Tag Archive | Tin tức

Bác Hồ với Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II

Bác Hồ phát biểu trong một cuộc họp Quốc hội - Ảnh tư liệu

Đại hội Đảng lần thứ II diễn ra từ ngày 11-19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Ngày 3/2/1930 tại Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản đã chủ trì hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, mở đầu trang sử quan trọng của cách mạng ba nước Ðông Dương. Nhưng trong điều kiện phức tạp thời đó, phải năm năm sau vào tháng 3/1935, Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ I mới được chính thức triệu tập tại một địa điểm thuộc Ma Cao (Trung Quốc) và đổi tên thành Ðảng Cộng sản Ðông Dương.

Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta đã đoàn kết, hy sinh chiến đấu với kẻ thù tàn ác đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lật đổ ách thống trị của chế độ phong kiến, song ngay lập tức lại phải đứng lên kháng chiến trường kỳ chống lại thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

Thắng lợi lớn ban đầu của kháng chiến (cuối năm 1950) giải phóng các tỉnh biên giới phía bắc, phá thế bao vây của địch, thời cơ mới đã mở ra đòi hỏi sự tăng cường lãnh đạo của Ðảng phù hợp thực tế khách quan đang đặt ra và điều kiện tiến hành Ðại hội Ðảng lần thứ II đã chín muồi.

Ðầu xuân Tân Mão (1951) Bác Hồ đã có thơ tặng đồng bào cả nước:

“Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công
Toàn dân hăng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Vào thời điểm bước ngoặt lịch sử quan trọng đó, đầu năm 1951, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, Trung ương Ðảng đã quyết định khẩn trương triệu tập Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II tại trung tâm căn cứ địa kháng chiến tại Việt Bắc.

Ðồng thời là Ðại hội Ðảng toàn quốc lần đầu được tổ chức ở trong nước với quy mô lớn chưa từng thấy trước đó. Mặc dầu khi đó chiến tranh cứu nước đang diễn ra ác liệt, thế mà có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho toàn Ðảng đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại về dự Ðại hội.

Các đại biểu đều phấn khởi được gặp các đồng chí mới, cũ từ khắp các chiến trường Ðông Dương về hội tụ để nhận nhiệm vụ trọng đại của lịch sử, của Ðảng. Nhiều đồng chí lần đầu tiên có được vinh dự dự Ðại hội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ.

Những ngày này Bác hoạt động như không biết mệt mỏi, chỉ đạo sâu sát từ việc lớn đến việc nhỏ về mọi mặt. Bác thật sự là linh hồn của Ðại hội. Ðó là nhân tố quyết định thành công rực rỡ của sự kiện chính trị trọng đại này của dân tộc.

Trước Ðại hội một tháng, Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Ðảng đã tiến hành nhiều cuộc họp quan trọng ở bản Pèo, xã Khuổi Trang, huyện Chợ Ðồn, Bắc Cạn, và tại làng Mạ, xã Kiên Quyết (nay là Kiên Ðài), huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang để chuẩn bị mọi mặt, từ văn kiện, nhân sự đến tổ chức Ðại hội.

Hai ngày trước khi khai mạc Ðại hội, Bác Hồ đã đến địa điểm họp. Người trực tiếp quan tâm kiểm tra và tổ chức xem xét bếp ăn đến nhà nghỉ của đại biểu, hội trường, đài tưởng niệm liệt sĩ. Người đã gặp riêng anh chị em phục vụ hậu cần và thăm hỏi gia đình họ.

Bộ phận này do đồng chí Lê Tất Ðắc phụ trách (sau này đồng chí là Thứ trưởng Bộ Nội vụ). Bác cũng gặp lực lượng vũ trang bảo vệ Ðại hội để căn dặn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thành công cho Ðại hội.

Tại các phiên họp Ðại hội, Bác Hồ cùng các đồng chí Thường vụ T.Ư Ðảng chủ trì trong không khí trang nghiêm, biểu thị quyết tâm cao của những người cộng sản trước vận mệnh sống còn của quốc gia, dân tộc. Bác Hồ còn tham gia dự thảo luận ở các đoàn. Ở đâu Người cũng nhấn mạnh với các đại biểu về hai nhiệm vụ quan trọng lúc này là phải quyết tâm kháng chiến thành công và Ðảng ra công khai lấy tên là Ðảng Lao động Việt Nam.

Người nhấn mạnh Ðảng đổi tên nhưng bản chất không thay đổi, phải tiếp tục phát huy truyền thống Ðảng Cộng sản trong điều kiện mới. Báo cáo Chính trị do Hồ Chủ tịch trình bày trước Ðại hội có đoạn như sau: “Chúng ta phải có một Ðảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh đến thắng lợi, Ðảng đó lấy tên Ðảng Lao động Việt Nam”.

