Tag Archive | Tin tức

Lời phát biểu của Hồ Chủ tịch trong phiên họp bế mạc hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Chiều ngày 27 tháng 12 năm 1965

Các đồng chí,

Hội nghị Trung ương lần này đã kết thúc thắng lợi. Các đồng chí đã hoàn toàn nhất trí về nhận định tình hình, về phương châm, nhiệm vụ chung và phương châm, nhiệm vụ cụ thể của từng miền Nam – Bắc.

Qua những ý kiến của các đồng chí đã phát biểu ở hội nghị, thấy nổi bật lên hai điểm quan trọng:

– Ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược;

– Ta nhất định thắng.

Mỹ là một nước đế quốc lớn nhất, giàu nhất, mạnh nhất trong phe đế quốc chủ nghĩa. Nước ta chỉ có hơn 30 triệu dân, lại nghèo, nhưng chúng ta dám đánh đế quốc Mỹ và nhất định đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Đế quốc Mỹ có hải, lục, không quân nhiều, có vũ khí tốt, nhưng chúng đã bị nhân dân Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba… đánh bại, thì nhất định chúng cũng sẽ bị nhân dân ta đánh bại trong âm mưu xâm lược Việt Nam.

Tuy nhiên, đế quốc Mỹ với bản chất xâm lược, hiếu chiến và ngoan cố của một tên trùm đế quốc, nó sẽ không chịu thất bại một cách dễ dàng, cho nên chúng ta phải hết sức cảnh giác với những hành động “chó dại cắn càn” của chúng.

Đế quốc Mỹ sẽ tìm đủ mọi cách để bao vây miền Nam. Về vấn đề này, chúng ta phải tính đến những khả năng xấu nhất để có kế hoạch đối phó một cách chủ động.

Địch có thể bắn phá thành phố Hải Phòng, Hà Nội và mở rộng việc bắn phá ra nhiều nơi khác ở miền Bắc. Địch bắn phá ở đâu, chúng không nói cho ta biết trước, cho nên bất cứ ở đâu, bất kỳ lúc nào, chúng ta cũng phải tích cực chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại mọi âm mưu tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Nếu ta chuẩn bị tốt thì khi có việc xảy ra, sẽ tránh được thiệt hại, cán bộ và nhân dân không dao động, hoang mang. Việc chuẩn bị phải tích cực, nhưng phải có kế hoạch, có giải thích, đừng làm cho quần chúng hoảng hốt, lo sợ rồi đi mua sắm tích trữ vải, muối, dầu…, gây khó khăn cho nhân dân và Nhà nước.

Phải động viên, giáo dục toàn Đảng, toàn dân đoàn kết chặt chẽ. Các cấp, các ngành và các cán bộ, đảng viên ta cần phải thực hiện đúng các chính sách của Đảng và Nhà nước để đoàn kết và động viên được mọi người phấn khởi và hăng hái tham gia chống Mỹ, cứu nước.
Chúng ta phải biến nghị quyết của Trung ương thành sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân. Muốn vậy, phải làm cho mọi người tin là ta nhất định thắng, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai nhất định thua; phải làm cho mọi người phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, đem hết sức mình để làm tốt nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trước mắt, chúng ta phải chú ý làm tốt những việc sau đây:

– Phải khắc phục tư tưởng chủ quan khinh địch. Vừa qua, có nơi vì chủ quan khinh địch, và vì thiếu tinh thần trách nhiệm đầy đủ trước nhân dân, cho nên đã không tích cực giải thích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nhân dân làm tốt công tác sơ tán và phòng không nhân dân, do đó địch đã gây ra cho ta những thiệt hại mà đáng lẽ có thể tránh được, hoặc giảm bớt được. Các địa phương cần rút kinh nghiệm việc chỉ đạo công tác sơ tán và phòng không nhân dân để sang năm tới làm tốt hơn nữa công tác này. Nơi nào có khuyết điểm, cấp uỷ cần phải kiểm thảo sâu sắc và có thể tự phê bình trước nhân dân. Nhân dân nghe Đảng, làm theo sự chỉ dẫn của Đảng, cho nên – là những người thay mặt Đảng ở địa phương – các cấp uỷ đảng phải quan tâm hơn nữa đến việc bảo vệ tính mạng và tài sản cho nhân dân.

– Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sĩ, đời sống của nhân dân ở những vùng bị địch bắn phá nhiều, ở những nơi mà vụ mùa vừa qua thu hoạch kém…

Vừa qua, ở những vùng bị địch bắn phá nhiều, có nơi thiếu cả kim, chỉ khâu, dầu đốt, giấy viết… Do việc vận tải hàng hoá để cung cấp cho những nơi này có khó khăn, cho nên đồng bào ở đây phải chịu đựng những thiếu thốn; nhưng nếu các ngành và các cấp uỷ đảng quan tâm hơn nữa đến đời sống của nhân dân và cùng với nhân dân bàn cách khắc phục thì chắc chắn sẽ có cách giảm bớt được khó khăn.

Hiện nay, các trại sơ tán của các cháu, có nơi mỗi tháng, mỗi cháu phải đóng góp 15đ00, có nơi 20đ00. Những gia đình cán bộ, công nhân ít con và tiền lương tương đối khá thì còn có thể gửi con đến trại sơ tán được; nhưng những gia đình đông con, thu nhập thấp thì làm thế nào có đủ tiền gửi con vào trại sơ tán các cháu, chưa kể đến những chi tiêu tốn kém về việc đi lại thăm nom con…

Nhất định chúng ta phải tổ chức tốt việc sơ tán các cháu, bảo vệ và nuôi dưỡng tốt các cháu, vì các cháu là những vốn quý nhất của đất nước. Chúng ta phải có biện pháp chăm nom, săn sóc các cháu, giúp đỡ những gia đình thu nhập thấp và đông con. Nhà nước có thể tăng thêm quỹ phúc lợi để giải quyết vấn đề này, nhưng điều chính vẫn là phải biết dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân và biết cách tổ chức cho tốt.

– Phải động viên công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân khác tích cực tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Không những chúng ta phải có chính sách tiết kiệm tiêu dùng, mà cần phải hết sức chú trọng tiết kiệm trong việc dùng vật tư của Nhà nước, tiết kiệm sức người, sức của của nhân dân. Hiện nay việc sử dụng sức người, sức của còn lãng phí nhiều, nghe thấy rất đau xót. Làm lãng phí sức người, sức của như vậy là có tội với đồng bào. Các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trong việc sử dụng sức người, sức của của nhân dân.

Hiện nay có cán bộ, đảng viên ta vẫn còn chưa có ý thức tiết kiệm trong việc sử dụng của công, như có cán bộ cao cấp muốn “tiết kiệm” cho mình đã dùng xe ôtô của Nhà nước để chở củi cho gia đình. Đó là chủ nghĩa cá nhân, ôtô của Nhà nước là để phục vụ cho người cán bộ đi làm việc, chứ không phải để phục vụ cho công việc nội trợ của các bà, các cô là vợ con của cán bộ cao cấp!

– Phải tăng cường công tác phòng gian và giữ bí mật. Hiện nay, việc phòng gian và giữ bí mật của ta còn kém. Vì sao có trường hợp kho tàng của ta vừa chuyển đến nơi này thì máy bay địch đến bắn phá ngay nơi ấy? Rõ ràng là có gián điệp đã báo cho địch. Vì sao có những việc rất bí mật chỉ bàn trong các cấp uỷ của Đảng, nhưng lại lọt ra ngoài? Rõ ràng là ý thức giữ gìn bí mật của cán bộ, đảng viên ta còn kém… Chúng ta phải hết sức đề cao cảnh giác, phải tăng cường công tác phòng gian và giữ bí mật. Cán bộ và nhân dân ta rất tốt, cho nên ta nhất định làm được việc này. Trong kháng chiến, ta có khẩu hiệu “ba không” (không nghe, không nói, không biết), bây giờ ta cũng phải làm thế nào nêu được những khẩu hiệu thích hợp, những khẩu hiệu giản đơn để cho cán bộ và đồng bào dễ nhớ, dễ hiểu và dễ làm. (Trước hết, chúng ta phải giữ bí mật những điều đã bàn và quyết định trong Hội nghị Trung ương lần này).

– Cần phải tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc và đề cao kỷ luật của Đảng và Nhà nước. Cần giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Những ngành và những địa phương có đồng chí Uỷ viên Trung ương phụ trách cần phải gương mẫu trong việc này.

Vừa qua có hiện tượng: Thủ tướng, Phó Thủ tướng đã ra lệnh, nhưng cấp dưới không thi hành mà cũng không có kỷ luật. Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử phạt kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm. Chúng ta cần phải chú ý hơn nữa đến việc giáo dục ý thức tổ chức, kỷ luật trong Đảng và phải thực hiện đúng chính sách khen thưởng và kỷ luật của Đảng và Nhà nước.

– Vừa qua, các ngành và các địa phương đều có những đơn vị sản xuất và chiến đấu là điển hình tốt. Cần phải rút kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi những kinh nghiệm tốt của các điển hình ấy.

Ở tỉnh Quảng Bình, có đồng bào theo đạo Thiên chúa đã nói: “sống theo Đảng, chết theo Chúa”. Câu nói ấy là tổng kết một nhận thức rất đúng tâm trạng của những đồng bào theo đạo có tinh thần yêu nước, họ theo Đảng nhưng vẫn tin Chúa. Chúng ta cần phải biến câu nói ấy thành khẩu hiệu để giáo dục và động viên đồng bào có đạo hăng hái tham gia sản xuất và chiến đấu.

Nghe báo cáo của Tỉnh uỷ Quảng Bình, thấy vừa qua sở dĩ tỉnh Quảng Bình trong hoàn cảnh có khó khăn mà đã đạt được những kết quả tốt về sản xuất và chiến đấu, chủ yếu là do cấp uỷ và cán bộ, đảng viên đã biết đi sát dân, mọi việc đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, dựa vào dân và bàn bạc với dân. Các nơi khác cũng có thể làm tốt được như tỉnh Quảng Bình, nếu biết đi đúng đường lối quần chúng, biết giáo dục, động viên và tổ chức quần chúng thực hiện đúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Vừa qua, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tỉnh Quảng Bình có nhiều cố gắng và đã đạt được những thành tích tốt về sản xuất và chiến đấu; nhưng nghe nói đã có tư tưởng tự mãn, chủ quan. Làm tốt, được Đảng và Chính phủ khen, được các địa phương khác học tập kinh nghiệm thì lại càng phải cố gắng nhiều hơn, nếu tự mãn với những thành tích đạt được là đã bắt đầu xuống dốc, cho nên cần phải khắc phục tư tưởng tự mãn, chủ quan…

– Chúng ta phải chú ý phát triển Đảng và Đoàn Thanh niên Lao động. Hiện nay có nhiều người xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu và phục vụ sản xuất, chiến đấu. Chúng ta cần phải đưa những người ấy vào Đảng, vào Đoàn để tăng thêm sức chiến đấu của Đảng và của Đoàn Thanh niên Lao động. Các cấp uỷ cần phải chú trọng hơn nữa đến công tác xây dựng đảng và cần phải khắc phục tư tưởng phong kiến hẹp hòi, những nhận thức không đúng về “liên quan” trong việc phát triển Đảng và Đoàn Thanh niên Lao động. ở những nơi có nhiều đảng viên già và đảng viên lâu năm như tỉnh Nghệ An, nghe nói có những đảng viên già vì có tư tưởng bảo thủ, gia trưởng, cho nên đã cản trở bước tiến bộ của những đảng viên mới, đảng viên trẻ. Cần phải giúp đỡ những đồng chí ấy phát huy ưu điểm và sửa chữa bệnh bảo thủ, công thần.

– Về vấn đề quốc tế: Đảng ta đã và đang đem hết sức mình hoạt động cho mục đích đoàn kết quốc tế, đoàn kết Xô – Trung.

Vừa qua, do đường lối và thái độ đoàn kết, đấu tranh của Đảng ta đúng, cho nên Đảng nào cũng có cảm tình với Đảng ta, tỏ tình đoàn kết với Đảng ta và nhân dân ta. Chúng ta phải thực hiện đúng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương. Sắp tới, Bộ Chính trị sẽ bàn kỹ một số vấn đề quốc tế quan trọng, rồi báo cáo với Trung ương. Những vấn đề chưa được kết luận, chúng ta cần phải hết sức thận trọng trong mọi lời nói và việc làm, nếu không sẽ ảnh hưởng không tốt.

Quân và dân ta rất anh hùng (các đảng anh em ta và các nước cũng nhận định như thế).

Chúng ta đã giành được những thắng lợi rất to lớn. Ta càng đánh càng mạnh. Các nước anh em giúp đỡ ta. Nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ cũng đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ, quyết tâm làm đúng nghị quyết của Trung ương, không sợ gian khổ, hy sinh thì nhất định chúng ta đánh thắng được giặc Mỹ xâm lược, giải phóng được miền Nam, bảo vệ được miền Bắc, thống nhất được nước nhà.

Thay mặt Trung ương, Bác nhờ các cô, các chú chuyển lời chào thân ái của Trung ương đến các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên, nhi đồng, đến bộ đội và đồng bào các địa phương.

Cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng!

Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà!

Năm mới, chúc các đồng chí mạnh khoẻ!

Hồ Chí Minh toàn tập,
xuất bản lần thứ hai,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002, t.11, tr.571-577.

dangcongsan.vn

Phim tài liệu “Việt Nam – Hồ Chí Minh” hút khán giả

Đĩa phim tư liệu "Việt Nam-Hồ Chí Minh." (Nguồn: TT&VH)

Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long vừa ra mắt đĩa VCD/DVD bộ phim tài liệu đặc biệt “Việt Nam-Hồ Chí Minh” (thời lượng 57 phút), do Xí nghiệp phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất năm 1985.

Bộ phim do nghệ sĩ nhân dân Đào Trọng Khánh viết kịch bản và đạo diễn; quay phim Lê Mạnh Thích, Lưu Ngọc Hà, với sự đóng góp tư liệu của nhiều nhà điện ảnh, nhiếp ảnh, nhà viết sử, nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước.

Phim tài liệu “Việt Nam-Hồ Chí Minh” đã đạt giải Bông sen Vàng của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 1985.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Phó Giám đốc Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long cho biết: Đây là một bộ phim tài liệu quý giá, một thiên anh hùng ca về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Với hình ảnh, tư liệu chân thực, chắt lọc; lời bình súc tích mang dấu ấn sử thi, bộ phim tái hiện một chặng đường dài của lịch sử Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (năm 1857) cho đến khi Việt Nam kết thúc cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng nền hòa bình, độc lập dân tộc.

Giá trị của bộ phim không chỉ dừng lại ở sự tái hiện khách quan, sống động các sự kiện mà còn tìm cách lý giải nguyên nhân, đúc kết thành bài học từ truyền thống lịch sử và thực tiễn đấu tranh cách mạng.

Bộ phim cũng khơi gợi niềm tự hào dân tộc, khẳng định công lao to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, để có được một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, sánh vai với các cường quốc năm châu ngày hôm nay.

Là một công ty chuyên kinh doanh băng đĩa thị trường, nhưng với việc phát hành VCD/DVD phim tài liệu này, công ty rất tự tin bởi cách đây ba năm, họ đã ra mắt DVD “Hồ Chí Minh- Chân dung một con người” đến nay đã bán hết 2 vạn bản.

Riêng với VCD/DVD “Việt Nam-Hồ Chí Minh,” chỉ sau ba ngày phát hành (từ 16/4) công ty đã bán hết 6.000 bản.

“Vì sức đặt hàng đột biến, chúng tôi đang tiếp tục in tiếp để đưa ra thị trường,” bà Ngà chia sẻ.

Bộ phim quả thực đang là một món quà vô cùng ý nghĩa đối với đông đảo người con đất Việt, các em học sinh, du khách quốc tế… đặc biệt trong những ngày đại lễ của dân tộc sắp đến gần./.

(TT&VH/Vietnam+)

nhoNguoicha

nhoNguoicha

Đặc trưng dân chủ Hồ Chí Minh

Những ngày ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự chẻ củi, nấu ăn.

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là giá trị văn hóa chính trị quý báu của Đảng, của dân tộc ta. Học tập và làm theo phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là nội dung cơ bản trong đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý hiện nay.

Phong cách lãnh đạo là mẫu hành vi thể hiện bản sắc nhân cách người lãnh đạo trong mối quan hệ biện chứng với môi trường. Lý luận khoa học và thực tiễn đã chứng minh, trong quá trình lãnh đạo, quản lý, người lãnh đạo có thể sử dụng phối hợp, linh hoạt, sáng tạo nhiều phong cách lãnh đạo (độc đoán, dân chủ, tự do), trong đó phong cách dân chủ là phong cách có nhiều thành công nhất.

V.I Lênin đã đề xuất phong cách lãnh đạo xã hội chủ nghĩa (được gọi là phong cách Lê-nin-nít), trong đó nhấn mạnh tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, tính nguyên tắc đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng; có lý tưởng cộng sản, ý thức trách nhiệm trong nhân cách; làm việc theo quan điểm khoa học và văn hóa, đảm bảo tính chuyên nghiệp và thông thạo… Như vậy, V.I.Lênin đã nhấn mạnh tính chất cộng sản của phong cách lãnh đạo dân chủ. Phong cách Lê-nin-nít là phong cách dân chủ kiểu mới – dân chủ cộng sản – dân chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân mà nòng cốt là giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo phong cách Lê-nin-nít vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó là phong cách dân chủ Việt Nam – dân chủ Hồ Chí Minh.

