Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Cảm tưởng của nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác

cam tuong aTổng thống Myanmar Thein Sein ghi cảm tưởng khi vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kể từ ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh 29-8-1975 đến nay, đã có gần 45 triệu lượt người đến viếng Bác, trong đó có hơn 7 triệu khách quốc tế đến từ hơn 160 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế trên toàn thế giới. Chừng ấy lượt người đến đây để tỏ lòng tôn kính và tri ân với Bác. Lật mỗi trang trong cuốn sổ ghi cảm tưởng tại Ban Quản lý Lăng, cảm xúc lại dâng trào, hạnh phúc vì được làm công dân của nước Việt Nam, được là con cháu Bác Hồ.Bác đã về với cõi vĩnh hằng, nhưng cuộc đời của Người lại tỏa sáng bao la. Như một cách đến với ký ức về Người, những cuốn sổ cảm tưởng tại đây giúp ta hiểu thêm về Bác, hiểu những tình cảm sâu nặng, nghĩa tình của Bác đối với dân, với nước… Và cũng để thấy, tình yêu thương, lòng biết ơn của dân tộc Việt Nam và bạn bè thế giới dành cho Bác là vô hạn.

Sáng 24-6-2012, các em nhỏ trong trang phục áo trắng quần xanh, trên vai đeo khăn quàng đỏ ùa xuống xe. Những khuôn mặt tròn trịa, những vầng trán thông minh, những bím tóc gọn gàng… và những đôi mắt ánh lên rực rỡ. Đó là những học sinh tiêu biểu xuất sắc đến từ Quảng Nam xa xôi, các em được đến thăm Lăng Bác và được báo công với Bác. Đã từng nghe ông bà, bố mẹ kể, nghe thầy cô giáo giảng bài hay đọc trong các trang sách, song đây là lần đầu tiên các em được đứng giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, hít căng lồng ngực gió Thủ đô Hà Nội và được tận mắt thấy Bác trong giấc ngủ bình yên, xem những thước phim tư liệu quý giá về cuộc đời của Bác. Những giọt nước mắt xúc động lăn trên khuôn mặt trẻ thơ khi các em xem bộ phim tài liệu “Những giờ phút cuối đời Bác Hồ”. Ngay cả khi bộ phim đã kết thúc từ lâu, ngồi viết những dòng chữ bày tỏ cảm xúc vào cuốn sổ lưu niệm, Liên vẫn còn bồi hồi xúc động: “Xem phim, cháu thấy thương Bác vô cùng. Chúng cháu hứa quyết tâm học tập tốt, thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy để luôn xứng đáng là “Cháu ngoan Bác Hồ”.

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”.

Đó có lẽ không chỉ là tâm trạng riêng của cô bé Liên, đó là cảm xúc chung của tất cả những ai từng đến thăm Lăng Bác. Lần giở từng trang cuốn sổ lưu niệm của những ngày qua hay những cuốn sổ của nhiều năm về trước, chúng tôi càng thấy rõ điều này.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta được nghe kể chuyện Bác Hồ. Ký ức về Bác là những điều vô cùng quý báu mà bất cứ ai nếu có cũng gìn giữ trang trọng nơi sâu thẳm trái tim. Đến thăm Lăng Bác, phút giây đứng trước anh linh của Người, ký ức đó bất chợt ùa về khiến nhiều người xúc động. Ông Nguyễn Bá Chinh, chiến sĩ Tàu không số từ Bình Thuận ra Hà Nội vào Lăng viếng Bác vào ngày 7-3-2005 trải lòng mình qua những dòng lưu niệm: “Con vẫn nhớ ngày 5-10-1964, Bác đến gian phòng nhỏ tại Trạm 66. Bác giao nhiệm vụ và dặn dò: Bác nghe các chú sắp đi công tác xa, dù bận rất nhiều việc Bác vẫn thu xếp lại đến thăm các chú. Trước hết, Bác thay mặt cho Trung ương Đảng và Chính phủ biểu dương các chú. Trong những năm qua, các chú đã hoàn thành nhiệm vụ giúp Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ đạo cuộc kháng chiến mỗi ngày một thắng lợi. Bây giờ, nhiệm vụ sắp đến, việc chi tiêu là cần thiết. Bác dặn các chú, xét thấy cần thì bạc triệu cũng chi; không cần thì một xu cũng không chi; đói thì xin, đừng ăn cắp; xin không xấu mà ăn cắp thì có tội với Đảng, với dân. Lời dặn ấy đến hôm nay con vẫn còn ghi trong máu thịt. 40 năm 4 tháng rồi con mới được trở về thăm Bác. Nhìn hình ảnh của Bác, tự trong tim con trào lên dòng nước mắt”. Những dòng chữ được viết ra từ cảm xúc mà chủ nhân của nó dường như đang thổn thức ngược trở về quá khứ, chắp nối những khoảnh khắc của ký ức mà bấy lâu vẫn là một phần trong cuộc sống của đời ông.

Xúc động trước tình cảm của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Ban Quản lý Lăng, đồng chí Nguyễn Văn Đức, thay mặt các đồng chí trong Đoàn các chiến sĩ đoàn Tàu không số đến viếng Bác ngày 25/3/2012, đã ghi vào sổ cảm tưởng của Ban Quản lý Lăng những dòng cảm xúc đặc biệt: “Vô cùng xúc động khi được trở lại thăm Thủ đô Hà Nội, được đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, được xem lại những hình ảnh của Bác trong những lúc cuối đời. Chúng tôi, những cựu chiến binh của 5 con thuyền gỗ của các tỉnh: Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh và Bà Rịa – Vũng Tàu rất cảm ơn Ban Quản lý Lăng đã tạo mọi điều kiện cho Đoàn được vào viếng Bác. Đây là nguồn động viên lớn đối với chúng tôi. Chúng tôi nguyện một lòng trung thành và phấn đấu để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa – Con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn”.

Trong dòng người vào Lăng viếng Bác, không ít người là Việt kiều trở về với Bác, với Tổ quốc. Bà Trần Thị Sâm, vợ ông Nguyễn Văn Tiến, nguyên Ủy viên Hội người Việt Nam tại Phápvào Lăng viếng Bác ngày 12-4-2008, viết: “Chúng cháu từ Mác-xây về, nhớ thương Bác vô cùng. Thay mặt anh Tiến, xin thành kính dâng lên Bác niềm thương nhớ của một người cháu sống xa Tổ quốc nhưng lại có vinh dự được phục vụ Bác và đoàn khi sang thăm Pháp tại Bi-a-rit và Mác-xây mùa hè năm 1946”. Sự cống hiến, hy sinh tận tụy của Bác đối với đất nước cũng thức dậy trong lòng những người con xa quê khát vọng trở về đóng góp xây dựng Tổ quốc, thể hiện qua những dòng chữ của Đoàn Việt kiều Thái Lan tỉnh Sakon Nakhon đến viếng Bác ngày 28-11-2006: “Sau 60 năm, chúng tôi về thăm Tổ quốc thân yêu. Được thấy hình ảnh Bác Hồ, vị cha già vĩ đại của dân tộc, lòng chúng tôi vô cùng cảm kích. Những người con Việt kiều Thái Lan nguyện làm theo Di chúc của Người. Chúng tôi luôn mong được trở về Tổ quốc, góp phần xây dựng quê hương Việt Nam yêu dấu, sánh ngang cùng bạn bè bốn bể năm châu”.

Đối với Bộ trưởng Tài chính và Vật giá Cuba Ma-nu-en Mi-la-ret Rô-tri-get và các thành viên trong Đoàn đến viếng Bác năm 2001, Chủ tịch Hồ Chí Minh là “một nhà anh hùng cách mạng thế giới. Người luôn hiện diện và là một tấm gương về đấu tranh, hy sinh vì nền độc lập toàn vẹn của Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người cách mạng trên thế giới luôn mang nợ với Người. Xin cảm ơn nhân dân Việt Nam anh hùng và vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam”. Sự vĩ đại của Bác cũng là nhịp cầu nối cho đất nước Việt Nam đến với thế giới hôm nay. Đến viếng Bác ngày 21-3-2012, Ngài Tổng thống nước Cộng hoà Mi-an-ma đã ghi vào sổ cảm tưởng của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi rất vinh hạnh được đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và vào Lăng viếng Người, đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi tin tưởng rằng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ sống mãi trong trái tim các thế hệ người Việt Nam. Thay mặt Đoàn đại biểu cấp cao Mi-an-ma và nhân danh cá nhân xin bày tỏ sự kính trọng sâu sắc các Anh hùng liệt sỹ, những người đã hy sinh cuộc sống của mình đấu tranh vì nền độc lập của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Im Hong – Jae chia sẻ trong sổ cảm tưởng Ban Quản lý Lăng năm 2007: “Tình yêu và lòng kính trọng của người dân Việt Nam đối với người lãnh đạo vĩ đại của dân tộc là vô hạn và không gì sánh nổi. Xin được bày tỏ lòng kính trọng đối với nhà lãnh đạo của dân tộc Việt Nam. Và tôi thực sự mong muốn, trong suốt nhiệm kỳ công tác của mình, với tư cách là Đại sứ tại Việt Nam, mối quan hệ tốt đẹp vốn có giữa 2 quốc gia sẽ được phát triển hơn nữa, trở thành mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa 2 dân tộc. Xin được bày tỏ lòng kính trọng đối với những giá trị văn hóa, lịch sử lâu dài đáng tự hào của dân tộc Việt Nam”. Vui mừng được đến thăm đất nước Việt Nam tươi đẹp, khâm phục những thành công về chính trị, xã hội, văn hoá và kinh tế của nhân dân Việt Nam, cảm ơn sự đón tiếp nhiệt tình của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Đoàn ngày 14/5/2012, Ngài Ja-nit Ka-lin, Phó Tổng Giám đốc UNESCO phụ trách về truyền thông và thông tin, đã ghi vào sổ cảm tưởng của Ban Quản Lý Lăng những dòng tâm sự: “Tôi rất cảm ơn sự đón tiếp nhiệt tình và lòng mến khách của các bạn và xin bày tỏ sự kính trọng sâu sắc đối với sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những công lao to lớn của Người đối với dân tộc Việt Nam”.

Đây chỉ là một trong hàng ngàn dòng cảm tưởng trong những cuốn sổ cảm tưởng tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng qua đây chúng ta thấy được phần nào tình cảm và sự kính trọng của nhân dân Việt Nam và bè bạn quốc tế đối với Người.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với sự nghiệp trồng người

Nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa đã phát triển dưới ánh sáng của một mục tiêu cao cả như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra:

“Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”.