“Mục đích trước mắt, Ðảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Ngoài giờ họp chính thức, Bác Hồ có chương trình thăm hỏi động viên từng đoàn đại biểu, đặc biệt là đoàn đại biểu Nam Bộ, Lào, Cam-pu-chia. Bác như có sức hấp dẫn kỳ diệu, người đi đến đâu là ở đó có tiếng cười rộn ràng, giữa Người và các đại biểu không có sự ngăn cách tình cảm, Bác không phân biệt tuổi tác.

Khi tạm biệt mọi người đều tỏ luyến tiếc vỗ tay không ngớt, lúc chụp ảnh ai cũng muốn ngồi gần Bác. Bác thường ưu tiên cho nữ. Ðoàn Nam Bộ có ba nghệ sĩ tháp tùng (họa sĩ Diệp Minh Châu, họa sĩ Nguyễn Minh Hiền, nhiếp ảnh kiêm quay phim Nguyễn Thế Ðoàn) được Bác đặc cách cho phép theo về cơ quan tại Khâu Lấu, Tân Trào ba tháng sau Ðại hội để sáng tác theo yêu cầu của đồng bào miền nam.

Bác Hồ rất quan tâm đến hoạt động văn nghệ phục vụ Ðại hội. Người đã nhiều lần tham gia múa tập thể “Son lá son” rất sôi nổi hào hứng cùng các đại biểu. Các nhà quay phim, nhiếp ảnh chớp thời cơ hiếm có để ghi hình các hoạt động quan trọng của Ðại hội từ khai mạc đến bế mạc, đặc biệt là các hình ảnh về Bác Hồ. Nay Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi lưu giữ nhiều nhất các tư liệu quý về Bác Hồ ở Ðại hội II.

Tôi rất xúc động khi xem lại ảnh Bác Hồ chụp chung với các đồng chí lãnh đạo Ðảng trước hội trường. Trong số đó nay duy nhất chỉ còn lại đồng chí Nguyễn Văn Trân đã 95 tuổi, sau khi nhận được ảnh này, đồng chí đã cho phóng to cỡ 70×80 cm treo trang trọng tại phòng riêng ở Hà Nội.

Là cán bộ được tháp tùng Bác Hồ tại Ðại hội, tôi xin ghi lại đôi dòng theo hồi ức để bày tỏ nhiệt liệt hoan nghênh Kỷ niệm 60 năm sự kiện lịch sử trọng đại đang diễn ra ở Tuyên Quang và nhiều nơi trong cả nước. Mong rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các bài học tại Ðại hội II sẽ được nghiên cứu nâng cao để vận dụng vào thực tiễn hiện nay mà Ðại hội Ðảng lần thứ XI là sự nối tiếp lịch sử đang hướng về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Xuân Tân Mão, 2/2011

Nhiều hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II

Tại cuộc giao ban báo chí tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giới thiệu một số hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II (11-19/2/1951).

Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang vinh dự là Thủ đô khu giải phóng, nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ đã ở và làm việc, lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công. Với vị thế là Thủ đô kháng chiến, Tuyên Quang đã được chọn là nơi tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng – sự kiện đặc biệt quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan cho biết nhân kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang- Thủ đô kháng chiến” vào ngày 18/2/2011 với sự tham dự của các nhân chứng lịch sử, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, đại biểu các cơ quan Trung ương đã ở và làm việc tại Tuyên Quang trong Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược…

Lễ mít tinh kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II sẽ được tổ chức ngày 19/2/2011 tại Quảng trường Khu Di tích Đại hội II của Đảng ở xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa.

Trong dịp này, tỉnh Tuyên Quang tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, triển lãm trong toàn tỉnh và tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa (nguồn:

Chinhphu.vn).

Theo Tạ Quang Chiến
Báo Đảng Cộng sản/Nhân Dân

dantri.com.vn

Đã hơn nửa thế kỷ có “Tết trồng cây”

– “Tết trồng cây” đầu tiên được ghi nhận vào mùa Xuân năm 1960, gắn liền với phong trào thi đua kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (khi đó còn lấy ngày 6/1). Nhưng phải nói cho đúng hơn nó được khởi xướng bằng một bài báo ngắn đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 28/11/1959 của Bác Hồ.

Tên của bài báo gồm 3 chữ được đặt trong ngoặc kép “Tết trồng cây”, đặt vấn đề bên cạnh các hình thức hoạt động đã có thường được phát động để lấy thành tích chào mừng ngày thành lập Đảng, “chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”.

Rồi tác giả bài báo phân tích một cách rạch ròi, dễ hiểu: “Miền Bắc ta có độ 14 triệu, trong số đó có 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây… Như vậy mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây…

Từ 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, vừa cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong 10 năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần cải thiện đời sống của nhân dân ta. Đó cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng, đều có thể hăng hái tham gia”.