Hiện nay, một số người cho rằng Hồ Chí Minh có nhiều phong cách lãnh đạo như quần chúng, dân chủ, thiết thực, giản dị, khoa học… Theo chúng tôi, Hồ Chí Minh luôn quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo phong cách dân chủ cộng sản của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, tạo nên đặc trưng, những nét độc đáo, đặc sắc trong phong cách dân chủ của Người.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ quần chúng. Quần chúng là nguồn gốc, là mục đích của phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh luôn sâu sát, quan hệ mật thiết với quần chúng, nắm bắt sâu sắc tình hình thực tế, nhất là thực tế đời sống, thực tế tâm lý, văn hóa của họ để quan tâm, chăm lo lợi ích chính đáng và thiết thực của họ. Người luôn tâm niệm: “Làm sao cho dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, “ Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì phải bỏ đi hoặc sửa lại,…”.

Bản chất dân chủ Hồ Chí Minh, trước hết là tình thương yêu bao la và niềm tin tưởng vô tận đối với quần chúng. Hồ Chí Minh đến với quần chúng một cách tự nhiên, bình dị với nụ cười hiền hậu, giọng nói ấm áp và vòng tay rộng mở thể hiện lòng nhân ái bao la, sự quan tâm, tôn trọng, đồng cảm đến mức thấu cảm – hòa đồng với họ. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Hồ Chí Minh có lòng tin vô tận đối với quần chúng, luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ mật thiết với quần chúng và coi đó là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng. Theo Người, chúng ta phải biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô kể. Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết, có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra; “ Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”(1).

Dựa vào quần chúng để lãnh đạo, quản lý, nhằm phục vụ lợi ích quần chúng là đặc trưng cơ bản, thể hiện đặc trưng bản chất của phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh. Lòng thương yêu bao la, niềm tin tưởng vô tận đối với quần chúng, lý tưởng cộng sản – tất cả vì lợi ích chính đáng và thiết thực của quần chúng ở Hồ Chí Minh đã làm cho tác phong, phương pháp Hồ Chí Minh trở thành phong cách dân chủ Hồ Chí Minh, thể hiện bản sắc nhân cách hết sức cao đẹp của Người.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ có sự lãnh đạo của Đảng. Khi đề ra đường lối, chính sách, giải quyết nhiệm vụ chính trị, theo Hồ Chí Minh, cần phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng, phải dùng kinh nghiệm dân chúng để thêm cho kinh nghiệm của mình. Người nhấn mạnh, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng. “1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. 2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(2).

Tuy nhiên, dân chủ của quần chúng nhân dân, theo Người, phải có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, thống nhất của Đảng theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Trong Di chúc để lại, Người dạy: “Đảng ta là Đảng cầm quyền… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Người lý giải: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung. Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung”(3). Tập trung trong lãnh đạo, theo Người là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương, tất cả mọi đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của tổ chức đảng; là cá nhân phụ trách (phát huy tinh thần trách nhiệm, lý tưởng cộng sản, tính quyết đoán và năng lực tư duy của người lãnh đạo). Dân chủ trong lãnh đạo phải mở rộng và thực hành dân chủ trong Đảng, làm cơ sở mở rộng, phát huy dân chủ ngoài xã hội; là tập thể lãnh đạo (phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của tập thể). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc một số mặt của một vấn đề. Vì vậy phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm, người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm. Do vậy, nếu lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo phải luôn đi đôi với cá nhân phụ trách – tập trung, bởi như Người dạy: Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi thì cần phải giao cho một người hoặc nhóm ít người phụ trách (cấp ủy, thường vụ và người đứng đầu cấp ủy cấp trên) theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy.

Dân chủ dẫn tới tập trung là đảm bảo tính kỷ luật, sự đoàn kết thống nhất trong lãnh đạo. V.I Lênin từng dạy: Phải làm cho ý chí hàng ngàn người phục tùng ý chí một người. Phát huy dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng là đặc trưng cơ bản, thể hiện nội dung phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Bằng cách phát huy dân chủ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta lãnh đạo và tổ chức thành công 12 kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, thực hiện tốt công tác đánh giá, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ, làm cho hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng được nâng cao, những người thực sự có tài, có đức luôn được trọng dụng và tôn vinh.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ có tư duy, có trí tuệ. Khi đề ra đường lối, chính sách, chỉ thị, giải quyết mọi công việc, nhiệm vụ, Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ tình hình thực tế, nhất là thực tế tâm lý của quần chúng; lắng nghe mọi ý kiến (tư duy, trí tuệ) của quần chúng; kế thừa, vận dụng tinh hoa văn hóa nhân loại như nho học, phật giáo, lão giáo, chủ nghĩa tam dân (Trung Quốc), thuyết bất bạo động của Găng-đi (Ấn Độ), chủ nghĩa nhân văn Pháp, đặc biệt là học thuyết Mác-Lênin để tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người căn dặn: “Gặp mỗi vấn đề, ta phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này ? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao ? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”(4). Dân chủ có tư duy, trí tuệ là nét đặc sắc, độc đáo của phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh.

Bằng cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phát huy dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta sáng tạo ra nhiều phương pháp và nghệ thuật quân sự chưa hề có trong từ điển cũng như lịch sử quân sự thế giới để đánh bại kẻ thù xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, thống nhất nước nhà. Cũng chính bằng cách lãnh đạo này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đã sáng tạo ra con đường phát triển đất nước: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước kinh tế kém phát triển, không kinh qua chủ nghĩa tư bản, bằng cách dựa vào sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, kinh nghiệm và trí tuệ quần chúng, thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, tăng cường an ninh-quốc phòng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, phong cách lãnh đạo dân chủ Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, luôn định hướng, dẫn đường cho việc tìm tòi, sáng tạo các giải pháp lãnh đạo, quản lý có hiệu quả, bền vững trên mọi lĩnh vực. Học tập và làm theo phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là nội dung cơ bản trong đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý hiện nay. Quán triệt và vận dụng sáng tạo phong cách dân chủ Hồ Chí Minh, đã được thể hiện trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng. Đó là dựa vào nhân dân để phát huy quyền làm chủ, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trên cơ sở tri thức khoa học công nghệ hiện đại, lý tưởng cộng sản, tinh thần trách nhiệm, tính quyết đoán của người lãnh đạo, của cấp ủy và thường vụ các cấp, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

————————–

(1), (2), (3), (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H. 2002, Tập 5, tr 293; 297 – 298; 505; 239.
TS. Nguyễn Liên Châu. Số nhà 15, ngõ 24, đường Xuân Diệu, TP. Hà Tĩnh

xaydungdang.org.vn

Nhận thức mới về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH không phải là một mô hình đã hoàn chỉnh, một công thức bất biến, nên xây dựng CNXH phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc…

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là một trong những bài học kinh nghiệm lớn xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Chỉ có CNXH mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc”.

Tuy nhiên, quan điểm “bất biến” đó cũng như kho tàng lý luận về CNXH luôn luôn được Đảng ta không ngừng suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để bổ sung, vận dụng kể cả trong lý luận và thực tiễn sao cho ngày một sâu sắc hơn, đúng bản chất hơn.

Tại Hội nghị Trung ương 9, khóa VI (tháng 8-1990), Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nói: “Lúc này, chúng ta chưa có đủ cơ sở để vẽ ra toàn bộ bức tranh của xã hội tương lai một cách hoàn chỉnh. Nhưng chúng ta có thể vạch ra những nguyên tắc, phương pháp lớn cho thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta… Sau này khi thực tiễn bộc lộ những vấn đề mới, qua tổng kết, Cương lĩnh sẽ không ngừng được bổ sung và hoàn chỉnh từng bước”.

Với quan điểm đó, một trong những bài học kinh nghiệm rút ra sau hơn 60 năm cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh năm 1991 viết: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng CNXH, bảo vệ Tổ quốc vẫn là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ với nhau. Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tổng kết bài học của hơn 80 năm cách mạng Việt Nam, tiếp tục khẳng định bài học: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH – ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”.

Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã khẳng định, làm rõ bài học kinh nghiệm “nắm vững độc lập dân tộc và CNXH” được xây dựng trên nền móng của Tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ sống còn giữa “độc lập dân tộc” và “chủ nghĩa xã hội”; đáng chú ý là bỏ hai từ “vẫn là” và trong phần mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh đã bổ sung thêm nội dung “bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình” để khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát quan điểm, mối quan hệ của hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiểu sâu sắc, quán triệt cho rõ Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và CNXH có ý nghĩa rất quan trọng để đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng vào cuộc sống, nhất là phân tích nội hàm “mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc” sẽ càng thấy rõ quan điểm của Đảng ta về “hòa hiếu””, về “môi trường hòa bình; đối tác, đối tượng…”. Đây là cơ sở, là nền móng để Đảng ta hoạch định đường lối lãnh đạo trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH, được thể hiện trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng như Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 và Báo cáo chính trị khóa X trình bày tại Đại hội XI.

Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH không phải là một mô hình đã hoàn chỉnh, một công thức bất biến, nên xây dựng CNXH phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo, tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc… mà cơ sở để hướng tới, xem xét, đánh giá chính là những điều kiện về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, CNXH trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc”. Và để xây dựng được CNXH thì phải có độc lập dân tộc, chỉ có độc lập dân tộc mới có cơ sở để thực hiện những mục tiêu tốt đẹp “vì con người” vì “tiến bộ xã hội” của CNXH.

Thấm nhuần Tư tưởng của Người, trên cơ sở Cương lĩnh 1991, Đảng ta tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và từng bước hoàn chỉnh thêm nhận thức về con đường đi lên CNXH.

Để thực hiện được mục tiêu đó (đồng nghĩa với thực hiện Tư tưởng của Người) – như Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo ra sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nước ta đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại công cuộc xây dựng đất nước ta, cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”.

Phân tích sâu sắc những điểm mới của Đảng trong bài học “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH” sẽ giúp mỗi cán bộ, đảng viên nhìn lại chính mình, khắc phục những tư tưởng chủ quan, nóng vội, coi “con đường đi lên CNXH rải đầy hoa hồng” mà một thời chính chúng ta đã từng nhầm tưởng; đồng thời trang bị kiến thức, hiểu biết, củng cố trận địa tư tưởng để vững bước đi lên trên con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chọn – xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

PGS.TS Nguyễn Viết Thông
Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương

xaydungdang.org.vn

Đạo đức là cái gốc của người Cách mạng

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thấy nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, không những là “bệnh quan liêu hách dịch, vênh váo lên mặt quan cách mệnh”, “đè đầu cưỡi cổ dân” mà cả nhiều thói xấu khác, rất dễ nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ địa phương, bè phái; cái thói chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp…, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công v.v…

Rõ ràng khi cách mạng đã giành được chính quyền và khi từ chiến tranh chuyển sang hòa bình xây dựng, những yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên càng đòi hỏi phải tăng cường rèn luyện và tu dưỡng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Trước lúc đi xa, Người viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Lời căn dặn cuối cùng của Người đã nói vắn tắt cái điều cốt tử nhất trong xây dựng Đảng cầm quyền, nó quyết định vận mệnh của Đảng, của Nhà nước, vận mệnh của cả chế độ – đó là đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng. Người nói thật dễ hiểu, nhưng là cả một chân lý tuyệt đối: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì đạo đức cách mạng nói tóm tắt là:

– Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt.

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

– Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.

– Nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Phải đoàn kết nhất trí, chống bè phái, cục bộ.

– Luôn hòa mình với quần chúng, tin tưởng quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng; tổ chức quần chúng thành một khối đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng; tuyên truyền, huy động quần chúng hăng hái thực hiện tốt các chính sách và Nghị quyết của Đảng. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt lời nói đi đôi với việc làm; phải có ý thức tổ chức, kỷ luật v.v…

Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu tấm gương chói lọi của đạo đức cách mạng cho tất cả chúng ta học tập, noi theo.

Bác nói: Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó là biểu hiện của đạo đức cách mạng. Người còn nói: Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bĩ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn rèn luyện mình để trở thành người có đạo đức cách mạng. Theo đó, Người đã làm giàu truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bằng sự kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức nhân loại; tấm gương đạo đức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nêu cho Người một mẫu mực về sự giản dị và sự khiêm tốn cao độ, Người đã học tập và hành động bởi các tấm gương ấy, với nếp sống giản dị, coi khinh sự xa hoa, yêu lao động, đồng cảm sâu sắc với người cùng khổ, hướng cuộc đấu tranh của mình vào công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Song, ngày nay một bộ phận không nhỏ trong cán bộ, đảng viên đã trượt ngã vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức cách mạng, không thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành những phần tử quan liêu, xa dân, ức hiếp quần chúng, tham nhũng, hối lộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Cần luôn luôn ghi nhớ lời nhắc nhở cực kỳ sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng ta vừa là đạo đức vừa là văn minh”, là người khởi xướng và lãnh đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Muốn tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến đến đích cuối cùng, trước hết Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn là khẳng định sự vận động nội tại của Đảng cầm quyền trong quá trình lãnh đạo cách mạng, là sự nhận diện đúng quy luật vận động, phát triển của Đảng. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng đồng nghĩa với việc làm những phẩm chất chung, cơ bản nhất của đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là phẩm chất thường trực trong cuộc sống hằng ngày, phải trở thành giá trị bất biến trong mọi môi trường, mọi hoàn cảnh, mọi cơ chế kinh tế của người cán bộ, đảng viên. Điều đó cũng lý giải vì sao sự suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có nguyên nhân chủ yếu từ sự suy thoái ở phẩm chất này. Do vậy, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải không ngừng tu dưỡng đạo đức suốt đời; phải nêu gương về đạo đức, trở thành tấm gương sáng để quần chúng noi theo, để quần chúng tin yêu, mến phục.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi sáng trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

quangbinh.gov.vn

Vấn đề chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc nhìn triết học

Nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh ta thấy rất rõ quan điểm của Người về ba giai đoạn trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam: giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, chế độ dân chủ nhân dân là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ cũ – chế độ thực dân, phong kiến, đồng thời đó cũng là bước khẳng định – xác lập những cơ sở, nền tảng cho chế độ xã hội mới ở trình độ phát triển cao hơn là chủ nghĩa xã hội. Chế độ dân chủ nhân dân là một giai đoạn tất yếu trên con đường phát triển của xã hội Việt Nam.

134.jpgChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ảnh: Tuấn Anh

I. Chế độ dân chủ nhân dân là sự phủ định triệt để chế độ thực dân, phong kiến

Trong bài nói tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới (ngày 03-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách cần phải tiến hành: Thứ nhất, dưới chế độ thực dân, để phục vụ mục đích chính trị và quân sự, thực dân, đế quốc Pháp – Nhật đã “gây nạn đói” cho nhân dân ta nhằm làm cho dân ta chết, còn dưới chế độ mới, chúng ta “phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất,, và mở “cuộc lạc quyên” để “làm thế nào cho họ sống”; thứ hai, dưới chế độ thực dân, nạn dốt là “một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta”, nhằm làm cho dân tộc ta yếu, còn dưới chế độ mới, chúng ta “mở một chiến dịch chống nạn mù chữ” vì chúng ta muốn dân tộc ta mạnh; thứ ba, dưới chế độ thực dân và chế độ quân chủ phong kiến, “nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ”, còn dưới chế độ mới, nhân dân ta được hưởng mọi quyền tự do dân chủ, trước hết là tham gia cuộc “TÔNG TUYÊN CỬ” với chế độ phổ thông đầu phiếu và thông qua Quốc hội được lập nên bằng tổng tuyển cử mà xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ; thứ tư, chế độ thực dân “dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác”, còn chế độ mới “phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”, vì vậy, chúng ta “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CÂN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”; thứ năm, chế độ thực dân thực hiện “một lối bóc lột vô nhân đạo” bằng thuế thân, thuế chợ, thuế đò, còn chế độ ta “bỏ ngay ba thứ thuế ấy” vì chế độ ta là chế độ nhân đạo; thứ sáu, chế độ thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, còn chế độ ta thì thực hiện “tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.