Mục tiêu ấy bao hàm ý nghĩa: Cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân (không phải học để làm quan hay làm giàu cho cá nhân). Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân.

Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng ngày 31/10/1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục: “Mỗi một cấp giáo dục cần nhận rõ nhiệm vụ của mình trong lúc này:

Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà.

Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế.

Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe cho các cháu.

Tôi cũng mong các gia đình hãy liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”.

Đến với Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ hai ngày 7/5/1958, Bác nói: Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Bác dạy học sinh, sinh viên phải có 6 cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu, mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động (chân tay và trí óc), ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, chia sẻ những lo lắng, vui buồn, những việc làm nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỹ thuật, bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỹ thuật.

Bác nêu rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

“Thời đại chúng ta là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại anh hùng, mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Cũng năm 1958, ngày 13/9, mở đầu một năm học mới, Bác đã nhấn mạnh về nhiệm vụ các nhà trường: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lại cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang”.

Đáp lòng mong mỏi của Bác, giai đoạn ấy chúng ta đã có những bậc thầy mẫu mực về trí tuệ và đạo đức được vinh danh và kính trọng ở các trường trong và ngoài nước, như Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, Giáo sư Đỗ Tất Lợi, Giáo sư Nguyễn Tài Thu và nhiều giáo sư khác, đến nay vẫn là những tấm gương sáng cho các thế hệ thày giáo trẻ noi theo.

Đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, Bác không chỉ quan tâm đến những vấn đề lớn như mục đích, mục tiêu, phương châm, tính chất của giáo dục, mà còn để ý đến cả những vấn đề phương pháp cụ thể.

Trong bài nói tại Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt của ngành Giáo dục phổ thông và sư phạm tháng 8/1963, Bác căn dặn: Về học tập và giảng dạy, phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Về lao động, cần chú ý tổ chức cho thích hợp với lứa tuổi và sức khỏe của học sinh.

Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi sọ. Chương trình dạy học hiện nay còn có chỗ quá nhiều, quá nặng. Về học tập, tránh lối học như vẹt. Ngoài ra, cần chú ý tránh nói tiếng nước ngoài quá nhiều, những tiếng ta có thì không nên dùng tiếng nước ngoài. Bài dạy phải chuẩn bị cho tốt và cần chọn lọc những bài thích hợp với tuổi của học sinh. Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội.

Với một nền giáo dục có định hướng cách mạng, có mục tiêu được xác định rõ ràng, được tổ chức hợp lý theo những nguyên tắc khoa học tiên tiến và thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước ta, nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám được xây dựng trên những phương châm dân tộc- khoa học- đại chúng, đã từ bỏ được những tật xấu của lối giáo dục ngu dân chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, xây dựng được một nền giáo dục nhân dân.

Nền giáo dục theo ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám để lại cho chúng ta nhiều bài học lớn.

Thứ nhất, giáo dục cũng như mọi công cuộc khác, cần phải xác định rõ mục đích, mục tiêu. Riêng giáo dục phổ thông cần để cao mục tiêu giáo dục làm người: người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, có ý thức giác ngộ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa xã hội nhân văn, có tinh thần dân tộc, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, việc xây dựng mô hình nhà trường các cấp, việc thiết kế chương trình, viết sách giáo khoa, ấn định nội dung, phương pháp dạy và học phải đáp ứng được mục đích, mục tiêu chung đã định. Từ bỏ lối dạy tham lam nhồi sọ, lý thuyết suông, khắc phục lối học vẹt, học không kết hợp với hành, học chỉ để đạt những tiêu chí thi cử hình thức.

Thứ ba, muốn phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước cũng như sự phát triển mỗi con người, thì bất cứ nền giáo dục nào cũng phải bám sát thời đại và những hoàn cảnh, điều kiện, nhu cầu riêng của đất nước để phát triển cho đúng hướng và có hiệu quả.

Thứ tư, trong tình hình hiện nay của thế giới và nước nhà, thì một cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp thiết.

Trong thư nhân dịp khai giảng năm học mới 2011 – 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã rất có lý khi đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục cần “đổi mới căn bản và toàn diện”.

Ngày 2/9/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi dự lễ khai giảng năm học mới tại Trường Quốc học Huế yêu cầu phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế; tập trung đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục…

Thứ năm, các trường sư phạm, nhất là sư phạm đại học chính là “máy cái” để khởi động sự nghiệp cải cách.

Hiện nay, mỗi năm, ngành sư phạm cho ra lò hàng ngàn giáo sinh. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn nhiều hạn chế trước đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ của sự phát triển đất nước.

Theo chương trình “Phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011-2020”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra mục tiêu đến năm 2015, 100% giảng viên trường đại học sư phạm đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó ít nhất 25% đạt trình độ tiến sỹ và phấn đấu năm 2020, ít nhất 50% giảng viên các trường đại học sư phạm đạt trình độ tiến sỹ.

Để đáp ứng mục tiêu này, cần sự nỗ lực rất lớn của ngành giáo dục, sự hỗ trợ, chung sức của toàn xã hội, của các bộ, ngành để có thể thực hiện được nhanh chóng công cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện” giáo dục.

Theo chinhphu.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong ký ức ngư dân xứ Thanh

Đó là vào một đêm giữa tháng 7 năm 1960, Bác cùng đồng chí cận vệ của mình là Nguyễn Tùng, quê ở Nghệ An bí mật ra Thanh Hóa thăm đồng bào và nghỉ dưỡng tại Sầm Sơn. Khi đặt chân đến Sầm Sơn, Bác không nghỉ ở nhà khách Công Đoàn mà lên thẳng núi Trường Lệ, nơi có đền Cô Tiên để nghỉ tại đây. Những ngày ở đây, Bác giản dị trong bộ quần áo nâu, đến thăm những gia đình chài ven biển, nói chuyện và kéo lưới cùng ngư dân, vì thế một số người không biết rằng họ đang được vinh dự gặp gỡ vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

thanh hoa 1
Bác Hồ nói chuyện với các đơn vị bộ đội bảo vệ Sầm Sơn (Ảnh Tư liệu).

Theo các cụ cao niên kể lại thì tối hôm đó, có một ông cụ râu tóc bạc phơ, ăn mặc giản dị lên núi Trường Lệ, sau đó ông cụ vào thăm đền Cô Tiên. Sáng hôm sau ông cụ dậy sớm, trong bộ quần áo cộc như một ngư dân rồi đi men xuống núi ngắm cảnh, gần trưa ông cụ đến thăm các gia đình ở chân núi thuộc thôn Vinh Sơn, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương (nay là phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn) nhưng hầu hết các gia đình vẫn ra khơi chưa trở về, chỉ có duy nhất một gia đình vừa về tới nhà còn đang ngồi hóng mát ở chiếc chõng tre. Gia đình ngư dân mời ông cụ lên chiếc chõng tre ngồi nhưng ông cụ từ chối và ngồi ngay lên tảng đá bên cây khế.

Thấy một cháu bé đang nằm trên chõng tre khóc ngặt, ông cụ lại gần bế lên cưng nựng, rồi hỏi thăm gia đình ngư dân về đời sống của ngư dân, của xã viên ở đây ra sao? Gia đình ngư dân trả lời ngay: “Cảm ơn cụ. Nhờ ơn Đảng, ơn Bác Hồ, đời sống xã viên chúng tôi sung sướng lắm ạ!”. Gia đình ngư dân vinh dự trò chuyện với Bác đó là gia đình ông Lê Viết Lược. Ông Lược giờ đã qua đời, còn buổi trò chuyện đó mãi sau này ông mới biết người đã trò chuyện với mình chính là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, người mà ông ao ước được một lần gặp mặt.

Rời gia đình ông Lược, Bác cùng mọi người đi xuống bãi biển. Một không khí lao động tấp nập diễn ra. Thấy mấy cụ già đang khom lưng kéo lưới vất vả, Bác vào cùng, đứng trước một cụ già cũng cật lực kéo sợi dây. Cụ già thấy một ông cụ lạ và mấy người cùng kéo lưới giúp thì mừng vui, vừa làm vừa trò chuyện rôm rả. Mồ hôi nhễ nhại, Bác bỏ mũ, cởi cả áo, cả khăn lộ hết bộ râu, vẫn không ai nhận ra người cùng kéo lưới là Bác Hồ.

Thanh hóa a2
Bác Hồ đến thăm một gia đình ngư dân.

thanh hoa 3
Bác Hồ hỏi thăm những ngư dân vừa ra khơi trở về.

Sau nửa ngày đi thăm hỏi một số gia đình và ngư dân nơi đây, Bác Hồ quay về thị trấn Sầm Sơn hỏi thăm các đồng chí lãnh đạo thị trấn, động viên các cán bộ công nhân viên nhà nghỉ Công Đoàn, nghe các đồng chí lãnh đạo báo cáo tình hình địa phương và căn dặn các lãnh đạo, nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn trong phong trào thi đua yêu nước. Không những thế, trong những ngày nghỉ dưỡng ở đây, Bác nhận ra rằng nếu Sầm Sơn có một dịch vụ khách sạn và có phương tiện đưa đón khách tới Hòn Mê thì sẽ thu được nhiều của cải từ đây. Sau khi căn dặn xong lãnh đạo và cán bộ địa phương, tối đó Người lên đường rời Sầm Sơn.

Theo chân ông Cao Văn Hùng, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc phường Trường Sơn trong một chiều cuối tháng 8, chúng tôi trở về nơi in dấu chân của Người đã từng kéo lưới cùng ngư dân trên biển Sầm Sơn năm ấy. Những người được vinh dự gặp vị Chủ tịch kính yêu hầu hết đã không còn, nhưng cậu bé năm xưa khi đang nằm trên chiếc chõng tre khóc ngặt được Bác Hồ bế dỗ dành cưng nựng đó là ông Lê Viết Quý, sinh năm 1961, là con trai của cụ Lê Viết Lược, người đã được trò chuyện cùng Bác tại nhà năm xưa. Khi ấy, cậu bé Qúy mới chưa đầy 2 tuổi. Mặc dù không biết gì, chỉ được mọi người kể lại nhưng mỗi khi được nhắc về điều này, đôi mắt ông long lanh, rực sáng. Niềm vinh dự và tự hào lấp lánh trong đáy mắt.