Ảnh Bác Hồ trồng câyẢnh Bác Hồ trồng cây

Bài báo viết cực kỳ đơn giản mà đầy tính thuyết phục và cùng với thời gian, chúng ta càng thấy giá trị sâu sắc của nó khi cả nhân loại đang đứng trước những thử thách của sự suy thoái môi trường mà việc trồng cây, gây rừng vẫn luôn là một giải pháp quan trọng hàng đầu. Nhưng Bác Hồ cũng hiểu rằng một cuộc vận động quần chúng là vô cùng gian khổ trong đó vai trò tổ chức và quản lý của nhà nước và các tổ chức xã hội là vô cùng quan trọng.

Có thể nói kể từ đó, Bác không chỉ là người phát động mà còn theo sát từng bước đi, không chỉ khuyến khích cổ vũ mà còn chăm chút chỉ bảo, phê bình và tìm tòi những biện pháp để cuộc vận động không chỉ mang lại kết quả thiết thực mà còn mong muốn biến nó thành một tập quán tốt đẹp của xã hội mới.

Vào Mùa Xuân năm Kỷ Dậu, Bác Hồ viết bài báo cuối cùng cổ vũ “Tết trồng cây” năm 1969, trong đó  đưa ra nhận định rằng “Tết trồng cây đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta” và tổng kết thực tiễn cho rằng: mọi người đều nên tham gia trồng cây nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực. Bác Hồ còn nhắc đến một nhận thức mới là “Chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa” …

Đến nay, nhiều cây Bác trồng đã trở thành những di tích lịch sử lâu bền làm tấm gương cho các đời sau về mẫu mực của con người hiện đại: thân thiện và bảo vệ môi trường sinh thái.

Và Tết trồng cây tiếp tục được duy trì và được phát động mỗi một Mùa Xuân sang, như một tập quán văn minh của dân tộc ta. Hiểu theo một nghĩa nào đó thì “Tết trồng cây” đã đi trước thời đại và ngày càng phù hợp đối với mối quan tâm của thế giới hiện đại trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước

(Dân trí) – Đó là tên Hội thảo khoa học do Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng phối hợp tổ chức vào sáng nay 28/1, tại Hà Nội, với sự tham dự của nhiều nhà nghiên cứu trong nước.

Hồ Chí Minh rời đất nước từ khi 21 tuổi với khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam; thành lập Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và xây dựng được đội ngũ cán bộ nòng cốt của phong trào cách mạng Việt Nam.

Bác về Tổ quốc 28/1/1941

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam – thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Quyết định về nước và những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau ngày Người trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng là vô cùng phong phú và sinh động.

Tham luận của các nhà nghiên cứu tại Hội thảo đã tập trung làm rõ các nội dung sau: Tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với việc lựa chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng cơ quan đầu não của Trung ương Đảng – căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước; Nguyễn Ái Quốc với việc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, quyết định thay đổi đường lối chiến lược cách mạng của Đảng và thành lập Mặt trận Việt Minh; Nguyễn Ái quốc chỉ đạo công tác vận động xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng – nhân tố quan trọng góp phần giàng thắng lợi cho khởi nghĩa; Nguyễn Ái Quốc với công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, coi công tác cán bộ là gốc của mọi công việc; Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền; Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo công tác tuyên truyền; đưa chủ trương, đường lối của Đảng đến với phong trào cách mạng và Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo xây dựng và kiện toàn hệ thống cơ sở Đảng.

Hội thảo “Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước” cũng là một sự tri ân đến các liệt sĩ đã quên mình vì sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc; bày tỏ lòng tự hào và biết ơn đến công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ tiền bối của Đảng, đồng bào và đồng chí đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Hội thảo cũng góp phần đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương dạo đức Hồ Chí Minh” trong giai đoạn mới.

Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn

Vang mãi khúc khải hoàn Pác Bó

(GD&TĐ) – Cách đây đúng 70 năm, ngày 28-1-1941, Bác Hồ chính thức đặt bước chân lên cột mốc biên giới 108 (Cao Bằng) – mảnh đất địa đầu phía Đông Bắc của Tổ quốc sau 30 năm bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Cùng về nước với Bác có đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp và Thế An. 

Sáng sớm ngày 28-1-1941 (nhằm mùng 2 Tết Tân Tỵ), đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang (Quảng Tây – Trung Quốc). Đi đầu là đồng chí Phùng Chí Kiên, người rất thông thạo đường đi lối lại vùng rừng núi; nhóm đi giữa gồm có Bác, đồng chí Lê Quảng Ba và Thế An, đều là cán bộ người dân tộc Tày, thông thạo tiếng nhiều dân tộc và rất giỏi võ, kế đến là đồng chí Hoàng Văn Lộc và cuối cùng là đồng chí Đặng Văn Cáp, một thanh niên rất khỏe, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi, biết chữa bệnh bằng thuốc nam. Bác đề nghị cả nhóm hóa trang ăn mặc như đàn ông Nùng để che mắt địch, vì phong tục của họ là cứ đến Tết các chàng rể đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Bác mặc đúng kiểu đàn ông Nùng trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín râu. Hành lý mà Bác mang theo chỉ có một chiếc vali bằng mây nhỏ cũ kỹ đựng quần áo và chiếc máy đánh chữ xách tay.

