người may mắn được thấy. Trên chiếc bàn lim lớn đặt giữa nhà là một đống vàng. Ngồi ở một bên bàn là ông Phạm Văn Đồng. Người đối diện là ông Trịnh Văn Bính, khi đó là Thứ trưởng Tài chính…”.

Hay như bài “Người họa sỹ vẽ tiền cho cách mạng” của Minh Huệ trên báo Quân đội nhân dân năm 2008 có đoạn: “Số nhà 65 Nguyễn Thái Học vốn của cụ Cự Lĩnh, một chủ thầu khoán lớn của Hà Nội thời Pháp thuộc. Nhà 3 tầng, mỗi tầng có 4 phòng riêng biệt, xây theo kiến trúc Pháp. Sau giải phóng Thủ đô, biệt thự trở thành nơi ở và làm việc của một nhóm họa sĩ và nhà điêu khắc…

Bà Mai Thị Kim Oanh, con gái của họa sĩ Mai Văn Hiến kể: Cuối tháng 11/ 1945, bốn họa sỹ xuất thân từ Trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương được gặp bác Phạm Văn Đồng để nhận nhiệm vụ tối mật – vẽ mẫu những tờ bạc đầu tiên của nhà nước cách mạng Việt Nam non trẻ. Bác Phạm Văn Đồng nói với bố tôi và các bác rằng, Chính phủ cần có đồng bạc riêng, cần vẽ 4 tờ giấy bạc có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng và 100 đồng. Trên 4 loại tiền này phải có hình ảnh đại diện cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và văn hóa…

Để duy trì được tình cảm nồng ấm cho những đồng tiền Cụ Hồ như những ngày đầu, bên cạnh việc kế thừa truyền thống của các thế hệ họa sỹ đi trước, đội ngũ vẽ tiền ngày nay đã được đào tạo một cách bài bản và tổ chức thành một phòng chuyên nghiên nghiên cứu và vẽ mẫu tiền một cách chuyên nghiệp. Đối với họ, việc vẽ và tiếp tục hoàn thiện “chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh” vẫn luôn là nguồn cảm hứng bất tận./.

Theo http://vov.vn
Huyền Trang (st)