Chẳng phải thế mà cái chõng tre ngày đó được gia đình ông coi như một báu vật, nâng niu cất giữ cẩn thận, cách đây vài năm mới bị mối mọt đục phá. Căn nhà kè ngày ấy được Bác Hồ đặt chân vào, gia đình ông cũng coi như là kỷ niệm gắn với Người, bởi thế cái nếp nhà, kèo cột vẫn được ông giữ nguyên, chỉ có điều mái kè ngày ấy không thể giữ được vì mưa nắng nên đã phải thay bằng mái ngói.

Thanh hoa 4
Cậu bé Nguyễn Viết Quý năm xưa vinh hạnh được Bác Hồ bế.

Thanh hoa 5
Ông Qúy bên cây khế và bậc đá bác Hồ ngồi.

Ông Qúy tâm sự: “Ngày ấy tôi còn nhỏ nên không biết gì, sau này lớn lên mới nghe các cụ kể lại. Sau khi biết ông cụ ngày hôm đó chính là Bác Hồ, gia đình tôi quyết định gìn giữ lại từ cái chõng tre cho đến cây khế, bờ đá và cả cái nhà cũ vì coi đó như một kỷ niệm thiêng liêng về Bác mà không phải nhà nào cũng có được”.

Vị trí Đền Cô Tiên, nơi Bác Hồ nghỉ dưỡng năm ấy, giờ đây được trùng tu khang trang cổ kính và là điểm du lịch nổi tiếng của Sầm Sơn. Phía trong ngôi đền, bệ lát xi măng, nơi Người ngả lưng cũng vẫn còn đó, bên trên bức tường được treo nhiều hình ảnh lưu niệm Bác với Sầm Sơn.

Khắc ghi lời căn dặn của Bác, những năm qua, Sầm Sơn không ngừng đổi mới. Cho đến bây giờ mảnh đất với tiềm năng du lịch như Bác nói, con người nơi đây đã biến Sầm Sơn “thay da đổi thịt” trở thành một điểm du lịch nổi tiếng trong cả nước.

Ông Lưu Đình Sơn, Bí thư phường Trường Sơn chia sẻ: “Đảng bộ và nhân dân phường Trường Sơn, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia luôn khắc ghi lời căn dặn của Bác Hồ năm xưa đã về đây, vì thế những năm qua địa phương luôn cố gắng phấn đấu phát triển kinh tế – xã hội, góp phần cùng với thị xã Sầm Sơn ngày càng phát triển trên con đường hội nhập, xứng đáng với những gì mà Người đã kỳ vọng ở con người Sầm Sơn”.

Thanh hoa 6
Một góc Sầm Sơn hôm nay.

Thanh hoa 7
Nơi bác Hồ nghỉ ngơi ở đền Cô Tiên.

Nguyễn Thùy – Duy Tuyên
Theo http://dantri.com.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam những ngày đầu cách mạng

Văn hóa luôn là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Kế tục sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và quá độ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và Chính phủ phát động toàn dân xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhân dịp đầu xuân 2011, chúng tôi xin giới thiệu bài tường thuật buổi làm việc của Hồ Chủ tịch về văn hóa với đại biểu đoàn văn hóa lâm thời Bắc Bộ đã được đăng trên Tạp chí Tri Tân số 205, tháng 9/1945, trang 4-5.

Tri Tân là tạp chí có khuynh hướng dân tộc, yêu nước chuyên về khảo cứu, số 1 ra ngày 3/6/1941, trụ sở 349 Phố Huế – Hà Nội, do cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng làm chủ nhiệm. Đều đặn ra hằng tuần, Tri Tân đã thu hút được đông đảo các cây bút có uy tín thời đó như Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (sau là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên), Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Chu Thiên Hoàng Minh Giám (nhà văn, tác giả Bóng nước Hồ Gươm), Biệt Lam Trần Huy Bá, Đặng Thai Mai (nguyên Viện trưởng Viện Văn học, Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996), Vệ Thạch Đào Duy Anh (Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000), Kiều Thanh Quế… đến các cây bút trẻ mới xuất hiện nhưng sớm gây được tiếng vang như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…

5h chiều 7/9/1945, ban quản trị lâm thời đoàn văn hóa Bắc Bộ đang họp tại nhà văn hóa (hội Khai trí Tiến đức cũ) thì có tin điện thoại của Bộ Ngoại giao cho biết rằng Cụ Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lâm thời muốn hội đàm với đại biểu đoàn văn hóa khoảng 19h.

Ba anh Trương Tửu, Thượng Sỹ, Nguyễn Đức Quỳnh do anh Nguyễn Hữu Đang hướng dẫn, lên Bắc Bộ phủ để yết kiến Cụ Hồ Chủ tịch.

Biết tiếng Cụ đã lâu, lần đầu được gặp Cụ trong bộ y phục quá giản dị, chúng tôi không giấu nổi sự cảm động. Nét mặt gân guốc, đôi mắt quắc thước, điệu bộ hồn nhiên bộc lộ một tinh thần tranh đấu cương quyết và một tâm hồn nhân đạo, chân thành.

Hồ Chủ tịch với Luật sư Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Giáo sư Đặng Thai Mai, ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại thoái vị), ông Vũ Đình Huỳnh (người đeo kính đen đứng sau ông Vĩnh Thụy) – Bí thư của Hồ Chủ tịch, ông Ngô Quang Châu, ông Trần Huy Liệu – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, ông Lưu Văn Lợi, ông Nguyễn Đình Thi (từ trái sang phải).

Sau mấy lời giới thiệu của anh Nguyễn Hữu Đang, anh Trương Tửu nhân danh Chủ tịch Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ Việt Nam, chào mừng Cụ Hồ, tán thành cuộc cách mạng dân chủ vừa đắc thắng và đặt lòng tín nhiệm vào tài năng sáng suốt của Cụ trong công việc lãnh đạo dân tộc đường giải phóng.

Lời nói thủng thẳng và rành rọt, Cụ Hồ cảm ơn anh em trong giới văn hóa:

– Theo ý riêng của tôi, lời Cụ Hồ nói, trong sự giải phóng dân tộc và kiến thiết một nước Việt Nam mới, nhiệm vụ của các ngài trong giới văn hóa cũng rất là nặng nề quan trọng. Dân tộc chúng ta đã bước sang một giai đoạn mới tất nhiên phải có một chính thể mới và một văn hóa mới. Khi chúng ta còn bị nô lệ thì văn hóa của chúng ta cũng mang nặng những dấu tích nô lệ. Bây giờ độc lập, văn hóa cũng phải có những dấu tích độc lập. Phải độc lập trước đã rồi văn hóa mới phát triển được. Dân tộc còn bị áp chế, hàng triệu đồng bào chúng ta vẫn còn chết đói đầy đường thì các ngài có thể ngồi trong tháp ngà mà sáng tác được không? Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là: Củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn cho đất nước một văn hóa mới và phải làm thế nào cho văn hóa Việt Nam sẽ chiếm được một địa vị trong nền văn hóa thế giới.

– Thưa Cụ, lời anh Trương Tửu đáp lại, toàn thể anh em trong giới văn hóa chúng tôi, bao lâu nay, vẫn sống trong sự áp bức ngột ngạt của chính sách thực dân. Tuy vậy dù cường quyền áp bức đến bực nào, anh em chúng tôi cũng vẫn cố gắng vươn đến một ánh sáng, vươn đến độc lập và tự do. Ngày nay sự giải phóng của dân tộc đã thực hiện một phần rất lớn. Các ánh sáng tự do cần thiết cho sự phát triển của văn hóa mà chúng tôi hằng khao khát đã nhờ sự giải phóng ấy mà bắt đầu tưng bừng, cho nên đối với chúng tôi, tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà trong lúc này cũng tức là tranh đấu cho sự giải phóng của nền văn hóa Việt Nam.

Cụ Hồ Chủ tịch gật đầu tỏ ý bằng lòng:

– Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, tranh đấu cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới. Cái văn hóa mới này cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại.

Cụ nói tới đây thì anh Nguyễn Đức Quỳnh xin phép Cụ trình bày một vài ý kiến:

– Thưa Cụ, lời anh Quỳnh nói, Cụ đã nói đến tính cách khoa học của văn hóa mới, chúng tôi xin đề cập đến sự hợp tác của các nhà kỹ thuật, chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia. Theo chỗ chúng tôi nhận xét, ít lâu nay thì các nhà kỹ thuật chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia hình như vẫn còn chút ít ngần ngại khi muốn hợp tác với Chính phủ để thi thố tài năng của mình. Họ là những người sống bằng kỹ nghệ và chỉ muốn làm việc cho kỹ thuật. Họ muốn được quyền đứng ngoài những xu hướng chính trị của đảng phái để phụng sự Tổ quốc.

Mắt Cụ Hồ sáng hẳn lên. Cụ với tay cầm quản bút ghi trên một tờ giấy để trước mặt Cụ (chúng tôi thấy Cụ ghi bằng chữ Hán), Cụ đặt quản bút xuống chậm rãi nói:

– Tôi nhờ ngài thanh minh với tất cả những anh em trong giới kỹ thuật chuyên môn rằng: Nước Việt Nam không phải của Việt Minh. Nước Việt Nam là của quốc dân Việt Nam. Chính phủ lâm thời hiện thời này không phải là Việt Minh là của toàn thể quốc dân.

Cụ dừng lại giơ tay phải lên như muốn xua đuổi một điều ngộ nhận của nhiều người đối với Chính phủ, và nói tiếp:

– Đấy ngài xem… Trong Chính phủ lâm thời có cả vua, quan lại cũng có, địa chủ cũng có, nông dân cũng có, công nhân cũng có. Đây là một Chính phủ Liên hiệp quốc gia, không có màu sắc quốc gia nào lấn át cả. Lúc này bất cứ người nào miễn là có tài và đừng phản cách mạng thì có thể phụng sự được quốc gia, toàn quốc. Trong lúc chung quanh mình bao nhiêu người đói khát, mình có thừa thóc gạo, phải đem mà giúp ích cho đồng bào. Nếu có thể mà lúc này không đem tài năng ra phụng sự quốc dân thì không những quốc dân có quyền chê trách mà ngay đến chính anh có tài đó cũng phải chê trách. Chừng như có một ý kiến gì mạnh mẽ mới nảy ra trong óc Cụ, mắt Cụ bỗng trở nên hân hoan và nghiêm trọng. Đôi mắt Cụ như lắng sâu vào trào lưu tiến hóa của lịch sử. Và Cụ hỏi:

– Thật chưa bao giờ dân nước chúng ta có một sự đoàn kết rộng đến thế. Bổn phận chúng ta ngày nay – bổn phận của các ngài là làm sao cho sự đoàn kết rộng ra, càng ngày càng sâu xuống, phải củng cố sự đoàn kết ấy cho nó bắt rễ xuống, cho nó bền chặt mãi.