Sau 8 giờ đi đường, vượt qua dãy núi Phia Sum Khảo, đoàn đặt chân đến cột mốc biên giới số 108 vào giữa trưa, khoảng 12 giờ. Đoàn cán bộ trong nước do đồng chí Hoàng Sâm dẫn đầu được cử đi đón Bác cũng đã có mặt tại cột mốc. Sau 30 năm bôn ba xứ người, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước.

Theo hồi ký của thiếu tướng Lê Quảng Ba, khi vừa đặt chân lên mảnh đất quê hương, Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, đưa mắt ngắm nhìn núi rừng trùng điệp quê hương rồi cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt Bác rưng rưng. Cả đoàn lặng đi trong niềm xúc động khi chứng kiến khoảnh khắc thiêng liêng ấy của lịch sử.

Cột mốc 108

Nơi Bác đặt chân đầu tiên khi trở về là Pác Bó, Pác Bó có nghĩa là đầu nguồn nước, nơi ấy có dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát ra từ hang núi đá lớn, Bác đặt tên là suối Lê – Nin. Hang đá Bác ở là một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi Các Mác.

Ngày đầu tiên đồng chí Lê Quảng Ba đưa ông Ké (“ông ké”- theo tiếng địa phương có nghĩa là cụ già – là cách gọi Bác Hồ một cách thân thiện của người dân Pác Bó) về nghỉ tại nhà ông Lý Quốc Súng dân tộc Nùng. Nhà có hai gian cũ và làm thêm một gian mới để đón khách, khách và chủ cùng quây quần bên mâm cơm ngày Tết của gia đình họ Lý.

Sau bữa cơm chủ nhà đã thu xếp chỗ ăn ở và làm việc cho đoàn cán bộ nhưng ông Ké bảo Lê Quảng Ba: Ta có nhiều người, ở lại nhà ông Lý làm phiền chủ nhà quá, thôi nên dứt khoát “sáu sán” thôi.

Sáng sớm hôm sau ông Lý dẫn ông Ké và mấy anh em cán bộ lên hang Pác Bó. Trước cảnh sắc một sáng xuân của Tổ quốc Bác ngâm khe khẽ bài thơ mới sáng tác:

Non xa xa nước xa xa
Nào phải thêng thang mới gọi là
Đây suối Lê – nin kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà

Trong bối cảnh cuộc sống còn gian khó, đất nước sống dưới ách áp bức của các thế lực thực dân phong kiến, nhưng ở mảnh đất Pác Bó người dân Cao Bằng đã gíac ngộ hướng về cách mạng và bảo vệ cách mạng. Tại Pác Bó Bác tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, nơi câu cá lúc nhàn rỗi, chỗ đun nước uống mà chè là lá cây ổi, kê bàn đá mộc mạc tự nhiên để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng… Từ đó ở khu Pác Bó có một ông Ké mặc bộ quần áo chàm, quần sắn cao, tay cầm gậy, dáng đi nhanh nhẹn nhưng ưng dung, thoải mái vui vẻ tiếp các cán bộ về thỉnh thị và báo cáo. Bác hoà mình vào hoàn cảnh mới hết sức tự nhiên, tâm hồn của Bác luôn ung dung lạc quan, với cuộc sống gian khó mà Bác vẫn có những vần thơ bất hủ.

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang

oBức họa tái hiện thời khắc Bác cùng các đồng chí trong đoàn về nước

Khi về Pác Bó, Bác đã mở nhiều lớp đào tạo huấn luyện cán bộ, gắn họat động cách mạng với thực tiễn tại cơ sở, tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh, các Hội cứu quốc các giới do 43 cán bộ đã được huấn luyện làm chủ chốt, mở rộng tổ chức ra các xã, châu Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình hoạt động rất có kết quả, từ kết quả này đồng chí Vũ Anh triệu tập hội nghị tổng kết thí điểm tại Coọc Mu (Hà Quảng) vào tháng 4/1941 đó là những thực tế sinh động cho nội dung Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

gfdgrNgày nay, địa danh lịch sử gắn liền sự kiện ngày Bác Hồ về nước được đông đảo đồng bào cả nước, du khách đến tham quan, ôn lại lịch sử (ảnh Internet)

Ở hang Pác Bó hơn một tháng Bác cho cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nặm (suối nước), địa điển này tiện lợi đi lại không phải lội qua suối, nếu có động dễ thoát nhanh chóng. Tại đây Bác lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản trịêu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hội nghị khai mạc sáng 10/05/1941, Hội nghị đã đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là Hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng Minh, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa.

