Tag Archive | Tin tức

Thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thân mẫu Bác Hồ

Bà Hoàng Thị Loan sinh năm 1868 trong một gia đình nho học. Mọi người trong gia đình Bà đều trực tiếp tham gia lao động, giàu lòng nhân ái, trọng nghĩa khí, có cách nhìn tân tiến trong cuộc sống, vượt ra ngoài sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến đương thời. Từ nhỏ, bà Loan đã được tiếp thụ sự giáo dục tiến bộ của gia đình, lại được sống ở một vùng quê nổi tiếng về thuần phong mỹ tục. Đây lại là xứ sở hát phường vải – một loại hình văn hóa dân gian hết sức độc đáo. Bà yêu thích tìm hiểu về văn hóa dân tộc, thông hiểu nhiều làn điệu dân ca, hát ví. Bà có dung nhan sắc sảo, tính tình hiền từ, luôn vui vẻ hòa nhã với mọi người, chăm chỉ công việc đồng áng và canh cửi.

Cuối năm 1883, bà Loan kết hôn với ông Nguyễn Sinh Sắc – một nho sinh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bà chấp nhận cuộc sống vất vả, khó khăn để chồng yên tâm kinh sử, hun đúc tài năng. Với phẩm chất nhân hậu, chịu thương, chịu khó, không muốn con mình thiếu thốn, không muốn chồng mình phải ngừng học tập vì miếng cơm, manh áo, Bà đã lao động cật lực để nuôi gia đình. Bằng tấm lòng yêu chồng, thương con vô bờ bến, Bà đã hy sinh tất cả, toàn tâm toàn lực vì sự nghiệp của chồng con. Sự học hành, đỗ đạt của ông Nguyễn Sinh Sắc luôn gắn với công lao, tâm sức của Bà.

Bà Hoàng Thị Loan là tấm gương sáng ngời về tính cách bình dị, khiêm tốn, đức hy sinh, chung thủy, thương người, yêu nước. Bà đã dành rất nhiều tâm huyết truyền thụ cho các con những hiểu biết ban đầu về thế giới tự nhiên và xã hội. Tất cả những câu hỏi ngây thơ, ngộ nghĩnh của các con đều được Bà giải thích cặn kẽ, rõ ràng, dễ hiểu. Là một người mẹ chuyên cần, chăm chỉ, Bà luôn chú trọng dạy các con yêu lao động, biết làm những điều phù hợp với lứa tuổi của mình một cách say mê, sáng tạo. Bất cứ ở đâu, bà Loan cũng thể hiện một lối sống trong sáng, có nghĩa, có tình khiến ai cũng yêu quý, kính trọng. Bằng tấm lòng và sự mẫn cảm của người mẹ, Bà đã vun trồng, uốn nắn, dạy dỗ các con những bài học đầu tiên về cách sống, về đạo lý làm người. Vì vậy, ngay từ nhỏ, những người con của Bà đã có chí hướng, sống chan hòa gắn bó với cộng đồng và giàu tâm huyết với quê hương, đất nước.

Xót xa thay! Chính vì lao động quá sức, đời sống kham khổ, Bà Hoàng Thị Loan đã lâm bệnh nặng và qua đời ở tuổi 33 vào ngày 10-2-1901 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý) tại Kinh đô Huế. Thi hài của Bà được mai táng ở núi Tam Tầng, bên dòng sông Hương. Năm 1922, hài cốt của Bà được cô Thanh – con gái Bà đem về mai táng tại vườn nhà ở làng Sen (Kim Liên) và đến năm 1942, lại được cậu con trai Nguyễn Sinh Khiêm đưa lên cải táng trên ngọn núi Động Tranh Thấp trong dãy Đại Huệ. Năm 1984, để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã sinh thành, dưỡng dục anh Nguyễn Sinh Cung tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh (cũ) và lực lượng vũ trang Quân khu 4, thay mặt cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, đã xây dựng Khu mộ của Bà khang trang, đẹp mắt.

Nếp sống giản dị, thanh cao, yêu lao động, giàu nhân nghĩa, mang đậm bản sắc địa phương và truyền thống dân tộc của bà Hoàng Thi Loan đã thể hiện rất rõ trong nhân cách, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau mãi mãi trân trọng và tri ân Bà. Trong một lần đến viếng mộ Bà, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Cụ – Người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã mang lại vinh quang cho đất nước Việt Nam, Người mà mọi người Việt Nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ mãi mãi ghi ơn!

Nguyễn Thị Hiệp

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh là tấm gương phản chiếu phẩm chất của một người thầy mẫu mực.

“Đầu năm 1911, Người bỏ học. Trên đường ra nước ngoài, Người qua Phan Thiết và đã dạy học trong một thời gian ngắn tại trường Dục Thanh, một trường tư do một số văn thân yêu nước lập ra” [1, tr.15]. Đây là trích đoạn trong tập sách Chủ Tịch HồChí Minh, tiểu sử và sự nghiệp. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh đã từng là một thầy giáo trước khi trở thành một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong bài viết này, tính chất mẫu mực của người thầy trong nhân cách Hồ Chí Minh mà chúng tôi tìm hiểu bao hàm nhiều phương diện ý nghĩa hơn là khái niệm một thầy giáo đơn thuần, bởi nhân cách và trí tuệ của Người được trui rèn và tỏa sáng trong suốt một quá trình đấu tranh lâu dài không mệt mỏi cho nền độc lập dân tộc, cho sự thống nhất nước nhà.

hồ chí minh
1.Hồ Chí Minh là tấm gương phản chiếu phẩm chất của một người thầy mẫu mực 

Xét về cách giải quyết vấn đề, Hồ Chí Minh có một thế giới quan khoa học. Ở Người, ta thấy một lối nghĩ, lối làm rất khoa học, chính xác và quyết đoán. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, Người sớm tiếp xúc và tham gia các phong trào yêu nước. Trong những năm học ở Trường Quốc học Huế (1905 – 1910), Người đã làm liên lạc cho một số nhà nho yêu nước lúc bấy giờ. HồChí Minh sớm nhận thức và rất nhanh nhạy trong việc đánh giá đường lối đấu tranh của các phong trào yêu nước. Người thấy rằng, phong trào Cần vương thất bại là vì không tập hợp được quần chúng; cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám sớm tan rã vì không có đường lối rõ ràng; chủ trương của cụ Phan Chu Trinh thì có tính cải lương; còn cụ Phan Bội Châu lại dựa vào Nhật để đánh thực dân Pháp, khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Vì thế, Người đã quyết tâm đi tìm con đường cứu nước mới _ con đường dân tộc độc lập, dân chủ tự do. Năm 1911, Bác đã rủ một người bạn ra nước ngoài xem họ làm thế nào để về giúp đồng bào thì người kia hỏi lấy tiền đâu mà đi, Bác vừa trả lời “Đây, tiền đây” [2, tr.14] vừa giơ hai bàn tay ra; và rồi Bác đã đồng ý làm bất cứ việc gì để được đi ra nước ngoài. Chính lòng yêu nước vô bờ bến và sự quyết đoán ấy, BácHồ đã tìm được con đường cứu nước mới và trở thành thành viên của Đệ tam Quốc tế. Từ sau năm 1940, Bác trở về nước cùng Trung ương Đảng chuẩn bị tổng khởi nghĩa và thực hiện thành công cuộc tổng khởi nghĩa vào năm 1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước, cho con người Việt Nam. Người được bầu làm Chủ tịch nước. Trong vai trò mới, Người đã dũng cảm và khéo léo chèo chống con thuyền cách mạng vượt qua hết khó khăn này đến gian nguy khác bằng chính cách nhìn nhận, đánh giá tình thế cách mạng một cách khoa học, chính xác và táo bạo. Cụ thể nhất là việc Người đặt bút ký với Sainteny _ đại diện của Pháp, bản Hiệp định ngày 6 tháng 3 năm 1946, mà theo căn cứ của Bản hiệp định thì nước Việt Nam thừa nhận ở trong khối Liên hiệp Pháp, cho phép 15.000 lính Pháp đổ bộ vào Bắc và Trung bộ Việt Nam để thay thế quân Tưởng. Trước sự nghi ngờ của dư luận cho rằng Hồ Chí Minh đã bị Pháp mua chuộc, Bác đã dõng dạc tuyên bố trước nhân dân : “Hồ Chí Minh không và sẽ không bao giờ là một người bán nước”, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan buộc ta phải tạm thời nhượng bộ Pháp. Và chính nhờ hiệp định này nhân dân ta tránh được cuộc đối đầu trực tiếp vớinhiều thế lực thù địch để có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Hồ Chí Minh là người không ngừng học hỏi để hoàn thiện bản thân, nắm bắt tri thức nhân loại. Ví như, để học tiếng Anh, Bácđã một mình đến Luân Đôn. Và để có thể sống ở Luân Đôn, Bác đã phải làm đủ nghề cực nhọc với những đồng lương rẻ mạt như: nhận cào tuyết trong một trường học, việc đốt lò trong xưởng, việc rửa chén bát trong nhà hàng. Rồi ta lại thấy rất rõ điều này qua việc Bác học tiếng Pháp. Bác học từng chữ một khi trên tàu lênh đênh ra nước ngoài nhờ vào hai thanh niêngiải ngũ người Pháp; hay để viết được báo bằng tiếng Pháp cho đúng, Bác luôn viết thành hai bản, một bản nhờ người khác sửa, một bản giữ lại để sau này đối chiếu đúng sai; lúc đầu viết ngắn, sau lại viết dài rồi rút gọn lại. Chính lòng kiên trì và sự miệt mài học tập, Bác đã viết được những bài báo, vở kịch được công chúng khen ngợi. Bác lại thường xuyên tham gia những buổi thảo luận của những người trong Đảng xã hội Pháp. Rồi Bác lại đến nước Nga để được gặp Lê Nin, nhưng đã không kịp vì Lê Nin đã mất trước đó mấy ngày. Ngay lúc ấy, Bác liền liên lạc với những người quen và bắt đầu học tiếng Nga để thuận việc tiếp xúc với lí tưởng chủ nghĩa xã hội Nga. Có thể nói, trí tuệ của Hồ Chí Minh là kết tinh của một quá trình phấn đấu, học hỏi không ngừng với niềm khát khao vươn tới trí tuệ nhân loại và tình yêu nước sâu sắc.