Cụ dừng lại, cảm động, gian phòng im lặng.

Sợ mất thêm nhiều thì giờ của Cụ, anh Trương Tửu liền tường trình đại cương công việc của đoàn văn hóa Bắc Bộ Việt Nam đang tiến hành:

1. Tổ chức cuộc trưng bày văn hóa.

2. Dự thảo một chương trình của tuần lễ văn hóa.

3. Vận động đại hội nghị toàn quốc văn hóa.

Nghe nói tiếng “toàn quốc”, Cụ Hồ gật đầu:

Đại hội nghị toàn quốc văn hóa… phải, phải làm thế mới được. Từ trước đến giờ, chính sách thực dân Pháp đã chia rẽ chúng ta nhiều lắm rồi. Tôi mong rằng các ngài cố gắng làm được như thế, tổ chức mau chóng cuộc đại hội nghị văn hóa toàn quốc, gây được mối liên lạc mật thiết của quốc dân và văn hóa. Chính phủ sẽ giúp đỡ các ngài những phương tiện để thực hành công việc đó.

Công việc đã kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ mở cửa phòng bước vào, rút đồng hồ ở túi ra ghé tai Cụ Hồ báo cáo việc gì đó… Chúng tôi đoán rằng Cụ sắp phải tiếp đoàn đại biểu của giới khác, vội đứng dậy. Anh Trương Tửu thay mặt anh em trong đoàn văn hóa cảm ơn Cụ một lần nữa. Cụ cũng đứng dậy, nhờ chúng tôi chuyển lời chào của Cụ đến tất cả anh em trong đoàn văn hóa, và ngỏ ý mong anh em đoàn kết chặt chẽ với quốc dân để cùng tranh đấu cho sự giải phóng dân tộc.

Sau khi bắt tay Cụ Hồ Chủ tịch, chúng tôi lui về, trong lòng chan chứa cảm tình thành thực và tín nhiệm đối với Cụ Chủ tịch Chính phủ lâm thời.

Đến ngày 24/11/1946, Đại hội nghị văn hóa toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội với sự góp mặt của các đại biểu từ Bắc chí Nam. Đại hội dự kiến họp trong 7 ngày nhưng vì thực dân Pháp ngày càng lộ bộ mặt gây hấn, ngày kháng chiến toàn quốc đã gần kíp, Đại hội chỉ họp trong 1 ngày. Báo Cứu quốc thời đó đưa tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và phát biểu ý kiến trong vòng 40 phút. Nhưng hiện nay, theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy bài phát biểu đó của Người

Kiều Mai Sơn
cand.com.vn

Một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại

Đã có nhiều cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” của Đào Phan (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) có vị trí khá đặc biệt, trước hết vì “xuất xứ” của nó. Chính đồng Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ tịch, đã tin cậy chọn Đào Phan là người viết công trình “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” để kịp công bố vào dịp UNESCO tổ chức Hội thảo về “Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh” tại Hà Nội. (Theo hồi ký của Phan Bội Hoàn, người bạn đời của Đào Phan).

Có lẽ cũng nên giới thiệu đôi dòng về tác giả cuốn sách. Đào Phan tên thật là Đào Duy Dếnh, sinh ngày 10/7/1920, quê quán Khúc Thuỷ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Anh ruột của ông là học giả Đào Duy Anh, tham gia Đảng Tân Việt – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh; chị Đào Thị Quyền, là cơ sở của cách mạng, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư, Trần Đình Tri nguyên Thường trực Quốc Hội… từng được gia đình chị che chở; anh Đào Duy Kỳ vào Đảng Cộng sản từ năm 1936, từng làm việc trực tiếp với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh…, có lúc là Quyền Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, từng bị tù ở Hoả Lò, Sơn La, Côn Đảo, sau làm Trưởng ban Huấn học Trung ương…; cô em út Đào Thị Đính hoạt động bí mật cùng đồng chí Tố Hữu, từng ngồi tù 5 năm tại Huế, sau 1945 là Thành uỷ viên Huế, rồi Trưởng ban Tổ chức TW Hội Phụ nữ Việt Nam… Từ trước Cách mạng Tháng Tám, lúc 16 tuổi, ông đã tham gia chống Pháp trong phong trào thanh niên, học sinh ở Huế; năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; năm 1941 là Bí thư Hà Nội, từng bị thực dân Pháp bắt và lưu đày tại nhiều nhà tù ở Thừa Thiên, Phan Rang, Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thoát khỏi ngục tù đế quốc, ông được đồng chí Nguyễn Chí Thanh cử làm Đội trưởng Đội Tuyên truyền xung phong Việt Minh Trung Bộ, tập hợp những thanh niên trí thức đi đến tận những vùng rừng núi, những thôn xóm xa xôi hẻo lánh diễn thuyết, diễn văn nghệ tuyên truyền cho chính phủ Cụ Hồ…Từng viết báo “Suối Reo” – tờ báo của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù Sơn La, năm 1947, ông được Trung ương điều ra phụ trách Nhà xuất bản và báo “Quân du kích” – tiền thân của NXB và báo “Quân đội nhân dân” hôm nay…
Năm 2005, cùng một lúc, cả 3 công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của ông được xuất bản nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người. (Ngoài tác phẩm kể trên, là 2 cuốn “Hồ Chí Minh – một nhân cách lớn” – NXB Văn hóa thông tin, 510 trang và “Đạo Khổng trong văn Bác Hồ”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

Về tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” đồng Vũ Kỳ đã trân trọng viết Lời giới thiệu như sau:

“…Cuốn “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” đã được viết bằng công phu nghiên cứu của tác giả trong hai chục năm qua…Là một người phục vụ Bác Hồ lâu năm, tôi càng sung sướng khi thấy cuốn sách đã nêu được những đường nét sống động và chân thật của Người…”

Nhận xét nêu trên đã nói lên phần nào giá trị của công trình. Cuốn sách gồm có 5 chương: Hồi tưởng về một dự báo; Nền văn hoá mới; Triết nhân và nghệ sĩ; Chiến lược con người – nhà giáo dục; Truyền thống và hiện đại. Qua 5 chương sách, với hàng trăm dẫn chứng cụ thể và sinh động – trong đó có ý kiến của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới nhận xét, ca ngợi những phẩm cách đặc biệt về nhiều phương diện của Hồ Chí Minh, từ khi Người còn là chàng trai Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước đến lúc trở thành vị lãnh tụ tối cao của dân tộc – tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục Hồ Chí Minh thật sự là một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại. Đạt được điều đó, trước hết là nhờ công phu sưu tầm tài liệu của tác giả, nhưng quan trọng hơn là nhờ tác giả có cách nhìn mới mẻ và đúng đắn, xứng tầm với vĩ nhân, vượt qua được cách nghĩ hạn hẹp, công thức khi nêu gương một nhà cách mạng. Chỉ cần đọc mấy trang đầu, khi tác giả dẫn bài viết của nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam sau khi gặp Người năm 1923 đủ rõ: “…Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và sự tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không như văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương…”. Tác giả Đào Phan đã nhấn mạnh: Quả rất đáng ngẫm nghĩ khi nhà thơ nước Nga vốn chủ định tới thăm một “Chiến sĩ quốc tế” nhưng“vừa gặp gỡ đã nhận diện được ngay một con người Việt Nam, ở sự giản dị và thanh lịch, chuộng nếp điều độ và ghét thói thái quá…những nét truyền thống văn hoá lâu đời của một diện mạo dân tộc…”

Và gần 10 năm sau, trước sự kiện vị luật sư và bà vợ Tổng đốc nước Anh tư bản ở Hương cảng (Hồng Công) cùng góp sức cứu “Ông Nguyễn”, tác giả đã viết: “…Trong những trường hợp như thế không ai nhìn nhận con người qua những dáng dấp giai cấp. Lòng tin của nhà cách mạng quốc tế đối với một vị luật sư Hoàng gia, và ngược lại, lòng tin của vị luật sư Hoàng gia đối với nhà cách mạng quốc tế, phải chăng đều đã bắt nguồn từ “nhân tính” hoặc “nhân tình”?… Nếu không do những tín hiệu nào đó của nền văn hoá toả ra từ một con người mắc cạn, thì điều gì đã thuyết phục cả người phụ nữ sang trọng ấy có thể dùng ngay chiếc ca-nô của chồng mình để bí mật đưa nhà cách mạng Việt Nam đi thoát khỏi vòng vây của mật thám Đông Dương…”
Một điểm đáng chú ý nữa của tác phẩm là tác giả đã phân tích những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ Nguyễn Trãi, đến Phan Bội Châu…, cũng như những giá trị văn hoá của nhân loại đã thể hiện trong danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh như thế nào; nói cách khác, chính nhờ Người biết tiếp thu và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và biết thu nhận, kết hợp những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chứ không độc tôn thờ một “Ông Thánh” nào, nên mới trở thành “danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh”.

Tác giả cũng đã nêu bật được nét đặc sắc của “văn hoá” Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm; bằng những hoạt động và cách cư xử hàng ngày, Người đã nêu một tấm gương cụ thể và sinh động. Chỉ xin dẫn một ví dụ: Nhân Quốc khánh 2/9/1955, một thương binh từ miền Nam ra, được mời dự chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch. Tên thật của anh là Nguyễn Trản, bị cụt mất hai tay khi phụ trách một xưởng quân giới rất thô sơ tại Nam Bộ thời chống Pháp, nên còn có bí danh là Vương Nhị Chi. Trong lúc chờ đợi, anh hỏi thăm lối đi tới nhà vệ sinh. Với hai cánh tay cụt, anh đang loay hoay chưa biết tính sao thì bỗng nghe tiếng hỏi nhẹ nhàng sau lưng: “Chú làm sao cởi khuy?…” Anh còn lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì một ông già bước tới cởi khuy giúp anh rồi đứng tránh sang một bên, chờ anh tiểu tiện xong rồi lại lặng lẽ đến cài khuy giúp. Ông già ấy là vị Chủ tịch Nước. Thì ra đúng lúc anh hỏi thăm lối vào nhà vệ sinh đã tình cờ gặp Người. Sau khi dẫn anh trở lại phòng lễ tân, Hồ Chủ tịch liền nghiêm khắc quở trách mấy cán bộ hồi nãy “chỉ trỏ” bàn tán khi anh đi vào nhà vệ sinh: “Người ta mất cả hai cánh tay, mà không ai đi theo giúp đỡ…”

Không chỉ nêu gương, Người đã tổ chức, phát động mọi người cùng làm theo, tạo nên diện mạo một nền “văn hoá mới” của đất nước. Vì thế, tuy Người “đi xa” đã mấy chục năm qua, những giá trị văn hoá Người để lại không chỉ hiện diện trên những trang sách của Đào Phan mà còn toả sáng trên mỗi bước đường cách mạng của dân tộc, của đất nước Việt Nam đang không ngừng đổi mới, “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Người đã từng mong đợi.