Sau Hội nghị Bác tự tay thảo ra bức thư ”Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ dân tộc ta liên tiếp giành được thắng lợi vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

Kiên Hưng (st)
gdtd.vn

“Tìm người tài đức”

 –  Một bài báo, đúng hơn là một bản thông báo “Tìm người tài đức” ký tên “Chủ tịch Chính phủ Việt Nam-Hồ Chí Minh” đăng trên báo Cứu Quốc” ngày 20/11/1946.

Nội dung bản thông báo như sau: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ”. 

dBác Hồ năm 1946.

Cách đó hơn 1 năm, ngày 14/11/1945, báo “Cứu Quốc” đăng bài “Nhân tài và Kiến quốc” ký tên Hồ Chí Minh với lời kêu gọi: “Sau 80 năm bị bọn thực dân Pháp giày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là cao quý. Nay muốn giữ vững nền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái đó vào đường kiến quốc. Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kiến quốc có chắc thành công thì kháng chiến mới mau thắng lợi.  Kiến thiết thì phải có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều.

Chúng ta cần nhất bây giờ là: Kiến thiết ngoại giao – Kiến thiết kinh tế – Kiến thiết quân sự – Kiến thiết giáo dục. Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành”. Để tập hợp nhân tài, Bác đề nghị cử ra một Ban cố vấn cho Chủ tịch gồm 10 người trong đó có: Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, giám mục Lê Hữu Từ, Bùi Bằng Đoàn, Ngô Tử Hạ, Lê Tạ, Bùi Kỷ…

“Muốn phát động quần chúng cho tốt thì trước hết cán bộ công đoàn phải guơng mẫu, phải được phát động trước thì công nhân mới động…Phải tin vào sáng kiến và lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, nếu không thì phát mấy cũng không động”. Lời căn dặn của Bác khi đến thăm Trường Cán bộ Công đoàn ngày 20/11/1958.

X&N
bee.net.vn

“Tôi là người học trò nhỏ của Tônxtôi vĩ đại”

– Một hôm, một bạn cùng nghề đưa cho tôi một cuốn truyện nhỏ của Tônxtôi…”.

“Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường/ Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương/ Giận kẻ gian kia gây cách biệt/ Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương”.

Đó là bản dịch (của nhà thơ Nam Trân) bài thơ chữ Hán “Ngụ đinh thiết ngã chi sĩ đích” (Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta) mà Bác sáng tác trong thời gian bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa cầm giữ. Bài thơ được sáng tác vào ngày 19/11/1942 trong tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù).

“Quân đội ta là quân đội của nhân dân, cho nên nhân dân rất thương yêu quân đội…Vì đồng bào muốn cho quân đội của mình gương mẫu về mọi mặt không những chiến đấu dũng cảm mà lại có thái độ nghiêm trang…Vậy rất mong các đồng chí chiến sĩ và cán bộ ta hết sức cẩn trọng trong mọi cử chỉ, để cho thế giới đều thấy rằng “Quân đội Cụ Hồ có khác!” là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Nhân dân với Quân đội” đăng trên báo “Quân đội Nhân dân” ngày 19/11/1954.

Ngày 19/11/1955, Bác dự lễ khai giảng trường Đại học Nhân dân, lớp bồi dưỡng chính trị ở Hà NộiNgày 19/11/1955, Bác dự lễ khai giảng trường Đại học Nhân dân, lớp bồi dưỡng chính trị ở Hà Nội

Ngày 19/11/1960, báo “Văn học Xô viết” đăng bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của đại văn hào Nga L.N.Tônxtôi” trong đó tác giả “xin kể chuyện tôi trở thành người học trò của nhà văn Nga vĩ đại như thế nào?”…

“Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, tôi làm thợ sửa ảnh ở Pari. Hàng ngày tôi đến xưởng, chiều tối tham gia các buổi họp của Đảng hoặc dự mít tinh của công nhân. Cuối ngày làm việc, tôi đọc vài trang tiểu thuyết để trau dồi tiếng Pháp và giải trí một chút. Một hôm, một bạn cùng nghề đưa cho tôi một cuốn truyện nhỏ của Tônxtôi…”.

Từ đó tôi rút ra kết luận: Sự chỉ trích đạo đức phong kiến. Cách viết của Tônxtôi  rất giản dị, rõ ràng và dễ hiểu, làm tôi rất thích Tuổi trẻ bồng bột, tôi nhảy vùng dậy khỏi giường, mặc dù mùa đông rất lạnh, nhất là trong căn phòng bé nhỏ của tôi lại không có lò sưởi. Tôi nói to: “Viết một cuốn truyện ngắn chẳng có gì là khó. Mình cũng có thể viết được”…

Mỗi ngày tôi phải viết từ năm đến sáu giờ rưỡi sáng, là vì bẩy giờ tôi phải đến xưởng. Thường thường ngón tay tôi tế cóng lại. Sau một tuần vất vả tôi đã viết xong tác phẩm của mình…Các đồng chí nghĩ xem tôi vui mừng xiết bao, khi mấy ngày sau, mở xem báo buổi sáng, tôi thấy có đăng tác phẩm của tôi, tác phẩm yêu quý của tôi… các đồng chí có cho rằng tôi có quyền nói tôi là người học trò nhỏ của nhà văn vĩ đại Tônxtôi không?”.