Trong bài nói quan trọng trên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến sự đối lập giữa cái mới và cái cũ. Đó là sự đối lập giữa “sống” và “chết”, giữa “phát triển” và “phản phát triển”, giữa “quyền” và “vô quyền”, giữa “lành mạnh” và “hủ hóa”, giữa “nhân đạo” và “vô nhân đạo”, giữa “đoàn kết” và “chia rẽ”. Có thể nói, đó là những sự đối lập triệt để và toàn diện. Trong nhiều bài nói, bài viết khác sau đó, khi đề cập đến những đặc điểm của chế độ xã hội mới, Hồ Chí Minh cũng sử dụng phương pháp đối lập như trên. Chẳng hạn, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (tháng l0-1945), Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Ở đây, đặc điểm “công bộc của dân” của chế độ dân chủ nhân dân là sự đối lập với bản chất “đè đầu dân” của chế độ xã hội cũ.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ dân chủ nhân dân được tuyên bố ra đời, trở thành một tồn tại hiện thực. Song, đó chưa phải là nột hiện thực hoàn toàn, đầy đủ. Đầu năm 1946, Hồ Chí Minh nói: “Bộ máy thống trị cũ đã hủy bỏ, nhưng nền nếp dân chủ mới chưa hoàn toàn”. Sự tồn tại của chế độ xã hội mới là một quá trình. Đó là một quá trình mà trong đó một số phương diện của chế độ xã hội cũ vẫn còn tồn tại (chẳng hạn như ban đầu là sự tồn tại của giai cấp địa chủ và quan hệ địa chủ – nông dân) và vì thế cuộc đấu tranh giữa cái mới đang hình thành với cái cũ vẫn còn tồn tại diễn ra quyết liệt. Chính trong cuộc đấu tranh ấy, cái mới nếu có đủ sức mạnh sẽ chiến thắng cái cũ và vì thế tự khẳng định mình thực sự là cái mới. Chiến thắng của những nội dung mới làm cho sự tồn tại của chế độ xã hội mới trở thành tồn tại hoàn toàn, đầy đủ. Ba giai đoạn trong quá trình hình thành và phát triển của sự vật mới như trên đã được nhà biện chứng lỗi lạc của nhân loại là G.V.F. Hê-ghen khái quát bằng bộ ba khái niệm: thực tại, tồn tại – cho – cái khác và tồn tại – cho – bản thân. V.I. Lê-nin đặc biệt đánh giá cao bộ ba khái niệm nói trên, coi đó là sự thể hiện biện chứng của tư tưởng phản ánh được biện chứng khách quan của hiện thực. Và rõ ràng, Hồ Chí Minh đã tư duy về chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam theo phương pháp tư duy biện chứng như thế cho dù Người không sử dụng các khái niệm của Hê-ghen.

Có thể thấy, với Hồ Chí Minh, những đặc điểm của chế độ xã hội mới được xác lập trong tư tưởng trước hết thông qua phương pháp tư duy chuyển hóa những đặc điểm của chế độ xã hội cũ thành mặt đối lập của nó. Đây chính là phương pháp tư duy biện chứng. Lê-nin đã đánh giá rất cao tư duy biện chứng của Xpi-nô-da khi ông này nêu lên mệnh đề: “Omnis determinatio est negatio” (mọi sự quy định là sự phủ định). Với phương pháp tư duy như thế, quá trình xây dựng (quy định) chế độ dân chủ nhân dân trong hiện thực được tư duy trước hết là quá trình vượt bỏ (phủ định) một cách triệt để và toàn diện những đặc trưng bản chất của chế độ thực dân, phong kiến.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ 1 dân chủ nhân dân trước hết là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ cũ – bước phủ định đã được khởi đầu và hoàn thành một phần trong Cách mạng Tháng Tám.

II – Chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời từ trong chế độ dân chủ nhân dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan hệ giữa chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa thể hiện trên hai phương diện.

Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh: chế độ dân chủ nhân dân chưa phải là chế độ xã hội chủ nghĩa. Điểm khác căn bản chính là ở vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất. Trong chế độ dân chủ nhân dân, chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của thiểu số ngùơi bị phủ định để xác lập chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của đa số người. Quan điểm trên của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ, chẳng hạn trong luận điểm về so sánh chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong chế độ dân chủ nhân dân với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong chê độ xã hội chủ nghĩa: CANH GIẢ HỮU KỲ ĐIỀN” nghĩa là dân cày có ruộng. “Phải chăng đó là một chủ nghĩa cộng sản, hoặc chủ nghĩa xã hội? Không phải. Chủ nghĩa xã hội hoặc cộng sản là không có chế độ tư hữu. Trái lại “canh giả hữu kỳ điền” là làm cho hàng chục triệu dân cày thành tư hộ đều có ruộng, đều có quyền sở hữu ruộng đất… Dân cày có ruộng chỉ là một chính sách dân chủ”.

Tất nhiên, còn có những sự khác biệt khác nữa, những đâu là sự khác biệt về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và đi liền với nó là các loại hình kinh tế là sự khác biệt chủ yếu. Trong tác phẩm Thường thức chính trị (năm 1953), khi đề cập tới đặc điểm kinh tế trong các “đặc điểm của dân chủ mới”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra “năm loại kinh tế,,: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Năm loại kinh tế này dựa trên nhiều loại hình sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau, và vì thế nó vẫn khác với kinh tế xã hội chủ nghĩa, dù rằng những mầm mống xã hội chủ nghĩa về kinh tế đã xuất hiện. Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói như vậy bởi chính Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát trên theo hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải theo hướng chủ nghĩa tư bản”.

Quan điểm về sự khác biệt giữa chế độ dân chủ nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa cũng được Đảng ta khẳng định. Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội II (năm 1951) nói rõ: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “không phải là cách mạng dân chủ tư sản lối cũ cũng không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa mà là một thứ cách mạng dân chủ tư sản lối mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, không phải trải qua một cuộc nội chiến cách mạng”. Sự khác biệt giữa chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng như quá trình tiến triển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa còn được luận chứng rõ hơn trong Luận cương cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trình bày tại Đại hội II của Đảng.

Thứ hai, chế độ dân chủ nhân dân không phải là chế độ xã hội chủ nghĩa, nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam lại ra đời từ trong chế độ dân chủ nhân dân. Đây là quan điểm rất cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng ta đều biết rõ, quan điểm chính thức của Đảng ta là từ năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh cũng nhất trí với quan điểm như vậy. Bước vào thời kỳ quá độ, tức là bắt tay “xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ trong chế độ dân chủ nhân dân. Từ năm 1945 cho đến lúc Hồ Chí Minh qua đời, Người luôn khẳng định chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân, đặc biệt là về phương diện chính trị. Trong những năm 1954 – 1955, Hồ Chí Minh nhiều lần nói rõ: “chế độ ta là chế độ dân chủ”, hay “nước ta là nước dân chủ”. Đến những năm 1964 – 1965, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khẳng định “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Rõ ràng là, chế độ xã hội chủ nghĩa là giai đoạn phát triển cao hơn chỉ có thể ra đời từ cái khác nó – từ chế độ dân chủ nhân dân. Hay nói cách khác, chế độ dân chủ nhân dân là giai đoạn phát triển thấp hơn nhất định sẽ chuyển hóa thành cái khác nó – chế độ xã hội chủ nghĩa trong quá trình vận động khách quan của mình. Đây là một quan hệ biện chứng và quan hệ này thể hiện “lôgic đặc thù” trong sự vận động, phát triển của xã hội Việt Nam. Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cái khác của nó chính là một bước chuyển về chất trong quá trình vận động và phát triển của xã hội Việt Nam. Chúng ta thấy rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã phản ánh xã hội Việt Nam hiện đại trong trạng thái vận động qua hai bước chuyển. Bước chuyên thứ nhất gắn liền với sự thành công của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của chế độ dân chủ nhân dân. Bước chuyển thứ hai chính là sự chuyển hóa từ chế độ dân chủ nhân dân sang chế độ xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ quá trình vận động của xã hội trải qua những bước chuyển về chất như thế nhằm hướng tới một trình độ phát triển cao hơn – chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Đi sâu hơn nữa vào tư tưởng Hồ Chí Minh về quá trình chuyển hóa từ chế độ dân chủ nhân dân sang chế độ xã hội chủ nghĩa, ta thấy nổi lên mấy quan điểm sau:

Một là, Việt Nam tiến dần lên chủ nghĩa xã hội từ trong chế độ dân chủ nhân dân – chế độ dân chủ nhân dân ở trình độ phát triển cao. Trình độ phát triển cao của chế độ dân chủ nhân dân thể hiện trước hết ở sự tiến bộ trong năng lực làm chủ của người dân, ở việc hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật với tư cách là

những công cụ quyền lực của nhân dân và cùng với những bước phát triển về phương diện chính trị, sự phát triển của chế độ dân chủ nhân dân còn thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… Và đặc biệt là sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế.

Hai là, bước chuyển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa là bước chuyển về chất, vì thế không thể làm mau, không thể một sớm một chiều, mà là cả một quá trình với nhiều bước đi. Quá trình đó dài hay ngắn, điều đó tùy thuộc vào sự nỗ lực của toàn thể nhân dân. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định quan điểm này, chẳng hạn: “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dân dần”; “Nói tóm lại, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều”…

Ba là, tiến lên chủ nghĩa xã hội từ chế độ dân chủ nhân dân là một công trình cải tạo và xây dựng khổng lồ, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, các quan hệ của đời sống xã hội. Khi nhấn mạnh một đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa là “mọi tư liệu sản xuất là của chung”, thì sự cải tạo đầu tiên chính là nhằm vào quan hệ sản xuất. Việc Hồ Chí Minh đặt vấn đề cải tạo quan hệ sản xuất theo hướng xóa bỏ các hình thức tư hữu, làm cho hình thức công hữu chiếm địa vị độc tôn trong quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất khi bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự thật. Tuy nhiên, cần lưu ý là, đồng thời với quan điểm trên, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, thậm chí nhấn mạnh nhiều hơn, đến một vấn đề kinh tế có liên quan, đó là vấn đề mục đích của cải tạo quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất vấn đề tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, hay nói cách khác là vấn đề phát triển sản xuất.

Cải tạo quan hệ sản xuất không phải là mục tiêu, mà chỉ là phương thức để phát triển sản xuất, qua đó thực hiện mục tiêu “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần” cho nhân dân. Thực vậy, trong toàn bộ quá trình tư duy về chế độ dân chủ nhân dân, Hồ Chí Minh đã luôn coi phát triển sản xuất là động lực trong phát triển xã

hội. Hồ Chí Minh viết: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, để cải thiện dần đời sống của nhân dân, để củng cố miền Bắc, tranh thủ miền Nam, để tăng cường lực lượng đấu tranh thống nhất nước nhà. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”. Lôgic của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở đây rất rõ ràng. Mục tiêu là cái quyết định, còn phương thức là cái bị quyết định. Phương thức nào phù hợp, giúp đạt được mục tiêu thì lựa chọn, còn phương thức nào không phù hợp, cản trở quá trình đến mục tiêu thì ta không lựa chọn hoặc từ bỏ. Chính quan điểm về mối quan hệ giữa đặc trưng mục tiêu và đặc trưng phương thức của Hồ Chí Minh đã cung cấp cơ sở phương pháp luận quan trọng để Đảng ta có những điều chỉnh kịp thời về phương thức thực hiện mục tiêu, mở ra thời kỳ đổi mới.

Bốn là, để bảo đảm cho sản xuất phát triển và quá trình chuyển biến từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa được diễn ra ổn định, vấn đề củng cố chính quyền là rất quan trọng. Hồ Chí Minh viết: “nhiệm vụ chúng ta phải ra sức củng cố chính quyền nhân dân và củng cố những tổ chức của nhân dân ở các địa phương. Bởi vì nếu chính quyền nhân dân và tổ chức nhân dân ở các địa phương lỏng lẻo thì những chính sách của Đảng và của Chính phủ đưa ra thi hành không đến nơi đến chốn. Cho nên phải củng cố chính quyền nhân dân, củng cố các tổ chức của nhân dân, trong đó phải đặc biệt chú ý tổ chức công an và dân quân du kích, vì công an, dân quân du kích có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh ở địa phương. Có giữ gìn trật tự trị an, nhân dân mới an cư lạc nghiệp, tăng gia sản 1 xuất”.

Củng cố chính quyền nhân dân trước hết là củng cố và tăng cường địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản – “đội tiên phong của nhân dân lao động”. Củng cố chính quyền nhân dân, sử dụng chính quyền nhân dân như là công cụ quyền lực của nhân dân để bảo đảm sự ổn định cho phát triển kinh tế, xã hội là quan điểm thể hiện tính biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế.

Năm là, quá trình chuyển biến từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, những biến chuyển của các lĩnh vực khác đều phải xoay quanh kinh tế mà cụ thể là phải góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Về văn hóa, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Văn hóa phải phục vụ sản xuất tiết kiệm, phục vụ nhân dân, phục vụ đoàn kết, phục vụ Tổ quốc. Cần xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục . . . Thuần phong mỹ tục là đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau sản xuất, tiết kiệm, vì vậy nên cần phát triển thuần phong mỹ tục”. Về giáo dục: “Thanh toán nạn mù chữ là bước đầu nâng cao trình độ văn hóa. Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Trong giáo dục, cần đặc biệt chú ý đến giáo dục thế hệ trẻ. Giáo dục thế hệ trẻ chính là một phương thức xây dựng xã hội tương lai ngay từ hiện tại. Đây là quan điểm thường trực trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tất cả đều do và vì phát triển sản xuất. Quan điểm coi sản xuất là nền tảng, là động lực cho sự vận động và phát triển của xã hội của Hồ Chí Minh chính là quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bản thân Hồ Chí Minh cũng ý thức rất rõ về điều này. Người thấy rõ sự gặp gỡ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin với quan điểm đề cao lao động trong truyền thống Việt Nam: Bác chỉ nói một điểm rất đơn giản “có thực mới vực được đạo” đó là duy vật, đó là gốc của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Muốn ăn là phải sản xuất… Đảng ta không phải là đảng làm quan mà Đảng phải lo đời sống cho nhân dân, trước mắt là sản xuất. Rõ ràng là trong hiện thực, sản xuất là nền tảng của đời sống xã hội, và khi hiện thực ấy được khái quát thành lý luận, thì nó trở thành quan điểm “gốc” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không xuất phát từ quan điểm “gốc” này để nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì rất dễ chệch hướng.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ dân chủ nhân dân không chỉ là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, mà còn là môi trường, điều kiện để chủ nghĩa xã hội có thể ra đời từ đó, trong đó.

Theo Tạp chí Cộng sản

hochiminhhoc.com

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ đầu của giải phóng dân tộc. Người đã dẫn dắt triệu triệu người Việt Nam cùng hàng ngàn triệu người nô lệ hơn 100 nước trên thế giới vùng lên giành độc lập tự do, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã làm nên cuộc đảo lộn thế giới chưa từng có từ sau khi chủ nghĩa tư bản lật đổ đế chế La Mã cổ xưa. Người đã vẽ lại bản đồ thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là Danh nhân văn hóa thế kỷ 20.

Tại Pa-ri (Pháp), trong kỳ họp lần thứ 24 từ ngày 20-10 đến ngày 20-11-1987, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết 24C/18.65 công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam, đồng thời quyết định kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người.

Trong Từ điển “Danh nhân văn hóa thế giới” xuất bản tại Anh và Mỹ, lời nói đầu có nêu: “Thế kỷ 20 có nhiều đảo lộn lớn trong lịch sử nhân loại. Ai làm đảo lộn người đó xứng đáng làm Danh nhân văn hóa”. Trong lĩnh vực Chính trị-xã hội, Từ điển đã dành hai trang 332-333 ghi rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ đầu của giải phóng dân tộc. Người đã dẫn dắt triệu triệu người Việt Nam cùng hàng ngàn triệu người nô lệ hơn 100 nước trên thế giới vùng lên giành độc lập tự do, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã làm nên cuộc đảo lộn thế giới chưa từng có từ sau khi chủ nghĩa tư bản lật đổ đế chế La Mã cổ xưa. Người đã vẽ lại bản đồ thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là Danh nhân văn hóa thế kỷ 20”.

Cống hiến vĩ đại của Người là tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Người xác định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(1). Đó là sự gắn liền chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế chân chính; kết hợp chặt chẽ cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại. Đây là sự phá vỡ bế tắc về đường lối cứu nước trong một thời gian khá dài trong lịch sử nước ta. Tuy nhiên, đó mới chỉ là phương hướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cụ thể hóa đường lối cứu nước ấy. Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi, một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa. Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc, phải đồng thời cắt bỏ cả hai cái vòi của nó đi. Tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Người cũng nhấn mạnh các nước thuộc địa cần tăng cường đoàn kết và ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chung; đồng thời phải dựa vào sức mình là chính để đấu tranh tự giải phóng mình. Đó là một luận điểm có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn rất quan trọng. Cách mạng nước ta từ những năm 20 của thế kỷ trước đã phát triển dưới ánh sáng của tư tưởng ấy. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thực tế sinh động chứng minh sự đúng đắn của tư tưởng đó.

Tìm được đường lối cách mạng đúng đắn, Người đã trực tiếp lãnh đạo tuyên truyền, tổ chức, đào tạo và rèn luyện cán bộ. Người viết: “Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”(2). Từ năm 1921, bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Người đã viết nhiều bài đăng trên một số tờ báo của nước Pháp để tố cáo tội ác của thực dân và thức tỉnh nhân dân các nước thuộc địa. Người rất quan tâm đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, vì “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(3). Ngay từ lớp cán bộ đầu tiên, Người đã chú ý bồi dưỡng “Tư cách người cách mệnh” và tri thức người cách mệnh, tức là chăm lo cả hai mặt: phẩm chất và năng lực. Về tổ chức, Người xác định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh”(4). Tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội là hạt mầm cho sự ra đời Đảng mang bản chất giai cấp công nhân. Người dày công tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng các tổ chức quần chúng. Đó là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc.