Nguyễn Khắc Phê
cpv.org.vn

Một vị tăng 13 năm sưu tầm tư liệu về Bác Hồ

Mặc dù bận rộn với công việc đạo pháp, Đại đức Thích Nhuận Thọ (SN 1981, tăng thường trú tại chùa Phước Mỹ, xã Mỹ Cát, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) vẫn dành nhiều thời gian để sưu tầm những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ. Việc làm của Đại đức chứng minh một điều, Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu, luôn ở trong trái tim mọi người dân Việt Nam.

Vào những ngày cuối tháng 8, chúng tôi đến chùa Phước Mỹ để tìm gặp Đại đức Thích Nhuận Thọ, người suốt 13 năm qua luôn dành nhiều thời gian và công sức để sưu tầm những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ kính yêu. Dù đang bận rộn với công việc xây dựng, sửa chữa chùa nhưng Đại đức vẫn vui vẻ dành thời gian tiếp chúng tôi và kể lại cơ duyên dẫn đến việc làm của mình suốt nhiều năm qua.

nha suĐại đức Thích Nhuận Thọ cẩn thận lật giở những
tấm hình về Bác Hồ mà ông đã sưu tầm được.

Đại đức Thích Nhuận Thọ kể, vào năm 1999, khi còn là chú tiểu tu tại chùa Thiên Phước (ở thôn An Trinh, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ), trong một lần quét dọn nhà kho của chùa, tình cờ Đại đức nhặt được một túi nilon. Giở túi ra xem, Đại đức thấy bên trong có khoảng 30 bức ảnh về quá trình hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Tuy chưa một lần được gặp Bác nhưng qua sách, báo tôi vô cùng khâm phục và kính yêu lối sống giản dị, đức tính cần kiệm, tình thương yêu con người bao la của Bác Hồ. Cầm những bức ảnh trong tay, tôi nảy sinh ý định sẽ sưu tầm những hình ảnh, tư liệu liên quan đến Bác. Từ đó, mỗi khi có dịp đi đến đâu, tôi đều tranh thủ tìm tòi, mua lại các loại sách, báo, hình ảnh về Bác Hồ”, Đại đức Thích Nhuận Thọ cho biết.

Để chứng minh điều mình nói, Đại đức cho chúng tôi xem hàng chục tấm ảnh ghi lại cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đa số những bức ảnh mà Đại đức sưu tầm được đều là ảnh trắng đen, mặt sau ghi cụ thể năm ấn hành và tên nhà xuất bản.

Trong số những hình ảnh, tư liệu về Bác mà Đại đức Thích Nhuận Thọ sưu tầm được, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với “Bộ sưu tập chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tài liệu lưu trữ thời kỳ 1945 – 1969”. Bộ sưu tập ghi lại gần 100 chữ ký của Bác được Đại đức treo trang trọng trong phòng khách của chùa để mọi người dễ dàng nhìn thấy.

Đại đức tâm sự: “Bác Hồ của chúng ta vô cùng bao la, vĩ đại; tấm lòng yêu thương con người của Người cũng giống như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vậy. Càng tìm hiểu về Người, tôi càng thấy mình như một hạt cát bé nhỏ, còn Người rộng lớn như sa mạc bao la. Tôi luôn tâm niệm, học tập và làm theo Bác là công việc ai cũng nên làm và phải làm cả đời. Thời gian tới, khi chùa xây dựng hoàn thành, tôi sẽ dành riêng một phòng để trưng bày số ảnh, sách báo và các kỷ vật về Bác Hồ mà mình đã sưu tầm được trong thời gian qua”.

Kính trọng, yêu quý và thấm nhuần lời dạy của Bác, hơn 10 năm qua, dù hàng ngày bận rộn với công việc đạo pháp nhưng Đại đức Thích Nhuận Thọ vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện. Hàng năm, Đại đức trực tiếp liên hệ với các trường học đóng trên địa bàn xã Mỹ Cát, tìm những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để chùa hỗ trợ chi phí học tập.

Việc làm của Đại đức Thích Nhuận Thọ nói riêng, chùa Phước Mỹ nói chung thật đáng trân trọng. Những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ mà Đại đức sưu tầm được thật sự là những tài liệu vô giá. Qua đó cũng nhắc nhở chúng ta rằng, để thực hiện tốt việc “học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mọi người phải có lòng yêu nước, yêu thương con người, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Văn Lực – Văn Tố
Theo http://www.baobinhdinh.com.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Tình bạn giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh

“Đại Công báo”, một tờ báo Trung Quốc có hơn một trăm năm lịch sử, là một trong ba tờ báo Hoa văn có uy tín trên thế giới do Liên hợp quốc bình chọn, số ra ngày 6-4-2011 đã đăng bài “Vài mẩu chuyện về tình bạn giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai” của tác giả Lý Gia Trung, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam từ tháng 12-1995 đến tháng 7-2000. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tham khảo.

Hai vị vĩ nhân xưng hô với nhau là anh em

Tháng 11-1956, Thủ tướng Chu Ân Lai sang thăm Việt Nam. Trong lời chào mừng các vị khách quý dự tiệc chiêu đãi cấp nhà nước, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không đọc bài viết sẵn, mà nói vo một đoạn: “Với tôi, đồng chí Chu Ân Lai là người anh em của tôi. Chúng tôi đã từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau làm công tác cách mạng. Anh ấy là người bạn chiến đấu thân mật của tôi trên ba mươi năm qua!”

Tiếp lời, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng nói: “Hồ Chủ tịch vừa nhắc đến cá nhân tôi trên ba mươi năm trước đã quen thân anh, đúng thế! Ba mươi tư năm trước, tại Pa-ri, tôi đã quen thân Hồ Chủ tịch. Anh là người dẫn đường của tôi. Khi ấy, anh đã là một người Mác-xít thành thục, mà tôi khi ấy mới vừa tham gia Đảng Cộng sản. Anh ấy là lão đại ca của tôi!”

Lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đứng lên nói với mọi người có mặt: “Câu nói vừa rồi của đồng chí Chu Ân Lai, các đồng chí nghe biết là được rồi, không nên nói lại với những người khác. Mọi người đều biết, đồng chí Chu Ân Lai là nhà lãnh đạo của một Đảng lớn và một nước lớn dân số nhiều nhất trên thế giới!”.

Vì thế, báo chí Việt Nam không đưa tin viết bài kỹ câu chuyện này. Mãi cho đến ngày 14-5-1960, Nhân Dân nhật báo Trung Quốc mới tiết lộ tình tiết này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chu Ân Lai.

Từ năm 1965 về sau, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được tốt. Thủ tướng Chu Ân Lai rất quan tâm đến bệnh tình của Người, trực tiếp lựa chọn những chuyên gia y tế có trình độ cao nhất Trung Quốc thành lập Tổ điều trị, đến Hà Nội chữa bệnh cho Hồ Chủ tịch.

Tháng 5-1969, bệnh tình của Hồ Chủ tịch tương đối ổn định, phía Việt Nam bèn đề nghị các chuyên gia của Tổ điều trị Trung Quốc về nước nghỉ ngơi củng cố một chút, một tháng sau thì trở lại. Trước khi lên đường, các chuyên gia hỏi Hồ Chủ tịch yêu cầu từ Bắc Kinh mang về những gì. Hồ Chủ tịch nói luôn: “Cái gì cũng không cần, chỉ mang về một con vịt quay Bắc Kinh là được rồi!”.

Sau khi về nước, trong khi nghe báo cáo tình hình, Thủ tướng Chu Ân Lai biết Hồ Chủ tịch thích ăn vịt quay, nói ngay: “Một con không được! Phải mang hai con, đồng thời phải là vịt to, sườn mỏng và tưới ma-gi thơm ngọt và đầy đủ gia vị”. Thủ tướng Chu Ân Lai còn suy nghĩ, nhắc nhở: Việt Nam đang mùa hè, Hồ Chủ tịch lại là người cao tuổi, cơ thể yếu, nên giải quyết đông lạnh bảo quản thực phẩm tươi ngon là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch

Vì chuyện này, Thủ tướng Chu Ân Lai mời đồng chí Lý Cường, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đến bàn bạc, song đồng chí Lý Cường cũng không am hiểu những tri thức về mặt đông lạnh. Cuối cùng, thông qua Công ty Xuất nhập khẩu Lương thực thực phẩm, một đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại thương, tìm đến Nhà máy Rượu Bắc Kinh, ở đây sản xuất được một loại băng khô có thể làm lạnh, sau khi đưa vịt quay và các gia vị vào thùng lót xốp, chung quanh rắc băng khô lên, có thể khống chế nhiệt độ ở độ âm, bảo đảm chắc chắn vịt quay không thể biến chất. Đến khi ấy, Thủ tướng Chu Ân Lai mới yên tâm.

Hạ tuần tháng 6, chuyên gia trong Tổ điều trị trở lại Hà Nội.

Tháng 5-1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Việt Nam. Hồ Chủ tịch và Chu Thủ tướng vui với các cháu thiếu nhi Việt Nam. Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Hồ Chủ tịch quyết định đem một con vịt quay tặng Tổ điều trị, còn một con nữa, Người yêu cầu cùng thưởng thức với Đại sứ Trung Quốc Vương Ấu Bình.

Ngày 30-6, Phủ Chủ tịch Việt Nam gọi điện thoại đến Đại sứ quán Trung Quốc, thông báo: Ngày mai là Kỷ niệm 48 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chủ tịch quyết định mời cơm Đại sứ Vương Ấu Bình tại Phủ Chủ tịch, vào 12 giờ trưa.

Ngày hôm sau, tôi là phiên dịch tháp tùng Đại sứ Vương Ấu Bình đúng giờ đến Phủ Chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Hồ Chủ tịch dẫn chúng tôi vào phòng ăn. Trước khi Hồ Chủ tịch đi vào phòng ăn, đồng chí Vũ Kỳ kể với chúng tôi câu chuyện: Sau khi nghe Tổ điều trị phản ánh, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gửi vịt quay sang.