X&N
bee.net.vn

“Nghệ thuật đánh địch của Việt Nam rất độc đáo”

–  “Đây là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa… Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêmkhiết, công bình của các giai cấp”. Phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, ngày 9/11/1946 nhân sự kiện Quốc hội thông qua Hiến Pháp đầu tiên.

“Gặp hoàn cảnh khó khăn hơn, kẻ địch mạnh hơn ta mà tổ tiên ta, với sự lãnh đạo của ông Trần Quốc Tuấn đã đánh thắng giặc Nguyên, đã để lại cho chúng ta một nước tự do, độc lập. Thì ngày nay chúng ta quyết noi theo tinh thần quật khởi ấy, quyết đánh tan giặc Pháp, quyết tranh lại thống nhất và độc lập thực sự cho Tổ quốc ta… Luyện tập thân thể cho mạnh mẽ. Nghiên cứu kỹ thuật cho thông thạo. Trau dồi tinh thần cho vững chắc. Hun đúc đạo đức của người quân nhân cách mạng cho vững vàng…”. Trích thư của Bác gửi Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn  ngày 9/11/1949 nhân khai giảng khoá học mới.

c “Gửi họ Nguyễn Sinh. Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Than ôi! Tôi xin chịu tội “bất đễ” trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”. Nội dung bức điện văn ký ngày 9/11/1950 của Bác gửi từ Chiến khu Việt Bắc gửi cho dòng họ “Nguyễn Sinh” sau khi nhận đuợc tin anh trai là ông Nguyễn Sinh Khiêm đã qua đời tại quê nhà.

“Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử; trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm ấy trước hết là các chú” và căn dặn: “Nghệ thuật đánh địch của Việt Nam rất độc đáo. Vũ khí trong tay người Việt Nam dù thô sơ cũng giành được hiệu suất cao. Phải phát huy cách đánh truyền thống của ta. Không ngại không quân địch hiện đại. Hãy bắt chước chiến sĩ đồng bào miền Nam, nắm thắt lưng địch mà đánh”. Lời dộng viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm Trung đoàn Không quân 921, Đoàn Sao Đỏ anh hùng, ngày 9/11/1964.

X&N
bee.net.vn

“Nhân dân Việt Nam rất quý trọng nhân dân Mỹ”

 – Ngày 8/11/1966, báo “Nhân Dân” đăng “Thư trả lời một công dân Mỹ”.

Trong lá thư gửi ông Gíptơcnơ, một công dân bang California đã gửi thư cho người đứng đầu nhà nước Việt Nam, Bác viết: “Tôi rất cảm động khi đọc thư ông. Đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam đã gây nên những tội ác hết sức dã man đối với nhân dân đất nước chúng tôi. Chúng đã bôi nhọ danh dự nước Mỹ và làm cho nhân dân Mỹ phải chịu nhiều tổn thất nặng nề. Tôi rất hiểu nỗi đau buồn của ông cũng như của nhân dân lương thiện Mỹ… Nhân dân Mỹ có truyền thống yêu chuộng công lý, tự do và hoà bình. Nhân dân Việt Nam rất quý trọng nhân dân Mỹ đang đấu tranh cho các quyền dân chủ và chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”.

Trước đó, trong lời “Hô hào nhân dân chống nạn đói” đăng rên báo “Cứu Quốc”ngày 8/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác viết: “Cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống ngoại xâm, ta nhất định thành công, vì đồng bào ta ai cũng sẵn lòng hăng hái. Nhưng các bạn phụ trách các địa phương phải biết cách tuyên truyền, biết cách giải thích cho ai nấy đều hiểu rõ, đều thực hành. Các bạn phải có sáng kiến để tìm ra cách làm được việc mà không mất lòng dân. Nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”.

d Một bức tranh khắc gỗ chân dung Bác thời kháng chiến chống Pháp.

“Không riêng gì ở nước ta, mà ở các nước khác cũng vậy, hình như sự không đủ ăn là số phận chung của các giáo viên. Khi nào tài chính dồi dào, Chính phủ phải nghĩ ngay đến giáo viên là những người từ tầng dưới đến tầng trên, lãnh trách nhiệm đào tạo nhân tài cho Tổ quốc. Trong lúc này, về quyền lợi, Chính phủ chưa làm thoả mãn giáo viên, nhưng về nhiệm vụ đòi anh chị em cùng sống trong một nhà, chúng ta chẳng còn lạ gì nhau, chúng ta phải chịu khổ gánh vác với nhau công việc chung”. Lời chia sẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi tiếp Liên đoàn giáo giới Việt Nam ngày 8/11/1946.