Bác Hồ đòi hỏi lãnh đạo cách mạng là phải nắm được thời cơ. Người ví: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”(5). Từ năm 1940, nhất là vào tháng 10-1944, trong thư gửi đồng bào toàn quốc, Người dự báo: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh!”(6). Tháng Tám 1945, khi thời cơ đến, Bác đã cùng với Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa và đã giành được thắng lợi nhanh chóng. Sau Cách mạng tháng Tám, Người lại cùng toàn Đảng, toàn dân đưa hai cuộc kháng chiến anh dũng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đi đến thắng lợi hoàn toàn…

Đồng thời với việc công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người anh hùng giải phóng dân tộc”, UNESCO còn công nhận Người là nhà văn hóa kiệt xuất. Sở dĩ như vậy là bởi Người có hiểu biết rất sâu rộng. Người đã nghiên cứu, học tập, đọc rất nhiều tác phẩm Đông-Tây, kim-cổ; tiếp thu những tinh hoa của văn minh nhân loại. Người tinh thông lịch sử dân tộc, am hiểu sâu sắc văn hoá dân tộc. Người viết văn, viết báo, làm thơ bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài. Bác đã có nhiều sáng tác thuộc nhiều lĩnh vực: văn, thơ, kịch, họa… Ở Bác, nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà báo, nhà chính trị, người chiến sĩ… kết hợp bền chặt trong nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Có ý kiến cho rằng: “Sáng tạo văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh có mặt ở nhiều thể loại… Và ở lĩnh vực nào sự sáng tạo đó cũng đạt tới trình độ bậc thầy với tầm nhìn thời đại, vì thế luôn mang tính thời sự và giá trị thực tiễn sâu sắc. Sáng tạo văn hoá của Người thực chất là sự sáng tạo vì cuộc đời và con người, vì hạnh phúc của nhân dân; là làm sao cho mỗi người biết hướng thiện và hoàn lương; biết kết đoàn, chung lưng đẩy lùi cái xấu xa, tàn bạo, phi nhân tính, để cùng nhau xây dựng một đất nước giàu mạnh, một xã hội công bằng, văn minh – một xã hội mà trong đó: “Mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người” và “sống để cho nhau”. Sáng tạo văn hoá của Hồ Chí Minh luôn có mặt chủ thể con người với khát vọng tự do, công lý, hoà bình, ấm no, hạnh phúc… điều đó đã làm nên giá trị nhân văn của một nhân cách lớn”(7). Vâng, Người đã từng cho rằng, văn hóa là mục đích cuộc sống, giúp con người tồn tại và phát triển: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng chúng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(8).

Đi vào từng lĩnh vực cụ thể, ta thấy Người rất quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Bác hết lòng chăm lo phát triển ngành giáo dục, chăm lo sự nghiệp mở mang dân trí, xây dựng “Đời sống mới” hình thành trong nhân dân những phong tục, tập quán mới, những sinh hoạt văn hóa mới. Chính Bác là tấm gương sáng về mối quan hệ mới, tốt đẹp giữa người với người. Ở điểm này, chúng ta nhớ đến lời của nhà thơ Osip Mandelstam viết từ năm 1923, đầu thế kỷ trước: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”(9). Đó là đức hi sinh cao cả, là nghị lực cách mạng phi thường; là tính sáng suốt, nhạy cảm đặc biệt về chính trị, là tình yêu thương sâu sắc con người; là quan hệ bình đẳng, dân chủ, là đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là lối sống vì mọi người, là tác phong giản dị, khiêm tốn, là con người vĩ đại mà sống gần gũi với mọi người, sống trong sáng trọn vẹn suốt cuộc đời…

Chính vì lẽ đó mà Người đã để lại không chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà còn cho nhân loại một di sản tư tưởng văn hoá vô giá, có giá trị bền vững, như Nghị quyết khoá họp lần thứ 24 của tổ chức UNESCO đã viết “… Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…”. Với tinh thần đó Hồ Chí Minh không chỉ thuộc về dân tộc Việt Nam, mà còn là của nhân loại…

——————-

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2000, tập 9, tr 314.
(2) Sđd, tập 1, tr 289
(3) Sđd, tập 5, tr 269
(4) Sđd, tập 2, tr 267
(5), (6), (8) Sđd, tập 3 tr 287, 506, 431
(7) Nguyễn Thuý Đức, Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá lớn, 2-2010, baotanghochiminh.vn.
(9) Osip Mandenstam, báo Ngọn lửa nhỏ, 1923.

Nguyễn Viết Chính

xaydungdang.org.vn

Bản lĩnh văn hoá Hồ Chí Minh với đội ngũ cán bộ lãnh đạo – quản lý hiện nay

1. Nhận ra chính mình là khó nhất

Phải có bản lĩnh mới nhận ra chính mình, đúng mình. Điều này tưởng dễ nhưng thể hiện nó trong cuộc sống hằng ngày thì rất khó. Mà nếu không nhận ra chính mình thì cũng không thể hiểu đúng người khác. Không nhận ra mình, không làm cho người khác hiểu mình, và không hiểu được người khác là lãnh đao-quản lý không có văn hóa. Đó là một cách tiếp cận văn hóa thông minh và khoa học.

Là lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc, đứng ở đỉnh cao quyền lực 24 năm liên tục, nhưng Hồ Chí Minh luôn nhận ra chính mình, coi mình là người của nhân dân. Người thường nói với các đồng sự “không có nhân dân thì không có Bác”. Người tự nhận mình là công bộc của dân và thực tế cả cuộc đời Người chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi Người phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, đều vì mục đích đó. Người xác định chức vụ Chủ tịch nước mà Người đảm trách là do nhân dân ủy thác và vì vậy Người phải gắng sức làm như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận. Dám công khai chức vụ của mình là do dân ủy thác là bản lĩnh. Nhưng bản lĩnh hơn là vui lòng rời khỏi chức vụ đó khi nhân dân không tín nhiệm nữa để về với cuộc sống điền viên, dân giã, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi. Chúng ta hiện nay có được cán bộ nào như thế?

Người tự coi mình là một trong những đồng chí già, và có những việc không làm được, rất cần những cán bộ trẻ để làm. Đã già thì theo quy luật, rồi chết. Hoặc là khi tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? “Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm… chớ không phải như ngày xưa: “sống lâu lên lão làng”Khi viết thư gửi các đồng chí tỉnh nhà sau ngày nước nhà độc lập, Hồ Chí Minh nói rõ “không dùng danh nghĩa Chủ tịch của Chính phủ, chỉ lấy danh nghĩa của một đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí”. Trong Thư gửi các phụ lão, Người viết “đây tôi lấy danh nghĩa là một người già mà nói chuyện với các cụ”. Gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người mở đầu “đây là Hồ Chí Minh nói chuyện với các em”. Người xưng hô cháu với cụ Phụng Lục, một phụ lão cứu quốc ở huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Trao đổi với phóng viên báo Granma (Cuba) Người nói: “Ở miền Nam, tôi không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Bác Hồ”. Nói chuyện với cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ An, Hồ Chí Minh trao đổi một cách thẳng thắn: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau. Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ, kể cả ở Liên Xô, Trung Quốc, thì chúng mình dốt lắm. Tôi cũng dốt lắm”[1]. [2].

BacHo.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ. Ảnh: Tuấn Anh

Một nét nổi bật trong bản lĩnh văn hóa Hồ Chí Minh là tự phê bình. Chỉ mấy tháng sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bài Tự phê bình, Hồ Chí Minh viết một cách rất thật lòng. Người xác định phận sự của Người như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ hạnh phúc của nhân dân. Người đánh giá rất cao cố gắng của đồng bào, trước hoàn cảnh khó khăn đó, người giúp sức, kẻ giúp tiền. “Còn tôi thì lo lắng đêm ngày để làm tròn nhiệm vụ của mình, sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào”[3]. Thật ra lúc đó, Chính phủ do Người đứng đầu đã làm được rất nhiều việc. Đó là xây dựng nền độc lập của nước nhà; lãnh đạo cuộc kháng chiến miền Nam; ra sức kêu gọi tăng gia sản xuất và tìm mọi cách cứu nạn đói ở miền Bắc; tổ chức cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên ở nước ta, chuẩn bị thành lập Quốc hội. Nhân dân biết và ghi nhận những điều đó nhưng quan trọng hơn là nhân dân thấy rõ sự chân thành của người đứng đầu Chính phủ thật sự muốn đáp ứng khát vọng của lòng dân, vì hạnh phúc của dân. Người đứng đầu Chính phủ dám nhận mình là “tài hèn đức mọn” trong khi đã làm được bao nhiêu điều thể hiện tài cao đức rộng thì đúng là một thái độ “vô tiền khoáng hậu”. Người thẳng thắn chỉ ra “cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch; nhiều nơi chính trị vẫn chưa vào lề lối”. Chỉ ra ưu, khuyết điểm, Người kết luận: “Tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đống bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”.

Những trình bày trên không chỉ là thái độ khiêm nhường, một trong những nét nổi bật của phong cách ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh mà điều đó thể hiện bản lĩnh văn hóa, phẩm chất văn hóa theo tinh thần văn hóa Lão Tử: Thánh nhân cao hơn thiên hạ vì biết đứng sau thiên hạ.

Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta không thấy một cán bộ lãnh đạo-quản lý nào nhận ra được chính mình theo thái độ, tấm gương Hồ Chí Minh. Chúng ta đang thiếu phẩm chất và bản lĩnh văn hóa Hồ Chí Minh. Không ít cán bộ lãnh đạo-quản lý đang tự huyễn hoặc mình khi có một một chút quyền lực. Họ tưởng rằng cứ ngồi ở ghế lãnh đạo-quản lý thì đương nhiên có lòng cao thượng, có văn hóa. Họ quên mất lời dạy của Bác, rằng “ai giữ được đạo đức thì người đó có lòng cao thượng”. Trớ trêu hơn là không ít người có quyền nhưng đó là chức vụ qua mưu mẹo, thủ đoạn, bằng công nghệ nịnh hót, mua chức, chạy quyền chứ không phải do cán bộ công chức, nhân dân tín nhiệm, không phải do thật sự có đức có tài. Nhưng khi có chức vụ rồi thì lại “lên mặt làm quan cách mạng” như Bác đã chỉ ra. Họ không nhận ra được hay cố tình không nhận ra điểm xuất phát “thường thường bậc trung” của mình, và đi lên từ đâu. Rõ ràng đó là những người tài hèn đức mọn. Nghịch lý đời thường là những kẻ dốt nát lại hay cao ngạo, thích lộng ngôn, lộng hành và say mê quyền lực, những người tài giỏi lại rất khiêm nhường, không thích dùng quyền lực.

Nhiều cán bộ khi có chút chức quyền thì hay thao thao bất tuyệt, nói “hết giờ này qua giờ khác, nhưng điều nhân dân, cán bộ nhân viên cần lại không nói đến”. Đáng phê phán hơn là cách nói vô thưởng vô phạt đang rất phổ biến hiện nay. Những cụm từ như “về cơ bản”, “nhìn chung là”, “một bộ phận không nhỏ”, “chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng một số cán bộ chưa thật sự quán triệt”; v.v.. Rõ ràng là chẳng có một chút thẳng thắn, thật sự, thật thà nào trong các cụm từ nói trên. Trong trường hợp người lãnh đạo nhắc tới khuyết điểm của đơn vị thì bộc lộ kiểu tư duy trong cụm từ “chúng ta” không có mặt người đứng đầu.

Bác Hồ đã dạy “Đảng ta là một Đảng chân chính, cách mạng, là đạo đức, là văn minh”. Ngoài vấn đề bản chất của Đảng phải thể hiện điều đó thì mỗi cán bộ, đảng viên phải thể hiện sự văn minh của mình. Văn minh của người cán bộ lãnh đạo-quản lý hoàn toàn xa lạ với cách ứng xử không bao giờ dám nhận khuyết điểm một cách thật lòng về mình; hoặc nhận khuyết điểm một cách chung chung theo kiểu “những khuyết điểm đó lãnh đạo chúng tôi xin nhận trách nhiệm”; “lãnh đạo chúng tôi đã kiểm điểm nghiêm khắc và xin rút kinh nghiệm”…. Cách ứng xử đó là một trò đùa xem khinh dư luận, xem khinh quần chúng, xem thường cán bộ nhân viên cấp dưới. Tại sao trong nhiều trường hợp như nhận thành tích của đơn vị, nhận các hình thức khen thưởng, “cái tôi” lớn thế nhưng khi nói tới khuyết điểm, sai lầm thì lại chẳng thấy “cái tôi” đâu? Tại sao cán bộ lãnh đạo-quản lý hôm nay không soi vào tấm gương Hồ Chí Minh để thấy rằng Người không nhận phần thưởng cao quý do Đảng, Nhà nước trao tặng vì Người cho rằng thành tích là do nhân dân làm nên, còn Người tự cho mình chưa xứng đáng nhận các phần thường cao quý đó, bởi nhiệm vụ nhân dân giao cho chưa hoàn thành. Khi qua đời, trên ngực Người không có một tấm huân chương nào. Mỗi khi nhận phần thưởng cao quý, chúng ta có cầm thấy xấu hổ với Bác Hồ?

Trong khi đánh giá thành tích của đơn vị cũng vậy, chúng ta đang xa rời cách ứng xử của Bác Hồ. Với Hồ Chí Minh, bao giờ Người cũng nhấn mạnh có được thành tích là nhờ đồng bào cố gắng, tức là nhờ sự đóng góp sức người, sức của, trí tuệ của nhân dân, của cán bộ công chức. Còn chúng ta hiện nay thường có cách nói về những kết quả đã đạt được là nhờ sự lãnh đạo của cấp ủy, sự cố gắng nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm của các đồng lãnh đạo, nguyên lãnh đạo. Tuy nhiên, cả về mặt lý luận và thực tiễn, thì như Bác Hồ đã chỉ ra “không có Đảng và Chính phủ thì nhân không ai dẫn đường; không có nhân dân thì Đảng và Chính phủ không đủ lực lượng”. Nhưng khi nói Người thường chỉ nhấn mạnh vế sau. Theo tinh thần Hồ Chí Minh thì chất lượng khoa học của tư duy này là ở chỗ phải xác định: Vì ai mà làm? Phụ trách trước ai?. Trong một nước thì Chính phủ và Đảng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước dân. Trong một đơn vị thì cán bộ lãnh đạo-quản lý vì cán bộ nhân viên mà làm và chịu trách nhiệm trước cán bộ công chức.

Chỉ thấy lãnh đạo-quản lý mà không thấy dân; chỉ thấy ưu điểm mà không thấy khuyết điểm, yếu kém; chỉ thích chức này, quyền nọ mà không chịu rèn đức luyện tài; chỉ thích lên mà không thích xuống; thiếu và xa rời tư duy về dân, về cán bộ công chức; không đi đúng đường lối quần chúng theo cách ứng xử của Hồ Chí Minh để chạy theo tư duy quyền lực là một sai lầm lớn, nhất định thất bại. Bài học vô giá mà Bác Hồ dạy chúng ta là gì? Đó là “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[4]. Bác nói về Đảng cũng là nói về Chính phủ, về mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo-quản lý. Điều này rất khó, nhưng khó dễ là tại mình. Chúng ta nói học và làm theo tư tưởng, tấm gương Hồ Chí Minh thì không thể lãng tránh. Vì lãng tránh là thất bại.

2. “Phò chính, trừ tà”, đấu tranh chống tiêu cực, bảo vệ nhân tố tích cực

Bản “lĩnh phò chính trừ tà” gắn chặt với bản lĩnh nhận ra chính mình. Chỉ có nhận ra chính mình thì mới có thể phò được chính, trừ được tà, mới dám có tư duy khoa học và cách mạng trong xây và chống. Bởi vì, nếu mình không cần kiệm liêm chính mà bảo người khác làm thì vô lý. Tất nhiên như trên đã nói, hiện nay có tình trạng mình không chính mà vẫn dạy người khác chính, mình không liêm vẫn bảo người khác liêm theo tinh thần “tôi yêu cầu và mong rằng các đồng chí (trừ tôi ra) sẽ thực hiện tốt cần kiệm liêm chính theo tấm gương Hồ Chí Minh”. Đó là một trong những vấn nạn cần phải được loại bỏ ra khỏi đội ngũ cán bộ-lãnh đạo quản lý của chúng ta ngày hôm nay.

Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về “phò chính trừ tà”. Phải là người thật sự có trí tuệ, bản lĩnh và luôn nhận thức đúng mình trên cái nền, cái gốc vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân thì mới dám “phò chính trừ tà”. Có những vấn đề lớn nhiều người đã biết ở những mức độ khác nhau, bài viết này không có ý định đi sâu, nhưng cũng xin được điểm qua mấy nét nổi bật. Đó là bản lĩnh ra đi một mình, vượt đại dương để tìm đường cứu nước cứu dân. Kiên quyết chống thực dân phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh lại không choáng ngợp trước văn minh phương Tây. Ngược lại, Người muốn khám phá, tìm hiểu và khai thác các giá trị của các nền văn minh đó để về giải phóng đồng bào. Nếu nói rằng Hồ Chí Minh có bản lĩnh sử dụng chủ nghĩa tư bản để chống chủ nghĩa thực dân- một kiểu trá hình của chủ nghĩa tư bản- trên đất nước mình thì cũng đúng. Nhưng thật sự khoa học thì lúc đó Hồ Chí Minh đã có nhãn quan sáng suốt, sự nhạy cảm chính trị tuyệt vời khi coi Tự do- Bình đẳng-Bác ái là giá trị chung của nhân loại. và Người muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau các khái niệm đó, xem các nước tư bản làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào tôi. Một người kiên quyết chống thực dân phương Tây xâm lược lại chủ động tìm đến văn hóa phương Tây, hiện thân cho nền văn hóa đó, là một hiện tượng kỳ lạ không chỉ về bản lĩnh văn hóa mà cả bản lĩnh chính trị. Ở Hồ Chí Minh, bản lĩnh cách mạng và bản lĩnh văn hóa hòa quyện vào nhau.