Sau 30 năm, năm 1999, tôi đã gặp đồng chí Vũ Kỳ, năm ấy đã 78 tuổi. Khi nhắc đến chuyện Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch, đồng chí ấy vô cùng xúc động. Đồng chí nói với tôi: Đến nay đồng chí ấy vẫn giữ gìn cẩn thận chiếc lọ sứ đựng ma-gi ngọt hồi ấy, coi như một hiện vật văn hóa quý báu có ý nghĩa lịch sử.

Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp đến Hà Nội viếng Hồ Chủ tịch

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.

Sau khi nghe tin, Thủ tướng Chu Ân Lai vô cùng đau thương.

Ngoài việc gửi điện chia buồn đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung Quốc cử Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm dẫn đầu Đoàn Đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc sang dự Lễ tang Hồ Chủ tịch, tổ chức vào ngày 9 tháng 9.

Thủ tướng Chu Ân Lai còn quyết định trước đó vào ngày 4-9, ông và Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh cùng đến Hà Nội, viếng Hồ Chủ tịch.

Các nhà lãnh đạo cao cấp: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Võ Nguyên Giáp… trực tiếp ra tận sân bay đón tiếp. Thủ tướng Chu Ân Lai rơm rớm nước mắt, nói: “Tôi đến muộn rồi!”.

Trong khi hội đàm với những nhà lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai đều nói rõ các thành viên của Đoàn đại biểu đều là những đồng chí quan hệ mật thiết với Hồ Chủ tịch. Bản thân đồng chí thay mặt cho Mao Chủ tịch đến. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, Diệp Kiếm Anh đã từng cùng Hồ Chủ tịch công tác tại Văn phòng Bát Lộ Quân tại Trùng Khánh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Vi Quốc Thanh làm Đoàn trưởng Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam công tác.

Thủ tướng Chu Ân Lai nói:

“Hồ Chủ tịch suốt đời phấn đấu, chẳng những lập công bất hủ vì nhân dân Việt Nam, mà còn có cống hiến rất lớn vì giai cấp vô sản quốc tế. Hồ Chủ tịch có quan hệ đặc biệt mật thiết đối với cách mạng Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí mấy lần đến Trung Quốc, tham gia cách mạng Trung Quốc, cùng chung hoạn nạn, kề vai sát cánh chiến đấu với nhân dân Trung Quốc, dày công vun đắp tình cảm sâu đậm với nhân dân Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phẩm chất cộng sản của Hồ Chủ tịch, sự quan tâm đến nhân dân lao động, ý chí cách mạng, tinh thần đấu tranh triệt để với kẻ thù, tác phong công tác gian khổ chất phác của Chủ tịch, trước sau như một, xứng đáng được mọi Đảng viên cộng sản học tập.”

Thủ tướng Chu Ân Lai nhiều lần nói: “Tôi đến muộn rồi, không thể gặp mặt lần cuối cùng với Hồ Chủ tịch!”.

Khi ấy, thi hài của Hồ Chủ tịch đã được giao cho chuyên gia Liên Xô để tiến hành xử lý y học, không cho người không có phận sự tiếp xúc, nên đáng lẽ Đoàn không thể đến với Người.

Nhưng, vì tình hữu nghị chiến đấu sâu đậm của Thủ tướng Chu Ân Lai với Hồ Chủ tịch, trước khi Đoàn đại biểu lên đường về nước, phía Việt Nam đã phá lệ, bố trí cho Thủ tướng Chu Ân Lai và các đại biểu trong Đoàn đến bái biệt Hồ Chủ tịch.

Lý Gia Trung – (Vũ Phong Tạo dịch)
qdnd.vn

Bác Hồ ở bản Mạy

QĐND – Tháng Tư, đất nước Triệu Voi đã chớm mùa mưa. Trong tiết trời dìu dịu mát, từ Savanakhẹt, chúng tôi vượt sông Mê Kông đến Nakhon Phanom của Thái Lan thăm ngôi nhà Bác Hồ từng ở để hoạt động cách mạng trong những năm 1928-1929.

Bản Mạy đây rồi ư? Ngôi nhà Bác ở tại đất Thái mà tôi từng nghe, từng đọc từ thời học cấp một đây rồi ư? Cái tên Thầu Chín, bí danh của Bác thời ấy lại âm vang trong lòng chúng tôi. Chợt thấy xôn xao mảnh vườn xanh tốt chở che ngôi nhà bé nhỏ, vách gỗ ngói ta có chiếc rèm tre che nắng, che gió trước cửa chính ra vào. Ngôi nhà, mảnh vườn thuần Việt này còn lưu giữ những kỷ niệm về một thời hoạt động cách mạng bí mật của Bác Hồ kính yêu tại Thái Lan.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Nakhon Phanom -Thái Lan. Ảnh: Đông Hà

Những nén hương thơm được thắp lên trên chiếc tủ thờ quá đơn sơ để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cảm xúc trong tôi mỗi lúc càng trào dâng khi tận mắt thấy những kỷ vật của Bác còn lưu giữ trong ngôi nhà. Vẫn thế! Một cuộc sống giản dị thanh cao, những tiện nghi bị lược bỏ đến tối thiểu, còn lại mênh mang tấm lòng yêu nước thương dân, còn lại chí khí phẩm chất của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Có thể kể ra ngay mấy đồ vật Bác dùng thuở ấy: Vài bộ áo quần vải thường xếp trong chiếc tủ cao chưa tới một mét, tấm phản gỗ Người từng ngả lưng sau những giờ làm việc miệt mài, mấy cái xoong nhỏ bằng đồng để bên cạnh chiếc kiềng ba chân. Danh mục đồ dùng nếu đếm chắc chỉ đủ một bàn tay.

Năm 39 tuổi, Bác đóng vai nhà sư Hạnh Đa để hoạt động cách mạng tại Thái Lan. Tôi dừng khá lâu trước bức ảnh Người trong tấm áo cà sa màu vàng đang đi khất thực thời ấy để hình dung thêm những gian lao, hiểm nguy mà Bác đã trải qua trên Đường Kách mệnh.

Những hình dung về Bác kính yêu càng sáng thêm qua những hồi ức của ông Võ Trọng Tiêu, người đang coi giữ ngôi nhà lịch sử này. Khi Bác về bản Mạy với cái tên Thầu Chín thì ông Tiêu mới 7 tuổi. ông sinh năm 1922 tại Thái Lan nhưng quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Gần chín mươi tuổi, ông mới được nhập quốc tịch Thái. Cũng lạ, gần chín thập kỷ qua con người mang dòng máu Việt này không thuộc quốc tịch nào cả nên dù đã có con trai là thiếu tướng công an và con gái là bác sĩ làm việc tại Việt Nam, ông vẫn chưa một lần thực hiện được khát vọng về thăm Tổ quốc, quê hương.

ông Tiêu kể: Những ngày đầu về bản Mạy, Bác ở chung nhà và ăn uống với gia đình ông. Sau đó, vì không muốn làm phiền gia đình, nên Bác cùng các đồng chí của mình xin phép được làm ngôi nhà riêng để ở và sinh hoạt. Đêm đêm, cậu bé Tiêu được Thầu Chín cho ngủ chung. Thường thì khi ngủ dậy Tiêu chẳng thấy Bác đâu nữa. Bác đi đâu, về đâu trong nhà không mấy ai biết. Trong hồi ức của ông Tiêu thì Bác thời ấy người gầy mảnh, da trắng, mặc quần vận. Bàn ghế, tủ đựng áo quần hiện còn lưu giữ ở đây là do tự tay Bác đóng. Vườn nhà có hai cây dừa và cây khế ngọt do Bác trồng. Hiện nay, ai đến đây cũng đều thích ăn khế Bác trồng và muốn chụp ảnh trước cây để làm kỷ niệm. Chiều chiều, khi thôi làm việc Bác cùng các đồng chí của mình đá bóng theo kiểu vòng tròn. Chú bé Tiêu là người xăng xái đi nhặt bóng. Có lúc Bác chơi trò kéo co với các cháu là con của các gia đình cách mạng Việt Kiều gửi vào học chữ quốc ngữ. Một bên là cậu bé Tiêu với ba em học trò, còn bên kia là Bác. Bác cười bảo: Tám chân đấu với hai chân, coi thử ai thua, ai thắng nào. Mùa mưa đến, Bác với mấy đồng chí của Người đi bắt cá. Bốn người lội bì bõm từ thửa ruộng này qua thửa ruộng khác, cá bắt được bỏ chung trong một chiếc giỏ. Về nhà, Bác cười hỏi: Đố mấy chú tôi bắt được bao nhiêu con cá? Tất cả, ngớ ra không ai trả lời được. Bác đổ cá từ giỏ ra, vui vẻ nói, con cá nào bị ngắt đuôi là do tôi bắt đó. Ai cũng bật cười trước cái mẹo của Bác. Cá bắt được, con nào chết thì kho ăn trước, con nào sống thì để lại làm nước mắm. Bác thích ăn những món dân dã đồng quê và hằng ngày nấu nước lá vằng để uống.

Không chỉ nhân dân Việt Nam yêu quý Bác Hồ mà nhiều người Thái Lan cũng rất kính trọng Bác. ông Tiêu cho biết, người Thái vẫn thường đến đây thắp hương cho Bác. Trong 76 tỉnh của Thái Lan đã có dân của 74 tỉnh về thăm ngôi nhà Bác từng ở tại bản Mạy và theo ông Tiêu kể thì một vị tổng chỉ huy quân đội Thái Lan khi đến đây thắp hương cho Bác đã giơ ngón tay cái lên rồi nói: Bác Hồ là người có một không hai trên thế giới này!

Ngôi nhà nhỏ Bác từng ở tại bản Mạy không chỉ là di tích lịch sử quý giá gắn với cuộc đời cách mạng sôi động của Hồ Chí Minh mà còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -Thái. Ngay cạnh ngôi nhà nhỏ này, có Làng hữu nghị Việt -Thái và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Đường Quốc Hiệp, năm nay bốn mươi tuổi, nhân viên coi giữ giới thiệu nhà lưu niệm nói với chúng tôi: Bác Hồ là vĩ nhân của Việt Nam và thế giới nhưng rất giản dị. Dù Bác đã xa rời nơi này rất lâu nhưng người dân bản Mạy vẫn luôn luôn thấy hình bóng Người ở đây. Trong ngôi nhà nhỏ, trong hàng dừa cây khế, trong mỗi trái tim người dân bản Mạy luôn có hình ảnh Bác Hồ tỏa sáng.