2. Hồ Chí Minh luôn thể hiện năng lực của một người thầy mẫu mực 

Ở Người, ta thấy một sự cảm hoá rất mạnh mẽ. Sự cảm hoá ấy dựa trên sự chia sẻ, đồng cảm và yêu thương qua suy nghĩ, lời nói và hành động. Nhờ năng lực đó mà Bác đã được những người Pháp, người Anh, người Nga nhiệt tình dạy cho những thứ tiếng của họ. Đặc biệt thời gian ở Luân Đôn, khi đang làm chân phụ dọn dẹp ở tiệm ăn Các lơ tông, với hành động giữ lại những phần ăn thừa như thịt gà, bit tết… một cách cẩn thận và sạch sẽ để chia cho những người nghèo, Bác đã được Ét Cốp Phi E _ một ông vua đầu bếp thời bấy giờ cho lên phụ bếp, lại dạy cho cách nấu ăn và tăng lương. Việc này đối với tiệm ăn Các lơ tông là chưa có tiền lệ. Hay một ví dụ khác, vào năm 1922, Bác cùng với những người trong Ban thường vụ Hội Liên hiệp thuộc địa họp bàn việc cho xuất bản Báo Người cùng khổ nhưng không thành công vì thiếu tài chính. Nhưng Bácquyết vẫn cứ cho ra Báo Người cùng khổ bằng cách quyên góp tiền từ công chúng. Trong các cuộc mít tinh, Bác thường lên diễn đàn và nói: “Các bạn thân mến! Báo Người cùng khổ phát không, nhưng hết sức cảm ơn nếu các bạn vui lòng quyên góp ít tiền để giúp chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan, ít nhiều cũng tốt” [2, tr.44]. Thế là Báo Người cùng khổ được phát hành.

Ngoài sự cảm hoá nhân dân, quần chúng, mọi tầng lớp bằng hành động cụ thể, Bác còn cảm hoá họ bằng những câu văn, bài thơ, lời kêu gọi chứa chan tình thương và nhiệt huyết. Với các văn nghệ sĩ, những người lính, Bác thường xuyên viết thư thăm hỏi, động viên; với các cháu thiếu nhi, không trung thu nào là Bác không viết những vần thơ yêu thương, khích lệ. Ví như trong Thư trung thu năm 1952, có đoạn :

“Ai yêu nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh
Mong các cháu cố gắng
Thi đua học và hành.”[3, tr.81]

Hay như “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 20 tháng 12 năm 1946 có đoạn viết :
“Không. Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước” [1, tr.98]. Sau lời kêu gọi này là hàng loạt phong trào thi đua yêu nước được ra đời như: thi đua diệt giặc đói, giặc dốt, thi đua giết giặc, thi đua sản xuất. Có thể nói là “người người thi đua, nghành nghành thi đua”.

Hồ Chí Minh luôn có lối sống mẫu mực, chân thành, giản dị mà đầy tình nghĩa. “…Chúng tôi đều nhìn Bác, một vị Chủ tịch nước trong bộ quần áo kaki bạc màu, chân đi dép, hiện thân của sự giản dị, trong sáng, một mẫu người tuổi trẻ mà chúng tôi hằng mong đợi, ước mơ” [4, tr.79]; hay “…Bác Hồ là tinh hoa của những tinh hoa Việt Nam, tổng hợp của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc, của thời đại” [5, tr.209]. Với một lời cảm nhận, một lời nhận xét trên của những người đã từng tiếp xúc với Bác cho ta thấy: Hồ Chí Minh là mẫu đạo đức, tác phong của những người cách mạng được gần gũi và làm việc cùngBác. Bác luôn nêu lên những chuẩn mực đạo đức mới, tự mình thực hiện và phổ cập đế mọi người cùng thực hiện. Bác luôn coi đạo đức là cái gốc của con người, đặc biệt là người cách mạng. Mà có lẽ đạo đức ấy là sự quyết tâm tự đấu tranh để hoàn thiện bản thân và chiến thắng cái xấu trong cuộc sống. Ta có thể thấy rất rõ điều này qua những lời nói, việc làm bình dị nhất từ con người Hồ Chí Minh như trong cách xưng hô: nói với toàn dân thì “thưa đồng bào”, nói với cấp dưới là “các chú”, nói với thiếu nhi là “bác” với “cháu”; trong cách ăn mặc Bác cũng rất giản dị “…Khi ở Pari về, người ta thấy Hồ Chí Minh mặc một bộ kaki đã vá. Có người yêu cầu Chủ tịch thay bộ áo quần khác. Chủ tịch đáp: Nhiều đồng bào ta có được bộ quần áo này cũng là tốt lắm. Thế thì việc gì phải thay” [2, tr.148]. Còn khi về Hà Nội, Bác sống trong một ngôi nhà sàn đơn sơ vớinhững vật dụng cần thiết nhất. Vậy đấy, Bác là chân dung của một nhà cách mạng vì nước quên thân, vì dân phục vụ.

Hồ Chí Minh lại là người có tài quản lý và tổ chức. Ví như câu chuện bác chọn Phó Thủ tướng : “… Bác đọc danh sách, thấy đồng chí nào cũng có quá trình phấn đấu đáng tin cậy. Nhưng Bác suy nghĩ và phân tích: chú này có quá trình khái quát nhanh, chú kia chặt chẽ về tài chính…nhưng làm Phó Thủ tướng ngoài năng lực, ý chí tổ chức kỉ luật và tinh thần trách nhiệm, cần phải sâu sát tình hình thực tế, tổ chức thực hiện kiểm tra đôn đốc… Bác thấy chú Mười là đủ tiêu chuẩn vừa nói nhưng đểBác xem sức khoẻ thế nào đã.” [4, tr.48]. Thế là Bác mời đồng chí Đỗ Mười đến nói chuyện, lại mời cùng ăn cơm. Sau rồi,Bác suy nghĩ và quyết định đồng chí Đỗ Mười làm Phó Thủ tướng, nhưng lại quy định chỉ được làm việc ban ngày để đảm bảo sức khoẻ làm việc lâu dài. Ngoài ra, ta còn thấy sự tài tình của Bác trong việc tổ chức và quản lý bộ máy nhà nước, chính quyền cách mạng trong nhiều tình huống vào những hoàn cảnh khác nhau như khi mới thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời, khi tổ chức chiến dịch biên giới… Thế mới biết, Bác rất cẩn thận và tỉ mỉ trong việc tuyển chọn “đầy tớ” của nhân dân, những cán bộ cốt cán có đủ năng lực và phẩm chất để đưa con thuyền cách mạng đến với chiến thắng cuối cùng.

Cuộc đời của Hồ Chí Minh, sự nghiệp của Hồ Chí Minh là tấm gương để mỗi người dân Việt Nam noi theo và phấn đấu. Đặc biệt, ngày nay, những Thầy, Cô giáo trẻ lại càng phải học tập tấm gương đạo đức và nhân cách của Hồ Chí Minh. Đó là học tập cách nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượng một cách khách quan khoa học, để có thể nắm bắt tri thức và không ngừng bồi dưỡng kiến thức; học cách cảm hoá, quản lí con người thông qua việc rèn luyện lối sống chân thành, trung thực, giản dị giàu tình nghĩa nhưng công bình và liêm chính.

ThS. Lê Sỹ Đồng 
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân Văn


Tài liệu tham khảo
1. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự Thật, 1975.
2. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự Thật, 1975.
3. Trúc Chi, Hồ Chí Minh vẻ đẹp bên trong của viên ngọc, Nxb Thanh Niên, 2000.
4. Phan Hiền, Bác Hồ với sự nghiệp trồng người, Nxb Trẻ, 2004.
5. Hà Huy Giáp, Bác Hồ người Việt Nam đẹp nhất, Nxb Thanh Niên, 1977.
6. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội, 2003.

tdmu.edu.vn

Tìm hiểu thực chất và ý nghĩa của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học.

Picture3.jpg
Hồ Chí Minh – Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tuấn Anh

Là học trò của C.Mác, Ph. Ăng ghen, V.I.Lênin nên thế giới quan, tư duy triết học của Người là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Người đã bảo vệ và phát triển tư duy triết học trên nền tảng triết học Mác – Lênin. Khác với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lê nin, Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm triết học như: Hệ tư tưởng Đức, Luận cương Phoiơbắc, Biện chứng của tự nhiên, Bút ký triết học… Bởi vì, Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, dẫn đường và nhiệm vụ của Người là cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Chính nhiệm vụ này đã cuốn hút Người với tất cả tinh thần và sức lực, làm cho Người sống gần gũi với nhân dân, đem tinh tuý, sâu sắc của triết học diễn đạt thành những điều giản dị, cụ thể, rõ ràng và thiết thực để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng, phải có một trình độ triết học sâu sắc, uyên bác, Hồ Chí Minh mới có thể chuyển hoá thành triết học của cuộc sống. Nhờ đó, người trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tình hình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tế, có hiệu quả; đồng thời không rơi vào dao động, không mắc phải sai lầm ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí cũng như giáo điều, xét lại; mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữ triết học.

Nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tưởng triết học sâu sắc. Hồ Chí Minh đã dựa chắc vào vấn đề cơ bản triết học để giải quyết mối quan hệ giữa việc nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa phát triển sản xuất với củng cố hệ thống chính trị, tăng trưởng kinh tế với phát triển giáo dục văn hoá và nhiều mối quan hệ khác như mối quan hệ giữa xây dựng đất nước với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với thời đại, giữa kháng chiến với kiến quốc. Rõ ràng, khi giải thích hàng loạt các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nói tới triết học, bàn tới triết học và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh thể hiện rõ những giá trị nhân văn đặc sắc, tràn đầy tinh thần biện chứng duy vật. Trong đó có sự hoà quyện đến nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh hoa văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây và lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người, chúng ta nhận thấy ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phép “biến dịch” của triết học phương Đông và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Thế giới quan Hồ Chí Minh là thế giới quan khoa học. Trong đó, thế giới quan triết học Mác – Lênin đóng vai trò quyết định bản chất khoa học, cách mạng. Thế giới quan của Người còn ảnh hưởng của tư tưởng triết học dân tộc, của tinh hoá văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây. Về khuynh hướng tư duy, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đi sâu lý giải các vấn đề xã hội và nhân sinh. Bởi lẽ, xuất phát từ hoài bão lớn lao và mục đích chính trị cao cả là “cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc” nên Người đặc biệt chú trọng xây dựng lý luận về chính trị – xã hội, đạo đức cách mạng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn hơn là hình thức học thuyết triết học, nhận thức và lôgíc học như các nhà triết học vẫn thường làm.

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sản phẩm của quá trình hoạt động tư duy lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người có vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Chính tư tưởng, quan điểm triết học của Người cùng với triết học Mác -Lênin luôn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta không thể hiểu rõ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh nếu như không hiểu cái gì là cốt lõi quy định cách nhìn, cách nghĩ và phương pháp cách mạng cũng như cái gì là trung tâm dẫn dắt đồng bào ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đã đi vào thực tiễn xã hội Việt Nam, lấy cái cốt lõi là giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống hoà bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào làm mục đích hướng tới, đạt tới. Đây thực chất là những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với việc bảo vệ và phát triển triết học Mác – Lênin trong điều kiện lịch sử mới, nhất là việc phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Những cống hiến của Hồ Chí Minh trong phát triển triết học Mác -Lênin là tư tưởng về giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực ra hai khái niệm này đều được Hồ Chí Minh dùng cùng một nội hàm như nhau. Đối với Hồ Chí Minh, thực tế không đối lập với thực tiễn, nó chỉ rộng hơn thực tiễn mà thôi. Khi bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác -Lênin, Hồ Chí Minh dùng khái niệm thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn thì Người thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, khái niệm thực tiễn và thực tế được nhân dân ta hiểu và sử dụng cùng nghĩa (xem từ điển Tiếng Việt 1991).

Trong thế giới quan triết học của Hồ Chí Minh, vấn đề con người chiếm vị trí hết sức quan trọng. Phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề con người ở Hồ Chí Minh không phải là chung chung, trừu tượng, phi lịch sử như trong triết học nhân bản mà là con người hiện thực, con người lao động “đồng bào tôi”. Trọn đời mình, Người phấn đấu, hy sinh là nhằm mục đích đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm cho đồng bào. Chủ nghĩa nhân văn hiện thực cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện ở lòng thương yêu con người, tôn trọng, tin tưởng ở nhân dân, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.

Có thể khái quát tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo đạt đến sự nhuần nhuyễn giữa tư duy triết học Mác -Lênin mà cốt lõi là tư duy biện chứng duy vật trong sự hoà quyện với tư duy duy triết học và văn hoá phương Đông, phương Tây, tư duy, trí tuệ, văn hoá dân tộc Việt Nam và phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra bản chất, quy luật và hình thành nên hệ thống luận điểm về chủ nghĩa thực dân, về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội …có những quyết định đúng đắn, sáng tạo, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Từ quan niệm trên, có thể thấy tư tưởng triết học Hồ Chí Minh có một số đặc trưng cơ bản như sau:

Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động. Sự kết hợp này vừa là đặc trưng tư duy triết học Hồ Chí Minh vừa là nguyên tắc của Hồ Chí Minh nhận thứ và hành động. Thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng triết học của Người.

Tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sự hoàn chỉnh chu kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn hoạt động cách mạng Việt Nam.

Tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng. Có thể coi đây là đặc trưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh.

Việc nắm vững thực chất phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lê nin và truyền thống triết học phương Đông, nắm vững ngôn ngữ của quần chúng nhân dân và quan hệ mật thiết với họ đã giúp Người diễn đạt tư tưởng triết học duy vật biện chứng vốn là tư duy khoa học, có hàm lượng trí tuệ cao, có sự trừu tượng hoá và khái quát cao, sâu sắc trở nên phổ thông, dễ hiểu mà vẫn giữ được bản chất khoa học, cách mạng của nó.

Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: nắm vững quan điểm thực tiễn và thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; giải quyết mọi việc phải toàn diện, nhấn mạnh trọng điểm và lấy hiệu quả làm mục đích; xem xét sự việc trong sự phát triển, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; giải quyết mọi việc đều vì con người, do con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Về thực chất, đó là phép biện chứng Hồ Chí Minh, là phương châm xem xét và hành động khoa học được Hồ Chí Minh đúc kết từ sự tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển phép biện chứng duy vật mác-xít, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tư duy triết học phương Đông và thực tiễn giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam.

Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú mà nền tảng của nó là tư tưởng triết học. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo triết học Mác -Lênin mà còn có sự phát triển Triết học Mác -Lênin, nhất là một số vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, giàu có thêm kho tàng lý luận Mác -Lênin nói chung, triết học Mác -lênin nói riêng. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

PGS, TS Nguyễn Bá Dương
Theo cpv.org.vn

hochiminhhoc.com

Bác Hồ qua những bức ảnh tư liệu của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

“… Hồ Chí Minh mà chúng tôi ví như Pierre le Grand (Pie Đại Đế), Hochimagne, nhưng hơn… Cả đến ngọn lúa cũng gợi hình ảnh Hồ Chí Minh. Sao chưa có kịch, có tiểu thuyết tả người anh hùng ấy? Có khi không phải tả, nhưng nhân vật vẫn trội lên, đẹp đẽ, lớn lao và ở đâu cũng có mặt”.

Cha tôi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã ghi những dòng nhật ký này ngày 24.10.1947, giữa những bộn bề công việc của buổi đầu kháng chiến. Khác với một số đồng nghiệp bấy giờ còn lúng túng chưa biết viết gì và viết như thế nào, cha tôi đã sớm có được những tác phẩm ngợi ca Cách mạng và vị lãnh tụ của dân tộc. Với những bài ký về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tạp chí Tiên Phong cuối năm 1945 đầu năm 1946 và sau đó là những bài đăng trên Văn Nghệ kháng chiến, cha tôi là một trong những người đầu tiên viết về Người. Nói như giáo sư Phong Lê, “Nguyễn Huy Tưởng xứng đáng thuộc số người sớm và hiếm hoi thỏa mãn một nhu cầu tinh thần lớn của nhân dân trong cuộc đổi đời của dân tộc sau 1945. Qua các trang ghi linh hoạt này Nguyễn Huy Tưởng cũng là người sớm phát hiện ra cái giản dị, cái thường ngày của một con người vĩ đại, con người trong sự ngưỡng mộ, thành kính của dân tộc”… Những bài viết đó, sau khi về Tiếp quản Thủ đô, cha tôi đã tập hợp lại in thành một tập sách lấy tên là Gặp Bác, như để mừng ngày Hồ Chủ tịch và Chính phủ về lại Thủ đô, 1.1.1955.

Tuy nhiên, qua những dòng nhật ký trên của cha tôi, có thể thấy ông chưa hài lòng với những gì đã viết, mà đòi hỏi mình cao hơn. Không phải chỉ những bút ký, ghi chép, mà là “kịch”, là “tiểu thuyết” – những tác phẩm cần đến sự khái quát rất cao. Thực tế là sau này, khi viết kịch Những người ở lại hay Ký sự Cao Lạng, rồi kịch bản phim Lũy Hoa…, ông đã lồng vào đó những trang thật cảm động về lãnh tụ. Nhưng chắc chắn mong muốn của ông không dừng ở đó. Nếu cha tôi không bị bạo bệnh mất sớm, tôi dám chắc thế nào ông cũng có một vở kịch hay một tiểu thuyết riêng về Bác. Hồi ký của nhà thơ Tố Hữu, nhà văn Tô Hoài, nhà văn Kim Lân, nhà văn Nguyên Hồng… đều cho biết cha tôi rất kính yêu lãnh tụ và say sưa với đề tài Bác Hồ. Nhiều trang nhật ký của cha tôi cũng chứng thực điều đó. Ở bài viết này, tôi muốn nói đến một số kỷ vật khác, cho thấy mối quan tâm đặc biệt của cha tôi đối với Bác. Đó là những tấm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cha tôi có được và mẹ tôi đã lưu giữ sau khi ông qua đời.

Tấm ảnh đầu tiên xin được nói đến là bức chân dung Hồ Chủ tịch trong kháng chiến, in trên giấy ảnh khổ 42x53mm (ảnh 1). Mặt sau có đóng dấu: “Ảnh của Đoàn nhiếp ảnh Việt Nam – Nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành – Chụp lại phải xin phép”. Tấm ảnh không đề ngày, nhưng qua những hàng chữ trên, ta có thể biết thời điểm ra đời của nó là sau khi NXB Văn Nghệ đã thành lập và đi vào hoạt động, tháng 3.1948. Bấy giờ cha tôi làm Thường vụ Hội Văn Nghệ Việt Nam, trực tiếp giải quyết những vấn đề thường nhật của Hội cũng như các cơ quan trực thuộc là báo Văn Nghệ và Nhà xuất bản. Rất có thể ông đã cho xuất bản bức chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh để phát hành rộng rãi, đáp ứng nhu cầu tình cảm của nhân dân đối với lãnh tụ, đặc biệt trong những ngày đầu kháng chiến.

Tấm ảnh tiếp theo tôi muốn giới thiệu ghi lại hình ảnh Bác đang cùng một số người xem tranh, có kích thước 50x50mm (ảnh 2). Đằng sau có bút tích của cha tôi, viết bằng bút chì, nay đã mờ nhưng vẫn còn đọc được: “Cụ Hồ Chủ tịch cùng với mấy vị trong Đoàn Đại biểu Nam Bộ đương xem bức tranh của họa sỹ Diệp Minh Châu gửi ra kính dâng Cụ. – ảnh BTCH, X-1948”. Đây chính là bức tranh nổi tiếng vẽ bằng máu của họa sỹ Diệp Minh Châu mà trên ảnh đen trắng ta không thể nhận ra màu sắc. Còn mấy chữ BTCH có lẽ là viết tắt của Bộ Tổng chỉ huy, cơ quan giữ bản quyền tấm ảnh này. Riêng về mấy người cùng xem tranh với Bác, từ nhật ký của cha tôi ta có thể biết thêm đôi điều về họ. Ngày 21.11.1948 cha tôi ghi: “Gặp anh em trong phái đoàn Nam Bộ: Cha Kính, trẻ như một sinh viên, Tần, Thanh niên, Khung, Lao động…” Thời gian đã quá xa để có thể biết ai là linh mục Nguyễn Bá Kính, đại biểu Liên đoàn công giáo Nam Bộ, ai là Nguyễn Văn Tần, đại biểu Thanh niên Nam Bộ, ai là Phạm Văn Khung, đại biểu Liên hiệp công đoàn Nam Bộ… Nhưng dù họ là ai, thuộc thành phần nào, trên ảnh tất cả đều như những đứa con xúm xít quanh vị cha già dân tộc.

Tấm ảnh thứ ba ghi lại hình ảnh Hồ Chủ tịch đang tăng gia cùng cán bộ, chiến sỹ (ảnh 3). Đằng sau có đề: “Kỷ niệm Đại hội Quốc hội Việt Nam lần thứ 3 (1953)”, bên dưới đóng dấu “Ban Thường trực Quốc hội”. Ảnh có kích thước 75x75mm, xung quanh có khung và phía dưới để chỗ cho chữ ký của Hồ Chủ tịch. Vậy là đã rõ. Đây là quà của Bác tặng các đại biểu dự Kỳ họp thứ ba Quốc hội Khóa I, đầu tháng 12.1953, Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất. Quý nhất là chữ “Hồ Chí Minh” Bác ký tặng đến nay sau hơn nửa thế kỷ nét mực tím vẫn còn tươi nguyên, trong khi bản thân tấm ảnh đã phai ít nhiều. Cùng với tấm ảnh này, cha tôi còn để lại một bức nữa cũng y vậy, chỉ khác là nhỏ hơn, cũ hơn và không có khung cũng như không để chừa rộng ở phía dưới. Có thể là từ bức ảnh ấy người ta đã làm thành tấm ảnh to hơn, rộng rãi hơn để Bác ký tặng. Nhưng liệu cha tôi có tham gia gì vào việc này, liệu có phải NXB Văn Nghệ mà ông là người lo toan gánh vác đã in tấm ảnh đó, thì chẳng thể có cơ sở gì để khẳng định. Chỉ biết ở mặt sau tấm ảnh, phía trên, cha tôi đã ghi tên mình, “Nguyễn Huy Tưởng”, một cách thật nắn nót, chứng tỏ ông rất coi trọng việc mình có tấm ảnh này!

Bức thứ tư là ảnh Hồ Chủ tịch chụp cùng một cụ ông mặc quốc phục, bên cạnh là micrô, đèn chiếu… (ảnh 4). Cùng với tấm ảnh này, cha tôi còn để lại một tấm khác nữa cũng có chung kích thước (115x82mm), ghi lại hình ảnh Bác vừa đọc diễn văn vừa khóc. Cả hai bức ảnh không có ghi chú gì, nên ta không thể biết cụ thể về nội dung của chúng. Nhưng qua nhật ký của cha tôi, tôi có thể suy đoán mà không sợ sai rằng, đó là ảnh chụp Hồ Chủ tịch tại Kỳ họp thứ sáu Quốc hội Khóa I, cuối năm 1956. Ngày 29.12.1956, cha tôi ghi nhật ký: “Hồ Chủ tịch… đọc bài chào mừng, nhắc đến miền Nam, khóc”. Đây quả là những hình ảnh gây xúc động mạnh trong lễ khai mạc, và tôi đoán rằng Văn phòng Quốc hội đã làm để tặng các đại biểu. Thế nhưng người chụp cùng Bác là ai? Phải chăng là một vị nhân sỹ trong Quốc hội, hay một bậc cao niên thay mặt nhân dân Thủ đô lên chào mừng Hồ Chủ tịch và Quốc hội? Có điều chắc chắn, bức ảnh toát lên một tinh thần đại đoàn kết dân tộc mà Hồ Chủ tịch là tiêu biểu, nó khiến ta nhớ tới những câu chuyện cảm động về Cụ Hồ với cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng), cụ Hồ với cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn), hay với nhiều cụ ông, cụ bà khác…

Bức cuối cùng mà tôi muốn nói tới là tấm ảnh Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa Dân chủ Đức, giữa năm 1957 (ảnh 5). Bên Bác là một vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Đức đi tháp tùng mà ta có thể đoán ra, còn xung quanh là các lưu học sinh và thày cô giáo đang học tập và công tác tại nước bạn. Một trong những lưu học sinh ấy, người ngồi cạnh Bác, phía bên phải, chính là chị gái cả của tôi, chị Nguyễn Thị Hiền. Bấy giờ chị tôi đang theo học tại CHDC Đức và chị đã vinh dự được chụp ảnh cùng Bác trong chuyến thăm nước bạn của Người. Chị tôi đã gửi tấm ảnh này cho các bạn Đức kèm theo lời giới thiệu đầy tự hào: “Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu của chúng tôi mà các bạn muốn biết là trên tấm ảnh trên đây”…

Có thể những câu chuyện trên đây ít nhiều mang tính riêng tư. Có thể có nhiều người khác nữa cũng đang có những tấm ảnh như thế, thậm chí đã từng công bố… Ở đây tôi chỉ muốn được nói rằng, những tấm ảnh đó chính là một phần của cuộc đời cha tôi, một phần thuộc đời sống tinh thần của gia đình chúng tôi.

Nguyễn Huy Thắng

sites.google.com

Duyên nợ của Bác với báo chí

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân. Mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó…

Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí. Các cô, các chú đã có những ưu điểm như đã đóng góp vào cuộc kháng chiến thắng lợi, xây dựng hòa bình và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã cố gắng làm việc. Gần đây, sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương, các đồng chí đã thấy rõ công việc báo chí là rất quan trọng, và đã thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của mình. Như thế là tiến bộ.

Bệnh dùng chữ

Ưu điểm của các cô, các chú không ít. Nhưng khuyết điểm thì còn nhiều. Trong các đồng chí cũng còn có người hoặc ít hoặc nhiều chưa thoát khỏi ảnh hưởng tư sản và tiểu tư sản, cho nên nắm vấn đề chính trị được chắc chắn. Nói về văn nghệ, Bác thú thật có ít thì giờ xem các bài văn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà, dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy.

Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài. Cái bệnh dùng chữ, là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái ngược lại báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị… thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được.

Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại nói “ca vũ”?… Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm. Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội nhân dân… đều dùng chữ nhiều lắm.

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.

Khoa học ngày càng phát triển, có những chữ mới mà ta chưa có, thì ta phải mượn. Ví dụ: ta phải nói “kilô”, vì nếu nói chữ “cân”, thì không đúng nghĩa là 1.000 gram. Song những chữ dùng tiếng ta cũng đúng nghĩa thì cứ dùng tiếng ta hơn. Có những người hình như sợ nói tiếng ta thì nói xấu hổ thế nào ấy! Họ làm cho các cháu học sinh cũng bị lây bệnh nói chữ, như “phụ đạo”, “giáo cụ trực quan”… Thật là tai hại!

Nghề báo – khó như mọi nghề khác

Mấy khuyết điểm nữa: Sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương về báo chí, có một số đồng chí tiến bộ, những cũng có một số vì trình độ văn hóa chính trị còn kém thì đâm ra bi quan và muốn đổi làm nghề khác. Họ không biết rằng nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ. Phải có ý chí tự lập, tự cường, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng.

Có người chỉ muốn làm cái gì để “lưu danh thiên cổ” cơ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng. Những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra. Họ không thấy rằng: làm việc gì có ích cho nhân dân, cho cách mạng đều là vẻ vang. Bất kì việc gì mà mình là tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang. Trong các anh hùng, chiến sĩ lao động có người là công nhân, là nông dân, có người làm thầy thuốc, có người đánh giặc giỏi… và có người dọn cầu xia cũng trở thành chiến sĩ. Tóm lại, trong lao động không có nghề gì là hèn, chỉ có lười biếng mới là hèn. Làm tròn nhiệm vụ thì công tác nào cũng vẻ vang.

Nói về Hội Nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiêm vụ của mình, và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng.

Viết báo – là viết cho nhân dân

Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phải phục vụ ai?

Có người nói ở các nước tư bản có tự do báo chí và báo chí không có giai cấp. Nói vậy đúng không. Ví dụ: Các báo Pháp như báo Figaro, báo Nước Pháp buổi chiều… một mặt nó ru ngủ nhân dân, chia rẽ nhân dân, làm cho nhân dân mất chí khí phấn đấu, mất tinh thần đoàn kết giai cấp. Mặt khác, nó phục vụ giai cấp tư bản. Đó là những tờ báo chính trị. Lại còn những tờ báo “giật gân”, báo nói về ái tình, báo chuyên về lôi chuyện bí mật của những người có tiền ra để tống tiền… Tất cả báo chí ấy đều phục vụ lợi ích cho giai cấp bóc lột. Báo chí Pháp có thật tự do không? Không! Ví dụ báo Nhân đạo thường bị bọn thống trị tìm mọi cách để phá: nào phạt tiền, nào cho bọn du côn phá phách, nào làm khó khăn về giấy in, nhiều khi báo bị tịch thu…

Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, vv.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.

Mục đích chung của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Nhưng mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó. Về hình thức thì không rập khuôn; rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán.

Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập tốt chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Trong nghề báo ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài.

…Trên đây nói nhiều về người viết báo. Nhưng trong nghề làm báo còn có nhiều ngành khác, như ngành in mà các cô, các chú thích nói chữ gọi là ngành “ấn loát” cũng rất quan trọng. Bởi vì có những lúc không cẩn thận, in thiếu dấu, thiếu nét, hoặc in lờ mờ không rõ. Người viết bài thích dùng chữ, như gọi người đánh cá là “ngư dân”, rồi người đi in lại in thiếu dấu ở chữ u, hóa ra “ngu dân”. Đấy chỉ là một ví dụ để thấy rằng việc in cũng phải làm cho tốt.

Việc phát hành cũng rất quan trọng. Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem. Giá tiền báo cũng cần phải đúng mức. Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành… đều phải khớp với nhau.

Bác học viết báo

Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam. Còn học thì một là học trong đời sống của mình, hai là học ở giai cấp công nhân.

Lúc ở Paris, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu được. Một đồng chí công nhân ở tòa báo Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière) cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi, bà bảo Bác có tin tức gì, thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đăng trên báo so sanh với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng nữa… Cứ thế kéo dài đến 15, 20 dòng rồi đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo: “Thôi, bây giờ phải rút viết ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.

Các báo đăng bài của mình đều là báo phái “tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền nào. Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của bọn thực dân.

Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được. Tình cờ đọc một truyện ngắn của L. Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.

Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe. Viết xong đưa đến Nhân đạo và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”. Cách mấy hôm sau, thấy mấy truyện ngắn của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 phờrăng tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo! Với 50 phờrăng có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách….

Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế.

Bác làm chủ bút

Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Các đồng chí thuộc địa Á – Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình đều bao hết. Cách bán báo; bán cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết chữ Pháp nhưng họ vẫn mua vì họ biết báo này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân Pháp đọc cho họ nghe.

Một cách nữa là: ở Paris có những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Là đồng chí với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà không lấy hoa hồng, và họ bán được khá nhiều. Vì các số báo Le Paria vừa ra đều “được” Bộ Thuộc địa Pháp mua gần hết. Còn báo gửi đi các thuộc địa thì mấy chuyến đều bị tịch thu và người đưa báo thì bị bắt bỏ tù. Về sau, anh em thủy thủ Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việt gì. Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra. Sau cùng phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi. Cách gửi như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các thuộc địa.

Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình đưa báo ra phát, rồi nói: “Báo này nói cho các đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí nào có lòng giúp cho báo, thì chúng tôi cảm ơn”. Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5 phờrăng, nhưng “biếu không” thì có khi được tới 10, 15 phờrăng. Vì anh em công nhân có một, hai xu hoặc một, hai phờrăng cũng cho cả.

Khi đi qua Liên Xô đồng chí L. phóng viên báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào… và viết phải ngắn gọn. Cách đây mấy năm, mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình viết. Nhưng L. lại bảo: chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc.

Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung Quốc. Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo…. Thấy bài minh đã được đăng lại được đóng khung, điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết. Nói tóm lại, mình phải học tập không ngừng và phải luôn luôn khiêm tốn.

Đến ngày Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại học viết tiếng ta. Lúc ấy, vấn đề khó khăn là làm thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người đọc.

Năm 1941, mình bí mật về nước. Theo lời dạy của Lênin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay, và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làm báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đi lấy trộm những tấm bia đá, rồi mài mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là phải có một đồng chí phải hì hục tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba, bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí. Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số. Phải đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in, và báo vẫn ra đúng kì. Địch chịu không làm gì được.

Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua nhiều giấy địch cũng nghi, và theo dõi. Các chị em mỗi người đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.

In bản đá, muốn sửa chữa phải dùng a xít, Mà a xít thì mua đâu được? Có đồng chí đã nghĩ ra cách dùng chanh thay a xít. Chị em lại mua chanh để ủng hộ báo.

Còn việc phát hành: Để báo ở các hang đá bí mật Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.

Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng.

Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cũng thắm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm đến cách tuyên truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.

Đề tài duy nhất

Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác với báo chí là như vậy đó.

Kết luận: kinh nghiệm của 40 năm là: không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố học thì nhất định học được. Bây giờ các cô, các chú có điều kiện học tập dễ dàng hơn Bác trước kia. Mong các cô, các chú cố gắng và tiến bộ!

HỒ CHÍ MINH

Trích bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam, 16-4-1959
Hồ Chí Minh toàn tập

quangbinh.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các sắc lệnh trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng

Cách mạng Tháng Tám1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ ra đời nằm giữa vòng vây của thù trong, giặc ngoài, giữa muôn trùng khó khăn.

Muốn giữ vững chính quyền cách mạng, việc đầu tiên là phải củng cố nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân và quản lý nhà nước bằng pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố công tác pháp luật.

Trong vòng 4 tháng sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch đã ký, ban hành 81 sắc lệnh quan trọng, trong đó gần một nửa là những sắc lệnh củng cố hệ thống pháp luật nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm việc thành lập uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp, lập ra các ban thanh tra, kiểm tra, các cơ quan của Chính phủ để giám sát mọi hoạt động theo pháp luật, xây dựng một nhà nước kiểu mới, nhà nước quản lý bằng pháp luật. Đây là sự thay đổi về chất của cả quá trình phát triển nhà nước ở Việt Nam. Thay đổi bộ máy chính quyền quan liêu, bóc lột cũ bằng một hệ thống quản lý nhà nước Việt Nam kiểu mới, thay đổi pháp luật thực dân, phong kiến bằng pháp luật của dân, do dân và vì dân là một sự biến đổi cách mạng triệt để, sâu sắc và cũng là cơ sở tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất của toàn dân, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng.

Những sắc lệnh do Bác Hồ ký trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng trước hết là phục vụ nhân dân và quốc gia, thể hiện ý chí độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, phản ánh tính chất dân chủ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… do đó được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng và kiên quyết bảo vệ.

Sắc lệnh số 40 xoá bỏ tất cả các công sở cũ và các cơ quan thuộc Phủ toàn quyền Đông Dương. Sắc lệnh số 63 về tổ chức UBND các cấp. Tiếp đó là một loạt các sắc lệnh về việc xoá bỏ những chính sách bóc lột, văn hoá, giáo dục đồi truỵ của thực dân phong kiến, lập lại trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước, khẳng định về mặt pháp luật thắng lợi của chính thể dân chủ nhân dân.

Sắc lệnh số 34 về thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp, Sắc lệnh số 39 về thành lập Uỷ ban dự thảo Thể lệ tổng tuyển cử, Sắc lệnh số 46 về tổ chức đoàn luật sư, Sắc lệnh số 53 về quốc tịch Việt Nam… đều thể hiện quyền bình đẳng về chính trị của người dân Việt Nam lần đầu tiên được nói đến và được thực hiện, mặt khác còn là những bản thông điệp cho những ai trong lực lượng đối lập hoặc chưa hiểu, chưa đi theo cách mạng, cho các tổ chức, đoàn thể, nhà nước trên thế giới biết nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một chính thể độc lập, có chủ quyền, có hiến pháp và pháp luật, được thể hiện bằng sức mạnh của chế độ mới, có năng lực tập hợp quần chúng, tập hợp các thế lực cách mạng, có đủ khả năng trấn áp những lực lượng đi ngược lại lợi ích cách mạng và lợi ích của nhân dân.

Những sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong những ngày đầu cách mạng đã thể hiện được tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Người, xoá bỏ hận thù, xoá bỏ sự miệt thị tôn giáo, dân tộc, đảng phái chính trị, tất cả đều bình đẳng trong một môi trường dân chủ, cùng tồn tại, hoà bình để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Mọi người, mọi tầng lớp xã hội nhận thức đúng đắn về chính thể dân chủ nhân dân, nhận thấy quyền lợi của mình được bảo đảm, được tôn trọng, do đó đã tập hợp và liên kết được các lực lượng đông đảo trong xã hội, tạo nên một sức mạnh cộng đồng vô cùng to lớn, bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc.

Hơn 100 ngày sau khi giành được chính quyền cách mạng, thời gian so với chiều dài lịch sử của một dân tộc thì thật quá ngắn, nhưng những bản sắc lệnh ra đời trong bối cảnh đó đã vượt quá khuôn khổ chật hẹp của thời gian, đã ghi vào lịch sử của dân tộc như những mốc son rực sáng nhất.

Từ một nước nô lệ mà ở đó luật pháp chỉ là công cụ phục vụ cho chế độ thực dân, phong kiến, người dân chỉ là những đối tượng bị trấn áp, bóc lột, nay với cách mạng Tháng Tám, Việt Nam đã chuyển sang một thể chế mới, người dân trở thành chủ đất nước, có quyền độc lập, tự do xây dựng một xã hội mới công bằng, hạnh phúc, phát triển.

Những sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong những ngày đầu cách mạng có giá trị như những tuyên ngôn về luật pháp của một chính thể dân chủ nhân dân, là sự khởi đầu, đặt nền móng cho những bước phát triển mới về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Tinh thần của những sắc lệnh đó vẫn là nền tảng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập kinh tế thế giới, trong sự nghiệp CNH, HĐH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trần Minh Hiền
Nha trang, Khánh Hoà

xaydungdang.org.vn

Nghĩ tiếp về lời Bác Hồ: Đảng ta là đạo đức, là văn minh

Trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao/Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình/Đảng ta là đạo đức, là văn minh.  Khái niệm văn minh mà Bác dùng theo tôi hiểu tương ứng với khái niệm trí tuệ, năng lực nhận thức quy luật và hành động cách mạng đúng đắn mà hiện nay chúng ta đang dùng. Để là đội quân tiên phong chỉ có đạo đức thôi chưa đủ, tuy đạo đức là yêu cầu tiên quyết nhưng còn phải có năng lực, trí tuệ, phải biết phân tích chính xác tình hình, đề ra đường lối, chủ trương sát đúng, tổ chức được phong trào thực tiễn, đưa cách mạng tiến lên. Yêu cầu này là chung cho toàn Đảng, cho mọi tổ chức đảng, đến từng đảng viên.

Nhìn lại suốt chặng đường 80 năm qua, tuy cũng có lúc mắc phải sai lầm, khuyết điểm, nhưng về cơ bản, Đảng ta là “đạo đức và văn minh”, đủ tư cách lãnh đạo giai cấp và dân tộc, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, trong điều kiện hoà bình, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, dễ xuất hiện xu hướng không đúng trong việc xem xét mối quan hệ đức-tài trong xây dựng Đảng; dễ đề cao kiến thức năng lực, coi nhẹ đạo đức cách mạng. Thực tiễn xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới chứng minh rằng, đạo đức vẫn là cái gốc; đương nhiên, đạo đức không tách rời mà gắn liền với năng lực và hiệu quả thực tế trong công việc, và suy cho cùng, năng lực và hiệu quả công việc cũng chính là đạo đức. Đạo lý Việt Nam vẫn luôn tin cậy và coi trọng những người lãnh đạo có đạo đức. Tham ô, lãng phí, quan liêu đang là thách thức hàng đầu đối với chế độ ta. Ở đó có vấn đề năng lực quản lý, nhưng chủ yếu và trước hết là vấn đề đạo đức của những đảng viên cầm quyền. Chừng nào chúng ta không đẩy lùi những tệ nạn này thì uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước ta sẽ bị xói mòn nghiêm trọng. Có thể nói rằng “diễn biến hoà bình”, trong đó tự diễn biến bắt nguồn từ sự vô đạo đức, sự thối nát, mọt ruỗng của những kẻ thoái hoá trong bộ máy công quyền đã làm giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Điều này thật nguy hiểm.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức của Đảng đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa lợi ích của Đảng, của dân với lợi ích cá nhân. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và chế độ sở hữu dưới nhiều hình thức, thì những chuẩn mực giá trị cụ thể của đạo đức cách mạng, về lối sống… chắc chắn không thể giữ nguyên như thời chiến tranh hay như thời cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước hôm nay càng cần đạo đức cách mạng hơn bao giờ hết, với những tiêu chuẩn chặt chẽ và việc thực hiện là cả một cuộc đấu tranh gian khổ đối với mỗi tổ chức đảng cũng như đối với mỗi đảng viên. Không củng cố và tăng cường được nền đạo đức đó thì Đảng ta sẽ khó có thể giữ được vai trò tiên phong của giai cấp, của dân tộc. Vì thế Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”mà Đảng ta phát động có ý nghĩa hết sức lớn lao trong giai đoạn này.

Từ yêu cầu phát triển xã hội, công tác xây dựng đảng càng phải nêu cao khẩu hiệu tri thức hoá Đảng và Đảng Cộng sản phải là Đảng của trí tuệ. Tất cả đảng viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt thì mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Lẽ đương nhiên, xã hội đi lên, mặt bằng dân trí của xã hội nâng cao thì mặt bằng học vấn của đội tiên phong cũng phải tăng lên. Nhưng không được phiến diện, cực đoan; không rơi vào chủ nghĩa hình thức và nhất là coi thường những tiêu chuẩn cơ bản của một Đảng trí tuệ. Tình trạng chạy bằng cấp, làm bằng giả hoặc bằng tuy thật mà kiến thức không tương ứng đã làm mất uy tín của Đảng. Đào tạo cán bộ lãnh đạo đảng khác với đào tạo lãnh đạo các ngành khác. Rất có thể một cấp uỷ có rất nhiều người có bằng đại học, hoặc hơn thế nữa, nhưng lại chưa chắc đã có trí tuệ lãnh đạo cao. Tri thức đó phải được sử dụng trong thực tiễn lãnh đạo.

Với bất cứ một tổ chức đảng nào, dù là ở Trung ương hay cơ sở, lãnh đạo tốt  phải ra quyết định đúng, phải tổ chức thực hiện tốt, trong đó nhất thiết phải biết kiểm tra công việc, biết uốn nắn, xử lý những thiếu sót, sai lầm. Để có quyết định đúng thì phải nắm vững chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững điều kiện thực tiễn, có sự vận dụng sát, đúng, linh hoạt. Đảng phải thu thập được nhiều thông tin, đảng viên và nhất là người lãnh đạo phải am hiểu kiến thức về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, phải biết tổ chức tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, nhất là giới trí thức để cân nhắc lựa chọn phương án thích hợp. Cần hiểu rằng, việc ra quyết định của cấp lãnh đạo ngày nay chịu nhiều sức ép hơn trước. Sự phân hoá về kinh tế, sự phân tầng về xã hội tạo ra sự phức tạp trong đánh giá tình hình và nhu cầu xã hội. Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng phải nâng cao trí tuệ; dừng lại là tụt hậu.

Đảng phải thể hiện trí tuệ không chỉ trong lý luận mà phải thể hiện trong hành động, tính khoa học và nghệ thuật tổ chức công việc, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện những mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng. Khi có quyết định đúng rồi, còn phải biết tổ chức công tác thực tiễn, đưa quyết định vào cuộc sống. Công việc đó cũng thuộc phạm trù trí tuệ của Đảng. So với thời kỳ chưa có chính quyền, thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc thì công tác tổ chức thực tiễn của Đảng ta ngày nay phức tạp hơn về nhiều mặt, đòi hỏi Đảng càng phải có đạo đức và trí tuệ hơn.

Năm 2010 là năm diễn ra nhiều sự kiện trong đại của đất nước, năm diễn ra đại hội các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Mỗi chúng ta đều có quyền tự hào “Đảng ta thật là vĩ đại” như Bác Hồ đã tổng kết. Nhưng để làm tròn nhiệm vụ của một Đảng đạo đức, Đảng văn minh, thì mỗi đảng viên chúng ta cần phải học tập thật nhiều: Học không bao giờ cùng; học mãi, tiến bộ mãi; càng tiến bộ càng thấy phải học thêm, như điều Bác hằng mong muốn.

Thân Minh Quế Nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang

xaydungdang.org.vn

Triển lãm ảnh Bác Hồ trong những ngày đầu năm mới

(Dân trí) – Gần 100 bức ảnh quý trong hàng triệu khoảnh khắc đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trưng bày trong triển lãm tại trung tâm thành phố Vinh, thu hút nhiều người dân đến xem.


Cụ Nguyễn Thị Tỵ xúc động khi ngắm những bức ảnh hết sức dung dị của Bác Hồ vào dịp đầu năm mới

Tại Quảng trường Hồ Chí Minh (thành phố Vinh, Nghệ An) đang trưng bày gần 100 bức ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với một chặng đường phát triển của lịch sử dân tộc. Triển lãm về Bác Hồ do Sở VH-TT&DL Nghệ An phối hợp với Ban quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và tượng đài Bác Hồ thực hiện. Hai khu vực triển lãm với 3 chủ đề: Bác Hồ – Người là niềm tin tất thắng; Bác Hồ – người cha thân yêu của quân đội nhân dân Việt Nam và Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trời rét cộng với mưa phùn cũng không thể ngăn bước chân của hàng ngàn người dân đến Quảng trường Hồ Chí Minh du xuân và dâng hoa dưới chân tượng đài Bác Hồ. Khu vực diễn ra triển lãm cũng là điểm nhấn “níu chân” du khách. Cụ Nguyễn Thị Tỵ (phường Trường Thi, thành phố Vinh) năm nay đã 81 tuổi nhưng còn rất minh mẫn. Dò bàn tay xương xẩu trên từng bức ảnh, cụ thuật lại cho người bạn già của mình nội dung của từng bức.

“Tôi vinh dự được gặp Bác Hồ 2 lần, một lần là Bác về thăm làng nuôi dưỡng trẻ em miền Nam tập kết ra Bắc, lần thứ 2 là lần Bác Hồ nói chuyện với nhân dân thành phố Vinh tại sân vận động thành phố. Giờ già rồi, không thể nhớ chính xác là năm nào nữa nhưng tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh Bác Hồ ân cần, trìu mến thăm hỏi đồng bào quê nhà và căn dặn mọi người phải hăng say sản xuất xây dựng đất nước, đóng góp sức người, sức của để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, cụ Tỵ xúc động nhớ lại.

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng Tết năm 1967

Nhân dịp xuống thành phố Vinh chơi Tết cùng gia đình cô con gái, bác Trần Mạnh Cung (huyện miền núi Tân Kỳ, Nghệ An) cùng con cháu dạo quanh quảng trường Hồ Chí Minh. Dừng lại thật lâu bên những bức ảnh hết sức đời thường của vị cha già dân tộc, bác Cung rưng rưng nước mắt: “Mỗi bức ảnh là một tư liệu quý về Bác Hồ. Trong những ngày đầu xuân năm mới, hoạt động ý nghĩa này cũng là một cách để giáo dục lớp trẻ thêm quý trọng và biết ơn công lao của Bác Hồ đối với sự trường tồn của đất nước”.

Triển lãm cũng thu hút nhiều bạn trẻ tham gia. Em Nguyễn Thị Ngọc – học sinh lớp 12, Trường THPT Nghi Xuân (huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh) cũng các bạn trong lớp du xuân sang thành phố Vinh và chọn Quảng trường Hồ Chí Minh là điểm dừng chân đầu tiên. Ngọc tâm sự: “Xem những bức ảnh về Bác Hồ trong cuộc triển lãm đầu năm mới này giúp chúng em hình dung rõ hơn về đạo đức, nhân cách của Bác Hồ. Có những bức ảnh chúng em đã được thấy trong sách nhưng cũng có những bức ảnh lần đầu tiên chúng em mới được thấy”.

Một số hình ảnh tại triển lãm ảnh về Bác Hồ diễn ra tại thành phố Vinh do PV Dân trí ghi lại vào chiều mồng 3 Tết:


Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa


Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu phụ nữ dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, tháng 2/1951


Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 923


Bác Hồ trò chuyện với các chiến sĩ Điện Biên 1954


Thăm cánh đồng HTX Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên vào mùa gặt năm 1954


Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938


Chủ tịch Hồ Chí Minh tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9/1960


Người thăm bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây vào ngày 20/4/1963


Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu các dân tộc tỉnh Hà Giang về thăm Hà Nội vào ngày 25/11/1965


Bác Hồ tăng gia lao động tại Việt Bắc.


Triển lãm thu hút nhiều người tới xem.

Hoàng Lam

dantri.com.vn

Bác Hồ với công tác thanh niên

“Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” – Hồ Chí Minh

Chăm lo cho thế hệ thanh niên là một trong những vấn đề mà Bác Hồ rất quan tâm, bởi lẽ thanh niên là thế hệ trẻ, năng động và là thế hệ kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2010), chúng tôi tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh niên.

Người luôn nhìn nhận, đánh giá khả năng cách mạng to lớn của thanh niên: “… Với một thế hệ thanh niên hăng hái, kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong nhiệm vụ bảo vệ và thống nhất Tổ quốc” và “… Bác rất tự hào, sung sướng và thấy như mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc, vẻ vang” [1, tr.133].

Thanh niên là đối tượng quần chúng đặc thù của Đảng, họ có những yêu cầu lợi ích chính đáng như học tập, việc làm, vui chơi giải trí lành mạnh, tình yêu, gia đình… Bác dạy: “Phải quan tâm đến đời sống, công tác và học tập của thanh niên” [2, tr.32]. Người cho đây là cách tốt nhất để củng cố mối liên hệ giữa các tổ chức thanh niên với đông đảo quần chúng. Vì vậy, Người căn dặn: “Cần phải đi sâu vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết vấn đề một cách thiết thực” [2, tr.185]. Đây chính là tiền đề, là một trong những điều kiện hết sức quan trọng để định ra chiến lược, đường lối, nội dung giải pháp giáo dục bồi dưỡng và tổ chức thanh niên thành lực lượng chính trị hùng hậu kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của Đảng và dân tộc.

Dù đi xa nhưng Người đã để lại cho mọi đối tượng, thành phần trong xã hội những lời căn dặn rất chân thành, đặc biệt là đối với thanh niên:

– Một là: Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “Trung với nước hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

– Hai là: Phải tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể của nhân dân, tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.

– Ba là: Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng tự mãn, chống lãng phí xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.

– Bốn là: Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.

– Năm là: Luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên nhi đồng, làm gương tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo.

Đối với tổ chức Đoàn thanh niên, tổ chức của những người thanh niên Việt Nam, Người chỉ ra rằng muốn xây dựng và phát triển Đoàn thành một lực lượng vững chắc trước hết phải đoàn kết, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh niên để vừa hoàn thành tốt vai trò “tiếp sức cách mạng cho lớp trước”, vừa “phụ trách giáo dục lớp sau”. Luận điểm quan trọng xuyên suốt của Người là cần đưa thanh niên vào các loại hình tổ chức thích hợp để ai cũng được giáo dục, rèn luyện, trưởng thành. Bác đặt ra yêu cầu cho tổ chức Đoàn các cấp “phải nghiên cứu tìm ra những hình thức, phương pháp thích hợp để Đoàn kết và Tổ chức Thanh niên một cách rộng rãi, vững chắc” [3, tr.485].

Để làm được điều này cần có một đội ngũ cán bộ có tâm huyết, kỹ năng và trình độ. Cán bộ làm công tác thanh niên không chỉ học tập kỹ năng vận động đối tượng, mà còn phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật, “Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày”. Bác còn dạy: “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân” [4, tr.65].

Bác luôn nhắc nhở việc kết hợp học tập trong trường lớp với học tập thực tiễn, nhất là học tập kinh nghiệm của quần chúng. Yêu cầu quan trọng bậc nhất đối với đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên mà Bác đặt ra là “gương mẫu về mọi mặt”. Yêu cầu này đang ngày càng trở nên cấp thiết và để thực hiện được chúng ta cần phải quan tâm đến những vấn đề sau:

Vai trò của thanh niên đối với xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”, tuổi trẻ là lực lượng quyết định vận mệnh của dân tộc, sự phát triển của đất nước. Người sớm phát hiện được và tin tưởng ở tiềm năng, sức mạnh to lớn của thế hệ trẻ trong cuộc đấu tranh cách mạng và sự phát triển xã hội. Người nhận thấy tuổi trẻ Việt Nam là lực lượng đông đảo, hùng hậu, dũng cảm; có những ưu thế nổi trội: trẻ, khoẻ, chiếm số đông trong xã hội, hăng hái nhiệt tình, nhanh nhạy trong tiếp thu cái mới. Thế hệ trẻ tiêu biểu cho sức sống, sức phát triển của dân tộc, nếu được chăm sóc, rèn luyện có thể đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Về chức năng, nhiệm vụ của Đoàn, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đoàn thanh niên là cánh tay và đội hậu bị của Đảng, là người phụ trách dìu dắt nhi đồng” [5, tr.190]. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, Đoàn thanh niên cần phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đoàn vững mạnh, Đoàn phải tìm ra nhiều phương thức hoạt động để tổ chức, tập hợp rộng rãi thanh niên. Đoàn phải chăm lo giáo dục cho họ, đào tạo họ trở thành người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Vấn đề giáo dục thanh niên

Tin tưởng vào bản chất và sức mạnh của thanh niên nhưng phải giáo dục họ để họ trở thành lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng. Theo Người, thanh niên phải được giáo dục vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Một tư tưởng hết sức ngắn gọn nhưng cũng hết sức đầy đủ. Với một tầm nhìn chiến lược, ngày 22 tháng 7 năm 1926, Người đã viết thư gửi Ủy ban Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin xin phép gửi một số thiếu nhi Việt Nam sang Liên Xô học tập “để các em được tiếp thu một nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp”.

Thanh niên phải được giáo dục một cách toàn diện, Người yêu cầu: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất” [6, tr.372]. Người đặc biệt coi trọng giáo dục đạo đức, xem đó là cái nền tảng của con người cách mạng.

Tiếp đến là giáo dục lý tưởng cách mạng, “Những người Cộng sản chúng ta không được một phút nào quên được lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới” [5, tr.621].

Phương pháp giáo dục thanh niên

Người cho rằng, học phải đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với xã hội. Học phải có suy nghĩ, thực hành, thí nghiệm. Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội. “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển cũng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [7, tr.293].

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn đánh giá cao vai trò của gia đình trong việc giáo dục thanh niên. Điều đáng lưu ý là, Người coi việc giáo dục thanh niên là cả một khoa học, Người nói: “Óc của người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ” [5, tr.213]. Điều đó đòi hỏi giáo dục thanh niên phải có nội dung, chương trình phù hợp. Người cũng đã chỉ rõ những nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ đối với mỗi cấp học. Đối với thanh niên, Người yêu cầu phải tự giác, tự động, “Cần phải làm đầu tàu, gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Đâu Đảng cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên” [5, tr.306].

Người cũng nghiêm túc chỉ rõ bệnh ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, anh hùng của thanh niên. “Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình… Chống thói quen xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối khoe khoang”. “Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi ích gì cho người” [7, tr.445].

Thấm nhuần lời dạy của Bác, ngày nay hơn lúc nào hết, khi toàn Đảng toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các thế hệ thanh thiếu niên cần ra sức rèn luyện, học tập nâng cao mọi mặt trình độ, kiến thức, làm chủ khoa học công nghệ, đặc biệt là trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trở thành những người “Vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác dạy, để xứng đáng là những chủ nhân của đất nước trong thời kỳ mới./.

ThS. Võ Trà Nam
Bí thư Đoàn TNCS Trường Đại học Thủ Dầu Một


Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 2 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
3. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 7 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
4. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 12 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
5. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 10 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
6. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 11 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
7. Hồ Chí Minh toàn tập – tập 9 (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội

tdmu.edu.vn

Cuốn sách “Trong chiến khu Việt cộng” của nhà báo Madeleine Riffaud

Trên giá sách ở phòng làm việc tầng 2 Nhà sàn của Bác Hồ trong Khu di tích Phủ Chủ tịch có một cuốn sách viết bằng tiếng Pháp: Dans lé maquis “Viet Cong”, tạm dịch là: “Trong chiến khu Việt Cộng”.

Cuốn sách dày 267 trang, khổ 20x14cm, do Nhà xuất bản René Julliard Paris xuất bản năm 1965. Cuốn sách đã được kiểm kê và có số BTHCM 881/G-695, và cũng đã được nghiên cứu, xác định, xây dựng hồ sơ khoa học. Hồ sơ khoa học của cuốn sách đang được lưu tại kho tư liệu phòng Sưu tầm – Kiểm kê – Tư liệu của Khu di tích Phủ Chủ tịch.

Theo như Hồ sơ khoa học, tác giả cuốn sách này là chị Madeleine Riffaud, một đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp, là phóng viên của báo “Nhân đạo”- cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, đã từng đến việt Nam nhiều lần. Những lần đến Việt Nam chị đều được gặp gỡ và “phỏng vấn” Bác Hồ. Nhưng như chị đã từng viết về Người:… “Cứ mỗi buổi sáng, tôi hy vọng làm một cuộc phỏng vấn, nhưng không sao làm được. Tôi là nhà báo mà lại bị phỏng vấn, tôi phải trả lời hàng loạt, liên tiếp những câu hỏi về miền Nam Việt Nam mà từ lâu Bác Hồ không được đặt chân đến đấy; về Đảng Cộng sản Pháp… Tôi phải cung cấp cho Người tin tức về những bạn bè cũ của Người ở Pháp và ở châu Âu…”.

Ngày 5-10-1987, trong đợt công tác tại Việt Nam, chị đã đến Khu Di tích Phủ Chủ tịch và đã giúp cán bộ của Khu Di tích xác minh cuốn sách của chị. Hôm ấy chị kể: Chị được gặp Bác Hồ lần đầu tiên ở Hội nghị Fontainebleau – Pháp năm 1946. Lúc đó chị đang tập sự nghề báo tại toà báo “Chiều nay” (Ce soir) và được bà André Viollis – tác giả cuốn sách nổi tiếng “Đông Dương kêu cứu” giới thiệu chị với Bác Hồ. Lúc đó Bác Hồ bảo chị “làm nghề báo là nghề chân chính” và động viên chị: “Bây giờ cháu hãy học làm việc, học tập khi nào trở thành nhà báo, cháu hãy đến Việt Nam, Bác sẽ đón tiếp cháu như con gái của Bác”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1955, lần đầu tiên chị Madeleine Riffaud đến Việt Nam để làm phóng sự về Việt Nam. Năm ấy chị cũng được gặp Bác Hồ và được Bác tiếp tại nơi ở của Người.

Cuối năm 1964, chị có dịp trở lại Hà Nội, được gặp Bác Hồ và sau đó vào miền Nam Việt Nam để trực tiếp tìm hiểu cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Nam. Chị là nữ phóng viên nước ngoài đầu tiên được đi theo cuộc chiến đấu của các chiến sĩ quân giải phóng trong các bưng biền “Việt Cộng”. Chị cho chuyến đi ấy là món quà quý, là niềm vinh dự mà Bác Hồ tặng cho chị và là sự tỏ lòng quý trọng nước Pháp, nhân dân Pháp mà Bác Hồ rất hiểu và rất yêu mến.

Không phụ lòng Bác, kết quả của chuyến đi trong các các bưng biền Việt Công của chị, khi trở về Pháp chị đã cho ra đời tác phẩm “Trong chiến khu “Việt Cộng”. Cuốn sách của chị đã được tổ chức Quốc tế các nhà báo tặng giải thưởng năm 1966.

Vào năm 1966, khi giặc Mỹ ngày càng leo thang và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, dùng máy bay đánh phá Hà Nội, Hải phòng và nhiều thành phố khác, những con đê hiền lành cũng trở thành mục tiêu bắn phá của chúng. Trong hoàn cảnh đó chị lại đến Việt Nam, suốt hai tháng 7 và 8 năm 1966 chị đã đến khắp những nơi bị máy bay Mỹ bắn phá: Từ Hà Nội, Hải Phòng đến Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa, Quảng Bình… Sau chuyến đi đó chị lại có một tác phẩm nữa là “Au nord Việt Nam. Ecriet sous les bombes” tạm dịch là “Ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom đạn”. Cuốn sách cũng được xuất bản tại Paris năm 1967. Tên tuổi của chị được độc giả khắp năm châu biết đến.

Với lòng biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến đất nước Việt Nam, kính yêu Bác Hồ, chị đã gửi tặng Bác Hồ những cuốn sách viết về Việt Nam của mình.

Cuốn sách “Trong chiến khu “Việt Cộng” chị gửi kính biếu Bác Hồ tháng 9/1965 với lời đề tặng, tạm dịch là: “Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh – với sự biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến của tôi đối với Người, với Đảng và nhân dân của Người đang chiến thắng chống những tên phát xít mới.

Ký tên: M. Riffaud
Paris, tháng 9/1965”

Cũng theo lời kể của chị, cuốn sách này chị đã gửi qua đoàn Đại biểu của Đảng Lao động Việt Nam lúc đó, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Lê Đức Thọ dẫn đầu sang thăm Pháp. Chiều 8-9-1965 đoàn đã đến thăm toà soạn báo Nhân Đạo, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp. Trong buổi tiếp đoàn, chị Madeleine Riffaud cung có mặt. Đoàn ta đã trao quà cho tòa soạn, và nhân dịp này chị Madeleine Riffaud đã gửi cuốn sách của mình kính biếu Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đoàn của đồng chí Lê Đức Thọ. Sau ngày đoàn về nước 23-9-1965, cuốn sách đã được gửi đến tay Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã đọc và để lại bút tích ở các trang 15,16, 229 đến 232 của cuốn sách với các dấu (/) bằng bút bi mực màu đỏ. Cách đánh dấu này của Bác, theo các nhân chứng lịch sử như đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí Cù Văn Chước… có nghĩa là “chú ý”. Riêng từ trang 229 đến trang 232 còn gấp mép sách một cách chủ ý là để giở dễ dàng khi cần xem lại. Qua nội dung cuốn sách và những bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu lại trên sách cho thấy tình cảm chứa chan giữa tác giả cuốn sách và nhân dân miền Nam Việt Nam. Thời gian tác giả đi và viết tác phẩm này (cuối 1964, đầu 1965) là thời kỳ bắt đầu kết thúc chiến tranh cục bộ, trong 2 tháng chị đã theo chân các chiến sĩ liên lạc luồn lách qua đồn bốt địch, thâm nhập khu giải phóng, theo sát các cuộc chiến đấu của bộ đội đến tận cửa ngõ Sài Gòn, chứng kiến những thắng lợi giòn giã của quân dân miền Nam đánh trận Bình Giã, diệt và làm tê liệt những đòn phản kích của quân Mỹ, nguỵ. Chị yêu mến mọi người và được mọi người yêu mến. Những trang có bút tích bằng bút bi mực màu đỏ của Bác Hồ, những trang Người đánh dấu là những trang nói đến kế hoạch Xtalay Taylo (kế hoạch Mỹ giúp Diệm bình định miền Nam trong 18 tháng) đã bị thất bại, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mácnamanra vạch kế hoạch nhằm bình định lấy 2 tỉnh không nổi, cuộc chiến càng nóng bỏng hơn đến sát cửa ngõ Sài Gòn. Rồi phong trào đào ngũ, trốn bắt lính của binh lính nguỵ và thanh niên miền Nam Việt Nam. Nhiều lính nguỵ và thanh niên miền Nam trốn lính lại chạy ra vùng giải phóng và nhập vào quân giải phóng…

Cuốn sách của chị Madeleine Riffaud được đài báo các nước tư bản lúc đó ca ngợi là viết giản dị, không thiếu những ghi chép nên thơ, đã làm sống lại trước mắt mọi người một bức tranh thực tế mà mọi người ít biết đến và duy nhất riêng chị đã tạo ra một loại hình văn học và cuối cùng chị đã thành công hoàn toàn.

Sách của chị Madeleine Riffaud là những cuốn sách của một tác giả có tình cảm nồng nàn và chân thành với cách mạng Việt Nam, với nhân dân Việt Nam, với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Chúng đã góp phần xứng đáng và việc giới thiệu rộng rãi trong dư luận Pháp và thế giới về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thức tỉnh được sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Năm 1969, chị sang Việt Nam và lần đó chị lại được gặp Bác Hồ. Bác đã nói chuyện về hai cuốn sách của chị, Người đã tỏ ra hài lòng với những sách báo do chị viết vì nó đã tập hợp được nhiều tin tức, các nước tư bản đã phải in sách của chị. Lần gặp ấy, Bác đã không phê bình chị nữa vì lúc này chị đã nắm được nghề làm báo và Bác đã coi chị như là một chiến sĩ của đội quân tóc dài Việt Nam.

Lần được gặp Bác 1954, chị được Bác tặng 2 tấm lụa Hà Đông. Chị đã cắt thành áo theo kiếu các cô gái Việt Nam vẫn mặc. Và mỗi lần sang thăm Việt Nam chị vẫn mặc những chiếc áo lụa Bác đã tặng chị. Ngày 5-10-1987, chị bảo chiếc áo chị đang mặc là mảnh vải cuối cùng trong 2 tấm lụa Hà Đông ấy. Lần gặp ấy tuy Bác mệt nhưng rất vui, Bác bảo năm 1969 là năm kỷ niệm ca sỹ Môrixơ Sơvaliê 80 tuổi, Bác muốn chị gửi cho Bác một đĩa hát thu những bài hát về thành phố Pari của ca sĩ này. Về nước chị đã tìm và gửi đãi hát cho Bác. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, chị nhận được một lá thư từ một phóng viên thường trực tại Việt Nam báo tin “Bác Hồ đã nhận được các đĩa hát, Bác đã nghe lại các bài hát đó một cách thích thú, Bác rất vui lòng”. Những câu chuyện này đã được chị viết trong bài báo “Bác Hồ ra đi giữa mùa thu” đăng trên báo trước ngày tổ chức Lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh (9- 9-1969).

Sự tồn tại của cuốn sách “Trong chiến khu Việt Cộng” ở vị trí vốn có của nó đã góp phần không nhỏ cho việc nghiên cứu về Bác Hồ, về Khu Di tích Phủ Chủ tịch. Qua Hồ sơ khoa học của cuốn sách có thể biết thêm những tình cảm của nhân dân thế giới, nhân dân Pháp, của nhà báo tài ba M. Riffaud đối với Bác Hồ và ngược lại. Cuốn sách của chị cũng góp phần cho việc nghiên cứu lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hào hùng của nhân dân Việt Nam, về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ quên “chị Tám” cái tên thân thương đồng bào miền Nam gọi chị dịp chị sống cùng họ “trong bưng biền Việt Cộng”. Chị sống mãi trong trái tim những người Pháp và những người Việt Nam yêu nước. Được biết năm 2008, tổng thống Pháp Nicolas Sarcozy đã quyết định tặng Huân chương quốc công hạng nhất đế cho chị. Nước Pháp tôn vinh chị và đang gấp rút hoàn thành một bộ phim tư liệu về chị – nữ nhà báo anh hùng của nhân dân Pháp./.

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ)

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9-1910 đến trước tháng 2-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận ở tổ, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hằng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: “… một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” (1).

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; Yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; Ðoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hằng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất  nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh – thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại  ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hằng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần  nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

BBT

phutho.edu.vn

Tình cảm của Bác Hồ đối với thanh niên Việt Nam

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm đến thanh niên, học sinh, sinh viên. Trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội“. Bác đánh giá cao vai trò của thanh niên với tư cách là một lực lượng hăng hái trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên” và “Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ“. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Trong thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường mùa thu năm 1945, Bác Hồ đã dạy: “Từ giờ phút này trở đi, các cháu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam… Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu“.

Trong những ngày đêm ác liệt, bộn bề công việc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng khi được tin học sinh Vũ Chí Thành, đội viên đội cảm tử quân, hy sinh ở Hà Nội ngày 20/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh liền viết thư chia buồn với bác sĩ Vũ Đình Tụng, cha của liệt sĩ với những lời cảm động và đầy khích lệ: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi: vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn sống mãi với non sông Việt Nam…”.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, vừa mới trở về thủ đô Hà Nội, tuy bận trăm công nghìn việc, Bác Hồ vẫn theo dõi các hoạt động của tuổi trẻ và phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên. Ngày 18/12/1954, Bác đã đến thăm các thầy, cô giáo và học sinh các trường Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Chu Văn An. Tại đây, Bác đã khẳng định: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng thì thanh niên mới được tự do. Vì vậy, thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc… Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò người chủ thì phải học tập“.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đoàn được triệu tập từ 25/10/1956 đến 4/11/1956 tại Hà Nội, Bác Hồ đã đến dự. Tại Đại hội, Người ân cần căn dặn đoàn viên, học sinh, sinh viên là: “Muốn đoàn kết củng cố và phát triển thì tất cả đoàn viên phải làm gương mẫu:

– Phải giữ vững đạo đức cách mạng: phải khiêm tốn, cần cù hăng hái, dũng cảm. Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thần, tự tư, tự lợi.

– Phải xung phong trong mọi công tác; xung phong là phải đi trước, làm trước để lôi cuốn quần chúng, chứ không phải là xa rời quần chúng.

– Phải cố gắng học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt.

– Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh, khoẻ mạnh thì mới đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước, dân“.

Sự quan tâm chăm sóc và những lời dạy bảo ân cần, sâu sắc của Bác Hồ kính yêu đã làm các đại biểu hết sức xúc động và thấm thía. Đại hội đã hứa với Bác sẽ ra sức thực hiện tốt những lời Bác dạy, quyết phấn đấu không mệt mỏi cho lý tưởng độc lập, tự do, thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Bác đã chỉ cho thanh niên nước ta.

Bước sang năm 1960, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III được tổ chức từ ngày 23/3 đến 25/3/1961 tại Hà Nội. Đại hội đã vinh dự được đón Bác Hồ và đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đến thăm và nói chuyện. Người ân cần chỉ ra cho toàn thể cán bộ, đoàn viên và thanh niên phương hướng tu dưỡng rèn luyện về mọi mặt công tác của Đoàn: Thanh niên “cần phải làm đầu tàu, làm gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu: “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó có thanh niên làm“. Bác dạy: “Thanh niên phải cố gắng học… Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác- Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày… Học đi đôi với hành“. Những lời dạy bảo quý báu của Bác Hồ tại Đại hội thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác đối với vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hậu bị cho Đảng.

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thanh niên miền Bắc thực hiện phong trào “Ba sẵn sàng“. Bác Hồ luôn theo dõi sự phát triển của phong trào “Ba sẵn sàng“, Người kêu gọi thanh niên, học sinh, sinh viên: “Các cháu thanh niên, gái cũng như trai, hãy thực hiện tốt “Ba sẵn sàng”, xung phong dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, cho Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội“. Khi tuổi trẻ lập được chiến công, Bác khen ngợi: “Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu thanh niên trong cả nước… các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng. Bác mong các cháu đều xứng đáng là những anh hùng trong sự nghiệp cách mạng tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc và xây dựng xã hội mới“. Tại lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn (26/3/1966), Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước (Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng)… đã đến với tuổi trẻ. Bác Hồ dạy: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, Bác rất tự hào, sung sướng và thấy mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang“. Tuân theo lời Bác dạy, nhân ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn, Ban Chấp hành trung ương Đoàn đã ra lời kêu gọi đoàn viên, thanh niên phát huy khí thế “Ba sẵn sàng“, hăng hái tiến lên hàng đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyết tâm đem lá cờ trăm trận trăm thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đi tới đích thắng lợi cuối cùng.

Năm 1969, dù sức khoẻ đã yếu, Bác Hồ vẫn thường xuyên theo dõi tin tức hoạt động học tập và lao động tại các nhà trường. Người rất vui khi biết học sinh Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt vẫn cố gắng học tập và lao động sản xuất. Chiều 19/05/1969, sau khi các thầy thuốc kiểm tra xong sức khoẻ, Bác ngồi viết thư khen các cháu học sinh thôn Phú Mẫn, Yên Phương, Bắc Ninh. Bức thư có đoạn: “Bác rất vui lòng biết các cháu vừa học tập tốt vừa tham gia sản xuất tốt… Các cháu là những người chủ tương lai của nước nhà. Bác mong các cháu luôn luôn cố gắng hơn nữa. Bác cũng mong các cháu thiếu niên ở những địa phương khác làm theo các bạn nhỏ ở hợp tác xã măng non Phú Mẫn“.

Ngày Quốc khánh 2/9 năm 1969 là ngày toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và tuổi trẻ cả nước chịu một tổn thất lớn lao, không thể bù đắp: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam qua đời. Vĩnh biệt chúng ta, Bác Hồ đã để lại cho thanh niên Việt Nam “muôn vàn tình thân yêu“. Người đánh giá: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” và căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết“.

Trải qua 80 năm đấu tranh oanh liệt, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và đoàn viên, thanh niên Việt Nam luôn được sự lãnh đạo chăm sóc trực tiếp của Đảng và Bác Hồ. Đánh giá đúng đắn khả năng cách mạng to lớn của thanh niên, Đảng ta và Bác Hồ kính yêu đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên thành đội quân xung kích của cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc. Từ “Bức thư tâm huyết” gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời “Di chúc” cuối cùng, Bác Hồ luôn giành cho thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam tình cảm thương yêu trìu mến và sự chăm sóc ân cần lớn lao.Tình cảm của Bác Hồ đối với thanh niên nước ta như cha đối với con, Bác đối với cháu. Công ơn của Người và của Đảng đối với thanh niên Việt Nam như trời cao biển rộng. Tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người mãi mãi khắc sâu trong muôn triệu trái tim của các thế hệ thanh niên nguyện chiến đấu và chiến thắng dưới ngọn cờ vẻ vang của Người.

Nguyễn Quang Tuấn

vinhuni.edu.vn