Hồ Chí Minh là con người đề cao tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong mọi ứng xử văn hóa ngoại giao, Người luôn luôn lấy lợi ích dân tộc làm trọng. Đứng trước muôn vàn đối thủ, Hồ Chí Minh đều thể hiện bản lĩnh của nhà chính trị- văn hóa-ngoại giao lịch lãm và tự chủ, bình tĩnh và đĩnh đạc, chủ động và tỉnh táo để vượt qua mọi cạm bẫy, đẩy lùi mọi đòn tiến công hiểm độc và mọi thủ đoạn xảo trá của đối phương. Trong các mối quan hệ song phương, đa phương với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là các nước lớn, Người ứng xử theo phong cách Hồ Chí Minh “có lý có tình, hài hòa nhuần nhị”, không làm mất lòng bè bạn và vẫn nhận được sự ủng hộ to lớn của các nước trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược. Người là sứ giả và hiện thân cho nền văn hóa hòa bình.

Trước nay, khi bàn tới xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thường chỉ nói tới đức tài một cách chung chung. Hồng chuyên là cần nhưng không thể thiếu phong cách lãnh đạo, bản lĩnh chính trị-văn hóa, nhất là khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu. Hiện nay, hằng ngày chúng ta đang phải đối mặt với nhiều cái giả, cái ác, cái xấu, cái sai, cái cũ kỹ, lạc hậu, tiêu cực biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh đó cũng xuất hiện những điển hình tiên tiến, nhân tố tích cực, nhiều tiếng nói thẳng thắn, chân thành chống lại sức ỳ, bảo thủ, loại này thường không giữ chức vụ lãnh đạo-quản lý. Noi theo tấm gương Hồ Chí Minh, công cuộc đổi mới đang rất cần những cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo- quản lý, dám đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, bảo vệ những nhân tố tích cực.

Vì quá say sưa với chức vụ, trong hệ thống quyền lực của chúng ta hầu như đang thiếu vắng những con người có bản lĩnh “phò chính trừ tà” như Hồ Chí Minh. Có chăng thì đó lại là “nhân dân”- những người không có chức quyền lãnh đạo-quản lý. Đáng lên án hơn, không ít cán bộ lãnh đạo-quản lý lại cổ súy, định hướng cho tư tưởng “dĩ hòa vi quý” theo tinh thần “giữ đoàn kết nội bộ”. Nhiều cán bộ lãnh đạo-quản lý xếp những cán bộ hay tìm tòi, phát hiện cái mới, phê phán (chứ chưa nói gì tới đấu tranh) tiêu cực, tư duy bảo thủ, trì trệ vào hàng những người khó hợp tác, không ủng hộ (nặng hơn là chống) lãnh đạo, gây mất đoàn kết (?!). Nếu Hồ Chí Minh dám tự phê bình, động viên và thực hành “phò chính trừ tà” là một hiện tượng hiếm thấy, kỳ lạ thì cũng thật kỳ lạ là trong bối cảnh hiện nay, nhiều cán bộ lãnh đạo-quản lý không có khí khái, không dám chống tiêu cực, không dám bảo vệ những nhân tố tích cực, a dua với với cái giả, cái xấu, cái sai, theo kiểu “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, “theo gió bẻ buồm”. Người ta đang có cách ứng xử khá phổ biến, thiếu văn hóa theo kiểu “ngậm miệng giữ ghế’ tức là ngậm miệng ăn tiền. Người thì hành xử theo tư duy “ăn cây nào rào cây đấy”, kẻ thì nhân danh tổ chức, tập thể để lộng hành, đạt được mục đích cá nhân. Đây đó trong họp hành có những diễn văn, bài phát biểu, nếu suy ngẫm có trách nhiệm thì đó là tư duy cũ kỹ, lạc hậu trước đổi mới. Vẫn theo xu hướng bệnh thành tích, tụng ca nhau, kể lể những việc đã làm được. Có những đơn vị có những hoạt động “yếu kém bền vững” nhưng vẫn được coi là thành tích vì ổn định. Vì thích “ổn định trì trệ”, cán bộ lãnh đạo-quản lý không thích nói tới khuyết điểm, không thích bàn và thực hành dân chủ, không thích nghe những tiếng nói “trái chiều”, không thích có những ý kiến mới mang tính đột phá về tư duy. Cán bộ lãnh đạo-quản lý ở Việt Nam còn quá xa lạ với hai từ “trách nhiệm” và tệ quan liêu, trong lúc đó chính Hồ Chí Minh đã chỉ ra quan liêu đẻ ra tham ô, lãng phí, và muốn trừ sạch tham ô, lãng phí thì trước hết phải tẩy sạch bệnh quan liêu. Người ta ngại đụng chạm, thích “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”, “một sự nhịn chín điều lãnh”. Người ta cần lá phiếu (để cuối cùng là lợi ích) hơn là sự phát triển của đơn vị. Vì vậy, không ít những biểu hiện vuốt ve loại cán bộ vừa vừa, hạng ở giữa- mà theo Hồ Chí Minh thì loại cán bộ này bao giờ cũng nhiều hơn hết- mà không chú ý những nhân tố tích cực, những tiếng nói tâm huyết vì sự phát triển. Đây là loại cán bộ say sưa với chữ “nhẫn” theo kiểu nhẫn nhục chờ thời, vụ lợi, chứ không phải là “kiên trì và nhẫn nại”. Người ta sẵn sàng hy sinh tất cả để đổi lấy chút lợi ích vật chất tầm thường. Đó là loại cán bộ lãnh đạo-quản lý thiếu văn hóa, dưới văn hóa. Bản lĩnh Hồ Chí Minh là trọng dụng người hiền tài, muốn nghe nhiều loại ý kiến khác nhau, tạo bầu không khí dân chủ trong sinh hoạt. Cán bộ lãnh đạo hiện nay thì hầu như thích kẻ khéo ninh hót mình, ghét người chính trực, ghen ghét, đố kỵ, dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình (Bác Hồ gọi là “đạo vị”).

Công cuộc đổi mới của đất nước đang đi vào chiều sâu. Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững, mọi vấn đề đang phát triển theo quy luật. Sau giải phóng miền Nam đến trước đổi mới, sự tồn tại của đất nước cơ bản là do sự áp đặt quyền lực, duy ý chí. Trong bối cảnh lúc đó, nhiều nhận thức ấu trĩ, nhiều sự bằng lòng, thỏa mãn ngây thơ vẫn còn có đất tồn tại. Sau 25 đổi mới, theo xu thế phát triển của thời đại, cuộc sống đang vận động theo quy luật, không có đất cho những kiểu tư duy cũ kỹ, lạc hậu. Những cán bộ lãnh đạo-quản lý thiếu bản lĩnh văn hóa vẫn có thể còn tồn tại một thời gian nữa, nhưng đó chính là nỗi đau cho dân tộc. Bởi vì, mỗi ngày còn tồn tại những loại cán bộ đó là tạo thêm một cản lực, làm chậm con đường phát triển của đất nước. Tất nhiên theo quy luật, họ sẽ phải rời khỏi vị trí. Dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng, sự thắng lợi của công cuộc đổi mới không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh loại bỏ tư duy cũ kỹ, lạc hậu, kém bản lĩnh trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo-quản lý./.


PGS.TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1996, t.10, tr.465.
[2] Hồ Chí Minh, Sdd, t.10, tr.469.
[3] Hồ Chí Minh, Sdd, t.4, tr.165.
[4] Hồ Chí Minh, Sdd, t.5, tr.261.

hochiminhhoc.com

Đồng chí Hồ Chí Minh

Có những cuộc gặp đã ghi lại trong ký ức suốt một đời người những dấu ấn không gì sánh nổi. Đó là cuộc gặp gỡ của chúng tôi với đồng chí Hồ Chí Minh.

PhimKMen-02LL.jpgHồ Chí Minh  với  Rôman Cácmen ở  chiến khu Việt  Bắc

Chúng tôi đi men theo một con đường mòn hẹp, men theo một vực thẳm, bên dưới có tiếng thác lũ vang lên. Rồi chúng tôi đi sâu vào trong một rừng tre, rừng cọ và chuối dại… bỗng nhiên chúng tôi nhìn thấy một cái lều tre. Trên bậc thềm, một người trong bộ quần áo nông dân tiến về phía chúng tôi.

Nếu như mấy ngày trước đó chúng tôi gặp vị Chủ tịch trên đường đi, trên cánh đồng, hẳn chúng tôi nghĩ đó là một người nông dân bình thường. Chúng tôi chỉ được làm quen với khuôn mặt gầy gò, chòm râu bạc và nụ cười đôn hậu thân quen của Người qua các bức ảnh chân dung.

– Chào các đồng chí! Các đồng chí có khỏe không? – Người hồ hởi đưa cả hai tay ra đón và mời chúng tôi vào mái lều tre của mình.

Và chúng tôi ngồi xuống bên chiếc bàn ghép bằng các ván gỗ, phe phẩy chiếc quạt làm bằng lá cọ, ngay từ những lời đầu tiên của buổi nói chuyện đã xua tan cảm giác căng thẳng và hồi hộp mà khi tới đây chúng tôi nghĩ sẽ là một cuộc gặp mặt quan trọng với một chiến sĩ cách mạng huyền thoại của Đông Dương – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ở đây, trong thung lũng Chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã trải qua tám năm của cuộc chiến tranh khốc liệt, trong những cuộc hành quân, trong những ngày làm việc căng thẳng. Nhưng không một khó khăn gian khổ nào, không một hiểm nguy, thiếu thốn nào có thể làm nản lòng một con người nguyện cống hiến cả cuộc đời cho cuộc đấu tranh vì tự do, hạnh phúc cho nhân dân mình. Vào năm thứ tám của cuộc kháng chiến, Người đã 64 tuổi, nhưng trước mắt chúng tôi là một con người vẫn tràn đầy sinh lực. Trên gương mặt gầy gò, sạm nắng và vầng trán thanh cao chưa hề có những nếp nhăn. Người luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt rạng ngời, tinh anh. Đôi lúc, trên đôi mắt hiền hậu đó thoáng một nét ưu tư. Đó là khi Người nhắc đến những nỗi thống khổ , về những hy sinh, mất mát của nhân dân và về sự tàn bạo của kẻ thù. Suốt cuộc đời mình Hồ Chí Minh luôn có một ước ao cháy bỏng là Việt Nam sẽ giành được tự do và độc lập trong cuộc kháng chiến chống thực dân. Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho mục tiêu của cuộc đấu tranh này.

THƯ CỦA GIENEVIEVA GALLARD

Mái nhà tre của Hồ Chí Minh trông không khác gì hàng ngàn ngôi nhà của những người nông dân Việt Nam. Có khác chăng chỉ là trong ngôi nhà đó – ngôi nhà mà lúc tới thăm được gọi là “Phủ Chủ tịch” – có hai tầng. Tầng dưới bậc thềm là phòng làm việc, tầng phía trên là phòng nghỉ. Trên bàn làm việc có một chồng báo mới, chiếc máy chữ nhỏ xách tay Người thường dùng để viết báo, tài liệu, những lời kêu gọi nhân dân và quân đội, rất nhiều sách… Trên tầng hai trải một chiếc chiếu, có một số vật dụng đơn sơ và một chiếc vali mây đã cũ. Trong góc phòng có con mèo vàng cuộn tròn với ba con mèo con. Bao bọc xung quanh khu nhà tre của Chủ tịch là những khóm tre, cây cọ, một không gian thanh bình với những tiếng chim hót và tiếng suối chảy róc rách.

Chúng tôi không thể tả xiết sự ngạc nhiên của mình khi nhìn thấy ngôi nhà lá đơn sơ và cuộc sống bình dị của Người.

– Tôi đã quen sống như thế này rồi – Người nói, – Các đồng chí thấy đấy, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể lên đường ngay được. Những năm tháng đấu tranh cách mạng và hoạt động bí mật đã tập cho tôi thói quen như thế. Nhanh nhẹn hệt như một du kích. Chỉ 5 phút đã chuẩn bị xong và có thể hành quân ngay được.

Người ân cần hỏi han về chặng đường chúng tôi đã đi qua:

– Chúng tôi đã rất quan tâm – Người nói – đến chuyến bay đặc biệt để nhanh chóng đưa các đồng chí đến Việt Nam. Nếu không các đồng chí đã phải trải qua một chặng đường dài – qua Thượng Hải, Quảng Châu. Các đồng chí ở lại Bắc Kinh có lâu không? Đây chắc không phải lần đầu tiên các đồng chí đến Bắc Kinh? Các đồng chí đã ở đó nhiều năm dưới thời Tưởng Giới Thạch. Các đồng chí có nhận thấy những thay đổi đang diễn ra không? Chắc các đồng chí đã nhìn thấy một Trung Quốc mới.

Tôi đã kể cho Người nghe về những ấn tượng của mình.

– Các đồng chí có quen được với khí hậu ở đây không? Ở đây rất nóng nực.

– Chúng tôi đã quen rồi, thưa đồng chí Hồ Chí Minh! – Giênia Mukhina nói và phe phẩy chiếc quạt lá cọ, lau những giọt mồ hôi trên trán và đang lăn dài xuống cổ áo.

Câu chuyện chuyển sang những vấn đề liên quan đến công việc.

– Theo tôi chúng ta nên lập kế hoạch quay phim, ghi hình – Hồ Chí Minh nói – Việc này có một đồng chí từ Trung ương sẽ giúp các đồng chí. Các đồng chí chưa gặp đồng chí Trường Chinh phải không? Nhất thiết là phải gặp và nói chuyện với đồng chí ấy. Hãy làm quen cả với một số người làm công tác văn hóa, nghệ thuật của chúng tôi. Rất tiếc là các nhà văn của chúng tôi viết còn ít. Chúng tôi đã được đọc những mẩu chuyện của Bôrit Pôlêvôi viết về những con người bình dị. Không hiểu sao các nhà văn của chúng tôi chưa bắt tay vào đề tài này. Thực tế chúng tôi có rất nhiều anh hùng là những chiến sĩ nông dân thầm lặng, chỉ cần chỉ ra tầm vóc của họ mà thôi. Tất nhiên đó sẽ là việc của các đồng chí trong quá trình làm phim. Nhân thể tôi muốn mời các đồng chí gặp gỡ những chiến sĩ anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ mà chúng tôi sẽ trao phần thưởng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể cho chúng tôi về chiến dịch vừa kết thúc ở Điện Biên Phủ – đó là một chiến dịch lịch sử mà Quân đội và nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn. Đã bắt được 17 ngàn binh sĩ và sĩ quan quân đội Pháp làm tù binh. “Đội quân viễn chinh Pháp đã bị tiêu diệt” – Báo chí Pháp thời gian này đã viết như vậy.

Hồ Chí Minh cho chúng tôi xem bức thư của nữ y tá Gienevieva Gallard – là người phụ nữ duy nhất có mặt tại căn cứ địa Điện Biên Phủ và bị bắt làm tù binh. Trong thư cô đã xin Chủ tịch thả cô khỏi trại giam. Cô ta hứa nếu Chính phủ Cộng hòa khoan dung thì hãy thả cô ấy – người phụ nữ duy nhất – cô ấy sẽ hiến dâng toàn bộ sức lực của mình cho cuộc đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam.

– Tôi đã viết cho cô ấy – Hồ Chí Minh nói với nụ cười đôn hậu – rằng thư của cô ta đã đến muộn hơn 2 ngày khi tôi đã ký quyết định trả tự do cho cô ta. Hội Phụ nữ Việt Nam đã đưa ra đề nghị này. Các bạn thấy đấy! Chúng tôi giữ cô ấy trong tù làm gì? Một người phụ nữ yếu đuối, ở trong tù chắc sẽ rất nặng nề. Người ta đã thả cô ấy cách đây không lâu.
Người cho chúng tôi xem tờ báo mới của Pháp – cuộc phỏng vấn đầu tiên của cô ta ở Hà Nội. Cô ấy đã kể rất chân thực về thái độ nhân đạo của Quân đội nhân dân Việt Nam với các tù binh Pháp, về sự quan tâm của các chiến sĩ, sĩ quan và bác sĩ của chúng tôi với các binh sĩ và sĩ quan Pháp bị thương. Ở Pháp cô ấy được nhân dân vinh danh là Anh hùng dân tộc và được ghi vào bảng vàng danh dự. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng cô ấy trở thành một chiến sĩ tích cực đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam. Cô ấy đã tận mắt chứng kiến những nỗi kinh hoàng và tàn khốc của cuộc chiến tranh thực dân.

CHÚNG TA KHÔNG ĐƠN ĐỘC

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tướng Đờ Cáxtri bị bắt sống cùng với toàn bộ tập đoàn cứ điểm tại Điện Biên Phủ.

– Đờ Cáxtri lớn tiếng nói về hòa bình. Đó là khi mà ông đã bị bắt làm tù binh. Trước đây ông ta không hề nói đến hòa bình.

Hồ Chí Minh rất bình tĩnh khi nói đến tên tướng xâm lược hiện đang nằm trong trại tù binh. Trong lời nói của vị Chủ tịch già không tỏ ra hả hê với chiến thắng. Người chỉ lắc đầu khi nói đến sự tàn bạo của tên tướng Đờ Cáxtri. Cuốn tạp chí Pháp “Paris Match” trên bàn Chủ tịch có in in ảnh của một người gầy gò, chiếc mũi khoằm giống như mỏ con chim ác điểu.