Nguyễn Hữu Quý
qdnd.vn

Người quay những thước phim cuối cùng về Bác

Cũng như những năm trước đây, cứ vào dịp Tết Độc lập, người dân trên mọi miền đất nước lại về với “Làng Trù quê mẹ và Làng Sen quê cha”. Trong những ngày tháng thiêng liêng này, chúng tôi tìm gặp người nghệ sĩ đã quay những thước phim cuối cùng về Bác. Đó Thiếu tá Nguyễn Thanh Xuân (ảnh), 82 tuổi, ở xóm Liên Sơn 1, xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Trong căn phòng nhỏ, ông Xuân gợi nhớ lại những tháng năm không thể nào quên…

Năm 1952, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên  21 tuổi Nguyễn Thanh Xuân xếp bút nghiên rời Làng Sen lên đường vào quân ngũ. Xuất thân trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, ông đã góp phần trong thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sau kháng chiến chống Pháp, ông được lệnh cùng đơn vị tiếp quản Thủ đô.

gap nguoi quay thuoc phim cuoi cung

Năm 1961, ông Xuân được chuyển về công tác tại Xưởng phim Quân đội. Với niềm say mê ham học hỏi cộng thêm lòng kiên trì chịu khó, ông tiếp cận nhanh với máy quay phim. Hơn 37 năm trong quân ngũ và 30 năm cầm máy quay lưu lại hơn 7000 thước phim tư liệu nhưng có lẽ khoảnh khắc thiêng liêng nhất trong cuộc đời bấm máy của ông là 10 ngày túc trực bên cạnh Bác Hồ, ghi những thước phim quý giá lưu lại cho mai sau. Ông Xuân bồi hồi nhớ lại: “Được gặp Bác là niềm vui sướng tự hào của cuộc đời tôi, nhưng được giao trọng trách quay lại những thước phim trước khi Bác mất đó là lòng thành kính mà tôi dâng lên Người”.

Ngày 29-8-1969, nhận được lệnh đặc biệt của Tổng cục Chính trị, ông Xuân và một đồng chí (người miền Nam) vào Phủ Chủ tịch. Không được thông báo trước, ông Xuân cùng đồng đội cấp tốc mang theo hành trang gồm máy quay và một số trang thiết bị cần thiết. Khi xe dừng trước Phủ Chủ tịch, trong lòng ông Xuân xúc động vì được gặp Bác là niềm mơ ước từ lâu. Nhưng khi tận mắt chứng kiến sức khỏe Bác yếu dần, ông Xuân chỉ biết ôm đồng nghiệp rơi lệ…

“Chúng tôi ở bên Bác 24/24 giờ trong ngày. Chúng tôi lo nhất là khi bật máy quay lên sợ làm mất giấc ngủ của Bác. Do chiếc máy quay đã cũ, âm thanh phát ra từ máy khiến chúng tôi ái ngại. Chúng tôi đã nghĩ ra cách dùng vải nhung, xốp bọc bên ngoài máy với mục đích là cách âm để tránh tiếng động mạnh. Chúng tôi tự dặn mình: Đây là nhiệm vụ thiêng liêng, phải dốc toàn tâm để ghi được những khoảnh khắc cuối đời của Bác” – ông Xuân kể. 10 ngày túc trực bên giường bệnh, sử dụng hơn 5000m phim nhựa, ông Xuân đã ghi lại tất cả những hình ảnh từ sinh hoạt cho đến giây phút trước khi Người về với thế giới người hiền. Trước khi ra đi, Bác chỉ có một ý nguyện thật giản dị: “…Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế… Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ… Bác muốn nghe một đôi làn quan họ…”. Những cảm xúc trào dâng ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí ông Xuân.

Đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm”, ngồi lật lại trang sử cuộc đời, ông Xuân không khỏi xúc động bồi hồi, đặc biệt khi nhắc lại giây phút bên Bác. Trở về với cuộc sống đời thường, trong mỗi hành động, mỗi việc làm của mình, ông Xuân luôn cảm nhận được ánh mắt Bác Hồ dõi theo như nhắc nhở ông phải sống mẫu mực với con cháu, với bà con xóm làng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

Ông Nguyễn Bảo Huỳnh, Chi Hội trưởng Hội Cựu chiến binh Liên Sơn 1 cho biết: “Ở  Hội Cựu chiến binh, ông Xuân là người tích cực. Cứ mỗi lần sinh hoạt, ông đều kể các câu chuyện về Bác cho anh em nghe và có những nhận thức sâu sắc, trên cơ sở đó mà vận dụng vào thực tiễn đời sống hiện nay…”.

Theo qdnd.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Ký ức đẹp của người lái xe phục vụ Bác Hồ

nguoi lai xe phục vụ BH
Ông Nguyễn Văn Mùi

“Tôi may mắn được là người lái xe phục vụ Bác Hồ từ năm 1961 đến 1969. Đã hơn 40 năm trôi qua nhưng những ngày tháng sống bên Bác vẫn luôn trong tâm trí tôi, tưởng chừng như chỉ mới ngày hôm qua…”. Đó là những tâm sự của ông Nguyễn Văn Mùi về những kỷ niệm của mình trong những năm lái xe phục vụ Bác Hồ.

Ông Nguyễn Văn Mùi, sinh năm 1931, trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Bắc Cầu, xã Xuân Hùng (Xuân Trường – Nam Định). Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tham gia cách mạng và làm ở Xưởng Đúc tiền Chính phủ. Đến năm 1951, ông được phân công vào Ban 12, có nhiệm vụ chuyên chở hàng hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược cho tiền tuyến. Trong thời gian đó, ông luôn cố gắng học tập, rèn luyện để trở thành một lái xe vững vàng về chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời chiến. Hòa bình lập lại (1954), ông được phân công vào Đội lái xe phục vụ Bác Hồ. Ông Mùi nhớ lại: “Ban đầu tôi mới chỉ là người lái xe chở các chiến sĩ bảo vệ Bác. Tôi đặt ra cho mình mục tiêu là phải cố gắng làm việc hết sức để góp phần bảo vệ Bác”. Nhớ lại thời khắc ấy, ông Mùi không giấu nổi cảm xúc: “Được lái xe phục vụ Bác Hồ, đó là niềm hạnh phúc, nhưng tôi cũng rất lo vì trách nhiệm rất nặng nề khi phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Bác mỗi khi đi trên đường. Đồng chí Kháng (người cận vệ riêng của Bác) đã nói với tôi: Lái xe cho Bác phải nhanh trí, bình tĩnh, kịp thời xử lý chính xác mọi tình huống, không kể sự nguy hiểm tới tính mạng của mình để bảo đảm an toàn cho Bác”.

Trong suốt quãng thời gian lái xe phục vụ Bác, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và trách nhiệm được giao, để lại trong ông những kỷ niệm sâu sắc về Người. Ông kể: Bên cạnh Bác, mọi người đều thấy thoải mái, mọi khoảng cách đều bị xóa tan bởi sự hài hước và dí dỏm của Người. Mỗi khi đi công tác, hay tìm hiểu đời sống nhân dân, Bác thường trò chuyện và hỏi mọi người những chuyện xảy ra trên đường. Có lần đang đi trên đường, dù đường thoáng nhưng tôi vẫn cho xe chạy chậm để bảo đảm an toàn cho Bác. Bỗng lúc ấy có chiếc xe ô tô khác vượt lên trước, Bác hỏi: “Xe mình và xe họ, xe nào tốt hơn?”. Lúc ấy tôi lúng túng không biết trả lời sao thì đồng chí Kháng đỡ lời: “Xe mình cũng tốt như xe họ, nhưng để đảm bảo an toàn cho Bác nên đồng chí Mùi giữ tốc độ như thế này là tốt nhất”. Lúc ấy Bác cười, nói: “Hóa ra xe chạy nhanh hay chậm là có chú Kháng cầm trịch chứ gì, vậy thì lần sau không cho chú Kháng đi nữa”. Câu nói hài hước khiến đồng chí Kháng bẽn lẽn đỏ mặt, còn mọi người thì cười vui vẻ.

Là một vị lãnh tụ, được nhân dân tôn kính nhưng trong cuộc sống hàng ngày, Bác là người rất giản dị và gần gũi với tất cả mọi người. Vì vậy, ông Mùi cũng như nhiều anh em khác không ai bảo ai, đều tự nhủ phải học tập Bác trong công việc và cuộc sống hằng ngày. Với ông Mùi thì kỷ niệm sâu đậm nhất trong quá trình lái xe cho Bác chính là món quà bất ngờ của Bác tặng trong ngày cưới. Ông vẫn nhớ như in, khi ông lập gia đình, Bác Hồ đã gửi chúc mừng vợ chồng ông 20 đồng. Ông kể “Cả gia đình tôi đều khóc vì cảm động, nhất là bố mẹ tôi. Mọi người đều động viên tôi phải cố gắng công tác thật tốt để xứng đáng với tình thương yêu của Bác dành cho”. Trong cuộc sống hằng ngày, Bác đều hỏi thăm chuyện gia đình, vợ con và bố mẹ của các đồng chí phục vụ. Đồng chí nào có việc gia đình, Bác đều quan tâm, hỏi thăm, động viên và chỉ bảo nên làm gì cho phải…

Sau khi Bác Hồ mất, theo yêu cầu của tổ chức, ông Mùi lại tiếp tục lái xe cho Bác Tôn. Thời gian lái xe cho Bác Tôn, ông Mùi được quản lý hai chiếc xe, một chiếc Von-ga và một Com-măng-ca. Thế nhưng, cũng như Bác Hồ, chỉ khi nào tiếp khách quan trọng Bác Tôn mới sử dụng xe Von-ga, còn bình thường Bác chỉ dùng xe Com-măng-ca cho dân dã. Ông kể: Bác Tôn thường hay thể dục buổi sáng và môn thể dục Bác ưa chuộng nhất là đạp xe. Thế nhưng để giữ an toàn cho Bác nên sáng nào cũng vậy mỗi khi Bác đạp xe là lại có hai, ba cảnh vệ đạp xe cùng để bảo vệ Bác. Vì là người giản dị không thích làm phiền người khác nên có lần Bác Tôn đã bảo với anh em: Bác già rồi, các chú cứ mặc kệ Bác. Bác không làm sao đâu, các chú cứ ngủ nghỉ cho khỏe, dậy sớm làm gì (Bác Tôn thường dậy và đạp xe tập thể dục vào lúc 5h sáng). Và nhiều lúc, để đỡ phiền phức cho anh em nên có hôm Bác Tôn đã một mình đạp xe ra cổng làm anh em cảnh vệ “trở tay” không kịp…

Trong ngôi nhà ở đường Phương Mai, quận Đống Đa (Hà Nội), ông Nguyễn Văn Mùi đang sống vui vẻ, quây quần bên cháu con. Điều lắng đọng sau những năm tháng được gần gũi Bác Hồ đó là những đức tính cao đẹp ông đã học được từ vị Chủ tịch nước đáng kính. Ông coi đây là tài sản vô giá của cuộc đời ông, nó thiêng liêng và không gì có thể sánh được. Ông vẫn đang dành thời gian còn lại của mình để truyền dạy cho cháu con đức tính giản dị, khiêm tốn, biết sống thân thiết với mọi người và cũng là để con cháu tự hào vì có một người cha, người ông đã có những năm tháng được sống và làm phục vụ một người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Bài và ảnh: Văn Thứ
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ ở bản Mạy

QĐND – Tháng Tư, đất nước Triệu Voi đã chớm mùa mưa. Trong tiết trời dìu dịu mát, từ Savanakhẹt, chúng tôi vượt sông Mê Kông đến Nakhon Phanom của Thái Lan thăm ngôi nhà Bác Hồ từng ở để hoạt động cách mạng trong những năm 1928-1929.