X&N
bee.net.vn

Bác với tấm Huân chương Lênin

– “Nhân ngày Quốc khánh của quý quốc, một ngày vui mừng chung của tất cả nhân dân lao động trong thế giới, tôi kính thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi lời sốt sắng chúc mừng Ngài, Chính phủ cùng nhân dân Liên Xô…”

Đây là bức điện văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Nguyên soái Xtalin ngày 6/11/1950 nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga và cũng là văn kiện đầu tiên Bác gửi tới Chính phủ Liên Xô kể từ sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới.

Tranh cổ động về Đoàn kết Việt-Xô-Trung trong kháng chiến chống Pháp.Tranh cổ động về Đoàn kết Việt-Xô-Trung trong kháng chiến chống Pháp.


“Đi nhưng phải tự nguyện, không ép buộc. Đi, nhưng phải sống như người nông thôn chứ đi theo kiểu làm khách là không được. Không để lao động quá sức, nhưng cũng nên thử để thấy người nông dân khổ như thế nào, khoẻ như thế nào”.

Đó là ý kiến của Bác tại buổi họp của Bộ Chính trị ngày 6/11/1962 bàn về việc chỉ đạo nội dung Đại hội Văn nghệ sắp tổ chức.

Nhận xét về tình hình văn nghệ, Bác nói: “…Không có cách mạng, không có kháng chiến thì không có văn nghệ như bây giờ… Hướng dẫn khen, phê bình phải cho đúng đắn, có cái phải nghiêm khắc. Khen, chê phải đúng mức. Khen nhưng khen quá lời , “suy tôn” người được khen thì chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục… Văn chương phải hùng hồn, tình cảm phải sâu sắc, lý lẽ cho đích xác…”.

Ngày 6/11/1967, Bác gửi điện cảm ơn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô nhân dịp Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô quyết định tặng Huân chương Lênin,  nhưng bày tỏ ý nguyện: “Lúc này giặc Mỹ đang đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Tổ quốc Việt Nam chúng tôi. Chúng đang giết hại một cách cực kỳ dã man hàng vạn đồng bào tôi ở miền Nam cũng như ở miền Bắc.

Toàn quân và toàn dân Việt Nam chúng tôi đang phải hy sinh xương máu để đánh Mỹ, cứu nước. Trong lúc đó riêng tôi lại được vinh dự đặc biệt to lớn là nhận Huân chương Lênin thì lòng tôi không yên chút nào.

Vì lẽ đó, tôi vô cùng cảm ơn các đồng chí, nhưng xin các đồng chí hãy tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại biểu cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại.

Kính gửi các đồng chí lời chào cộng sản”.

X&N
bee.net.vn

“Hồ Chí Minh không phải là kẻ ham quyền cố vị”

– “Hồ Chí Minh không phải là kẻ ham quyền cố vị” – Đây là phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 31/10/1946, tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I sau khi được Quốc hội  nhất trí uỷ quyền thành lập Chính phủ.

“Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội uỷ cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ ham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Ngày 31/10/1955, Bác thăm hội nghị các Đoàn uỷ Cải cách ruộng đấtNgày 31/10/1955, Bác thăm hội nghị các Đoàn uỷ Cải cách ruộng đất

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam. Tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết… phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích, trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà…”

Ngày 31/10/1949, bài báo “Rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm” của Bác đăng trên báo “Sự Thật” có nội dung:

“Sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm. Kinh nghiệm riêng của từng cán bộ địa phương. Kinh nghiệm chung của tất cả các cán bộ và các địa phương. Kinh nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công. Rồi tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm ấy cho khắp tất cả cán bộ, tất cả địa phương.

Mỗi cán bộ, mỗi địa phương sẽ học những kinh nghiệm hay; tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng những kinh nghiệm cũ vào những công việc mới. Như vậy khuyết điểm ngày càng bớt, ưu điểm ngày càng thêm, công việc sẽ rất mau tiến bộ”.

“Cách đây độ 100 năm, Các Mác đã nói: Người cộng sản hiểu biết thiên nhiên để buộc thiên nhiên phục vụ hạnh phúc loài người và hiểu biết xã hội để cải tạo xã hội cũ, xấu xa, thành một xã hội mới tốt đẹp…Lời nói ấy đã thực hiện dần dần…”.

Quan điểm của Bác thể hiện trong bài viết “Hoan hô thắng lợi vẻ vang của khoa học Liên Xô vĩ đại” đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 31/10/1959 nhân sự kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh chụp ảnh mặt trăng.

X&N
bee.net.vn

“Mình vì mọi người và mọi người vì mình”

– “Chúng ta chớ thấy thắng lợi mà kiêu căng, chủ quan khinh địch. Chúng ta phải nhớ rằng: trong cuộc trường kỳ kháng chiến thì thắng lợi này chỉ mới là một bước đầu. Chúng ta còn phải đánh và phải thắng nhiều trận gay go hơn, to tát hơn nữa mới đi đến thắng lợi hoàn toàn”.

Đó là “Lời khuyên nhủ các chiến sĩ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 30/10/1950 sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới. Về thắng lợi này, theo  tác giả phân tích “Thắng lợi thứ nhất, chúng ta đã tiêu diệt địch và giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê. Thắng lợi thứ hai là ta đã thấy rõ những ưu điểm và khuyết điểm của ta”.

Bức ảnh chụp chung của Bác Hồ, ông NikitaKruschev và ông MaoTrạch Đông ngày 30/10/1959Bức ảnh chụp chung của Bác Hồ, ông NikitaKruschev và ông MaoTrạch Đông ngày 30/10/1959

Trao đổi cùng thầy trò Trường Mỹ Nghệ Việt Nam cũng trong ngày 30/10/1958, Bác nói về tư tưởng xã hội chủ nghĩa: “Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là phải vì tất cả mọi người trong xã hội mà làm việc mà phục vụ, bởi vì xã hội đã nuôi dạy mình. Thế là mình vì mọi người, mọi người vì mình. Toàn tâm, toàn ý phục vụ chủ nghĩa xã hội. Đó là bên sáng. Bên tối là tư tưởng cá nhân chủ nghĩa với những biến chứng như quan liêu, lãng phí, tham ô… Hai bên bao giờ cũng xung đột nhau, một mất một còn. Phải trau dồi tư tưởng xã hội chủ nghĩa đến khi nào bên sáng thắng hẳn bên tối”.

Cùng ngày, Bác tham dự Hội nghị Cán bộ Văn hóa. Bài phát biểu của Bác nêu rõ: “Nói là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra …Cán bộ văn hoá nói riêng, cũng như tất cả cán bộ chúng ta nói chung phải rèn luyện tư tưởng, chính trị, ý chí phấn đấu và tinh thần trách nhiệm… Muốn thật sự gần gũi quần chúng thì phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm mới biết sinh hoạt của quần chúng như thế nào, mới biết khó khăn, mới biết ý chí của quần chúng như thế nào, mới biết nguyện vọng quần chúng như thế nào”.

X&N
bee.net.vn

“Quyết chiến đến giọt máu cuối cùng”

– “Quân Pháp nấp đuôi bọn quân đội Anh đang tàn sát đồng bào ta trong xứ. Ở Mỹ Tho, ở Tân An, ở Biên Hoà, Nha Trang, quân Pháp đã xâm phạm đến nền độc lập của chúng ta. Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hy sinh chiến đấu. Đồng bào trong Nam, trong một tháng nay, đã tỏ tinh thần vững chắc, hùng dũng, đáng làm gương cho lịch sử thế giới.

Ngày nay, trước tình trạng khó khăn, toàn thể quốc dân Việt Nam hồi hộp theo cuộc chiến đấu ở Nam Bộ. Mặc dầu quân Pháp có đủ khí giới tối tân, tôi biết chắc không bao giờ chúng cướp được nước ta đâu. Từ Nam chí Bắc đồng bào ta luôn lôn sẵn sàng. Mấy triệu người như một, quyết tâm đánh tan quân cướp nước. Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc. Nhưng thời cuộc càng khó khăn chừng nào, tôi chắc rằng tinh thần anh chị em càng cương quyết hơn chừng ấy. Trước nạn ngoại xâm, toàn thể quốc dân đã đoàn kết chặt chẽ thành một khối kiên cố, thành một lực lượng thống nhất mà không đội xâm lăng nào đánh ta được”. Trích “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 29/10/1945, hơn một tháng sau khi Nam Bộ kháng chiến.

c29/10/1966 HCM đọc diễn văn chào mừng đoàn đại biểu CP Cộng hòa Cu Ba thăm VN.

Ngày hôm sau, Bác dành một lời kêu gọi riêng cho “Thanh niên Nam Bộ: “Đã hơn một tháng nay, anh chị em đã phấn đấu cực kỳ anh dũng. Toàn thể đồng bào Việt Nam đều cảm động. Tuy máu đã đổ nhiều, nhưng tôi chắc và toàn thể đồng bào cũng chắc rằng anh chị em thanh niên Nam Bộ quyết hy sinh kháng chiến để giữ vững nền độc lập của nước nhà. Trong cuộc chống xâm lăng này, các bạn là bức Vạn Lý Trường Thành vững chắc. Các bạn phải thống nhất mặt trận thanh niên, đoàn kết, nêu cao tinh thần tin tưởng ở sức mạnh của dân tộc. Những gương hy sinh anh dũng của các bạn đã làm cho toàn thể đồng bào thêm kiên quyết. Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ! Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam… Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”.

X&N
bee.net.vn