– Đó là một con người tàn bạo – Hồ Chí Minh nói và lắc đầu. Những người dân Hà Đông, những người mẹ đã khóc cạn nước mắt vì mất những đứa con trai ngoài chiến trận, vì những đứa con gái bị lính lê dương hành hạ, làm nhục. Đó chính là ông ta, tướng Đờ Cáxtri – người đã chỉ huy chiến dịch càn quét ở vùng châu thổ sông Hồng vào tháng 6 năm 1951. Theo lệnh của ông ta, hàng ngàn tấn gạo của nông dân vừa mới thu hoạch được đã bị tẩm xăng thiêu hủy, hoặc bị đổ xuống ruộng lầy, ao chuôm hay vung vãi trên đường. Cũng theo lệnh của ông ta, xe tăng đã ủi sạch cả những cánh đồng lúa đang trổ bông, thiêu trụi 3 ngàn ngôi nhà của nông dân và hàng trăm con người bị tình nghi có tham gia hoạt động du kích đã bị bắn chết. Giờ đây, trong tù, Đờ Cáxtri đã phủ nhận tất cả những hành động dã man đó. Ông ta phủ nhận tất cả, chỉ nói đôi câu:

– Tôi là một người lính, tôi chỉ thực thi mệnh lệnh.

Những từ đó đã quá quen thuộc! Chúng tôi những người dân Xôviết trong suốt 4 năm ở Xmônlen, ở Xtalingrát, ở những vùng quê Ucraina thấm đẫm máu, ở vùng Vôlôcôlamxki, đã từng nghe những từ đó “Tôi là một người lính…”. “Tôi là người lính…”- tên tướng Keitel đã nói khi hắn bị dồn ép đến chân tường tại Tòa án quân sự Nuirembéc.
Đại tá Đờ Cáxtri được hứa sẽ phong hàm cấp tướng ở Việt Nam. Vì chiếc cầu vai cấp tướng mà ông ta đã bị ném vào cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Và ông ta đã phải đầu hàng khi chưa kịp nhìn thấy chiếc cầu vai đó. Bây giờ trong trại tù binh ông ta nói: “Tôi là người lính…”.

Hồ Chí Minh nói đến Hiệp định Giơnevơ. Lúc đó khó có thể đoán trước được kết quả tại vòng đàm phán tại Giơnevơ. Nhưng không thể không thắng lợi trên bàn đàm phán. Bởi lẽ, lực lượng yêu chuộng hòa bình đang dấy lên mạnh mẽ trên toàn thế giới. Người cho chúng tôi xem một bức thư:

– Các đồng chí hãy xem đây, đó là thư đến từ Giơnevơ. Một trong số thành viên của phái đoàn chúng tôi viết cho người bạn của mình: “Chúng tôi rất thoải mái. Chúng tôi không đơn độc. Bên cạnh chúng tôi có đồng chí Chu Ân Lai, Môlôtốp. Chúng tôi đã đi qua Trung Hoa đại lục. Ngày 1-5, chúng tôi đã có mặt ở Quảng trường Đỏ. Ở đó chúng tôi đã được biết đến thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ. Chúng ta đã có nhiều thuận lợi hơn và chúng ta dũng cảm hướng tới tương lai…”.

Tôi đã nhận được hàng ngàn bức thư – đến từ mọi miền của đất nước: từ những người lính, những người nông dân, có nhiều thư đến từ vùng địch tạm chiếm. Tất cả những bức thư đó đã được nhân dân Việt Nam gửi đến cho phái đoàn Việt Nam ở Giơnevơ. Những bức thư này là niềm tin vào sức mạnh của mình, niềm tin vào thắng lợi của lực lượng yêu chuộng hòa bình. Ngay cả những người mà trước đây chúng tôi gọi là những “người ngủ trong chăn” cũng đã bắt đầu quan tâm đến tình hình chiến sự. Ở Hà Nội, họ đã ký vào quyết tâm thư bày tỏ sự ủng hộ bài phát biểu mới nhất của đồng chí Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Giơnevơ. Một người nông dân đã viết: “Chúng tôi tăng gia sản xuất, những đứa con trai của chúng tôi đang chiến đấu ở Điện Biên Phủ, các đồng chí hãy chiến đấu ở Giơnevơ. Chúng ta cùng trên một trận chiến vì hòa bình”.

Hồ Chí Minh là người rất giản dị và khiêm nhường. Từ chối không cần có thư ký riêng, Người tự đọc qua tất cả các thư tín gửi đến, tự phúc đáp, tự đánh máy các bài viết của mình. Người thường có những buổi đi bộ dài ngày, xuống núi, đơn giản chỉ để gặp gỡ, trò chuyện với những người nông dân trong các bản làng, trên cánh đồng lúa. Người cười vui khi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện gặp hổ trong đêm. Hoảng sợ bởi ánh đèn pha ôtô, con hổ đã bỏ chạy. Hồ Chủ tịch nói:

– Con thú đáng sợ nhất – đó là những tên đế quốc thực dân. Vì con hổ chỉ tấn công người khi nó đói, còn chúng thì giết người, cướp của. Những con thú này từ lâu đã biết rằng nô dịch và tiêu diệt một dân tộc đang chiến đấu vì tự do là không thể và phi nghĩa. Đó là sự ngu xuẩn của những kẻ lao đầu vào chỗ chết.

– Chúng ta sẽ phải làm việc khá vất vả đó – Người nói – Chúng tôi sẽ cố gắng bằng tất cả những gì có thể để tạo điều kiện cho các đồng chí, rất tiếc là trong lúc này, khó khăn đang chồng chất khó khăn.

Hồ Chí Minh rất nồng nhiệt khi nói đến những tình cảm của người Việt Nam với Liên Xô.

– Các đồng chí, những người Xôviết đầu tiên đã đến đất nước chúng tôi, các đồng chí sẽ cảm nhận thấy những tình cảm đó trong từng bước đi.

Người xúc động vân vê điếu thuốc bằng những ngón tay gầy guộc, đôi mắt Người rưng rưng xúc động khi chúng tôi kể về những hoạt động thể hiện tình hữu nghị, cảm thông chia sẻ và đoàn kết chiến đấu với nhân dân Việt Nam. Chúng tôi còn kể cho Người nghe về Liên hoan thanh niên và sinh viên toàn thế giới lần thứ tư diễn ra tại Bucarét, mọi người đã công kênh những anh hùng trẻ tuổi của Việt Nam quanh sân vận động như thế nào.
Hồ Chí Minh nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Nga. Chúng tôi hỏi Người:

– Chủ tịch học tiếng Nga có vất vả lắm không?

Người trả lời:

– Người cách mạng cần phải biết tiếng nói của Lênin.

– Chủ tịch làm việc mấy giờ một ngày?

– Chim rừng đánh thức tôi dậy – Người nói – tôi đi nằm lúc trên trời xuất hiện những vì sao.

Sau này chúng tôi mới biết không hoàn toàn là như vậy. Nhiều đêm chúng tôi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh chống gậy tre, tay áo xắn cao đi theo ánh đuốc của đồng chí cảnh vệ trên con đường hẻm trong rừng, đến một bản xa nào đó trong núi hoặc đi họp Hội đồng Chính phủ về muộn.

Chúng tôi đã làm việc cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh gần trọn một ngày. Đôi lúc, Người xin lỗi chúng tôi trở về bàn làm việc của mình để xem thư hỏa tốc, nói chuyện điện thoại. Những lúc như vậy, Người lại đưa một tập báo mới và họa báo Pháp cho chúng tôi xem hoặc bảo chúng tôi đi tham quan quanh khu “Phủ Chủ tịch” của mình.

Trong buổi gặp của chúng tôi còn có nhà thơ Tố Hữu và đồng chí Hoàng Tùng. Đó là những người bạn mà chúng tôi đã được gặp lần đầu tiên ở Ban Chấp hành Trung ương.

Tiễn chúng tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

– Chúng tôi sẽ gặp các đồng chí thường xuyên hơn. Cứ mạnh dạn yêu cầu tất cả những gì cần thiết cho công việc của các đồng chí.

– Chúng tôi có một thỉnh cầu, thưa Chủ tịch – tôi nói – Đầu tiên và chính yếu nhất đó là chúng tôi muốn được quay cảnh đất nước vào ban ngày. Những cuộc di chuyển vào ban đêm không thể làm được điều đó. Rất mong đồng chí cho phép chúng tôi được đi ôtô vào ban ngày. Đồng chí hãy yên tâm, cả ba chúng tôi đều có đủ kinh nghiệm trong chiến đấu nên sẽ kịp thời tránh được những trận công kích bằng máy bay.

Hồ Chí Minh im lặng một lát rồi nói:

– Không thể được! Chúng tôi đã mất rất nhiều những người con ưu tú của Đảng vì đã bị trúng bom, bị máy bay tập kích. Tôi rất hiểu những khó khăn của các đồng chí, nhưng để các đồng chí gặp nguy hiểm thì tôi không thể. – Nếu các đồng chí muốn đi vào ban ngày, thì các đồng chí nên đi bộ, bằng ngựa hoặc xe đạp. Dứt khoát không được đi bằng ôtô – đó là mệnh lệnh của chúng tôi.

Nhìn nét mặt thất vọng của chúng tôi, Người mỉm cười bắt tay chúng tôi và nói:

– Thế nhé! Đồng ý cả chứ, tất cả đã rõ!…


Rôman Cácmen[1]
Theo Văn hóa Nghệ An

[1]: Đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng của Liên Xô. Là một trong những người đầu tiên làm phim tài liệu về Hồ Chí Minh trong vùng giải phóng Việt Bắc năm 1954.

hochiminhhoc.com

“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”

Đó là lời Bác Hồ trong bài nói ngày 29- 12 tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966. Lời của Bác không chỉ có ý nghĩa trong công tác lưu thông phân phối mà nhìn rộng ra, có giá trị về mặt văn hóa, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng (GDP) và phát triển bền vững, một khía cạnh của văn hóa chính trị.

179634080573893750000.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ảnh: Tuấn Anh

1. Nhận thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển bền vững

Điều đáng mừng là các văn kiện Đại hội XI của Đảng bàn tới phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên nhận thức có chất lượng khoa học và cách mạng quan điểm này thì phải cần đến các nhà khoa học có tâm huyết, có trách nhiệm với sự sống còn của đất nước, của chế độ bởi vấn đề không phải chỉ là phát triển hay văn hóa, mà là chính trị. Đó là một góc nhìn về văn hóa chính trị.

Điều này không mới. Khổng Tử vĩ đại đã đề cập tới mà có nhà nghiên cứu cho rằng đó là tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phương Đông. Từ tháng 5-1921, trên Tạp chí Cộng sản, Hồ Chí Minh đã trân trọng dẫn lại lời Khổng Tử. Xin được dẫn nguyên văn: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước C.N) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản. Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều. Bình đẳng sẽ xóa bỏ nghèo nàn, v.v…

Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử, tiếp tục tư tưởng của thầy và vạch ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sự sản xuất và tiêu thụ. Sự bảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghỉ ngơi của người già, không có điều gì đề án của ông không đề cập đến. Việc thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người, đấy là đường lối kinh tế của vị hiền triết.

Trả lời một câu hỏi của vua, ông đã nói thẳng thắn: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”(1).

Tư tưởng Khổng, Mạnh như đã nói, có nghiên cứu cho rằng đó là tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phương Đông, đã được Hồ Chí Minh khai thác, chọn lọc tiếp thu như Các Mác đã tiếp thu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp thế kỷ XIX của Xanh Ximông, Ôoen, Phuriê.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp là tiền đề khoa học và lý luận (cùng với tiền đề kinh tế và tiền đề chính trị-xã hội) để hình thành chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhưng một thời gian dài, do không trở lại một cách nghiêm túc những tiền đề đó, nên có lúc chúng ta ngộ nhận, chủ quan, không phác họa được đầy đủ bức tranh phát triển bền vững ở Việt Nam; chúng ta không lường hết được hậu quả khôn lường khi tư duy chỉ nghĩ về tăng trưởng kinh tế.

Tư duy của Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy tư duy nhân loại suốt nửa sau thế kỷ XX, coi GDP là cứu cánh, thước đo sự phát triển. Hai nước trên thế giới là ấn Độ và Trung Quốc luôn luôn tự hào là có mức tăng trưởng cao (ấn Độ 8%/năm; Trung Quốc 10%/năm). Trước Đại hội XI, Việt Nam có những năm cũng tự hào có mức tăng trưởng cao sau Trung Quốc, đứng thứ hai thế giới. Gần đây, tháng 3-2011, Quốc vụ viện Trung Quốc đã quyết định chấm dứt chính sách chủ yếu dựa vào cơ sở GDP. Tờ Tạp chí Chính thức của Bắc Kinh đã đăng bài Giã từ sự tôn thờ GDP, coi như bỏ đường lối phát triển lấy tăng lợi tức làm cơ sở. Kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 hạ chỉ tiêu xuống còn 7% để tập trung vào phát triển bền vững. Báo ấn Độ The Hindu thì phê phán những người ấn Độ đặt vấn đề bao giờ thì đất nước mình đuổi kịp Trung Quốc (từ 8% lên 10% GDP/ năm). Bài báo viết: “Đặt vấn đề như vậy là ngu ngốc. Không những vì đánh giá tăng trưởng bao giờ cũng sử dụng những yếu tố độc đoán (chủ quan) mà còn vì mức sống của nhân dân chỉ được ảnh hưởng phần nào và gián tiếp của tổng thể tăng trưởng kinh tế”(2).

Như vậy, thế giới đã dần tỉnh giấc và chợt nhận ra sự chệch hướng khi lấy GDP làm thước đo hạnh phúc con người và sự phát triển của quốc gia. Chất lượng khoa học của nhận thức tạo ra giá trị ở chỗ càng ngày người ta càng thấm thía rằng toàn dân không được lợi từ cái bánh GDP. Nhiều nước lạm phát tăng nhanh, tỷ lệ thuận với tăng GDP, giá cả các loại tăng vọt, giá thuê nhà ở tăng… Nhiều nước như Mỹ, Trung Quốc, sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng(3). Như vậy, tăng trưởng mạnh, tổng sản phẩm quốc gia (GDP) cao, nhưng người dân đâu có giàu, chưa nói gì đến sướng và hạnh phúc.

2. Một khía cạnh văn hóa chính trị trong di sản Hồ Chí Minh

Nhận thức như vừa nêu của thế giới chẳng có gì mới so với những gì có trong di sản Hồ Chí Minh. Như đã trình bày, từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã nhắc lại lời người thầy là Khổng Tử về hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Hồ Chí Minh quan tâm tới hạnh phúc của nhân dân, bàn tới phát triển và phát triển bền vững, một khía cạnh của văn hóa chính trị từ rất sớm. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Người từng bước biến tư tưởng của thầy từ không tưởng đến khoa học. Hồ Chí Minh đi từ học thuyết giải phóng đến học thuyết phát triển, từ nước có độc lập đến dân phải được hạnh phúc, tự do. Người nói rằng “chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1- Làm cho dân có ăn. 2- Làm cho dân có mặc. 3- Làm cho dân có chỗ ở. 4- Làm cho dân có học hành”. Muốn có tự do, hạnh phúc phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Người, mục đích trước sau chỉ có một là chủ nghĩa xã hội, nhưng con đường để đạt mục đích đó thì có nhiều và phải biết vận dụng và phát triển sáng tạo: “Từ cộng sản nguyên thủy, đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản)- nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy. Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau”(4). Người viết: “Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(5). Đối với Việt Nam đó là con đường qua chế độ dân chủ mới, tức là sự phát triển của Việt Nam trải qua ba giai đoạn: giải phóng dân tộc – dân chủ nhân dân – chủ nghĩa xã hội.

Người luôn hướng tới mục đích “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người dặn: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ. Người nào cũng biết yêu nước và đoàn kết”(6). Cách làm là “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”. Người chăm lo xây dựng một xã hội học tập suốt đời, bởi vì “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; dốt thì dại, dại thì hèn”. “Trồng người” là chiến lược số một và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh theo tinh thần “vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Một trong những thông điệp đầu tiên của Hồ Chí Minh trong những ngày đầu của nước Việt Nam mới là chống nạn thất học. Người đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp giáo dục cho tất cả mọi người. Quan điểm của Người là “muốn giữ vững nền độc lập, làm cho dân giàu nước mạnh thì mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ dạy cho người chưa biết chữ. Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo…”. Ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO nhấn mạnh rằng “Hồ Chí Minh đã đưa ra thông điệp này cách đây 60 năm, nhưng đến nay nó vẫn còn giữ nguyên vẹn giá trị. Đặc biệt, sự chú trọng của Người đối với tình trạng bất bình đẳng về điều kiện sống và về thế giới cho đến nay vẫn mang tính toàn cầu và đúng với mọi lứa tuổi”(7).

Theo bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, “văn hóa đang trở thành một nhân tố chủ chốt của phát triển bền vững”, và chính Hồ Chí Minh, theo ghi nhận của Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pari năm 1987, đã có những đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật. Phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” tổ chức trong hai ngày 12 và 13-5-2010 tại Hà Nội, bà Katherine nhấn mạnh nhiều mặt về cống hiến của Hồ Chí Minh trong các hoạt động văn hóa như là hướng tới sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Bà đánh giá cao đơn vị thống kê theo Sắc lệnh thành lập Bộ Kinh tế quốc gia từ năm 1946 của Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thống kê các số liệu về dân số, tình hình tài chính, kinh tế, chính trị, các số liệu về văn hóa, vì điều này phù hợp với sự quan tâm của Viện Thống kê UNESCO trong những năm qua để xây dựng một khung hành động dựa vào thực tế cho thống kê văn hóa, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển bền vững.

Đối với UNESCO, bình đẳng giới là một quyền cơ bản của con người, một giá trị chung, và cũng là một điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển quốc tế, trong đó có tất cả các mục tiêu phát triển của Thiên niên kỷ. Suy cho cùng, việc nâng cao quyền lực của phụ nữ và bình đẳng giới là những vấn đề chính trị cần có sự hưởng ứng và cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới và những người làm chính sách. Theo bà Katherine, điều này được Hồ Chí Minh quan tâm trong suốt đời mình đến tận khi viết Di chúc.

Bà Ketherine nhấn mạnh sự quan tâm của Hồ Chí Minh đối với việc trồng cây và bảo vệ môi trường. Theo bà, “việc làm đó đã vượt qua biên giới tới mức, trong các chuyến thăm nước ngoài hoặc mỗi khi tiếp đón khách ngoại quốc, Người hay tổ chức lễ trồng cây và gọi những cây này là “cây hữu nghị”, biểu tượng cho quan hệ giữa Việt Nam và thế giới, cũng thể hiện thái độ tích cực với môi trường. Ngay cả trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh khuyến nghị những người viếng thăm trồng cây tưởng niệm”.

Bà Katherine so sánh quan điểm của Hồ Chí Minh từ năm 1945 về “xóa bỏ nạn mù chữ có nghĩa là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng” với nỗ lực của UNESCO từ năm 1946 nhằm “xóa bỏ nạn mù chữ trên toàn cầu với những chương trình như Giáo dục cho mọi người. Đây là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới và đảm bảo phát triển bền vững, hòa bình và dân chủ. Hơn thế, thật thú vị khi đọc trong Công báo Quốc gia Việt Nam 1945 thấy rằng Bộ Giáo dục được thành lập ngay sau khi Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh có mối tương liên với bốn trụ cột của việc học đã được ủy ban về Giáo dục cho Thế kỷ XXI xác định trong báo cáo của họ trình lên UNESCO trong thập kỷ 1990 như là những nguyên tắc cơ bản định hình lại giáo dục, đó là: Học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống”(8).

Người quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo Người “Chính phủ là công bộc của dân” và mọi hoạt động của Chính phủ phải “sao cho được lòng dân”. Nói đến Nhà nước là nói đến quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người. Cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh mang giá trị văn hóa chính trị là thực hành dân chủ với nhân dân, đấu tranh cho quyền con người và quyền các dân tộc. Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 nhắc đến “quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ “đã nói trước được điều mà 15 năm sau, vào năm 1960, Liên hợp quốc đã đưa vào trong Tuyên bố trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”(9).

Đất nước ta do Đảng lãnh đạo. Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước. Hồ Chí Minh quan tâm tới văn hóa cầm quyền của Đảng, trong đó quan trọng nhất là đề ra được đường lối đúng đắn, khoa học, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, từ nguyện vọng lòng dân, gắn liền với xu thế thời đại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là một Đảng biết trọng dân, tin dân, hiểu dân, học dân, gần dân; chăm lo dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ, dân vận; trọng dụng nhân tài. Đảng không giấu giếm khuyết điểm, dám tự phê bình và phê bình, dám nhận trách nhiệm trước dân. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không có ngoại lệ. Tóm lại, đó là một Đảng chân chính cách mạng, đạo đức và văn minh, không phải là một tổ chức làm quan phát tài, ngoài lợi ích của dân tộc và Tổ quốc, Đảng không có lợi ích gì khác. Đảng không lãnh đạo được một đất nước đảm bảo sự công bằng, dân chủ, văn minh, thì dù có những thành tích trước mắt, GDP có thể cao, nhưng vẫn khó giữ được lòng tin của nhân dân, mà mất lòng tin của nhân dân là mất tất cả. Hồ Chí Minh viết: “Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(10).

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại tài liệu Tuyệt đối bí mật, một văn kiện lịch sử vô giá – Cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh. Người kỳ vọng về một đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”: “Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Người dặn dò Đảng phải không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Di sản Hồ Chí Minh là bức tranh về một xã hội tương lai. Đó là triết lý phát triển bền vững Việt Nam theo tiêu chí của Liên hợp quốc trong Chương trình nghị sự XXI: (1) Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực; (2) Đạt phổ cập giáo dục tiểu học; (3) Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; (4) Giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em; (5) Tăng cường sức khỏe bà mẹ; (6) Phòng chống sốt rét và các bệnh khác; (7) Bảo đảm bền vững môi trường; (8) Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển(11).

Ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định trong buổi mít tinh ở Đại sứ quán Việt Nam tại Paris, tối 14-5-2010: “Hồ Chí Minh trở thành một người thầy về cuộc sống tiếp thu trong một thế giới có xu hướng toàn cầu hóa hiện nay… Chúng ta phải công nhận rằng thông điệp của Hồ Chí Minh mang giá trị toàn cầu, và nó luôn có giá trị thời đại, bởi vì nó hướng tới tương lai… Bản tính của Người là luôn lo lắng phấn đấu cho một tương lai được xây dựng trên nền tảng của sự công bằng, bình đẳng, biết truyền thụ và chia sẻ sự đa dạng văn hóa và để các nền văn hóa xích lại gần nhau. Chính vì tầm vóc vĩ đại của con người Hồ Chí Minh mà chúng ta đã vinh danh Người ở UNESCO và trên thế giới”(12).

PGS.TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

………………………..

(1) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, t.1, tr.35.
(2) Xem Hữu Ngọc: Dân giàu và GDP, Báo Sức khỏe và đời sống, ngày 24-4-2011.
(3) ở Mỹ, 1% dân số người giàu chiếm 1/4 lợi tức quốc gia
(4) Hồ Chí Minh, Sđd, t.7, tr.247
(5) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.227.
(6) Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.65.
(7) Hans D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, http://www.tuanvietnam.net, ngày 20-5-2010.
(8) Xem Katherine Muller Marin: Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO, Đặc san Thông tin tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, số 27, tháng 6-2010, tr.14-17.
(9) Hans D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, tài liệu đã dẫn.
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.293.
(11) Chương trình này còn gọi là Tuyên bố Thiên niên kỷ, được 189 vị đứng đầu Nhà nước và Chính phủ các quốc gia thành viên Liên hợp quốc cam kết thực hiện, tháng 9-2000.
(12) Han D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, http://www.tuanvietnam.net, ngày 20-5-2010.

hochiminhhoc.com

Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 5)

Chúng ta xem phim về Bác thường thấy cảnh Bác Hồ quàng khǎn đỏ cùng nhảy múa vui vầy với đàn cháu nhỏ hay chơi bóng chuyền cùng anh em trong cơ quan hoặc cuốc đất trồng cây trong vườn với mọi người… những sinh hoạt đời thường cùng vui với mọi người là một bộ phận không thể thiếu được trong cuộc đời của con người, nó càng làm giàu thêm đời sống tinh thần, tâm linh trong mối bang giao giữa người với người, ở Bác càng đặc biệt hơn.

Nhớ lần chị Giôhana sang Việt Nam, vào thǎm Bác lúc đó Bác đang câu cá ở ao, chị cùng vui câu cá với Bác, chị nói: “Thưa Bác, ở nhiều nước trên thế giới vì muốn vị nguyên thủ của mình vui lòng nên người ta dồn cá thật nhiều, có khi bí mật mắc cá vào câu, hoặc khi đi sǎn thì dồn thú thật nhiều vào một chỗ để vị nguyên thủ dễ sǎn được thú”. Bác cười vui và bảo: “Bác là người câu cá lành nghề và có đôi chân tay vững vàng, đôi mắt tinh tường nên không phải làm như thế”.

Nǎm 1969, sức khoẻ Bác đã yếu, lúc đó có đoàn làm phim của Đảng cộng sản Nhật Bản sang làm bộ phim “Việt Nam chống Mỹ” yêu cầu kịch bản có nhiều hình ảnh Bác Hồ, mặc dầu sức yếu, Bác không những luôn có mặt ở trường quay đúng giờ để quay những cảnh cần hình ảnh Bác, mà còn động viên các diễn viên tham gia nhiệt tình giúp đỡ đoàn làm phim hoàn thành nhiệm vụ. Giờ nghỉ Bác chuyện trò vui vẻ với mọi người như một diễn viên già yêu nghệ thuật điện ảnh.

Nếp sinh hoạt thường ngày những việc nào làm được, Bác tự làm, không nhờ vả hay ỷ lại cho người khác làm thay mình, việc nào không làm được Bác thường mới nhờ đến những anh em gẫn gũi trong cơ quan, việc cắt tóc cũng vậy. Hồi hoạt động ở nước ngoài, Bác không mấy khi đến tiệm cắt tóc mà nhờ anh em cắt giúp, dành tiền để mua sách báo, khi về nước dù ở chiến khu hay về Hà Nội Bác thường nhờ anh em ai biết cắt tóc thì giúp Bác. Bác không yêu cầu mốt này kiểu nọ. Cắt tóc cho Bác cũng có nhiều kỷ niệm sâu sắc, một lần Bác yêu cầu đồng chí Mẫn, chỗ nào tóc dài cắt ngắn để cho gọn và mát mẻ, thấy chỗ tóc cắt ra quá đẹp, đồng chí giấu đi làm kỷ niệm. Hiện nay đồng chí đã trao lại kỷ vật đó cho phòng trưng bày khu di tích thân phụ Bác ở Cao Lãnh.

Biết đồng chí Thiệt là lính lần đầu đến cắt tóc cho Bác, Bác rất tâm lý, vừa gặp Bác chủ động chuyện trò vui vẻ: “Chú chờ Bác đã lâu chưa? Nhờ chú làm “tổng vệ sinh” giúp Bác”. Bác ân cần hỏi han chuyện gia đình, công tác… không khí tự nhiên ấm cúng, tình người được khơi dậy, tâm trạng lo âu, hồi hộp, chân tay lóng ngóng ở đồng chí tự biến mất. Trong lúc cắt tóc, Bác đùa vui: “Bác thì điều khiển cuộc họp, còn chú và chú thợ ảnh thì điều khiển Bác”. Tóc cắt xong, Bác đứng dậy khoe “Đấy, chú xem hôm nay Bác trông thanh niên chưa”.

Nǎm 1960, Tổng thống và phu nhân một nước châu Phi sang thǎm Việt Nam. Tổng thống rất quý Bác, thường nêu gương giản dị, tiết kiệm của Bác cho vợ nghe ngụ ý phê bình lối ǎn mặc kiểu cách xa hoa của vợ, thế là hai vợ chồng “bất đồng quan điểm”. Bác biết được sự việc, Bác mời hai vợ chồng vào thǎm nơi ở và làm việc của Người. Bác trực tiếp ra đón vợ chồng Tổng thống khi gặp, Bác tươi cười và khen: “ồ hôm nay trông phu nhân mặc đẹp quá, vẻ lộng lẫy của phu nhân làm cho những bông hoa trong vườn cũng phải ghen đấy”. Phu nhân Tổng thống cảm ơn và hỏi: “Thưa Bác, nếu ai đó có vinh dự là người bạn đời của Bác thì người đó ǎn mặc thế nào ạ?”. Bác vui vẻ trả lời: “Tất nhiên phải ǎn mặc đẹp chứ, thật đẹp, đẹp như phu nhân hôm nay”. Mọi người đều vui vẻ, riêng Tổng thống trong ánh mắt nhìn Bác tỏ lòng biết ơn và cảm phục Bác đã giảng hoà cuộc chiến tranh lạnh” giữa hai người.

Sau chiến dịch Biên giới 1950, ta bắt được một số tù binh, nhưng chúng rất ngoan cố, không nhận chúng sang Việt Nam là đi xâm lược biết chuyện Bác cải trang trong vai người lính già biết tiếng Pháp đến ôn tồn hỏi chuyện gia đình, quê hương, vợ con, anh em bạn bè ở bên Pháp, Bác nói cụ thể dễ hiểu là trên đời ai cũng có gia đình quê hương, bạn bè, quê hương người Pháp phải ở bên Pháp chứ còn ở đây, núi rừng, đồng ruộng này là của người Việt, vì sao người Pháp sang đây gây ra chiến tranh chết chóc cho người Việt, cho người Pháp, đây là phi nghĩa hay là chính nghĩa người Pháp là người vǎn minh trên thế giới thì rõ hơn ai hết về việc đó… Nghe Bác nói, những tên cứng cổ nhất cũng phảỉ thừa nhận là “ông già nói đúng” , chứ mấy ông trẻ Việt minh thì cứ bắt chúng phải nghe theo lệnh này, lệnh nọ, nên chúng không nghe, không phục.

Hồi ở chiến khu, đi đâu Bác thường đi ngựa, con ngựa của Bác có tên là Ba Đen, nó nhỏ nhất đàn nhưng nhanh nhẹn và rất khôn; nó ít nghe theo người cưỡi nó, lên yên là nó phóng bạt tử, khi gặp suối nó vùng phi qua, có khi người cưỡi nó rơi xuống suối. Nhưng Bác đến vỗ về âu yếm, nó đứng yên như chờ lệnh. Mỗi lần khi lên xuống yên Bác đều làm động tác vuốt ve âu yếm tỏ thái độ biết ơn chân tình, có lẽ từ tình cảm đó mà giữa Bác và Ba Đen có sự đồng cảm, nó tuân thủ, ngoan ngoãn khi Bác ở trên lưng, nó hiểu ý Bác khi đi chậm, nhanh hoặc nghỉ hoặc đứng yên.

Là Chủ tịch nước, nhưng mỗi lần có dịp gợi lại chuyện xưa, Bác vẫn nhớ những kỷ niệm, những con người Bác đã từng gặp, từng quen, nhiều ký ức không phai mờ trong tâm trí Người. Có lần nhà điện ảnh Hà Lan Giôrít Ivan sang làm phim về Việt Nam, được gặp Bác, trong câu chuyện, nhớ lại ngày xưa, Bác nói: “Bây giờ chú mới biết tôi chứ tôi đã biết chú từ đầu những nǎm hai mươi”, lvan rất cảm động và ngạc nhiên, Bác kể tiếp: “Khi đó chú vừa hoàn thành tác phẩm xuất sắc “Tư bản và tôn giáo” cuốn phim tố cáo bọn tư bản lợi dụng tôn giáo lừa bịp nhân dân. Vua Hà Lan và bọn tư sản rất cǎm tức chú, chúng ra lệnh trục xuất chú ra khỏi Hà Lan, lúc đó tôi viết bài đǎng báo “Nhân đạo” bênh vực cuốn phim và vạch trần luận điệu vu cáo của chúng”. Ivan rất cảm kích trước những lời của một vị Chủ tịch nước nói về mình.

Nhớ lần Bác đến thǎm triển lãm ở Hà Nội, Bác đứng ngắm bức tường của Tiêu Tam (Trung Quốc), Bác bảo: “Bác biết đồng chí ấy, đồng chí ấy là bạn của Bác”. Khi Tiêu Tam sang Việt Nam, Bác mời vào nhà sàn chơi, hai người nhắc lại những kỷ niệm xưa. Hai người đàm luận về thơ vǎn Trung Quốc. Tiêu Tam vừa đi thǎm Vịnh Hạ Long về có bài “Phú Vịnh Hạ Long” Bác vừa ngâm vừa gật gù khen. Đến câu “Thuỷ liên thuỷ, sơn liên sơn” Bác bảo câu này không ổn, xin sửa lại là “Sơn liên thuỷ, thuỷ liên sơn” , Tiêu Tam mừng rỡ tiếp thu.

Nǎm 1961, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh sang thǎm Việt Nam, chương trình đón tiếp đưa đến Bác, Bác đọc và nói:”Hồi trước Bác và đồng chí Diệp Kiếm Anh cùng làm việc với nhau, đồng chí là đội trưởng, Bác là bí thư chi bộ, nay đồng chí ấy sang đây mà Bác lại đợi đồng chí ấy đến chào là không nên, Bác sẽ ra đón và mời cơm thân mật, nhưng không công bố trên báo chí vì không tiện về mặt lễ tân”.

Một lần Thượng tướng Culicốp sang ta cùng chuyến hàng viện trợ, đồng chí yêu cầu gặp Bác. Các đồng chí trong Bộ Quốc phòng đề nghị chỉ nên tiếp ở cấp tương đương, Bác phê bình và bảo “Các chú chỉ biết một mà không biết hai, các chú chỉ nghĩ đến việc có tương xứng hay không mà không nghĩ đến tình cảm khách dành cho ta, khách quý lãnh tụ là quý dân tộc ta, Bác đã gặp các đoàn vǎn công, gặp đội bóng đá thì tại sao không gặp một thượng tướng mang vũ khí sang tặng ta, các chú phải nên nhớ rằng: phải làm sao mỗi người dân Xô Viết đến Việt Nam là gần với Việt Nam thêm một Chút”. Nǎm 1966, Bác tiếp nhà báo Mỹ Đêvít Đenlinhgiơ, Bác có nói: “Khi trở về Mỹ ông có thể nói rằng tôi đã đi ở cho người ta ở Bruklin vớl lương tháng 40 đôla, còn bây giờ làm Chủ tịch nước Việt Nam tôi được lĩnh 44 đôla hồi ấy không đến nỗi vất vả lắm, tôi dùng một số thời gian rỗi để học tập và đi thǎm một số nơi trong thành phố, tôi thường tới khu Háclem và rất cảm động trước nỗi khổ của người dân da đen”.

Là Chủ tịch nước, nhưng đối với người nhiều tuổi hơn, Bác luôn tỏ ra cung kính, hàng nǎm Bác thường gửi lụa tặng quà cho các cụ cao niên, khi tiếp các Cụ, Bác thường xưng hô cung kính “các cụ ông, cụ bà”, có khi Bác nhận mình là em, là cháu đối với các Cụ. Nhớ lần Bác về thǎm Trà Cổ, gặp gỡ nói chuyện với nhân dân xứ đạo, Bác gặp và chúc thọ riêng Cụ Thiệm là người cao tuổi, Bác khen cụ đã già nhưng vẫn làm gương cho các cháu, chǎm lo thờ phụng Chúa, thực hiện giới rǎn, thi đua sản xuất công tác Bác nói: “Chúng ta nên kết nghĩa anh em, Cụ nhiều tuổi hơn xin cụ nhận là anh”. Cụ Thiệm luống cuống xua tay. “Không dám, không dám. Cụ làm việc cho cả nước cả dân tộc, Cụ phải là anh, còn tôi chỉ quanh quẩn ở xã không dám nhận vinh dự đó, Cụ nhận tôi là em cũng là phúc lắm rồi”. Bác nói chân tình: “Dẫu sao Cụ là lớp đàn anh đi trước, xin Cụ nhận cho”. Nói rồi Bác thân ái tặng Cụ Thiệm vải và chǎn bông.

Tháng 8-1948, tù chiến khu Việt Bắc, nhân danh Chủ tịch nước Bác gửi cho Cụ Phụng Lục, một hội viên hội phụ lão cứu quốc huyện Ư’ng Hoà, Hà Đông, nhân ngày thượng thọ 90 tuổi, một bức thư “Thưa cụ, những cụ thượng thọ như Cụ là của quý vô giá của dân tộc và nước nhà. Trong ngày chúc thọ Cụ lại miễn tế lễ, đám đình và đem số tiền 500 đồng quyên vào quỹ kháng chiến như vậy là Cụ nêu cái gương hǎng hái kháng chiến và cái gương sửa đổi cổ tục, thực hành đời sống mới cho toàn thể đồng bào noi theo. Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn Cụ và trân trọng chúc Cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khoẻ để kêu gọi con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến kiến quốc. Cháu lại kính chúc Cụ lời chào thân ái và quyết thắng. Hồ Chí Minh” .

Nǎm 1965, Bác về thǎm Côn Sơn, sau khi dâng hương và thǎm cảnh quan chùa và đọc từng chữ trên bia đá, Bác yêu cầu đồng chí trong tỉnh dẫn Bác đến thǎm Thạch Bàn (nơi Nguyễn Trãi thường ngồi uống rượu ngâm thơ trên một tảng đá to phảng như một chiếc chiếu), động Thanh Hư rồi Ngũ Nhạc (tức 5 đỉnh cao nhất ở Côn Sơn). Đến nơi Bác nói chuvện thân mật với các cụ già ở đó. Bác nói “nhớ Nguyễn Trãi thì phải nhớ “Lệ chi viên” ở đâu?”. Sau đó Bác đề nghị các cụ ở Chí Linh trồng một vườn vải ở khu Chùa để con cháu và khách thập phương đến đây để nhớ lại nỗi oan “Lệ chi viên”.

quangbinh.gov.vn

Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 4)

Có lần Bác đến thǎm và nói chuyện với một lớp học, trời nóng, hội trường chật, Bác và các học viên đều ướt đẫm mồ hôi, có đồng chí cán bộ vội lấy chiếc quạt quạt cho Bác, Bác bảo: “Ai nhờ chú quạt cho Bác, anh em ngồi dưới cũng nóng như Bác”. Lần Bác về thǎm tỉnh Thái Bình, các đồng chí chuẩn bị bài phát biểu cho Bác. Bác xem qua trước Bác không nhất trí đoạn nói về việc xoá mù chữ, Bác nói: “Nếu lát nữa Bác phát biểu trước đồng bào, nhỡ còn có người mù chữ, thì họ đánh giá Hồ Chủ tịch cũng mắc bệnh quan liêu thì sao?”.

Đến thǎm một trường học khi nghe báo cáo về nhiều mặt tốt Bác khen ngợi, đến đoạn trồng cây, mỗi người trong nhà trường từ sinh viên đến cán bộ mỗi người đều trồng 3 cây. Bác bảo: “Chỉ nên trồng một cây thôi nhưng phải chǎm sóc cho nó sống”. Nǎm 1961, Bác trở lại thǎm Pắc Bó, khi lên thǎm hang, thấy đường vào hang được phát quang sạch sẽ, dễ đi, Bác bảo: “Các chú làm thế này thế hệ sau tưởng hồi xưa đường đi lối lại cũng dễ dàng, nếu muốn sửa sang để đón khách, nhất là khách quốc tế thì các chú làm con đường bên cạnh, để khách thǎm thấy được đúng hoạt động khó khǎn gian khổ hồi xưa”.

Hồi ở chiến khu khi đến địa điểm mới là Bác bảo với mọi người tǎng gia sản xuất, khi biết cơ quan sắp chuyển đi chỗ khác có đồng chí thưa với Bác là không nên trồng nữa, Bác bảo: “Ta trồng nếu ta không thu hoạch thì để lại cho nhân dân, nếu sau này có trở lại thì đã có rau ǎn rồi”.

Đơn vị thông tin cải thiện được món tươi, cử một đồng chí mang thư dán kín ngoài đề “hoả tốc” đến để mờl Bác cùng dự liên hoan, khi đồng chí trở về mang theo lá thư của Bác vẻn vẹn mấy chữ “Cái gì đáng hoả tốc thì hoả tốc, nếu không thì đi bằng “thuỷ tốc” nhé, chào thân ái, Bác Hồ”.

Một lần các đồng chí thông tin mắc điện thoại cho Bác, Bác mời hút thuốc, có đồng chí rút liền 3 điếu, Bác nói vui: “Sao chú lấy nhiều thế” đồng chí thưa Bác là lấy phần cho đồng chí khác, Bác khen, rồi lấy ra một điếu nữa đưa cho đồng chí và nói: “Ưu tiên biếu chú thêm một điếu nữa vì biết nghĩ đến người khác”.

Khi giặc Mỹ tǎng cường bắn phá ra miền Bắc, Bác tham dự cuộc họp bàn về tình hình cách mạng mới. Có đồng chí phát biểu: “Mỹ ném bom ra miền Bắc thì tình hình cũng không có gì thay đổi cả, chúng ta vẫn tiến công…”. Bác bình tĩnh nói. “Sao chú lại nói tình hình không có gì thay đổi cả. Ta không sợ địch, nhưng Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc tất nhiên gây nhiều khó khǎn cho ta, cần phải thấy hết khó khǎn để có biện pháp khắc phục…”.

Trong vườn Bác có cây đa, một lần chỉ cây đa, Bác hỏi đồng chí phục vụ: “Chú cỏ biết làm cho rễ cây đa theo ý mình cắm xuống đất được không?” Đồng chí trả lời Bác là lâu và khó lắm, Bác bảo: “Ư` nếu lâu và khó thì Bác làm thử”. Bác lấy 3 lọ thuỷ tinh và 3 sợi dây, mỗi rễ Bác cho một lọ và đổ nước, cột sợi dây vào lọ rồi treo lên thân cây, ngày qua ngày Bác theo dõi, khi nào hết nước Bác thêm vào. Rễ trong lọ thuỷ tinh phát triển ngày một dài, dần dần kéo xuống đất vào đúng chỗ theo ý định của Bác, cây rễ tạo nên một thế cảnh độc đáo và đẹp, Bác đặt tên cho là “cây đa kiên trì”.

Bác là tấm gương tiêu biểu tiết kiệm của công, thái độ giữ gìn tài sản chung của nhân dân được Bác luôn luôn chú ý. Bác không những nghiêm khắc đối với bản thân mình, mà Bác không cho phép bất cứ một cán bộ nào, ở bất cứ cấp nào, không được đụng đến của công. Bác rèn luyện cán bộ phải có thói quen tiết kiệm, từ những việc nhỏ nhất trong sinh hoạt hàng ngày đến việc lớn quốc gia đại sự.

Lúc đầu Việt Nam thông tấn xã cung cấp bản tin chỉ in một mặt, Bác đọc thấy lãng phí giấy, Bác phê bình. Những loại giấy tờ nào chỉ mới dùng một mặt Bác để riêng dùng để viết bài ở mặt trắng. Bác đến thǎm một trường cán bộ, được biết khi có lương là anh em tiêu pha thoải mái, được mấy ngày hết tiền lại phải đi vay. Bác vào phòng thấy anh em đông vui, Bác bảo, Bác có trà mời các chú cùng uống, nói rồi tự tay Bác pha trà, mỗi lần pha xong Bác lại rót vào một cái cốc to, Bác làm đến 4 lần như vậy, khi ấy Bác mới rót từ chiếc cốc to ra chén rồi mời anh em uống. Bác bảo: “Trà Bác pha lần thứ 4 mà vẫn thơm ngon, các chú học cách pha trà của Bác vào việc chi tiêu lương hàng tháng nhé”. Mọi người được một bài học nhẹ nhàng mà thấm thía.

Lần khác đến một trường học có hơn 4000 học viên, Bác được biết hàng ngày trường phải thuê xe chở nước từ xa về cho học viên dùng. Khi nói chuyện với mọi người, Bác hỏi: “Các cô các chú mỗi người có thể đào nổi một mét khối đất không?” Cả hội trường đồng thanh là làm được. Bác nói: “Thế thì tại sao không tập trung tổ chức đào giếng để dùng mà phải dùng xe hàng ngày chở nước vừa tốn kém lại dùng không thoải mái”. Khi về thǎm công trình đập nước Suối Hai, thấy có ngôi nhà nghỉ mát của tỉnh uỷ xây to, đẹp Bác bảo: “Sao các chú không lo xây nhà cho dân mà lại lo xây nhà nghỉ cho Tỉnh uỷ?”.

Nǎm 1969, Bác đọc báo thấy Nghị quyết Bộ Chính trị chỉ thị chuẩn bị chào mừng 4 ngày lễ lớn, trong đó có ngày sinh của Bác. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên và hỏi: “Tại sao các chú cho tổ chức sinh nhật Bác linh đình thế, Lênin là bậc thầy của cách mạng thế giới, Bác chỉ là học trò của Lênin sao các chú đặt Bác ngang với Lênin, sao lại đặt việc riêng của Bác ngang với việc chung của Nhà nước, của Đảng?”. Bác chỉ tay lên trang báo nói tiếp; “Vì sao các chú cho in sách của Bác nhiều thế này, nên dành nhiều giấy cho các cháu học sinh, còn việc xây nhà bảo tàng này, nhà lưu niệm nọ là quan trọng nhưng nước ta còn chiến tranh, nên dành vật liệu để làm nhà cho dân ở những nơi họ tự phá nhà mình làm đường cho xe đi, khi nào đời sống sung túc ta sẽ xây dưng bảo tàng, nhà lưu niệm…”.

Bác thích ǎn cà pháo quả nhỏ vùng Nghệ An, đồng bào Nghệ An chở cả một xe quả ra biếu Bác. Bác dặn đồng chí cấp dưỡng, Bác chỉ ǎn một ít, cà thì rất nhlều, chú trừ phần của Bác riêng, phần cà còn lại, ai ǎn thì trả tiền cho đồng bào. Bác về thǎm quê, các đồng chí tỉnh uỷ chiêu đãi Bác đủ các món ǎn sang trọng. Đến bữa ǎn Bác nhắc đồng chí Nguyễn Khai, người cùng đi với Bác: “Cơm của ta đâu, đem ra”, đồng chí mang ra một gói, mở xong lần lá bọc, lộ ra nắm cơm độn ngô và gói thịt bǎm nhỏ, kho khô hạt tiêu, Bác mời mọi người: “Ta ǎn gói cơm này trước rồi ǎn cơm của tỉnh sau”. Nói rồi tự tay Bác chia cơm và thịt kho cho từng người như nhắc nhở mọi người trong lúc toàn dân đang phát động tiết kiệm vì đồng bào miền Nam ruột thịt, thì suất ǎn của ai kể cả Chủ tịch nước cũng phải độn ngô. Đối với các đồng chí tỉnh ủy bài học hôm đó, trong suốt cuộc đời khó có thể quên được.

Có lần Bác vào thǎm vǎn phòng Giao tế thấy có hai chiếc tủ gương to quá cỡ, Bác phê bình vừa lãng phí tiền, lại không hợp, không đẹp. Vào phòng dành riêng cho khách ở, thấy giường to quá Bác bảo nên làm nhỏ vừa, phía dưới lót đệm cỏ cho êm và sạch.

Nǎm 1961, sức khoẻ Bác đã yếu, Bác vẫn yêu cầu đi bỏ phiếu để thực hiện quyền công dân, các đồng chí bố trí Bác đến địa điểm hòm phiếu cạnh Hồ Tây cho thuận tiện việc đi lại và lợi cho công tác bảo vệ. Hôm đó tuy vắng người nhưng đến phòng viết phiếu đang có người, Bác đứng đợi, các đồng chí phụ trách bầu cử ngại Bác đứng lâu bèn mời Bác vào phòng viết trước, Bác bảo: “Bác đi bỏ phiếu thực hiện quyền công dân, người khác cũng vậy, ai đến trước viết trước, Bác đến sau thì phải chờ. Bác là một cử tri”. Bác vào phòng viết phiếu, mấy phóng viên quay phim, chụp ảnh loay hoay ghi hình Bác, đèn chiếu sáng cả phòng Bác đang viết phiếu, Bác vội bảo: “Các chú làm gì thế, đây là phòng viết phiếu kín của cử tri, sao các chú vào đây”. Bỏ phiếu xong Bác nói chuyện với cử tri, thấy em bé được mẹ bế đi bỏ phiếu, Bác đến gần âu yếm em thân thiết như ông cháu. Thấy cử tri không đông như mọi nǎm, Bác biết đây là do các đồng chí bảo vệ bố trí, Bác tỏ vẻ không vui, khi về, Bác bảo đồng chí phụ trách công tác bảo vệ: “Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị dân ghét không? Sau nǎm 1945, Nguyễn Hải Thần đi đâu cũng có binh lính bồng súng chĩa ra hai bên, trên xe gắn một khẩu súng trung liên luôn luôn chực nhả đạn, dân rất ghét, chú nên nhớ rằng nhân dân là người bảo vệ tốt nhất”.

Đời thường của Bác thật bình dị từ câu nói, tác phong đến vật dùng tư trang hàng ngày, từ ǎn uống đến sở thích sống hoà mình với nhân dân. Những nǎm tháng sống ở nước ngoài Bác vẫn thích sống trong không khí đầm ấm tình đồng chí. Hồi ở Pari, Bác thường tham gia sinh hoạt trong các câu lạc bộ, hoạt động vǎn nghệ để tuyên truvền cách mạng. Có lần Bác tham gia đóng kịch mà tiền bồi dưỡng là một cốc cà phê. Trong các trò vui giải trí Bác thường tham gia các trò chơi, góp một chuyện vui, một trò ảo thuật để gây cười. Ơ’ Bác tính vui dí dỏm rất độc đáo. Các bạn nước ngoài thường gọi Bác một cách âu yếm “Người bạn phương Đông”.

Khi làm phụ tá giúp việc phiên dịch đồng chí Bôrôđin bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên, Bác vẫn giữ nếp sống đời thường vui vẻ hoà nhã với mọi người. Chị thư ký của đồng chí Bôrôđin kể lại về người bạn Việt Nam hay cười, hoà nhã, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác, thường giúp chị học tlếng Trung Quốc, tiếng Việt Nam, chị không ngờ “Người bạn vui tính” đó lại là Chủ tịch nước Việt Nam mới.

Về chiến khu Việt Bắc sống trong cảnh núi rừng chiến khu, công việc nhiều, vật chất thiếu thốn, Bác và các đồng sự vẫn duy trì một cuộc sống tinh thần phong phú. Nhân dịp sau cuộc họp Hội đồng chính phủ, đủ các cụ, các bộ trường, ông Hoàng Đạo Thuý, một hướng đạo sinh hồi xưa tổ chức đêm lửa trại. Lửa trại nổi lên ai cũng tham gia theo “luật chơi” của “trùm lửa” yêu cầu. Lúc đầu ông Hoàng Đạo Thuý làm “trùm lửa”. Lửa bùng lên ông chắp tay: “Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại” ai cũng lo không biết Bác xử trí ra sao, không chần chừ Bác bước nhanh vừa đi quanh đống lửa vừa cất tiếng hát: “Anh hùng xưa, là thời niên thiếu, dấy binh gậy lau làm cờ…” ai cũng ngạc nhiên vì sao Bác biết được bài hát “tôn chỉ” của hướng đạo lửa trại. Rồi Bác đề cử bác sĩ Trần Duy Hưng làm “trùm lửa” tiếp, bác sĩ đi vòng quanh đống lửa giang hai tay miệng kêu “ù ù” như máy bay rồi gọi loa “A lô, a lô đồng bào chú ý Cụ Chủ tịch vào thǎm đồng bào, Cụ có huấn thị” Bác nhanh trí đứng lên “chơi lại” “trùm lửa”, “A lô, a lô thưa đồng bào, tôi vào thǎm đồng bào nhưng đi tàu bay mệt quá xin để bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi”. Bác sĩ bí quá, mọi người cười vui vẻ.

quangbinh.gov.vn