Bản Mạy đây rồi ư? Ngôi nhà Bác ở tại đất Thái mà tôi từng nghe, từng đọc từ thời học cấp một đây rồi ư? Cái tên Thầu Chín, bí danh của Bác thời ấy lại âm vang trong lòng chúng tôi. Chợt thấy xôn xao mảnh vườn xanh tốt chở che ngôi nhà bé nhỏ, vách gỗ ngói ta có chiếc rèm tre che nắng, che gió trước cửa chính ra vào. Ngôi nhà, mảnh vườn thuần Việt này còn lưu giữ những kỷ niệm về một thời hoạt động cách mạng bí mật của Bác Hồ kính yêu tại Thái Lan.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Nakhon Phanom -Thái Lan. Ảnh: Đông Hà

Những nén hương thơm được thắp lên trên chiếc tủ thờ quá đơn sơ để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cảm xúc trong tôi mỗi lúc càng trào dâng khi tận mắt thấy những kỷ vật của Bác còn lưu giữ trong ngôi nhà. Vẫn thế! Một cuộc sống giản dị thanh cao, những tiện nghi bị lược bỏ đến tối thiểu, còn lại mênh mang tấm lòng yêu nước thương dân, còn lại chí khí phẩm chất của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Có thể kể ra ngay mấy đồ vật Bác dùng thuở ấy: Vài bộ áo quần vải thường xếp trong chiếc tủ cao chưa tới một mét, tấm phản gỗ Người từng ngả lưng sau những giờ làm việc miệt mài, mấy cái xoong nhỏ bằng đồng để bên cạnh chiếc kiềng ba chân. Danh mục đồ dùng nếu đếm chắc chỉ đủ một bàn tay.

Năm 39 tuổi, Bác đóng vai nhà sư Hạnh Đa để hoạt động cách mạng tại Thái Lan. Tôi dừng khá lâu trước bức ảnh Người trong tấm áo cà sa màu vàng đang đi khất thực thời ấy để hình dung thêm những gian lao, hiểm nguy mà Bác đã trải qua trên Đường Kách mệnh.

Những hình dung về Bác kính yêu càng sáng thêm qua những hồi ức của ông Võ Trọng Tiêu, người đang coi giữ ngôi nhà lịch sử này. Khi Bác về bản Mạy với cái tên Thầu Chín thì ông Tiêu mới 7 tuổi. ông sinh năm 1922 tại Thái Lan nhưng quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Gần chín mươi tuổi, ông mới được nhập quốc tịch Thái. Cũng lạ, gần chín thập kỷ qua con người mang dòng máu Việt này không thuộc quốc tịch nào cả nên dù đã có con trai là thiếu tướng công an và con gái là bác sĩ làm việc tại Việt Nam, ông vẫn chưa một lần thực hiện được khát vọng về thăm Tổ quốc, quê hương.

ông Tiêu kể: Những ngày đầu về bản Mạy, Bác ở chung nhà và ăn uống với gia đình ông. Sau đó, vì không muốn làm phiền gia đình, nên Bác cùng các đồng chí của mình xin phép được làm ngôi nhà riêng để ở và sinh hoạt. Đêm đêm, cậu bé Tiêu được Thầu Chín cho ngủ chung. Thường thì khi ngủ dậy Tiêu chẳng thấy Bác đâu nữa. Bác đi đâu, về đâu trong nhà không mấy ai biết. Trong hồi ức của ông Tiêu thì Bác thời ấy người gầy mảnh, da trắng, mặc quần vận. Bàn ghế, tủ đựng áo quần hiện còn lưu giữ ở đây là do tự tay Bác đóng. Vườn nhà có hai cây dừa và cây khế ngọt do Bác trồng. Hiện nay, ai đến đây cũng đều thích ăn khế Bác trồng và muốn chụp ảnh trước cây để làm kỷ niệm. Chiều chiều, khi thôi làm việc Bác cùng các đồng chí của mình đá bóng theo kiểu vòng tròn. Chú bé Tiêu là người xăng xái đi nhặt bóng. Có lúc Bác chơi trò kéo co với các cháu là con của các gia đình cách mạng Việt Kiều gửi vào học chữ quốc ngữ. Một bên là cậu bé Tiêu với ba em học trò, còn bên kia là Bác. Bác cười bảo: Tám chân đấu với hai chân, coi thử ai thua, ai thắng nào. Mùa mưa đến, Bác với mấy đồng chí của Người đi bắt cá. Bốn người lội bì bõm từ thửa ruộng này qua thửa ruộng khác, cá bắt được bỏ chung trong một chiếc giỏ. Về nhà, Bác cười hỏi: Đố mấy chú tôi bắt được bao nhiêu con cá? Tất cả, ngớ ra không ai trả lời được. Bác đổ cá từ giỏ ra, vui vẻ nói, con cá nào bị ngắt đuôi là do tôi bắt đó. Ai cũng bật cười trước cái mẹo của Bác. Cá bắt được, con nào chết thì kho ăn trước, con nào sống thì để lại làm nước mắm. Bác thích ăn những món dân dã đồng quê và hằng ngày nấu nước lá vằng để uống.

Không chỉ nhân dân Việt Nam yêu quý Bác Hồ mà nhiều người Thái Lan cũng rất kính trọng Bác. ông Tiêu cho biết, người Thái vẫn thường đến đây thắp hương cho Bác. Trong 76 tỉnh của Thái Lan đã có dân của 74 tỉnh về thăm ngôi nhà Bác từng ở tại bản Mạy và theo ông Tiêu kể thì một vị tổng chỉ huy quân đội Thái Lan khi đến đây thắp hương cho Bác đã giơ ngón tay cái lên rồi nói: Bác Hồ là người có một không hai trên thế giới này!

Ngôi nhà nhỏ Bác từng ở tại bản Mạy không chỉ là di tích lịch sử quý giá gắn với cuộc đời cách mạng sôi động của Hồ Chí Minh mà còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -Thái. Ngay cạnh ngôi nhà nhỏ này, có Làng hữu nghị Việt -Thái và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Đường Quốc Hiệp, năm nay bốn mươi tuổi, nhân viên coi giữ giới thiệu nhà lưu niệm nói với chúng tôi: Bác Hồ là vĩ nhân của Việt Nam và thế giới nhưng rất giản dị. Dù Bác đã xa rời nơi này rất lâu nhưng người dân bản Mạy vẫn luôn luôn thấy hình bóng Người ở đây. Trong ngôi nhà nhỏ, trong hàng dừa cây khế, trong mỗi trái tim người dân bản Mạy luôn có hình ảnh Bác Hồ tỏa sáng.

Nguyễn Hữu Quý
qdnd.vn

Nơi lưu giữ những tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ

Đến nay, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam (được xây dựng trên khuôn viên của Bảo tàng Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định trước đây) đã hoàn thành giai đoạn I. Nằm giữa trung tâm Thành phố Nam Định, với diện tích rộng 1,2ha, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi tái hiện lại lịch sử ngành Dệt may cả nước nói chung và ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong hơn 1 thế kỷ qua. Ngoài việc trưng bày nhiều hiện vật, hình ảnh về lịch sử Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định từ thời Pháp thuộc như: Bức thư của những người công nhân gửi ông chủ khi bị đánh đập, chà đạp; chiếc máy dệt thời kỳ đó, tại đây, còn trưng bày những vũ khí đã được Trung đoàn tự vệ của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định dùng để chiến đấu với giặc Mỹ, bảo vệ nhà máy… Và hơn hết là những kỷ vật thiêng liêng của Bác Hồ qua những lần Bác về thăm cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định.

mot goc nhà may detMột góc Nhà truyền thống ngành Dệt may Việt Nam. Ảnh: Internet.

Tại khu vực trung tâm của Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi trưng bày các hình ảnh, kỷ vật về Bác và những tình cảm của công nhân ngành Dệt may với Bác Hồ, những di vật ghi lại lời căn dặn sâu sắc của Bác đối với tập thể cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm. Tiêu biểu là các hiện vật: Phòng nghỉ của Bác khi về thăm nhà máy năm 1957; những bức ảnh tư liệu quý về cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định vui mừng đón Bác về thăm nhà máy vào ngày 24-4-1957, Huy hiệu của Hồ Chủ tịch tặng công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định, Bác Hồ thăm phân xưởng dệt năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem các sản phẩm của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1957, Bác Hồ thăm nhà mẫu giáo dành cho con em cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem lá cờ Đảng của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm nhà máy năm 1963, Bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi anh chị em công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định ngày 28-12-1963… Bên cạnh đó, Bảo tàng còn lưu giữ nhiều hiện vật gắn liền với hình ảnh thân thương về Hồ Chủ tịch trong mỗi lần Bác về thăm tỉnh Nam Định: Đó là chiếc ghế đá nơi Bác Hồ đã ngồi nghỉ để nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định; những văn bản ghi lại lời dạy của Hồ Chủ tịch đối với Đảng bộ, nhân dân tỉnh nhà nói chung, công nhân ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Với quy mô và ý nghĩa to lớn, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam đi vào hoạt động sẽ là một công trình văn hóa lưu giữ, trưng bày các hiện vật, hình ảnh giới thiệu với các tầng lớp nhân dân, bạn bè quốc tế về lịch sử của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định nói riêng, của ngành Dệt may cả nước nói chung. Đặc biệt, những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ trong những lần về thăm Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định là những tư liệu, hiện vật quý, góp phần giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho giai cấp công nhân ngành Dệt may cả nước hôm nay và mai sau./.

Bài và ảnh: Việt Thắng
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn